Một Chuyên Luận Về Bản Chất Con
Người
(A Treatise of Human Nature)
David Hume
QUYỂN 1-PHẨN 4
MỤC III.
Về Triết Học Cổ Đại.
T 1.4 .3.1, SBN 219
Nhiều người viết về đạo đức đã khuyên rằng, để hiểu rõ
lòng chúng ta và biết chúng ta đã tiến bộ đến đâu trong việc sống có đức hạnh,
một cách rất tốt là mỗi buổi sáng hồi tưởng lại những giấc mơ của chúng ta, rồi
xem xét chúng với cùng sự nghiêm khắc mà chúng ta dành cho những việc hệ trọng
và được cân nhắc kỹ lưỡng nhất của chúng ta.
Theo họ, tính cách của chúng ta luôn nhất quán, và bộc lộ
rõ nhất khi không có chỗ cho sự giả tạo, nỗi sợ hãi hay toan tính, khi con người
không thể giả dối với chính mình cũng như với người khác.
Sự hào phóng hay tính hèn hạ trong tính khí của chúng ta,
sự ôn hòa hay tàn nhẫn, lòng dũng cảm hay tính nhút nhát, đều tác động lên những
hư cấu của trí tưởng tượng một cách hoàn toàn tự do, và qua những hư cấu ấy,
chúng bộc lộ rõ ràng nhất. [1]
Cũng theo cách ấy, tôi tin rằng chúng ta có thể rút ra
nhiều nhận xét hữu ích nếu phê phán những hư cấu của triết học cổ đại liên quan
đến thực thể, hình thái thực thể, thuộc tính ngẫu nhiên và phẩm chất huyền
bí; bởi dù những quan niệm ấy phi lý và thất thường đến đâu, chúng vẫn có một
mối liên hệ rất mật thiết với những nguyên lý của bản tính con người.[2]
T 1.4 .3.2, SBN 219
Những triết gia có phán đoán sáng suốt đều thừa nhận rằng
những ý niệm của chúng ta về những vật thể chẳng qua chỉ là những tập hợp được
não thức tạo nên từ những ý niệm về những phẩm chất do giác quan cung cấp,
riêng biệt và khác nhau, mà những đối tượng được cấu thành từ đó, và mà chúng
ta nhận thấy có một sự kết hợp thường xuyên với nhau.
Tuy nhiên, dù những phẩm chất này tự thân hoàn toàn riêng
biệt, chắc chắn rằng chúng ta thường xem hợp thể do chúng tạo thành như một vật,
và như cùng một vật tiếp tục tồn tại qua những biến đổi rất đáng kể. Sự cấu
thành mà chúng ta thừa nhận rõ ràng trái với tính đơn giản được giả định này,
còn sự biến đổi thì trái với tính đồng nhất.
Vì vậy, đáng để xem xét những nguyên nhân khiến
chúng ta gần như phổ quát đều rơi vào những mâu thuẫn hiển nhiên như vậy, cũng
như những phương thức mà chúng ta dùng để cố gắng che giấu những mâu thuẫn
ấy.[3]
T 1.4 .3.3, SBN 220
Rõ ràng là, khi những ý niệm về những phẩm chất riêng biệt
và kế tiếp của những đối tượng được liên kết với nhau bằng một mối quan hệ rất
chặt chẽ, thì khi lần theo chuỗi kế tiếp ấy, não thức phải được dẫn từ phần này
sang phần khác bằng một sự chuyển dịch dễ dàng, và sẽ không nhận thấy sự thay đổi
nào nhiều hơn so với khi nó đang xem xét cùng một đối tượng không thay đổi.
Sự chuyển dịch dễ dàng này chính là hiệu quả, hay đúng
hơn là bản chất, của mối quan hệ; và vì trí tưởng tượng dễ dàng lấy một ý niệm
thay cho một ý niệm khác khi ảnh hưởng của chúng đối với não thức là tương tự
nhau, nên từ đó dẫn đến kết quả là bất kỳ chuỗi kế tiếp nào của những phẩm chất
có quan hệ với nhau như vậy cũng dễ dàng được xem như một đối tượng liên tục,
hiện hữu mà không có bất kỳ sự biến đổi nào.
Sự tiến triển trôi chảy và không gián đoạn của dòng suy
nghĩ, vốn giống nhau trong cả hai trường hợp, dễ dàng đánh lừa não thức và khiến
chúng ta gán tính đồng nhất cho một chuỗi kế tiếp có thể biến đổi của những phẩm
chất được liên kết với nhau
T 1.4 .3.4, SBN 220
Nhưng khi chúng ta thay đổi cách xem xét chuỗi kế tiếp ấy,
và thay vì lần theo nó dần dần qua những thời điểm nối tiếp nhau, lại cùng một
lúc xem xét bất kỳ hai giai đoạn riêng biệt nào trong thời lượng của nó, rồi so
sánh những trạng thái khác nhau của những phẩm chất kế tiếp, thì những biến đổi
vốn không thể nhận thấy khi chúng diễn ra dần dần giờ đây trở nên đáng kể, và
dường như phá hủy hoàn toàn tính đồng nhất.
Bằng cách này, một sự đối lập trong cách chúng ta suy
nghĩ phát sinh từ những góc nhìn khác nhau khi chúng ta xem xét đối tượng, cũng
như từ khoảng cách gần hay xa giữa những thời điểm mà chúng ta đem ra so sánh.
Khi chúng ta lần theo một đối tượng dần dần qua những biến
đổi kế tiếp của nó, sự tiến triển trôi chảy của dòng suy nghĩ khiến chúng ta
gán tính đồng nhất cho chuỗi ấy; bởi vì chúng ta đang xem xét chuỗi ấy bằng một
hoạt động tương tự của não thức như khi chúng ta xem xét một đối tượng không
thay đổi.
Nhưng khi chúng ta so sánh trạng thái của đối tượng trước
và sau một biến đổi đáng kể, sự tiến triển của dòng suy nghĩ bị gián đoạn; và
vì thế, chúng ta được trình ra ý niệm về sự khác biệt.
Để hòa giải những mâu thuẫn này, trí tưởng tượng có
khuynh hướng hư cấu ra một thực thể nào đó không rõ là gì và vô hình, mà nó giả
định là vẫn tiếp tục là cùng một thực thể xuyên suốt tất cả những biến đổi ấy;
và thực thể không thể hiểu ấy được gọi là một thực thể (substance), hay
vật chất nguyên thủy và đầu tiên (prime matter)..[4]
T 1.4 .3.5, SBN 221
Chúng ta cũng có một quan niệm tương tự về tính đơn giản
của những thực thể, và quan niệm này cũng phát sinh từ những nguyên nhân tương
tự.
Giả sử một đối tượng hoàn toàn đơn giản và không thể phân
chia được hiện diện cùng với một đối tượng khác, mà những phần cùng tồn tại của
nó được liên kết với nhau bằng một mối quan hệ chặt chẽ, thì hiển nhiên cách
não thức hoạt động khi xem xét hai đối tượng này không khác nhau nhiều.
