Một Chuyên Luận Về Bản Chất Con Người
(A Treatise of Human Nature)
David Hume
QUYỂN 1-PHẨN 4
MỤC IV.
Về Triết Học Hiện Đại.
T 1.4.4.1, SBN 225–226
Nhưng ở đây có thể có người phản đối rằng, theo chính lập trường tôi đã thừa nhận, trí tưởng tượng là quan tòa tối hậu của mọi hệ thống triết học, vậy thì tôi đã không công bằng khi trách những triết gia cổ đại vì đã sử dụng năng lực ấy, và đã để họ hoàn toàn tuân theo sự dẫn dắt của nó trong những suy luận của họ.”
Để biện minh cho mình, tôi phải phân biệt trong trí tưởng tượng giữa những nguyên lý bền vững, không thể cưỡng lại và phổ quát, chẳng hạn như sự chuyển dịch theo tập quán từ nguyên nhân sang kết quả, và từ kết quả sang nguyên nhân; với những nguyên lý thay đổi, yếu ớt và không đều đặn, chẳng hạn như những nguyên lý mà tôi vừa lưu ý.
Những nguyên lý trước là nền tảng của mọi suy nghĩ và hành động của chúng ta, đến mức nếu loại bỏ chúng thì bản tính con người sẽ lập tức tiêu vong và sụp đổ. Những nguyên lý sau không phải là những nguyên lý không thể tránh khỏi đối với con người, cũng không cần thiết, hay thậm chí hữu ích, trong việc dẫn dắt đời sống; trái lại, chúng chỉ xuất hiện ở những não thức yếu, và vì đối lập với những nguyên lý khác của tập quán và suy luận, nên có thể dễ dàng bị phá bỏ bằng một sự đối chiếu và đối lập thích đáng.
Vì lý do này, những nguyên lý trước được triết học chấp nhận, còn những nguyên lý sau bị gạt bỏ.
Một người kết luận rằng có ai đó ở gần mình khi nghe thấy một giọng nói rõ ràng trong bóng tối thì suy luận một cách đúng đắn và tự nhiên; mặc dù kết luận ấy chỉ được dẫn xuất từ tập quán, vốn khắc sâu và làm sống động ý niệm về một con người [1]do sự kết hợp quen thuộc của ý niệm ấy với ấn tượng hiện tại.
Nhưng một người bị dày vò, mà không biết vì sao, bởi nỗi lo sợ về những bóng ma trong bóng tối cũng có thể, theo một nghĩa nào đó, được nói là đang suy luận, và cũng đang suy luận một cách tự nhiên. Nhưng khi ấy, phải hiểu từ “tự nhiên” theo đúng nghĩa mà chúng ta nói một căn bệnh là tự nhiên: nó phát sinh từ những nguyên nhân tự nhiên, mặc dù trái với sức khỏe, vốn là trạng thái dễ chịu nhất và tự nhiên nhất của con người.
T 1.4.4.2, SBN 226
Những quan điểm của những triết gia cổ đại, những hư cấu của họ về thực thể và thuộc tính ngẫu nhiên, cùng những suy luận của họ về hình thái thực thể và phẩm chất huyền bí, giống như những bóng ma trong bóng tối; chúng được dẫn xuất từ những nguyên lý mà, tuy phổ biến, nhưng không phải là phổ quát hay không thể tránh khỏi trong bản tính con người.
Triết học hiện đại tự nhận là hoàn toàn thoát khỏi khiếm khuyết này, và chỉ phát sinh từ những nguyên lý vững chắc, bền vững và nhất quán của trí tưởng tượng. [2]
Cơ sở của sự tự nhận này là gì sẽ là đối tượng khảo sát của chúng ta.
T 1.4.4.3, SBN 226
Nguyên lý nền tảng của triết học ấy là quan điểm về màu sắc, âm thanh, vị, mùi, nóng và lạnh: triết học ấy khẳng định rằng những thứ này chẳng qua chỉ là những ấn tượng trong não thức, được dẫn xuất từ sự tác động của những đối tượng bên ngoài, và không có bất kỳ sự tương tự nào với những phẩm chất của những đối tượng ấy.
Khi xem xét vấn đề, tôi chỉ thấy một trong những lý do thường được đưa ra để ủng hộ quan điểm này là thỏa đáng, tức là lý do rút ra từ những biến đổi của những ấn tượng ấy, ngay cả khi đối tượng bên ngoài, theo mọi biểu hiện bên ngoài, vẫn dường như không thay đổi.
