Showing posts with label Daisetz T. Suzuki. Show all posts
Showing posts with label Daisetz T. Suzuki. Show all posts

Sunday, August 18, 2013

Daisetz T. Suzuki - Khái lược về đạo Phật Đạithừa

Khái lược về đạo Phật Đạithừa
Daisetz Teitaro Suzuki

Outlines Of Mahāyāna Buddhism (1907)








Lời nói đầu.

Tập sách này nhắm đến hai mục tiêu: (1) Phản bác những dư luận nhiều sai lầm liên quan đến những giảng dạy cơ bản của đạo Phật Đạithừa vẫn chuộng tham dẫn trong giới phê bình phương Tây, (2) Đánh thức quan tâm trong những học giả ngành tôn giáo đối chiếu về sự phát triển của xúc cảm và lòng tin tôn giáo đã được minh chứng bằng sự tăng trưởng của một trong những sức mạnh tinh thần mạnh mẽ nhất trên thế giới [1]. Do đó, tập sách đồng thời mang tính tính phổ cập rộng rãi và học thuật chuyên khảo. Nó phổ cập trong ý hướng rằng nó cố gắng để phơi rõ tính chất ngụy biện của một thái độ chung của những tôn giáo khác đã thừa nhận hướng về Đạithừa. Nó nhằm mục đích học thuật, về mặt kia, khi nó cố gắng trình bày chi tiết một vài trong số những đặc tính nổi bật nhất của học thuyết, theo lịch sử và trong hệ thống.

Tuy nhiên, trong nỗ lực hoàn tất mục đích thứ hai, tác giả không có tuyên bố nào lớn, vì là một điều bất khả, nếu trong không gian giấy mực ấn định hạn hẹp này, với tất cả dữ liệu có sẵn, để trình bày một diễn giải đầy đủ và hệ thống cho đạo Phật Đạithừa, vốn lịch sử của nó bắt đầu từ khoảng thế kỷ thứ sáu trước công nguyên và chạy dài một thời kỳ hơn 2000 năm, trước khi thừa nhận hình thức qua đó nó hiện đang được giảng dạy ở phương Đông. Trong thời gian dài này, những tâm trí thượng thặng nhất của những dân tộc Ấn, Tây Tạng, Tàu, và Nhật từng sản sinh được, đã khai triển học thuyết Đạithừa. Nên sau đó, đừng tự hỏi rằng có quá nhiều học thuyết khác nhau và những giáo lý dường như mâu thuẫn nhau đã tất cả gồm chung dưới một tên lớn, gọi là đạo Phật Đạithừa. Để trình bày chi tiết tất cả những lý thuyết này, ngay cả dẫu chỉ trong ý định, ​​sẽ vượt hết ngoài phạm vi của một công việc như ở đây. Tất cả những gì tôi có thể, hay đã hy vọng, là thảo luận về một ít trong số những đề tài tổng quát nhất và bản chất nhất của học thuyết Đạithừa, làm tác phẩm này là một loại dẫn nhập đưa đến một khai mở chi tiết hơn của hệ thống như một toàn bộ cũng như trong cá biệt.

Để đi đến mục tiêu đầu tiên, đôi khi tôi đã đi ra ngoài lĩnh vực vốn tôi đã tự giới hạn đúng cho công việc. Nhưng sự lệch hướng này dường như bắt buộc vì lý do rằng có một vài phê bình là quá đỗi thành kiến ​​đến thậm chí chúng xem dường không thể nào nhìn nhận những sự thật hiển nhiên được. Tôi có thể cũng có thành kiến ​​theo cách riêng tôi, nhưng rất thường xuyên tôi tự hỏi như thế nào một số người lại có thể thành con mồi cho ảo tưởng của chính mình, một cách hết sức hoàn toàn và hết sức thảm thương đến thế.

