Saturday, May 9, 2026

Cái chết của Siêu hình học

Cái chết của Siêu hình học

Tại sao Triết học từ bỏ Thực tại Tối hậu

 

 

 




Cái chết của Siêu hình học

Mục lục

  • Dẫn nhập
  • Phần 1: Cách mạng Kant: Siêu hình học đã trở thành câu chuyện về chúng ta nhưng không phải về thực tại như thế nào
  • Phần 2: Quả bom của Hume: Cuộc khủng hoảng hoài nghi khiến Kant trở nên tất yếu
  • Phần 3: Tác phẩm Tractatus của Wittgenstein: Giới hạn của ngôn ngữ là giới hạn của thế giới
  • Phần 4: Cuộc tấn công của Thuyết Thực chứng Logic: Nguyên tắc Kiểm chứng
  • Phần 5: Sự tự hủy diệt của Thuyết Thực chứng: Tại sao Nguyên tắc Kiểm chứng tự “nuốt chửng” chính nó
  • Phần 6: “Hai giáo điều” của Quine: Phá hủy nền tảng
  • Phần 7: Wittgenstein giai đoạn sau: Trò chơi ngôn ngữ và sự kết thúc của Bản thể luận
  • Phần 8: Hệ khuôn khổ của Carnap: Bản thể luận chỉ là sự lựa chọn ngôn ngữ
  • Phần 9: Nietzsche và sự phê phán của Triết học Lục địa: Siêu hình học thực chất là Tâm lý học
  • Phần 10: Sự phá hủy của Heidegger: Hữu thể và sự kết thúc của Siêu hình học Tây phương
  • Phần 11: Sự tan rã của Thuyết Thực dụng: Khi Siêu hình học không tạo ra khác biệt thực tế
  • Phần 12: Khoa học đối đầu Siêu hình học: Vật lý học và Thần kinh học tiêu diệt Thuyết nhị nguyên
  • Phần 13: Sự hồi sinh thất bại: Tại sao Siêu hình học Cách thức không cứu vãn được công trình này
  • Phần 14: Tại sao Siêu hình học phải chết: Sự đồng thuận cuối cùng
  • Phần 15: Những gì còn lại: Triết học sau Siêu hình học
  •  

Dẫn nhập

 

Trong suốt 2.000 năm qua, siêu hình học luôn tự xưng là ngành học hé lộ cấu trúc sâu thẳm nhất của thực tại. Những triết gia từ Plato đến Descartes tin rằng lý trí thuần túy có thể đạt đến những sự thật nằm ngoài quan sát vật lý. Họ đặt câu hỏi liệu Gót có hiện hữu hay không, liệu hồn người có bất tử hay không, và bản chất thực sự của quan hệ nhân quả là gì. Những câu hỏi này nhắm đến một gì đó vĩnh cửu ẩn dưới bề mặt biến đổi của kinh nghiệm thường nhật. Siêu hình học hứa hẹn mang lại tri thức về thực tại đúng như chính nó, độc lập với sự cảm nhận hay đo lường của con người. Công trình này dựa trên một giả định mạnh mẽ: Não thức có thể nắm bắt những chân lý tối hậu qua logic.

 

Đến thế kỷ 20, sự tự tin này đã sụp đổ với tốc độ đáng kinh ngạc và đạt được một sự đồng thuận gần như tuyệt đối. Những triết gia thuộc nhiều trường phái khác nhau đồng ý rằng siêu hình học truyền thống đã phá sản về mặt trí thức và kháng kiệt về mặt phương pháp. Những câu hỏi từng chiếm trọn hàng nghìn năm của triết học Tây phương đã bị tuyên bố là vô nghĩa hoặc không thể trả lời. Những tư tưởng gia hàng đầu lập luận rằng những phát biểu siêu hình học hoàn toàn thiếu nội dung nhận thức; chúng không diễn đạt bất cứ sự vật việc gì có thể kiểm chứng hay bác bỏ.

Friday, May 8, 2026

Hume – Một Điều Tra Về Những Khả Năng Nhận Thức Của Con Người (15)

Một Điều Tra Về Những Khả Năng Nhận Thức Của Con Người

(An Enquiry concerning Human Understanding)

David Hume

 

( ← ... tiếp theo )

 





Tiết XI

 

Về Sự Lo Liệu Cá Biệt Của Gót Và Về Một Cõi Sống Sau Cái Chết.[1]

 

E 11.1, SBN 132

Gần đây, tôi có trò chuyện với một người bạn, người vốn yêu thích những nghịch lý hoài nghi. [2] Trong trò chuyện đó, dù ông đưa ra nhiều nguyên lý vốn tôi chẳng đời nào tán thành được, nhưng chúng có vẻ thú vị, gợi hiếu kỳ và mang một vài liên hệ với chuỗi của những lập luận được dẫn dắt xuyên suốt tiến trình điều tra này, nên tôi xin chép lại chúng từ trí nhớ một cách xác thực nhất có thể được, để trình lên sự phán xét của người đọc.

