Monday, September 7, 2026

Hume – Một Chuyên Luận Về Bản Chất Con Người (14)

Một Chuyên Luận Về Bản Chất Con Người

(A Treatise of Human Nature)

David Hume

( ← ... tiếp theo )





QUYỂN 1-PHẨN 4

MỤC II.

Về Thuyết Hoài Nghi với Những Giác Quan.

 

T 1.4.2.14, SBN 193

Chúng ta cũng có thể nhận thấy, qua trường hợp của âm thanh và màu sắc, rằng chúng ta có thể gán cho những đối tượng một sự hiện hữu tách biệt và liên tục mà không hề tham khảo đến lý trí, cũng không cân nhắc những ý kiến của mình theo bất kỳ nguyên tắc triết học nào.

Thật vậy, cho dù những nhà triết học có thể nghĩ rằng họ đưa ra được những lập luận thuyết phục để xác lập sự tin tưởng vào sự hiện hữu của những đối tượng độc lập với não thức, rõ ràng chỉ rất ít người biết đến những lập luận ấy. Trẻ em, nông dân và phần lớn nhân loại không phải nhờ những lập luận ấy mà gán đối tượng cho một số ấn tượng và phủ nhận đối tượng đối với những ấn tượng khác.


Do đó, chúng ta thấy rằng mọi kết luận mà người thông thường hình thành về sự hiện hữu của đối tượng đều trực tiếp trái ngược với những kết luận được triết học xác nhận. Triết học cho chúng ta biết rằng mọi gì xuất hiện trước não thức đều chỉ là tri giác, và rằng tri giác bị gián đoạn cũng như phụ thuộc vào não thức. Trái lại, người thông thường đồng nhất tri giác với đối tượng, rồi gán sự hiện hữu tách biệt và liên tục cho chính những gì họ cảm nhận hoặc nhìn thấy.

Sự tin tưởng này, vì không thể được hình thành bằng khả năng hiểu biết, phải bắt nguồn từ một khả năng khác. Hơn nữa, chừng nào chúng ta còn xem tri giác và đối tượng là một, chúng ta không thể suy ra sự hiện hữu của đối tượng từ sự hiện hữu của tri giác, cũng không thể suy ra sự hiện hữu của tri giác từ sự hiện hữu của đối tượng. Chúng ta cũng không thể hình thành một lập luận dựa trên quan hệ nhân quả; bởi nhân quả là quan hệ duy nhất có thể đem lại cho chúng ta sự bảo đảm về sự kiện thực tế.

Ngay cả sau khi phân biệt tri giác với đối tượng, chúng ta vẫn sẽ thấy rằng chúng ta không thể suy luận từ sự hiện hữu của tri giác đến sự hiện hữu của đối tượng, cũng không thể suy luận theo chiều ngược lại từ sự hiện hữu của đối tượng đến sự hiện hữu của tri giác.

Vì vậy, xét toàn bộ lập luận, khả năng hiểu biết của chúng ta không thể — và theo bất kỳ giả định nào cũng không thể — đem lại cho chúng ta sự bảo đảm về sự hiện hữu liên tục và tách biệt của thân thể.

Sự tin tưởng vào sự hiện hữu liên tục và tách biệt của thân thể hoàn toàn phải bắt nguồn từ trí tưởng tượng. Chính trí tưởng tượng sẽ là khả năng mà chúng ta phải khảo sát tiếp theo.

 

T 1.4.2.15, SBN 194

Vì mọi ấn tượng đều là những hiện hữu bên trong và chóng mất, và xuất hiện trước chúng ta đúng như vậy, nên quan niệm về sự hiện hữu tách biệt và liên tục của ấn tượng hẳn phải phát sinh từ sự phù hợp giữa một số phẩm chất của ấn tượng với một số phẩm chất của trí tưởng tượng. Vì quan niệm về sự hiện hữu tách biệt và liên tục không áp dụng cho tất cả ấn tượng, nên quan niệm ấy phải bắt nguồn từ một số phẩm chất đặc biệt chỉ thuộc về một vài loại ấn tượng nhất định.

Do đó, chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra những phẩm chất ấy bằng cách so sánh những ấn tượng mà chúng ta gán cho sự hiện hữu tách biệt và liên tục với những ấn tượng mà chúng ta xem chỉ có sự hiện hữu nội tại và chóng mất.

 

T 1.4.2.16, SBN 194

Vậy chúng ta có thể nhận thấy rằng chúng ta không gán tính thực tại và sự hiện hữu liên tục cho một số ấn tượng vì những ấn tượng ấy không tự nguyện, như người ta thường giả định; cũng không phải vì những ấn tượng ấy có sức mạnh và cường độ vượt trội. Bằng chứng là chúng ta gán tính thực tại và sự hiện hữu liên tục cho những ấn tượng không tự nguyện và mạnh mẽ, nhưng lại từ chối tính thực tại và sự hiện hữu liên tục ấy đối với những ấn tượng khác vốn tự nguyện hoặc yếu hơn.

Bởi rõ ràng những đau đớn và khoái lạc, những đam mê và tình cảm của chúng ta — những hiện hữu mà chúng ta không bao giờ cho rằng có sự hiện hữu nào vượt ra ngoài tri giác — tác động lên chúng ta với sức mạnh lớn hơn, và cũng không kém phần không tự nguyện, so với những ấn tượng về hình dáng, sự kéo dài, màu sắc và âm thanh. Tuy nhiên, chúng ta lại xem hình dáng, sự kéo dài, màu sắc và âm thanh như những hữu thể có sự hiện hữu lâu dài, độc lập với tri giác của chúng ta.

Chẳng hạn, sức nóng của một ngọn lửa, khi ở mức vừa phải, được cho là hiện hữu ngay trong ngọn lửa; nhưng nỗi đau do sức nóng ấy gây ra khi chúng ta đến quá gần lại không được xem là có bất kỳ sự hiện hữu nào vượt ra ngoài tri giác của chúng ta.[1]

 

T 1.4.2.18, SBN 194–195

Sau một chút xem xét, chúng ta sẽ thấy rằng mọi đối tượng mà chúng ta gán cho sự hiện hữu liên tục đều có một tính không thay đổi (constancy) đặc biệt, khiến chúng khác với những ấn tượng mà chúng ta xem là chỉ có sự hiện hữu nội tại và chóng mất.

Những ngọn núi, ngôi nhà và cây cối đang ở trước mắt tôi luôn xuất hiện theo cùng một trật tự; và khi tôi không còn nhìn thấy chúng vì nhắm mắt hoặc quay đầu đi, ngay sau đó tôi lại thấy chúng xuất hiện mà hầu như không có bất kỳ thay đổi nào.

Chiếc giường và chiếc bàn của tôi, sách vở và giấy tờ của tôi cũng luôn xuất hiện theo cùng một cách như trước, và không thay đổi chỉ vì việc tôi nhìn thấy hoặc tri giác chúng bị gián đoạn.

Đặc điểm này đúng với tất cả những ấn tượng mà chúng ta giả định có những đối tượng với sự hiện hữu bên ngoài, và không đúng với bất kỳ loại ấn tượng nào khác, dù ấn tượng ấy nhẹ hay mạnh, tự nguyện hay không tự nguyện.

 

T 1.4.2.19, SBN 195

Tuy nhiên, tính không thay đổi (constancy) này không hoàn hảo đến mức không có những ngoại lệ đáng kể. Những đối tượng thường thay đổi vị trí và phẩm chất; sau một thời gian vắng mặt, hoặc chỉ sau một khoảng gián đoạn ngắn, chúng có thể trở nên gần như không còn nhận ra được.

Nhưng điểm đáng lưu ý là ngay cả trong những biến đổi ấy, những đối tượng vẫn giữ được một tính nhất quán (coherence) và vẫn có sự phụ thuộc đều đặn lẫn nhau. Chính tính nhất quán trong những biến đổi ấy tạo nền tảng cho một kiểu suy luận dựa trên quan hệ nhân quả, từ đó góp phần làm phát sinh sự tin tưởng vào sự hiện hữu liên tục của những đối tượng.

Khi tôi trở về phòng sau một giờ vắng mặt, tôi thấy ngọn lửa không còn ở đúng vị trí như lúc tôi rời đi. Nhưng trong nhiều trường hợp khác, tôi đã quen thấy một sự thay đổi tương tự diễn ra trong cùng một khoảng thời gian, bất kể tôi có mặt hay vắng mặt, ở gần hay ở xa.

Vì thế, tính nhất quán (coherence) trong những biến đổi của những đối tượng cũng là một đặc điểm của những đối tượng bên ngoài, giống như tính không thay đổi (constancy) của chúng.[2]

 

T 1.4.2.20, SBN 195–7

Sau khi nhận ra rằng quan niệm về sự hiện hữu liên tục của những vật thể phụ thuộc vào tính nhất quántính không thay đổi của một số ấn tượng nhất định, giờ đây tôi sẽ xem xét bằng cách nào những phẩm chất ấy lại làm phát sinh một quan niệm kỳ lạ đến như vậy.

Trước hết, xét về tính nhất quán. Chúng ta có thể nhận thấy rằng, mặc dù những ấn tượng bên trong mà chúng ta xem là thoáng qua và tiêu mất cũng có một tính nhất quán, hay một tính đều đặn nào đó trong cách chúng xuất hiện, nhưng tính nhất quán ấy có bản chất hơi khác với tính nhất quán mà chúng ta nhận ra nơi những vật thể.

Kinh nghiệm cho chúng ta thấy rằng những đam mê của chúng ta có sự liên kết và phụ thuộc lẫn nhau; nhưng trong không một trường hợp nào chúng ta cần phải giả định rằng những đam mê ấy vẫn tiếp tục hiện hữu và tác động khi chúng không được tri giác, để duy trì chính sự phụ thuộc và liên kết mà kinh nghiệm đã cho chúng ta thấy. Với những đối tượng bên ngoài thì không phải như vậy. Chúng đòi hỏi phải có một sự hiện hữu liên tục; nếu không, tính đều đặn trong cách chúng tác động lên nhau sẽ mất đi phần lớn.

Lúc này tôi đang ngồi trong phòng mình, quay mặt về phía lò sưởi; và tất cả những đối tượng đang tác động lên những giác quan của tôi đều chỉ nằm trong phạm vi vài thước quanh tôi. Đúng là ký ức cho tôi biết về sự hiện hữu của nhiều đối tượng khác; nhưng thông tin ấy chỉ cho biết sự hiện hữu của chúng trong quá khứ, còn những giác quan và ký ức đều không cho biết rằng chúng vẫn tiếp tục hiện hữu.

Vì vậy, khi tôi đang ngồi như thế và suy nghĩ về những vấn đề này, bỗng nhiên tôi nghe thấy một tiếng động giống tiếng cánh cửa quay trên bản lề; rồi một lát sau tôi thấy một người gác cổng bước về phía mình. Hiện tượng này làm phát sinh nhiều suy ngẫm và suy luận mới.

Trước hết, tôi chưa bao giờ nhận thấy tiếng động ấy có thể phát sinh từ bất cứ nguyên nhân nào khác ngoài chuyển động của một cánh cửa; vì thế tôi kết luận rằng hiện tượng đang xảy ra sẽ mâu thuẫn với toàn bộ kinh nghiệm trước đây của tôi, nếu cánh cửa mà tôi nhớ là ở phía bên kia căn phòng không còn hiện hữu nữa.

Hơn nữa, tôi luôn nhận thấy rằng thân thể con người có một thuộc tính mà tôi gọi là trọng lực, thuộc tính ngăn thân thể bay lên không trung; thế nhưng người gác cổng này hẳn đã phải bay lên để đến được phòng tôi, nếu chiếc cầu thang mà tôi nhớ đã không còn hiện hữu trong lúc tôi vắng mặt.

Nhưng vẫn chưa phải là tất cả. Tôi nhận được một lá thư; khi mở ra, tôi nhận biết qua nét chữ và chữ ký rằng lá thư ấy do một người bạn gửi, người nói rằng anh ta đang ở cách đây hai trăm dặm. Rõ ràng tôi không thể giải thích hiện tượng này phù hợp với kinh nghiệm của chúng ta trong những trường hợp khác, nếu tôi không hình dung trong não thức toàn bộ biển cả và lục địa nằm giữa chúng tôi, đồng thời giả định sự tác động và sự hiện hữu liên tục của hệ thống bưu trạm và những chuyến phà, đúng như ký ức và sự quan sát của tôi đã cho biết.

Nếu nhìn những hiện tượng về người gác cổng và lá thư từ một góc độ nhất định, chúng mâu thuẫn với kinh nghiệm thông thường, và có thể được xem như những phản bác đối với những quy tắc mà chúng ta hình thành về sự liên kết giữa nguyên nhân và kết quả. Tôi vốn quen nghe một âm thanh như thế đồng thời nhìn thấy một đối tượng như thế đang chuyển động. Nhưng trong trường hợp này, tôi lại không nhận được đồng thời cả hai tri giác ấy. Hai quan sát này sẽ mâu thuẫn với nhau, nếu tôi không giả định rằng cánh cửa vẫn còn ở đó và đã được mở ra trong lúc tôi không tri giác nó.

Và giả định này, vốn lúc đầu hoàn toàn tùy tiện và chỉ mang tính giả thuyết, dần dần có được sức thuyết phục và giá trị chứng minh, bởi vì đó là giả định duy nhất có thể giúp tôi dung hòa những mâu thuẫn ấy.

Hầu như không có một khoảnh khắc nào trong đời tôi mà tôi không gặp một trường hợp tương tự; và hầu như lúc nào tôi cũng phải giả định sự hiện hữu liên tục của những đối tượng để nối kết những gì chúng đã xuất hiện trong quá khứ với những gì chúng đang xuất hiện trong hiện tại, và tạo nên giữa chúng một sự thống nhất phù hợp với bản tính và hoàn cảnh riêng của chúng, như kinh nghiệm đã cho tôi thấy.

Vì vậy, tôi tự nhiên đi đến chỗ xem thế giới như một thực tại có thực, bền vững và vẫn tiếp tục bảo tồn sự hiện hữu của nó, ngay cả khi thế giới không còn hiện diện trước tri giác của chúng ta nữa.

 

T 1.4.2.21, SBN 197–8

Nhưng mặc dù kết luận này, rút ra từ tính nhất quán của những gì xuất hiện, dường như có cùng bản chất với những suy luận của chúng ta về nhân quả, vì cả hai đều phát sinh từ tập quán và được điều chỉnh bởi kinh nghiệm quá khứ, nhưng khi xem xét kỹ, chúng ta sẽ thấy rằng hai suy luận ấy khác nhau một cách đáng kể ở tận nền tảng. Suy luận về sự hiện hữu liên tục chỉ phát sinh từ khả năng nhận thức và tập quán theo một cách gián tiếp và quanh co.

Bởi lẽ, ai cũng dễ dàng thừa nhận rằng, vì không có gì thực sự hiện diện trước não thức ngoài chính những tri giác của nó, nên không những không thể hình thành bất kỳ tập quán nào bằng một cách khác ngoài sự kế tiếp đều đặn của những tri giác ấy, mà tập quán cũng không bao giờ có thể vượt quá mức độ đều đặn mà những tri giác ấy biểu hiện. Do đó, bất kỳ mức độ đều đặn nào trong những tri giác của chúng ta cũng không bao giờ có thể làm nền tảng để chúng ta suy ra một mức độ đều đặn lớn hơn nơi những đối tượng không được tri giác; bởi suy luận như vậy sẽ hàm chứa một mâu thuẫn: một tập quán được hình thành từ những gì chưa từng hiện diện trước não thức.

Nhưng rõ ràng là, mỗi khi chúng ta suy ra sự hiện hữu liên tục của những đối tượng của giác quan từ tính nhất quán của chúng và từ sự kết hợp thường xuyên giữa chúng, thì chúng ta làm như vậy chính là để gán cho những đối tượng ấy một mức độ đều đặn lớn hơn mức mà chúng ta quan sát thấy nơi chính những tri giác của mình.

Chúng ta nhận ra một sự liên kết giữa hai loại đối tượng qua cách chúng từng xuất hiện trước những giác quan; nhưng chúng ta không thể quan sát sự liên kết ấy là hoàn toàn bất biến, vì chỉ cần quay đầu đi hoặc nhắm mắt lại cũng đủ làm gián đoạn nó. Vậy trong trường hợp ấy, chúng ta giả định gì, nếu không phải rằng những đối tượng ấy vẫn tiếp tục duy trì sự liên kết thông thường của chúng mặc dù bề ngoài có sự gián đoạn, và rằng những gì xuất hiện không đều đặn ấy được nối kết lại bởi một hiện hữu mà chúng ta không hề tri giác được?