Wednesday, December 26, 2012

Daisetz T. Suzuki - Cơ bản của Triết học đạo Phật (04)


Cơ bản của Triết học đạo Phật

The Basis of Buddhist Philosophy
Daisetz Teitaro Suzuki





VII
Sau những bàn luận dài dòng này, giờ là lúc quay lại chủ đề ban đầu, và xem chúng ta liệu một lần nữa có thể đưa vào phương pháp tiếp cận chủ quan về kinh nghiệm giác ngộ của đức Phật. Kinh nghiệm không thể chỉ đơn thuần được gán định như một loại cảm xúc và như vậy làm nó mất đi, nếu khi sự gán định này cạn kiệt hết tất cả những nội dung của giác ngộ. Vì, như tôi hiểu nó, giác ngộ không thể nói là hoàn toàn thiếu vắng bất kỳ một yếu tố nào của trí lực, chúng đem cho một khai mở chắc chắn với một thảo luận về ngôn ngữ và trí thức. Cảm xúc của giác ngộ có một gì đó sâu xa nền tảng và đem cho một người một cảm giác của chắc chắn tuyệt đối và cuối cùng, vốn thiếu vắng trong loại cảm xúc thông thường chúng ta nói chung vẫn có. Một cảm xúc thỉnh thoảng có thể đem cho một người một cảm thức về sự phấn khởi và lòng tự tin, nhưng điều này, sau một thời gian không lâu, sẽ mất, và có thể không để lại tác động lâu dài nào trên bản thân người kinh nghiệm. Cảm xúc giác ngộ, về mặt khác, tác động đến toàn bộ nhân cách, ảnh hưởng tới thái độ của người ấy với đời sống và thế giới, không chỉ về mặt đạo đức và tinh thần, nhưng trong diễn giải siêu hình của người ấy về hiện sinh như một toàn thể. Kinh nghiệm của đức Phật đã không phải chỉ là một vấn đề của cảm xúc di chuyển trên ngoại vi của ý thức, nhưng là một gì đó đã thức tỉnh trong những vực sâu nhất của một con người. Chỉ trong ý hướng này là lời phát biểu của ngài đã ghi trong Luật tạngKinh Trung Bộ [1] và những nơi khác mới nhận hiểu được. Trong bài kệ đã trích dẫn ở trên từ Kinh Pháp Cú (câu 153, 154), một gì đó đáng ghi nhận, tương tự như gāthā  dưới đây, nhưng khía cạnh tích cực và năng động đưa ra mạnh mẽ và rõ ràng hơn trong phần sau đây: [2]


Ta đã chinh phục và ta biết tất cả,  (p. 68)
Ta đã hoàn toàn giác ngộ bởi chính ta và không có ai là thày.
Không có một ai là tương tự như ta trong toàn thế giới nơi đâu có nhiều thần linh.
Ta là một người thực sự có giá trị,
Ta là vị thày tối cao nhất.
Ta là người duy nhất hoàn toàn giác ngộ.
Ta đã an tĩnh.
Ta bây giờ trong Nirvana. [3]

Monday, December 24, 2012

Daisetz T. Suzuki - Cơ bản của Triết học đạo Phật (03)



Cơ bản của Triết học đạo Phật

The Basis of Buddhist Philosophy
Daisetz Teitaro Suzuki






VI
Trước khi tôi đi đến một lời nói khác đã được cho là của đức Phật ở thời điểm có kinh nghiệm giác ngộ của ngài, tôi không thể kiềm chế, không xem xét vấn đề thời gian. Điều này cũng liên hệ chặt chẽ với ngôn ngữ học, và lối luận giải theo Eckhart về huyền thoại sáng-thế. Như Augustine thú nhận, chúng ta cũng có thể nói rằng Gót “chế nhạo con người” khi chúng ta chạm trán với câu hỏi về thời gian. Nó là một trong những đối tượng của ngôn từ chúng ta phải “quen thuộc và rành rẽ” cầm lấy đem dùng. Và chúng ta hiểu khi chúng ta nói về nó, chúng ta cũng hiểu khi chúng ta nghe người khác nói đến nó”.

