(A Treatise of Human Nature)
David Hume
QUYỂN 1-PHẨN 4
MỤC V.
Về Tính Phi-vật chất Của Hồn Người.
[1]
T 1.4.5.1, SBN 232
Sau khi đã nhận ra những mâu thuẫn và khó khăn như vậy
trong tất cả những hệ thống liên quan đến những đối tượng bên ngoài, và trong ý
niệm về vật chất, vốn chúng ta tưởng rằng rất rõ ràng và xác định, chúng ta tự
nhiên sẽ chờ đợi những khó khăn và mâu thuẫn còn lớn hơn trong tất cả những giả
thuyết liên quan đến những tri giác bên trong của chúng ta, [2] và
đến bản tính của não thức, vốn chúng ta thường tưởng rằng tối tăm và không chắc
chắn hơn nhiều. Nhưng trong việc này, chúng ta sẽ tự lừa dối mình. Thế giới trí
thức, mặc dù bị bao phủ trong những tối tăm vô tận, không vướng phải những mâu
thuẫn như những mâu thuẫn mà chúng ta đã nhận ra trong thế giới tự nhiên. Những
gì được biết về nó phù hợp với chính nó; còn những gì chưa biết, chúng ta phải
bằng lòng để nguyên như vậy.
T 1.4.5.2, SBN 232
Quả thật, nếu chúng ta chịu lắng nghe một số triết gia nhất
định, họ hứa sẽ làm giảm sự ngu dốt của chúng ta; nhưng tôi e rằng họ làm như vậy
bằng cái giá là đưa chúng ta vào những mâu thuẫn mà bản thân vấn đề này vốn
không mắc phải. Những triết gia này là những người chuyên suy xét kỹ lưỡng về
những thực thể vật chất hoặc phi-vật chất, mà họ cho rằng những tri giác của
chúng ta vốn là những thuộc tính của những thực thể ấy. Để chấm dứt những tranh
luận bất tận ở cả hai phía, tôi không biết có phương pháp nào tốt hơn là hỏi những
triết gia ấy một cách ngắn gọn: Họ muốn nói gì bằng thực thể và sự vốn có?
Và sau khi họ đã trả lời câu hỏi này, lúc đó — và chỉ lúc đó — việc bước vào tranh
luận một cách nghiêm túc mới là hợp lý.
T 1.4.5.3, SBN 232–3
Chúng ta đã nhận ra rằng câu hỏi này không thể trả lời được
khi nói về vật chất và thân thể. Nhưng ngoài việc, trong trường hợp của não thức,
câu hỏi ấy cũng gặp phải tất cả những khó khăn tương tự, nó còn mang thêm một số
khó khăn khác, vốn riêng có đối với đối tượng này. Vì mỗi ý niệm đều bắt nguồn
từ một ấn tượng có trước, nên nếu chúng ta có bất kỳ ý niệm nào về thực thể của
não thức mình, chúng ta cũng phải có một ấn tượng về nó; mà việc hình dung ra một
ấn tượng như vậy rất khó, nếu không muốn nói là không thể. Bởi làm sao một ấn
tượng có thể biểu thị một thực thể, nếu không phải bằng cách tương tự với thực
thể ấy? Và làm sao một ấn tượng có thể tương tự với một thực thể, khi, theo triết
học này, nó không phải là một thực thể, và không có bất kỳ phẩm tính hay đặc điểm
riêng nào của một thực thể?
T 1.4.5.4, SBN 233
Nhưng gác lại câu hỏi về những gì có thể hoặc không thể
hiện hữu, để chuyển sang câu hỏi khác về những gì thực sự hiện hữu,
tôi muốn những triết gia nào cho rằng chúng ta có một ý niệm về thực thể của
não thức mình hãy chỉ ra ấn tượng tạo ra ý niệm ấy, và nói rõ ấn tượng ấy tác động
theo cách nào, và bắt nguồn từ đối tượng nào. Đó là một ấn tượng của cảm giác
hay của sự tự suy ngẫm? Nó dễ chịu, đau đớn, hay không dễ chịu cũng không đau đớn?
Nó đi kèm với chúng ta vào mọi lúc, hay chỉ trở lại vào những khoảng thời gian
nhất định? Nếu chỉ trở lại vào những khoảng thời gian nhất định, thì chủ yếu nó
trở lại vào những lúc nào, và do những nguyên nhân nào mà nó được tạo ra?
T 1.4.5.5, SBN 233
Nếu thay vì trả lời những câu hỏi này, có ai đó tìm cách
né tránh khó khăn bằng cách nói rằng định nghĩa về một thực thể là “một gì
đó có thể tự mình hiện hữu”; [3] và
rằng định nghĩa này phải đủ để chúng ta thỏa mãn; nếu người ấy nói như vậy, tôi
sẽ nhận xét rằng định nghĩa này phù hợp với bất cứ gì có thể được hình dung, và
sẽ không bao giờ dùng được để phân biệt thực thể với thuộc tính ngẫu nhiên, hay
hồn người với những tri giác của nó. Bởi tôi lập luận như sau. Bất cứ gì được
hình dung một cách rõ ràng đều có thể hiện hữu; và bất cứ gì được hình dung một
cách rõ ràng theo một cách nào đó thì có thể hiện hữu theo chính cách đó. Đây
là một nguyên lý mà chúng ta đã thừa nhận trước đây. Hơn nữa, bất cứ gì khác biệt
đều có thể được phân biệt, và bất cứ gì có thể được phân biệt đều có thể được
tách rời bằng trí tưởng tượng. Đây là một nguyên lý khác. Kết luận của tôi từ cả
hai nguyên lý là: vì tất cả các tri giác của chúng ta đều khác biệt với nhau,
và khác biệt với tất cả những gì khác trong vũ trụ, nên chúng cũng khác biệt và
có thể tách rời, có thể được xem là hiện hữu riêng rẽ, có thể hiện hữu riêng rẽ,
và không cần bất kỳ gì khác để nâng đỡ sự hiện hữu của chúng. Vì vậy, xét theo
mức độ mà định nghĩa này giải thích thực thể là gì, chúng là những thực thể.
T 1.4.5.6, SBN 234
Như vậy, cả bằng cách xét nguồn gốc đầu tiên của những ý
niệm lẫn bằng một định nghĩa, chúng ta đều không thể đi đến một quan niệm thỏa
đáng về thực thể; và theo tôi, đó là lý do đủ để hoàn toàn từ bỏ tranh luận về
tính vật chất và tính phi-vật chất của hồn người, đồng thời khiến tôi dứt khoát
lên án ngay cả câu hỏi ấy. Chúng ta không có một ý niệm hoàn hảo nào về bất cứ
gì ngoài một tri giác. Một thực thể hoàn toàn khác với một tri giác. Vì vậy,
chúng ta không có ý niệm về một thực thể. Người ta giả định rằng sự vốn có nơi
một gì đó là cần thiết để nâng đỡ sự hiện hữu của những tri giác của chúng ta.
Nhưng không có gì tỏ ra là cần thiết để nâng đỡ sự hiện hữu của một tri giác.
Vì vậy, chúng ta không có ý niệm về sự vốn có. Vậy còn khả năng nào để trả lời
câu hỏi Liệu những tri giác có vốn có nơi một thực thể vật chất hay phi-vật
chất hay không, khi chúng ta thậm chí còn không hiểu ý nghĩa của câu hỏi?
T 1.4.5.7, SBN 234–5
Có một lập luận thường được dùng để bênh vực tính phi vật
chất của hồn người mà theo tôi rất đáng chú ý. Bất cứ gì có sự mở rộng trong
không gian đều gồm những phần; và bất cứ gì gồm những phần đều có thể phân
chia, nếu không phải trong thực tại thì ít nhất trong trí tưởng tượng. Nhưng
không thể có chuyện một gì đó có thể phân chia lại được kết hợp với một
tư tưởng hay một tri giác, vốn là một hiện hữu hoàn toàn không thể tách rời và
không thể phân chia. Vì giả sử có sự kết hợp như vậy, tư tưởng không thể phân
chia ấy sẽ hiện hữu ở bên trái hay bên phải của thân thể có sự mở rộng trong
không gian này? Ở bề mặt hay ở giữa? Ở phía sau hay phía trước của nó? Nếu nó được
kết hợp với sự mở rộng trong không gian, nó phải hiện hữu ở đâu đó trong những
kích thước của sự mở rộng ấy. Nếu nó hiện hữu trong những kích thước ấy, thì hoặc
nó phải hiện hữu trong một phần riêng biệt; và khi đó phần riêng biệt ấy là
không thể phân chia, còn tri giác chỉ được kết hợp với phần ấy, chứ
không phải với sự mở rộng trong không gian; hoặc nếu tư tưởng hiện hữu trong từng
phần, thì nó cũng phải có sự mở rộng trong không gian, có thể tách rời và có thể
phân chia như thân thể; và đó là một điều hoàn toàn phi lý và mâu thuẫn. Bởi liệu
có ai có thể hình dung một đam mê dài một yard, rộng một foot và dày một inch
không? Vì vậy, tư tưởng và sự mở rộng trong không gian là những phẩm tính hoàn
toàn không tương thích, và không bao giờ có thể kết hợp với nhau thành một chủ
thể duy nhất.
T 1.4.5.8, SBN 235
Lập luận này không liên quan đến câu hỏi về thực thể
của hồn, mà chỉ liên quan đến câu hỏi về sự kết hợp về vị trí giữa hồn
và vật chất; vì vậy, có lẽ cũng đáng để chúng ta xem xét một cách tổng quát những
đối tượng nào có thể, hoặc không thể, kết hợp với nhau về vị trí.[4]
Đây là một câu hỏi đáng chú ý, và có thể dẫn chúng ta đến những nhận ra có quan
trọng đáng kể.[5]
T 1.4.5.9, SBN 235
Ý niệm đầu tiên về không gian và sự mở rộng trong không
gian bắt nguồn hoàn toàn từ những giác quan thị giác và xúc giác; và không có
gì ngoài những gì có màu hoặc có thể sờ chạm được lại có những phần được sắp xếp
theo cách có thể tạo ra ý niệm ấy. Khi chúng ta làm giảm hoặc tăng một vị giác,
chúng ta không làm như vậy theo cùng một cách với việc làm giảm hoặc tăng một đối
tượng hữu hình; và khi nhiều âm thanh cùng lúc tác động vào thính giác của
chúng ta, thì chỉ có thói quen và sự suy xét mới khiến chúng ta hình thành một
ý niệm về những mức độ xa gần và kề cận trong không gian của những thân thể mà
từ đó những âm thanh ấy phát ra.
Bất cứ gì xác định vị trí của sự hiện hữu của nó thì hoặc
phải có sự mở rộng trong không gian, hoặc phải là một điểm toán học, không có
phần và không có cấu tạo từ nhiều phần. Bất cứ gì có sự mở rộng trong không
gian đều phải có một hình dạng nhất định, chẳng hạn hình vuông, hình tròn hoặc
hình tam giác; nhưng không hình dạng nào trong số đó có thể thuộc về một ham muốn,
hay thực ra thuộc về bất kỳ ấn tượng hoặc ý niệm nào, ngoại trừ những ấn tượng
và ý niệm thuộc về hai giác quan vừa nói trên. Một ham muốn, dù không thể phân
chia, cũng không nên được xem là một điểm toán học. Bởi nếu vậy, thì bằng cách
cộng thêm những ham muốn khác, chúng ta có thể tạo thành hai, ba, bốn ham muốn,
rồi sắp xếp chúng theo một cách nhất định để chúng có một chiều dài, chiều rộng
và chiều dày xác định; mà điều này rõ ràng là phi lý.
T 1.4.5.10, SBN 235–236
Sau những gì đã trình bày, sẽ không có gì đáng ngạc nhiên
nếu tôi đưa ra một nguyên lý mà một số nhà siêu hình học lên án, và xem là trái
với những nguyên lý chắc chắn nhất của lý trí con người. Nguyên lý ấy là: một đối
tượng có thể hiện hữu mà không ở đâu cả (that an object may exist, and yet
be no where); và tôi khẳng định rằng điều này không chỉ có thể xảy ra, mà
phần lớn những thực thể đều hiện hữu theo cách này, và tất yếu phải hiện hữu
theo cách này.[6]
Một đối tượng có thể được nói là không ở đâu cả (be no
where) khi những phần của nó không được đặt trong quan hệ với nhau theo
cách tạo thành bất kỳ hình dạng hay độ lớn nào; đồng thời toàn thể của nó cũng
không được đặt trong quan hệ với những thân thể khác theo cách tương ứng với những
ý niệm của chúng ta về sự kề cận hay khoảng cách. Rõ ràng đây là trường hợp của
tất cả những tri giác và đối tượng của chúng ta, ngoại trừ những tri giác và đối
tượng của thị giác và xúc giác.
Một suy xét đạo đức không thể được đặt ở bên phải hay bên
trái của một đam mê; một mùi hay một âm thanh cũng không thể có hình tròn hay
hình vuông. Những đối tượng và tri giác này, không những không cần một vị trí đặc
biệt nào, mà hoàn toàn không tương thích với vị trí trong không gian; ngay cả
trí tưởng tượng cũng không thể gán một vị trí như vậy cho chúng.
Còn nếu cho rằng thật phi lý khi giả định chúng không ở
đâu cả, chúng ta có thể xét như sau. Nếu những đam mê và cảm thức xuất hiện trước
tri giác của chúng ta như những gì có một vị trí đặc biệt trong không gian, thì
ý niệm về sự mở rộng trong không gian có thể bắt nguồn từ chúng cũng như từ thị
giác và xúc giác; nhưng điều này trái với những gì chúng ta đã xác lập ở trên.
Bởi nếu một đam mê hay một cảm thức được tri giác như có một vị trí trong không
gian, thì chính sự tri giác ấy phải cung cấp cho chúng ta ý niệm về vị trí và sự
mở rộng trong không gian; khi đó, không thể nói rằng ý niệm về sự mở rộng trong
không gian chỉ bắt nguồn từ thị giác và xúc giác.
Ngược lại, nếu những đam mê và cảm thức không xuất hiện
trước tri giác của chúng ta như những gì có một vị trí đặc biệt trong không
gian, thì chúng cũng có thể hiện hữu theo chính cách ấy, nghĩa là hiện hữu mà
không ở đâu cả. Bởi bất cứ gì chúng ta có thể hình dung đều là có thể xảy ra.
T 1.4.5.11, SBN 236–237
Giờ đây sẽ không cần phải chứng minh rằng những tri giác
đơn giản và không ở đâu cả không thể có bất kỳ sự kết hợp về vị trí nào với vật
chất hay thân thể, vốn có sự mở rộng trong không gian và có thể phân chia; bởi
không thể thiết lập một quan hệ nếu không dựa trên một phẩm tính chung nào đó.
Có lẽ đáng để chúng ta chú ý hơn đến việc câu hỏi về sự kết
hợp về vị trí giữa những đối tượng không chỉ xuất hiện trong những tranh luận
siêu hình học về bản tính của hồn người, mà ngay cả trong đời sống thường ngày,
chúng ta cũng liên tục có dịp xem xét nó. Chẳng hạn, giả sử chúng ta xét một quả
sung ở một đầu bàn và một quả ô-liu ở đầu kia. Rõ ràng, khi hình thành những ý
niệm phức hợp về hai thực thể này, một trong những ý niệm rõ ràng nhất là sự
khác nhau về vị giác của chúng; và cũng rõ ràng không kém rằng chúng ta kết hợp
những phẩm tính ấy với những phẩm tính có màu và có thể sờ chạm được. Chúng ta
tự nhiên cho rằng vị đắng của quả này và vị ngọt của quả kia nằm ngay trong những
vật thể có sự mở rộng trong không gian của chúng, và bị ngăn cách với nhau bởi
toàn bộ chiều dài của chiếc bàn. Đây là một ảo tưởng vừa rõ rệt vừa tự nhiên đến
mức thích hợp để xem xét những nguyên lý làm phát sinh nó.