Nhưng vì mọi suy luận về sự kiện thực tế chỉ phát sinh từ tập quán, mà tập quán lại chỉ có thể là kết quả của những tri giác lặp đi lặp lại, nên việc mở rộng tập quán và sự suy luận vượt ra ngoài phạm vi những tri giác không bao giờ có thể là kết quả trực tiếp và tự nhiên của sự lặp lại và sự kết hợp thường xuyên ấy. Việc mở rộng ấy hẳn phải phát sinh từ sự phối hợp của một số nguyên lý khác.

 

T 1.4.2.22, SBN 198

Trước đây,[36] khi khảo sát nền tảng của toán học, tôi đã nhận thấy rằng trí tưởng tượng, một khi đã được đưa vào một dòng suy nghĩ nào đó, có khuynh hướng tiếp tục vận hành ngay cả khi đối tượng của nó không còn nữa; cũng giống như một chiếc thuyền được mái chèo đẩy đi vẫn tiếp tục lướt tới dù không còn một lực đẩy mới nào.

Tôi đã dùng nguyên lý này để giải thích vì sao, sau khi xem xét nhiều tiêu chuẩn rời rạc về sự bằng nhau và lần lượt hiệu chỉnh chúng bằng chính những tiêu chuẩn khác, chúng ta đi đến chỗ tự tưởng tượng ra một tiêu chuẩn hoàn toàn chính xác của quan hệ ấy, một tiêu chuẩn không còn phải chịu bất kỳ sai sót hay biến đổi nào.

Chính nguyên lý ấy cũng khiến chúng ta dễ dàng chấp nhận quan niệm về sự hiện hữu liên tục của những vật thể. Những đối tượng vốn đã có một tính nhất quán nhất định ngay cả khi chúng xuất hiện trước những giác quan của chúng ta; nhưng tính nhất quán ấy sẽ lớn hơn và đồng đều hơn nhiều nếu chúng ta giả định rằng những đối tượng ấy có sự hiện hữu liên tục. Và một khi não thức đã bắt đầu đi theo chiều hướng nhận ra một sự đồng đều giữa những đối tượng, nó tự nhiên tiếp tục xu hướng ấy cho đến khi làm cho sự đồng đều ấy trở nên hoàn chỉnh hết mức có thể.

Chỉ cần giả định đơn giản rằng những đối tượng có sự hiện hữu liên tục cũng đủ để đạt được mục đích ấy, và đem lại cho chúng ta quan niệm về một mức độ đều đặn giữa những đối tượng lớn hơn nhiều so với mức mà chúng ta có nếu chỉ giới hạn mình vào những gì những giác quan trực tiếp cung cấp.

 

T 1.4.2.23, SBN 198–9

Nhưng dù chúng ta có gán bao nhiêu sức mạnh cho nguyên lý này đi nữa, tôi e rằng một mình nguyên lý ấy vẫn quá yếu để nâng đỡ cả một tòa nhà đồ sộ như quan niệm về sự hiện hữu liên tục của mọi vật thể bên ngoài; và rằng chúng ta còn phải kết hợp tính không thay đổi trong cách chúng xuất hiện với tính nhất quán của chúng thì mới có thể giải thích thỏa đáng quan niệm ấy.

Vì việc giải thích vấn đề này sẽ dẫn tôi vào một mạch suy luận khá dài và sâu, nên để tránh rối rắm, trước hết tôi sẽ trình bày một bản phác thảo, hay một bản tóm lược ngắn gọn về toàn bộ hệ thống của chúng ta, rồi sau đó lần lượt triển khai đầy đủ từng phần.

Suy luận từ tính không thay đổi của những tri giác của chúng ta, cũng như suy luận trước đó từ tính nhất quán của chúng, làm phát sinh quan niệm về sự hiện hữu liên tục của những vật thể; và quan niệm này có trước quan niệm về sự hiện hữu tách biệt của chúng, đồng thời chính quan niệm về sự hiện hữu liên tục làm phát sinh quan niệm sau.

 

T 1.4.2.24, SBN 199

Khi chúng ta đã quen nhận thấy tính không thay đổi nơi một số ấn tượng nhất định, và thấy rằng, chẳng hạn, tri giác về mặt trời hay đại dương trở lại với chúng ta sau một khoảng vắng mặt hoặc gián đoạn, với những bộ phận giống nhau và theo cùng một trật tự như khi chúng xuất hiện lần đầu, chúng ta không có khuynh hướng xem những tri giác gián đoạn ấy là những tri giác khác nhau, mặc dù trên thực tế chúng là những tri giác khác nhau; trái lại, vì chúng tương tự nhau, chúng ta xem chúng là cùng một tri giác.

Nhưng vì sự gián đoạn trong sự hiện hữu của chúng mâu thuẫn với sự đồng nhất hoàn toàn ấy, và buộc chúng ta phải thừa nhận rằng ấn tượng thứ nhất đã tiêu mất, còn ấn tượng thứ hai mới được tạo ra, nên chúng ta rơi vào một tình trạng lúng túng và gặp phải một dạng mâu thuẫn. [3]

Để thoát khỏi khó khăn này, chúng ta cố che lấp sự gián đoạn ấy càng nhiều càng tốt, hay đúng hơn là xóa bỏ nó hoàn toàn, bằng cách giả định rằng những tri giác gián đoạn ấy được nối kết với nhau bởi một sự hiện hữu liên tục mà chúng ta không hề tri giác được.

Giả định này, hay ý niệm về sự hiện hữu liên tục, có được sức mạnh và tính sinh động từ trí nhớ về những ấn tượng gián đoạn ấy, cũng như từ khuynh hướng mà những ấn tượng ấy tạo ra nơi chúng ta: xem chúng như cùng một tri giác. Và theo lập luận trước đây, chính sức mạnh và tính sinh động của cách hình dung ấy tạo nên bản chất của sự tin tưởng.

 

T 1.4.2.25, SBN 199–200

Để biện minh cho hệ thống này, cần phải giải thích bốn vấn đề.

Thứ nhất, giải thích principium individuationis, tức nguyên lý cá thể hóa, hay nguyên lý đồng nhất. [4]

Thứ hai, đưa ra lý do vì sao sự tương tự giữa những tri giác bị đứt đoạn và gián đoạn của chúng ta lại khiến chúng ta gán cho chúng một sự đồng nhất.

Thứ ba, giải thích khuynh hướng mà ảo tưởng này tạo ra: khuynh hướng hợp nhất những biểu hiện bị đứt đoạn ấy bằng cách giả định một sự hiện hữu liên tục.

Thứ tư và cuối cùng, giải thích sức mạnh và tính sinh động của sự hình dung phát sinh từ khuynh hướng ấy.

 

T 1.4.2.26, SBN 200

Trước hết, về nguyên lý cá thể hóa, chúng ta có thể nhận thấy rằng việc xem xét bất kỳ một đối tượng đơn lẻ nào cũng không đủ để tạo ra ý niệm về sự đồng nhất.

Bởi vì trong mệnh đề “một đối tượng là chính nó” (an object is the same with itself), nếu ý niệm được biểu đạt bằng từ đối tượng không được phân biệt theo bất kỳ cách nào với ý niệm được biểu đạt bằng chính nó, thì thực ra chúng ta không nói lên điều gì; mệnh đề ấy cũng sẽ không chứa một chủ từ và một vị từ, trong khi hai thành phần ấy lại được hàm ý trong sự khẳng định.

Một đối tượng đơn lẻ chỉ đem lại ý niệm về tính đơn nhất (unity), chứ không đem lại ý niệm về sự đồng nhất (identity).

 

T 1.4.2.27, SBN 200

Mặt khác, nhiều đối tượng cũng không bao giờ có thể đem lại ý niệm về sự đồng nhất, cho dù chúng được giả định là tương tự nhau đến đâu.

Não thức luôn phán đoán rằng đối tượng này không phải đối tượng kia, và xem chúng như tạo thành hai, ba, hoặc bất kỳ số lượng xác định nào những đối tượng có sự hiện hữu hoàn toàn tách biệt và độc lập với nhau.

 

T 1.4.2.28, SBN 200

Vì cả số lượng (number) lẫn tính đơn nhất (unity) đều không tương thích với quan hệ đồng nhất, nên đồng nhất hẳn phải nằm trong một quan niệm không thuộc về cả hai.

Nhưng nói thật, thoạt nhìn, khả năng ấy dường như hoàn toàn không thể có. Giữa tính đơn nhất và số lượng không có một trạng thái trung gian nào, cũng như giữa sự hiện hữu và không hiện hữu không có một trạng thái trung gian nào.

Sau khi giả định một đối tượng hiện hữu, chúng ta buộc phải hoặc giả định rằng một đối tượng khác cũng hiện hữu — trong trường hợp ấy chúng ta có ý niệm về số lượng — hoặc giả định rằng đối tượng khác không hiện hữu — trong trường hợp ấy đối tượng thứ nhất vẫn giữ tính đơn nhất.[5]

 

T 1.4.2.29, SBN 200–201

Để giải quyết khó khăn này, chúng ta hãy quay sang ý niệm về thời gian hay thời lượng.

Tôi đã nhận xét trước đây rằng, theo nghĩa chặt chẽ, thời gian hàm ý sự kế tiếp; và khi chúng ta áp dụng ý niệm thời gian vào một đối tượng không thay đổi, chúng ta chỉ làm như vậy nhờ một hư cấu của trí tưởng tượng, theo đó đối tượng không thay đổi được giả định là cùng tham dự vào những thay đổi của những đối tượng cùng tồn tại, đặc biệt là những thay đổi trong chính những tri giác của chúng ta.

Hư cấu của trí tưởng tượng này gần như luôn diễn ra; và nhờ nó, một đối tượng đơn lẻ được đặt trước chúng ta và được quan sát trong một khoảng thời gian, mà chúng ta không nhận thấy bất kỳ gián đoạn hay biến đổi nào nơi đối tượng, có thể đem lại cho chúng ta một ý niệm về sự đồng nhất.

Khi xem xét hai thời điểm bất kỳ trong khoảng thời gian ấy, chúng ta có thể nhìn chúng theo hai cách khác nhau.

Một mặt, chúng ta có thể xem hai thời điểm ấy như cùng hiện diện trong một lúc. Khi ấy, cả bản thân hai thời điểm lẫn đối tượng đều đem lại ý niệm về số lượng; bởi để hình dung đối tượng đồng thời hiện hữu tại hai thời điểm khác nhau, chúng ta phải hình dung đối tượng ấy như được nhân lên thành hai.

Mặt khác, chúng ta có thể theo dõi sự kế tiếp của thời gian bằng một sự kế tiếp tương ứng của những ý niệm: trước hết hình dung một thời điểm cùng với đối tượng đang hiện hữu tại thời điểm ấy, rồi sau đó hình dung thời gian thay đổi mà không có bất kỳ biến đổi hay gián đoạn nào nơi đối tượng. Trong trường hợp này, đối tượng đem lại cho chúng ta ý niệm về tính đơn nhất.

Ở đây xuất hiện một ý niệm nằm giữa tính đơn nhất và số lượng; hay nói chính xác hơn, cùng một ý niệm có thể mang tính đơn nhất hoặc mang tính số lượng, tùy theo cách chúng ta xem xét. Ý niệm ấy được gọi là ý niệm về sự đồng nhất (identity).

Chúng ta không thể, theo nghĩa chính xác của lời nói, nói rằng một đối tượng là chính nó, trừ khi chúng ta muốn nói rằng đối tượng hiện hữu ở một thời điểm là cùng một đối tượng với chính nó khi hiện hữu ở một thời điểm khác.

Nhờ cách này, chúng ta tạo ra một sự khác biệt giữa ý niệm được biểu đạt bằng từ đối tượng và ý niệm được biểu đạt bằng chính nó, mà không đi xa đến mức tạo ra ý niệm về số lượng, đồng thời cũng không giới hạn mình trong một tính đơn nhất chặt chẽ và tuyệt đối.[6]

 

T 1.4.2.30, SBN 201

Như vậy, nguyên lý cá thể hóa không là gì khác ngoài tính không thay đổi và tính không gián đoạn của một đối tượng qua sự kế tiếp của thời gian. Nhờ đó, não thức có thể theo dõi cùng một đối tượng qua những giai đoạn hiện hữu khác nhau mà không nhận thấy bất kỳ sự đứt đoạn nào; vì vậy, nó không bị buộc phải hình thành ý niệm về nhiều đối tượng hay số lượng. [7]

 

T 1.4.2.31, SBN 201–202

Bây giờ tôi tiếp tục giải thích phần thứ hai trong hệ thống của chúng ta, và chỉ ra vì sao tính không thay đổi của những tri giác khiến chúng ta gán cho chúng một sự đồng nhất hoàn toàn về số lượng, mặc dù giữa những lần chúng xuất hiện có những khoảng thời gian rất dài, và mặc dù chúng chỉ có một trong hai đặc tính thiết yếu của sự đồng nhất, đó là tính không thay đổi (invariableness).[8]

Để tránh mọi sự mơ hồ và nhầm lẫn về vấn đề này, tôi cần lưu ý rằng ở đây tôi đang giải thích những quan điểm và sự tin tưởng của người thông thường về sự hiện hữu của vật thể; vì vậy, tôi phải hoàn toàn thuận theo cách suy nghĩ và cách diễn đạt của họ.

Như chúng ta đã nhận xét, dù những nhà triết học có thể phân biệt giữa những đối tượng và những tri giác của giác quan — những đối tượng và tri giác mà họ giả định là cùng hiện hữu và tương tự nhau — thì phần lớn con người không hiểu được sự phân biệt ấy. Bởi vì họ chỉ nhận thấy một sự hiện hữu duy nhất, họ không thể chấp nhận quan điểm cho rằng có hai sự hiện hữu, trong đó một sự hiện hữu là sự biểu trưng cho sự hiện hữu kia.

Đối với họ, chính những cảm giác đi vào qua mắt hoặc tai mới là những đối tượng thực sự; họ khó có thể hình dung rằng cây bút hay tờ giấy đang được tri giác trực tiếp lại biểu trưng cho một đối tượng khác, khác với nó nhưng tương tự với nó.

Vì vậy, để thích ứng với cách nhìn của người thông thường, trước hết tôi sẽ giả định rằng chỉ có một sự hiện hữu duy nhất. Tôi sẽ gọi sự hiện hữu ấy, tùy theo mục đích của từng chỗ, là đối tượng hoặc tri giác, và khi dùng hai từ này, tôi đều muốn nói đến cùng một thứ mà bất kỳ người bình thường nào cũng hiểu khi nói đến một chiếc mũ, một chiếc giày, một hòn đá, hay bất kỳ ấn tượng nào khác được giác quan truyền đạt đến họ.

Tôi sẽ báo trước khi quay trở lại với cách nói và cách suy nghĩ mang tính triết học hơn.

 

T 1.4.2.32, SBN 202–203

Để đi vào câu hỏi về nguồn gốc của sai lầm và ảo tưởng liên quan đến sự đồng nhất, khi chúng ta gán sự đồng nhất cho những tri giác tương tự nhau mặc dù giữa chúng có sự gián đoạn, tôi cần nhắc lại một nhận xét mà tôi đã chứng minh và giải thích trước đây. Không gì dễ khiến chúng ta nhầm ý niệm này với ý niệm khác bằng một mối quan hệ liên kết chúng trong trí tưởng tượng, khiến trí tưởng tượng chuyển từ ý niệm này sang ý niệm kia một cách dễ dàng. Trong tất cả những mối quan hệ, sự tương tự (resemblance) có hiệu lực mạnh nhất theo phương diện này. Lý do là sự tương tự không chỉ tạo ra sự liên kết giữa những ý niệm, mà còn tạo ra sự liên kết giữa những trạng thái của não thức; nó khiến chúng ta hình thành một ý niệm bằng một hoạt động của não thức tương tự với hoạt động nhờ đó chúng ta hình thành ý niệm kia.

Tôi đã nhận xét rằng đặc điểm này có ý nghĩa rất quan trọng; và chúng ta có thể xác lập một nguyên tắc chung: những ý niệm đưa não thức vào cùng một trạng thái hoặc những trạng thái tương tự nhau rất dễ bị nhầm lẫn với nhau. Não thức chuyển từ ý niệm này sang ý niệm kia một cách dễ dàng và không nhận ra sự thay đổi, nếu không có một sự chú ý chặt chẽ — mà nói chung, não thức hầu như không có khả năng duy trì.