Vậy thế, thời gian là gì? Nếu không ai hỏi tôi, tôi biết; nếu tôi mong giải thích nó cho người hỏi, tôi không biết; thế nhưng tôi mạnh dạn nói rằng nếu không có gì đã qua đi, thời gian quá khứ đã không có, và nếu như đã không có gì sắp đến, thời gian sắp đến đã là không; và nếu không-gì đã có, thời gian hiện tại tất là không. Vậy sau đó, hai thời gian này, quá khứ và sắp đến, làm thế nào chúng nhìn thấy quá khứ bây giờ thì mất, và sắp đến thì vẫn chưa? Nhưng hiện tại, phải chăng nó sẽ luôn luôn hiện tại, và không bao giờ lui về trong thời quá khứ, quả thật nó sẽ không là thời gian, nhưng vĩnh cửu. Nếu thời gian hiện tại, (nếu nó không là thời gian) chỉ đến thành hiện hữu, vì nó đã (trôi) qua về trong thời quá khứ, làm sao chúng ta có thể nói rằng – hoặc đây là, vốn nguyên nhân hiện hữu của nó là, mà nó sẽ không là; vậy thế, nói cụ thể, rằng chúng ta không thể thật sự nói rằng thời gian là (gì), trừ ra vì nó thì nghiêng sang là không-là ? [1]



Thursday, December 20, 2012

Daisetz T. Suzuki - Cơ bản của Triết học đạo Phật (02)


Cơ bản của Triết học đạo Phật

The Basis of Buddhist Philosophy
Daisetz Teitaro Suzuki








V
Trong liên quan này, tôi nghĩ đây là cơ hội để nói vài lời về những phát biểu tiêu cực đã dùng tùy tiện trong những văn bản trong và ngoài Phật học bàn luận về những vấn đề của thực tại tối hậu. Tôi cũng có thể chạm đến một chút vào tần số của những mệnh đề nghịch lý được dùng để diễn tả một kinh nghiệm chắc chắn đã được biết rộng rãi như thần bí.

Xem xét tất cả với cân nhắc, có hai nguồn của kiến ​​thức, hay hai loại của kinh nghiệm, hay hai sự sinh-thành của con người” như Eckhart có nói về nó, hoặc hai dạng thức của sự thật (satyā) theo như những người chủ trương học thuyết “Tính Không” (śūnyavāda). Trừ khi điều này được nhìn nhận, chúng ta không bao giờ có thể giải được vấn đề của mâu thuẫn lôgích vốn chúng biểu lộ trong những từ ngữ biểu thị đặc điểm tất cả những kinh nghiệm tôn giáo. Mâu thuẫn khó hiểu như thế với cách suy nghĩ thông thường đến từ sự kiện là chúng ta sử dụng ngôn ngữ để trao đổi kinh nghiệm nội tâm của chúng ta vốn chính trong bản chất của chúng là vượt khỏi ngôn ngữ học. Nhưng cho đến nay vì chúng ta không có phương tiện truyền thông nào khác, ngoại trừ một của những người theo Thiền tông đã dựa vào, những mâu thuẫn cứ tiếp tục giữa những người duy lý và điều-gọi là thần bí. Ngôn ngữ đã phát triển trước hết cho sự xử dụng của kiến ​​thức thuộc loại thứ nhất, vốn ở mức tiện dụng cao, và vì lý do này nó đã đi đến tự khẳng định khắp tất cả trên những công việc giao thiệp và kinh nghiệm của con người. Uy quyền chế ngự của nó bao trùm đến mức chúng ta đã hầu như đi đến chấp nhận tất cả những-gì ngôn ngữ đòi hỏi. Suy nghĩ của chúng ta bây giờ được đúc khuôn ứng theo những chỉ định của nó, hành vi của chúng ta bị quy định bởi những quy tắc đã hình thành vì hiệu quả riêng của hoạt động ngôn ngữ. Đây vẫn chưa phải là tất cả. Điều tồi tệ hơn là bây giờ ngôn ngữ đã thậm chí đi đến đè nén ngăn chận sự thật của những kinh nghiệm mới, và khi chúng thực sự xảy ra, ngôn ngữ sẽ lên án chúng là phi lôgích” hay “không tưởng” và do đó là sai lầm, và cuối cùng như thế, nó sẽ cố để gạt qua bên, bất cứ gì mới như không có giá trị con người.

