Saturday, August 17, 2019

William Wordsworth - Một Mình Tôi Lang Thang Như Một Cụm mây


Một Mình Tôi Lang Thang Như Một Cụm mây
WILLIAM WORDSWORTH








một mình tôi lang thang như một cụm mây
trôi nổi cao trên những lũng và đồi,
cùng một lúc tôi chợt thấy tất cả đông đảo
một vùng mọc đầy những daffodil; [1]
cạnh hồ, dưới những tán cây,
dập dờn và nhún nhảy trong gió.

Friday, August 9, 2019

Lange – Lịch Sử Triết Học Duy Vật (06)

LỊCH SỬ TRIẾT HỌC DUY VẬT
Và Phê Bình về Sự Quan Trọng Hiện nay Của Nó

Friedrich Albert Lange
(1829 1875)







Giai Đoạn Chuyển Tiếp

Chương I.
Những tôn giáo tin-chỉ-một-gót trong quan hệ của chúng với tư tưởng Duy vật.

Sự biến mất của văn minh thời cổ trong những thế kỷ đầu của kỷ nguyên Kitô là một biến cố với những vấn đề nghiêm trọng của nó, phần lớn trong đó đã còn chưa giải thích.

Theo dõi những biến cố phức tạp của Đế quốc Rome trong tất cả phạm vi mở rộng của chúng, và thấu hiểu những sự kiện quan trọng, là điều đã đủ khó khăn; nhưng thật còn khó khăn hơn nhiều, đến không thể so sánh, để ước tính trong phạm vi đầy đủ của chúng, những hoạt động của những thay đổi, dẫu nhỏ nhưng vô tận, đã nhân lên bội phần, trong diễn tiến hàng ngày của những quốc gia, giữa lòng của những tầng lớp xã hội thấp kém hơn, bên bếp lửa những gia đình nghèo khó, cho dù ở thành thị hay thôn quê. [1]

Friday, June 7, 2019

Lange – Lịch Sử Triết Học Duy Vật (05)


LỊCH SỬ TRIẾT HỌC DUY VẬT
Và Phê Bình về Sự Quan Trọng Hiện nay Của Nó

Friedrich Albert Lange
(1829 1875)







CHƯƠNG V.

Bài thơ giảng dạy về Thiên nhiên của Lucretius


Giữa tất cả những dân tộc của thời cổ, không dân tộc nào, bởi bản chất, có lẽ đã khác biệt với những quan điểm duy vật hơn những người Rome. Tôn giáo của họ đã có những gốc của nó sâu trong mê tín; toàn bộ đời sống chính trị của họ bị những hình thái dị đoan bao quanh giới hạn. Họ đã bám chặt vào những cảm hứng họ đã thừa hưởng với sự bền bỉ khác thường; mỹ thuật và khoa học có rất ít quyến rũ với họ, và họ vẫn kém có khuynh hướng để vùi mình trong suy tưởng sâu xa về thiên nhiên. Một khuynh hướng thực tiễn, hơn bất kỳ dân tộc nào khác, đã chi phối cuộc sống của họ, và tuy điều này đã hoàn toàn không là vật chất, nhưng đã trước sau là tinh thần. Họ đề cao sự thống trị hơn sự giàu có, sự vinh quang thay vì sự sung túc, và thành công thắng lợi hơn tất cả mọi sự việc. Những đức tính của họ đã không là của hòa bình, của doanh thương kỹ nghệ, của chính nghĩa, nhưng là của can đảm, của kiên cường, của tiết độ. Những tật xấu của Rome, ít nhất trong lúc đầu, đã không là của xa xỉ và hoang đàng, nhưng là của cứng rắn, tàn ác và không-tín ngưỡng. Sức mạnh trong tổ chức của họ, trong sự kết nối với tính chất hiếu chiến của họ, đã làm quốc gia thành vĩ đại, và về điều này, họ đã có ý thức tự hào. Hàng thế kỷ, sau lần đầu tiên tiếp xúc với Greece, đã vẫn tiếp tục có ác cảm đó vốn nảy sinh từ sự khác biệt trong những tính chất của họ. Chỉ sau khi đánh bại Hannibal, khiến mỹ thuật và văn học Greece dần dần đã tiến đường vào Rome. Đồng thời với sự xa xỉ và hoang đàng, với sự cuồng tín và vô đạo đức của những dân Asia [1] và Africa. Những quốc gia bị chinh phục chen chúc tới kinh đô mới của họ, và gây nên một hỗn độn về tất cả những yếu tố của đời sống Rome cũ, trong khi giới giàu có ngày càng có được một thẩm vị về văn hóa và nhục cảm tinh tế; những tướng lĩnh và thống đốc đã chiếm đoạt những tác phẩm nghệ thuật Greece; những trường phái triết học và hùng biện của Greece đã được mở, và thường thường lại bị cấm đoán: người ta đã sợ yếu tố hòa tan trong văn hóa Hellas, nhưng ngày càng ít có khả năng chống lại sự quyến rũ của nó. Ngay cả bản thân Cato-cao tuổi [2] cũng học tiếng Greece; và một khi ngôn ngữ và văn học đã phổ biến, ảnh hưởng của triết học đã không thể giữ bất động.