 

T 1.4.2.33, SBN 203

Để áp dụng nguyên tắc chung này, trước hết chúng ta phải xem xét trạng thái của não thức khi nhìn một đối tượng duy trì sự đồng nhất hoàn toàn, rồi tìm một đối tượng khác có thể bị nhầm lẫn với đối tượng ấy vì tạo ra một trạng thái tương tự trong não thức.

Khi chúng ta tập trung tư tưởng vào một đối tượng và giả định rằng đối tượng ấy tiếp tục là chính nó trong một khoảng thời gian, rõ ràng chúng ta chỉ giả định rằng sự thay đổi nằm ở thời gian, chứ không cố tạo ra một hình ảnh hay ý niệm mới về đối tượng. những năng lực của não thức, có thể nói, được nghỉ ngơi, và không hoạt động nhiều hơn mức cần thiết để duy trì ý niệm mà chúng ta đã có từ trước, một ý niệm tồn tại mà không thay đổi hay gián đoạn. Sự chuyển từ thời điểm này sang thời điểm khác hầu như không được cảm nhận, và không tạo ra một tri giác hay ý niệm mới nào khác biệt đến mức đòi hỏi não thức phải chuyển sang một trạng thái hoạt động khác để hình thành nó.[9]

 

T 1.4.2.34, SBN 203–204

Bây giờ, ngoài những đối tượng đồng nhất, những đối tượng nào khác có thể đưa não thức vào cùng một trạng thái khi chúng ta xem xét chúng, và khiến trí tưởng tượng chuyển từ ý niệm này sang ý niệm khác với cùng sự liên tục và dễ dàng? Đây là một câu hỏi rất quan trọng. Bởi nếu tìm được những đối tượng như vậy, chúng ta có thể kết luận, theo nguyên tắc vừa nêu, rằng chúng rất dễ bị nhầm lẫn với một đối tượng đồng nhất và thường được xem như một đối tượng đồng nhất trong những suy luận của chúng ta.

Câu trả lời không khó: một chuỗi những đối tượng có quan hệ với nhau cũng đưa não thức vào trạng thái ấy. Bản chất của mối quan hệ (relation) là liên kết những ý niệm với nhau và khi một ý niệm xuất hiện thì tạo thuận lợi cho trí tưởng tượng chuyển sang ý niệm tương ứng với nó. Vì vậy, sự chuyển tiếp giữa những ý niệm có quan hệ với nhau diễn ra quá dễ dàng, gây rất ít thay đổi trong não thức và dường như chỉ là sự tiếp tục của cùng một hoạt động. Mà sự tiếp tục của cùng một hoạt động lại là trạng thái xuất hiện khi chúng ta liên tục xem xét một đối tượng không thay đổi. Vì lý do đó, chúng ta có khuynh hướng gán sự đồng nhất cho một chuỗi những đối tượng khác nhau nhưng có quan hệ với nhau. Trí tưởng tượng lướt qua chuỗi ấy dễ dàng như thể chỉ đang xem xét một đối tượng; vì vậy, nó nhầm sự kế tiếp của những đối tượng với sự đồng nhất của một đối tượng.

 

T 1.4.2.35, SBN 204

Sau này chúng ta sẽ thấy nhiều trường hợp trong đó một mối quan hệ khiến chúng ta gán sự đồng nhất cho những đối tượng khác nhau; nhưng ở đây tôi chỉ xét vấn đề hiện tại.

Kinh nghiệm cho thấy hầu hết những ấn tượng của giác quan có một mức độ tính không thay đổi (constancy) đến mức sự gián đoạn không làm chúng thay đổi và cũng không ngăn chúng trở lại với vẻ ngoài và vị trí giống như khi chúng xuất hiện lần đầu. Chẳng hạn, tôi quan sát đồ đạc trong phòng, nhắm mắt lại, rồi mở mắt ra và nhận thấy những tri giác mới hoàn toàn giống với những tri giác trước đó.

Sự tương tự này xuất hiện trong vô số trường hợp và tự nhiên liên kết những ý niệm của chúng ta về những tri giác bị gián đoạn bằng mối quan hệ mạnh nhất; nhờ đó, trí tưởng tượng chuyển từ tri giác này sang tri giác kia một cách dễ dàng. Sự chuyển tiếp dễ dàng của trí tưởng tượng giữa những ý niệm về những tri giác khác nhau và bị gián đoạn gần như tạo ra cùng một trạng thái của não thức như khi chúng ta xem xét một tri giác duy nhất, không thay đổi và không gián đoạn. Vì vậy, chúng ta rất tự nhiên nhầm hai trường hợp ấy với nhau.[39]

 

T 1.4.2.36, SBN 205

Những người giữ quan niệm rằng những tri giác tương tự của chúng ta có cùng một sự đồng nhất nói chung là những người không suy xét và không có tư duy triết học — nghĩa là, vào lúc này hay lúc khác, tất cả chúng ta. Vì vậy, họ xem những tri giác của mình là những đối tượng duy nhất, và không bao giờ nghĩ đến hai sự hiện hữu: một sự hiện hữu bên trong và một sự hiện hữu bên ngoài, trong đó một sự hiện hữu biểu trưng cho sự hiện hữu kia.

Với chúng ta, chính hình ảnh đang hiện diện trước giác quan là vật thể thực sự; và chúng ta gán sự đồng nhất hoàn toàn cho những hình ảnh bị gián đoạn ấy. Nhưng sự gián đoạn trong cách chúng xuất hiện dường như trái ngược với sự đồng nhất, và tự nhiên khiến chúng ta xem những tri giác tương tự ấy là những tri giác khác nhau. Vì vậy, chúng ta không biết làm thế nào dung hòa hai quan điểm đối lập này.

Sự chuyển tiếp dễ dàng của trí tưởng tượng giữa những ý niệm về những tri giác tương tự khiến chúng ta gán cho chúng sự đồng nhất hoàn toàn. Nhưng sự gián đoạn trong cách chúng xuất hiện lại khiến chúng ta xem chúng như nhiều hiện hữu tương tự nhau nhưng vẫn khác biệt, xuất hiện sau những khoảng thời gian nhất định.

Sự bối rối do mâu thuẫn này tạo ra khiến chúng ta có khuynh hướng hợp nhất những lần xuất hiện bị đứt đoạn bằng cách giả định một sự hiện hữu liên tục. Đây là phần thứ ba trong giả thuyết mà tôi đã đưa ra để giải thích hiện tượng này.

 

T 1.4.2.37, SBN 205–206

Kinh nghiệm cho thấy không gì chắc chắn hơn rằng bất kỳ sự mâu thuẫn nào với những cảm nhận hoặc đam mê của chúng ta đều tạo ra một sự khó chịu có thể cảm nhận được, dù sự mâu thuẫn ấy đến từ bên ngoài hay bên trong — từ sự đối lập của những đối tượng bên ngoài hay từ sự xung đột giữa những nguyên tắc bên trong. Ngược lại, bất cứ gì phù hợp với những khuynh hướng tự nhiên, dù từ bên ngoài thúc đẩy sự thỏa mãn của chúng hay từ bên trong hòa hợp với sự vận động của chúng, đều tạo ra một sự dễ chịu có thể cảm nhận được.

Ở đây có sự đối lập giữa ý niệm về sự đồng nhất của những tri giác tương tự và sự gián đoạn trong cách chúng xuất hiện. Vì vậy, não thức tất yếu cảm thấy khó chịu và tự nhiên tìm cách thoát khỏi sự khó chịu ấy. Vì sự khó chịu phát sinh từ sự đối lập giữa hai nguyên tắc trái ngược, não thức phải tìm cách giải quyết bằng cách hy sinh một nguyên tắc cho nguyên tắc kia.

Nhưng vì sự chuyển tiếp dễ dàng của tư tưởng giữa những tri giác tương tự khiến chúng ta gán cho chúng sự đồng nhất, chúng ta không thể dễ dàng từ bỏ quan niệm ấy. Vì vậy, chúng ta chuyển sang phía còn lại và giả định rằng những tri giác của chúng ta không còn bị gián đoạn, mà có một sự hiện hữu liên tục cũng như không thay đổi; nhờ vậy, chúng hoàn toàn là cùng một tri giác.

Tuy nhiên, sự gián đoạn trong cách những tri giác ấy xuất hiện lại quá dài và quá thường xuyên để chúng ta có thể bỏ qua. Hơn nữa, thoạt nhìn, sự xuất hiện của một tri giác trong não thức và sự hiện hữu của nó dường như hoàn toàn đồng nhất với nhau. Vì vậy, có thể đặt câu hỏi liệu chúng ta có thể thực sự chấp nhận một mâu thuẫn hiển nhiên như thế hay không: làm sao một tri giác có thể hiện hữu khi nó không hiện diện trong não thức?[10]

Để làm sáng tỏ vấn đề này và hiểu vì sao sự gián đoạn trong cách một tri giác xuất hiện không nhất thiết hàm ý sự gián đoạn trong sự hiện hữu của nó, chúng ta cần xem xét một số nguyên tắc mà sau này tôi sẽ giải thích đầy đủ hơn.[40]

 

T 1.4.2.38 — SBN 206–207

Chúng ta có thể bắt đầu bằng cách nhận xét rằng khó khăn trong trường hợp hiện tại không liên quan đến sự kiện thực tế (matter of fact), hay đến câu hỏi liệu não thức có hình thành một kết luận về sự hiện hữu liên tục của những tri giác hay không. Khó khăn chỉ liên quan đến cách thức kết luận ấy được hình thành, và những nguyên tắc từ đó kết luận ấy được suy ra.

Chắc chắn rằng hầu hết mọi người, và ngay cả những nhà triết học trong phần lớn đời sống của họ, đều xem những tri giác của mình là những đối tượng duy nhất, và giả định rằng chính sự hiện hữu đang hiện diện mật thiết với não thức là vật thể thực sự, hay sự hiện hữu vật chất.

Cũng chắc chắn rằng chính tri giác hay đối tượng ấy được giả định là có sự hiện hữu liên tục và không gián đoạn (continu'd uninterrupted being), không bị tiêu hủy khi chúng ta vắng mặt, cũng không được tạo ra khi chúng ta hiện diện. Khi vắng mặt khỏi đối tượng, chúng ta nói rằng đối tượng vẫn hiện hữu, nhưng chúng ta không cảm nhận (feel) nó, không nhìn thấy (see) nó. Khi hiện diện, chúng ta nói rằng chúng ta cảm nhận hoặc nhìn thấy nó.

Ở đây có thể nảy sinh hai câu hỏi.

Thứ nhất, làm thế nào chúng ta có thể tự thuyết phục mình rằng một tri giác có thể vắng mặt khỏi não thức mà không bị tiêu hủy?

Thứ hai, chúng ta hình dung theo cách nào rằng một đối tượng trở nên hiện diện với não thức mà không cần đến một sự tạo ra mới nào của một tri giác hay hình ảnh? Và chúng ta muốn nói gì khi nói “nhìn thấy” (seeing), “cảm nhận” (feeling) và “tri giác” (perceiving) đối tượng? [11]

 

T 1.4.2.39, SBN 207

Đối với câu hỏi thứ nhất, chúng ta có thể nhận xét rằng não thức (mind) mà chúng ta gọi tên như vậy không là gì khác ngoài một tập hợp hay một hợp thể những tri giác khác nhau, được liên kết với nhau bởi những mối quan hệ nhất định, và bị giả định — mặc dù giả định ấy là sai — là có một tính đơn giản và sự đồng nhất hoàn hảo.[12]

Vì mỗi tri giác đều có thể được phân biệt với những tri giác khác và có thể được xem như hiện hữu riêng biệt, nên rõ ràng không có gì phi lý khi tách một tri giác cụ thể khỏi não thức; nghĩa là cắt đứt tất cả những mối quan hệ liên kết tri giác ấy với tập hợp những tri giác có liên kết với nhau, tập hợp tạo thành một hữu thể biết suy nghĩ.

 

T 1.4.2.40, SBN 207–208

Chính lập luận ấy cũng cho chúng ta câu trả lời cho câu hỏi thứ hai. Nếu từ “tri giác” (perception) không khiến việc tách tri giác khỏi não thức trở nên phi lý hay mâu thuẫn, thì từ “đối tượng” (object), khi được dùng để chỉ chính sự hiện hữu ấy, cũng không thể khiến sự kết hợp giữa đối tượng và não thức trở nên bất khả.

Những đối tượng bên ngoài được nhìn thấy, được cảm nhận và trở nên hiện diện với não thức; nghĩa là, chúng có được một mối quan hệ với tập hợp những tri giác được liên kết với nhau, đến mức chúng tác động đáng kể đến tập hợp ấy, làm tăng số lượng tri giác nhờ những phản tư và đam mê hiện tại, đồng thời lưu giữ những ý niệm trong ký ức.

Do đó, cùng một sự hiện hữu liên tục và không gián đoạn có thể khi thì hiện diện với não thức, khi thì vắng mặt khỏi não thức, mà không có bất kỳ thay đổi thực sự hay thiết yếu nào trong chính sự hiện hữu ấy.

Một sự xuất hiện bị gián đoạn đối với giác quan không nhất thiết hàm ý một sự gián đoạn trong sự hiện hữu.

Giả định rằng những đối tượng khả giác hay những tri giác có sự hiện hữu liên tục không chứa đựng mâu thuẫn nào. Chúng ta có thể dễ dàng thuận theo khuynh hướng tự nhiên dẫn chúng ta đến giả định ấy.

Khi sự tương tự hoàn toàn giữa những tri giác khiến chúng ta gán cho chúng một sự đồng nhất, chúng ta có thể loại bỏ sự gián đoạn có vẻ như tồn tại giữa chúng bằng cách giả định một sự hiện hữu liên tục, một sự hiện hữu lấp đầy những khoảng trống ấy và duy trì một sự đồng nhất hoàn hảo và trọn vẹn cho những tri giác của chúng ta.

 

T 1.4.2.41, SBN 208

Nhưng ở đây chúng ta không chỉ giả định (feign) mà còn tin tưởng (believe) vào sự hiện hữu liên tục ấy; vì vậy, câu hỏi đặt ra là: sự tin tưởng ấy phát sinh từ đâu? Câu hỏi này dẫn chúng ta đến phần thứ tư của hệ thống này.[13]

Chúng ta đã chứng minh rằng sự tin tưởng nói chung không là gì khác ngoài tính sinh động của một ý niệm, và rằng một ý niệm có thể có được tính sinh động ấy nhờ mối quan hệ của nó với một ấn tượng hiện tại.

Những ấn tượng tự nhiên là những tri giác sống động nhất của não thức; và một phần tính chất ấy được truyền sang mọi ý niệm có liên kết với chúng. Mối quan hệ tạo ra một sự chuyển tiếp trơn tru từ ấn tượng sang ý niệm, thậm chí còn tạo ra một khuynh hướng đối với sự chuyển tiếp ấy.

Não thức chuyển từ tri giác này sang tri giác kia dễ dàng đến mức hầu như không nhận thấy sự thay đổi, nhưng vẫn giữ lại trong tri giác thứ hai một phần đáng kể tính sinh động của tri giác thứ nhất. Ấn tượng sống động kích thích não thức; và tính sinh động ấy được truyền sang ý niệm có liên kết với ấn tượng mà không bị suy giảm đáng kể trong quá trình chuyển tiếp, nhờ sự chuyển tiếp trơn tru và khuynh hướng của trí tưởng tượng.

 

T 1.4.2.42, SBN 208–209

Nhưng giả sử khuynh hướng ấy phát sinh từ một nguyên tắc nào khác, ngoài nguyên tắc về mối quan hệ; thì rõ ràng nó vẫn phải có cùng một tác dụng, tức là truyền tính sinh động từ ấn tượng sang ý niệm.

Và đây chính xác là trường hợp hiện tại.

Ký ức cung cấp cho chúng ta vô số trường hợp trong đó những tri giác hoàn toàn tương tự nhau trở lại ở những khoảng thời gian khác nhau, sau những gián đoạn đáng kể. Sự tương tự này tạo cho chúng ta một khuynh hướng xem những tri giác bị gián đoạn ấy như cùng một tri giác; đồng thời tạo ra một khuynh hướng liên kết chúng bằng một sự hiện hữu liên tục, nhằm biện minh cho sự đồng nhất ấy và tránh mâu thuẫn mà sự xuất hiện bị gián đoạn của những tri giác dường như tất yếu đẩy chúng ta vào.