Trí tưởng tượng hình dung đối tượng đơn giản ngay lập tức,
một cách dễ dàng, bằng một nỗ lực duy nhất của dòng suy nghĩ, không có thay đổi
hay biến đổi. Sự liên kết giữa những phần trong đối tượng hợp thể gần như có
cùng hiệu quả, và kết hợp những phần của đối tượng thành một đến mức trí tưởng
tượng không cảm nhận được sự chuyển dịch khi đi từ phần này sang phần khác.
Do đó, màu sắc, vị, hình dạng, độ rắn và những phẩm chất
khác được kết hợp trong một quả đào hay một quả dưa được hình dung là tạo thành
một vật; và sở dĩ như vậy là do mối quan hệ chặt chẽ giữa chúng khiến
chúng tác động lên dòng suy nghĩ theo cùng một cách như thể chúng hoàn toàn
không có cấu thành.[5]
Nhưng não thức không dừng lại ở đây. Khi nó xem xét đối
tượng dưới một góc nhìn khác, nó nhận ra rằng tất cả những phẩm chất này đều
khác nhau, có thể phân biệt và có thể tách rời khỏi nhau; nhưng cách nhìn này,
vì phá hủy những quan niệm ban đầu và tự nhiên hơn của nó, buộc trí tưởng tượng
phải hư cấu ra một thực thể nào đó không rõ là gì và vô hình, hay một thực
thể và vật chất nguyên thủy, làm nguyên lý hợp nhất hay kết dính giữa những
phẩm chất này, và làm nền để đối tượng hợp thể có cơ sở được gọi là một vật, bất
chấp sự đa dạng và cấu thành của nó.
T 1.4 .3.6, SBN 221–222
Triết học kinh viện cho rằng vật chất nguyên thủy hoàn
toàn đồng nhất trong tất cả những vật thể, và xem lửa, nước, đất và không khí
là cùng một thực thể, do chúng liên tục chuyển hóa và biến đổi lẫn nhau.
Đồng thời, triết học ấy gán cho mỗi loài đối tượng một
hình thái thực thể riêng biệt, mà nó giả định là nguồn gốc của tất cả những phẩm
chất khác nhau mà những đối tượng thuộc loài ấy có, đồng thời là một nền tảng mới
của tính đơn giản và tính đồng nhất cho mỗi loài.
Mọi sự tùy thuộc vào cách chúng ta nhìn những đối tượng.
Khi chúng ta theo dõi những biến đổi dần dần và không thể nhận thấy của những vật
thể, chúng ta giả định rằng tất cả chúng đều thuộc về cùng một thực thể hay
cùng một bản chất. Khi chúng ta chú ý đến những khác biệt có thể cảm nhận được
giữa chúng, chúng ta lại gán cho mỗi vật một thực thể và một bản chất riêng biệt.
Và để có thể đồng thời chấp nhận cả hai cách nhìn về những
đối tượng, chúng ta giả định rằng mọi vật thể đồng thời có một thực thể và một
hình thái thực thể.[6]
T 1.4 .3.7, SBN 222
Khái niệm về những thuộc tính ngẫu nhiên là một hệ
quả không thể tránh khỏi của phương pháp suy nghĩ này liên quan đến những thực
thể và những hình thức bản thể; và chúng ta không thể không xem những màu sắc,
âm thanh, vị, hình dạng và những thuộc tính khác của những vật thể như những sự
hiện hữu không thể tự tồn tại riêng rẽ, mà cần một chủ thể nội tại để nâng đỡ
và duy trì chúng.
Vì chúng ta chưa bao giờ nhận ra bất kỳ phẩm chất do giác
quan cung cấp nào trong số này mà — vì những lý do đã nêu trên — chúng ta lại
không đồng thời hư cấu ra một thực thể tồn tại, nên cùng một thói quen khiến
chúng ta suy luận một mối liên kết nhân quả cũng khiến chúng ta ở đây suy luận
một sự phụ thuộc của mọi phẩm chất vào thực thể không biết ấy.
Tập quán hư cấu ra một sự phụ thuộc có cùng hiệu quả như
tập quán quan sát sự phụ thuộc ấy lẽ ra sẽ có. Tuy nhiên, ý niệm này cũng không
hợp lý hơn bất kỳ ý niệm nào đã được trình bày trước đó.
Mỗi phẩm chất, vì là một sự hiện hữu riêng biệt với những
phẩm chất khác, có thể được hình dung là tồn tại riêng rẽ, và có thể tồn tại
riêng rẽ, không chỉ khỏi mọi phẩm chất khác, mà còn khỏi bóng ma không thể hiểu
được ấy của một thực thể.
T 1.4 .3.8, SBN 222
Nhưng những triết gia này còn đẩy những hư cấu của họ đi
xa hơn nữa trong những quan niệm về những phẩm chất huyền bí: họ vừa giả
định một thực thể nâng đỡ mà chính họ cũng không biết là gì, vừa giả định một
phẩm chất được thực thể ấy nâng đỡ mà họ cũng không có một ý niệm rõ ràng hơn về
nó.
Do đó, toàn bộ hệ thống hoàn toàn không thể hiểu được,
nhưng lại được dẫn xuất từ những nguyên lý tự nhiên không kém bất kỳ nguyên lý
nào đã được giải thích ở trên.
T 1.4 .3.9, SBN 222–223
Khi xem xét chủ đề này, chúng ta có thể nhận ra một sự tiến
triển qua ba quan điểm, mỗi quan điểm vượt lên trên quan điểm trước tùy theo mức
độ lý trí và tri thức của những người hình thành chúng. Đó là quan điểm của người
đời thường,[7] của một triết học sai lầm, và của triết học chân chính.
Khi khảo sát, chúng ta sẽ thấy rằng triết học chân chính gần với cảm thức của
thường dân hơn là với những quan điểm của triết học sai lầm.[8]
Điều tự nhiên là con người, theo cách suy nghĩ thông thường
và không xem xét kỹ lưỡng, tưởng rằng họ nhận ra một sự liên kết giữa những đối
tượng mà họ luôn thấy kết hợp với nhau; và bởi vì tập quán đã khiến việc tách rời
những ý niệm trở nên khó khăn, họ có khuynh hướng tưởng rằng sự tách rời như vậy
tự nó là không thể và phi lý.[9]
Nhưng những triết gia, những người gạt bỏ những hiệu quả
của tập quán và so sánh những ý niệm về những đối tượng, ngay lập tức nhận ra
sai lầm trong những cảm thức thông thường này, và nhận ra rằng không có sự liên
kết nào giữa những đối tượng mà chúng ta có thể nhận biết trực tiếp.
