Một Chuyên Luận Về Bản Chất Con Người
(A Treatise of Human Nature)
David Hume
QUYỂN I – PHẦN 2
Về Những Ý Niệm Không Gian Và Thời
Gian
MỤC I.
Về
Tính Phân Chia Vô Hạn Của Những Ý Niệm Về Không Gian Và Thời Gian
Một Chuyên Luận Về Bản Chất Con Người
(A Treatise of Human Nature)
David Hume
QUYỂN I – PHẦN 2
Về Những Ý Niệm Không Gian Và Thời
Gian
MỤC I.
Về
Tính Phân Chia Vô Hạn Của Những Ý Niệm Về Không Gian Và Thời Gian
Một Chuyên Luận Về Bản Chất Con Người
(A Treatise of Human Nature)
David Hume
QUYỂN I – PHẦN 1
Về những ý niệm, nguồn gốc, thành phần, kết hợp, trừu tượng hóa, v.v.
MỤC VII.
Về Những Ý Niệm Trừu Tượng.
Một Chuyên Luận Về Bản Chất Con Người
(A Treatise of Human Nature)
David Hume
QUYỂN I – PHẦN 1
Về những ý niệm, nguồn gốc, thành phần, kết hợp, trừu tượng hóa, v.v.
MỤC. III.
Về Những Ý Niệm Của Trí Nhớ Và
Trí Tưởng Tượng.
Một Chuyên Luận Về Bản Chất Con Người
(A Treatise of Human Nature)
David Hume
Một Chuyên Luận Về Bản Chất Con
Người
MỤC. I.
Về Nguồn Gốc Của Những Ý Niệm Của
Chúng Ta.
[SECT. I. - Of
the Origin of our Ideas.]
Một Chuyên Luận Về Bản Chất Con Người
(A Treatise of Human Nature)
David Hume
Một Chuyên Luận Về Bản Chất Con Người
DẪN NHẬP
[Trong phần Dẫn nhập của A Treatise of Human Nature,
Hume không bắt đầu bằng việc trình bày một học thuyết đã hoàn chỉnh, mà bằng
cách phác họa lại toàn bộ hướng đi của triết học như một dự án cần được tái thiết.
Có thể đọc toàn bộ lập luận của ông như một chuỗi bốn bước liên kết chặt chẽ với
nhau, tạo thành khung nền cho toàn bộ công trình sau đó.
Một nỗ lực để giới thiệu Phương
pháp lý luận duy nghiệm
Vào Trong Những Đề tài Đạo Đức.
Being An Attempt to Introduce the
Experimental Method of Reasoning
Into Moral Subjects)]
David Hume (1711–1776)
GHI CHÚ CỦA NGƯỜI BIÊN TẬP
Một Chuyên Luận Về Bản Chất Con
Người(1739-40)
Do Amyas Merivale và Peter
Millican biên tập
Dù gặp phải thất bại tương đối lớn vào thời đại của mình,
tác phẩm xuất bản đầu tay của Hume – cuốn Một Chuyên Luận Về Bản Chất Con
Người(Treatise of Human Nature) – ngày nay lại nhận được sự công nhận rộng
rãi như một kiệt tác triết học. Chính tác phẩm này, hơn bất kỳ tác phẩm nào
khác, đã mang lại cho Hume danh tiếng hoàn toàn xứng đáng với tư cách là triết
gia vĩ đại nhất trong thế giới nói tiếng Anh.
Chúng tôi trích xuất văn bản ở đây từ bản scan của ấn bản
gốc do Hệ thống Bộ sưu tập Trực tuyến về Thế kỷ 18 (ECCO) lưu trữ. Ngoại trừ những
điểm điều chỉnh chung áp dụng cho tất cả những văn bản trên trang web này,
chúng tôi ghi nhận những điểm thay đổi cụ thể so với văn bản gốc như sau:
Khúc dạo đầu cho một Triết Lý của
Ngày Mai
(Jenseits von Gut und Böse - Vorspiel
einer Philosophie der Zukunft)
Friedrich Nietzsche.
Top of FormBottom of Form
Phần Chín
Thế nào là cao quý?
268.
Rốt cuộc, cái "tầm thường" (Gemeinheit) là gì?
— Từ ngữ là những ký hiệu âm thanh cho các khái niệm; còn khái niệm lại là những
ký hiệu hình ảnh, ít nhiều xác định, cho những cảm giác thường xuyên lặp lại và
thường xuất hiện cùng nhau, tức cho những nhóm cảm giác.
Để hiểu nhau, không chỉ cần dùng cùng một từ ngữ: người
ta còn phải dùng cùng những từ ấy cho cùng một loại kinh nghiệm nội tâm; cuối
cùng, người ta phải có những kinh nghiệm chung với nhau.
Bên kia Thiện và Ác
Khúc dạo đầu cho một Triết Lý của
Ngày Mai
(Jenseits von Gut und Böse - Vorspiel
einer Philosophie der Zukunft)
Friedrich Nietzsche.
