Saturday, October 10, 2020

Mark Siderits – Đạo Phật như Triết học (12)

Đạo Phật như Triết học

Một Dẫn nhập

Mark Siderits

 (←...tiếptheo)

 

 

 



CHƯƠNG MƯỜI

 

Trường Phái Diṅnāga: Tri Thức Học Đạo Phật

 

Những trường phái đạo Phật và những vận động chúng ta đã khảo sát cho đến giờ tất cả đều có những tên gọi riêng biệt của chúng: đạo Phật ban đầu, Abhidharma, Mahāyanā, Theravāda, Vaibhāṣika, Sautrāntika, Yogācāra, Madhyamaka. Nhưng trường phái là đề tài của chương này thì không thế. Vì nó được nhà lôgích Diṅnāga (480 – 540) thành lập, những học giả thời nay thường nói về nó như trường phái của Diṅnāga. Nhưng nó cũng được gọi là ‘Yogācāra-Sautrāntika’, và đôi khi chỉ là ‘lôgích học đạo Phật’. Những học giả không có một tên duy nhất cho nó vì đã không có một tên gọi nào vốn những người đạo Phật India cổ điển đã dùng để chỉ tất cả những nhà tư tưởng trong truyền thống này. Đây có lẽ là vì nó là một trường phái trong một ý nghĩa khác với những trường phái chúng ta đã xem xét cho đến giờ. Mục đích của nó không là để nói rõ ràng một con đường đặc biệt nào đi đến nirvanā. Thay vào đó, nó bắt đầu vào việc phát triển những dụng cụ triết học vốn nó hy vọng những người đang theo một bất kỳ nào trong một số những con đường khác nhau. [1]

 

Friday, October 2, 2020

Mark Siderits – Đạo Phật như Triết học (11)

Đạo Phật như Triết học

Một Dẫn nhập

Mark Siderits

 

(←...tiếptheo)

 



CHƯƠNG CHÍN

 

Madhyamaka: Học thuyết Śūnyatā

 

Quan điểm rằng tất cả mọi sự vật việc đều trống rỗng, hay thiếu vắng về yếu tính, thì dứt khoát là của triết học Mahāyanā. Trong chương trước, chúng ta xem xét Yogācāra đã cố gắng để bảo vệ học thuyết này như thế nào, bằng trở lại, cho nó một diễn giải Duy Ý. Bây giờ là lúc để xem không biết học thuyết về Không [1] có thể được bảo vệ về mặt triết học hay không, khi nó được tiếp nhận theo những nghĩa trực tiếp. Đây là những gì trường phái Madhyamaka tuyên bố. Trong chương này, chúng ta sẽ xem xét một số luận chứng then chốt của những nhà bình luận Madhyamaka cho phát biểu rằng tất cả những sự vật việc thì trống rỗng. [2] Chúng ta cũng sẽ xem xét một số phản đối chính với quan điểm của Madhyamaka. Và như mọi lần, chúng ta sẽ thăm dò những hệ quả theo hướng giải thoát của quan điểm chúng ta đang xem xét. Nhưng trước khi chúng ta làm một bất kỳ nào của việc này, chúng ta cần phải là rõ ràng về những khó khăn đối diện với bất cứ ai là người tiếp nhận học thuyết về Không với không phê phán về những gì từng được gán cho nóĐiều này sẽ khiến chúng ta có khả năng để giải quyết những cách thức khác nhau vốn có thể giải thích Madhyamaka, và tại sao một số giải thích có thể là hợp lý tin cậy hơn những giải thích khác.

Saturday, September 12, 2020

Mark Siderits – Đạo Phật như Triết học (10)

Đạo Phật như Triết học

Một Dẫn nhập

Mark Siderits

 

(←...tiếptheo)

 

 

 


CHƯƠNG TÁM

 

Yogācāra: Chỉ-những-ấn tượng và sự Phủ nhận những Đối tượng Vật chất

 

Chúng ta đã thấy trong chương trước rằng trong những ý tưởng Mahāyanā mới với ý nghĩa triết học quan trọng nhất là học thuyết về Không [1]. Trường phái Yogācāra đại diện cho một cách thức của việc gắng tìm ý nghĩa của học thuyết đó. Nó thực hiện điều này bằng việc mở rộng một lý thuyết vốn phủ nhận sự tồn tại của những đối tượng hữu hình của thế giới bên ngoài. Trong chương này, chúng ta sẽ khảo sát lý thuyết đó, và những luận chứng vốn những triết gia Yogācāra đã đem cho nó hậu thuẫn. Sau đó, chúng ta sẽ xem xét quan điểm kết quả có thể được nối kết như thế nào với khẳng định rằng tất cả mọi sự vật việc đều trống rỗng, và tất cả những gì điều này có thể có liên quan với việc đạt nirvanā.