Wednesday, May 22, 2019

Tỳ kheo Bodhi – Chính Niệm Thực Sự Nghĩa Là Gì

Chính Niệm Thực Sự Nghĩa Là Gì
Một Cái Nhìn Từ Kinh Điển

Tỳ kheo Bodhi









Mục đích của bài viết này là để xác định ý nghĩa và chức năng của thiền định chính niệm, dùng như nguồn tài liệu để thăm dò là tạng kinh Pāli, bộ sưu tập hoàn chỉnh lâu đời nhất gồm những bản văn đạo Phật còn tồn tại nguyên vẹn. Chính niệm là thành tố chính trong sự thực hành của satipaṭṭhāna, [1] hệ thống thiền định đạo Phật được biết nhiều nhất. Trong những mô tả về satipaṭṭhāna, hai thuật ngữ không ngừng lập lại: chính niệm (sati) và hiểu rõ ràng (sampajañña). Một hiểu biết về những thuật ngữ này dựa trên những bản kinh thì quan trọng không chỉ từ một góc độ triết học nhưng vì hiểu biết loại như vậy có những liên quan chính yếu trên sự thực hành thật sự của thiền định. Từ sati ban đầu có nghĩa là ‘trí nhớ’, nhưng đức Phật đã gán cho thuật ngữ cổ này một ý nghĩa mới, đã xác định bởi những mục đích của giảng dạy của ngài. Ý nghĩa này, tác giả chủ trương, tốt nhất có thể mô tả đặc điểm là ‘sự nhận thức trong sáng’. Tác giả đặt câu hỏi về giải thích phổ thông về chính niệm như sự ‘chú-ý trơn’ - sự chú ý đơn giản với không gì gắn kèm [2], chỉ ra những vấn đề lẩn quất sau cả hai từ trong diễn đạt này, tác giả là một học giả và tu sĩ đạo Phật, cũng thảo luận vắn tắt về vai trò của sự thấu hiểu rõ ràng (sampajañña) và cho thấy rằng nó phục vụ như một cầu nối giữa chức năng quan sát của chính niệm và sự phát triển của cái nhìn sâu xa. Cuối cùng ông bắt đầu câu hỏi liệu chính niệm có thể là hợp thức hay không khi lấy ra khỏi bối cảnh truyền thống của nó và dùng vào những mục đích thế tục. Ông chủ trương rằng những ứng dụng không-truyền thống như thế của chính niệm đều được chấp nhận, và ngay cả đáng khâm phục, trên nền tảng rằng chúng giúp vào việc làm giảm bớt đau khổ của con người, nhưng tỳ kheo cũng thận trọng chống lại một sự hiểu biết theo lối thu giảm, hạn hẹp về chính niệm, và thúc giục những người nghiên cứu tôn trọng truyền thống tôn giáo trong đó nó bắt gốc rễ.

Thursday, April 18, 2019

Lange – Lịch Sử Triết Học Duy Vật (04)


LỊCH SỬ TRIẾT HỌC DUY VẬT
Và Phê Bình về Sự Quan Trọng Hiện nay Của Nó

Friedrich Albert Lange
(1829-1875)






CHƯƠNG IV

Tư Tưởng Duy Vật Ở Greece Và Rome Sau Aristotle: Epicurus.


Chúng ta đã thấy trong chương trước, tiến bộ như thế bởi những phản đề – vốn Hegel đã làm rất quan trọng cho việc giải quyết triết học về lịch sử – phải luôn luôn được dựa trên một cái nhìn tổng quát về tất cả những sự kiện trong lịch sử của văn hóa như thế nào. Một khuynh hướng, sau khi lan truyền mạnh mẽ và hoàn toàn thấm nhiễm toàn bộ thời đại của nó, bắt đầu tàn lụi và mất chỗ bám của nó trên những thế hệ mới. Trong khi đó, những sức mạnh mới nảy sinh từ những khuynh hướng khác và những luồng tư tưởng cho đến lúc đó vẫn hoạt động nhưng không nhìn thấy, và việc thích nghi bản thân chúng với tính cách thay đổi của những quốc gia và những nhà nước, đưa ra một khẩu hiệu mới. Một thế hệ kiệt sức chính nó trong việc sản xuất những ý tưởng, giống như đất màu vốn sản xuất cùng một loại cây trồng đã quá lâu; và vụ mùa phong phú nhất luôn luôn nảy sinh từ cánh đồng đã cày sới nhưng không dùng đến.