Sunday, May 24, 2020

Bhikkhu Bodhi – Tái sinh có ý nghĩa hay không?



Tái sinh có ý nghĩa hay không?

Bhikkhu Bodhi










Những người mới đến với đạo Phật thường rất ngưỡng phục sự rõ ràng, trực tiếp và không ảo tưởng nhưng hết sức thực tiễn của Dhamma vì nằm chìm trong những giảng dạy cơ bản, như Bốn Sự Thật Cao Quí, Con Đường Tám Chân Chính, và Ba Học Pháp. [1] Những giảng dạy này, rõ ràng như ánh sáng ban ngày, đều sẵn sàng trong tầm tay tiếp nhận với bất kỳ một người chân thành nào muốn tìm một con đường thoát khổ. Tuy nhiên, khi những người tìm kiếm này gặp thuyết tái sinh, họ thường chùn bước, tự nhủ nó không có ý nghĩa. Ở điểm này, họ nghi ngờ rằng giảng dạy đã đi lệch khỏi con đường dự định, rơi từ đường cao tốc lớn của lý trí xuống suy nghĩ của ‘nếu-như’ và suy đoán. Ngay cả những nhà diễn dịch đời nay của đạo Phật dường như cũng gặp khó khăn trong việc giảng dạy tái sinh một cách chặt chẽ. Một số người gạt bỏ nó như chỉ là một mảnh của khối hành lý văn hóa, siêu hình học India thời cổ, rằng đức Phật đã giữ lại cái nhìn về thế giới trong thời ngài. Những người khác giải thích nó như một ẩn dụ cho sự thay đổi của những trạng thái tâm lý, với những cõi tái sinh được coi là biểu tượng cho những mô típ tâm lý thường gặp trong văn học thần thoại [2]. Một số ít những nhà phê bình thậm chí đặt câu hỏi về tính chân thực của những văn bản về tái sinh, cho rằng chúng phải là những suy diễn khác biệt đã xen lẫn vào.

Thursday, May 21, 2020

Mark Siderits – Đạo Phật như Triết học (08)


Đạo Phật như Triết học
Một Dẫn nhập
Mark Siderits








CHƯƠNG SÁU

Abhidharma: Siêu hình học về những cá thể trống rỗng

Đề tài của chương này là một vận động trong triết học đạo Phật vốn đã lớn dậy từ những gắng sức để diễn giải thành hệ thống những bài giảng của đức Phật. Chúng ta gọi vận động là ‘Abhidharma’ vì đó là tên của bộ sưu tập những bản văn trình bày những kết quả của những gắng sức đó. Abhidharma là thứ ba trong ba nhóm những bản văn trong tàng kinh điển đạo Phật. Đầu tiên là Sūtta, sưu tập chung tất cả những bài giảng của đức Phật. Thứ hai là Vinaya, trong đó trình bày những điều lệ của kỷ luật tu viện. Những bản văn trong tập hợp đầu tiên và thứ hai được soạn thảo, ít nhất một phần, khoảng gần thời đức Phật. Những bản văn Abhidharma đến sau. Chúng phản ảnh những khó khăn vốn những người thực hành đạo Phật đã gặp phải trong khi xếp loại tất cả những đối thể [1] vốn đức Phật đã bàn luận trong những giảng dạy của ngài. Qua thời gian, những khác biệt tế vi đã nổi lên trong những giải pháp đã được đề ra. Những khác biệt này trong sự diễn dịch dẫn đến sự thành hình của nhiều trường phái khác nhau. Nhưng tựu trung, tất cả đều có một tiếp cận chung để diễn dịch những giảng dạy của đức Phật, và đều có một lập trường chung trong quan điểm triết học. Trong chương này, chúng ta sẽ xem xét lập trường triết học chung đó. Chúng ta sẽ cũng xem xét một ít của những bất đồng triết học quan trọng giữa những trường phái của Abhidharma.

Tuesday, April 28, 2020

Mark Siderits – Đạo Phật như Triết học (07)