 

Monday, August 10, 2020

Mark Siderits – Đạo Phật như Triết học (09)

Đạo Phật như Triết học
Một Dẫn nhập
Mark Siderits







CHƯƠNG BẢY

Sự khởi lên của Mahāyanā

Bây giờ chúng ta quay sang đạo Phật Mahāyanā, giai đoạn thứ ba của ba giai đoạn lớn trong lịch sử của triết học đạo Phật. Trong chương này, chúng ta sẽ xem xét những khái niệm triết học then chốt, qua đó Mahāyanā đã tìm để tự tách nó xa khỏi phong trào Abhidharma. Trong những chương tiếp theo, chúng ta sẽ chú ý xem những khái niệm này được thể hiện thế nào trong ba trường phái lớn của triết học Mahāyanā. Tuy nhiên, phong trào Mahāyanā bao gồm rất nhiều, không chỉ triết học. Nó cũng đại diện cho một chuyển đổi trong sự hiểu biết của đạo Phật thực hành. Và sự chuyển đổi này đã đưa đến những thay đổi trong những xếp đặt thể chế đạo Phật. Cho đến giờ, trong quyển sách này, chúng ta đã nói rất ít về những thể chế đạo Phật và lịch sử của chúng. Nhưng trong trường hợp này sẽ là có ích để bắt đầu với một thảo luận ngắn gọn về sự khởi nguyên của Mahāyanā như một biểu hiện đặc biệt của cái nhìn sâu xa của đạo Phật. Điều này sẽ giúp chúng ta tránh một số nhầm lẫn phổ thông liên quan đến quan hệ giữa Mahāyanā và những hình thức khác của đạo Phật thực hành.

Saturday, August 8, 2020

Mark Siderits – Đạo Phật như Triết học (08)


Đạo Phật như Triết học
Một Dẫn nhập
Mark Siderits





CHƯƠNG SÁU



6.4

Chúng ta đã thảo luận về sự phát triển của một bản thể luận Abhidharma vốn nó có ý định để thay thế cả khung cơ cấu của hệ thống khái niệm phổ thông dựa trên lý trí thực tiễn thông thường của chúng ta và hệ thống những thể-loại của Nyāya. Một chuyển đổi then chốt trong phát triển này là sự phủ nhận của ý tưởng về thực thể để thay thế bằng ý tưởng về những dharma như những đặc thù-có thuộc tính. Nhưng sự phủ nhận của thực thể có nhiều nghĩa hơn những gì chúng ta đã thảo luận đến giờ. Đối với khái niệm về thực thể có hai nhánh ý tưởng riêng biệt. Một là ý tưởng về thực thể như chủ-thuộc tính. Đây là những gì được diễn tả trong cách chúng ta dùng dạng chủ từ-thuật từ. Khi chúng ta mô tả cái bình, lấy thí dụ, chúng ta nói, ‘cái bình thì tròn’, trước hết giới thiệu những chủ từ, ‘cái bình’, và sau đó nêu xác nhận một thuộc tính của nó, ‘tròn’. Ý tưởng này cũng được bày tỏ trong Nyāya tuyên bố rằng những phẩm tính, những phổ quát và những chỉ định phân biệt, tất cả thừa kế trong những thực thể. Tuy vây, nhánh ý tưởng thứ hai, là ý tưởng về thực thể như một gì đó sẽ tồn tại lâu dài. Điều này được diễn tả trong cách dùng thông thường của từ ‘có thực chất’ để có ý nói một gì thì có nhiều nên sẽ dài lâu.[1] Chúng ta có thể cũng thấy nó làm việc trong Nyāya tuyên bố rằng những thực thể đơn giản phải là vĩnh cửu. Bây giờ hai nhánh ý tưởng này cùng nhau đi đến trong phát biểu rằng những thực thể vẫn tiếp tục kéo dài tồn tại qua sự thay đổi phẩm tính. Khi chúng ta nghĩ về một sự vật việc nào đó; cái bình, đầu tiên thì màu trắng và rồi sau đó thì màu đỏ, chúng ta đang nghĩ đến cái bình vừa là một chủ của thuộc tính và một gì đó tồn tại lâu dài. Đó là bằng việc hợp hai nhánh ý tưởng vào nhau, khiến chúng ta nhận được một giải pháp cho vấn đề của sự thay đổi. Chúng ta phải nghĩ về cái bình như một gì đó có những thuộc tính thuộc nhiều loại khác nhau, và chúng ta cũng phải nghĩ về nó như một gì đó vốn tồn tại từ một thời gian này sang thời gian khác, nếu chúng ta sẽ nghĩ về nó như có thuộc tính là có màu trắng trong một thời gian, và sau đó mất thuộc tính đó và có một thuộc tính khác là có màu đỏ trong một thời gian khác. Thảo luận của chúng ta cho đến giờ đã tập trung vào sự phủ nhân của thực thể như chủ-thuộc tính. Nhưng khi chúng ta dùng khái niệm của thực thể, chúng ta cũng gắn buộc với quan điểm rằng ít nhất có một vài sự vật việc vốn kéo dài tồn tại. Abhidharma tuyên bố rằng những sự vật việc tồn tại sau cùng duy nhất là những dharma. Chúng ta đã thấy rằng những dharma không là những chủ-những thuộc tính. Nhưng chúng có thể tồn tại lâu dài hay không?