T 1.4.5.12, SBN 237–238
Mặc dù một đối tượng có sự mở rộng trong không gian không
thể có sự kết hợp về vị trí với một đối tượng hiện hữu mà không có vị trí hay sự
mở rộng trong không gian, nhưng chúng vẫn có thể có nhiều quan hệ khác. Chẳng hạn,
vị giác và khứu giác của bất kỳ loại quả nào cũng không thể tách rời khỏi những
phẩm tính khác của nó như màu sắc và khả năng sờ chạm; và dù phẩm tính nào
trong chúng là nguyên nhân hay kết quả của phẩm tính kia, chắc chắn rằng chúng
luôn cùng hiện hữu. Chúng không chỉ cùng hiện hữu nói chung, mà còn xuất hiện
cùng lúc trong não thức; và chính khi thân thể có sự mở rộng trong không gian
tác động vào những giác quan của chúng ta, chúng ta mới nhận biết vị giác và khứu
giác riêng của nó.
Vì vậy, những quan hệ về nhân quả, và về sự kề cận trong
thời gian khi chúng xuất hiện, giữa đối tượng có sự mở rộng trong không gian và
phẩm tính hiện hữu mà không có một vị trí đặc biệt nào, tất yếu tác động lên
não thức theo cách khiến khi một bên xuất hiện, nó lập tức chuyển suy nghĩ của
chúng ta sang việc hình thành ý niệm về bên kia.
Nhưng chưa hết. Chúng ta không chỉ chuyển suy nghĩ từ bên
này sang bên kia do quan hệ giữa chúng, mà còn cố gắng tạo cho chúng một quan hệ
mới, tức là sự kết hợp về vị trí, để làm cho sự chuyển dịch ấy trở nên dễ dàng
và tự nhiên hơn. Đây là một phẩm tính mà tôi sẽ nhiều lần có dịp nhận xét trong
bản tính con người, và sẽ giải thích đầy đủ hơn ở chỗ thích hợp: khi những đối
tượng được liên kết với nhau bởi bất kỳ quan hệ nào, chúng ta có một khuynh hướng
mạnh mẽ muốn thêm vào giữa chúng một quan hệ mới, nhằm hoàn tất sự liên kết giữa
chúng.
Khi sắp xếp những thân thể, chúng ta không bao giờ không
đặt những thân thể tương tự nhau ở gần nhau, hoặc ít nhất cũng đặt chúng vào những
vị trí tương ứng khi nhìn từ một góc độ nhất định. Tại sao? Chẳng phải vì chúng
ta cảm thấy thỏa mãn khi kết hợp quan hệ kề cận với quan hệ tương tự, hoặc sự
tương tự về vị trí với sự tương tự về phẩm tính hay sao?
Những tác động của khuynh hướng này đã được nhận thấy trước
đây trong sự tương tự mà chúng ta dễ dàng giả định giữa những ấn tượng riêng biệt
và những nguyên nhân bên ngoài của chúng. Nhưng chúng ta sẽ không tìm thấy một
tác động nào rõ ràng hơn tác động đang xét: từ những quan hệ nhân quả và kề cận
trong thời gian giữa hai đối tượng, chúng ta cũng tưởng tượng ra quan hệ kết hợp
về vị trí giữa chúng, nhằm làm cho sự liên kết trở nên mạnh hơn.. [7]
T 1.4.5.13, SBN 238
Nhưng dù chúng ta có thể hình thành những quan niệm mơ hồ
nào về sự kết hợp về vị trí giữa một vật thể có sự mở rộng trong không gian, chẳng
hạn một quả sung, và vị giác riêng của nó, thì chắc chắn rằng khi suy xét kỹ,
chúng ta phải nhận ra trong sự kết hợp này một sự hoàn toàn không thể hiểu được
và đầy mâu thuẫn. Nếu chúng ta tự đặt cho mình một câu hỏi rất rõ ràng, vị giác
mà chúng ta hình dung là chứa trong chu vi của vật thể nằm trong tất cả những
phần của nó hay chỉ trong một phần, chúng ta sẽ nhanh chóng lúng túng và nhận
ra rằng không thể đưa ra một câu trả lời thỏa đáng.
Chúng ta không thể trả lời rằng nó chỉ nằm trong một phần.
Bởi kinh nghiệm cho thấy mọi phần đều có cùng một vị giác. Chúng ta cũng không
thể trả lời rằng nó hiện hữu trong tất cả những phần. Bởi khi đó chúng ta phải
giả định rằng vị giác có hình dạng và có sự mở rộng trong không gian; mà đó là
một giả định phi lý và không thể hiểu được.
Ở đây, chúng ta chịu ảnh hưởng của hai nguyên lý hoàn
toàn trái ngược nhau: một bên là khuynh hướng của trí tưởng tượng khiến chúng
ta muốn kết hợp vị giác với đối tượng có sự mở rộng trong không gian; bên kia
là lý trí, vốn cho thấy sự kết hợp như vậy là không thể. Bị giằng co giữa hai
nguyên lý đối nghịch này, chúng ta không từ bỏ bên nào, mà làm cho vấn đề trở
nên rối rắm và tối tăm đến mức không còn nhận ra sự đối lập giữa chúng.
Chúng ta giả định rằng vị giác hiện hữu bên trong chu vi
của vật thể, nhưng theo một cách khiến nó lấp đầy toàn bộ vật thể mà không có sự
mở rộng trong không gian, và hiện hữu trọn vẹn trong từng phần mà không bị phân
chia. Nói ngắn gọn, trong cách suy nghĩ quen thuộc nhất, chúng ta sử dụng một
nguyên lý kinh viện mà khi được phát biểu một cách thô sơ lại có vẻ hết sức khó
chấp nhận: totum in toto & totum in qualibet parte — toàn thể ở
trong toàn thể và toàn thể ở trong từng phần. Điều này cũng gần như nói rằng một
gì đó ở trong một nơi nhất định mà lại không ở đó.[8]
T 1.4.5.14, SBN 238–239
Tất cả sự phi lý này bắt nguồn từ việc chúng ta cố đặt một
vị trí cho một gì đó hoàn toàn không có khả năng có vị trí; và nỗ lực ấy lại bắt
nguồn từ khuynh hướng muốn hoàn tất một sự kết hợp vốn được hình thành từ nhân
quả và sự kề cận trong thời gian, bằng cách gán cho những đối tượng một sự kết
hợp về vị trí.
Nhưng nếu có lúc lý trí đủ mạnh để vượt qua thành kiến,
thì chắc chắn nó phải thắng trong trường hợp hiện tại. Bởi chúng ta chỉ còn một
trong ba khả năng: hoặc phải giả định rằng một số thực thể hiện hữu mà không có
bất kỳ vị trí nào; hoặc phải giả định rằng chúng có hình dạng và có sự mở rộng
trong không gian; hoặc phải giả định rằng khi được kết hợp với những đối tượng
có sự mở rộng trong không gian, toàn thể nằm trong toàn thể và toàn thể nằm
trong từng phần. Sự phi lý của hai giả định sau đã đủ chứng minh tính đúng đắn
của giả định thứ nhất.
Cũng không có một quan điểm thứ tư. Bởi giả định rằng
chúng hiện hữu theo cách của những điểm toán học thực ra quy về giả định thứ
hai, và giả định rằng một số đam mê có thể được đặt thành một hình tròn, và rằng
một số lượng mùi nhất định, kết hợp với một số lượng âm thanh nhất định, có thể
tạo thành một vật thể có thể tích mười hai inch khối. Chỉ cần nói ra giả định ấy
cũng đủ thấy nó lố bịch.
T 1.4.5.15, SBN 239–240
Nhưng mặc dù từ góc nhìn này chúng ta không thể không phê
phán những người duy vật, vì họ kết hợp tất cả tư tưởng với sự mở rộng trong
không gian, thì chỉ cần suy xét thêm một chút cũng cho thấy chúng ta có lý do
không kém để phê phán những đối thủ của họ, vì họ kết hợp tất cả tư tưởng với một
thực thể đơn giản và không thể phân chia.
Triết học thông thường nhất cũng cho chúng ta biết rằng
không có đối tượng bên ngoài nào có thể tự mình được não thức nhận biết một
cách trực tiếp, không qua trung gian của một hình ảnh hay một tri giác. Cái bàn
đang xuất hiện trước tôi lúc này chỉ là một tri giác, và tất cả những phẩm tính
của nó đều là phẩm tính của một tri giác. Giờ đây, phẩm tính rõ ràng nhất trong
tất cả những phẩm tính ấy là sự mở rộng trong không gian.
Tri giác gồm những phần. Những phần ấy được sắp đặt với
nhau theo cách cho chúng ta ý niệm về khoảng cách và sự kề cận, về chiều dài,
chiều rộng và chiều dày. Sự giới hạn của ba chiều này là cái chúng ta gọi là
hình dạng. Hình dạng này có thể chuyển động, có thể tách rời và có thể phân
chia. Khả năng chuyển động và khả năng tách rời là những phẩm tính phân biệt của
những đối tượng có sự mở rộng trong không gian.
Để chấm dứt mọi tranh luận, chính ý niệm về sự mở rộng
trong không gian cũng không được sao chép từ bất cứ gì khác ngoài một ấn tượng,
và vì vậy nó phải hoàn toàn tương ứng với ấn tượng ấy. Nói rằng ý niệm về sự mở
rộng trong không gian tương ứng với một đối tượng nào đó cũng chính là nói rằng
đối tượng ấy có sự mở rộng trong không gian.[9]
T 1.4.5.16, SBN 240
Giờ đây, người có tư tưởng tự do (free-thinker) [10] có thể đến lượt mình chiếm ưu thế; và sau
khi nhận ra rằng thực sự có những ấn tượng và ý niệm có sự mở rộng trong không
gian, người ấy có thể hỏi những đối thủ của mình: làm thế nào họ có thể kết hợp
một chủ thể đơn giản và không thể phân chia với một tri giác có sự mở rộng
trong không gian?
Ở đây, tất cả những lập luận của những nhà gót học đều có
thể quay ngược lại chống chính họ. Chủ thể không thể phân chia — hay thực thể phi-vật
chất, nếu muốn gọi như vậy — nằm ở bên trái hay bên phải của tri giác? Nó nằm
trong phần này hay trong phần kia? Nó hiện diện trong từng phần mà không có sự
mở rộng trong không gian? Hay nó hiện diện trọn vẹn trong một phần mà không rời
bỏ những phần còn lại?
Không thể đưa ra câu trả lời nào cho những câu hỏi này mà
câu trả lời ấy không vừa phi lý ngay trong chính nó, vừa không thể giải thích
được sự kết hợp giữa những tri giác không thể phân chia của chúng ta với một thực
thể có sự mở rộng trong không gian.
T 1.4.5.17, SBN 240
Điều này cho tôi một dịp để xem xét lại vấn đề về thực thể
của hồn người; và mặc dù tôi đã kết luận rằng vấn đề ấy hoàn toàn không thể hiểu
được, tôi vẫn không thể không đưa ra thêm một vài suy xét về nó.
Tôi khẳng định rằng học thuyết về một thực thể tư duy có
tính phi-vật chất, đơn giản và không thể phân chia chính là một hình thức không-tin-có-gót
thực sự, và sẽ dùng để biện minh cho tất cả những quan điểm mà Spinoza vốn
bị lên án rộng rãi. Từ chủ đề này, tôi hy vọng ít nhất thu được một lợi ích: những
đối thủ của tôi sẽ không còn cái cớ để làm cho học thuyết hiện tại trở nên đáng
ghét bằng những lời công kích hùng hồn, khi họ thấy rằng những lời công kích ấy
có thể dễ dàng quay ngược lại chống chính họ.
T 1.4.5.18, SBN 240–1
Nguyên lý nền tảng của thuyết không-tin-có-gót của Spinoza
là học thuyết về sự đơn giản của vũ trụ, và sự thống nhất của thực thể ấy,
trong đó ông cho rằng cả tư tưởng lẫn vật chất đều vốn có.
Ông nói rằng trong thế giới chỉ có một thực thể; và thực
thể ấy hoàn toàn đơn giản, không thể phân chia, và hiện hữu ở mọi nơi mà không
có sự hiện diện ở bất kỳ vị trí nào.
Bất cứ gì chúng ta khám phá bên ngoài bằng cảm giác; bất
cứ gì chúng ta cảm nhận bên trong bằng sự tự suy ngẫm; tất cả những thứ ấy
không là gì khác ngoài những thể cách biến đổi (modifications) của một hữu
thể duy nhất, đơn giản và tất yếu hiện hữu ấy, và không có một sự hiện hữu
riêng biệt hay tách biệt nào.
Mỗi đam mê của hồn người; mỗi cấu hình của vật chất, dù
khác biệt và đa dạng đến đâu, đều vốn có trong cùng một thực thể, và giữ nơi
chính mình những đặc tính làm nên sự khác biệt của chúng, mà không truyền những
đặc tính ấy cho chủ thể nơi chúng vốn có.
Cùng một nền tảng (substratum), nếu tôi có thể
dùng từ này, nâng đỡ những thể cách biến đổi khác biệt nhất, mà bản thân nó
không có bất kỳ sự khác biệt nào; và làm cho chúng biến đổi, mà bản thân nó
không hề có bất kỳ biến đổi nào.
Không thời gian, không không gian, cũng không toàn bộ sự
đa dạng của tự nhiên có thể tạo ra bất kỳ sự hợp thành hay biến đổi nào trong sự
đơn giản và đồng nhất hoàn hảo của nó.[11]
T 1.4.5.19, SBN 241
Tôi tin rằng phần trình bày ngắn gọn này về những nguyên
lý của nhà không-tin-có-gót nổi tiếng ấy là đủ cho mục đích hiện tại, và rằng
không cần đi sâu hơn vào những vùng tối tăm và mơ hồ này, tôi vẫn có thể chỉ ra
rằng giả thuyết đáng sợ này gần như giống với học thuyết về tính phi-vật chất của
hồn người, vốn đã trở nên rất phổ biến.
Để làm rõ điều này, hãy nhớ rằng, vì mỗi ý niệm đều bắt
nguồn từ một tri giác có trước, nên ý niệm của chúng ta về một tri giác và ý niệm
của chúng ta về một đối tượng hay một sự hiện hữu bên ngoài không thể nào biểu
thị những gì khác biệt về loại với nhau. Dù chúng ta có giả định giữa chúng có
sự khác biệt nào đi nữa, sự khác biệt ấy vẫn không thể hiểu được đối với chúng
ta; và chúng ta buộc phải hoặc hình dung một đối tượng bên ngoài đơn thuần như
một quan hệ không có cái được liên hệ, hoặc xem nó hoàn toàn đồng nhất với một
tri giác hay một ấn tượng.
T 1.4.5.20, SBN 241–242
Kết luận mà tôi rút ra từ đây thoạt nhìn có thể giống như
một ngụy biện đơn thuần, nhưng chỉ cần xem xét sơ qua cũng sẽ thấy nó vững chắc
và thỏa đáng.
