Một Điều Tra
Về Những Khả Năng Nhận Thức Của Con Người
(An Enquiry
concerning Human Understanding)
David Hume
TIẾT V.
Giải Pháp Hoài
Nghị Cho Những Nghị Vấn Này.
Say mê triết học, cũng như say mê tôn giáo, [1] dường như dễ mắc
phải bất cập này: dù nó hướng đến việc sửa đổi hành vi ứng xử và loại trừ những thói hư tật xấu của chúng ta, [2]
nhưng nếu thực hành thiếu thận trọng, nó có thể chỉ phục vụ vào việc giúp phát
triển một khuynh hướng ưu thắng, và đẩy não thức, với
quyết tâm mạnh mẽ hơn, nghiêng hẳn về phía vốn đã bị tiên kiến và tính khí tự nhiên lôi kéo quá
mạnh. Chắc chắn rằng, khi chúng ta khao khát đạt đến sự kiên định cao thượng của bậc hiền giả triết học, và cố gắng gói trọn mọi vui thú hoàn toàn vào bên trong tâm trí chúng ta, cuối cùng, chúng ta có thể khiến triết học của mình trở nên giống như
triết học của Epictetus và
những nhà Khắc kỷ khác [3] — chỉ là một tư tưởng vị kỷ tinh tế hơn, và dùng lý trí để tự buông bỏ mọi đức hạnh,
cũng như vui thú xã hội. [4]
Trong khi chúng ta chăm chú nghiên cứu sự phù
phiếm của đời người, và hướng tất cả những suy nghĩ của chúng ta về bản chất vừa trống rỗng vừa phù
du của giàu sang và danh vọng, có lẽ, trong thời gian đó, chúng ta chỉ tâng bốc bản tính lười biếng
tự nhiên của chúng ta, vốn ghét sự xô bồ
của thế gian và sự vất vả của
làm lụng
nhọc nhằn—tìm một cái cớ của lý trí, để bản thân được phóng túng trọn vẹn và không kiềm chế.
Tuy nhiên, có một
phái triết học dường như ít vướng phải bất cập này, bởi nó
không hùa theo bất kỳ đam mê bất thường nào trong não thức con người, cũng không thể trà trộn với bất kỳ xúc cảm hay khuynh hướng
tự nhiên nào; và đó là triết
học Học viện (Academic) hay triết học Hoài nghi (Sceptical). [5]
Những người trong phái học viện luôn nói về sự hoài nghi và việc tạm ngưng phán đoán, về nguy hại của những quyết định
vội vàng, về việc giới hạn những điều tra của khả năng nhận thức vào những phạm
vi rất hẹp, và về việc từ bỏ mọi suy tưởng nằm ngoài giới hạn của đời sống và
thực tiễn thường ngày.
Do đó, không gì có thể đối lập với triết học
này hơn là sự lười biếng thụ
động của não thức, sự kiêu ngạo nóng nảy, những tham vọng
hão huyền và sự nhẹ dạ mê tín của nó. Triết học này làm tiêu tan mọi đam mê, ngoại trừ đam
mê sự thật; nhưng đam mê đó thì chưa bao giờ, cũng không thể nào được đẩy lên một mức độ quá cao. Thế nên, thật đáng ngạc nhiên khi triết học này—vốn hầu như
luôn vô hại và vô tội—lại trở thành đối tượng của biết bao
chỉ trích và phỉ báng vô căn cứ.
Thế nhưng, có lẽ chính đặc điểm khiến triết
học này trở nên vô hại lại là thứ chủ yếu đẩy nó ra trước sự căm ghét và phẫn
nộ của công chúng. Vì không tâng bốc bất kỳ đam mê bất thường nào, nó thu hút
được rất ít người ủng hộ; vì chống lại quá nhiều thói hư tật xấu và sự ngu
xuẩn, nó tự chuốc lấy vô số kẻ thù — những kẻ dán nhãn nó là phóng đãng, báng
bổ và phi tôn giáo.