Mỗi đối tượng khác biệt xuất hiện đối với họ như hoàn
toàn riêng biệt và tách rời; và họ nhận ra rằng chúng ta không suy luận đối tượng
này từ đối tượng kia bằng cách xem xét bản chất và những phẩm chất của chúng,
mà chỉ từ việc trong nhiều trường hợp chúng ta quan sát thấy chúng thường xuyên
kết hợp với nhau.
Nhưng những triết gia này, thay vì rút ra một suy luận
đúng đắn từ quan sát ấy và kết luận rằng chúng ta không có ý niệm nào về quyền
năng hay tác lực, tách biệt khỏi não thức và thuộc về những nguyên
nhân — tôi nói, thay vì rút ra kết luận này — họ thường tìm kiếm những phẩm chất
tạo nên chính tác lực ấy, và không hài lòng với bất kỳ hệ thống nào mà lý trí của
họ gợi ý để giải thích nó.[10]
Họ có đủ sức mạnh thiên tài để giải phóng mình khỏi sai lầm
thông thường rằng có một sự liên kết tự nhiên và có thể nhận thấy giữa những phẩm
chất do giác quan cung cấp khác nhau và những tác động của vật chất; nhưng lại
không đủ để ngăn họ khỏi việc vẫn tìm kiếm sự liên kết ấy trong vật chất hoặc
trong những nguyên nhân.
Nếu họ đã đi đến kết luận đúng đắn, họ đã quay trở lại vị
trí của người đời thường, và sẽ xem tất cả những khảo cứu này với sự thờ ơ và dửng
dưng.
Hiện tại, họ dường như ở trong một tình trạng rất đáng
thương, giống như tình trạng mà những nhà thơ chỉ có thể mô tả một cách mờ nhạt
khi nói về những hình phạt của Sisyphus và Tantalus. Bởi có thể tưởng tượng được
sự tra tấn nào lớn hơn việc hăng hái tìm kiếm một thực tại mãi mãi lẩn tránh
chúng ta, và tìm kiếm nó ở một nơi mà nó không thể nào tồn tại?
T 1.4 .3.10, SBN 224
Nhưng vì tự nhiên dường như luôn giữ một sự công bằng và
cân bằng trong mọi sự, nên bà không đối xử với những triết gia bất công hơn những
phần còn lại của tạo vật, mà đã dành cho họ một sự an ủi giữa tất cả những thất
vọng và khổ đau của họ.
Sự an ủi này chủ yếu nằm trong việc họ sáng chế ra những
từ như năng lực và phẩm chất huyền bí. Bởi vì sau khi thường
xuyên sử dụng những thuật ngữ thực sự có ý nghĩa và dễ hiểu, chúng ta có thể dần
bỏ qua ý niệm mà những thuật ngữ ấy dùng để diễn đạt, và chỉ còn giữ lại tập
quán nhờ đó chúng ta có thể gọi lại ý niệm ấy bất cứ khi nào muốn; nên cũng tự
nhiên xảy ra rằng, sau khi thường xuyên sử dụng những thuật ngữ hoàn toàn không
có ý nghĩa và không thể hiểu, chúng ta tưởng rằng chúng cũng ở cùng vị thế với
những thuật ngữ trước, và rằng chúng có một ý nghĩa bí mật nào đó mà chúng ta
có thể khám phá bằng sự suy xét của chính mình.
Sự giống nhau về bề ngoài giữa hai loại thuật ngữ ấy đánh
lừa não thức, như thường xảy ra, và khiến chúng ta tưởng rằng giữa chúng có một
sự tương đồng và phù hợp hoàn toàn.
Bằng cách này, những triết gia ấy tự đặt mình vào trạng
thái an tâm, và cuối cùng đạt đến, bằng một ảo tưởng, cùng sự dửng dưng mà người
đời thường đạt được bằng sự ngu muội, còn những triết gia chân chính đạt được bằng
chủ nghĩa hoài nghi ôn hòa của họ.
Họ chỉ cần nói rằng bất kỳ hiện tượng nào khiến họ bối rối
đều phát sinh từ một năng lực hay một phẩm chất huyền bí, và thế là mọi tranh
luận cũng như mọi tìm hiểu về vấn đề ấy lập tức chấm dứt.[11]
T 1.4 .3.11, SBN 224–225
Nhưng trong số tất cả những trường hợp mà trường phái Peripatetics
[12]
cho thấy họ đã để mình bị dẫn dắt bởi những khuynh hướng tầm thường của trí tưởng
tượng, không có trường hợp nào đáng chú ý hơn những quan niệm của họ về sự
tương ứng (sympathies), sự đối nghịch (antipathies), và sự ghê sợ
khoảng trống (horrors of a vacuum).[13]
Có một khuynh hướng rất đáng chú ý trong bản tính con người:
chúng ta có khuynh hướng gán cho những đối tượng bên ngoài những cảm xúc giống
với những cảm xúc mà chúng ta nhận thấy ở chính mình, và tìm thấy ở khắp nơi những
ý niệm vốn hiện hữu rõ ràng nhất trong não thức của chúng ta.
Đúng là khuynh hướng này bị kìm hãm bởi một chút suy xét,
và chỉ còn xuất hiện ở trẻ em, những thi sĩ và những triết gia cổ đại. Ở trẻ
em, nó thể hiện qua mong muốn đánh những hòn đá đã làm chúng bị thương; ở những
thi sĩ, qua sự sẵn sàng nhân hóa mọi vật; còn ở những triết gia cổ đại, qua những
hư cấu về sự tương ứng và sự đối nghịch.
Chúng ta có thể tha thứ cho trẻ em vì tuổi tác của chúng;
tha thứ cho những thi sĩ vì họ tuyên bố hoàn toàn tuân theo những gợi ý của trí
tưởng tượng; nhưng chúng ta sẽ tìm thấy lời bào chữa nào để biện minh cho những
triết gia của chúng ta trước một điểm yếu rõ ràng đến như vậy?
Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ hai
(Jun/2026)
(Còn tiếp... →)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1] Triết
học Cổ đại — Ở đây Hume dùng antient philosophy theo nghĩa khá rộng,
chủ yếu để chỉ truyền thống siêu hình học cổ truyền về thực tại vật chất, bắt
nguồn từ triết học Hy Lạp, được tiếp nhận và phát triển trong triết học kinh viện
thời Trung cổ, và vẫn còn ảnh hưởng mạnh vào thời Hume. Vì vậy, thuật ngữ này
không chỉ giới hạn vào triết học Hy Lạp cổ đại theo nghĩa lịch sử hẹp, cũng
không nhằm chỉ toàn bộ triết học thời Cổ đại, càng không chỉ toàn bộ những lĩnh
vực như đạo đức học hay chính trị học.