Những biến đổi này phụ thuộc vào nhiều hoàn cảnh khác nhau.
Vào những trạng thái khác nhau của sức khỏe chúng ta: một người đang mắc bệnh cảm thấy trong thức ăn một vị khó chịu, mặc dù trước đó thức ăn ấy từng làm người này thích thú nhất.
Vào những thể trạng và cấu tạo khác nhau của con người: thứ có vẻ đắng đối với người này lại ngọt đối với người khác.
Vào sự khác biệt trong hoàn cảnh và vị trí bên ngoài của họ: những màu sắc phản chiếu từ những đám mây thay đổi tùy theo khoảng cách của những đám mây, và tùy theo góc mà chúng tạo thành với mắt và nguồn sáng.
Lửa cũng tạo ra cảm giác dễ chịu ở một khoảng cách, và cảm giác đau đớn ở một khoảng cách khác.
Những trường hợp thuộc loại này rất nhiều và rất thường gặp.
T 1.4.4.4, SBN 227
Kết luận được rút ra từ những lập luận ấy cũng thỏa đáng hết mức có thể hình dung. Chắc chắn rằng, khi những ấn tượng khác nhau về cùng một giác quan phát sinh từ một đối tượng, không phải mỗi ấn tượng trong số đó đều có một phẩm chất tương tự hiện hữu trong đối tượng. Bởi vì cùng một đối tượng không thể đồng thời có những phẩm chất khác nhau thuộc cùng một giác quan, và cùng một phẩm chất không thể tương tự với những ấn tượng hoàn toàn khác nhau; do đó, rõ ràng là nhiều ấn tượng của chúng ta không có nguyên mẫu hay khuôn mẫu bên ngoài.
Từ những kết quả giống nhau, chúng ta suy ra những nguyên nhân giống nhau. Nhiều ấn tượng về màu sắc, âm thanh, v.v. được thừa nhận là chẳng qua chỉ là những sự hiện hữu bên trong, và phát sinh từ những nguyên nhân hoàn toàn không giống với chúng. Những ấn tượng này, xét về biểu hiện, không khác gì những ấn tượng khác về màu sắc, âm thanh, v.v. Vì vậy, chúng ta kết luận rằng tất cả những ấn tượng ấy đều phát sinh từ một nguồn gốc tương tự.
T 1.4.4.5, SBN 227
Một khi nguyên lý này được thừa nhận, tất cả những học thuyết khác của triết học ấy dường như cũng theo đó mà được dẫn xuất một cách dễ dàng. Bởi khi loại bỏ âm thanh, màu sắc, nóng, lạnh và những phẩm chất khác do giác quan cung cấp khỏi hàng ngũ những sự hiện hữu liên tục và độc lập, chúng ta chỉ còn lại những gì được gọi là những phẩm chất nguyên thủy, như những phẩm chất thực duy nhất mà chúng ta có một ý niệm đầy đủ về chúng.
Những phẩm chất nguyên thủy này là khả năng chiếm chỗ trong không gian và độ rắn, cùng với những sự kết hợp và biến đổi khác nhau của chúng; hình dạng, chuyển động, trọng lực và sự kết dính. Sự sinh ra, lớn lên, suy tàn và phân hủy của động vật và thực vật chẳng qua chỉ là những biến đổi về hình dạng và chuyển động; cũng như hoạt động của mọi vật thể đối với nhau; của lửa, ánh sáng, nước, không khí, đất và tất cả những yếu tố cùng những năng lực của tự nhiên.
Một hình dạng và một chuyển động tạo ra một hình dạng và một chuyển động khác; và trong vũ trụ vật chất không còn bất kỳ nguyên lý nào khác, dù chủ động hay thụ động, mà chúng ta có thể hình thành dù chỉ một ý niệm mơ hồ nhất.
T 1.4.4.6, SBN 227–228
Tôi tin rằng có thể đưa ra nhiều phản đối đối với hệ thống này. Nhưng hiện tại tôi chỉ giới hạn mình ở một phản đối mà theo tôi có sức quyết định nhất. Tôi khẳng định rằng, thay vì dùng hệ thống ấy để giải thích hoạt động của những đối tượng bên ngoài, chúng ta hoàn toàn xóa bỏ tất cả những đối tượng ấy, và tự đưa mình trở lại với những quan điểm của chủ nghĩa hoài nghi cực đoan nhất về chúng.