Tôi nói rằng: vì chúng ta có thể giả định, nhưng không
bao giờ có thể hình dung được, một sự khác biệt về loại giữa một đối tượng và một
ấn tượng, nên bất kỳ kết luận nào chúng ta rút ra về sự kết hợp hay sự trái ngược
giữa những ấn tượng đều không thể được biết một cách chắc chắn là cũng áp dụng
cho những đối tượng; nhưng ngược lại, bất kỳ kết luận nào thuộc loại này mà
chúng ta rút ra về những đối tượng thì chắc chắn sẽ áp dụng cho những ấn tượng.
Lý do không khó hiểu. Vì một đối
tượng được giả định là khác với một ấn tượng, nên nếu chúng ta dựa trên ấn tượng
để suy luận, chúng ta không thể chắc chắn rằng phương diện mà chúng ta dựa vào
để suy luận là chung cho cả hai. Vẫn có thể đối tượng khác với ấn tượng ở chính
phương diện đó.
Nhưng khi trước hết chúng ta
suy luận về đối tượng, thì chắc chắn rằng cùng một suy luận phải áp dụng cho ấn
tượng. Bởi phẩm tính của đối tượng làm cơ sở cho lập luận ít nhất phải được não
thức hình dung; và nó không thể được hình dung nếu không phải là phẩm tính
chung với một ấn tượng, vì chúng ta không có ý niệm nào ngoài những ý niệm bắt
nguồn từ đó.
Vì vậy, chúng ta có thể xác lập
như một châm ngôn chắc chắn rằng: bằng bất kỳ nguyên lý nào, ngoại trừ một kiểu
suy luận từ kinh nghiệm khá bất thường, chúng ta không bao giờ có thể phát hiện
sự kết hợp hay sự trái ngược giữa những đối tượng mà lại không mở rộng đến những
ấn tượng; mặc dù mệnh đề đảo lại có thể không đúng như vậy, tức là không phải mọi
mối quan hệ có thể phát hiện giữa những ấn tượng đều chung với những đối tượng.
T 1.4.5.21, SBN 242–243
Áp dụng điều này vào trường hợp hiện tại: có hai hệ thống
hữu thể khác nhau được trình ra trước tôi, và tôi cho rằng mình buộc phải quy
cho mỗi hệ thống một thực thể, hay một nền tảng của sự vốn có.
Trước hết, tôi quan sát vũ trụ của những đối tượng, hay của
thân thể: mặt trời, mặt trăng và những vì sao; đất đai, biển cả, cây cối, động
vật, con người, tàu thuyền, nhà cửa, và những sản phẩm khác của nghệ thuật hay
tự nhiên.
Ở đây Spinoza xuất hiện và nói với tôi rằng tất cả
những gì ấy chỉ là những thể cách biến đổi; còn chủ thể nơi chúng vốn có thì
đơn giản, không hợp thành và không thể phân chia.
Sau đó, tôi xét đến hệ thống hữu thể khác, tức vũ trụ của
tư tưởng, hay những ấn tượng và ý niệm của tôi. Ở đó, tôi lại nhận thấy một mặt
trời, một mặt trăng và những vì sao khác; một trái đất và những biển cả được
cây cối và động vật che phủ và cư trú; những thành phố, nhà cửa, núi non, sông
ngòi; nói ngắn gọn, tất cả những gì tôi có thể khám phá hoặc hình dung trong hệ
thống thứ nhất.
Khi tôi hỏi về những hữu thể này, các nhà thần học xuất
hiện và nói với tôi rằng chúng cũng là những thể cách biến đổi, và là những thể
cách biến đổi của một thực thể đơn giản, không hợp thành và không thể phân
chia.
Ngay lập tức, tôi bị làm điếc tai bởi tiếng ồn của một
trăm giọng nói: họ đối xử với giả thuyết thứ nhất bằng sự ghê tởm và khinh miệt,
còn đối với giả thuyết thứ hai thì bằng sự tán thưởng và tôn kính.
Tôi hướng sự chú ý vào hai giả thuyết ấy để xem đâu là lý
do của sự thiên vị lớn đến như vậy; và tôi nhận ra rằng cả hai đều mắc cùng một
lỗi: đều không thể hiểu được. Hơn nữa, trong chừng mực chúng ta có thể hiểu
chúng, chúng giống nhau đến mức không thể phát hiện một sự phi lý trong giả
thuyết này mà lại không đồng thời có trong giả thuyết kia.
Chúng ta không có ý niệm nào về một phẩm tính nơi một đối
tượng mà lại không tương ứng với, và có thể biểu thị, một phẩm tính nơi một ấn
tượng; bởi tất cả những ý niệm của chúng ta đều bắt nguồn từ những ấn tượng.
Vì vậy, chúng ta không bao giờ có thể tìm thấy sự trái
ngược giữa một đối tượng có sự mở rộng trong không gian, với tư cách là một thể
cách biến đổi, và một bản chất đơn giản, không hợp thành, với tư cách là thực
thể của nó, trừ khi sự trái ngược ấy cũng xảy ra giữa tri giác hay ấn tượng về
đối tượng có sự mở rộng trong không gian ấy và chính bản chất không hợp thành
đó.
Mỗi ý niệm về một phẩm tính nơi một đối tượng đều phải đi
qua một ấn tượng; và vì vậy, mọi mối quan hệ có thể nhận biết được, dù là sự kết
hợp hay sự trái ngược, đều phải là mối quan hệ chung cho cả đối tượng lẫn ấn tượng.
T 1.4.5.22, SBN 243
Mặc dù lập luận này, khi được xét một cách tổng quát, có
vẻ rõ ràng đến mức không thể nghi ngờ hay mâu thuẫn, nhưng để làm cho nó rõ
ràng và dễ thấy hơn, hãy xét nó từng điểm một; và xem liệu tất cả những điều
phi lý đã được phát hiện trong hệ thống của Spinoza có thể cũng được
phát hiện trong hệ thống của những nhà gót học hay không.
T 1.4.5.23, SBN 243–244
Thứ nhất, người ta đã phản bác Spinoza — theo cách
nói của kinh viện, hơn là theo cách suy nghĩ thực sự — rằng một thể cách biến đổi
(mode), vì không có một sự hiện hữu riêng biệt hay tách rời, phải hoàn
toàn đồng nhất với thực thể của nó; và do đó, sự mở rộng trong không gian của
vũ trụ phải, theo một nghĩa nào đó, được đồng nhất với bản chất đơn giản, không
hợp thành ấy, nơi người ta cho rằng vũ trụ vốn có.
Nhưng người ta có thể lập luận rằng điều này hoàn toàn
không thể xảy ra và không thể hình dung được, trừ khi thực thể không thể phân
chia phải tự mở rộng ra để tương ứng với sự mở rộng trong không gian, hoặc sự mở
rộng trong không gian phải tự co lại để tương ứng với thực thể không thể phân
chia.
Lập luận này có vẻ đúng, trong chừng mực chúng ta có thể
hiểu nó; và rõ ràng không cần gì khác ngoài thay đổi những thuật ngữ là có thể
áp dụng chính lập luận ấy vào những tri giác có sự mở rộng trong không gian của
chúng ta và bản chất đơn giản của hồn người; bởi ý niệm về những đối tượng và ý
niệm về những tri giác xét về mọi phương diện đều giống nhau, chỉ khác ở chỗ
chúng ta giả định giữa chúng có một sự khác biệt mà bản thân chúng ta không biết
và không thể hiểu được.
T 1.4.5.24, SBN 244
Thứ hai, người ta nói rằng chúng ta không có ý niệm nào về
thực thể mà lại không áp dụng được cho vật chất; cũng không có ý niệm nào về một
thực thể riêng biệt mà lại không áp dụng được cho mỗi phần riêng biệt của vật
chất.
Vì vậy, vật chất không phải là một thể cách biến đổi, mà
là một thực thể; và mỗi phần của vật chất không phải là một thể cách biến đổi
riêng biệt, mà là một thực thể riêng biệt.
Tôi đã chứng minh rằng chúng ta không có một ý niệm hoàn
hảo về thực thể; nhưng nếu xem thực thể là “một cái gì đó có thể tự mình hiện hữu”,
thì rõ ràng mỗi tri giác đều là một thực thể, và mỗi phần riêng biệt của một
tri giác cũng là một thực thể riêng biệt. Vì vậy, xét về điểm này, một giả thuyết
cũng gặp chính những khó khăn như giả thuyết kia.
T 1.4.5.25, SBN 244
Thứ ba, người ta phản bác học thuyết về một thực thể đơn
giản duy nhất trong vũ trụ rằng thực thể ấy, vì là nền tảng hay nền tảng của sự
vốn có (substratum) của tất cả mọi thứ, phải đồng thời được biến đổi
thành những hình thức đối lập và không tương thích với nhau.
Hình tròn và hình vuông không thể cùng có nơi một thực thể
vào cùng một thời điểm. Vậy làm thế nào có thể một thực thể duy nhất đồng thời
được biến đổi thành cái bàn vuông kia và cái bàn tròn này?
Tôi cũng đặt chính câu hỏi ấy đối với những ấn tượng về
những cái bàn này, và nhận thấy rằng câu trả lời cũng không thỏa đáng hơn trong
trường hợp này so với trường hợp kia.[12]
T 1.4.5.26, SBN 244–245
Như vậy, dù chúng ta quay về phía nào, những khó khăn ấy
vẫn theo sát chúng ta, và chúng ta không thể tiến thêm một bước nào trong việc
xác lập tính đơn giản và tính phi-vật chất của hồn người mà không đồng thời mở
đường cho một thuyết không-tin-có-gót nguy hiểm và không thể cứu vãn.
Tình hình cũng không khác nếu, thay vì gọi tư tưởng là một
thể cách biến đổi của hồn người, chúng ta gọi nó bằng tên gọi cổ xưa hơn, nhưng
hiện nay lại thời thượng hơn, là một hành động. Bằng hành động,
chúng ta muốn nói gần như cùng một thứ mà người ta thường gọi là một thể cách
trừu tượng; nghĩa là, nói cho đúng, một gì đó không thể được phân biệt cũng
không thể được tách rời khỏi thực thể của nó, và chỉ được hình dung nhờ một sự
phân biệt của lý trí, hay một sự trừu tượng.
Nhưng không đạt được gì từ việc thay đổi thuật ngữ thể
cách biến đổi thành hành động; và nhờ sự thay đổi ấy, chúng ta cũng
không thoát khỏi dù chỉ một khó khăn. Điều này sẽ thấy rõ qua hai nhận xét sau
đây.
T 1.4.5.27, SBN 245–246
Thứ nhất, tôi nhận thấy rằng từ hành động, theo
cách giải thích này, không bao giờ có thể được áp dụng một cách đúng đắn cho bất
kỳ tri giác nào, nếu tri giác ấy được xem là phát sinh từ một não thức hay một
thực thể tư duy.
Tất cả những tri giác của chúng ta đều thực sự khác biệt,
có thể tách rời và có thể phân biệt với nhau, cũng như với tất cả những gì khác
mà chúng ta có thể hình dung; vì vậy, không thể hình dung làm sao chúng có thể
là hành động hay thể cách trừu tượng của bất kỳ thực thể nào.
Thí dụ về sự chuyển động, vốn thường được dùng để cho thấy
tri giác phụ thuộc vào thực thể của nó theo cách một hành động phụ thuộc vào thực
thể, thực ra làm cho vấn đề rối thêm hơn là giúp chúng ta hiểu rõ. Sự chuyển động,
theo mọi biểu hiện, không tạo ra bất kỳ thay đổi thực sự hay bản chất nào nơi
thân thể, mà chỉ làm thay đổi quan hệ của nó với những đối tượng khác.
Nhưng giữa một người vào buổi sáng đang đi dạo trong một
khu vườn cùng những người bạn mà mình thấy dễ chịu, và một người vào buổi chiều
bị nhốt trong một ngục tối, đầy sợ hãi, tuyệt vọng và oán giận, dường như có một
sự khác biệt căn bản, và thuộc một loại hoàn toàn khác với sự thay đổi được tạo
ra nơi một thân thể do sự thay đổi vị trí của nó.
Cũng như từ sự khác biệt và khả năng tách rời của những ý
niệm mà chúng ta kết luận rằng những đối tượng bên ngoài có sự hiện hữu riêng
biệt với nhau, thì khi chính những ý niệm này trở thành đối tượng của chúng ta,
chúng ta cũng phải rút ra cùng một kết luận về chúng, theo lập luận đã trình
bày ở trên.
Ít nhất, phải thừa nhận rằng, vì chúng ta không có ý niệm
nào về thực thể của hồn người, nên chúng ta không thể nói hồn người có thể tiếp
nhận những khác biệt, thậm chí những đối lập, như vậy trong tri giác mà không
có bất kỳ thay đổi căn bản nào; và do đó, chúng ta cũng không bao giờ có thể
nói theo nghĩa nào những tri giác là những hành động của thực thể ấy.
Vì vậy, việc sử dụng từ hành động, không đi kèm với
bất kỳ ý nghĩa nào, thay cho thể cách biến đổi, không làm tăng thêm hiểu
biết của chúng ta, cũng không đem lại bất kỳ lợi ích nào cho học thuyết về tính
phi-vật chất của hồn người.
T 1.4.5.28, SBN 246
Thứ hai, tôi nói thêm rằng nếu cách gọi ấy đem lại bất kỳ
lợi ích nào cho lập trường đó, thì nó cũng phải đem lại một lợi ích tương tự
cho lập trường của thuyết không-tin-có-gót.
Phải chăng những nhà gót học muốn độc quyền từ hành động?
Và chẳng lẽ những người không-tin-có-gót cũng không thể chiếm lấy từ ấy, rồi khẳng
định rằng cây cối, động vật, con người, v.v. chẳng là gì khác ngoài những
hành động riêng biệt của một thực thể đơn giản và phổ quát duy nhất, thực thể ấy
tự thể hiện mình theo một sự tất yếu mù quáng và tuyệt đối?
Bạn sẽ nói rằng điều này hoàn toàn phi lý. Tôi thừa nhận
rằng nó không thể hiểu được; nhưng đồng thời, theo những nguyên lý đã giải
thích ở trên, tôi khẳng định rằng không thể phát hiện bất kỳ sự phi lý nào
trong giả định rằng tất cả những đối tượng khác nhau trong tự nhiên đều là những
hành động của một thực thể đơn giản duy nhất, mà sự phi lý ấy lại không thể áp
dụng cho một giả định tương tự về những ấn tượng và ý niệm.
T 1.4.5.29, SBN 246–247
Từ những giả thuyết về thực thể và sự kết hợp về vị
trí của những tri giác, chúng ta có thể chuyển sang một giả thuyết khác, dễ
hiểu hơn giả thuyết trước và quan trọng hơn giả thuyết sau, đó là giả thuyết về
nguyên nhân của những tri giác.
Theo cách nói thông thường của những trường phái kinh viện,
vật chất và sự chuyển động, dù có biến đổi thế nào, vẫn là vật chất và sự chuyển
động, và chỉ tạo ra sự khác biệt trong vị trí và trạng thái của những đối tượng.
Bạn có chia một thân thể bao nhiêu lần tùy ý, nó vẫn là
thân thể. Bạn đặt nó vào bất kỳ hình dạng nào, kết quả vẫn chỉ là hình dạng,
hay quan hệ giữa những phần. Bạn làm cho nó chuyển động theo bất kỳ cách nào, bạn
vẫn chỉ tìm thấy sự chuyển động, hay một sự thay đổi trong quan hệ.