Ở đây, chúng ta có một khuynh hướng giả định sự hiện hữu liên tục của tất cả những đối tượng khả giác; và vì khuynh hướng này phát sinh từ những ấn tượng sống động của ký ức, nó truyền tính sinh động cho sự giả định ấy; hay nói cách khác, khiến chúng ta tin tưởng vào sự hiện hữu liên tục của vật thể.

Nếu đôi khi chúng ta gán sự hiện hữu liên tục cho những đối tượng hoàn toàn mới đối với chúng ta, những đối tượng mà chúng ta chưa từng có kinh nghiệm về tính không thay đổi và tính nhất quán của chúng, thì đó là vì cách những đối tượng ấy xuất hiện trước giác quan giống với cách những đối tượng có tính không thay đổi và tính nhất quán xuất hiện. Sự tương tự này trở thành cơ sở cho suy luận và phép loại suy, khiến chúng ta gán những đặc tính ấy cho những đối tượng tương tự.

 

T 1.4.2.43, SBN 209–210

Tôi tin rằng một độc giả có khả năng suy xét sẽ thấy dễ đồng ý với hệ thống này hơn là hiểu đầy đủ và rõ ràng về nó, và sau khi suy xét đôi chút, sẽ thừa nhận rằng mỗi phần của hệ thống đều mang theo sự chứng minh của chính nó.

Quả thật, rõ ràng rằng, vì người thông thường (vulgar) giả định (suppose) những tri giác của họ là những đối tượng duy nhất, đồng thời tin tưởng (believe) vào sự hiện hữu liên tục của vật chất, chúng ta phải giải thích nguồn gốc của sự tin tưởng ấy dựa trên chính giả định đó.

Nhưng theo giả định ấy, quan niệm cho rằng bất kỳ đối tượng hay tri giác nào của chúng ta vẫn đồng nhất về số lượng sau một sự gián đoạn là một quan niệm sai; và do đó, quan niệm về sự đồng nhất của chúng không thể phát sinh từ lý trí, mà phải phát sinh từ trí tưởng tượng.

Trí tưởng tượng chỉ bị dẫn đến một quan niệm như vậy nhờ sự tương tự của một số tri giác; bởi chúng ta nhận thấy rằng chính những tri giác tương tự nhau mới tạo ra nơi chúng ta một khuynh hướng xem chúng như cùng một.

Khuynh hướng gán sự đồng nhất cho những tri giác tương tự tạo ra sự giả định về một sự hiện hữu liên tục; bởi sự giả định ấy, cũng như sự đồng nhất, thực sự là sai, như tất cả những nhà triết học đều thừa nhận, và không có tác dụng nào khác ngoài việc khắc phục sự gián đoạn trong những tri giác của chúng ta — vốn là đặc điểm duy nhất trái ngược với sự đồng nhất của chúng.

Cuối cùng, khuynh hướng này tạo ra sự tin tưởng nhờ những ấn tượng hiện tại của ký ức; bởi rõ ràng rằng nếu không có sự ghi nhớ những cảm giác trước đây, chúng ta sẽ không bao giờ có sự tin tưởng vào sự hiện hữu liên tục của vật thể.

Như vậy, khi xem xét tất cả những phần này, chúng ta nhận thấy rằng mỗi phần đều được nâng đỡ bởi những bằng chứng mạnh mẽ nhất, và tất cả chúng cùng nhau tạo thành một hệ thống nhất quán, hoàn toàn có sức thuyết phục.

Chỉ một khuynh hướng hay thiên hướng mạnh, không có bất kỳ ấn tượng hiện tại nào, đôi khi cũng tạo ra một sự tin tưởng hay quan niệm. Vậy thì khi được hỗ trợ bởi yếu tố đó, nó còn có thể tạo ra sự tin tưởng mạnh đến mức nào?

 

T 1.4.2.44, SBN 210

Nhưng mặc dù theo cách này, do khuynh hướng tự nhiên của trí tưởng tượng, chúng ta được dẫn đến việc gán sự hiện hữu liên tục cho những đối tượng khả giác hay những tri giác mà chúng ta nhận thấy có sự tương tự với nhau trong những lần xuất hiện bị gián đoạn của chúng, thì chỉ cần một chút suy xét và triết học cũng đủ khiến chúng ta nhận ra sai lầm trong quan niệm ấy.

Tôi đã nhận xét rằng có một mối liên hệ mật thiết giữa hai nguyên tắc về sự hiện hữu liên tục (continu'd existence) và sự hiện hữu tách biệt hay độc lập (distinct or independent existence), và rằng ngay khi chúng ta thiết lập một nguyên tắc thì nguyên tắc kia lập tức theo sau như một hệ quả tất yếu.

Chính quan niệm về sự hiện hữu liên tục xuất hiện trước, và không cần nhiều suy xét hay nghiên cứu, nó kéo theo quan niệm kia ở bất cứ nơi nào não thức đi theo khuynh hướng đầu tiên và tự nhiên nhất của nó.

Nhưng khi chúng ta so sánh những kinh nghiệm với nhau và suy xét đôi chút về chúng, chúng ta nhanh chóng nhận ra rằng học thuyết cho rằng những tri giác do giác quan cung cấp có sự hiện hữu độc lập trái với những kinh nghiệm hiển nhiên nhất.[14]

Điều này dẫn chúng ta quay ngược lại những bước đi của chính mình để nhận ra sai lầm trong việc gán sự hiện hữu liên tục cho những tri giác của chúng ta; và đây là nguồn gốc của nhiều quan niệm rất đáng chú ý mà chúng ta sẽ cố gắng giải thích ở đây.

 

T 1.4.2.45, SBN 210–211

Trước hết, thích hợp khi xem xét một vài trong số những kinh nghiệm cho chúng ta thấy rằng những tri giác của chúng ta không có sự hiện hữu độc lập.

Khi chúng ta dùng một ngón tay ấn vào một mắt, chúng ta lập tức nhận thấy tất cả những đối tượng trở thành hai, và một nửa trong số đó bị dịch khỏi vị trí thông thường và tự nhiên của chúng. Nhưng vì chúng ta không gán sự hiện hữu liên tục cho cả hai tri giác ấy, và vì cả hai đều cùng một bản chất, nên chúng ta nhận thấy rõ rằng tất cả những tri giác của chúng ta đều phụ thuộc vào những cơ quan của chúng ta, cũng như vào trạng thái của những dây thần kinh và những tinh khí động vật (animal spirits) của chúng ta.

Quan niệm này còn được xác nhận bởi sự tăng lên và giảm xuống có vẻ như xảy ra ở những đối tượng tùy theo khoảng cách của chúng; bởi những thay đổi có vẻ như xảy ra trong hình dạng của chúng; bởi những thay đổi trong màu sắc và những phẩm chất khác của chúng do bệnh tật và những rối loạn trong cơ thể chúng ta; cùng vô số những kinh nghiệm khác thuộc cùng loại.

Từ tất cả những kinh nghiệm ấy, chúng ta nhận ra rằng những tri giác do giác quan cung cấp không có sự hiện hữu tách biệt hay độc lập.

 

T 1.4.2.46, SBN 211–212

Hệ quả tự nhiên của lập luận này phải là: những tri giác của chúng ta không có sự hiện hữu liên tục, cũng như không có sự hiện hữu độc lập.

Thật vậy, những nhà triết học đã đi xa đến mức chấp nhận quan niệm này và thay đổi hệ thống của họ. Họ phân biệt — như từ nay chúng ta cũng sẽ làm — giữa tri giác và đối tượng: tri giác được giả định là bị gián đoạn, biến mất và khác nhau mỗi khi xuất hiện trở lại; còn đối tượng được xem là không bị gián đoạn, vẫn tiếp tục hiện hữu và duy trì sự đồng nhất.

Nhưng cho dù hệ thống mới này có thể được xem là mang tính triết học đến đâu, tôi cho rằng nó chỉ là một cách chữa tạm thời (palliative remedy), và rằng nó chứa đựng tất cả những khó khăn của hệ thống thông thường, cùng với một số khó khăn khác chỉ riêng nó mới có.

Không có nguyên tắc nào, dù thuộc về khả năng hiểu biết hay trí tưởng tượng, trực tiếp dẫn chúng ta đến việc chấp nhận quan niệm về hai sự hiện hữu của tri giác và đối tượng; và chúng ta cũng không thể đi đến quan niệm ấy nếu không trước hết đi qua giả thuyết thông thường về sự đồng nhất và sự hiện hữu liên tục của những tri giác bị gián đoạn.

Nếu trước hết chúng ta không tin rằng những tri giác là những đối tượng duy nhất của chúng ta, và rằng chúng tiếp tục hiện hữu ngay cả khi chúng không còn xuất hiện trước giác quan, thì chúng ta sẽ không bao giờ đi đến quan niệm rằng tri giác và đối tượng là khác nhau, và rằng chỉ những đối tượng mới duy trì sự hiện hữu liên tục.

Giả thuyết sau không có sức thuyết phục ban đầu nào đối với lý trí hay trí tưởng tượng; nó chỉ có được toàn bộ sức ảnh hưởng đối với trí tưởng tượng từ giả thuyết trước. [15]

Mệnh đề này gồm hai phần, và chúng ta sẽ cố gắng chứng minh từng phần một cách rõ ràng và minh bạch nhất có thể, trong giới hạn mà một chủ đề khó hiểu như thế này cho phép.

 

T 1.4.2.47, SBN 212

Đối với phần thứ nhất của mệnh đề, tức là giả thuyết triết học này không có sức thuyết phục ban đầu nào đối với lý trí hay trí tưởng tượng, chúng ta có thể nhanh chóng tự thuyết phục mình về điều đó, ít nhất đối với lý trí, qua những suy xét sau đây.

Những sự hiện hữu duy nhất mà chúng ta chắc chắn biết đến là những tri giác; bởi vì những tri giác hiện diện trực tiếp với chúng ta qua ý thức, chúng đòi hỏi sự đồng thuận mạnh mẽ nhất của chúng ta, và là nền tảng đầu tiên của mọi kết luận của chúng ta.

Kết luận duy nhất chúng ta có thể rút ra từ sự hiện hữu của một sự vật để đi đến sự hiện hữu của một sự vật khác là thông qua mối quan hệ nhân quả; mối quan hệ này cho thấy rằng giữa chúng có một sự liên kết, và rằng sự hiện hữu của một sự vật phụ thuộc vào sự hiện hữu của sự vật kia.

Nhưng ý niệm về mối quan hệ này được rút ra từ kinh nghiệm quá khứ, qua đó chúng ta nhận thấy rằng hai hữu thể luôn được kết hợp với nhau và luôn cùng hiện diện với não thức.

Tuy nhiên, vì không có hữu thể nào từng hiện diện với não thức ngoài những tri giác, nên từ đó suy ra rằng chúng ta có thể nhận thấy một sự kết hợp hay một mối quan hệ nhân quả giữa những tri giác khác nhau, nhưng không bao giờ có thể nhận thấy mối quan hệ ấy giữa tri giác và đối tượng.

Do đó, từ sự hiện hữu hay bất kỳ phẩm chất nào của những tri giác, chúng ta không thể hình thành bất kỳ kết luận nào về sự hiện hữu của những đối tượng; và lý trí cũng không bao giờ có thể làm chúng ta thỏa mãn về vấn đề này.

 

T 1.4.2.48, SBN 212–213

Cũng chắc chắn không kém rằng hệ thống triết học này không có sức thuyết phục ban đầu nào đối với trí tưởng tượng, và rằng năng lực ấy, tự nó và theo khuynh hướng nguyên thủy của nó, sẽ không bao giờ đi đến nguyên tắc như vậy.

Tôi thừa nhận rằng sẽ hơi khó chứng minh điều này hoàn toàn thỏa đáng đối với người đọc, bởi nó liên quan đến một mệnh đề phủ định, mà trong nhiều trường hợp không thể có một sự chứng minh tích cực.

Nếu có ai chịu khó xem xét vấn đề này và xây dựng một hệ thống để giải thích nguồn gốc trực tiếp của quan niệm ấy từ trí tưởng tượng, thì bằng cách xem xét hệ thống ấy, chúng ta có thể đưa ra một phán đoán chắc chắn về vấn đề hiện tại.

Hãy cứ giả định rằng những tri giác của chúng ta bị chia cắt và bị gián đoạn, và dù chúng có giống nhau đến đâu, chúng vẫn khác nhau; rồi hãy thử, dựa trên giả định ấy, chỉ ra vì sao trí tưởng tượng, một cách trực tiếp và ngay lập tức, lại đi đến sự tin tưởng vào một sự hiện hữu khác, giống với những tri giác ấy về bản chất, nhưng vẫn liên tục, không gián đoạn và đồng nhất.

Nếu ai có thể làm được điều đó khiến tôi hài lòng, tôi hứa sẽ từ bỏ quan điểm hiện tại của mình.

Trong lúc chờ đợi, tôi không thể không kết luận, từ chính tính trừu tượng và khó khăn của giả định đầu tiên, rằng đó là một đối tượng không thích hợp để trí tưởng tượng làm việc.

Bất cứ ai muốn giải thích nguồn gốc của quan niệm thông thường về sự hiện hữu liên tục và tách biệt của vật thể, phải xem xét não thức trong trạng thái thông thường của nó, và phải bắt đầu từ giả định rằng những tri giác là những đối tượng duy nhất của chúng ta, và tiếp tục hiện hữu ngay cả khi chúng không được tri giác.

Mặc dù quan niệm này là sai, nó vẫn là quan niệm tự nhiên nhất, và chỉ riêng nó mới có sức thuyết phục ban đầu đối với trí tưởng tượng.

 

T 1.4.2.49, SBN 213

Đối với phần thứ hai của mệnh đề, tức là hệ thống triết học nhận được toàn bộ sức ảnh hưởng của nó đối với trí tưởng tượng từ hệ thống thông thường, chúng ta có thể nhận thấy rằng đây là một hệ quả tự nhiên và không thể tránh khỏi của kết luận vừa nêu: hệ thống triết học không có sức thuyết phục ban đầu nào đối với lý trí hay trí tưởng tượng.

Bởi vì kinh nghiệm cho thấy hệ thống triết học có thể chi phối nhiều não thức, đặc biệt là tất cả những ai chỉ cần suy xét đôi chút về vấn đề này, nên hệ thống ấy phải nhận được toàn bộ thẩm quyền của mình từ hệ thống thông thường, vì bản thân nó không có thẩm quyền nguyên thủy nào.

Cách thức hai hệ thống này, mặc dù trực tiếp đối lập với nhau, lại được nối kết với nhau có thể được giải thích như sau.

 

T 1.4.2.50, SBN 213–214

Trí tưởng tượng tự nhiên tiếp tục đi theo chuỗi suy nghĩ này:

Những tri giác của chúng ta là những đối tượng duy nhất của chúng ta.

Những tri giác tương tự nhau là cùng một tri giác, bất kể chúng xuất hiện một cách bị gián đoạn hay không bị gián đoạn.

Sự gián đoạn có vẻ như xuất hiện ấy trái với sự đồng nhất.

Do đó, sự gián đoạn không vượt ra ngoài vẻ xuất hiện; và tri giác hay đối tượng thực sự tiếp tục hiện hữu, ngay cả khi vắng mặt khỏi chúng ta.

Vì vậy, những tri giác do giác quan cung cấp có sự hiện hữu liên tục và không gián đoạn.

Nhưng vì chỉ cần một chút suy xét cũng phá hủy kết luận rằng những tri giác của chúng ta có sự hiện hữu liên tục — bằng cách cho thấy rằng chúng có sự hiện hữu phụ thuộc — nên tự nhiên chúng ta phải mong đợi rằng chúng ta sẽ hoàn toàn từ bỏ quan niệm cho rằng trong tự nhiên có một sự hiện hữu liên tục được duy trì ngay cả khi nó không còn xuất hiện trước giác quan.

Tuy nhiên, sự việc lại không diễn ra như vậy.

Các nhà triết học không những không từ bỏ quan niệm về sự hiện hữu liên tục sau khi từ bỏ quan niệm về sự độc lập và sự hiện hữu liên tục của những tri giác do giác quan cung cấp; trái lại, mặc dù tất cả những trường phái đều đồng ý với quan niệm sau, quan niệm trước — vốn theo một nghĩa nào đó là hệ quả tất yếu của nó — lại chỉ thuộc về một số ít những người hoài nghi cực đoan.