Nếu màu sắc, âm thanh, vị, mùi chẳng qua chỉ là những tri giác, thì không có bất cứ thứ gì chúng ta có thể hình dung lại có một sự hiện hữu thực, liên tục và độc lập; ngay cả chuyển động, sự chiếm chỗ trong không gian và độ rắn, vốn là những phẩm chất nguyên thủy được đặc biệt nhấn mạnh.
T 1.4.4.7, SBN 228
Trước hết, xét về chuyển động: rõ ràng đây là một phẩm chất hoàn toàn không thể hình dung một cách riêng lẻ, nếu không quy chiếu đến một đối tượng nào khác. Ý niệm về chuyển động tất yếu giả định ý niệm về một vật thể đang chuyển động.
Vậy nếu không có ý niệm về vật thể đang chuyển động, thì chúng ta có ý niệm nào về chuyển động? Không có ý niệm ấy, chuyển động không thể được hiểu. Ý niệm về vật thể đang chuyển động phải quy về ý niệm về sự chiếm chỗ trong không gian hoặc về độ rắn; và do đó, tính hiện thực của chuyển động phụ thuộc vào tính hiện thực của những phẩm chất này.
T 1.4.4.8, SBN 228
Quan điểm này, vốn được mọi người thừa nhận một cách phổ biến khi nói về chuyển động, tôi đã chứng minh là đúng đối với sự chiếm chỗ trong không gian; và tôi đã chỉ ra rằng không thể hình dung sự chiếm chỗ trong không gian nếu không hình dung nó được cấu thành từ những phần có màu sắc hoặc có độ rắn.
Ý niệm về sự chiếm chỗ trong không gian là một ý niệm phức hợp; nhưng vì nó không được cấu thành từ một số lượng vô hạn những phần hay những ý niệm nhỏ hơn, nên cuối cùng nó phải quy về những phần hoàn toàn đơn giản và không thể phân chia.
Những phần đơn giản và không thể phân chia ấy, vì không phải là những ý niệm về sự chiếm chỗ trong không gian, sẽ phải là những không-tồn tại, trừ khi chúng được hình dung là có màu sắc hoặc có độ rắn.
Màu sắc đã bị loại khỏi bất kỳ sự hiện hữu thực nào. Vì vậy, tính hiện thực của ý niệm về sự chiếm chỗ trong không gian của chúng ta phụ thuộc vào tính hiện thực của ý niệm về độ rắn; và ý niệm trước không thể đúng nếu ý niệm sau chỉ là một hư cấu.
Vậy chúng ta hãy tập trung sự chú ý vào việc xem xét ý niệm về độ rắn.
T 1.4.4.9, SBN 228–229
Ý niệm về độ rắn là ý niệm về hai đối tượng mà dù bị đẩy vào nhau bằng một lực mạnh đến mức tối đa, chúng cũng không thể xuyên qua nhau, nhưng vẫn duy trì sự hiện hữu riêng biệt và tách rời của mỗi đối tượng.
Vì vậy, độ rắn hoàn toàn không thể được hình dung một cách riêng lẻ, nếu không có quan niệm về một số vật thể có độ rắn và duy trì sự hiện hữu riêng biệt và tách rời ấy.
Vậy chúng ta có ý niệm nào về những vật thể ấy?
Những ý niệm về màu sắc, âm thanh và những phẩm chất thứ cấp khác đã bị loại bỏ. Ý niệm về chuyển động phụ thuộc vào ý niệm về sự chiếm chỗ trong không gian, còn ý niệm về sự chiếm chỗ trong không gian phụ thuộc vào ý niệm về độ rắn. Vì vậy, không thể có chuyện ý niệm về độ rắn lại phụ thuộc vào một trong hai ý niệm ấy. Bởi làm như vậy sẽ là lập luận vòng quanh, khiến một ý niệm phụ thuộc vào một ý niệm khác, trong khi đồng thời ý niệm sau lại phụ thuộc vào ý niệm trước.
Vì vậy, triết học hiện đại của chúng ta không cung cấp cho chúng ta một ý niệm đúng đắn hay thỏa đáng nào về độ rắn; và do đó cũng không cung cấp cho chúng ta một ý niệm đúng đắn hay thỏa đáng nào về vật chất.
