(An Enquiry
concerning Human Understanding)
David Hume
TIẾT X.
Về Phép Lạ.
PHẦN I.
E 10.1, SBN 109
Trong những bài viết của tiến sĩ gót học Tillotson, có một lập luận chống lại thuyết hiện diện thực thể vốn súc tích,
thanh nhã và mạnh mẽ đến mức tối đa mà một lập luận có thể đạt tới khi đối đầu
với một giáo lý vốn chẳng mấy đáng để bác bỏ tường tận đến thế. [1]
Vị giáo
chủ uyên bác này nói rằng, mọi phía đều thừa nhận rằng thẩm quyền của Kinh
Thánh hay Truyền thống đều thuần túy dựa trên lời chứng của những tông đồ —
những nhân chứng mắt thấy tai nghe về những phép mầu của Đấng Cứu Thế, những
minh chứng cho sứ mệnh thiêng liêng của Ngài. Do đó, bằng chứng hiển nhiên của
chúng ta về sự thật của đạo Ki tô luôn thấp hơn bằng chứng hiển nhiên về sự
thật từ những giác quan của chính chúng ta; bởi lẽ, ngay cả đối với những vị
khởi xướng tôn giáo, bằng chứng ấy cũng không thể lớn hơn [giác quan]; và hiển
nhiên là nó phải suy giảm khi truyền từ họ sang những môn đồ; chẳng ai có thể
đặt để vào lời chứng của họ một sự tin cậy ngang bằng với đối tượng trực tiếp
từ giác quan của chính mình. Thế nhưng, một bằng chứng yếu
hơn thì không bao giờ có thể lật đổ một bằng chứng mạnh hơn; do đó, dù học
thuyết về sự hiện diện thực tại có được vén lê cho thấy huyền nhiệm rõ
ràng đến thế nào trong Kinh Thánh đi nữa, thì việc chúng ta chấp nhận nó vẫn trực tiếp đi ngược lại
những quy tắc của suy luận chuẩn xác. Nó mâu thuẫn với giác quan, trong khi cả
Kinh Thánh lẫn Truyền thống — những nền tảng giả định của giáo lý này — đều
không mang lại sức nặng chứng cứ như giác quan khi chúng chỉ được xem xét như
là những bằng chứng ngoại tại, mà không được thấu đạt đến tâm khảm mỗi người
bởi sự vận hành tức thời của Gót Thánh Thần. [2]