Thật phi lý khi hình dung rằng, chẳng hạn, chuyển động
theo một vòng tròn chỉ là chuyển động theo một vòng tròn, trong khi chuyển động
theo một hướng khác, chẳng hạn theo một đường elip, lại có thể là một đam mê
hay một suy tư đạo đức; rằng sự va chạm của hai hạt hình cầu lại có thể trở
thành một cảm giác đau đớn, và sự gặp nhau của hai hạt hình tam giác lại có thể
đem lại một khoái cảm.
Vì những sự va chạm, những biến đổi và những sự pha trộn
khác nhau này là những thay đổi duy nhất mà vật chất có thể chịu, và vì những
thay đổi ấy không bao giờ đem lại cho chúng ta bất kỳ ý niệm nào về tư tưởng
hay tri giác, nên người ta kết luận rằng không thể nào tư tưởng lại được gây ra
bởi vật chất.
T 1.4.5.30, SBN 247–248
Ít người có thể cưỡng lại bằng chứng dường như hiển nhiên
của lập luận này; tuy nhiên, không có gì trên đời dễ bác bỏ hơn nó. Chúng ta chỉ
cần suy xét lại điều đã được chứng minh một cách đầy đủ rằng chúng ta không bao
giờ cảm nhận được bất kỳ mối liên hệ nào giữa nguyên nhân và kết quả, và rằng
chỉ nhờ kinh nghiệm về sự kết hợp thường xuyên của chúng, chúng ta mới có thể đạt
tới bất kỳ hiểu biết nào về quan hệ này.
Giờ đây, vì tất cả các đối tượng không đối nghịch nhau đều
có khả năng kết hợp thường xuyên với nhau, và vì không có đối tượng thực sự nào
đối nghịch nhau, tôi đã suy ra từ những nguyên lý này rằng, nếu xét vấn đề a
priori, bất cứ gì cũng có thể tạo ra bất cứ gì, và chúng ta sẽ không bao giờ
phát hiện được một lý do tại sao một đối tượng có thể hoặc không thể là nguyên
nhân của một đối tượng khác, dù sự tương tự giữa chúng lớn đến đâu hay nhỏ đến
đâu.
Điều này hiển nhiên phá hủy lập luận trước đó về nguyên
nhân của tư tưởng hay tri giác. Bởi mặc dù dường như không có bất kỳ mối liên hệ
nào giữa chuyển động và tư tưởng, tình hình cũng giống như vậy đối với tất cả
những nguyên nhân và kết quả khác.
Hãy đặt một vật nặng một pound lên một đầu của một đòn bẩy,
và một vật khác có cùng trọng lượng lên đầu kia; bạn sẽ không bao giờ tìm thấy
nơi những vật này bất kỳ nguyên lý chuyển động nào phụ thuộc vào khoảng cách của
chúng đối với tâm điểm, cũng như không tìm thấy một nguyên lý nào như vậy trong
trường hợp tư tưởng và tri giác.
Vì vậy, nếu bạn định chứng minh a priori rằng một
sự sắp đặt các vật thể như vậy không bao giờ có thể gây ra tư tưởng, bởi dù bạn
xoay chuyển nó theo cách nào, nó cũng chỉ là một sự sắp đặt các vật thể, thì
theo cùng một lối suy luận, bạn cũng phải kết luận rằng nó không bao giờ có thể
tạo ra chuyển động; bởi trong trường hợp này cũng không có mối liên hệ hiển
nhiên nào lớn hơn trong trường hợp kia.
Nhưng vì kết luận sau này trái với kinh nghiệm hiển
nhiên, và vì có thể chúng ta cũng có một kinh nghiệm tương tự trong những hoạt
động của não thức, và có thể nhận thấy một sự kết hợp thường xuyên giữa tư tưởng
và chuyển động, nên bạn đã suy luận quá vội vàng khi, chỉ từ việc xem xét các ý
niệm, kết luận rằng chuyển động không thể nào tạo ra tư tưởng, hay rằng một sự
sắp đặt khác nhau của các phần không thể làm phát sinh một đam mê hay một sự phản
tỉnh khác.
Hơn nữa, không chỉ có khả năng chúng ta có một kinh nghiệm
như vậy, mà chắc chắn chúng ta đã có nó; bởi bất cứ ai cũng có thể nhận thấy rằng
những trạng thái khác nhau của thân thể mình làm thay đổi những tư tưởng và cảm
thức của mình.
Và nếu có ai nói rằng điều này phụ thuộc vào sự kết hợp
giữa hồn người và thân thể, tôi sẽ đáp rằng chúng ta phải tách câu hỏi về thực
thể của não thức khỏi câu hỏi về nguyên nhân của tư tưởng nơi nó; và rằng, nếu
chỉ giới hạn mình vào câu hỏi sau, chúng ta thấy, bằng cách so sánh các ý niệm
của chúng, rằng tư tưởng và chuyển động khác nhau với nhau, còn bằng kinh nghiệm,
chúng ta thấy rằng chúng luôn kết hợp với nhau.
Vì đây là tất cả những hoàn cảnh cấu thành ý niệm về
nguyên nhân và kết quả, khi ý niệm ấy được áp dụng vào những hoạt động của vật
chất, nên chúng ta có thể chắc chắn kết luận rằng chuyển động có thể là, và thực
sự là, nguyên nhân của tư tưởng và tri giác.
T 1.4.5.31, SBN 248–249
Dường như trong trường hợp hiện tại, chúng ta chỉ còn lại
một thế lưỡng nan: hoặc khẳng định rằng không gì có thể là nguyên nhân của một
gì khác, trừ khi não thức có thể nhận thấy mối liên hệ trong ý niệm của nó về
các đối tượng; hoặc cho rằng tất cả các đối tượng mà chúng ta thấy thường xuyên
kết hợp với nhau đều phải được xem là nguyên nhân và kết quả.
Nếu chúng ta chọn vế thứ nhất của thế lưỡng nan này, thì
đây là những hệ quả.
Thứ nhất, trên thực tế chúng ta khẳng định rằng trong vũ
trụ không có một thứ gì như một nguyên nhân hay một nguyên lý tạo tác, ngay cả
chính Gót; bởi ý niệm của chúng ta về Hữu thể tối cao ấy bắt nguồn từ những ấn
tượng riêng biệt, mà không ấn tượng nào trong số đó chứa đựng bất kỳ năng lực
tác động nào, hay dường như có bất kỳ mối liên hệ nào với bất kỳ
sự hiện hữu nào khác.
Đối với điều có thể được nói rằng mối liên hệ giữa ý niệm
về một hữu thể có quyền năng vô hạn và ý niệm về bất kỳ kết quả nào mà nó muốn
là tất yếu và không thể tránh khỏi, tôi trả lời rằng chúng ta không có ý niệm
nào về một hữu thể được ban cho bất kỳ năng lực nào, lại càng không có ý niệm về
một hữu thể được ban cho năng lực vô hạn.
Nhưng nếu chúng ta muốn thay đổi cách diễn đạt, thì chúng
ta chỉ có thể định nghĩa năng lực bằng mối liên hệ; và khi đó, khi nói rằng ý
niệm về một hữu thể có quyền năng vô hạn có mối liên hệ với ý niệm về mọi kết
quả mà nó muốn, chúng ta thực sự không làm gì hơn ngoài việc khẳng định rằng một
hữu thể mà ý chí của nó có mối liên hệ với mọi kết quả thì có mối liên hệ với mọi
kết quả; đây là một mệnh đề đồng nhất, và không cho chúng ta hiểu thêm gì về bản
tính của năng lực hay mối liên hệ ấy.
Thứ hai, giả sử rằng Gót là nguyên lý vĩ đại và hữu hiệu,
cung cấp phần còn thiếu nơi tất cả các nguyên nhân, thì điều này dẫn chúng ta đến
những sự bất kính và phi lý thô thiển nhất.
Bởi cũng chính vì lý do khiến chúng ta viện đến Ngài
trong những hoạt động của tự nhiên, và khẳng định rằng vật chất không thể tự
mình truyền chuyển động hay tạo ra tư tưởng, tức là vì không có mối liên hệ hiển
nhiên giữa những đối tượng ấy, mà tôi nói rằng, cũng chính vì lý do ấy, chúng
ta phải thừa nhận rằng Gót là tác giả của tất cả những ý chí và tri giác của
chúng ta; bởi chúng cũng không có mối liên hệ hiển nhiên nào với nhau, cũng như
không có mối liên hệ hiển nhiên nào với thực thể được giả định nhưng chưa được
biết của hồn người.
Chúng ta biết rằng sự tác động này của Hữu thể tối cao đã
được một số triết gia khẳng định đối với tất cả những hoạt động của não thức,
ngoại trừ ý chí, hay đúng hơn, ngoại trừ một phần không đáng kể của ý chí; mặc
dù rất dễ nhận thấy rằng ngoại lệ này chỉ là một cái cớ để tránh những hệ quả
nguy hiểm của học thuyết ấy.
Nếu không có gì là chủ động ngoài cái có một năng lực hiển
nhiên, thì tư tưởng trong không trường hợp nào chủ động hơn vật chất; và nếu sự
không chủ động này buộc chúng ta phải viện đến một vị thần, thì Hữu thể tối cao
chính là nguyên nhân thực sự của tất cả những hành động của chúng ta, dù xấu
hay tốt, dù xấu xa hay có đạo đức. [13]
T 1.4.5.32 — SBN 249–250
Vì vậy, chúng ta tất yếu phải quay sang vế kia của thế lưỡng
nan, tức là: tất cả các đối tượng mà chúng ta thấy thường xuyên kết hợp với
nhau, chỉ vì lý do ấy mà phải được xem là nguyên nhân và kết quả. [14]
Giờ đây, vì tất cả các đối tượng không đối nghịch nhau đều có thể có sự kết hợp
thường xuyên, và vì không có đối tượng thực sự nào đối nghịch nhau, nên từ những
nguyên lý ấy, chúng ta phải kết luận rằng, xét theo những gì chúng ta có thể
xác định chỉ bằng các ý niệm, bất cứ gì cũng có thể là nguyên nhân hay kết quả
của bất cứ gì; và điều này rõ ràng đem lại lợi thế cho những người duy vật hơn
là cho những đối thủ của họ.
T 1.4.5.33 — SBN 250
Vậy, để đưa ra phán quyết cuối cùng về toàn bộ vấn đề,
câu hỏi về thực thể của hồn người hoàn toàn không thể hiểu được. Tất cả các tri
giác của chúng ta đều không thể có sự kết hợp về vị trí, dù với những gì có sự
mở rộng trong không gian hay với những gì không có sự mở rộng trong không gian;
bởi trong số chúng, có những tri giác thuộc loại này và có những tri giác thuộc
loại kia. Và vì sự kết hợp thường xuyên của các đối tượng cấu thành chính bản
chất của nguyên nhân và kết quả, nên vật chất và chuyển động có thể thường
xuyên được xem là những nguyên nhân của tư tưởng, trong chừng mực chúng ta có bất
kỳ ý niệm nào về quan hệ ấy [15]
T 1.4.5.34 — SBN 250
Chắc chắn rằng thật không xứng đáng với triết học — mà
quyền uy tối cao của nó phải được thừa nhận ở khắp mọi nơi — khi buộc triết học,
trong mọi trường hợp, phải xin lỗi về những kết luận của mình và phải tự biện
minh trước từng ngành nghệ thuật và khoa học có thể cảm thấy bị xúc phạm bởi những
kết luận ấy. Tình trạng này khiến người ta nhớ đến một vị vua bị đưa ra xét xử
vì tội phản quốc đối với thần dân của mình.
Chỉ có một trường hợp mà triết học sẽ cho rằng việc tự biện
minh là cần thiết, thậm chí là đáng danh dự; đó là khi tôn giáo dường như bị
xúc phạm dù chỉ ở mức nhỏ nhất. Quyền của tôn giáo cũng thân thiết với triết học
như quyền của chính triết học; thực ra, hai thứ ấy là một.
Vì vậy, nếu có ai cho rằng những lập luận vừa trình bày
theo bất kỳ cách nào đó nguy hiểm cho tôn giáo, tôi hy vọng rằng lời biện hộ
sau đây sẽ xua tan những lo ngại của người ấy.
T 1.4.5.35 — SBN 250–251
Không có cơ sở nào để rút ra bất kỳ kết luận nào a priori
liên quan đến những hoạt động hay thời gian hiện hữu của bất kỳ đối tượng nào
mà não thức con người có thể hình thành một quan niệm về nó. Bất kỳ đối tượng
nào cũng có thể được hình dung là trở nên hoàn toàn không hoạt động, hoặc bị hủy
diệt trong một khoảnh khắc; và có một nguyên lý hiển nhiên rằng: bất cứ gì
chúng ta có thể hình dung đều có thể xảy ra.
Giờ đây, điều này không đúng với vật chất hơn là với tinh
thần; cũng không đúng với một thực thể có sự mở rộng trong không gian và hợp
thành hơn là với một thực thể đơn giản và không có sự mở rộng trong không gian.
Vì vậy, trong cả hai trường hợp, những lập luận siêu hình
học về tính bất tử của hồn người đều không đủ sức kết luận; và trong cả hai trường
hợp, những lập luận đạo đức và những lập luận rút ra từ sự tương tự của tự
nhiên đều mạnh mẽ và có sức thuyết phục như nhau.
Vì vậy, nếu triết học của tôi không thêm được gì vào những
lập luận ủng hộ tôn giáo, thì ít nhất tôi cũng có được sự hài lòng khi nghĩ rằng
nó không lấy đi bất cứ gì khỏi những lập luận ấy, mà mọi thứ vẫn còn nguyên vẹn
chính xác như trước.[16]
[CHÚ THÍCH ]
T 1.4.5.11n43, SBN 236
43. Phần I, Mục 5.
T 1.4.5.12n44, SBN 237
44. Mục 2, về cuối.
T 1.4.5.19n45, SBN 241
45. Phần II, Mục 6.
T 1.4.5.20n46, SBN 242
46. Chẳng hạn, như lập luận trong Mục 2 [Về sự hoài nghi
liên quan đến các giác quan], dựa trên sự nhất quán của các tri giác của chúng
ta.
T 1.4.5.22n47, SBN 243
47. Xem từ điển của Bayle, mục Spinoza.
T 1.4.5.30n48, SBN 247
48. Phần III, Mục 15.
T 1.4.5.31n49, SBN 249
49. Như cha Malebranche và những người theo phái
Cartesian khác.
Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ hai
(Jun/2026)
(Còn tiếp... →)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1] Về bản chất tinh thần của con người: với
hai khái niệm : immateriality — tính phi-vật chất soul — hồn người
(vẫn dịch là “linh hồn”)
Ở đây
cần phân biệt hai tầng của vấn đề. Ở tầng thứ nhất là quan niệm siêu hình học–gót
học về hồn người. The immateriality of the soul chỉ quan niệm rằng hồn
người là một thực thể phi-vật chất, thuần tinh thần, không phải một vật thể và
không thuộc về thế giới vật chất theo cách những vật thể thuộc về nó. Trong
truyền thống Kitô giáo, tính phi-vật chất của hồn người gắn với quan niệm rằng
hồn người không hoàn toàn phụ thuộc vào thân thể vật chất. Từ tiền đề ấy, cùng
với những tiền đề khác, người ta có thể đi đến quan niệm rằng hồn người có thể
tồn tại sau cái chết của thân thể và có tính bất tử. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng
tính phi-vật chất tự nó không đồng nghĩa với tính bất tử; giữa hai khẳng định ấy
còn có những tiền đề trung gian cần được xác lập.