T 1.4.4.10, SBN 229
Lập luận này sẽ hoàn toàn có sức thuyết phục đối với bất kỳ ai hiểu được nó; nhưng vì nó có thể có vẻ khó hiểu và rắc rối đối với phần lớn độc giả, tôi hy vọng được miễn thứ nếu cố gắng làm cho nó dễ thấy hơn bằng một cách diễn đạt khác.
Để hình thành một ý niệm về độ rắn, chúng ta phải hình dung hai vật thể ép vào nhau mà không xuyên qua nhau; và chúng ta không thể đạt đến ý niệm này nếu chỉ giới hạn mình ở một đối tượng, lại càng không thể nếu không hình dung bất kỳ đối tượng nào.
Hai không-tồn tại không thể ngăn cản nhau chiếm chỗ của nhau; bởi chúng không bao giờ chiếm giữ bất kỳ chỗ nào, cũng không thể có bất kỳ phẩm chất nào.
Vậy tôi hỏi: chúng ta hình thành ý niệm nào về những vật thể hay những đối tượng mà chúng ta giả định có độ rắn?
Nếu nói rằng chúng ta chỉ hình dung chúng đơn thuần là có độ rắn, thì chúng ta sẽ rơi vào một chuỗi giải thích vô hạn. Nếu khẳng định rằng chúng ta hình dung chúng như những vật thể có sự chiếm chỗ trong không gian, thì hoặc toàn bộ lập luận quy về một ý niệm sai lầm, hoặc lại quay trở về lập luận vòng quanh.
Sự chiếm chỗ trong không gian tất yếu phải được xem xét hoặc là có màu sắc, vốn là một ý niệm sai lầm, hoặc là có độ rắn, và như vậy chúng ta lại trở về câu hỏi ban đầu.
Chúng ta có thể đưa ra nhận xét tương tự về khả năng chuyển động và hình dạng; và xét toàn bộ vấn đề, chúng ta phải kết luận rằng, sau khi loại màu sắc, âm thanh, nóng và lạnh khỏi hàng ngũ những sự hiện hữu bên ngoài, không còn lại bất cứ thứ gì có thể cung cấp cho chúng ta một ý niệm đúng đắn và nhất quán về vật thể [3]
T 1.4.4.11, SBN 229–230
Thêm vào đó, nói cho đúng, độ rắn hay tính không xuyên thấu chẳng qua chỉ là sự không thể bị hủy diệt, như tôi đã nhận xét ở trên [42]. Vì lý do đó, chúng ta càng cần phải hình thành một ý niệm rõ ràng về đối tượng mà chúng ta giả định là không thể bị hủy diệt.
Sự không thể bị hủy diệt không thể tự nó hiện hữu, và cũng không bao giờ có thể được hình dung là tự nó hiện hữu; nó tất yếu đòi hỏi phải có một đối tượng hay một sự hiện hữu thực mà nó thuộc về.
Nhưng khó khăn vẫn còn nguyên: làm thế nào chúng ta có thể hình thành một ý niệm về đối tượng hay sự hiện hữu ấy mà không phải dựa vào những phẩm chất thứ cấp và do giác quan cung cấp?
T 1.4.4.12, SBN 230
Trong trường hợp này, chúng ta cũng không được bỏ qua phương pháp quen thuộc của mình là xem xét những ý niệm bằng cách xét đến những ấn tượng từ đó chúng được dẫn xuất.
Theo triết học hiện đại, những ấn tượng đi vào qua thị giác, thính giác, khứu giác và vị giác không có những đối tượng tương tự với chúng; và do đó, ý niệm về độ rắn, vốn được giả định là có tính hiện thực, không bao giờ có thể được dẫn xuất từ bất kỳ giác quan nào trong số đó.
Vì vậy, chỉ còn cảm giác, tức giác quan xúc giác, là giác quan duy nhất có thể truyền đến chúng ta ấn tượng nguyên thủy làm cơ sở cho ý niệm về độ rắn. Quả thật, chúng ta tự nhiên hình dung rằng chúng ta cảm nhận độ rắn của những vật thể, và chỉ cần chạm vào bất kỳ đối tượng nào là chúng ta có thể nhận biết phẩm chất này.