Thursday, December 13, 2012

Daisetz T. Suzuki - Cơ bản của Triết học đạo Phật


Cơ bản của Triết học đạo Phật

The Basis of Buddhist Philosophy
Daisetz Teitaro Suzuki








I
Triết học đạo Phật đặt cơ bản trên chứng nghiệm đức Phật đã có khoảng hai mươi lăm thế kỷ trước. Thế nên, để hiểu triết học đạo Phật là gì, điều cần thiết là hiểu – sau sáu năm gồm suy nghĩ hết sức sâu xa, thực hành thiền định, và tu tập khổ hạnh – chứng nghiệm đó của Đức Phật là gì [1].

Nói chung, chúng ta thường nghĩ rằng triết lý là một nội dung của trí tuệ thuần túy, rằng triết lý bậc nhất đến từ một não thức giàu có nhất được phú bẩm với sự nhạy bén trí tuệ cùng những lý luận biện chứng tinh tế. Nhưng điều này không đúng trong thực tế. Quả thực rằng ai là người kém có trang bị sức mạnh trí tuệ không thể là những triết gia giỏi. Trí tuệ, tuy nhiên, không phải là tất cả toàn bộ. Phải có một sức mạnh sâu xa của trí tưởng tượng, phải có một ý chí vững chắc không lay chuyển, phải có một cái nhìn sắc bén chiếu sâu vào tận bản chất con người, và cuối cùng có phải có một thị lực thực sự nhìn xuyên thấu sự thật khi được tổng hợp trong toàn bộ bản thân của chính người ấy.

Tôi muốn nhấn mạnh ý tưởng này về nhìn thấy. Biết là chưa đủ, như thuật ngữ này thường được hiểu. Kiến thức, trừ khi nó đi kèm bằng một kinh nghiệm cá nhân, thì chỉ giả tạo bên ngoài, và không có loại triết học nào có thể dựng được trên một nền tảng lung lay như vậy. Tuy nhiên, tôi thừa nhận có nhiều hệ thống tư tưởng không được hỗ trợ bằng kinh nghiệm thực tại, nhưng như thế chúng không bao giờ truyền hứng khởi. Đem chúng ra ngắm thì được, nhưng năng lực chuyển động người đọc của chúng là con số không. Dẫu kiến ​​thức loại nào triết gia có thể có đi nữa, nó phải từ kinh nghiệm của ông đi ra, và kinh nghiệm này là sự nhìn thấy. Đức Phật đã luôn luôn đã nhấn mạnh điều này. Ngài ghép hiểu-biết (ñāa, jñāna) [2] và nhìn-thấy (passa, paśya) [3] thành một đôi, vì nếu không nhìn-thấy, hiểu-biết không có chiều sâu, không thể hiểu được những thực tại của đời sống. Vì vậy, mục đầu tiên của Bát Chánh Đạo là sammādassana – chánh kiến, và sammāsankappa – chánh tư duy, tiếp liền theo. Nhìn thấy là trải nghiệm, nhìn thấy sự vật trong trạng thái của chân-như (tathatā) của chúng, hay như-như [4] của chúng. Toàn bộ triết lý của Đức Phật đến từ sự nhìn thấy này, sự trải nghiệm này.

Kinh nghiệm làm cơ sở triết học của đạo Phật được gọi là kinh nghiệm giác ngộ, vì nó là kinh nghiệm này của giác ngộ vốn đức Phật có sau sáu năm suy nghĩ gian khổ và chiêm nghiệm sâu xa, và tất cả những gì ngài giảng dạy về sau là sự khai triển của nhận thức bên trong này của ngài đã có khi đó.

Vậy khi đó, kinh nghiệm giác ngộ này là gì?

Tuesday, November 6, 2012

Daisetz T. Suzuki - Luân Hồi


Luân Hồi

Daisetsu Teitaro Suzuki










“Lang thang bao kiếp sống
Ta tìm nhưng chẳng gặp, 
Người xây dựng nhà này,
Khổ thay, phải tái sanh.

Ôi! Người làm nhà kia
Nay ta đã thấy ngươi! 
Ngươi không làm nhà nữa.
Ðòn tay ngươi bị gẫy,
Kèo cột ngươi bị tan
Tâm ta đạt tịch diệt,
Tham ái thảy tiêu vong.”