Trong
T 1.4.3, đối tượng trực tiếp của Hume là những quan niệm siêu hình về thực thể,
vật chất và những nguyên lý được cho là nằm bên dưới những phẩm chất có thể cảm
nhận được: substances (thực thể), substantial forms (hình thái thực
thể), accidents (thuộc tính ngẫu nhiên), occult qualities (phẩm
chất huyền bí), cũng như những khái niệm như sympathy, antipathy
và horror of a vacuum. Qua việc phê phán những quan niệm này, Hume không
chỉ hỏi những nhà triết học đã tin tưởng vào gì, mà còn đặt một câu hỏi sâu
hơn: vì sao não thức con người lại hình thành và tin tưởng vào những quan niệm ấy?
Đây
là điểm quan trọng trong phương pháp của Hume. Ông không đơn giản thay một hệ
thống siêu hình bằng một hệ thống khác. Ông truy ngược từ sự tin tưởng về
nguyên nhân của sự tin tưởng. Khi những phẩm chất khác nhau thường xuyên xuất
hiện cùng nhau, sự chuyển dịch dễ dàng của não thức từ ý niệm này sang ý niệm
khác khiến chúng ta có khuynh hướng xem một chuỗi phẩm chất như một vật duy nhất.
Khi những phẩm chất ấy biến đổi, chúng ta lại hư cấu một thực thể bất biến nằm
bên dưới để duy trì tính đồng nhất của vật. Khi nhận thấy mỗi phẩm chất có thể
tồn tại riêng biệt, chúng ta hư cấu thêm một thực thể làm nền để liên kết
chúng. Khi không tìm thấy nguyên nhân đã biết của một hiện tượng, chúng ta đặt
vào đó một “năng lực” hay “phẩm chất huyền bí”. Những khái niệm siêu hình, vì
thế, không xuất hiện hoàn toàn tùy tiện; chúng phát sinh từ những khuynh hướng
tự nhiên của trí tưởng tượng và những nguyên lý liên kết của não thức.
Điều
này nối T 1.4.3 trực tiếp với toàn bộ dự án của Hume trong Treatise.
Hume không chỉ phá bỏ từng khái niệm siêu hình riêng lẻ; ông truy tìm một
nguyên lý tổng quát hơn về nguồn gốc của sự tin tưởng vào những quan niệm siêu
hình: con người có khuynh hướng biến sự liên kết trong kinh nghiệm thành sự
liên kết trong thực tại. Từ những phẩm chất thường xuyên xuất hiện cùng nhau,
chúng ta đi đến ý niệm về một thực thể nằm bên dưới và hợp nhất chúng; từ sự kết
hợp thường xuyên của những hiện tượng, chúng ta đi đến ý niệm về quyền năng
nhân quả; từ một dòng tri giác biến đổi nhưng được liên kết chặt chẽ, chúng ta
đi đến một sự đồng nhất được giả định là tồn tại xuyên suốt.
Theo
đó, có một chuỗi vận động xuyên suốt triết học của Hume: kinh nghiệm cung cấp
những tri giác; sự lặp lại tạo ra sự liên kết; tập quán làm cho sự chuyển dịch
từ ý niệm này sang ý niệm khác trở nên dễ dàng; trí tưởng tượng vượt quá những
gì được trực tiếp trình hiện và hư cấu ra một nguyên lý hay thực thể để giải
thích sự liên kết ấy; sự liên kết với những ấn tượng hiện tại làm cho hư cấu ấy
có đủ sinh động để trở thành sự tin tưởng.
Vì
vậy, phê phán siêu hình học ở đây đồng thời là một phân tích về nguồn gốc tâm
lý của siêu hình học. Hume không chỉ hỏi “các nhà kinh viện đã sai ở đâu?”, mà
còn hỏi “vì sao một sai lầm như vậy lại có thể hình thành một cách tự nhiên
trong não thức con người?” Chính ở đây phê phán siêu hình học gặp trực tiếp lý
thuyết của Hume về trí tưởng tượng, tập quán, sự liên kết và sự tin tưởng. Ông
đưa chúng ta đi từ học thuyết trở lại nguyên nhân tâm lý của học thuyết,
từ những gì con người tuyên bố về thực tại trở lại những hoạt động của não thức
khiến họ hình thành và duy trì những sự tin tưởng ấy.
[2] Những thực thể, những hình thái thực thể,
những thuộc tính ngẫu nhiên và những phẩm chất huyền bí — Bốn thuật ngữ này thuộc vốn từ vựng trung tâm của siêu hình học
Aristotle và truyền thống kinh viện, đặc biệt trong nỗ lực giải thích một vật
là-có gì đằng sau những phẩm chất mà chúng ta nhận biết bằng giác quan. Hume
gom chúng lại vì chúng biểu hiện những cách khác nhau mà triết học cổ truyền cố
gắng vượt ra ngoài những gì được trực tiếp trình hiện trong kinh nghiệm để tìm
một nền tảng sâu hơn cho sự đồng nhất, sự kết hợp và sự biến đổi của những vật
thể.
Thực thể (substance) trước hết chỉ một thực tại được xem
là có thể tồn tại tự nó và làm nền cho những phẩm chất hay trạng thái khác. Khi
chúng ta thấy một quả đào có màu sắc, vị, hình dạng, độ rắn và những phẩm chất
khác nhau, siêu hình học kinh viện không xem toàn bộ những phẩm chất ấy là toàn
bộ thực tại của quả đào. Nó giả định phải có một thực thể nằm bên dưới, là nền
tảng mang những phẩm chất ấy. Những phẩm chất có thể thay đổi trong khi thực thể
vẫn được xem là cùng một thực thể; vì vậy, khái niệm thực thể cung cấp một nguyên
lý để giải thích sự đồng nhất xuyên qua biến đổi.
Chính tại đây Hume đặt vấn đề: chúng ta có ấn tượng nào về
một thực thể như vậy không? Nếu màu sắc, vị, hình dạng và độ rắn đều có thể được
phân biệt và tách rời trong tri giác, thì ý niệm về một thực thể nằm bên dưới,
khác với toàn bộ những phẩm chất được cảm nhận, đến từ đâu? Đối với Hume, đây
là một trường hợp điển hình trong đó trí tưởng tượng đi từ những phẩm chất được
trực tiếp trình hiện đến một nền tảng được giả định là mang những phẩm chất ấy,
mặc dù chúng ta không có một ấn tượng riêng biệt nào về nền tảng ấy.
Hình thái thực thể (substantial form) thuộc một tầng giải thích
khác. Trong truyền thống Aristotle–kinh viện, một vật không chỉ được giải thích
bằng vật chất mà còn bằng hình thái làm cho vật chất trở thành một thực thể thuộc
một loài nhất định, đồng thời giải thích những đặc tính và hoạt động đặc trưng
của loài ấy. Hình thái thực thể vì vậy không đơn giản là hình dáng bên
ngoài của một vật. Nó là nguyên lý làm cho một thực thể có bản tính xác định và
trở thành một thực thể thuộc loại này chứ không phải loại khác.