Nhưng cách suy nghĩ ấy phổ biến hơn là có tính triết học, như những suy xét sau đây sẽ cho thấy.
T 1.4.4.13, SBN 230
Trước hết, chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng, mặc dù chúng ta cảm nhận những vật thể nhờ độ rắn của chúng, nhưng cảm giác ấy hoàn toàn khác với độ rắn, và cả hai không có chút tương tự nào với nhau.
Một người bị bại liệt một bàn tay vẫn có một ý niệm hoàn toàn đầy đủ về tính không xuyên thấu, [4] khi nhận thấy bàn tay ấy được chiếc bàn đỡ lấy, cũng như khi dùng bàn tay kia cảm nhận chính chiếc bàn ấy.
Một đối tượng ép lên bất kỳ bộ phận nào trên cơ thể chúng ta đều gặp sự chống lại; và sự chống lại ấy, thông qua chuyển động mà nó truyền đến những dây thần kinh và những thể dịch động vật, truyền một cảm giác nhất định đến não thức; nhưng từ đó không thể suy ra rằng cảm giác, chuyển động và sự chống lại có bất kỳ sự tương tự nào với nhau.
T 1.4.4.14, SBN 230–231
Thứ hai, những ấn tượng của xúc giác là những ấn tượng đơn giản, ngoại trừ khi chúng được xem xét theo sự chiếm chỗ trong không gian của chúng; nhưng sự chiếm chỗ trong không gian không liên quan gì đến mục đích hiện tại.
Từ tính đơn giản ấy, tôi suy ra rằng chúng không biểu hiện độ rắn, cũng không biểu hiện bất kỳ đối tượng thực nào.
Hãy xét hai trường hợp: một người dùng bàn tay ấn vào một hòn đá hay bất kỳ vật thể rắn nào, và hai hòn đá ép vào nhau. Chúng ta sẽ dễ dàng thừa nhận rằng hai trường hợp này không hoàn toàn giống nhau về mọi mặt; bởi trong trường hợp thứ nhất, cùng với độ rắn còn có một cảm giác mà trong trường hợp thứ hai hoàn toàn không có biểu hiện nào tương ứng.
Vì vậy, để làm cho hai trường hợp này giống nhau, chúng ta phải loại bỏ một phần nào đó của ấn tượng mà người ấy cảm nhận qua bàn tay, tức cơ quan cảm giác của mình; nhưng vì không thể loại bỏ một phần của một ấn tượng đơn giản, chúng ta buộc phải loại bỏ toàn bộ ấn tượng ấy. Điều này chứng minh rằng toàn bộ ấn tượng ấy không có nguyên mẫu hay khuôn mẫu nào trong những đối tượng bên ngoài.
Chúng ta còn có thể thêm rằng độ rắn tất yếu giả định hai vật thể, cùng với sự kề cận và lực tác động; mà vì đây là một đối tượng phức hợp, nó không bao giờ có thể được biểu hiện bởi một ấn tượng đơn giản.
Chưa kể rằng, mặc dù độ rắn luôn giữ nguyên không thay đổi, những ấn tượng của xúc giác lại thay đổi ở chúng ta từng lúc một; và đây là một bằng chứng rõ ràng rằng những ấn tượng sau không phải là những biểu hiện của độ rắn trước.
T 1.4.4.15, SBN 231
Như vậy, có một sự đối lập trực tiếp và hoàn toàn giữa lý trí và những giác quan của chúng ta; hay nói chính xác hơn, giữa những kết luận chúng ta hình thành từ nhân quả và những kết luận khiến chúng ta tin tưởng vào sự hiện hữu liên tục và độc lập của vật thể.
Khi suy luận từ nhân quả, chúng ta kết luận rằng màu sắc, âm thanh, vị và mùi không có sự hiện hữu liên tục và độc lập. Khi loại bỏ những phẩm chất do giác quan cung cấp này, không còn lại trong vũ trụ bất kỳ thứ gì có một sự hiện hữu liên tục và độc lập như vậy. [5]
[CHÚ THÍCH]
T 1.4.4.11n42, SBN 229
[42.] Phần II. Mục 4
Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ hai
(Jun/2026)
(Còn tiếp... →)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1] infixes and enlivens the idea → khắc sâu và làm sống động ý niệm: infix là làm cho ý niệm bám chắc vào não thức, còn enliven là làm tăng sức sống/sinh động của ý niệm.