(Kinh Pháp Cú,  bản HT Thích Minh Châu)


Luân Hồi

Đạo Phật có dạy về luân hồi không? Nếu có, nó hoạt động như thế nào? Hồn của người chết có thực sự luân hồi hay không?

Thường có những câu hỏi loại giống như vậy, và tôi sẽ cố gắng trả lời chúng ngắn gọn ở đây [1].

I.
Khái niệm luân hồi là thế này: Sau khi chết, hồn của người chết di chuyển từ một cơ thể này sang một cơ thể khác, của trời, người, động vật, hoặc thực vật.

Saturday, November 3, 2012

Daisetz T. Suzuki - Đóng đinh trên Giá chữ thập và Giác ngộ dưới gốc Bồđề


Đóng đinh trên Giá chữ thập và Giác ngộ dưới gốc Bồđề


(Crucifixion and Enlightenment)
Daisetsu Teitaro Suzuki [1]






I.
Bất cứ khi nào tôi nhìn thấy một hình tượng Chúa Kitô bị đóng đinh, tôi không thể không nghĩ về khoảng cách nằm sâu giữa đạo Kitô và đạo Phật. Khoảng cách này là biểu tượng của sự phân chia tâm lý tách biệt phương Đông và phương Tây.

Ego [2] cá nhân tự khẳng định mạnh mẽ ở phương Tây. Ở phương Đông không có ego. Cái-ta thì không-hiện hữu, Vì vậy, không có cái-ta bị đóng đinh trên giá gỗ chữ thập.

Chúng ta có thể phân biệt hai chặng(phát triển) của ý tưởng-cái-ta. Thứ nhất là tương đối, tâm lý hoặc theo kinh nghiệm. Thứ nhì là cái-ta siêu nghiệm [3].

Cái-ta kinh nghiệm thì giới hạn. Nó không có hiện hữu tự thân. Dù nó khẳng định thế nào đi nữa về nó, nó không có giá trị tuyệt đối, nó phụ thuộc vào những-gì khác. Đây là không-gì nhiều hơn một cái-ta tương đối và một cái-ta được tâm lý thiết lập. Nó là một cái-ta giả định, nó là đối tượng phải chịu tất cả mọi thứ điều kiện. Vì vậy, nó không có tự do.

Sau đó, điều gì khiến nó cảm thấy tự do như thể nếu nó đã thực sự độc lập và chân chính đáng tin như thế? Do đâu có ảo tưởng này?

Ảo tưởng này xuất phát từ cái-ta siêu nghiệm bị nhìn nhầm lẫn vì nó hoạt động qua cái-ta kinh nghiệm và trú ngụ trong nó. Tại sao cái-ta siêu nghiệm, bị nhìn nhầm lẫn như thế, tự nó phải chịu đựng bị đem nhận là cái-ta-tương đối?

Monday, April 20, 2009

Đạo Phật Chân Tông (phần 3)

Đạo Phật Chân Tông (3)
The Shin Sect of Buddhism
Daisetz Teitaro Suzuki (1870 –1966)