Nhưng ngay cả những người hoài nghi ấy cũng chỉ duy trì quan niệm đó bằng lời nói; họ không bao giờ có thể thực sự khiến mình tin tưởng vào nó.

 

T 1.4.2.51, SBN 214

Có một sự khác biệt rất lớn giữa những quan niệm chúng ta hình thành sau một sự suy xét bình tĩnh và sâu sắc, với những quan niệm chúng ta chấp nhận theo một kiểu bản năng hay xung lực tự nhiên, vì chúng phù hợp và tương hợp với não thức.

Nếu hai loại quan niệm này trở nên trái ngược nhau, thì không khó để thấy trước loại nào sẽ chiếm ưu thế.

Chừng nào sự chú ý của chúng ta còn tập trung vào đối tượng, nguyên tắc triết học và được suy xét cẩn thận có thể chiếm ưu thế; nhưng ngay khi chúng ta thả lỏng suy nghĩ, tự nhiên sẽ bộc lộ chính mình và kéo chúng ta trở lại quan niệm trước đây.

Thậm chí đôi khi tự nhiên còn có ảnh hưởng mạnh đến mức có thể ngăn chúng ta tiến xa ngay giữa lúc chúng ta đang suy xét sâu sắc nhất, khiến chúng ta không thể tiếp tục theo đến cùng mọi hệ quả của một quan niệm triết học.

Vì vậy, mặc dù chúng ta nhận thấy rõ sự phụ thuộc và sự gián đoạn của những tri giác, chúng ta vẫn dừng lại giữa chừng và không vì thế mà từ bỏ quan niệm về một sự hiện hữu độc lập và liên tục.

Quan niệm ấy đã bén rễ quá sâu trong trí tưởng tượng đến mức chúng ta không thể nào nhổ bỏ nó hoàn toàn; và ngay cả một sự xác tín siêu hình quá mạnh mẽ về sự phụ thuộc của những tri giác cũng không đủ để làm được việc đó.

 

T 1.4.2.52 — SBN 214–216

Mặc dù những nguyên tắc tự nhiên và hiển nhiên của chúng ta ở đây chiếm ưu thế trước những suy xét được cân nhắc cẩn thận, chắc chắn vẫn phải có một sự giằng co và đối lập trong não thức; ít nhất là chừng nào những suy xét ấy còn giữ được một phần sức mạnh hay tính sinh động. Để làm cho mình yên tâm trước tình trạng này, chúng ta tạo ra một giả thuyết mới, dường như có thể bao hàm cả hai nguyên tắc của lý trí và trí tưởng tượng.

Giả thuyết ấy chính là quan niệm triết học về sự hiện hữu kép của những tri giác và những đối tượng (double existence of perceptions and objects). Quan niệm này làm thỏa mãn lý trí, vì nó thừa nhận rằng những tri giác phụ thuộc của chúng ta bị gián đoạn và khác nhau; đồng thời nó cũng phù hợp với trí tưởng tượng, vì nó gán sự hiện hữu liên tục cho một thứ khác mà chúng ta gọi là đối tượng (objects).

Vì vậy, hệ thống triết học này là sản phẩm quái dị (monstrous offspring) của hai nguyên tắc trái ngược nhau: cả hai cùng lúc được não thức chấp nhận, nhưng không nguyên tắc nào có khả năng tự mình tiêu diệt nguyên tắc kia.

Trí tưởng tượng nói với chúng ta rằng những tri giác tương tự nhau của chúng ta có sự hiện hữu liên tục và không gián đoạn, và không bị tiêu diệt khi chúng vắng mặt.

Suy xét (reflection) nói với chúng ta rằng ngay cả những tri giác tương tự nhau ấy cũng bị gián đoạn trong sự hiện hữu của chúng và khác nhau với nhau.

Mâu thuẫn giữa hai quan niệm này được chúng ta né tránh bằng một sự hư cấu mới (new fiction), phù hợp với cả hai giả thuyết của suy xét và trí tưởng tượng: chúng ta gán những phẩm chất trái ngược ấy cho những sự hiện hữu khác nhau — sự gián đoạn (interruption) cho những tri giác, còn sự tiếp tục (continuance) cho những đối tượng.

Tự nhiên rất ngoan cố và sẽ không chịu rời khỏi chiến trường, cho dù lý trí có tấn công mạnh mẽ đến đâu; đồng thời, lý trí lại quá rõ ràng về vấn đề này đến mức không thể che giấu nó.

Không thể hòa giải hai kẻ thù ấy, chúng ta cố gắng làm cho mình yên tâm đến mức có thể bằng cách lần lượt thừa nhận với mỗi bên bất cứ điều gì nó đòi hỏi, và bằng cách giả định một sự hiện hữu kép, trong đó mỗi bên đều có thể tìm thấy một thứ mang tất cả những điều kiện mà nó mong muốn.

Nếu chúng ta hoàn toàn tin chắc rằng những tri giác tương tự nhau của mình tiếp tục hiện hữu, đồng nhất và độc lập, chúng ta sẽ không bao giờ đi đến quan niệm về sự hiện hữu kép; bởi trong trường hợp ấy, giả định ban đầu đã đủ làm chúng ta thỏa mãn và chúng ta sẽ không tìm kiếm xa hơn.

Ngược lại, nếu chúng ta hoàn toàn tin chắc rằng những tri giác của mình phụ thuộc, bị gián đoạn và khác nhau, chúng ta cũng sẽ ít có khuynh hướng chấp nhận quan niệm về sự hiện hữu kép; bởi khi ấy chúng ta sẽ nhận thấy rõ sai lầm trong giả định ban đầu về sự hiện hữu liên tục, và sẽ không còn quan tâm đến giả định ấy nữa.

Vì vậy, chính tình trạng trung gian của não thức là nguồn gốc của quan niệm này: não thức vừa bám giữ hai nguyên tắc trái ngược nhau, vừa tìm kiếm một lý do nào đó để biện minh cho việc chấp nhận cả hai; và cuối cùng, may thay, lý do ấy được tìm thấy trong hệ thống về sự hiện hữu kép.

 

T 1.4.2.53 — SBN 216

Một ưu điểm khác của hệ thống triết học này là sự tương tự của nó với hệ thống thông thường (vulgar one). Nhờ vậy, chúng ta có thể làm cho lý trí tạm thời được thỏa mãn khi lý trí trở nên phiền toái và quá lo lắng; nhưng chỉ cần lý trí lơ là hay thiếu chú ý một chút, chúng ta lại dễ dàng trở về với những quan niệm thông thường và tự nhiên của mình.

Vì thế, chúng ta nhận thấy rằng những nhà triết học không bỏ qua ưu điểm này; nhưng ngay khi rời khỏi phòng làm việc riêng, họ lại hòa mình với những người khác và quay trở về với những quan niệm đã bị họ bác bỏ, rằng những tri giác của chúng ta là những đối tượng duy nhất của chúng ta, và rằng chúng tiếp tục hiện hữu một cách đồng nhất và không gián đoạn qua tất cả những lần xuất hiện bị gián đoạn của chúng.

 

T 1.4.2.54 — SBN 216

Có những phương diện khác của hệ thống này cho thấy một cách rất rõ ràng sự phụ thuộc của nó vào trí tưởng tượng. Trong số đó, tôi sẽ lưu ý đến hai điểm sau đây.

First, chúng ta giả định rằng những đối tượng bên ngoài tương tự với những tri giác bên trong (external objects to resemble internal perceptions).

Tôi đã chỉ ra rằng mối quan hệ nhân quả không bao giờ có thể cung cấp cho chúng ta một kết luận đúng đắn từ sự hiện hữu hay những phẩm chất của những tri giác đến sự hiện hữu của những đối tượng bên ngoài tiếp tục hiện hữu.

Và tôi còn muốn nói thêm rằng, ngay cả nếu mối quan hệ nhân quả có thể cung cấp cho chúng ta một kết luận như vậy, chúng ta vẫn không có lý do nào để suy ra rằng những đối tượng của chúng ta tương tự với những tri giác của chúng ta.

Vì vậy, quan niệm ấy không bắt nguồn từ đâu khác ngoài phẩm chất của trí tưởng tượng mà tôi đã giải thích ở trên:

that it borrows all its ideas from some precedent perception/ rằng trí tưởng tượng vay mượn tất cả những ý niệm của nó từ một tri giác có trước.

Chúng ta không bao giờ có thể hình dung bất cứ thứ gì ngoài những tri giác; vì vậy, chúng ta buộc phải làm cho mọi thứ tương tự với những tri giác ấy.

 

T 1.4.2.56 — SBN 217–218

Sau khi đã giải thích như vậy về tất cả những hệ thống, cả thông thường lẫn triết học, liên quan đến những sự hiện hữu bên ngoài, tôi không thể không bộc lộ một cảm nhận (sentiment) nhất định nảy sinh khi nhìn lại những hệ thống ấy.

Tôi bắt đầu vấn đề này bằng cách giả định rằng chúng ta phải tin tưởng hoàn toàn vào những giác quan của mình, và rằng đây sẽ là kết luận tôi rút ra từ toàn bộ lập luận của mình.

Nhưng nói thật, at present — hiện giờ — tôi lại cảm thấy một quan niệm hoàn toàn trái ngược, và có khuynh hướng không đặt chút tin tưởng nào vào những giác quan của mình, hay đúng hơn là vào trí tưởng tượng, hơn là đặt nơi nó một sự tin tưởng hoàn toàn như vậy.

Tôi không thể hiểu làm thế nào những phẩm chất tầm thường như thế của trí tưởng tượng, được dẫn dắt bởi những giả định sai lầm như thế, lại có thể đưa chúng ta đến một hệ thống vững chắc và hợp lý.

Chính tính nhất quán (coherence) và tính không thay đổi (constancy) của những tri giác của chúng ta tạo ra quan niệm về sự hiện hữu liên tục của chúng, mặc dù những phẩm chất ấy của tri giác không có mối liên hệ nào mà chúng ta có thể nhận thấy với một sự hiện hữu như vậy.

Tính không thay đổi của những tri giác có tác động đáng kể nhất, nhưng đồng thời cũng đi kèm với những khó khăn lớn nhất.

Thật là một ảo tưởng thô thiển khi giả định rằng những tri giác tương tự nhau của chúng ta là cùng một tri giác về số lượng (numerically the same); và chính ảo tưởng này dẫn chúng ta đến quan niệm rằng những tri giác ấy không bị gián đoạn, và vẫn tiếp tục hiện hữu ngay cả khi chúng không hiện diện trước những giác quan.

Đó là tình trạng của hệ thống thông thường của chúng ta.

Còn đối với hệ thống triết học, nó cũng phải đối mặt với chính những khó khăn ấy; hơn nữa, nó còn mang thêm một sự phi lý: vừa phủ nhận vừa thiết lập giả định thông thường.

Các nhà triết học phủ nhận rằng những tri giác tương tự nhau của chúng ta là đồng nhất về số lượng và không bị gián đoạn; nhưng đồng thời họ lại có một khuynh hướng mạnh mẽ đến mức tin rằng chúng đúng là như vậy, nên họ tùy tiện tạo ra một tập hợp tri giác mới, rồi gán cho tập hợp ấy những phẩm chất đó.

Tôi nói một tập hợp tri giác mới, bởi chúng ta có thể giả định một cách tổng quát rằng những đối tượng, xét về bản chất, giống hệt với những tri giác; nhưng chúng ta không thể hình dung chúng một cách rõ ràng như một thứ gì khác với tri giác.

Vậy thì, từ sự lẫn lộn giữa những quan niệm không có nền tảng và những quan niệm khác thường như thế, chúng ta có thể mong đợi gì ngoài sai lầm và giả dối?

Và chúng ta có thể biện minh với chính mình như thế nào cho bất kỳ sự tin tưởng nào mà chúng ta đặt vào những quan niệm ấy?

 

T 1.4.2.57 — SBN 218

Sự hoài nghi (sceptical doubt) này, cả đối với lý trí lẫn những giác quan, là một căn bệnh (malady) không bao giờ có thể được chữa khỏi tận gốc; nó sẽ luôn quay trở lại với chúng ta từng khoảnh khắc, cho dù chúng ta có thể xua đuổi nó đi, và đôi khi tưởng như hoàn toàn thoát khỏi nó.

Không có hệ thống nào có thể bảo vệ được khả năng hiểu biết hay những giác quan của chúng ta; và khi cố gắng biện minh cho chúng theo cách ấy, chúng ta chỉ làm cho chúng càng dễ bị tổn thương hơn.

Vì sự hoài nghi phát sinh một cách tự nhiên từ sự suy xét sâu sắc và tập trung cao độ về những vấn đề ấy, nên nó luôn gia tăng khi chúng ta đẩy sự suy xét của mình đi xa hơn, dù chúng ta suy xét theo hướng chống lại hay phù hợp với nó.

Chỉ có sự bất cẩn (carelessness) và sự thiếu chú ý (in-attention) mới có thể đem lại cho chúng ta một phương thuốc.

Vì lý do này, tôi hoàn toàn dựa vào chúng; và tôi mặc nhiên cho rằng, bất kể quan niệm của độc giả vào lúc này là gì, một giờ sau độc giả sẽ bị thuyết phục rằng có cả một thế giới bên ngoài lẫn một thế giới bên trong.

Dựa trên giả định ấy, tôi dự định khảo sát một số hệ thống tổng quát, cả cổ đại lẫn hiện đại, đã được đề xuất về cả hai thế giới ấy, trước khi chuyển sang một khảo sát cụ thể hơn về những ấn tượng của chúng ta.

Việc này, có lẽ, cuối cùng sẽ không bị xem là xa lạ với mục đích hiện tại của chúng ta. [16]

 

[CHÚ THICH]

T 1.4.2.2n34 — SBN 188

34. Phần II, Mục 6.

 

T 1.4.2.9n35 — SBN 191

35. Mục 5.

 

T 1.4.2.22n36 — SBN 198

36. Phần II, Mục 4.

 

T 1.4.2.29n37 — SBN 200

37. Phần II, Mục 5.

 

T 1.4.2.32n38 — SBN 202

38. Phần II, Mục 5.

 

T 1.4.2.35n39 — SBN 203–204

39. Phải thừa nhận rằng lập luận này hơi khó hiểu và trừu tượng, và khó được lĩnh hội; nhưng đáng chú ý là chính sự khó khăn này có thể được chuyển thành một bằng chứng cho lập luận.

Chúng ta có thể nhận thấy rằng có hai mối quan hệ, và cả hai đều là sự tương tự, góp phần khiến chúng ta nhầm sự kế tiếp của những tri giác bị gián đoạn với một đối tượng đồng nhất.

Thứ nhất là sự tương tự của những tri giác.

Thứ hai là sự tương tự giữa hoạt động của não thức khi xem xét một sự kế tiếp của những đối tượng tương tự nhau với hoạt động của não thức khi xem xét một đối tượng đồng nhất.

Giờ đây, chúng ta có khuynh hướng nhầm lẫn hai sự tương tự này với nhau; và theo chính lập luận này, việc chúng ta làm như vậy là tự nhiên.

Nhưng nếu chúng ta giữ chúng tách biệt với nhau, chúng ta sẽ không gặp khó khăn nào trong việc hình dung lập luận đã trình bày trước đó.

 

T 1.4.2.37n40 — SBN 206

40. Mục 6.

 

T 1.4.2.55n41 — SBN 217

41. Mục 5.




Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ hai

(Jun/2026)

(Còn tiếp...  )

 

http://chuyendaudau.blogspot.com/

http://chuyendaudau.wordpress.com

 



[1] Ở đây Hume bắt đầu loại bỏ những giải thích thông thường về lý do tại sao chúng ta tin rằng một số tri giác biểu thị những đối tượng có sự hiện hữu độc lập với não thức. Một cách giải thích phổ biến cho rằng chúng ta xem một số ấn tượng có tính thực tại hơn vì chúng xuất hiện không tự nguyện, nghĩa là chúng ta không thể tùy ý tạo ra hoặc loại bỏ chúng; hoặc vì chúng có sức mạnh và cường độ lớn hơn.

Hume bác bỏ cả hai giải thích này. Ông chỉ ra rằng đau đớn, khoái lạc, đam mê và tình cảm của chúng ta vừa có sức mạnh lớn, vừa thường xuất hiện không do ý muốn kiểm soát, nhưng chúng ta vẫn không xem chúng là những đối tượng có sự hiện hữu độc lập với não thức. Trái lại, hình dáng, sự kéo dài, màu sắc và âm thanh lại được chúng ta gán cho một sự hiện hữu tách biệt và liên tục, mặc dù chúng không có sức mạnh hay cường độ vượt trội theo cách có thể giải thích sự khác biệt ấy.