Chẳng hạn, trong cách giải thích Aristotle, vật chất cấu
thành một sinh vật tự nó chưa giải thích vì sao sinh vật ấy là một sinh vật thuộc
một loài nhất định và có những hoạt động đặc trưng của loài ấy. Hình thái thực
thể được dùng để chỉ nguyên lý làm cho vật chất có tính hiện thực và bản tính
xác định như vậy. Theo cách Hume trình bày, substantial form trở thành một
phương tiện khác mà những triết gia dùng để giải thích tính thống nhất và tính
đồng nhất của vật qua những biến đổi mà chúng ta quan sát được. Nếu thực thể được
dùng để trả lời câu hỏi “nền tảng nào mang những phẩm chất này?”, thì hình thái
thực thể được dùng để trả lời câu hỏi “nguyên lý nào làm cho vật này là một thực
thể thuộc loại này?”. Hume cho rằng cả hai đều vượt quá những gì kinh nghiệm trực
tiếp cung cấp cho chúng ta.
Thuộc tính ngẫu nhiên (accident) chỉ những phẩm chất hoặc trạng thái có
thể có hoặc không có ở một thực thể mà không làm thực thể ấy trở thành một thực
thể khác. Màu sắc, vị, hình dạng, độ rắn và những phẩm chất tương tự được truyền
thống kinh viện xem là những thuộc tính không tồn tại tự mình, mà tồn tại ở
trong một thực thể và nhờ thực thể ấy mà có nền tảng. Một quả đào có thể thay đổi
màu sắc, độ rắn hoặc những phẩm chất khác mà vẫn là cùng một quả đào; vì vậy những
phẩm chất ấy không được xem là thực thể làm nền mà là những thuộc tính của thực
thể.
Hume đặc biệt quan tâm đến cấu trúc này, bởi ông cho rằng
khi chúng ta nhận biết một phẩm chất riêng biệt, chúng ta không đồng thời nhận
biết thêm một “chủ thể” bí ẩn đang nâng đỡ phẩm chất ấy. Chúng ta nhận biết màu
sắc, vị, hình dạng, độ rắn và những phẩm chất khác như những tri giác riêng biệt;
rồi do thói quen liên kết chúng, chúng ta có khuynh hướng giả định rằng chúng
thuộc về một thực thể chung. Như vậy, chính sự liên kết giữa những phẩm chất được
cảm nhận có thể dẫn trí tưởng tượng đến việc hư cấu ra một nền tảng mà kinh
nghiệm không trực tiếp trình hiện.
Phẩm chất huyền bí (occult quality) đi xa hơn nữa. Đây là một phẩm
chất hay nguyên lý được viện dẫn để giải thích vì sao một vật có khả năng tạo
ra một hiệu quả nào đó, trong khi bản thân phẩm chất được viện dẫn lại không được
chúng ta hiểu rõ hoặc không thể quy về một ý niệm có nội dung xác định. Chẳng hạn,
thay vì chỉ mô tả rằng một vật thường xuyên gây ra một hiệu quả, một triết gia
có thể nói rằng vật ấy có một “năng lực” khiến nó tạo ra hiệu quả ấy.
Nhưng nếu từ năng lực không cung cấp thêm một ý niệm
nào về cách thức hay nguyên lý mà hiệu quả được tạo ra, thì thuật ngữ ấy không
thực sự giải thích thêm gì. Nó chỉ đặt một tên cho chính sự thiếu hiểu biết của
chúng ta. Đây là lý do Hume đặc biệt mỉa mai việc những triết gia dùng những
thuật ngữ như power và occult qualities. Một thuật ngữ có thể được
sử dụng thường xuyên đến mức tạo ra cảm giác rằng chúng ta đã hiểu nó, trong
khi thực ra não thức chỉ giữ lại tập quán sử dụng từ mà không có một ý niệm rõ
ràng tương ứng. Trong T 1.4.3.10, Hume sẽ khai triển chính cơ chế này: những từ
ngữ có vẻ giống những thuật ngữ có ý nghĩa có thể khiến chúng ta tưởng rằng đằng
sau chúng phải có một ý niệm nào đó mà chúng ta chưa khám phá được.
Bốn khái niệm này vì thế tạo thành một chuỗi giải thích
siêu hình học khá rõ. Khi những phẩm chất khác nhau được cảm nhận cùng nhau,
chúng ta có khuynh hướng xem chúng như những phẩm chất của một vật; để giải
thích sự thống nhất ấy, chúng ta giả định một thực thể làm nền. Để giải thích
vì sao vật ấy thuộc một loại nhất định và có bản tính đặc trưng, chúng ta giả định
một hình thái thực thể. Để xác định địa vị của những phẩm chất riêng biệt như
màu sắc, vị, hình dạng hay độ rắn, chúng ta gọi chúng là thuộc tính ngẫu nhiên
của thực thể. Và khi gặp một hiệu quả mà chúng ta không thể giải thích bằng những
gì kinh nghiệm cho thấy, chúng ta viện dẫn một phẩm chất huyền bí hay một năng
lực nằm trong vật.
Tuy nhiên, đối với Hume, bốn khái niệm này không phải bốn
phát hiện độc lập về bốn tầng khác nhau của thực tại. Chúng là những biểu hiện
khác nhau của cùng một khuynh hướng của não thức: đi từ những gì được trực tiếp
trình hiện đến một nguyên lý được giả định là nằm phía sau những gì được trình
hiện. Chúng ta nhận biết những phẩm chất; rồi giả định một thực thể mang những
phẩm chất ấy. Chúng ta nhận thấy những biến đổi nhưng vẫn nhận ra cùng một vật;
rồi giả định một nguyên lý bảo đảm tính đồng nhất của vật. Chúng ta quan sát những
hiệu quả nhưng không biết nguyên nhân hoạt động như thế nào; rồi đặt vào nguyên
nhân một “năng lực” hay “phẩm chất huyền bí” để lấp khoảng trống giải thích.
Điểm này phải được đặt trong nguyên lý nền tảng của Hume
về nguồn gốc của ý niệm. Chúng ta có thể nhận biết màu sắc, vị, hình dạng hay độ
rắn; chúng ta có thể quan sát sự kết hợp thường xuyên giữa những phẩm chất và
những hiệu quả; nhưng chúng ta không nhận được một ấn tượng riêng biệt về một
thực thể nằm bên dưới, một hình thái thực thể hay một phẩm chất huyền bí. Vì vậy,
Hume không xem những khái niệm này là những phát hiện về một tầng thực tại sâu
hơn mà kinh nghiệm đã cho chúng ta thấy. Chúng là những hư cấu của trí tưởng tượng,
được hình thành khi não thức tìm cách làm cho những gì được trình hiện có vẻ thống
nhất, liên tục và có thể giải thích được.