VI

Còn một điều nữa và là điều nhận xét cuối cùng, tôi muốn trình bày về ChânTông liên quan đến sinh hoạt đời sống của tín đồ. Nói chính xác, ChânTông không có một tầng lớp tu sĩ chuyên nghiệp nào tương ứng với những gì chúng ta thấy trong các trường phái khác của Đạo Phật. Các tu sĩ đạo Phật, được quan niệm chung là thực hành khổ hạnh, có đời sống không giống các người thường. Họ sống riêng biệt trong những kiến trúc xây dựng đặc biệt và tuân thủ những qui luật có nội dung nhằm trợ giúp sự thăng tiến đạo đức và tinh thần. Chuyên tâm nghiên cứu những văn bản đạo Phật, Họ đọc, tụng thuộc lòng kinh Phật, tán kệ, điều khiển những nghi lễ khác nhau trong những trường hợp khác biệt. Họ thuyết giáo, thực hiện những nghi lễ tang ma, chôn cất, Họ được mời rời chùa, đến nhà thường dân để làm các nghi lễ tôn giáo cổ truyền trong các đám cúng giỗ. Vắn tắt, họ sống đời tách biệt với của những người thế tục. Đó là quan niệm cho giai tầng tu sĩ là những Phật tử tự dành trọn đời vào sự nghiên cứu và truyền bá tôn giáo của mình. Là nhà tu chuyên nghiệp, cuộc sống hàng ngày của họ phải là gương soi và là mẫu mực cho giới thế tục. Họ có lý do của họ về lối sống như thế khi những người của thế giới ngoài này cứ đắm chìm trong các cuộc chiến tranh của tham lam, giận dữ, và điên rồ (tham, sân, si); thật là khoan khoái và hứng khởi khi nhìn thấy một tập thể những tâm hồn bỏ hết tất cả để chuyên dành vào sự vun trồng các đức hạnh khác nhau của đạo Phật. Dẫu cho có những câu hỏi về mặt kinh tế liên quan từ cách sống của họ. Trong nhiều phương diện, họ mang cho xã hội rất nhiều tốt lành ngoài cả sự nhận bíết của họ, và chúng ta không nên đối xử với họ bằng thái độ lãnh đạm, lại càng thực sự không nên và phải giảm đi sự khinh miệt hay ác cảm.

Sunday, April 19, 2009

Đạo Phật Chân Tông (phần 2)

Đạo Phật Chân Tông (2)
The Shin Sect of Buddhism
Daisetz Teitaro Suzuki (1870 –1966)




V

So sánh với đạo Kitô, có thể giúp chúng ta hiểu đặc tính của giáo pháp ChânTông là một phát triển của chủ thuyết TịnhĐộ và cũng như là một môn phái của đạo Phật ĐạiThừa, dù cho mới thoạt nhìn thấy hiện ra thật lạ lẫm đến ra sao đi nữa. Những điểm sau đây có thể xem là khác biệt giữa đạo Phật Chân tông và đạo Kitô:

1. ADiĐà, qua tất cả các tuớng dạng chúng ta biết, có thể được xem như tương đương với ý niệm về Chúa Trời (God) trong đạo Kitô. Tuy nhiên ADiĐà không phải là vị sáng lập vũ trụ, nên cũng không bị nêu tên là tác giả của cái Ác (evil) trong thế giới này, vốn là ý niệm không tránh được, luôn nối theo với ý niệm sáng lập.

Những cái ác dù có mang dạng thể nào trong thế giới này, chúng đều hết thảy là từ hành động của chính chúng ta, vì tất cả những gì các cá nhân bị nghiệp chướng mà có làm được, rồi nhất thiết là xấu ác và không có giá trị nào xứng đáng để họ đến được truớc ADiĐà. Sự phân hai giữa ADiĐà và chúng sinh (sarvasattva) [1] là một trong những tính chất đặc biệt của tư tưởng ChânTông. Trong cái nhìn này, tín đồ phái này có thể nói là duy siêu nghiệm[2] hay duy nhị nguyên[3]. ADiĐà là tình thương thuần khiết thành hiện thực. Hễ ai tin ngài là cứu tinh thì chắc chắn được ADiĐà nâng dậy và tiếp dẫn vào TịnhĐộ. Lòng từ của ADiĐà không phân biệt kẻ ác nguời thiện, vì như Shinran nói, không có cái ác nào mạnh đến có thể cản được tình thương vô hạn của ADiĐà ôm lấy một con nguời dẫu dẫu thế nào, mà cũng không có sự tốt lành nào từ thế giới này toàn thiện và tinh thuần đến có thể đưa tác nhân của chúng vào đất Tịnh mà không cần nhờ đến Bản Nguyện. Chúng ta, những nguời thuộc về thế giới tương đối này, luôn luôn ý thức về những gì mình làm, vì chúng ta được tạo nên như thế nên đanh chịu không sao khác được. Khi chúng ta làm được điều gì tốt, chúng ta trở nên ý thức về nó, và chính cái ý thức này phá mất hết phuớc điền có được từ sự tốt đẹp. Ý thức có về một điều gì từ ý niệm về Tự Ngã mà ra, và không có gì hiệu nghiệm hon là ý thức tự ngã, nó làm mỗi chúng ta sẽ bị loại ngay khi xin xếp hàng truớc cửa TịnhĐộ của ADiĐà. Tha lực chấp nhận bất kể phẩm chất dẫn đến sự có mặt của một lòng từ vô luợng. Do lý do này, chừng nào chúng ta, những sinh vật sống trong cái thế giới có ý thức về các giá trị tương đối của nó, chúng ta roi mất quyền được về bên ADiĐà và các khách của cõi ngài. Nguời tốt hết là tốt liền một khi họ có ý thức về sự tốt lành và muốn dùng sự phúc hiện ấy của họ; còn kẻ làm ác lại được xóa sạch tội, thành xứng đáng ngay với TịnhĐộ liền một khi khi ánh sáng ADiĐà chiếu đến họ. ADiĐà như là cái nồi nấu chảy cả tốt lẫn xấu, trong đó chỉ mỗi lòng tin giữ được giá trị tuyệt đối của nó. Không là vị sáng lập vũ trụ, ADiĐà tuyệt không có chuyện kỷ luật, thuởng phạt con nguời. Ngài là Ánh Sáng của Từ Bi chiếu sáng đồng đều khắp sinh linh. Dù chúng sinh xấu xa ra sao đi nữa, ADiĐà biết rằng ấy là do họ bị nghiệp buộc và điều này không bao giờ làm cản trở sự vãng sinh TịnhĐộ của họ. Cái mà ngài đòi hỏi ở họ là Lòng Tin. Điều này giữ ADiĐà khỏi các trách nhiệm và khỏi những giới hạn tương đối của thế giới nhị nguyên này, đánh dấu ChânTông như một giáo thuyết độc đáo.