Ở tầng
thứ hai là phê phán của Hume. Hume không bắt đầu bằng câu hỏi hồn người có bất
tử hay không. Ông lùi lại trước đó, để chất vấn chính tiền đề làm nền cho lập
luận siêu hình học nói trên: hồn người có thực sự là một “thực thể phi-vật chất”
hay không, và chúng ta có một ý niệm xác định được về thực thể ấy hay không? Nếu
những tri giác của chúng ta được cho là vốn có nơi một thực thể vật chất hoặc
phi-vật chất, thì trước hết phải làm rõ substance — thực thể — và inhesion
— sự vốn có, tính cố hữu — nghĩa là gì. Hume sau đó đưa vào nguyên lý căn bản của
mình: mỗi ý niệm đều bắt nguồn từ một ấn tượng có trước. Vì vậy, nếu chúng ta
nói rằng mình có một ý niệm về thực thể của hồn người, thì phải có một ấn tượng
tương ứng làm nguồn gốc cho ý niệm ấy. Nhưng chúng ta có thể chỉ ra ấn tượng
nào tương ứng với “thực thể của hồn người”? Nếu không thể chỉ ra một ấn tượng
như vậy, thì chính ý niệm về hồn người với tư cách một thực thể đã trở thành vấn
đề.
Như vậy,
Hume không đơn giản kết luận rằng “hồn người không tồn tại” hay “hồn người
không bất tử”. Ông chất vấn một tầng căn bản hơn: liệu chúng ta có thực sự có
thể hình thành và xác định một ý niệm về “hồn người” với tư cách một thực thể
phi-vật chất hay không? Nếu tiền đề ấy không thể được xác lập, thì việc lấy
tính phi-vật chất của hồn người làm cơ sở để nói rằng hồn người có thể tồn tại
độc lập với thân thể, rồi từ đó đi đến tính bất tử, cũng không còn đứng vững
như một lập luận đã được chứng minh. Vì thế, trong đoạn này, trọng tâm của Hume
chưa phải là sự bất tử của hồn người, mà là cơ sở của khái niệm “thực thể” và
“sự vốn có”, và qua đó là khả năng hình thành một ý niệm rõ ràng và xác định được
về hồn người như một thực thể phi-vật chất.
Xem thêm > David Hume. Về Sự Bất Tử Của Hồn Người
(Of the Immortality of the Soul), bản tôi tạm dịch trênblog này> https://chuyendaudau.blogspot.com/2026/06/hume-ve-su-bat-tu-cua-hon-nguoi.html. > VÀ giải thích (chủ quan) của tôi > [ tôi
sử dụng cách dịch “soul” trong những văn bản triết học và văn học phương Tây (đặc
biệt trong truyền thống Kitô giáo) là “hồn người”, nhằm giữ đúng phạm vi khái
niệm vốn mang tính cá nhân, nhị nguyên và gắn với con người như một chủ thể đạo
đức – siêu hình. Cách dịch này phản ánh trực tiếp nội hàm của “soul” trong bối
cảnh nguyên thủy của nó.
Ngược lại, tôi không sử dụng cách dịch phổ thông “linh hồn”,
vì thuật ngữ này trong Hán–Việt và truyền thống tư tưởng Đông Á mang một phổ
nghĩa rộng hơn, bao gồm cả yếu tố linh thiêng, sinh khí và tính lan tỏa trong tự
nhiên, do đó không tương ứng một cách chặt chẽ với cấu trúc khái niệm “soul”
trong tư tưởng phương Tây Kitô giáo. Nói cách khác, lựa chọn dịch thuật này nhằm
tránh sự đồng nhất hóa sai lệch giữa hai hệ hình triết học khác nhau.]
[2] internal
perceptions — những tri giác bên trong
Trong
triết học của Hume, perception là thuật ngữ bao quát chỉ tất cả những gì
xuất hiện trước não thức, bao gồm cả ấn tượng và ý niệm. Vì vậy, internal
perceptions không chỉ một “thế giới bên trong” hay một không gian nội tâm,
mà chỉ những tri giác thuộc về hoạt động bên trong của não thức, được Hume đặt
đối lập với những đối tượng bên ngoài mà những hệ thống triết học về vật chất
tìm cách giải thích. Khi nói về our internal perceptions, Hume đang hướng
sự khảo sát vào chính những tri giác mà chúng ta có, rồi từ đó đặt câu hỏi về bản
tính của não thức và về thực thể mà người ta cho rằng những tri giác ấy vốn có
nơi đó. Do đó, dịch internal perceptions là “những tri giác bên trong” vừa
giữ sát nguyên văn, vừa tránh đưa vào thuật ngữ “nội tại” một sắc thái kỹ thuật
mà Hume không nhất thiết hàm ý.
[3] something which may exist by itself — “một gì
đó có thể tự mình hiện hữu”: cách Hume nêu định nghĩa về substance mà
ông đang phê phán; theo định nghĩa này, bất cứ gì có thể được hình dung là hiện
hữu riêng rẽ đều có thể được xem là một thực thể.
[4] Trong ngữ cảnh này, local conjunction chỉ sự kết
hợp về vị trí trong không gian giữa hồn người và thân thể vật chất mà hồn được
giả định là kết hợp với. Vấn đề không đơn giản là hồn và thân thể có quan hệ với
nhau, mà là: nếu hồn không có sự mở rộng trong không gian, không có phần và
không thể phân chia, còn thân thể có sự mở rộng trong không gian, gồm nhiều phần
và có thể phân chia, thì hồn kết hợp với thân thể ở đâu và theo cách nào? Chính
vấn đề này được Hume làm nổi bật trong T 1.4.5.7 khi ông lần lượt hỏi liệu tư
tưởng không thể phân chia nằm ở bên trái hay bên phải của thân thể, trên bề mặt
hay ở giữa, phía trước hay phía sau.
Vấn đề này đặc biệt quan trọng đối với thuyết nhị nguyên
Descartes (Cartesian dualism), theo đó hồn và thân thể là hai loại thực
thể khác nhau về bản tính: res cogitans — thực thể tư duy — không có sự
mở rộng trong không gian, còn res extensa — thực thể có sự mở rộng trong
không gian — chiếm chỗ trong không gian. Nếu hai thực thể này hoàn toàn khác
nhau về bản tính, thì làm sao chúng có thể tác động lẫn nhau và tạo thành sự kết
hợp giữa hồn và thân thể trong cùng một con người? Vì vậy, câu hỏi về local
conjunction làm lộ ra một điểm yếu căn bản của thuyết nhị nguyên: một thực
thể không có sự mở rộng trong không gian có thể có một quan hệ về vị trí với một
thực thể có sự mở rộng trong không gian hay không? Hume không dùng vấn đề này để
chứng minh trực tiếp rằng hồn là vật chất, cũng không dùng nó để chứng minh rằng
hồn không hiện hữu. Ông cho thấy rằng, nếu đã phân biệt hồn và thân thể thành
hai loại thực thể hoàn toàn khác nhau, thì chính sự kết hợp giữa chúng trở
thành một vấn đề mà học thuyết ấy phải giải thích.
[5] Ba đoạn này tạo thành một bước chuyển quan trọng trong lập
luận của Hume về hồn người. Ở T 1.4.5.6, sau khi đã xem xét cả nguồn gốc của những
ý niệm lẫn định nghĩa về thực thể, Hume kết luận rằng chúng ta không có một ý
niệm thỏa đáng về substance — thực thể — cũng như về inhesion — sự
vốn có, tính cố hữu. Vì vậy, câu hỏi liệu những tri giác của chúng ta có “vốn
có” nơi một thực thể vật chất hay phi-vật chất thực ra dựa trên những khái niệm
mà chúng ta chưa xác định được ý nghĩa. Hume không thể trả lời câu hỏi ấy,
không phải vì ông đã chứng minh rằng hồn người là vật chất hay phi-vật chất, mà
vì ông cho rằng chúng ta thậm chí chưa có đủ ý niệm để hiểu rõ câu hỏi đang được
đặt ra.
T 1.4.5.7 chuyển sang một lập luận khác, thường được dùng
để bênh vực tính phi-vật chất của hồn người. Lập luận này không bắt đầu từ bản
tính của “thực thể” mà từ sự khác biệt giữa sự mở rộng trong không gian và tư
tưởng. Một vật có sự mở rộng trong không gian thì gồm những phần và vì thế có
thể phân chia; trái lại, một tư tưởng hay một tri giác không có những phần
không gian nên không thể phân chia theo cách một thân thể có sự mở rộng trong
không gian có thể phân chia. Từ đó nảy sinh khó khăn: nếu một tư tưởng không có
sự mở rộng trong không gian lại được kết hợp với một thân thể có sự mở rộng
trong không gian, thì tư tưởng ấy phải ở đâu trong thân thể — bên trái hay bên
phải, ở bề mặt hay ở giữa, ở phía trước hay phía sau? Nếu nói nó hiện hữu trong
một phần của thân thể, thì nó chỉ được kết hợp với phần ấy chứ không phải với
toàn bộ sự mở rộng trong không gian; còn nếu nói nó hiện hữu trong từng phần,
thì bản thân tư tưởng cũng phải có sự mở rộng trong không gian và có thể phân
chia. Hume cho rằng cả hai khả năng đều dẫn đến mâu thuẫn. Vì vậy, tư tưởng và
sự mở rộng trong không gian không thể cùng thuộc về một chủ thể theo cách mà lập
luận này giả định.
Nhưng ở T 1.4.5.8, Hume lập tức giới hạn phạm vi của lập
luận ấy. Lập luận trên không giải quyết câu hỏi về thực thể của hồn người; nó
chỉ giải quyết một câu hỏi hẹp hơn, đó là liệu hồn người có thể có local
conjunction — sự kết hợp về vị trí — với vật chất hay không. Nói cách khác,
lập luận ấy có thể cho thấy khó khăn trong việc đặt một tư tưởng không có sự mở
rộng trong không gian vào một thân thể có sự mở rộng trong không gian, nhưng nó
chưa cho chúng ta biết hồn người tự nó là gì, cũng chưa chứng minh được rằng hồn
người là một thực thể phi-vật chất. Vì thế, Hume chuyển sang một vấn đề tổng
quát hơn: những loại đối tượng nào có thể kết hợp về vị trí với nhau, và những
loại nào không thể? Chính sự chuyển hướng này cho thấy Hume đang tách hai câu hỏi
thường bị nhập làm một: hồn người là thực thể gì, và một tư tưởng hay tri giác
có thể đứng trong quan hệ không gian với vật chất hay không. Lập luận về tính
phi-vật chất chỉ trực tiếp tác động đến câu hỏi thứ hai.
[6] that an object may exist, and yet be no
where — “một đối tượng có thể hiện hữu mà không ở đâu
cả”: Đây là một mệnh đề then chốt trong lập luận của Hume, nhưng không phải là
một ý tưởng hoàn toàn mới do ông tự đặt ra. Nó thuộc về một tranh luận lâu đời
trong siêu hình học phương Tây về hiện hữu và vị trí trong không gian: một cái
gì hiện hữu có nhất thiết phải ở một nơi nào đó hay không? Trong truyền thống gắn
với quan niệm về vật thể có sự mở rộng trong không gian, người ta thường có xu
hướng đồng nhất hiện hữu trong không gian với hiện hữu nói chung. Vấn đề trở
nên đặc biệt gay gắt trong triết học về hồn người, nhất là từ thuyết nhị nguyên
của Descartes: nếu hồn là một thực thể không có sự mở rộng trong không gian,
còn thân thể là một thực thể có sự mở rộng trong không gian, thì hai bên có thể
kết hợp với nhau về vị trí hay không? Hume tiếp nhận chính vấn đề này và đẩy nó
đến một kết luận triệt để hơn: không phải tất cả những gì hiện hữu đều phải có
một vị trí trong không gian.
Nguồn tư tưởng gần với lập luận của Hume đặc biệt đáng
chú ý là Pierre Bayle, người đã bàn rất sâu về khó khăn trong việc xác lập một
quan hệ về vị trí giữa tinh thần và thân thể. Nghiên cứu về nguồn của Treatise
1.4.5 cho thấy phần đầu của mục này, chứ không chỉ phần Hume bàn về Spinoza, có
sự liên hệ đáng kể với Bayle, đặc biệt với Réponse aux questions d’un
provincial. Tuy nhiên, Hume không đơn giản lặp lại Bayle. Ông đưa vấn đề
vào trong thuyết kinh nghiệm về tri giác của mình: nếu ý niệm về không gian và
sự mở rộng trong không gian chỉ bắt nguồn từ thị giác và xúc giác, thì những
tri giác như âm thanh, mùi, đam mê hay suy xét đạo đức không những không có vị
trí trong không gian mà còn không cần có vị trí trong không gian để hiện hữu.
Vì vậy, câu “một đối tượng có thể hiện hữu mà không ở đâu
cả” có ý nghĩa sâu hơn việc nói rằng một số tri giác không có vị trí. Hume đang
phá vỡ một giả định siêu hình học căn bản: hiện hữu không đồng nghĩa với hiện hữu
ở một nơi nào đó. Từ đó, ông có thể giải thích tại sao một tri giác có thể hiện
hữu mà không cần một “nơi” hay một thực thể làm chỗ chứa cho nó, đồng thời đặt
lại vấn đề về khả năng kết hợp về vị trí giữa hồn và thân thể. Chính bước chuyển
này dẫn trực tiếp sang lập luận tiếp theo của Hume về những tri giác “đơn giản
và không ở đâu cả” và sự bất khả của việc chúng kết hợp về vị trí với một thân
thể có sự mở rộng trong không gian.
[7] Ở đây Hume chuyển từ việc phủ nhận khả
năng kết hợp về vị trí giữa tri giác và thân thể sang giải thích một vấn đề
khác: tại sao trong đời sống thường ngày chúng ta lại tự nhiên tưởng rằng những
tri giác như vị giác hay khứu giác nằm ngay trong vật thể mà chúng ta nhìn thấy
và sờ chạm được. Theo Hume, một tri giác đơn giản có thể hiện hữu mà không có vị
trí trong không gian; vì vậy, nó không thể thực sự có sự kết hợp về vị trí với
một thân thể có sự mở rộng trong không gian. Một quan hệ về vị trí chỉ có thể
hình thành giữa những gì có một phẩm tính chung về không gian.
Thế nhưng trong kinh nghiệm, chúng ta luôn cảm thấy vị ngọt
nằm trong quả sung, vị đắng nằm trong quả ô-liu, như thể những phẩm tính ấy
cùng nằm trong chính thân thể hữu hình của chúng. Hume cho rằng đây không phải
là một sự kết hợp thực sự về vị trí, mà là một cách gán ghép tự nhiên của não
thức. Vật thể và vị giác không có cùng vị trí trong không gian, nhưng chúng có
những quan hệ khác: chúng cùng hiện hữu, xuất hiện cùng lúc trong não thức, và
có quan hệ nhân quả với nhau. Những quan hệ ấy khiến khi một bên xuất hiện,
chúng ta tự nhiên chuyển suy nghĩ sang bên kia.
