
Vượt cả Đúng lẫn Sai
(Beyond true and false)
Graham Priest [1]
Triết học Phật giáo thì đầy những
mâu thuẫn. Bây giờ lôgích hiện đại đương học để thấy tại sao đó có thể là một
điều hay.
Những triết gia phương Tây, trên toàn bộ, đã không
nhìn tư tưởng Phật giáo với nhiều nhiệt tình. Như một đồng nghiệp đã từng nói
với tôi: “Đó tất cả chỉ là thần bí”. Thái độ này, một phần, là do sự thiếu hiểu
biết. Nhưng nó cũng là do sự không-thể-hiểu. Khi người học triết học phương Tây
nhìn sang phương Đông, họ tìm thấy những điều họ không hiểu – không kể ít nhất,
có sự kiện là những truyền thống châu Á có vẻ chấp nhận, và thậm chí xác nhận,
những mâu thuẫn. Thế nên, chúng ta thấy nhà triết học vĩ đại Phật giáo thế kỷ
thứ hai, Nagarjuna nói:
Bản thể của sự vật là không-bản-thể;
không-bản-thể của chúng là bản thể của chúng. Vì chúng chỉ có một bản thể:
không-bản-thể.
Một ghét cay ghét đắng với mâu thuẫn đã từng là giáo
điều chính thống nêu cao ở phương Tây trong hơn 2.000 năm. Do đó, những phát
biểu loại như của Nagarjuna theo thói quen đưa đến phản ứng bằng những cái nhìn
của sự trống-rỗng không-thể-hiểu, hoặc tệ hơn. Như Avicenna [2]
, cha đẻ của học thuyết Aristoteles thời Trung Cổ, đã tuyên bố:
Bất cứ ai phủ nhận luật không mâu thuẫn nên bị
đánh và đem đốt, cho đến khi hắn thú nhận rằng bị-đánh là không giống như không
bị-đánh, và bị đốt cháy là không giống như không bị đốt cháy.
Người ta có thể nghe được những tình cảm tương tự,
được bày tỏ với sự tàn bạo tương đương, ngày nay trong phòng nghỉ dành cho giáo
sư giảng khoa ở nhiều trường đại học. Tuy nhiên, những triết gia phương Tây dần
dần và chậm rãi đang học để cao hơn, vượt khỏi giới hạn địa phương của họ. Và
sự giúp đỡ đến từ một hướng bất ngờ nhất: lôgích toán học hiện đại, không từng
là một ngành học có tiếng tăm từ khoan dung của nó với sự tối tăm.
Hãy bắt đầu bằng xoay ngược kim đồng hồ. Đó là India
trong thế kỷ thứ năm trước Công nguyên, thời của Đức Phật lịch sử, và một
nguyên tắc khá đặc biệt của lý luận dường như được sử dụng chung. Nguyên tắc
này được gọi là catuskoti, có nghĩa là “bốn góc”. Nó khẳng định rằng có
bốn khả năng liên quan đến bất kỳ mệnh đề nào: nó có thể là đúng (và chỉ đúng),
sai (và chỉ sai), cả hai đều vừa đúng và sai, hoặc vừa không đúng cũng không
sai [3].