Một Điều Tra
Về Những Khả Năng Nhận Thức Của Con Người
(An Enquiry
concerning Human Understanding)
David Hume
( ← ... tiếp theo )
TIẾT V.
Giải Pháp Hoài Nghị Cho Những Nghị Vấn Này.
PHẦN I.
E 5.1, SBN 40-1
Say mê triết học, cũng như say mê tôn giáo, dường như dễ mắc phải
bất cập này: dù nó hướng đến việc
sửa đổi hành vi ứng xử và loại trừ những thói hư tật xấu của chúng ta,
nhưng nếu thực hành thiếu thận trọng, nó có thể chỉ phục vụ vào việc giúp phát triển
một thiên hướng, và đẩy não thức, với quyết tâm mạnh mẽ hơn,
nghiêng hẳn về phía vốn đã bị tiên
kiến và tính khí tự nhiên lôi kéo quá
mạnh.
Chắc chắn rằng, trong khi chúng ta
khao khát đạt đến sự kiên định cao thượng của một bậc hiền giả triết học, và nỗ lực
để gói gọn mọi thú vui của chúng ta hoàn toàn vào bên trong tâm trí của mình, cuối cùng, chúng ta có thể khiến
triết học của chúng ta trở nên giống như triết học của Epictetus và những nhà Khắc kỷ khác — chỉ là một tư tưởng vị kỷ tinh tế hơn, và dùng lý trí để tự
buông bỏ
mọi đức hạnh, cũng như vui thú xã hội.
Trong khi chúng ta chăm chú nghiên cứu sự phù phiếm
của đời người, và hướng tất cả những suy nghĩ của chúng ta về bản chất vừa trống rỗng vừa phù du
của giàu sang và danh vọng, có lẽ, trong thời gian đó, chúng ta chỉ tâng bốc bản tính lười biếng tự
nhiên của chúng ta, vốn ghét sự xô bồ
của thế gian và sự vất vả của làm lụng nhọc nhằn—tìm một cái cớ của lý trí, để bản thân được phóng túng trọn vẹn và không kiềm chế.
Tuy nhiên, có một
phái triết học dường như ít vướng phải bất cập này, bởi nó không
hùa theo bất kỳ đam mê bất thường nào trong não thức con người, cũng không thể trà trộn với bất kỳ xúc cảm hay thiên hướng nào; và đó là triết học Học viện (Academic) hay triết học Hoài nghi
(Sceptical). Những người trong phái học viện luôn nói về sự hoài
nghi và việc tạm ngưng phán đoán, về nguy hại của những quyết định vội vàng, về việc giới hạn những điều tra của khả năng
nhận thức vào những phạm vi rất hẹp, và về việc từ bỏ mọi suy đoán nằm ngoài giới hạn của đời sống và thực tiễn thường ngày.
Do đó, không gì có thể đối lập với triết học này
hơn là sự lười biếng thụ động
của não thức, sự kiêu ngạo nóng nảy, những tham vọng hão huyền
và sự nhẹ dạ mê tín của nó. Triết học này làm tiêu tan mọi đam mê, ngoại trừ đam mê sự thật; nhưng đam mê đó thì chưa bao
giờ, cũng không thể nào được đẩy lên một mức độ quá cao. Thế nên, thật đáng ngạc nhiên
khi triết học này—vốn hầu như luôn vô hại và vô tội—lại trở
thành đối tượng của biết bao chỉ trích và phỉ báng vô căn cứ.
Thế nhưng, có lẽ chính đặc điểm khiến triết học
này trở nên vô hại lại là thứ chủ yếu đẩy nó ra trước sự căm ghét và phẫn nộ của
công chúng. Vì không tâng bốc bất kỳ đam mê bất thường nào, nó thu hút được rất
ít người ủng hộ; vì chống lại quá nhiều thói hư tật xấu và sự ngu xuẩn, nó tự chuốc
lấy vô số kẻ thù — những kẻ dán nhãn nó là phóng đãng, báng bổ và phi tôn giáo.