Vì vậy, tính không tự nguyện cũng như sức mạnh và cường độ của ấn tượng không đủ để giải thích tại sao chúng ta gán cho một số ấn tượng sự hiện hữu tách biệt và liên tục, trong khi từ chối sự hiện hữu ấy đối với những ấn tượng khác.

Từ đây Hume chuyển sang một câu hỏi sâu hơn: những phẩm chất đặc biệt nào của một số ấn tượng khiến trí tưởng tượng gán cho chúng một sự hiện hữu tách biệt và liên tục vượt khỏi từng tri giác riêng lẻ? Đây là bước chuyển quan trọng trong lập luận. Sau khi cho thấy rằng khả năng hiểu biết không thể cung cấp cơ sở cho sự tin tưởng vào sự hiện hữu liên tục và tách biệt của đối tượng, Hume tiếp tục tìm nguồn gốc của sự tin tưởng ấy trong hoạt động tự nhiên của trí tưởng tượng.

[2] Ở đây Hume xác định hai đặc điểm khiến trí tưởng tượng hình thành sự tin tưởng vào sự hiện hữu liên tục của đối tượng. Tính không thay đổi (constancy) là việc đối tượng xuất hiện gần như vẫn như cũ khi chúng ta tri giác lại, dù trong khoảng thời gian gián đoạn đối tượng không còn trước mắt. Tính nhất quán (coherence) là việc những thay đổi của đối tượng vẫn diễn ra theo một trình tự đều đặn, phù hợp với kinh nghiệm trước đây.

Hai đặc điểm này không chứng minh rằng đối tượng thực sự hiện hữu độc lập với tri giác. Chúng chỉ giải thích vì sao trí tưởng tượng tự nhiên nối những tri giác bị gián đoạn và hình thành sự tin tưởng rằng đối tượng vẫn tiếp tục hiện hữu khi chúng ta không tri giác chúng. Đây là bước chuẩn bị cho lập luận tiếp theo của Hume: nguồn gốc của sự tin tưởng vào sự hiện hữu liên tục và tách biệt không nằm trong khả năng hiểu biết, mà trong hoạt động tự nhiên của trí tưởng tượng.

[3] Ở đây Hume xác định hai đặc điểm của những ấn tượng khiến trí tưởng tượng hình thành sự tin tưởng vào sự hiện hữu liên tục của những vật thể.

(a) Tính không thay đổi (constancy) là việc một số vật thể thường xuất hiện trở lại với những bộ phận và trật tự gần như giống nhau mỗi khi chúng ta tri giác lại chúng, mặc dù giữa hai lần tri giác đã có một khoảng gián đoạn trong đó chúng không hiện diện trước những giác quan. Chính sự tương tự cao giữa những tri giác gián đoạn khiến chúng ta có khuynh hướng xem chúng như cùng một đối tượng, thay vì như những tri giác hoàn toàn khác nhau.

(b) Tính nhất quán (coherence) là việc những vật thể, ngay cả khi thay đổi vị trí hoặc phẩm chất, vẫn thay đổi theo một trình tự đều đặn và phù hợp với kinh nghiệm trước đây. Tính nhất quán khiến những tri giác xuất hiện ở những thời điểm khác nhau có thể được nối kết thành một chuỗi có trật tự, qua đó tạo ra nhu cầu giả định rằng những vật thể vẫn tiếp tục hiện hữu và duy trì những mối quan hệ thông thường của chúng trong khoảng thời gian chúng không được tri giác.

Tuy nhiên, tính không thay đổitính nhất quán không chứng minh rằng những vật thể thực sự hiện hữu độc lập với não thức. Hai đặc điểm ấy chỉ cung cấp nền tảng cho hoạt động của trí tưởng tượng: từ những tri giác gián đoạn nhưng tương tự và nhất quán, trí tưởng tượng bổ sung một sự hiện hữu liên tục mà chúng ta không trực tiếp tri giác được. Nhờ giả định này, những tri giác xuất hiện ở những thời điểm khác nhau được nối kết thành một lịch sử duy nhất của cùng một đối tượng.

Theo Hume, vì những giác quan chỉ cung cấp những tri giác hiện diện trước não thức, còn lý trí cũng không thể từ những tri giác ấy chứng minh một sự hiện hữu tiếp tục khi tri giác đã gián đoạn, nên trí tưởng tượng mới là nguyên lý trực tiếp hình thành sự tin tưởng vào sự hiện hữu liên tục. Quan niệm về sự hiện hữu tách biệt của vật thể chỉ xuất hiện ở bước tiếp theo, khi trí tưởng tượng tìm cách giải thích sự hiện hữu liên tục ấy bằng cách giả định rằng những đối tượng vẫn tồn tại bên ngoài và độc lập với tri giác của chúng ta.

[4] Principium individuationis — nguyên lý cá thể hóa — là tên gọi của một vấn đề kinh điển trong siêu hình học: điều gì khiến một sự vật là một cá thể riêng biệt, tức là sự vật này chứ không phải một sự vật khác? Nếu hai sự vật có thể có cùng những thuộc tính, thì điều gì làm cho mỗi sự vật vẫn là một cá thể riêng biệt?

Trong triết học kinh viện, vấn đề này thường được đặt dưới dạng câu hỏi về nguyên tắc làm cho một sự vật trở thành một cá thể xác định. Những nhà triết học khác nhau đưa ra những lời giải khác nhau, chẳng hạn materia signata — vật chất được xác định — trong truyền thống Aristotle–Thomas Aquinas, hay haecceitas — tính “là chính sự vật này” — trong triết học Duns Scotus.

Hume tiếp nhận vấn đề trong một hướng hoàn toàn khác. Ông không hỏi điều gì làm cho một thực thể trở thành một cá thể, mà hỏi ý niệm về sự đồng nhất (identity) hình thành trong não thức như thế nào. Một đối tượng đơn lẻ chỉ cho chúng ta ý niệm về tính đơn nhất (unity); nhiều đối tượng chỉ cho chúng ta ý niệm về số lượng (number). Nhưng sự đồng nhất không phải tính đơn nhất cũng không phải số lượng. Vì vậy, cần giải thích bằng cách nào chúng ta hình thành ý niệm rằng một và cùng một đối tượng vẫn là chính đối tượng ấy khi được xem xét ở những thời điểm khác nhau.

Điểm này đặc biệt quan trọng trong phân tích của Hume về sự hiện hữu liên tục và sự hiện hữu tách biệt của những vật thể. Chúng ta thường tin rằng một cái bàn, một ngọn núi hay mặt trời vẫn là cùng một đối tượng, mặc dù những tri giác về chúng xuất hiện rồi gián đoạn. Nhưng giác quan chỉ cung cấp những tri giác riêng lẻ và gián đoạn; giác quan không cung cấp trực tiếp một “đồng nhất” tồn tại xuyên qua những gián đoạn ấy. Ý niệm về sự đồng nhất phát sinh từ hoạt động của trí tưởng tượng, khi trí tưởng tượng nối kết những tri giác tương tự nhau và theo dõi đối tượng qua sự kế tiếp của thời gian.

Vì vậy, khi Hume bắt đầu bằng principium individuationis, ông không quay lại với câu hỏi siêu hình học truyền thống về bản chất làm cho một vật thể trở thành cá thể. Ông chuyển câu hỏi sang bình diện nhận thức: làm thế nào não thức đi từ những tri giác riêng lẻ, thay đổi và gián đoạn đến ý niệm về một và cùng một đối tượng tồn tại qua thời gian? Chính sự chuyển đổi này đưa vấn đề cá thể hóa từ siêu hình học về thực thể sang phân tích nguồn gốc của ý niệm đồng nhất.

[5] Ở đây Hume phân tích nghịch lý của khái niệm đồng nhất (identity). Một đối tượng đơn lẻ chỉ đem lại ý niệm về tính đơn nhất (unity), nhưng không tự nó giải thích vì sao đối tượng ấy vẫn là cùng một đối tượng qua thời gian. Ngược lại, nhiều đối tượng, dù giống hệt nhau, chỉ đem lại ý niệm về số lượng (number), vì não thức phân biệt đối tượng này với đối tượng kia. Vì vậy, sự đồng nhất không thể được giải thích đơn giản bằng “một” hay “nhiều”.

Ví dụ, buổi sáng chúng ta nhìn thấy một cái bàn, rồi buổi chiều lại nhìn thấy nó. Nếu xem hai lần hiện diện ấy như hai hiện hữu riêng biệt, chúng ta có hai; nhưng chúng ta lại nói: “Đó vẫn là cùng một cái bàn.” Vậy điều gì cho phép chúng ta đi từ hai tri giác khác nhau đến ý niệm về một và cùng một đối tượng? Theo Hume, chính trí tưởng tượng nối những tri giác tương tự qua sự kế tiếp của thời gian và tạo ra ý niệm về sự đồng nhất. Đây là bước dẫn đến giải thích của ông về sự hiện hữu liên tục và sự hiện hữu tách biệt của những vật thể.

[6] Điểm Hume muốn nói ở đây là: sự đồng nhất không phải một thực thể nằm giữa “một” và “nhiều”, mà phát sinh từ cách trí tưởng tượng xem một đối tượng qua thời gian. Nếu chúng ta cùng lúc xem xét đối tượng ở hai thời điểm khác nhau, chúng ta phải xem như có hai lần hiện hữu, nên hình thành ý niệm về số lượng. Nhưng nếu chúng ta theo dõi sự kế tiếp của thời gian trong khi hình dung đối tượng vẫn không thay đổi và không bị gián đoạn, chúng ta có khuynh hướng xem toàn bộ quá trình ấy như sự hiện hữu của một và cùng một đối tượng. Vì vậy, theo Hume, ý niệm về sự đồng nhất không đến từ việc đơn giản nhận biết một đối tượng, mà từ cách trí tưởng tượng duy trì tính đơn nhất của đối tượng xuyên qua sự kế tiếp của thời gian.

[7] Hai điều kiện của nguyên lý cá thể hóa (principium individuationis):Ở đây Hume cho rằng nguyên lý cá thể hóa không nằm ở việc một đối tượng đơn giản hiện hữu tại một thời điểm, mà dựa trên hai đặc tính: invariableness — tính không thay đổi — và uninterruptedness — tính không gián đoạn. Khi một đối tượng giữ nguyên những đặc điểm nhận biết được và não thức có thể theo dõi sự hiện hữu của đối tượng ấy qua sự kế tiếp của thời gian mà không gặp sự đứt đoạn, chúng ta có khuynh hướng xem những lần hiện hữu khác nhau ấy như một và cùng một đối tượng.

Ví dụ, chúng ta nhìn một cái bàn trước mặt và sau một khoảng thời gian vẫn thấy nó không thay đổi. Vì không nhận thấy sự gián đoạn trong sự hiện hữu của nó, trí tưởng tượng nối những lần tri giác lại với nhau và xem chúng như sự hiện hữu của cùng một cái bàn.

Điểm then chốt là: theo Hume, sự đồng nhất không được giác quan trực tiếp cung cấp. Giác quan chỉ cung cấp những tri giác tại những thời điểm khác nhau; chính trí tưởng tượng nối những tri giác ấy theo thời gian, duy trì tính đơn nhất của đối tượng qua sự kế tiếp, và từ đó hình thành ý niệm về sự đồng nhất. Cơ chế này cũng là nền tảng để Hume giải thích vì sao chúng ta tin rằng những vật thể có sự hiện hữu liên tục và sự hiện hữu tách biệt với những tri giác của chúng ta.

[8] Sự đồng nhất về số lượng” (numerical identity): Ở đây, Hume không nói đến sự giống nhau về đặc tính giữa nhiều đối tượng, mà nói đến việc những tri giác xuất hiện ở những thời điểm khác nhau được xem như thuộc về một và cùng một đối tượng duy nhất. Chẳng hạn, chúng ta nhìn thấy mặt trời hôm nay, không nhìn thấy nó trong một khoảng thời gian, rồi lại nhìn thấy mặt trời ngày mai. Mặc dù những tri giác ấy bị gián đoạn, sự tương tự rất cao giữa chúng khiến trí tưởng tượng chuyển từ tri giác này sang tri giác kia một cách dễ dàng, và chúng ta xem chúng như sự hiện diện của cùng một đối tượng.

Ở đoạn trước, Hume đã chỉ ra rằng sự đồng nhất đầy đủ đòi hỏi cả tính không thay đổi (invariableness) lẫn tính không gián đoạn (uninterruptedness). Nhưng những tri giác của chúng ta về vật thể thường bị gián đoạn: chúng ta thấy mặt trời hôm nay, không thấy nó trong đêm, rồi lại thấy nó ngày mai. Vậy tại sao chúng ta vẫn gán cho những tri giác ấy sự đồng nhất về số lượng?

Theo Hume, nguyên nhân nằm ở sự tương tự giữa những tri giác và sự chuyển tiếp dễ dàng của trí tưởng tượng từ tri giác này sang tri giác kia. Trí tưởng tượng nối những tri giác gián đoạn đến mức chúng ta không còn nhận thấy sự gián đoạn giữa chúng, rồi xem chúng như sự hiện hữu của một và cùng một đối tượng.

Nhưng đây chưa phải là sự đồng nhất thực sự được giác quan phát hiện. Đó là một sự đồng nhất do trí tưởng tượng gán cho những tri giác gián đoạn. Chính từ đây Hume mới tiếp tục giải thích bước kế tiếp: vì sao ảo tưởng về sự đồng nhất ấy khiến chúng ta hình thành sự tin tưởng vào sự hiện hữu liên tục của vật thể, ngay cả trong những khoảng thời gian chúng ta không tri giác chúng.

[9] Cơ chế tạo ra ảo tưởng về sự đồng nhất: Ở đây Hume chuyển từ việc mô tả sự đồng nhất sang giải thích cơ chế tâm lý tạo ra ảo tưởng về sự đồng nhất. Hai tri giác càng tương tự nhau, chúng càng dễ liên kết trong trí tưởng tượng và càng dễ đưa não thức vào những trạng thái tương tự. Vì vậy, trí tưởng tượng chuyển từ tri giác này sang tri giác kia một cách quá dễ dàng để não thức nhận ra sự thay đổi. Chuỗi vận động là:

sự tương tự → liên kết những ý niệm → trạng thái tương tự của não thức → chuyển tiếp dễ dàng → không nhận ra sự thay đổi → nhầm những tri giác khác nhau là một.

Chính cơ chế này giải thích vì sao những tri giác thực sự bị gián đoạn lại có thể được chúng ta xem như một và cùng một đối tượng.

[10] Từ sự đồng nhất đến sự hiện hữu liên tục: Hume mô tả một chuỗi vận động của não thức: những tri giác tương tự → trí tưởng tượng chuyển tiếp dễ dàng giữa chúng → gán cho chúng sự đồng nhất → nhận ra sự gián đoạn trong sự xuất hiện → phát sinh mâu thuẫn và khó chịu → không muốn từ bỏ sự đồng nhất → giả định một sự hiện hữu liên tục.

Điểm then chốt là sự hiện hữu liên tục không phải kết luận do lý trí chứng minh. Đó là giả định do trí tưởng tượng hình thành để giải quyết mâu thuẫn giữa sự đồng nhất mà chúng ta gán cho những tri giác và sự gián đoạn thực tế trong cách những tri giác ấy xuất hiện. Nói cách khác, chúng ta không trước hết phát hiện một vật thể hiện hữu liên tục rồi mới tin vào nó; chính nhu cầu nối liền những tri giác bị gián đoạn khiến chúng ta giả định sự hiện hữu liên tục của vật thể.

[11] Ở đây Hume nhấn mạnh rằng vấn đề không nằm ở sự kiện thực tế (matter of fact) rằng chúng ta thực sự tin vào sự hiện hữu liên tục của những tri giác, mà nằm ở cách thức não thức hình thành sự tin tưởng ấy. Trong đời sống thông thường, chúng ta xem tri giác đang hiện diện trong não thức như chính vật thể thực sự: khi nhìn thấy một chiếc bàn, chúng ta không nghĩ rằng mình đang nhận một tri giác rồi từ tri giác ấy suy ra một vật thể khác ở bên ngoài. Chúng ta xem chính chiếc bàn đang được nhìn thấy là vật thể và đồng thời tin rằng chiếc bàn ấy vẫn hiện hữu khi chúng ta rời khỏi phòng.