 

E 11.2, SBN 132-3

Cuộc trò chuyện của chúng tôi bắt đầu khi tôi ngưỡng mộ vận may đặc biệt của triết học, thứ mà, vì đòi hỏi trên hết mọi đặc quyền khác một sự tự do hoàn toàn, và chủ yếu phát triển từ sự đối lập tự do giữa những quan điểm và lập luận, đã ra đời lần đầu tiên trong một thời đại và một đất nước của tự do và khoan dung, và chưa bao giờ bị kìm hãm, ngay cả trong những nguyên lý triết học cực đoan nhất, bởi bất kỳ tín điều, lời tuyên xưng hay luật lệ trừng phạt nào.

Vì, ngoại trừ việc trục xuất Protagoras và cái chết của Socrates—mà sự kiện sau cùng phần nào xuất phát từ những động cơ khác—hầu như không thể tìm thấy trong lịch sử cổ đại bất kỳ ví dụ nào về sự ghen tị cố chấp này, thứ đang bao trùm và lan tràn rất nặng nề trong thời đại hiện nay.

Epicurus đã sống tại Athens đến tuổi già trong hòa bình và yên ổn: thậm chí những người theo phái Epicurus [28] còn được phép đảm nhận phẩm hàm tư tế [3] , và thực hiện nghi lễ tại bàn thờ trong những nghi thức thiêng liêng nhất của tôn giáo chính thống: và sự khuyến khích công khai bằng lương bổng và bổng lộc cũng được ban cấp một cách công bằng, bởi những vị hoàng đế La Mã khôn ngoan nhất, cho những người giảng dạy của mọi môn phái triết học.[4]

Sự cần thiết của kiểu đối xử như vậy đối với triết học trong buổi đầu non trẻ của nàng sẽ dễ dàng được hiểu, nếu ta suy ngẫm rằng, ngay cả hiện nay, khi nàng có thể được xem là đã cứng cáp và mạnh mẽ hơn, nàng vẫn phải chịu đựng một cách khó khăn không chỉ sự khắc nghiệt của thời tiết, mà còn cả những luồng gió dữ dội của vu khống và bức hại đang thổi vào nàng.

Thursday, May 7, 2026

Hume – Một Điều Tra Về Những Khả Năng Nhận Thức Của Con Người (14)

Một Điều Tra Về Những Khả Năng Nhận Thức Của Con Người

(An Enquiry concerning Human Understanding)

David Hume

 

( ← ... tiếp theo )

 

 




TIẾT X.

Về Phép Lạ.


PHẦN II.

 

E 10. 14, SBN 116

Trong những suy luận trên đây, chúng ta đã giả định rằng lời chứng làm nền tảng cho một phép lạ có thể đạt tới mức của một minh chứng [1] trọn vẹn, và sự sai lầm của lời chứng đó sẽ là một gì phi thường thực sự. Thế nhưng, có thể dễ dàng cho thấy rằng chúng ta đã quá hào phóng trong sự nhượng bộ của chúng ta, và chưa bao giờ có một biến cố mang tính phép lạ nào được xác lập dựa trên một bằng chứng hiển nhiên đầy đủ đến như thế.

 

E 10. 15, SBN 116-7

Thứ nhất, trong toàn bộ lịch sử, chúng ta không tìm thấy bất kỳ phép lạ nào được chứng thực bởi một số lượng đủ lớn những người có khả năng nhận thức, học vấn và hiểu biết sâu rộng đến mức không thể nghi ngờ, đủ để bảo đảm cho chúng ta khỏi mọi sự tự huyễn hoặc nơi chính họ; có lòng ngay thẳng không thể bàn cãi, đủ để đặt họ vượt lên trên mọi ngờ vực về ý định lừa dối những người khác; có tiếng tăm và tên tuổi trong con mắt loài người đến mức họ sẽ mất đi rất nhiều, nếu bị tìm ra là đã nói dối; và cùng lúc đó, chứng thực cho những sự việc được làm một cách công khai, tại một vùng đất danh tiếng trên thế giới, khiến cho việc bị tìm ra sự thật là họ đã nói dối là điều không thể tránh khỏi. Tất cả những dữ kiện đi kèm này đều cần thiết để mang lại cho chúng ta một sự tin tưởng chắc chắn đầy đủ với lời chứng của con người.

Tuesday, May 5, 2026

Hume – Một Điều Tra Về Những Khả Năng Nhận Thức Của Con Người (13)

Một Điều Tra Về Những Khả Năng Nhận Thức Của Con Người

(An Enquiry concerning Human Understanding)

David Hume

 

( ← ... tiếp theo )

 

 

 



TIẾT X.

Về Phép Lạ.


PHẦN I.