Friday, April 17, 2009

Đạo Phật Chân Tông

Đạo Phật Chân Tông (1)

The Shin Sect of Buddhism

Daisetz Teitaro Suzuki (1870 –1966)





Lời người dịch.

Teitaro Daisetz Suzuki (1870 – 1966) là học giả Nhật nổi tiếng. Ông được xem như người đem tư tưởng Zen (Thiền tông) sang giới thiệu với phương Tây. Ông viết rất nhiều sách về Thiền và tư tưởng Nhật bản, trong đó Essays in Zen – Buddhism (Các bài luận về Thiền tông) được biết đến nhiều nhất. Người đọc Việt ở miền Nam trước 1975 cũng quen ông qua bản dịch bộ sách này[1]


Ít phổ thông hơn, Suzuki còn nghiên cứu, phiên dịch và viết nhiều về môn phái TịnhĐộ đặc biệt của Nhật bản là Chântông (Jōdo Shinshū) do Shinran (1173 – 1262) sáng lập.


Trình bày giáo phái này   gọi tắt là Shin [2] –  với người Mỹ. Năm bài nói chuyện của ông tại American Buddhist Academy ở New York mùa xuân năm 1958, được vị sư trụ trì của New York Buddhist Church là Hozen Seki ghi lại, viết thêm tựa và năm 1970 cho xuất bản – lúc này Suzuki đã mất –với tựa đề Shin Buddhism [3]. Gần đây, Giáo sư Taitetsu Unno hiệu đính, in lại với tên mới Buddha of Infinite Light [4].


Lúc diễn thuyết, Suzuki đã 88 tuổi, không hoa mỹ, ông nói về Chântông với giọng chân thực, rất đơn giản, trong sáng và thật sâu sắc. Tôi dùng bản trong Web để dịch trước, nó ngắn gọn và tiện khi muốn tham cứu bản gốc. So với bản in thành sách, bản này bớt chi tiết, nội dung được trình bày hơi khác, nhưng vẫn là một và vì thu ngắn   từ bản văn nói sang bản văn đọc   nên cô đọng thu hút hơn. Trong bản tôi dịch, tác giả dùng nhiều so sánh với đạo Kitô để trình bày Chântông, tôi đoán thính giả là người Mỹ, hoặc chẳng biết hay không biết gì nhiều về Chântông [5]. Điều này giúp chúng ta, tuy đến từ châu Á, nhưng quen thuộc với các phạm trù văn hóa phương Tây, dễ tiếp nhận và có thêm cái nhìn mới về Chântông.