Nhưng gọi chúng là “hư cấu” không có nghĩa chúng hoàn
toàn tùy tiện. Đây mới là điểm quan trọng trong phân tích của Hume. Những hư cấu
ấy phát sinh từ những nguyên lý rất tự nhiên của bản tính con người: khuynh hướng
tìm sự đồng nhất trong một chuỗi biến đổi; khuynh hướng nối kết những phẩm chất
thường xuyên xuất hiện cùng nhau; sự chuyển dịch dễ dàng của não thức giữa những
ý niệm có quan hệ; và khuynh hướng tìm một nguyên nhân hay nền tảng cho những
hiện tượng được quan sát. Vì vậy, một quan niệm có thể phi lý về mặt triết học
nhưng hoàn toàn tự nhiên về mặt tâm lý.
Đây chính là lý do Hume nói rằng những hư cấu của triết học
cổ đại, dù “phi lý và thất thường”, vẫn có “một mối liên hệ rất mật thiết với
những nguyên lý của bản tính con người”. Ông không chỉ muốn chứng minh rằng những
nhà kinh viện đã đưa vào siêu hình học những thực thể, hình thái và năng lực mà
chúng ta không thể tìm thấy trong kinh nghiệm. Ông còn muốn giải thích vì sao
não thức con người lại có khuynh hướng tạo ra những thực thể, hình thái và năng
lực ấy. Phê phán siêu hình học, vì thế, đồng thời trở thành một phân tích về
nguồn gốc tự nhiên của những sự tin tưởng siêu hình.
[3] Tính đồng nhất
(identity) — Trong T 1.4.3.2, identity là một khái niệm then chốt
trong lập luận của Hume. Ở đây, identity không có nghĩa là một vật giống
một vật khác về phẩm chất, cũng không đơn giản có nghĩa là vật ấy không thay đổi.
Hume dùng identity để chỉ phán đoán rằng một vật vẫn là cùng một vật
xuyên suốt những biến đổi và qua những thời điểm khác nhau.
Hume bắt đầu từ một mâu thuẫn. Theo phân tích mà ông chấp
nhận từ những triết gia, một vật thể chẳng qua là một hợp thể (composition)
gồm nhiều phẩm chất do giác quan cung cấp; những phẩm chất này riêng biệt, có
thể phân biệt với nhau và có thể biến đổi. Nhưng trong cách chúng ta thường
quan niệm, hợp thể ấy lại được xem như một vật, thậm chí như một vật có tính
đơn giản (simplicity); và mặc dù những phẩm chất cấu thành nó biến đổi
đáng kể, chúng ta vẫn xem nó là cùng một vật, tức gán cho nó tính đồng nhất (identity).
Vì vậy, Hume đặt hai cặp đối lập: composition — simplicity và variation
— identity.
Identity vì thế không phải là một phẩm chất mà chúng ta trực tiếp
nhận thấy trong vật. Kinh nghiệm chỉ cho chúng ta những phẩm chất riêng biệt,
có thể xuất hiện, biến đổi rồi biến mất; nhưng chúng ta lại liên kết một chuỗi
những tri giác ấy và xem chúng như thuộc về cùng một vật. Hume đặc biệt phân biệt
identity với unity. Một đối tượng được xem xét tại một thời điểm
có thể được xem như một đơn vị; nhưng khi chúng ta theo dõi đối tượng ấy qua thời
gian, mặc dù những phẩm chất của nó biến đổi, chúng ta vẫn phán đoán rằng đó là
cùng một vật. Vấn đề về identity phát sinh chính từ sự chuyển từ một chuỗi
những tri giác riêng biệt sang quan niệm về một vật duy nhất tồn tại xuyên suốt
chuỗi ấy.
Từ đây Hume không dừng lại ở việc chỉ ra mâu thuẫn. Hai từ
causes và means mở ra câu hỏi quan trọng hơn: vì sao não thức con
người gần như phổ quát đều hình thành quan niệm mâu thuẫn ấy, và bằng cách nào
chúng ta vẫn duy trì quan niệm ấy bất chấp mâu thuẫn? Causes vì vậy hướng
sự phân tích vào nguyên nhân tâm lý của quan niệm về vật thể; means hướng
vào cách thức trí tưởng tượng che giấu hoặc làm mất đi sự mâu thuẫn giữa những
gì chúng ta nhận thấy và những gì chúng ta tin tưởng về vật thể.
Hume sẽ giải thích rằng nguyên nhân không nằm trong một
nguyên lý siêu hình mà chúng ta trực tiếp khám phá được trong vật thể, mà nằm
trong những nguyên lý liên kết tự nhiên của não thức và hoạt động của trí tưởng
tượng. Khi những phẩm chất thường xuyên xuất hiện cùng nhau, sự chuyển dịch dễ
dàng từ ý niệm này sang ý niệm khác khiến chúng ta có khuynh hướng xem toàn bộ
chuỗi phẩm chất như một vật duy nhất. Khi những phẩm chất ấy biến đổi nhưng sự
chuyển dịch của dòng suy nghĩ vẫn diễn ra liên tục, trí tưởng tượng tiếp tục
gán cho chuỗi ấy tính đồng nhất. Khi sự biến đổi trở nên quá lớn và làm gián đoạn
sự chuyển dịch ấy, trí tưởng tượng lại hư cấu ra một thực thể tiếp tục tồn tại
để nối những giai đoạn khác nhau và duy trì tính đồng nhất đã được gán cho vật.
Do đó, simplicity, identity, causes, means không
phải bốn vấn đề tách rời. Chúng đánh dấu bốn khâu trong một lập luận thống nhất:
chúng ta xem một hợp thể gồm nhiều phẩm chất như một vật có tính đơn giản; xem
một chuỗi những phẩm chất biến đổi như thuộc về cùng một vật; rồi Hume truy tìm
nguyên nhân khiến chúng ta hình thành những quan niệm ấy và phương thức mà trí
tưởng tượng sử dụng để che giấu những mâu thuẫn nằm ngay trong chúng.
Theo nghĩa này, T 1.4.3 không chỉ hỏi “vật thể là gì?”,
mà chuyển sang một câu hỏi sâu hơn: “vì sao não thức con người lại hình thành
quan niệm về một vật thể duy nhất và đồng nhất từ một tập hợp những phẩm chất
riêng biệt và biến đổi?” Đây chính là bước chuyển quan trọng của Hume từ việc
mô tả những quan niệm siêu hình sang truy tìm nguồn gốc của chúng trong những
nguyên lý hoạt động của não thức.
[4] Vật chất nguyên thủy và đầu tiên (prime matter) — Prime matter (materia prima) là
một khái niệm của siêu hình học Aristotle và triết học kinh viện, dùng để chỉ vật
chất ở trạng thái nguyên thủy nhất, hoàn toàn không có hình thái xác định,
không có những phẩm chất riêng mà giác quan có thể nhận biết, và không thể tồn
tại như một vật riêng biệt.