Nhưng cách nói này lập tức tạo ra một khó khăn. Nếu chiếc bàn khi chúng ta không nhìn thấy vẫn hiện hữu, thì một tri giác có thể vắng mặt khỏi não thức mà không bị tiêu hủy hay không? Nếu khi chúng ta quay lại và nhìn thấy chiếc bàn, chiếc bàn lại trở nên hiện diện với não thức, thì sự hiện diện ấy xảy ra theo cách nào nếu không có một tri giác mới được tạo ra? Hai câu hỏi FirstSecondly vì vậy mở ra hai mặt của cùng một vấn đề: một mặt là sự hiện hữu liên tục của đối tượng trong thời gian chúng ta không tri giác nó; mặt kia là cách đối tượng trở nên hiện diện trong tri giác khi chúng ta nhìn thấy, cảm nhận hoặc tri giác nó.

Điểm quan trọng là Hume đang cố phân tích chính cách hiểu tự nhiên của người thông thường, trong đó sự phân biệt giữa tri giác và vật thể chưa được đặt ra rõ ràng. Chính từ sự nhập làm này mới nảy sinh câu hỏi: nếu tri giác là đối tượng duy nhất mà chúng ta trực tiếp nhận biết, thì chúng ta lấy đâu ra ý niệm về một sự hiện hữu vẫn tiếp tục tồn tại khi tri giác đã vắng mặt? Hume từ đây sẽ tìm nguyên tắc giải thích vì sao não thức hình thành sự tin tưởng ấy, thay vì xem sự tin tưởng vào một vật thể hiện hữu độc lập với tri giác như một sự kiện hiển nhiên đã được giác quan cung cấp.

[12] Hume trả lời câu hỏi thứ nhất bằng cách quay lại quan niệm của ông về não thức (mind). Não thức không phải một thực thể đơn giản, đồng nhất và tồn tại độc lập với những tri giác, mà chỉ là một tập hợp những tri giác khác nhau được liên kết với nhau bởi những mối quan hệ. Mỗi tri giác lại có thể được phân biệt với những tri giác khác và có thể được xem như hiện hữu riêng biệt. Vì vậy, không có mâu thuẫn khi nói rằng một tri giác vắng mặt khỏi não thức: chỉ cần tách tri giác ấy khỏi những mối quan hệ liên kết nó với tập hợp những tri giác tạo thành một hữu thể biết suy nghĩ. Nói cách khác, nếu não thức không phải một chỉnh thể đơn nhất theo nghĩa tuyệt đối, thì việc một tri giác hiện diện hay vắng mặt khỏi não thức không đòi hỏi phải có sự tiêu hủy hay tạo ra một tri giác.

Ở §40, Hume áp dụng chính lập luận ấy cho câu hỏi thứ hai. Nếu không có mâu thuẫn khi nói một tri giác có thể tách khỏi não thức, thì cũng không có mâu thuẫn khi nói một đối tượng có thể trở nên hiện diện với não thức. Hume ở đây vẫn giữ cách nói của người thông thường: đối tượng bên ngoài được nhìn thấy, được cảm nhận và trở nên hiện diện với não thức. Nhưng “trở nên hiện diện” không có nghĩa đối tượng được tạo ra vào thời điểm chúng ta nhìn thấy nó. Đối tượng chỉ có một mối quan hệ với tập hợp những tri giác đang tạo thành não thức, nhờ đó nó tác động đến những tri giác ấy, làm tăng số lượng những tri giác hiện tại, khơi dậy những đam mê và bổ sung những ý niệm vào ký ức.

Từ đó Hume đưa ra một kết luận quan trọng: cùng một sự hiện hữu liên tục và không gián đoạn có thể khi thì hiện diện với não thức, khi thì vắng mặt khỏi não thức mà không có bất kỳ thay đổi thực sự hay thiết yếu nào trong chính sự hiện hữu ấy. Vì vậy, sự gián đoạn trong cách một đối tượng xuất hiện với giác quan không nhất thiết hàm ý sự gián đoạn trong sự hiện hữu của đối tượng.

Đây chính là điểm Hume cần để giải quyết mâu thuẫn đã phát sinh ở §§36–37. Những tri giác tương tự nhau khiến chúng ta gán cho chúng sự đồng nhất; nhưng chúng lại xuất hiện một cách gián đoạn. Thay vì từ bỏ sự đồng nhất mà trí tưởng tượng đã gán cho chúng, chúng ta giả định một sự hiện hữu liên tục lấp đầy những khoảng trống giữa những lần tri giác. Nhờ giả định ấy, những tri giác bị gián đoạn có thể được xem như thuộc về một và cùng một sự hiện hữu, không bị gián đoạn.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng Hume chưa chứng minh rằng thực sự có một vật thể tồn tại liên tục bên ngoài tri giác. Ông chỉ cho thấy rằng giả định về sự hiện hữu liên tục không chứa mâu thuẫn và giải thích được cách não thức dung hòa sự tương tự của những tri giác với sự gián đoạn trong cách chúng xuất hiện. Vì thế, feigning a continu'd being ở đây nên hiểu là giả định một sự hiện hữu liên tục do trí tưởng tượng đặt vào những khoảng gián đoạn, chứ không phải một kết luận do lý trí chứng minh về sự tồn tại của vật thể độc lập với tri giác.

[13] Câu này đánh dấu bước chuyển quan trọng trong lập luận của Hume. Ở những đoạn trước, ông đã giải thích vì sao trí tưởng tượng có khuynh hướng giả định (feign) một sự hiện hữu liên tục để nối những tri giác bị gián đoạn. Nhưng giả định một sự hiện hữu liên tục vẫn chưa đồng nghĩa với tin tưởng (believe) vào sự hiện hữu ấy. Chúng ta có thể hình dung một đối tượng mà không tin rằng đối tượng ấy thực sự hiện hữu. Vì vậy, sau khi giải thích nguồn gốc của sự giả định, Hume còn phải giải thích vì sao sự giả định ấy có được một sức mạnh đặc biệt khiến chúng ta tiếp nhận nó như một sự kiện thực tế.

Đối với Hume, sự khác biệt giữa một ý niệm đơn thuần và một ý niệm được tin tưởng không nằm ở nội dung của ý niệm, mà ở tính sinh động (vivacity) của nó. Khi trí tưởng tượng giả định một sự hiện hữu liên tục để lấp đầy những khoảng trống giữa những tri giác bị gián đoạn, ý niệm về sự hiện hữu liên tục ấy ban đầu chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng. Nhưng ký ức lưu giữ những tri giác đã từng xuất hiện và mang chúng trở lại với một mức độ sinh động đáng kể. Sự tương tự giữa những tri giác được ký ức trình lại khiến trí tưởng tượng chuyển từ tri giác này sang tri giác kia một cách dễ dàng, đồng thời tạo ra khuynh hướng xem những tri giác bị gián đoạn như một và cùng một tri giác. Chính từ đây nảy sinh sự giả định về một sự hiện hữu liên tục nối những lần xuất hiện ấy. Vì sự giả định này bắt nguồn từ những tri giác sống động được ký ức cung cấp, tính sinh động của chúng được truyền sang ý niệm về sự hiện hữu liên tục. Nhờ đó, ý niệm ấy không còn chỉ được hình dung mà trở thành một sự tin tưởng.

Có thể thấy toàn bộ bước chuyển này diễn ra liên tục: những tri giác tương tự nhau được ký ức bảo tồn và đưa trở lại não thức; sự tương tự giữa chúng khiến trí tưởng tượng có khuynh hướng gán cho chúng một sự đồng nhất; nhưng sự xuất hiện của những tri giác ấy lại bị gián đoạn, tạo ra một mâu thuẫn giữa sự đồng nhất mà trí tưởng tượng đã gán cho chúng và sự gián đoạn mà giác quan cho thấy. Để giải quyết mâu thuẫn ấy, trí tưởng tượng giả định một sự hiện hữu liên tục nối những tri giác bị gián đoạn. Vì sự giả định này bắt nguồn từ những ấn tượng sống động của ký ức, tính sinh động của những ấn tượng ấy được truyền sang ý niệm về sự hiện hữu liên tục. Chính tính sinh động ấy khiến ý niệm vượt khỏi trạng thái của một sự hình dung đơn thuần và trở thành một sự tin tưởng. Như vậy, Hume đi từ sự tương tự của những tri giác, qua ký ức, sự đồng nhất, mâu thuẫn do gián đoạn, sự giả định về sự hiện hữu liên tục, đến tính sinh động của ý niệm, và cuối cùng là sự tin tưởng vào sự hiện hữu liên tục của vật thể.

Do đó, Hume đang phân biệt hai vấn đề mà nếu không tách ra, chúng ta sẽ bỏ sót cấu trúc lập luận của ông. Vấn đề thứ nhất là vì sao trí tưởng tượng giả định một sự hiện hữu liên tục; vấn đề thứ hai là vì sao chúng ta tin tưởng vào sự hiện hữu liên tục mà trí tưởng tượng đã giả định. Hume đã giải quyết vấn đề thứ nhất bằng sự tương tự, sự đồng nhất và khuynh hướng của trí tưởng tượng muốn loại bỏ sự gián đoạn. Phần thứ tư của hệ thống được dành cho vấn đề thứ hai: tìm nguồn gốc của tính sinh động khiến sự giả định ấy trở thành sự tin tưởng. Vì vậy, Hume không dùng lý trí để chứng minh rằng vật thể thực sự hiện hữu liên tục khi chúng ta không tri giác chúng; ông tìm cách giải thích bằng những nguyên tắc của não thức vì sao chúng ta tự nhiên tin rằng chúng hiện hữu liên tục. Đây là một phân biệt căn bản trong toàn bộ phân tích của Hume: ông không chứng minh sự hiện hữu liên tục của vật thể, mà giải thích nguồn gốc của sự tin tưởng vào sự hiện hữu liên tục ấy.

[14] Từ sự tin tưởng tự nhiên đến vấn đề về sự hiện hữu độc lập: Ở §43, Hume nhìn lại toàn bộ lập luận và cho rằng chúng ta có thể dễ dàng đồng ý với hệ thống hơn là hiểu rõ cách hệ thống ấy hoạt động. Mục đích của ông không phải chứng minh bằng lý trí rằng vật thể có sự hiện hữu liên tục. Trái lại, ông muốn giải thích vì sao chúng ta tự nhiên tin như vậy.

Theo cách nhìn thông thường (vulgar), những tri giác là những đối tượng duy nhất chúng ta nhận biết, nhưng chúng ta vẫn tin rằng vật thể tiếp tục hiện hữu ngay cả khi không tri giác chúng. Hume đặt câu hỏi: nếu chỉ dựa trên những tri giác ấy, sự tin tưởng đó hình thành như thế nào?

Câu trả lời bắt đầu từ sự tương tự. Khi một tri giác biến mất rồi xuất hiện trở lại với hình thức giống hệt trước đó, chúng ta có khuynh hướng xem tri giác sau là cùng một tri giác với tri giác trước. Nhưng xét theo sự kiện thực tế, hai lần xuất hiện là hai tri giác khác nhau, vì giữa chúng đã có một khoảng gián đoạn. Vì vậy, sự đồng nhất mà chúng ta gán cho chúng không thể là kết quả của lý trí. Trí tưởng tượng mới là nguồn gốc của sự đồng nhất ấy.

Trí tưởng tượng tiếp tục đi thêm một bước. Để giải thích làm thế nào hai tri giác bị gián đoạn vẫn có thể là cùng một tri giác, nó giả định rằng tri giác ấy tiếp tục hiện hữu trong khoảng thời gian chúng ta không nhận biết nó. Từ đây hình thành ý niệm về sự hiện hữu liên tục. Vì vậy, sự hiện hữu liên tục không phải là một kết luận do giác quan hay lý trí phát hiện; nó là một sự giả định của trí tưởng tượng, được hình thành để nối liền những tri giác giống nhau nhưng xuất hiện gián đoạn.

Nhưng sự giả định vẫn chưa phải là sự tin tưởng. Hume còn phải giải thích vì sao chúng ta thực sự tin vào sự hiện hữu liên tục ấy. Ở đây ký ức giữ vai trò quan trọng. Ký ức giữ lại những tri giác trước đây với một mức độ sinh động đáng kể; tính sinh động ấy được truyền sang ý niệm về sự hiện hữu liên tục. Vì vậy, chuỗi lập luận của Hume có thể rút gọn như sau:

sự tương tự → khuynh hướng gán sự đồng nhất → giả định về sự hiện hữu liên tục → ký ức cung cấp tính sinh động → sự giả định trở thành sự tin tưởng.

Hume vì thế không giải thích sự tin tưởng vào vật thể bằng một lập luận lý trí. Ông giải thích nó bằng cách trí tưởng tượng và ký ức hoạt động một cách tự nhiên.

§44 đưa lập luận sang bước tiếp theo. Hume chỉ ra rằng sự hiện hữu liên tục và sự hiện hữu tách biệt hay độc lập (distinct or independent existence) gắn chặt với nhau. Một khi chúng ta tin rằng vật thể tiếp tục hiện hữu khi chúng ta không tri giác nó, chúng ta gần như đồng thời tin rằng vật thể ấy hiện hữu độc lập với việc chúng ta có tri giác nó hay không.

Nhưng chính tại đây nảy sinh khó khăn. Khi suy xét lại kinh nghiệm, Hume nhận thấy rằng quan niệm cho rằng những tri giác do giác quan cung cấp có sự hiện hữu độc lập không phù hợp với kinh nghiệm hiển nhiên. Điều này buộc chúng ta phải quay lại những bước trước đó và xem xét lại sự hiện hữu liên tục mà trí tưởng tượng đã gán cho những tri giác.

Vì vậy, §§43–44 đánh dấu một bước chuyển quan trọng. §43 giải thích vì sao chúng ta hình thành và tin tưởng vào sự hiện hữu liên tục; §44 bắt đầu cho thấy vì sao sự tin tưởng tự nhiên ấy gặp vấn đề khi được đưa ra trước suy xét triết học. Hume không chỉ bác bỏ quan niệm thông thường. Ông trước hết truy tìm nguồn gốc của nó, rồi từ chính nguồn gốc ấy chỉ ra giới hạn của nó. Từ đây, vấn đề không còn chỉ là vì sao chúng ta tin rằng vật thể tiếp tục hiện hữu, mà trở thành câu hỏi sâu hơn: vật thể có thực sự hiện hữu độc lập với những tri giác của chúng ta hay không?

[15] Tri giác không có sự hiện hữu độc lập và vấn đề của “hệ thống hai sự hiện hữu”: Ở §45, Hume bắt đầu đưa ra những kinh nghiệm cụ thể để chứng minh rằng những tri giác do giác quan cung cấp không có sự hiện hữu tách biệt hay độc lập với những cơ quan cảm giác và trạng thái của cơ thể.

Thí dụ đơn giản nhất là khi chúng ta dùng một ngón tay ấn vào một mắt. Ngay lập tức, những đối tượng trước mắt xuất hiện thành hai; một nhóm dường như lệch khỏi vị trí thông thường. Nhưng chúng ta không cho rằng cả hai hình ảnh ấy cùng tiếp tục hiện hữu như hai sự vật độc lập. Chính kinh nghiệm này cho thấy tri giác phụ thuộc vào cơ quan giác quan, sự sắp đặt của những dây thần kinh và trạng thái của những “tinh khí động vật” (animal spirits).

Hume còn đưa ra nhiều kinh nghiệm tương tự: một vật có vẻ lớn hơn hoặc nhỏ hơn tùy theo khoảng cách; hình dạng của vật có vẻ thay đổi theo vị trí nhìn; màu sắc và những phẩm chất khác thay đổi khi cơ thể chúng ta đau ốm hoặc rối loạn. Từ những kinh nghiệm ấy, chúng ta thấy rằng những gì xuất hiện trong tri giác thay đổi theo điều kiện của người tri giác, chứ không thể được xem đơn giản là những sự hiện hữu tách biệt và độc lập.

Vì vậy, §45 cung cấp cơ sở kinh nghiệm cho kết luận đã được chuẩn bị ở §44:

những tri giác do giác quan cung cấp không có sự hiện hữu tách biệt hay độc lập.

Nhưng kết luận này lập tức tạo ra một khó khăn mới. Nếu tri giác không có sự hiện hữu độc lập, thì theo lẽ tự nhiên, chúng ta cũng phải hỏi liệu tri giác có thực sự có sự hiện hữu liên tục hay không. §46 bắt đầu từ chính khó khăn này.