Từ đó phát sinh một khuynh hướng đặc biệt của bản tính
con người: khi hai đối tượng đã được liên kết bởi một quan hệ, chúng ta có xu
hướng thêm vào giữa chúng một quan hệ khác để làm cho sự liên kết trở nên trọn
vẹn hơn. Trong trường hợp này, từ quan hệ nhân quả và kề cận trong thời gian giữa
vật thể và vị giác, chúng ta tưởng tượng thêm một sự kết hợp về vị trí giữa
chúng. Vì thế, chúng ta tưởng rằng vị giác “nằm trong” vật thể, mặc dù bản thân
vị giác không có vị trí trong không gian.
Đây là điểm quan trọng trong phương pháp của Hume: ông
không chỉ phủ nhận một niềm tin; ông tìm ra nguyên lý của bản tính con người
khiến niềm tin ấy hình thành một cách tự nhiên. Ảo tưởng về việc những phẩm
tính như vị giác và khứu giác “nằm trong” vật thể không phải là một sai lầm ngẫu
nhiên, mà phát sinh từ chính cách những quan hệ giữa những tri giác tác động
lên não thức.
[8] Nguyên lý kinh viện — totum in toto & totum in qualibet parte (toàn thể ở trong
toàn thể và toàn thể ở trong từng phần)
Công thức này không phải là một nguyên lý do Hume tự đặt
ra để dễ dàng bác bỏ. Nó có một lịch sử lâu dài trong triết học về linh hồn. Một
nguồn quan trọng của công thức là Augustine (Augustinus). Trong De Trinitate
VI, 6, 8, Augustine nói rằng linh hồn, khác với thân thể vốn được phân bố theo
khối lượng trong không gian, “in toto tota est et in qualibet parte eius tota
est” — toàn thể linh hồn ở trong toàn thể thân thể và toàn thể linh hồn ở trong
từng phần của thân thể. Ý ông không phải là linh hồn bị chia thành nhiều phần rồi
phân bố vào những phần của thân thể; ngược lại, linh hồn là một thực tại không
được chia theo sự phân chia không gian của thân thể.
Lập trường này được Thomas Aquinas tiếp nhận và phân tích
rất kỹ trong học thuyết về linh hồn như forma substantialis — hình thức
bản thể của thân thể. Trong Summa contra Gentiles II, 72, Aquinas viết
rõ: “anima[m] totam in toto corpore esse, et totam in singulis partibus”
— toàn thể linh hồn ở trong toàn thể thân thể và ở trong từng phần. Ông giải
thích rằng linh hồn không phải là một vật thể có thể chia theo lượng; vì là
hình thức bản thể của thân thể, linh hồn hiện diện toàn vẹn trong toàn thể thân
thể và trong từng phần của nó. Aquinas còn phân biệt toàn thể theo lượng với
toàn thể theo bản chất: một vật thể có thể bị chia thành những phần theo lượng,
nhưng một hình thức không có sự mở rộng trong không gian không bị chia theo
cách ấy.
Vì vậy, khi Hume gọi đây là một “nguyên lý kinh viện”,
ông đang đối diện với một lập trường triết học có cơ sở rõ ràng, đặc biệt trong
truyền thống Augustinian và Thomistic. Hơn nữa, lập trường này không chỉ được
nêu ra như một công thức mà còn có một lý do triết học phía sau: linh hồn không
phải là một vật thể được phân bố trong không gian; vì vậy, sự phân chia của
thân thể không kéo theo sự phân chia của linh hồn. Aquinas thậm chí còn đối diện
trực tiếp với những phản bác rất gần với vấn đề Hume nêu ra: nếu toàn thể linh
hồn hiện diện trong từng phần thân thể, liệu có phải mỗi phần đều chứa toàn bộ
những năng lực của linh hồn hay không? Câu trả lời của ông là phải phân biệt giữa
toàn thể bản chất của linh hồn và những năng lực của linh hồn, vốn có những
tương quan khác nhau với những phần của thân thể.
Đây chính là điểm làm cho lập luận của Hume đáng chú ý.
Ông không dựng lên một phiên bản đơn giản hóa rồi đánh bại nó. Ông lấy một
nguyên lý đã được sử dụng nghiêm túc để giải thích sự hiện diện của linh hồn
trong thân thể, rồi đặt nó vào một trường hợp khác: vị giác trong quả sung. Nếu
vị giác không có sự mở rộng trong không gian mà vẫn được cho là “ở trong” thân
thể có sự mở rộng, thì ta phải nói nó ở trong toàn thể thân thể và đồng thời ở
trong từng phần của thân thể. Hume cho rằng khi nguyên lý ấy được chuyển sang
trường hợp này, sự căng thẳng vốn có trong cách nói ấy trở nên không thể che giấu.
Chính Hume cũng ghi rõ rằng sự phi lý phát sinh từ “our endeavouring to bestow
a place on what is utterly incapable of it” — nỗ lực gán một vị trí cho cái
hoàn toàn không có khả năng có vị trí.
Do đó, mục tiêu của Hume không phải đơn giản là chế nhạo
một công thức kinh viện. Ông đang thực hiện một bước phê phán sâu hơn: nếu một
tri giác như vị giác không có sự mở rộng trong không gian, thì việc cố đặt nó
vào một thân thể có sự mở rộng sẽ tạo ra những hệ quả phi lý; và nếu không thể
đặt nó vào không gian, thì không có lý do gì để xem “có một vị trí trong không
gian” là điều kiện của sự hiện hữu. Chính từ đây Hume đi đến kết luận rằng
chúng ta phải chấp nhận khả năng một cái gì đó hiện hữu mà không ở đâu cả.
Vì vậy, công thức totum in toto & totum in
qualibet parte trong đoạn này nên được hiểu như một lập trường lịch sử mà
Hume đang phê phán từ bên trong, chứ không phải một “người rơm” do ông dựng
lên. Ông lấy chính nguyên tắc của đối phương, đưa nó vào trường hợp vị giác, và
cho thấy rằng khi áp dụng nhất quán, nó dẫn đến kết quả mà lý trí khó có thể chấp
nhận.
[9] Ở đây Hume đưa ảo tưởng rằng “vị giác nằm
trong vật thể” đến chỗ tự mâu thuẫn. Nếu vị giác chỉ nằm trong một phần của quả
sung, kinh nghiệm cho thấy phần nào cũng có cùng vị giác. Nhưng nếu nó nằm
trong tất cả những phần, thì vị giác phải có hình dạng và sự mở rộng trong
không gian như thân thể. Cả hai giả định đều phi lý. Vì vậy, điều tưởng như rất
tự nhiên — vị giác “ở trong” quả sung — thực ra bắt nguồn từ khuynh hướng của
trí tưởng tượng muốn đặt vào không gian một cái không có vị trí trong không
gian.
Từ đó Hume xác lập một kết luận quan trọng: một số cái có
thể hiện hữu mà không có vị trí trong không gian. Nếu buộc chúng phải có sự mở
rộng trong không gian, chúng ta sẽ biến đam mê, mùi hay âm thanh thành những vật
thể có hình dạng; nếu xem chúng như những điểm toán học, chúng ta cũng phải cho
rằng nhiều đam mê, mùi và âm thanh có thể kết hợp để tạo thành một thân thể có
kích thước xác định. Cả hai đều phi lý. Vì vậy, điều cần từ bỏ không phải là sự
hiện hữu của những tri giác ấy, mà là giả định rằng cái gì hiện hữu cũng phải
có một vị trí trong không gian.
Đến 1.4.5.15, Hume mở rộng phê phán sang cả hai phía của
tranh luận. Ông phê phán người duy vật vì họ gắn tất cả tư tưởng với sự mở rộng
trong không gian; nhưng ông cũng phê phán đối thủ của người duy vật vì họ gắn tất
cả tư tưởng với một thực thể đơn giản và không thể phân chia. Hume chuẩn bị ở
đây một điểm rất quan trọng: nếu cái bàn mà chúng ta nhận biết trực tiếp chỉ là
một tri giác, và tri giác ấy gồm những phần được sắp đặt theo những quan hệ
không gian, thì chính tri giác cũng có thể có sự mở rộng trong không gian. Vì vậy,
không thể nói một cách đơn giản rằng tư tưởng hay tri giác nói chung đều không
có sự mở rộng trong không gian. Vấn đề phải được xét riêng đối với từng loại
tri giác.
[10] free-thinker —
“người có tư tưởng tự do”: Trong ngữ cảnh này, free-thinker chỉ người
không chấp nhận một cách mù quáng những giáo điều tôn giáo hay những tiền đề
siêu hình học đã được thừa nhận sẵn, mà đòi hỏi mọi lập trường phải chịu sự kiểm
tra của lý trí và lập luận. Cách dùng của Hume cũng có một sắc thái tự định vị:
ông đặt mình vào vị trí của người có thể đứng ngoài cuộc tranh chấp giữa những
nhà gót học và những người theo thuyết duy vật, rồi sử dụng lập luận của bên
này để chất vấn bên kia.
Điều này đặc biệt rõ trong §1.4.5.16. Hume vừa dùng lập
luận về sự không tương thích giữa cái không có sự mở rộng trong không gian và
cái có sự mở rộng trong không gian để chống lại người duy vật; ngay sau đó, ông
quay chính lập luận ấy chống lại những người chủ trương một thực thể phi-vật chất,
đơn giản và không thể phân chia. Vì vậy, free-thinker ở đây không chỉ có
nghĩa “người suy nghĩ tự do”, mà còn diễn tả vị trí phê phán độc lập của Hume:
không đứng hẳn về một phe siêu hình học nào, mà buộc mỗi phe phải nhất quán với
chính những nguyên tắc mà họ sử dụng để chống phe kia.
Thuật ngữ này cũng cần được đặt trong lịch sử rộng hơn của
truyền thống tự do tư tưởng (freethought). Từ cuối thế kỷ XVII, free-thinker
đã được dùng để chỉ người không để niềm tin của mình bị dẫn dắt đơn thuần bởi
quyền uy hay truyền thống, mà đưa những tuyên bố ấy ra trước sự kiểm tra của lý
trí. Trong thế kỷ XVIII, thuật ngữ này mang rõ sắc thái tôn giáo–trí thức: nó
thường chỉ những người đòi quyền sử dụng lý trí độc lập khỏi quyền uy và giáo
điều tôn giáo, và đôi khi bị những người chống họ gán với thuyết hoài nghi hoặc
không-tin-có-gót. Hume thuộc một giai đoạn quan trọng của truyền thống này.
Đến thế kỷ XX, Bertrand Russell tiếp tục sử dụng và mở rộng
lý tưởng ấy. Ông viết A History of Free Thought (1906) và
sau đó dành Free Thought and Official Propaganda (1922) để phân tích ý
nghĩa của tự do tư tưởng. Tuy nhiên, không nên hiểu rằng Russell đơn giản tiếp
nhận thuật ngữ này trực tiếp từ Hume. Điều đáng chú ý hơn là một truyền thống
trí thức đã được tiếp tục và mở rộng. Ở Hume, free-thinker là người đứng
ngoài quyền uy giáo điều để chất vấn những phía trong một tranh luận siêu hình
học; ở Russell, free thought trở thành một nguyên tắc rộng hơn: tư tưởng
phải được giải phóng khỏi quyền uy tôn giáo, truyền thống, áp lực xã hội và sự
áp đặt của quyền lực.
Theo
nghĩa này, free-thinker trong Hume có thể được xem như một mắt xích sớm
trong lịch sử của lý tưởng tự do tư tưởng hiện đại — một lý tưởng mà về sau
Russell sẽ phát triển thành một chủ đề quan trọng trong tư tưởng của ông.
[11] Baruch Spinoza (1632–1677) — nhất
nguyên bản thể và thuyết song hành: Hume nhắc đến Spinoza
ở đây trong bối cảnh một tranh luận rất cụ thể về thực thể, hồn người, tư tưởng
và vật chất. Muốn hiểu tại sao Hume cho rằng học thuyết về một thực thể tư duy
phi-vật chất, đơn giản và không thể phân chia có thể dẫn đến điều mà ông gọi là
“không-tin-có-gót”, cần đặt Spinoza vào cấu trúc bản thể học của Ethica
(Đạo đức học).
Điểm xuất phát của Spinoza là nhất nguyên bản thể (substance
monism): chỉ có một thực thể duy nhất hiện hữu tự mình và được quan niệm
qua chính mình. Spinoza đồng nhất thực thể duy nhất ấy với Thiên Chúa hay Tự
nhiên (Deus sive Natura). Những gì chúng ta thường gọi là những sự vật
riêng biệt — thân thể, tâm trí, tư tưởng, những vật thể trong tự nhiên — không
phải là những thực thể độc lập, mà là những thể cách biến đổi (modi) của
thực thể duy nhất ấy. Nói cách khác, cái mà Descartes xem là nhiều thực thể được
tạo dựng — chẳng hạn thực thể tư duy và thực thể có sự mở rộng trong không gian
— Spinoza không còn xem là những thực thể độc lập nữa. Chúng là những cách mà
cùng một thực tại duy nhất biểu hiện.
Điểm này đặc biệt quan trọng đối với vấn đề mà Hume đang
xét. Descartes phân biệt thực thể tư duy (res cogitans) với thực thể có
sự mở rộng trong không gian (res extensa): tâm trí không có sự mở rộng
trong không gian, còn thân thể có sự mở rộng trong không gian. Vì vậy nảy sinh
vấn đề: nếu đây là hai thực thể khác nhau, làm thế nào chúng có thể kết hợp và
tác động lên nhau? Spinoza giải quyết vấn đề bằng cách phủ nhận ngay tiền đề rằng
con người là sự kết hợp của hai thực thể. Tâm trí và thân thể không phải hai thực
thể; chúng là hai cách biểu hiện của một và cùng một thực tại dưới hai thuộc
tính khác nhau.
Hai thuộc tính mà con người có thể biết là Tư tưởng (Thought)
và Sự mở rộng trong không gian (Extension). Dưới thuộc tính Tư tưởng,
con người được hiểu như một thể cách của Tư tưởng — tức một tâm trí; dưới thuộc
tính Sự mở rộng trong không gian, cùng con người ấy được hiểu như một thể cách
của Sự mở rộng trong không gian — tức một thân thể. Vì vậy, Spinoza không nói rằng
có một tâm trí phi-vật chất nằm bên trong hoặc kết hợp với một thân thể vật chất.
Chính cách đặt vấn đề ấy đã bị loại bỏ.
Từ đây xuất hiện điều thường được gọi là thuyết song hành
(parallelism). Trong Ethics II, Proposition 7, Spinoza viết: “Trật
tự và sự liên kết của những ý niệm cũng giống như trật tự và sự liên kết của những
sự vật.” Trong phần chú giải, ông dùng thí dụ một vòng tròn: vòng tròn hiện hữu
trong Tự nhiên và ý niệm về vòng tròn ấy là một và cùng một sự vật, nhưng được
biểu hiện dưới những thuộc tính khác nhau. Vì vậy, một sự kiện thuộc về thân thể
và sự kiện tương ứng thuộc về tâm trí không phải là hai sự kiện tác động nhân
quả lên nhau; chúng là cùng một thực tại được biểu hiện theo hai cách.