Đạo Phật như Triết học
Một Dẫn nhập
Mark Siderits










CHƯƠNG NĂM

Nyāya: một tạm dừng để đi vào lớn rộng hơn

Trong chương này, chúng ta sẽ khảo sát trường phái Nyāya của triết học India chính thống. Nyāya đồng ý với đạo Phật rằng cuộc đời như thông thường sống thì đau khổ, và rằng nguyên nhân sau cùng của đau khổ là sự không hiểu biết của chúng ta về bản sắc định tính của chúng ta. Nhưng như một trường phái chính thống (‘truyền thống tín ngưỡng Brahma’), Nyāya chấp nhận sự tồn tại của một cái tôi. Nó cũng đã chủ trương rằng có những sự vật việc vốn tồn tại vĩnh cửu. Như vậy, nó bất đồng với hai trong ba tuyên bố của đạo Phật về những đặc tính của sự tồn tại. Hơn nữa, văn học sáng lập của trường phái này đã được soạn thảo có lẽ cũng muộn, vào khoảng 5 thế kỷ sau khi đức Phật qua đời, trong thế kỷ thứ hai CN. Ngay cả nếu văn học này phản ảnh một truyền thống truyền miệng cổ hơn, bản thân đức Phật có lẽ không biết gì đến Nyāya. Như vậy, tại sao chúng ta nên nghiên cứu Nyāya? Có hai lý do. Thứ nhất, tranh luận giữa đạo Phật và Nyāya về sự tồn tại của cái-tôi có ảnh hưởng sâu xa đến sự phát triển của triết học đạo Phật từ thế kỷ thứ hai CN trở đi. Thứ hai, một số dụng cụ và khái niệm then chốt của triết học India bắt nguồn từ Nyāya. Vì vậy, một khảo sát ngắn gọn về hệ thống Nyāya sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn tranh luận đó. Và khi chúng ta hiểu biết tranh luận này càng tốt hơn bao nhiêu, chúng ta sẽ ở vị trí càng tốt hơn bấy nhiêu, để quyết định bên nào đã là đúng về cái tôi và bản chất của thế giới.


Thursday, April 23, 2020

Harari – Coronavirus có thay đổi thái độ của chúng ta với cái chết?

Liệu coronavirus có thay đổi thái độ của chúng ta với cái chết? Hoàn toàn ngược lại
Yuval Noah Harari
 


 
 
Có phải trận dịch coronavirus sẽ đưa chúng ta trở lại với truyền thống và chấp nhận hơn, những thái độ với cái chết – hay làm mạnh hơn những gắng sức của chúng ta để kéo dài sự sống?
 
Thế giới đời nay đã được hình thành bởi tin tưởng rằng con người có thể khôn hơn và đánh bại cái chết. Đó là một thái độ cách mạng mới. Trong phần lớn lịch sử, con người ngoan ngoãn chịu chết. Cho đến cuối thời đời nay, hầu hết những tôn giáo và hệ ý thức đều coi cái chết không chỉ là số phận không thể tránh khỏi của chúng ta, nhưng như nguồn chính của ý nghĩa trong cuộc đời. Những sự kiện quan trọng nhất của sự tồn tại của con người đã xảy ra sau khi bạn trút hơi thở cuối cùng. Chỉ sau đó bạn mới đi đến hiểu được những bí mật thực sự của cuộc đời. Chỉ sau đó, bạn có được sự cứu rỗi đời đời, hoặc gánh chịu sự trừng phạt vĩnh cửu. Trong một thế giới không có cái chết – và do đó không có thiên đường, địa ngục, hay tái sinh – những tôn giáo như đạo Kitô, Islam và đạo Hindu sẽ không có ý nghĩa. Trong hầu hết lịch sử, những đầu óc con người thông tuệ nhất đã bận rộn với việc đem ý nghĩa cho cái chết, không với việc cố gắng đánh bại nó.
 

Wednesday, April 22, 2020

Mark Siderits – Đạo Phật như Triết học (06)

Đạo Phật như Triết học
Một Dẫn nhập
Mark Siderits










4.4

Chúng ta hãy tiếp tục đến phần thứ hai của việc tìm hiểu của chúng ta về đạo đức học trong đạo Phật. Chúng ta đã từng nhìn vào những hệ quả của học thuyết vô ngã hay phần của luân lý liên quan với cách chúng ta nên sống đời của chính chúng ta như thế nào. Bây giờ chúng ta sẽ xem xét học thuyết vô ngã ảnh hưởng đến những phận sự của chúng ta đối với những người khác như thế nào? Những ảnh hưởng đạo đức gì có thể theo đến từ sự kiện là-có của con người thì xem đơn giản chỉ một khái niệm tưởng tượng không thực? Nếu người đã giác ngộ là một ai đó hiểu điều này là sự thật, điều này sẽ tác động thế nào đến hành vi đạo đức của họ? Trong đoạn văn chúng ta trích dẫn trước đó, Parfit nói rằng sau khi đi đến chấp nhận quan điểm thu giảm về con người, nó đã đưa ông đến bớt bận tâm hơn về phần đời mình còn lại, và đã quan tâm hơn về những đời người khác. Chúng ta đã thấy những người đạo Phật đã có thể đồng ý với phần đầu của phát biểu này như thế nào. Họ có cũng đồng ý với phần thứ hai không? Có phải giác ngộ dẫn đến việc nâng cao đạo đức?