Hume nhận thấy rằng những nhà triết học đã cố giải quyết vấn đề bằng cách phân biệt tri giác với đối tượng. Theo hệ thống mới này, tri giác là những gì bị gián đoạn, biến mất và khác nhau mỗi khi xuất hiện trở lại; còn đối tượng là những gì tiếp tục hiện hữu không gián đoạn và giữ được sự đồng nhất.

Như vậy, thay vì nói rằng tri giác tiếp tục hiện hữu khi chúng ta không nhận biết chúng, hệ thống mới nói rằng tri giác xuất hiện rồi biến mất, nhưng đối tượng mà tri giác biểu hiện vẫn tiếp tục tồn tại.

Thoạt nhìn, cách giải thích này có vẻ triết học hơn quan niệm thông thường. Tuy nhiên, Hume cho rằng nó chỉ là một cách chữa tạm thời (palliative remedy). Nó không loại bỏ những khó khăn của quan niệm thông thường mà còn tạo thêm những khó khăn mới.

Lý do quan trọng nhất là: không có nguyên tắc nào của khả năng hiểu biết hay trí tưởng tượng trực tiếp dẫn chúng ta đến quan niệm rằng tri giác và đối tượng có hai sự hiện hữu khác nhau. Chúng ta chỉ đi đến quan niệm ấy sau khi đã đi qua quan niệm thông thường rằng tri giác là những đối tượng duy nhất của chúng ta và tiếp tục hiện hữu ngay cả khi không còn xuất hiện trước giác quan.

Nói cách khác, hệ thống mới không phải là một phát hiện ban đầu của lý trí. Trí tưởng tượng không tự nhiên bắt đầu bằng sự phân biệt:

tri giác ≠ đối tượng.

Nó bắt đầu từ quan niệm đơn giản hơn:

tri giác là đối tượng, và tri giác tiếp tục hiện hữu khi không xuất hiện trước giác quan.

Chỉ sau đó, khi suy xét cho thấy quan niệm này không thể đứng vững, chúng ta mới chuyển sang giả định rằng tri giác và đối tượng là hai sự hiện hữu khác nhau, trong đó chỉ đối tượng có sự hiện hữu liên tục.

Đây là điểm Hume muốn nhấn mạnh ở §46: hệ thống mới phụ thuộc vào hệ thống cũ. Quan niệm về những đối tượng độc lập không có sức thuyết phục ban đầu đối với lý trí hay trí tưởng tượng; nó chỉ nhận được sức mạnh từ quan niệm trước đó về sự đồng nhất và sự hiện hữu liên tục của những tri giác bị gián đoạn.

Vì vậy, §§45–46 đưa lập luận tiến thêm một bước. §45 dùng kinh nghiệm để bác bỏ sự hiện hữu độc lập của tri giác. §46 cho thấy việc phân biệt “tri giác” với “đối tượng” chưa giải quyết được vấn đề, bởi chính sự phân biệt ấy chỉ xuất hiện sau khi chúng ta đã tin rằng tri giác tiếp tục hiện hữu khi không được tri giác.

Từ đây Hume sẽ phân tích hai phần của lập luận này một cách riêng biệt và rõ ràng hơn: trước hết, vì sao chúng ta tự nhiên tin rằng những tri giác có sự hiện hữu liên tục; sau đó, vì sao chúng ta đi từ sự tin tưởng ấy đến quan niệm rằng có những đối tượng khác với tri giác, tồn tại độc lập với chúng.

[16] Ở §§52–57, Hume đưa vấn đề về sự hiện hữu của vật thể bên ngoài đến một điểm rất đặc biệt. Sau khi phân tích nguồn gốc của sự tin tưởng vào sự hiện hữu liên tục và sự hiện hữu tách biệt hay độc lập, ông nhận ra rằng não thức đứng giữa hai khuynh hướng trái ngược nhau. Một bên là trí tưởng tượng, vốn tự nhiên khiến chúng ta tin rằng những tri giác tương tự nhau là cùng một tri giác và tiếp tục hiện hữu ngay cả khi chúng ta không tri giác chúng. Bên kia là suy xét, vốn cho thấy rằng những tri giác phụ thuộc vào những điều kiện của cơ thể, bị gián đoạn và mỗi lần xuất hiện trở lại là một tri giác khác. Chính sự xung đột này làm nảy sinh hai cách hiểu khác nhau về sự hiện hữu của vật thể: hệ thống thông thường (vulgar system) và hệ thống triết học (philosophical system).

Theo hệ thống thông thường, chúng ta không phân biệt giữa tri giác và vật thể. Khi nhìn một cái bàn, chúng ta không nghĩ rằng trước hết mình nhận một tri giác trong não thức rồi từ tri giác ấy suy ra một vật thể tồn tại bên ngoài. Chúng ta đơn giản tin rằng cái bàn mà chúng ta nhìn thấy chính là vật thể đang hiện hữu. Khi quay đi, chúng ta vẫn tin rằng chính cái bàn ấy tiếp tục hiện hữu; khi quay lại, chúng ta lại cho rằng mình đang nhìn thấy cùng một cái bàn. Vì vậy, hệ thống thông thường xem những tri giác tương tự nhau xuất hiện ở những thời điểm khác nhau như cùng một sự hiện hữu, mặc dù giữa những lần xuất hiện ấy đã có một khoảng gián đoạn. Chính trí tưởng tượng tạo ra sự nối kết này. Nó không chấp nhận sự gián đoạn như một sự mất đi rồi xuất hiện lại của một tri giác mới, mà tự nhiên lấp đầy khoảng trống bằng giả định rằng tri giác hay vật thể vẫn tiếp tục hiện hữu trong thời gian chúng ta không tri giác nó.

Hệ thống thông thường vì vậy rất tự nhiên nhưng lại chứa một khó khăn mà suy xét triết học không thể bỏ qua. Nếu những gì chúng ta trực tiếp nhận biết chỉ là những tri giác, thì một tri giác xuất hiện rồi biến mất khỏi não thức không thể được xem là cùng một tri giác với một tri giác khác xuất hiện sau đó. Tri giác đầu tiên đã không còn hiện diện; tri giác thứ hai lại xuất hiện sau một khoảng gián đoạn. Chúng có thể tương tự nhau, nhưng không vì thế mà chúng là cùng một tri giác về số lượng (numerically the same). Hơn nữa, những kinh nghiệm về thị giác, xúc giác và những giác quan khác cho thấy tri giác phụ thuộc vào những cơ quan giác quan và trạng thái của cơ thể. Vì vậy, suy xét buộc chúng ta phải thừa nhận rằng những tri giác bị gián đoạn và khác nhau. Nhưng trí tưởng tượng lại không dễ dàng từ bỏ quan niệm rằng có một vật thể đồng nhất tiếp tục tồn tại. Hệ thống thông thường vì thế là kết quả của khuynh hướng tự nhiên của trí tưởng tượng, chứ không phải kết quả của một lập luận lý trí.

Chính tại đây hệ thống triết học xuất hiện. Các nhà triết học nhận ra rằng không thể nói những tri giác bị gián đoạn vẫn là cùng một tri giác và vẫn tiếp tục hiện hữu. Họ tìm cách giải quyết khó khăn bằng cách phân biệt tri giác với đối tượng. Theo hệ thống này, khi chúng ta nhìn một cái bàn, có một tri giác xuất hiện trong não thức; tri giác ấy có thể biến mất khi chúng ta nhắm mắt hoặc quay đi. Nhưng sự biến mất của tri giác không có nghĩa rằng cái bàn biến mất. Phía sau những tri giác bị gián đoạn vẫn có một đối tượng tồn tại bên ngoài, và chính đối tượng ấy mới có sự hiện hữu liên tục, không gián đoạn, đồng nhất và độc lập với việc chúng ta có tri giác nó hay không. Khi chúng ta nhìn lại cái bàn, tri giác mới xuất hiện không phải là tri giác cũ quay trở lại; nó là một tri giác mới về cùng một đối tượng vẫn tiếp tục tồn tại.

Như vậy, hệ thống triết học dường như giải quyết được mâu thuẫn mà hệ thống thông thường không giải quyết được. Nó chấp nhận kết luận của suy xét rằng tri giác bị gián đoạn và phụ thuộc, nhưng đồng thời giữ lại quan niệm tự nhiên của trí tưởng tượng rằng vật thể vẫn tồn tại liên tục và đồng nhất. Sự phân biệt giữa tri giác và đối tượng cho phép hai khuynh hướng cùng tồn tại: sự gián đoạn được gán cho tri giác, còn sự liên tục được gán cho đối tượng. Đây chính là sự hiện hữu kép của tri giác và đối tượng (double existence of perceptions and objects) mà Hume nói đến ở §52.

Nhưng theo Hume, đây không phải là một giải pháp thực sự vững chắc. Nó chỉ là một cách làm cho hai khuynh hướng đối nghịch cùng tồn tại trong não thức. Lý trí đòi hỏi chúng ta phải thừa nhận rằng tri giác bị gián đoạn, khác nhau và phụ thuộc vào chúng ta; trí tưởng tượng lại đòi hỏi một sự hiện hữu liên tục và đồng nhất. Vì không thể thuyết phục hoàn toàn bên này từ bỏ yêu cầu của mình, não thức tạo ra một giả thuyết trung gian: tri giác có một sự hiện hữu, đối tượng có một sự hiện hữu khác. Tri giác mang phẩm chất mà lý trí yêu cầu — bị gián đoạn và phụ thuộc; đối tượng mang phẩm chất mà trí tưởng tượng yêu cầu — liên tục, đồng nhất và độc lập. Hume gọi hệ thống này là một “sản phẩm quái dị” (monstrous offspring) bởi nó được sinh ra từ hai nguyên tắc vốn trái ngược nhau nhưng đồng thời vẫn được não thức chấp nhận.

Điểm Hume muốn nhấn mạnh là hệ thống triết học không phải một phát hiện độc lập của lý trí. Nếu chúng ta thực sự hoàn toàn tin rằng những tri giác của mình là bị gián đoạn, khác nhau và phụ thuộc, chúng ta sẽ không có lý do để tìm kiếm một đối tượng liên tục nằm phía sau chúng. Khi ấy, chúng ta đã từ bỏ ngay từ đầu quan niệm về sự hiện hữu liên tục. Ngược lại, nếu chúng ta hoàn toàn tin rằng những tri giác tương tự nhau là cùng một tri giác và tiếp tục hiện hữu độc lập với chúng ta, thì chúng ta cũng không cần tạo ra một đối tượng thứ hai. Chúng ta sẽ hài lòng với hệ thống thông thường. Vì vậy, sự hiện hữu kép chỉ xuất hiện khi não thức ở vào một tình trạng trung gian: nó không thể từ bỏ hoàn toàn niềm tin tự nhiên của trí tưởng tượng, nhưng cũng không thể bỏ qua những kết luận của suy xét. Hệ thống triết học chính là nỗ lực của não thức nhằm sống chung với hai nguyên tắc mà nó không thể hòa giải.

§53 cho thấy thêm một điểm rất quan trọng. Hệ thống triết học có một ưu thế đặc biệt vì nó tương tự với hệ thống thông thường. Khi suy xét, nhà triết học có thể phân biệt tri giác với đối tượng và cho rằng chỉ đối tượng mới có sự hiện hữu liên tục. Nhưng khi rời khỏi phòng làm việc và trở lại đời sống thông thường, nhà triết học cũng giống mọi người khác: ông nhìn cái bàn, quay đi, rồi quay lại và tự nhiên nghĩ rằng cùng một cái bàn vẫn ở đó. Điều này cho thấy sức mạnh của hệ thống thông thường không nằm ở một lập luận mà nằm trong chính hoạt động tự nhiên của trí tưởng tượng. Triết học có thể thay đổi cách chúng ta diễn đạt niềm tin, nhưng rất khó thay đổi cách não thức tự nhiên vận hành.

§54–55 làm cho khó khăn còn rõ hơn. Ngay cả khi chấp nhận hệ thống triết học, chúng ta vẫn phải giả định rằng đối tượng bên ngoài tương tự với tri giác bên trong. Nhưng Hume đã chỉ ra rằng lý trí không thể đi từ sự hiện hữu hay phẩm chất của tri giác đến sự hiện hữu của một đối tượng bên ngoài bằng mối quan hệ nhân quả. Càng không có lý do để từ đó suy ra rằng đối tượng bên ngoài giống với tri giác. Quan niệm về sự tương tự ấy cũng bắt nguồn từ trí tưởng tượng. Bởi trí tưởng tượng không thể hình dung một sự hiện hữu nào khác ngoài những tri giác đã từng xuất hiện với nó, nó tự nhiên làm cho đối tượng bên ngoài giống với tri giác. Vì vậy, ngay cả hệ thống triết học tưởng như đã vượt khỏi hệ thống thông thường vẫn mang trong mình dấu vết của chính trí tưởng tượng mà nó muốn sửa chữa.

§56 vì thế là bước Hume nhìn lại toàn bộ công trình vừa thực hiện. Hệ thống thông thường có ưu điểm là tự nhiên và phù hợp với cách não thức hoạt động, nhưng nó mắc sai lầm khi đồng nhất những tri giác tương tự nhưng bị gián đoạn. Hệ thống triết học nhận ra sai lầm ấy và tách tri giác khỏi đối tượng, nhưng lại không thể chứng minh bằng lý trí rằng ngoài những tri giác còn có một đối tượng tương tự với chúng và tiếp tục tồn tại độc lập. Vì thế, hệ thống triết học vừa phủ nhận vừa tái lập giả định thông thường: nó phủ nhận rằng những tri giác là những sự hiện hữu liên tục và đồng nhất, nhưng lại tạo ra một tập hợp những sự hiện hữu mới — những đối tượng — rồi gán cho chúng chính sự liên tục và đồng nhất mà trí tưởng tượng trước đó đã gán cho tri giác.

Đây là lý do Hume không thể xem hệ thống triết học như một nền tảng chắc chắn cho niềm tin vào thế giới bên ngoài. Hệ thống thông thường được trí tưởng tượng tạo ra nhưng không chịu được suy xét; hệ thống triết học được suy xét tạo ra nhưng lại không có nền tảng độc lập trong lý trí. Một bên quá tự nhiên để có thể bị loại bỏ hoàn toàn; bên kia quá phụ thuộc vào giả định tự nhiên để có thể đứng vững như một chứng minh lý trí.

Từ đây §57 đưa Hume đến sự hoài nghi (sceptical doubt). Khi suy xét càng sâu, chúng ta càng nhận ra rằng không thể dùng lý trí để cung cấp một nền tảng tuyệt đối cho sự tin tưởng vào những giác quan hay vào thế giới bên ngoài. Nhưng sự hoài nghi ấy cũng không thể trở thành một trạng thái sống thường xuyên. Khi chúng ta ngừng suy xét và trở lại với hoạt động bình thường của não thức, tự nhiên lập tức đưa chúng ta trở về với quan niệm rằng có một thế giới bên ngoài và những vật thể tiếp tục tồn tại trong đó. Vì vậy, Hume không kết luận rằng không có thế giới bên ngoài. Ông đi đến một kết luận khác và sâu hơn: chúng ta không thể chứng minh bằng lý trí rằng thế giới bên ngoài tồn tại theo cách chúng ta tự nhiên tin tưởng, nhưng chúng ta cũng không thể sống mà từ bỏ sự tin tưởng tự nhiên ấy.

Toàn bộ lập luận từ §§43–57 vì thế không phải một cuộc tranh luận đơn giản giữa “tin có vật thể” và “không tin có vật thể”. Hume đang truy tìm nguồn gốc, cơ chế và giới hạn của sự tin tưởng vào vật thể. Hệ thống thông thường cho thấy sức mạnh của tự nhiên và trí tưởng tượng; hệ thống triết học cho thấy nỗ lực của suy xét nhằm sửa chữa những sai lầm của trí tưởng tượng; còn sự hoài nghi cho thấy rằng suy xét, sau khi phá vỡ niềm tin tự nhiên, lại không thể xây dựng một nền tảng chắc chắn thay thế nó. Chúng ta bị kéo giữa hai phía: trí tưởng tượng buộc chúng ta tin vào một thế giới liên tục và độc lập; suy xét buộc chúng ta thấy rằng chúng ta không thể chứng minh niềm tin ấy từ những gì trực tiếp hiện diện với não thức. Chính sự căng thẳng không thể giải quyết dứt điểm này tạo nên vị trí đặc biệt của Hume: triết học không thể loại bỏ tự nhiên, và tự nhiên cũng không thể làm cho những khó khăn do triết học phát hiện biến mất.