Do đó, cần thận trọng với chữ “song hành”. Nó không có
nghĩa đơn giản rằng có hai thế giới — một thế giới vật chất và một thế giới
tinh thần — chạy song song với nhau. Đối với Spinoza, chỉ có một thực tại. Hai
chuỗi — chuỗi những thể cách của Sự mở rộng trong không gian và chuỗi những thể
cách của Tư tưởng — có cùng một trật tự và sự liên kết bởi vì chúng là hai cách
biểu hiện của cùng một thực tại. Hơn nữa, giữa hai chuỗi này không có quan hệ
nhân quả trực tiếp: thân thể không gây ra một ý niệm bằng cách tác động vào một
tâm trí như một vật thể tác động vào vật thể khác, và tâm trí cũng không làm
thân thể chuyển động theo nghĩa một nguyên nhân vật lý. Mỗi chuỗi có trật tự
nhân quả riêng của mình.
Chính tại đây lập trường của Spinoza liên quan trực tiếp
đến đoạn Hume đang bàn. Hume đã lập luận rằng nếu một thực thể phi-vật chất,
đơn giản và không thể phân chia được đặt cạnh một tri giác có sự mở rộng trong
không gian, thì không thể trả lời nó nằm ở đâu: bên trái hay bên phải, trong phần
này hay phần kia, trong toàn thể hay trong từng phần. Spinoza tránh khó khăn ấy
bằng cách không thừa nhận một thực thể phi-vật chất riêng biệt đứng đối diện với
vật chất ngay từ đầu. Tâm trí không phải một “vật” phi-vật chất được đặt vào một
thân thể vật chất; tâm trí là thể cách của thuộc tính Tư tưởng, còn thân thể là
thể cách tương ứng của thuộc tính Sự mở rộng trong không gian.
Tuy nhiên, đây cũng chính là chỗ Hume muốn quay ngược lập
luận. Ông cho rằng nếu người ta sử dụng khái niệm về một thực thể đơn giản,
không thể phân chia và không có sự mở rộng trong không gian để giải thích tâm
trí, thì những khó khăn mà những nhà gót học dùng để công kích Spinoza không dễ
dàng biến mất. Ngược lại, Hume muốn cho thấy rằng khi đã nói đến một thực thể
như vậy, ta phải đối diện với chính những câu hỏi về sự kết hợp mà ông vừa đặt
ra: nó ở đâu, nó kết hợp với cái có sự mở rộng trong không gian bằng cách nào,
và làm thế nào một cái không thể phân chia lại có thể là nền tảng cho những tri
giác mà một số trong đó có sự mở rộng trong không gian?
Vì vậy, khi Hume nói rằng học thuyết về tính phi-vật chất,
tính đơn giản và tính không thể phân chia của một thực thể tư duy là “một hình
thức không-tin-có-gót thực sự”, ông không muốn nói rằng Spinoza đơn giản phủ nhận
Thiên Chúa. Ngược lại, Spinoza đồng nhất Thiên Chúa với thực thể duy nhất, và
toàn bộ tự nhiên là những cách thức biểu hiện của thực thể ấy. Điều Hume muốn
nói là: nếu ta loại bỏ sự khác biệt thực sự giữa những thực thể và chỉ thừa nhận
một thực thể duy nhất, đơn giản, không thể phân chia, trong đó cả tư tưởng lẫn
vật chất đều là những thể cách, thì ta đã đi đến một lập trường mà trong con mắt
gót học đương thời có thể được xem là xóa bỏ Thiên Chúa như một Đấng sáng tạo
và tách biệt với thế giới. Đó là lý do Spinoza bị kết án là “không-tin-có-gót”
trong bối cảnh trí thức thế kỷ XVII.
Như vậy, trong đoạn này Hume đang đặt hai chiến tuyến đối
lập vào cùng một thế khó. Người duy vật gắn tư tưởng với sự mở rộng trong không
gian; người chống duy vật gắn tư tưởng với một thực thể đơn giản, phi-vật chất
và không thể phân chia; còn Spinoza đi theo một con đường khác: chỉ có một thực
thể duy nhất, và tư tưởng cùng sự mở rộng trong không gian là hai thuộc tính
qua đó cùng một thực tại được biểu hiện. Hume lần lượt chất vấn cả ba cách giải
quyết, nhằm đẩy người đọc đến kết luận triệt để hơn của ông: có thể chúng ta đã
sai ngay từ đầu khi cho rằng mọi tri giác đều phải có một thực thể làm nền tảng
cho nó.
[12] Ở §§23–25, Hume lần lượt xét ba phản bác
kinh điển đối với Spinoza, rồi cho thấy mỗi phản bác đều có thể quay ngược lại
chống học thuyết của những nhà gót học. Thứ nhất (§23), nếu sự mở rộng trong
không gian không thể là thể cách của một thực thể đơn giản, thì cũng khó hiểu
làm sao một tri giác có sự mở rộng trong không gian lại có thể là thể cách của
hồn người đơn giản và không thể phân chia. Thứ hai (§24), nếu vật chất và mỗi
phần riêng biệt của vật chất đều phải được xem là những thực thể, thì theo cùng
tiêu chuẩn ấy, mỗi tri giác và mỗi phần riêng biệt của tri giác cũng phải là một
thực thể. Thứ ba (§25), nếu không thể hiểu làm sao cùng một thực thể đơn giản
có thể đồng thời là nền tảng của những hình dạng trái ngược nhau như hình vuông
và hình tròn, thì cũng phải đặt chính câu hỏi ấy đối với những ấn tượng về cái
bàn vuông và cái bàn tròn. Vì vậy, Hume không cần chứng minh Spinoza đúng; ông
chỉ cần chỉ ra rằng những lý do dùng để bác bỏ Spinoza cũng làm nảy sinh chính
những khó khăn ấy trong học thuyết của những nhà gót học.
[13] Một bước ngoặt trong lập luận của Hume: từ a priori
sang kinh nghiệm
Đến §30, Hume chuyển sang một điểm then chốt trong lập luận
về nguyên nhân của tư tưởng và tri giác. Những đoạn trước đã xem xét những giả
thuyết cho rằng tư tưởng là một thể cách biến đổi hay một hành động
của một thực thể phi vật chất, đồng thời xem xét lập luận của những người cho rằng
vật chất không thể gây ra tư tưởng. Lập luận chống vật chất thường dựa trên một
nhận xét có vẻ rất hiển nhiên: khi chúng ta xem xét một vật thể, dù chia nhỏ,
thay đổi hình dạng, di chuyển hay sắp xếp lại những phần của nó theo cách nào,
chúng ta vẫn chỉ thấy vật chất, hình dạng, chuyển động và những quan hệ giữa những
phần. Trong khi đó, tư tưởng, cảm giác và tri giác thuộc một loại hoàn toàn
khác. Vì vậy, dường như không thể hiểu làm sao những biến đổi thuần túy của vật
chất lại có thể tạo ra một tư tưởng hay một cảm giác.
Hume cho rằng từ nhận xét ấy không thể rút ra kết luận về
quan hệ nhân quả. Lý do nằm ngay trong lý thuyết nhân quả mà ông đã xây dựng
trước đó. Theo Hume, khi xem xét một nguyên nhân và một kết quả, chúng ta không
bao giờ cảm nhận được bằng giác quan hay bằng lý trí một mối liên hệ tất yếu nối
hai sự vật ấy. Điều chúng ta thực sự nhận thấy là hai loại sự kiện thường xuyên
đi cùng nhau; từ sự kết hợp thường xuyên ấy, qua kinh nghiệm, chúng ta hình
thành ý niệm về quan hệ nhân quả. Vì vậy, chỉ bằng cách xem xét riêng những ý
niệm về hai đối tượng, chúng ta không thể phát hiện rằng một đối tượng tự nó
có một năng lực khiến nó nhất thiết phải tạo ra đối tượng kia.
Đây chính là điểm Hume dùng để bác bỏ lập luận a
priori chống lại khả năng vật chất gây ra tư tưởng. Đúng là tư tưởng và
chuyển động là những ý niệm khác nhau. Nhưng từ sự khác biệt ấy không thể suy
ra rằng chuyển động không thể là nguyên nhân của tư tưởng. Nếu chỉ vì hai ý niệm
khác nhau mà chúng ta kết luận rằng hai loại sự vật không thể có quan hệ nhân
quả, thì theo cùng một lối suy luận, chúng ta cũng sẽ phải kết luận rằng không
có bất kỳ nguyên nhân nào có thể tạo ra một kết quả khác với chính nó. Nhưng đó
rõ ràng không phải cách quan hệ nhân quả được xác lập trong kinh nghiệm.
Thí dụ về đòn bẩy ở §30 làm cho điểm này đặc biệt rõ. Khi
nhìn hai vật có cùng trọng lượng đặt ở hai đầu một đòn bẩy, chúng ta không thể
tìm thấy trong bản thân những vật ấy một mối liên hệ hiển nhiên nào với chuyển
động mà chúng sẽ tạo ra. Nếu chỉ xem xét những ý niệm về vật nặng, vị trí và
khoảng cách, chúng ta cũng không thể a priori nhìn thấy rằng một sự sắp
đặt nhất định sẽ tạo ra chuyển động. Nhưng kinh nghiệm cho chúng ta biết rằng sự
sắp đặt ấy thực sự tạo ra chuyển động. Vì vậy, sự không thể nhìn thấy mối liên
hệ bằng lý trí không chứng minh rằng không có quan hệ nhân quả.
Hume áp dụng chính nguyên tắc ấy vào quan hệ giữa vật chất
và tư tưởng. Việc chúng ta không thấy một mối liên hệ giữa chuyển động và tư tưởng
chỉ cho thấy rằng mối liên hệ ấy không thể được khám phá bằng cách đơn thuần so
sánh những ý niệm. Nó không chứng minh rằng mối liên hệ ấy không thể có. Nếu
kinh nghiệm cho thấy rằng những thay đổi của thân thể luôn đi cùng với những
thay đổi trong tư tưởng và cảm thức, thì sự kết hợp thường xuyên ấy chính là cơ
sở mà theo đó chúng ta gọi một bên là nguyên nhân và bên kia là kết quả.
Vì thế, Hume đi đến một kết luận rất quan trọng: ông
không chứng minh bằng lập luận a priori rằng vật chất gây ra tư tưởng;
ông chứng minh rằng lập luận a priori không thể chứng minh vật chất
không thể gây ra tư tưởng. Đây là hai mệnh đề hoàn toàn khác nhau. Hume không
nói rằng từ khái niệm “vật chất” chúng ta có thể suy ra rằng vật chất phải có
khả năng tạo ra tư tưởng. Ông chỉ nói rằng từ khái niệm “vật chất” cũng không
thể suy ra điều ngược lại, tức rằng vật chất không thể tạo ra tư tưởng.
Bởi vậy, kinh nghiệm mới là nơi quyết định vấn đề nhân quả.
Nếu hai loại hiện tượng luôn kết hợp với nhau trong kinh nghiệm, thì việc chúng
ta không thể nhìn thấy một mối liên hệ tất yếu giữa chúng bằng cách suy xét a
priori không phải là lý do đủ để phủ nhận quan hệ nhân quả. Trong trường hợp
tư tưởng và chuyển động, Hume còn đi xa hơn: ông nói rằng chúng ta thực sự đã
có kinh nghiệm về sự kết hợp của chúng, vì mỗi người đều có thể nhận thấy những
trạng thái khác nhau của thân thể làm thay đổi tư tưởng và cảm thức của mình.
Điểm này cũng giải thích vì sao Hume yêu cầu tách câu hỏi
về thực thể của não thức khỏi câu hỏi về nguyên nhân của tư tưởng. Hai câu hỏi
không giống nhau. Câu hỏi thứ nhất là: não thức hay hồn người là loại thực
thể nào? Câu hỏi thứ hai là: những tư tưởng và tri giác của nó được gây
ra bởi cái gì? Hume cho rằng chúng ta không có một ý niệm rõ ràng về một
“thực thể của hồn người”, nên không thể giải quyết câu hỏi thứ nhất theo cách
những nhà siêu hình học thường làm. Nhưng điều đó không ngăn cản chúng ta khảo
sát câu hỏi thứ hai bằng phương pháp của lý thuyết nhân quả: so sánh những ý niệm
để xác định chúng khác nhau, rồi xem xét kinh nghiệm để xác định chúng có kết hợp
thường xuyên hay không.
Do đó, §30 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng: Hume chuyển
tranh luận khỏi việc suy đoán về bản tính của những thực thể sang việc xác định
những điều kiện mà theo đó chúng ta có quyền gọi một quan hệ là nhân quả. Câu hỏi
không còn là: “Làm sao có thể hình dung vật chất biến thành tư tưởng?”
theo nghĩa tìm một mối liên hệ tất yếu bằng lý trí. Câu hỏi trở thành: “Chúng
ta có quan sát thấy những biến đổi của vật chất và những biến đổi của tư tưởng
kết hợp thường xuyên với nhau hay không?” Nếu có, thì không thể bác bỏ quan
hệ nhân quả ấy chỉ bằng cách nói rằng hai loại ý niệm khác nhau.
Vì vậy, Hume không ở đây trở thành một nhà duy vật theo
nghĩa ông đã chứng minh rằng vật chất là nguyên nhân của tư tưởng. Kết luận của
ông khiêm tốn hơn nhưng có sức phá hoại lớn đối với lập luận siêu hình: sự khác
biệt giữa vật chất và tư tưởng không đủ để chứng minh rằng chúng không thể có
quan hệ nhân quả. Nếu kinh nghiệm cho thấy chúng kết hợp thường xuyên, thì quan
hệ ấy phải được xem xét theo cùng những nguyên tắc nhân quả mà chúng ta áp dụng
cho những hiện tượng khác. Chính sự phân biệt giữa điều có thể chứng minh bằng
suy luận a priori và điều chỉ có thể biết qua kinh nghiệm là nền tảng của
bước ngoặt này.
[14] “upon that account only: Hume không nói rằng những đối
tượng thực sự là nguyên nhân và kết quả chỉ vì chúng kết hợp thường
xuyên theo một nghĩa siêu hình; ông đang áp dụng chính tiêu chuẩn nhân quả của
mình: khi chúng ta không thể phát hiện mối liên hệ tất yếu bằng a priori,
thì sự kết hợp thường xuyên trong kinh nghiệm là cơ sở duy nhất còn lại để gọi
hai đối tượng là nguyên nhân và kết quả.
Câu cuối “which evidently gives the advantage to the
materialists above their antagonists” cũng nên giữ nguyên sắc thái tranh luận của
Hume: lập luận này “đem lại lợi thế cho những người duy vật”, chứ chưa phải là
Hume tuyên bố rằng thuyết duy vật đã được chứng minh. Lợi thế nằm ở chỗ: nếu
không thể a priori loại trừ quan hệ nhân quả giữa vật chất và tư tưởng,
thì lập luận chống vật chất trước đó đã mất cơ sở
[15] Đây là câu kết luận của toàn bộ lập luận mà Hume đã triển
khai từ đầu mục này. Sau khi lần lượt xem xét thực thể vật chất, thực thể phi vật
chất, sự kết hợp về vị trí giữa hồn người và thân thể, học thuyết cho rằng tư
tưởng là một thể cách biến đổi hay một hành động của hồn người, rồi
cuối cùng là câu hỏi về nguyên nhân của tư tưởng, Hume đưa ra một kết luận có
hai phần liên kết chặt chẽ với nhau.
Trước hết, “câu hỏi về thực thể của hồn người hoàn toàn
không thể hiểu được”. Hume không nói rằng ông đã chứng minh hồn người không có
thực thể, cũng không nói rằng hồn người chắc chắn là vật chất hay phi vật chất.