[2] Triết học hiện đại — Ở đây Hume dùng modern philosophy để chỉ khuynh hướng triết học đương thời với ông, đối lập với antient philosophy — triết học cổ truyền mà ông vừa phê phán ở mục trước. Vì vậy, “hiện đại” ở đây không có nghĩa là toàn bộ triết học từ Descartes đến Hume, mà chủ yếu chỉ những quan điểm triết học mới đang được chấp nhận vào thời Hume, đặc biệt là quan điểm cho rằng màu sắc, âm thanh, vị, mùi, nóng và lạnh chỉ là những ấn tượng trong não thức, do sự tác động của những đối tượng bên ngoài tạo ra, và không có sự tương tự nào với những phẩm chất của chính những đối tượng ấy.
Điểm này rất quan trọng đối với lập luận của Hume. Trong T 1.4.4, modern philosophy được xác định đối lập với antient philosophy ngay từ T 1.4.3. Hume không đơn giản thay triết học cổ truyền bằng một hệ thống mới, mà đặt câu hỏi: cơ sở của quan điểm mới này là gì, và những nguyên lý nào của trí tưởng tượng khiến chúng ta chấp nhận nó? Vì thế, đối tượng khảo sát trực tiếp của Hume ở đây là mối quan hệ giữa những phẩm chất do giác quan cung cấp, những ấn tượng trong não thức và những đối tượng bên ngoài, chứ không phải “triết học hiện đại” theo nghĩa toàn bộ lịch sử triết học Cận đại.
[3] Trong lập luận này, Hume thiết lập một chuỗi phụ thuộc giữa ba ý niệm: motion — chuyển động → extension — sự chiếm chỗ trong không gian → solidity — độ rắn. Ý niệm về chuyển động không thể được hình dung nếu không có một vật thể đang chuyển động; nhưng để hình dung vật thể ấy, chúng ta phải có ý niệm về sự chiếm chỗ trong không gian hoặc độ rắn. Đến lượt mình, ý niệm về sự chiếm chỗ trong không gian lại phụ thuộc vào ý niệm về độ rắn, vì Hume cho rằng không thể hình dung một không gian có chiều kích mà không hình dung những phần của nó có màu sắc hoặc độ rắn.
Vì vậy, nếu muốn giải thích độ rắn bằng sự chiếm chỗ trong không gian, chúng ta sẽ rơi vào một vòng tròn: motion phụ thuộc vào extension, extension phụ thuộc vào solidity, nhưng nếu solidity lại phụ thuộc vào extension, thì mỗi ý niệm lại được dùng để giải thích một ý niệm khác vốn đã phụ thuộc vào nó. Hume gọi đây là to run in a circle — lập luận vòng quanh.
Mục đích của Hume không phải chứng minh rằng chuyển động hay sự chiếm chỗ trong không gian không thể được hình dung, mà là chỉ ra rằng, sau khi triết học hiện đại loại bỏ màu sắc, âm thanh, nóng, lạnh và những phẩm chất thứ cấp khỏi những sự hiện hữu bên ngoài, nó không còn một nền tảng độc lập nào để hình thành ý niệm về độ rắn. Mà nếu không có một ý niệm đúng đắn về độ rắn, thì cũng không thể có một ý niệm đúng đắn về vật chất.
[4] Tính không xuyên thấu (impenetrability) — Trong triết học tự nhiên thế kỷ XVII–XVIII, impenetrability chỉ tính chất khiến hai vật thể không thể cùng chiếm một chỗ trong không gian: khi hai vật thể bị đẩy vào nhau, vật này không thể xuyên qua vật kia hay chiếm đúng chỗ mà vật kia đang chiếm.
Hume xem impenetrability gần như đồng nghĩa với solidity — độ rắn. Nhưng trong lập luận của ông, solidity nhấn mạnh tính chất của vật thể, còn impenetrability nhấn mạnh sự không thể xuyên qua hay cùng chiếm một chỗ của hai vật thể. Vì thế, ở T 1.4.4.11, Hume viết solidity or impenetrability, rồi quy cả hai về “sự không thể bị hủy diệt”: nếu một vật thể có độ rắn hay tính không xuyên thấu, nó không thể đơn giản bị triệt tiêu khỏi sự hiện hữu.