Theo quan niệm này, một vật thể vật chất được cấu thành từ
vật chất và hình thái thực thể (matter and substantial form). Hình thái
thực thể làm cho vật chất trở thành một vật thuộc một loại xác định; còn vật chất
nguyên thủy là nền tảng khả thể nằm dưới những biến đổi từ hình thái này sang
hình thái khác. Chẳng hạn, khi nước biến thành hơi hoặc một vật thể này biến
thành vật thể khác, prime matter được giả định là thành phần vẫn còn đó
xuyên suốt sự biến đổi, trong khi hình thái thay đổi.
Trong T 1.4.3.4, Hume không chấp nhận rằng chúng ta tri
giác được một vật chất như vậy. Những gì kinh nghiệm trực tiếp cung cấp chỉ là
những phẩm chất riêng biệt — màu sắc, hình dạng, độ rắn, vị, v.v. Khi những phẩm
chất ấy biến đổi, chúng ta vẫn muốn nói rằng cùng một vật tiếp tục tồn tại.
Theo Hume, trí tưởng tượng vì thế hư cấu ra một thứ “không biết và vô hình” nằm
bên dưới những biến đổi ấy, rồi gọi nó là substance hoặc prime matter.
Vì vậy, prime matter có vị trí đặc biệt trong lập
luận của Hume: nó là một thí dụ điển hình về cách não thức đi từ những gì được
trực tiếp trình hiện đến một nguyên lý được giả định là nằm phía sau những gì
được trình hiện. Chúng ta không có một ấn tượng riêng biệt về prime matter;
khái niệm này phát sinh khi trí tưởng tượng tìm một nền tảng bất biến để Vì
sao chúng ta hình thành quan niệm về thực thể — Hume không cho rằng chúng
ta trực tiếp nhận biết một thực thể nằm bên dưới những phẩm chất của vật. Kinh
nghiệm chỉ cung cấp những phẩm chất riêng biệt; chính sự liên kết chặt chẽ giữa
chúng khiến trí tưởng tượng dễ dàng chuyển từ ý niệm này sang ý niệm khác và
xem toàn bộ hợp thể như một vật. Khi nhận ra những phẩm chất ấy thực ra khác biệt
và có thể tách rời, trí tưởng tượng hư cấu thêm một nền tảng không rõ là gì để
hợp nhất chúng. “Thực thể”, vì vậy, không phải là một gì đó được giác quan phát
hiện, mà là một hư cấu của trí tưởng tượng nhằm duy trì tính đơn nhất và đồng
nhất của vật. giải thích tính đồng nhất của một vật qua những biến đổi.
[5] Vì sao chúng ta hình thành quan niệm về
thực thể — Hume không cho rằng chúng ta trực tiếp nhận
biết một thực thể nằm bên dưới những phẩm chất của vật. Kinh nghiệm chỉ cung cấp
những phẩm chất riêng biệt; chính sự liên kết chặt chẽ giữa chúng khiến trí tưởng
tượng dễ dàng chuyển từ ý niệm này sang ý niệm khác và xem toàn bộ hợp thể như
một vật. Khi nhận ra những phẩm chất ấy thực ra khác biệt và có thể tách rời,
trí tưởng tượng hư cấu thêm một nền tảng không rõ là gì để hợp nhất chúng. “Thực
thể”, vì vậy, không phải là một gì đó được giác quan phát hiện, mà là một hư cấu
của trí tưởng tượng nhằm duy trì tính đơn nhất và đồng nhất của vật.
[6] Vật chất
nguyên thủy và hình thái thực thể — Đoạn này cho thấy cách triết học kinh
viện dùng hai khái niệm để giải thích đồng thời tính đồng nhất và sự khác biệt
của những vật thể. Khi nhìn vào những biến đổi dần dần giữa lửa, nước, đất và
không khí, người ta giả định có một vật chất nguyên thủy vẫn là cùng một thực
thể xuyên suốt những biến đổi ấy. Nhưng khi chú ý đến những khác biệt có thể cảm
nhận được giữa từng loài vật thể, người ta lại giả định mỗi loài có một hình
thái thực thể riêng, làm cho nó là vật thuộc một loài xác định và giải thích những
phẩm chất đặc trưng của nó. Theo Hume, cả hai giả định đều phát sinh từ cùng một
khuynh hướng của trí tưởng tượng: khi những gì giác quan cung cấp thay đổi,
chúng ta vẫn muốn giữ lại một nguyên lý nào đó được xem là không thay đổi và nằm
bên dưới những phẩm chất đang biến đổi. Vì vậy, vật chất nguyên thủy và hình
thái thực thể không phải những gì chúng ta trực tiếp nhận biết; chúng là những
nguyên lý mà trí tưởng tượng thêm vào để có thể đồng thời giải thích tính liên
tục của sự biến đổi và tính đồng nhất của từng loài vật thể.
[7] The vulgar — người đời thường, tức những người
nhìn sự vật theo cách tự nhiên và thông thường, dựa vào những gì kinh nghiệm trực
tiếp cho thấy, chưa qua sự phân tích và đào sâu của triết học. Ở đây vulgar
không chủ yếu nói về địa vị xã hội hay trình độ học vấn, mà chỉ cách nhìn thông
thường của con người, đối lập với những hệ thống triết học phức tạp.
[8] Ba cách nhìn về quyền năng nhân quả — Hume cho rằng chúng ta có thể thấy ba cách nhìn khác nhau. Người đời
thường nghĩ rằng khi hai vật thường xuyên đi cùng nhau thì giữa chúng hẳn phải
có một sự liên kết nào đó nằm trong chính những vật. Triết gia nhìn kỹ hơn và
nhận ra rằng chúng ta không thực sự nhận thấy một sự liên kết như vậy; chúng ta
chỉ thấy rằng hai vật thường xuyên xuất hiện cùng nhau. Nhưng rồi nhiều triết
gia lại đi thêm một bước: họ cho rằng phải có một quyền năng hay tác lực ẩn bên
trong vật chất để giải thích vì sao vật này gây ra tác động lên vật kia.
Theo Hume, đây mới là sai lầm. Một khi đã nhận ra rằng
giác quan không cho chúng ta thấy một quyền năng nào nằm trong những vật, chúng
ta không thể giải quyết vấn đề bằng cách đặt thêm một quyền năng mà chúng ta
cũng không biết là gì. Triết học chân chính vì thế gần với cách nhìn của người
đời thường hơn: cả hai đều không dựng thêm một thực tại ẩn bên trong vật chất.
Nhưng triết học chân chính đi xa hơn ở chỗ nó giải thích được vì sao chúng ta lại
có cảm tưởng rằng giữa những vật có một quyền năng nhân quả: những sự việc thường
xuyên đi cùng nhau tạo thành tập quán, và tập quán khiến trí tưởng tượng chuyển
dịch dễ dàng từ ý niệm về nguyên nhân sang ý niệm về tác động. Vì vậy, Hume
chuyển câu hỏi từ “quyền năng nằm ở đâu trong vật?” sang “ý niệm về quyền năng
hình thành trong não thức chúng ta như thế nào?”.