Vấn đề nằm ở chỗ sâu hơn: chúng ta không có một ý niệm đủ rõ về thực thể
để có thể hiểu câu hỏi “hồn người có thực thể gì?” đang hỏi về cái gì. Muốn có
một ý niệm về thực thể, theo nguyên lý kinh nghiệm luận của Hume, chúng ta phải
có một ấn tượng tương ứng; nhưng khi tìm kiếm ấn tượng về một thực thể nằm bên
dưới những tri giác, chúng ta không tìm thấy gì ngoài chính những tri giác. Vì
vậy, tranh luận xem thực thể của hồn người là vật chất hay phi vật chất vượt
quá những gì chúng ta có thể hiểu và xác lập bằng kinh nghiệm.
Tiếp theo, Hume nhắc lại kết quả của phần lập luận về sự
kết hợp về vị trí. những tri giác của chúng ta không phải tất cả đều thuộc cùng
một loại. Một số, như những tri giác của thị giác và xúc giác, có sự mở rộng
trong không gian; những tri giác khác, như âm thanh, mùi, vị, đam mê hay tư tưởng,
không có sự mở rộng trong không gian. Vì vậy, không thể đặt tất cả những tri
giác vào một quan hệ kết hợp về vị trí với một thực thể theo cùng một cách. Một
tri giác không có sự mở rộng trong không gian không thể được đặt “ở bên trong”,
“bên cạnh”, “bên trái” hay “bên phải” một thực thể có sự mở rộng trong không
gian theo nghĩa thông thường của những quan hệ ấy. Hume vì thế bác bỏ việc dùng
sự kết hợp về vị trí để giải thích quan hệ giữa hồn người và thân thể.
Nhưng từ đây Hume chuyển sang một loại quan hệ hoàn toàn
khác: quan hệ nhân quả. Đây là điểm đặc biệt quan trọng. Việc vật chất và tư tưởng
không thể có sự kết hợp về vị trí không có nghĩa rằng chúng không thể có quan hệ
nhân quả. Hai quan hệ này không phải là một. Một vật thể và một tri giác có thể
không chiếm những vị trí tương ứng trong không gian, nhưng điều đó tự nó không
ngăn cản một biến đổi trong thân thể có thể thường xuyên đi cùng với một biến đổi
trong tư tưởng.
Cơ sở cho kết luận này là nguyên lý Hume đã thiết lập về
nhân quả: “sự kết hợp thường xuyên của những đối tượng cấu thành chính bản chất
của nguyên nhân và kết quả.” Đây là một trong những điểm then chốt nhất của
toàn bộ triết học Hume. Khi chúng ta xem xét hai đối tượng riêng lẻ, chúng ta
không nhận thấy bằng lý trí một “năng lực” hay một “mối liên hệ tất yếu” khiến
đối tượng thứ nhất phải tạo ra đối tượng thứ hai. Điều chúng ta có thể nhận thấy
là chúng thường xuyên xuất hiện cùng nhau trong kinh nghiệm. Chính sự kết hợp
thường xuyên ấy là nền tảng để chúng ta gọi một bên là nguyên nhân và bên kia
là kết quả.
Do đó, nếu vật chất và chuyển động thường xuyên kết hợp với
tư tưởng và tri giác, thì không có lý do a priori nào cho phép chúng ta
loại trừ vật chất và chuyển động khỏi quan hệ nhân quả. Trước đó, những người
chống thuyết duy vật đã dựa vào sự khác biệt giữa vật chất và tư tưởng để lập
luận rằng vật chất không thể gây ra tư tưởng: vật chất có sự mở rộng trong
không gian, có những phần, có hình dạng và có chuyển động, trong khi tư tưởng
không có những thuộc tính ấy. Nhưng Hume đã chỉ ra rằng sự khác biệt giữa hai
loại đối tượng không đủ để chứng minh rằng chúng không thể có quan hệ nhân quả.
Nếu chỉ dựa vào sự khác biệt giữa những ý niệm mà loại bỏ quan hệ nhân quả,
chúng ta sẽ phải loại bỏ rất nhiều quan hệ nhân quả mà kinh nghiệm rõ ràng xác
nhận.
Đó là lý do Hume viết rằng “vật chất và chuyển động có thể
thường xuyên được xem là những nguyên nhân của tư tưởng”. Câu này cần được đọc
rất thận trọng. Hume không nói: “vật chất và chuyển động chắc chắn là nguyên
nhân của tư tưởng.” Ông nói may often be regarded as the
causes — có thể thường xuyên được xem là những nguyên nhân. Đây là một kết
luận có giới hạn. Hume chỉ khẳng định rằng, theo tiêu chuẩn nhân quả mà ông đã
thiết lập, chúng ta không có quyền loại trừ vật chất và chuyển động khỏi vai
trò nguyên nhân của tư tưởng chỉ vì chúng ta không thể nhìn thấy một mối liên hệ
tất yếu giữa chúng.
Cụm
cuối “as far as we have any notion of that relation” còn đặt thêm một giới hạn
quan trọng. Hume không tuyên bố rằng ông đã hiểu được bản chất siêu hình của
quan hệ giữa vật chất và tư tưởng. Ông chỉ nói rằng trong chừng mực chúng ta có
bất kỳ ý niệm nào về quan hệ nhân quả, vật chất và chuyển động có thể được xem
là nguyên nhân của tư tưởng. Nói cách khác, Hume áp dụng chính quan niệm nhân
quả của mình vào vấn đề này: nếu nhân quả được biết qua sự kết hợp thường
xuyên, thì sự kết hợp thường xuyên giữa những trạng thái thân thể và những tư
tưởng, cảm giác, tri giác là đủ để đặt vấn đề nhân quả; còn việc đòi hỏi một “mối
liên hệ tất yếu” có thể được nhìn thấy a priori là vượt quá khả năng nhận
thức của chúng ta.
Vì
vậy, §33 tạo ra một sự phân đôi rất quan trọng. Một mặt, Hume phủ nhận khả năng
hiểu câu hỏi về thực thể của hồn người; mặt khác, ông vẫn cho phép chúng ta khảo
sát nguyên nhân của tư tưởng. Không thể giải quyết câu hỏi thứ nhất không có
nghĩa rằng chúng ta không thể đặt câu hỏi thứ hai. Chúng ta không cần biết “hồn
người là thực thể gì” mới có thể quan sát sự kết hợp thường xuyên giữa những biến
đổi của thân thể và những biến đổi trong tư tưởng.
Chính
sự phân biệt này giúp Hume tránh một sai lầm phổ biến trong tranh luận về tâm-vật:
không thể chuyển trực tiếp từ “tư tưởng khác với vật chất” sang “vật chất không
thể gây ra tư tưởng.” Hai mệnh đề ấy không tương đương. Sự khác biệt về thuộc
tính không tự nó phủ định quan hệ nhân quả. Muốn xác lập hay bác bỏ quan hệ
nhân quả, chúng ta phải xét đến những gì kinh nghiệm cho phép chúng ta nhận biết
về sự kết hợp thường xuyên của những hiện tượng.
Vì
thế, §33 không phải là một lời tuyên bố giản đơn rằng Hume đã chứng minh vật chất
gây ra tư tưởng. Đúng hơn, đây là kết quả kép của toàn bộ lập luận: thứ nhất,
câu hỏi về thực thể của hồn người vượt quá khả năng hiểu biết của chúng ta; thứ
hai, một khi chuyển sang câu hỏi về nguyên nhân của tư tưởng, không có lập luận
a priori nào đủ để loại trừ vật chất và chuyển động, và trong chừng mực
quan hệ nhân quả có thể được hiểu qua sự kết hợp thường xuyên, chúng có thể được
xem là những nguyên nhân của tư tưởng.
Đây
cũng là điểm chuẩn bị trực tiếp cho phần tiếp theo của Hume. Sau khi kết thúc
tranh luận về thực thể của hồn người, ông sẽ phải đối diện với một vấn đề khác:
nếu những kết luận này dường như đe dọa tôn giáo, thì triết học của ông phải trả
lời sự cáo buộc ấy như thế nào. Vì vậy, §33 vừa là kết luận của cuộc phê phán
siêu hình học về hồn người, vừa là cầu nối sang phần biện hộ cho hệ quả tôn
giáo của triết học Hume ở §§34–35.
[16]
§§34–35 — Triết học không chứng minh cũng không bác bỏ tính bất tử của hồn người: Hume chuyển sang một vấn đề khác. Sau khi
kết luận rằng câu hỏi về thực thể của hồn người hoàn toàn không thể hiểu được,
và sau khi cho thấy rằng không có cơ sở a priori để loại trừ vật chất khỏi
vai trò nguyên nhân của tư tưởng, ông nhận ra rằng những kết luận ấy có thể bị
xem là đe dọa tôn giáo, đặc biệt là những niềm tin liên quan đến tính bất tử của
hồn người. Vì vậy, ông tạm gác tranh luận siêu hình học để giải thích rõ triết
học của ông có thể làm gì và không thể làm gì đối với những vấn đề tôn giáo.
Hume
bắt đầu bằng một nguyên tắc rất rộng: không có cơ sở để rút ra bất kỳ kết luận
nào a priori về những hoạt động hay thời gian hiện hữu của bất kỳ đối tượng
nào mà não thức con người có thể hình thành một quan niệm về nó. Nói cách khác,
chỉ từ việc phân tích ý niệm về một đối tượng, chúng ta không thể biết trước đối
tượng ấy sẽ hoạt động như thế nào, tồn tại bao lâu, hay có thể bị hủy diệt hay
không. Bất kỳ đối tượng nào chúng ta có thể hình dung đều có thể được hình dung
là trở nên hoàn toàn không hoạt động hoặc bị hủy diệt trong một khoảnh khắc.
Theo nguyên lý Hume đã nhiều lần sử dụng, bất cứ gì chúng ta có thể hình dung đều
có thể xảy ra.
Điểm
quan trọng ở đây là Hume áp dụng nguyên tắc ấy một cách đối xứng cho cả vật chất
và tinh thần. Không có lý do a priori nào khiến chúng ta phải xem một thực
thể có sự mở rộng trong không gian và hợp thành là có khả năng bị hủy diệt,
trong khi một thực thể đơn giản và không có sự mở rộng trong không gian lại phải
được xem là không thể bị hủy diệt. Nếu chúng ta có thể hình dung vật chất trở
nên hoàn toàn không hoạt động hoặc bị hủy diệt, thì về mặt lập luận a priori,
chúng ta cũng có thể hình dung tinh thần như vậy. Ngược lại, việc không thể chứng
minh trước rằng tinh thần bị hủy diệt cũng không cho phép chúng ta chứng minh rằng
nó bất tử.
Đây
chính là ý nghĩa của sự so sánh giữa “vật chất” và “tinh thần”, giữa “một thực
thể có sự mở rộng trong không gian và hợp thành” và “một thực thể đơn giản và
không có sự mở rộng trong không gian”. Hume không cần quyết định bản tính thật
sự của hai loại thực thể này. Ông chỉ cho thấy rằng, dù chúng ta giả định chúng
là gì đi nữa, không thể từ chính ý niệm về chúng mà suy ra một kết luận chắc chắn
về thời gian hiện hữu của chúng. Vì vậy, lập luận siêu hình học không thể cung
cấp một chứng minh tất yếu cho tính bất tử của hồn người.
Nhưng
Hume cũng không đi đến kết luận ngược lại. Ông không nói rằng vì chúng ta có thể
hình dung hồn người bị hủy diệt nên hồn người thực sự sẽ bị hủy diệt. Đây là một
điểm cần phân biệt rõ. Nguyên lý “bất cứ gì chúng ta có thể hình dung đều có thể
xảy ra” chỉ cho thấy rằng sự hủy diệt của một đối tượng không chứa đựng một mâu
thuẫn mà lý trí có thể phát hiện a priori. Nó không tự nó cho chúng ta
biết sự việc thực sự xảy ra như thế nào.
Vì
vậy, khi Hume nói rằng “những lập luận siêu hình học về tính bất tử của hồn người
đều không đủ sức kết luận”, ông đang phủ nhận sức mạnh chứng minh của loại lập
luận này, chứ không phải phủ nhận bản thân niềm tin vào tính bất tử. Theo ông,
những lập luận siêu hình học không thể đưa chúng ta từ một phân tích thuần túy
về ý niệm “hồn người” đến kết luận tất yếu rằng hồn người phải tiếp tục hiện hữu
sau cái chết của thân thể.
Đồng
thời, Hume nhấn mạnh rằng những lập luận đạo đức và những lập luận rút ra từ sự
tương tự của tự nhiên vẫn mạnh mẽ và có sức thuyết phục như nhau trong cả hai
trường hợp. Đây là phần đặc biệt quan trọng trong lời biện hộ của ông. Nếu triết
học của ông không thể cung cấp một chứng minh siêu hình cho tính bất tử của hồn
người, thì điều đó không có nghĩa rằng mọi lập luận tôn giáo về vấn đề này đều
bị phá hủy. Những lập luận thuộc những lĩnh vực khác — đặc biệt là lập luận đạo
đức và lập luận dựa trên sự tương tự của tự nhiên — vẫn giữ nguyên sức mạnh của
chúng.
Do
đó, “sự đối xứng” là chìa khóa để hiểu §§34–35. Nếu những người bảo vệ tôn giáo
muốn dùng siêu hình học để chứng minh rằng hồn người bất tử, Hume cho rằng họ
không thể làm như vậy. Nhưng nếu những người chống tôn giáo muốn dùng chính triết
học Hume để chứng minh rằng hồn người chắc chắn không bất tử, họ cũng không thể
làm như vậy. Cùng một giới hạn của lý trí a priori áp dụng cho cả hai
phía.
Đây
là lý do Hume có thể nói rằng nếu triết học của ông “không thêm được gì vào những
lập luận ủng hộ tôn giáo”, thì ông vẫn có sự hài lòng khi biết rằng “nó không lấy
đi bất cứ gì khỏi những lập luận ấy”. Triết học của ông không cung cấp thêm một
chứng minh siêu hình cho tôn giáo, nhưng cũng không phá hủy những lập luận tôn
giáo vốn không phụ thuộc vào loại chứng minh ấy. Theo nghĩa đó, mọi thứ “vẫn
còn nguyên vẹn chính xác như trước”.
Cần
đặc biệt tránh hiểu đoạn này như một sự xác nhận của Hume đối với tính bất tử của
hồn người. Hume không chứng minh rằng hồn người bất tử; nhưng ông cũng không chứng
minh rằng hồn người không bất tử. Điều ông làm là giới hạn phạm vi của triết học
siêu hình: từ những ý niệm mà con người có thể hình thành, chúng ta không thể a
priori quyết định một đối tượng sẽ tồn tại bao lâu, sẽ hoạt động như thế
nào, hay có thể bị hủy diệt hay không. Vì thế, vấn đề về tính bất tử không thể
được quyết định bằng loại lập luận mà Hume vừa phê phán.
Như
vậy, §§34–35 hoàn tất tranh luận bằng một thế cân bằng có chủ ý: triết học
không chứng minh tính bất tử của hồn người, nhưng cũng không chứng minh tính hữu
hạn của hồn người. Hume không thay một giáo điều siêu hình bằng một giáo điều
siêu hình đối nghịch. Ông chỉ cho thấy rằng cả hai đều vượt quá những gì có thể
xác lập bằng a priori. Chính sự đối xứng này cho phép Hume kết thúc phần
phê phán mà không cần tuyên bố rằng triết học của ông đã giải quyết bản thân vấn
đề tôn giáo.