Điểm quan trọng đối với Hume là tính không xuyên thấu không phải là một cảm giác mà chúng ta trực tiếp nhận thấy trong vật thể. Khi tay chúng ta chạm vào một vật rắn, chúng ta có một cảm giác chống lại áp lực; nhưng cảm giác ấy không giống với tính không xuyên thấu của vật thể. Do đó, Hume tiếp tục hỏi: nếu tính không xuyên thấu không giống với cảm giác mà chúng ta nhận được từ xúc giác, thì ý niệm về tính không xuyên thấu được dẫn xuất từ ấn tượng nào?
Câu hỏi này trở thành một mắt xích quan trọng trong lập luận của T 1.4.4: sau khi triết học hiện đại loại bỏ những phẩm chất thứ cấp khỏi những sự hiện hữu bên ngoài, Hume muốn chỉ ra rằng ngay cả độ rắn hay tính không xuyên thấu cũng không có một nền tảng cảm giác độc lập đủ để cung cấp cho chúng ta một ý niệm đúng đắn về vật chất.
[5] Nghịch lý ở kết luận của T 1.4.4.15 — Đây là một trong những kết luận quan trọng nhất của Hume trong T 1.4.4. Ông không chỉ nói rằng màu sắc, âm thanh, vị và mùi không có sự hiện hữu liên tục và độc lập. Lập luận của ông đi xa hơn: một khi những phẩm chất do giác quan cung cấp bị loại khỏi những sự hiện hữu bên ngoài, chúng ta không còn tìm thấy bất kỳ phẩm chất nào có thể làm nền tảng cho một vật thể tồn tại liên tục và độc lập với tri giác.
Nghịch lý nằm ở chỗ chính lý luận nhân quả lại dẫn đến kết luận này. Từ kinh nghiệm, chúng ta chỉ có thể suy luận từ một tri giác hiện tại đến một tri giác khác khi giữa chúng có một mối quan hệ nhân quả đã được kinh nghiệm xác lập. Nhưng tất cả những gì trực tiếp hiện diện với não thức đều là những tri giác. Vì vậy, lý trí không thể từ những phẩm chất được cảm nhận mà suy ra một vật thể bên ngoài có sự hiện hữu hoàn toàn độc lập với những tri giác ấy.
Triết học hiện đại cố gắng giữ lại một phần thực tại bên ngoài bằng cách phân biệt phẩm chất thứ cấp với phẩm chất nguyên thủy. Màu sắc, âm thanh, vị và mùi bị xem là những phẩm chất chỉ thuộc về tri giác; còn sự chiếm chỗ trong không gian, độ rắn, hình dạng và chuyển động được xem là những phẩm chất thực sự thuộc về vật thể. Nhưng Hume đã lần lượt cho thấy rằng ý niệm về những phẩm chất nguyên thủy ấy cũng không thể được hình thành một cách độc lập với những tri giác mà triết học hiện đại đã loại bỏ. Đặc biệt, sự chiếm chỗ trong không gian phụ thuộc vào độ rắn, còn độ rắn lại không thể được xác định nếu không quy chiếu đến những cảm giác của xúc giác.
Vì vậy, Hume đưa triết học hiện đại vào một thế khó: nếu giữ lại những phẩm chất do giác quan cung cấp, chúng không có sự hiện hữu độc lập; nếu loại bỏ chúng, không còn đủ gì để hình thành một ý niệm đúng đắn về vật thể. Đây chính là ý nghĩa của câu kết: Hume không tuyên bố rằng không có vật thể, mà chỉ ra rằng lý trí không thể cung cấp một nền tảng đầy đủ cho quan niệm về vật thể như một sự hiện hữu liên tục và độc lập.
Kết luận này cũng chuẩn bị trực tiếp cho sự hoài nghi mà Hume sẽ đẩy tới trong những đoạn tiếp theo: lý trí phá vỡ sự tin tưởng tự nhiên vào thế giới bên ngoài, nhưng lại không có khả năng thay thế sự tin tưởng ấy bằng một nền tảng triết học chắc chắn hơn. Triết học vì thế không thể đơn giản bác bỏ thế giới mà đời sống tự nhiên buộc chúng ta phải tin tưởng; nó chỉ có thể cho thấy rằng sự tin tưởng ấy không có nền tảng lý luận mà chính triết học mong muốn tìm kiếm.