[9] Tập quán và sự tin tưởng — Trong phân tích của Hume, sự lặp lại của những trường hợp giống nhau
tạo ra tập quán; tập quán khiến trí tưởng tượng chuyển dịch dễ dàng từ ý niệm
này sang ý niệm khác, khiến chúng ta khó tách rời những ý niệm thường đi cùng
nhau, và cuối cùng hình thành sự tin tưởng. Vì vậy, tập quán không chỉ là một
thói quen hành động, mà là một khuynh hướng của não thức được hình thành qua sự
lặp lại.
[10] Nghịch lý của việc tìm kiếm quyền năng — Hume chỉ ra rằng những triết gia đã nhận ra một sự thật quan trọng:
giữa những phẩm chất do giác quan cung cấp, chúng ta không nhận biết được một sự
liên kết tự nhiên nào. Nhưng thay vì chấp nhận rằng chúng ta không có ý niệm về
một quyền năng nằm trong vật chất, họ lại tiếp tục tìm kiếm quyền năng ấy bên
trong vật chất hoặc những nguyên nhân. Vì vậy, họ tìm kiếm một thực tại mà
chính sự phân tích của họ cho thấy chúng ta không thể nhận biết ở nơi họ đang
tìm kiếm. Hume ví tình trạng ấy với Sisyphus và Tantalus trong thần thoại Hy Lạp:
Sisyphus không bao giờ đưa được tảng đá lên đỉnh núi, còn Tantalus luôn ở gần
nước và thức ăn nhưng không bao giờ có thể uống hay ăn. Cũng như vậy, những triết
gia không ngừng tìm kiếm một thực tại ẩn để giải thích quyền năng nhân quả,
nhưng đối tượng mà họ tìm kiếm không thể được tìm thấy trong vật chất.
[11] Từ ngữ và ảo tưởng về sự hiểu biết — Hume không chỉ cho rằng năng lực hay phẩm chất huyền bí
là những khái niệm sai. Ông còn chỉ ra cách việc sử dụng từ ngữ có thể tạo ra ảo
tưởng rằng chúng ta đã hiểu một vấn đề. Với những từ ban đầu gắn với những ý niệm
rõ ràng, việc sử dụng lặp đi lặp lại có thể làm cho ý niệm ban đầu mờ dần,
trong khi tập quán sử dụng từ vẫn còn. Khi gặp những từ vốn không có một ý niệm
rõ ràng tương ứng ngay từ đầu, não thức lại dễ tưởng rằng chúng cũng phải có một
ý nghĩa nào đó, chỉ vì chúng được sử dụng giống như những từ có nghĩa.
Theo Hume, vì vậy, một từ có thể tiếp tục được sử dụng
ngay cả khi ý niệm mà nó từng diễn đạt đã biến mất. Người sử dụng từ vẫn có cảm
giác quen thuộc và dễ dàng chuyển dịch từ từ ngữ này sang từ ngữ khác, rồi nhầm
cảm giác quen thuộc ấy với sự hiểu biết về đối tượng. Đây là một trong những điểm
quan trọng của T 1.4.3: ngôn ngữ không chỉ diễn đạt những hư cấu siêu hình; tập
quán sử dụng ngôn ngữ còn có thể duy trì những hư cấu ấy và tạo cho chúng vẻ
ngoài của những quan niệm có ý nghĩa.
[12] Phái Peripatetics (Peripatetics) — tên gọi những người thuộc trường phái triết học
của Aristotle. Peripatetics bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp peripatētikós,
“liên quan đến việc đi bộ”, từ peripateîn, “đi bộ, đi lại”. Tên gọi này
gắn với truyền thống Aristotle thường đi bộ cùng những học trò trong khi giảng
dạy và thảo luận triết học. Vì vậy, có thể hiểu nguồn gốc của tên gọi theo
nghĩa hình ảnh là “phái triết học vừa đi vừa giảng”.
Ở đây Hume dùng Peripatetics để chỉ truyền thống
triết học của Aristotle, đặc biệt là những quan niệm thuộc triết học tự nhiên
và siêu hình học Aristotelian.
[13] Horror of a vacuum — “sự ghê sợ khoảng trống” là cách nói chỉ quan niệm cổ đại cho rằng tự
nhiên không chấp nhận sự tồn tại của khoảng trống (vacuum). Theo quan niệm
này, khi một khoảng không có nguy cơ hình thành, tự nhiên sẽ tạo ra một tác động
khiến vật chất chuyển động để lấp đầy khoảng không ấy. Cụm từ Latin thường được
diễn đạt là horror vacui — “nỗi ghê sợ khoảng trống”.
Trong đoạn này, Hume dùng quan niệm ấy như một ví dụ về
cách những triết gia cổ đại gán cho tự nhiên một cảm xúc giống cảm xúc của con
người. Chúng ta ghê sợ hoặc không thích khoảng trống, rồi tưởng tượng rằng tự
nhiên cũng có một sự “ghê sợ” tương tự, và dùng nó để giải thích những hiện tượng
vật lý. Với Hume, đây là một hư cấu của trí tưởng tượng: một cảm xúc của con
người được chuyển sang tự nhiên rồi được dùng như một nguyên lý giải thích tự
nhiên.
Sympathies, antipathies và
horrors of a vacuum — Đây là ba
quan niệm của triết học tự nhiên cổ đại, đặc biệt trong truyền thống Peripatetics,
dùng để giải thích các hiện tượng tự nhiên bằng những khuynh hướng được cho là
tồn tại ngay trong các vật. Sympathies (sự tương ứng) chỉ khuynh hướng
được cho là khiến những vật hoặc những phần của tự nhiên tìm đến nhau, kết hợp
hoặc tác động qua lại; antipathies (sự đối nghịch) chỉ khuynh hướng khiến
chúng tránh nhau, chống lại hoặc đẩy nhau. Horrors of a vacuum (sự ghê sợ
khoảng trống) là quan niệm cho rằng tự nhiên không chấp nhận khoảng trống, nên
vật chất có xu hướng chuyển động để lấp đầy khoảng trống khi nó xuất hiện.
Theo Hume, cả ba đều là những hư cấu của trí tưởng tượng.
Con người nhận thấy trong chính mình những cảm xúc và khuynh hướng như tương ứng,
đối nghịch hay ghê sợ; rồi có xu hướng gán những khuynh hướng ấy cho các đối tượng
bên ngoài. Vì vậy, thay vì tìm một nguyên nhân có thể xác định được trong hiện
tượng, các triết gia cổ đại nói rằng vật này “tương ứng” với vật kia, vật này
“đối nghịch” với vật kia, hoặc tự nhiên “ghê sợ” khoảng trống. Với Hume, đặt
tên cho một khuynh hướng không đồng nghĩa với việc giải thích nó: những từ ngữ ấy
chỉ khoác cho sự không hiểu biết một hình thức có vẻ như là lời giải thích.