E 10. 1, SBN 109

Trong những bài viết của tiến sĩ gót học Tillotson, có một lập luận chống lại thuyết hiện diện thực thể vốn súc tích, thanh nhã và mạnh mẽ đến mức tối đa mà một lập luận có thể đạt tới khi đối đầu với một giáo lý vốn chẳng mấy đáng để bác bỏ tường tận đến thế. [1] Vị giáo chủ uyên bác này nói rằng, mọi phía đều thừa nhận rằng thẩm quyền của Kinh Thánh hay Truyền thống đều thuần túy dựa trên lời chứng của những tông đồ — những nhân chứng mắt thấy tai nghe về những phép mầu của Đấng Cứu Thế, những minh chứng cho sứ mệnh thiêng liêng của Ngài. Do đó, bằng chứng hiển nhiên của chúng ta về sự thật của đạo Ki tô luôn thấp hơn bằng chứng hiển nhiên về sự thật từ những giác quan của chính chúng ta; bởi lẽ, ngy cả đối với những vị khởi xướng tôn giáo, bằng chứng ấy cũng không thể lớn hơn [giác quan]; và hiển nhiên là nó phải suy giảm khi truyền từ họ sang những môn đồ; chẳng ai có thể đặt để vào lời chứng của họ một sự tin cậy ngang bằng với đối tượng trực tiếp từ giác quan của chính mình. Thế nhưng, một bằng chứng yếu hơn thì không bao giờ có thể lật đổ một bằng chứng mạnh hơn; do đó, dù học thuyết về sự hiện diện thực tại có được vén lê cho thấy huyền nhiệm rõ ràng đến thế nào trong Kinh Thánh đi nữa, thì việc chúng ta chấp nhận nó vẫn trực tiếp đi ngược lại những quy tắc của suy luận chuẩn xác. Nó mâu thuẫn với giác quan, trong khi cả Kinh Thánh lẫn Truyền thống — những nền tảng giả định của giáo lý này — đều không mang lại sức nặng chứng cứ như giác quan khi chúng chỉ được xem xét như là những bằng chứng ngoại tại, mà không được thấu đạt đến tâm khảm mỗi người bởi sự vận hành tức thời của Gót Thánh Thần. [2]

Monday, May 4, 2026

Nietzsche – Bên kia Thiện và Ác (02)

Bên kia Thiện và Ác 

Khúc dạo đầu cho một Triết Lý của Ngày Mai

(Jenseits von Gut und Böse - Vorspiel einer Philosophie der Zukunft)


Friedrich Nietzsche.

( ← ... tiếp theo )

 

 

 

 

Bên kia Thiện và Ác

Phần Một


Về Những Định Kiến Của Những Nhà Triết Học

 

1.

 

Lòng ham muốn tìm ra sự thật [1] — thứ sẽ còn lôi cuốn chúng ta dấn thân vào bao nhiêu mối nguy nữa; cái đức tính chân thực lừng lẫy mà mọi triết gia từ trước đến nay đều kính cẩn nhắc tên: cái lòng ham muốn ấy đã bày ra trước mắt chúng ta những câu hỏi gì rồi! Những câu hỏi mới lạ lùng, độc địa và đáng ngờ làm sao! Đó đã là một câu chuyện dài — vậy mà dường như nó mới chỉ vừa bắt đầu? Có gì lạ đâu nếu cuối cùng chúng ta trở nên ngờ vực, mất lòng tin và quay đi một cách bồn chồn? Rằng chính chúng ta cũng nên học từ con Sphinx này cách để đặt ngược lại câu hỏi? Thực sự là ai đang hỏi chúng ta ở đây? Cái gì trong chúng ta thực sự muốn hướng 'đến sự thật'?

 

Thật vậy, chúng ta đã đứng khựng lại rất lâu trước câu hỏi về căn nguyên của cái lòng ham muốn này — cho đến khi cuối cùng, chúng ta dừng bước hoàn toàn trước một câu hỏi còn đào sâu tận cùng hơn nữa. chúng ta hỏi về giá trị của cái lòng ham muốn này. Giả sử chúng ta muốn sự thật: vậy tại sao không phải là cái không thật [2] thì tốt hơn? Tại sao không phải là sự bất định? Hay thậm chí là sự không biết gì? Vấn đề về giá trị của sự thật đã hiện ra trước mặt chúng ta — hay chính chúng ta mới là kẻ tìm đến đối diện với nó? Ai trong chúng ta là Oedipus? Ai là Sphinx? Đây dường như là một cuộc hẹn gặp của những câu hỏi và những dấu hỏi. Và liệu có tin nổi không, khi cuối cùng chúng ta thấy dường như vấn đề này chưa từng được đặt ra trước đó — cứ như thể lần đầu tiên chúng ta nhìn thấy nó, nhìn thẳng vào mắt nó, và dám đương đầu với nó? Bởi lẽ việc này là một sự liều lĩnh, và có lẽ chẳng có sự liều lĩnh nào lớn lao hơn thế. [3]