Top of FormBottom of Form
Phần Chín
Thế nào là cao quý?
(Neuntes Hauptstück:
was ist vornehm?.) [1]
257
Mọi sự nâng cao kiểu người mang tên “con người” [2] từ trước đến nay đều là công trình của một xã
hội quý tộc — và trong tương lai cũng sẽ luôn như vậy: tức một xã hội tin vào một
chiếc thang thứ bậc kéo dài rất lâu, tin vào sự khác biệt về giá trị giữa người
này với người khác, và xem sự nô lệ, theo một nghĩa nào đó, là điều cần thiết.
Bên kia Thiện và Ác
Khúc dạo đầu cho một Triết Lý của
Ngày Mai
(Jenseits von Gut und Böse - Vorspiel
einer Philosophie der Zukunft)
Friedrich Nietzsche.
Top of FormBottom of Form
Chương Tám: Dân tộc và Tổ quốc
(Achtes Hauptstück: Völker und
Vaterländer.) [1]
240.
Tôi lại nghe — như lần đầu tiên — khúc mở đầu Die
Meistersinger von Nürnberg của Richard Wagner: một nghệ thuật tráng lệ, quá
tải, nặng nề, muộn màng — nghệ thuật có kiêu hãnh, kiêu hãnh đến mức giả định
hai thế kỷ âm nhạc vẫn còn sống — để có thể hiểu nó: — thật đáng khen cho người
Đức, rằng sự kiêu hãnh ấy không sai lầm!
Một hỗn hợp của mọi loại nhựa sống và sức lực — bao nhiêu
mùa, bao nhiêu bầu trời, bao nhiêu khí hậu trộn vào đây! — khi thì cổ xưa, khi
thì xa lạ, khi thì khắc nghiệt, khi thì non trẻ quá mức — tùy tiện — nhưng lại
trang nghiêm kiểu truyền thống — không hiếm khi tinh nghịch — thường thô ráp, cục
mịch — có lửa, có can đảm — và đồng thời: da nhợt nhạt của những trái cây chín
muộn.
[Of Suicide (1777,
1755)]
David Hume
(Posthumous Works)
GHI CHÚ CỦA NGƯỜI
BIÊN TẬP BẢN TIẾNG ANH
Hai bài luận Về Tự Tử và Về Sự Bất Tử Của Hồn Người ban đầu được dự định xuất bản trong một tuyển tập dự kiến năm 1755 có tên là Năm Luận văn , nhưng Hume đã quyết định rút lại chúng trước khi xuất bản. Chúng được thay thế bằng bài luận Về Tiêu Chuẩn của Thị Hiếu Thẩm Mỹ, và tuyển tập xuất hiện vào năm 1757 dưới tên gọi Bốn Luận Văn. Những bài luận bị lược bỏ cuối cùng đã được xuất bản sau khi ông mất và ẩn danh vào năm 1777, nhưng văn bản ở đây—giống như ấn bản tiêu chuẩn của Miller (1987)—lại theo phiên bản năm 1755, trong đó có một bản in thử ở Thư viện Quốc gia Scotland với một số chỉnh sửa bằng chữ viết tay của Hume.
(Of
the Immortality of the Soul)
David Hume
Về Sự Bất Tử Của Hồn Người
IS 30, Mil 596
III.
Những lý lẽ dựa trên
việc quan sát tự nhiên [1] và dựa trên sự giống nhau giữa các hiện tượng
trong tự nhiên là những lý lẽ mạnh mẽ nhất ủng hộ quan điểm cho rằng hồn người
cũng có tính phải chết. Thực ra, đây là loại lý lẽ triết học duy nhất mà chúng
ta nên chấp nhận trong vấn đề này, cũng như trong mọi vấn đề liên quan đến những
gì thực sự diễn ra trong thế giới.
(Of the
Immortality of the Soul)
David Hume
Về Sự Bất Tử Của Hồn Người
IS 8, Mil 592
II.
Bây giờ hãy xét đến
những lập luận đạo đức, đặc biệt là những lập luận được rút ra từ công
lý của Gót. Theo những lập luận này, người ta cho rằng công lý thần linh còn
đòi hỏi phải có sự trừng phạt tiếp theo đối với kẻ ác và phần thưởng tiếp theo
đối với người đức hạnh.
Bên kia Thiện và Ác
Khúc dạo đầu cho một Triết Lý của
Ngày Mai
(Jenseits von Gut und Böse - Vorspiel
einer Philosophie der Zukunft)
Friedrich Nietzsche.
Top of Form
Chương Bảy:
Những Đức Hạnh Của Chúng Ta.
(Siebentes Hauptstück: unsere Tugenden.) [1]
214.
Những đức hạnh của chúng ta? — Có khả năng là chúng ta
cũng vẫn còn có những đức hạnh của riêng mình, dù rõ ràng chúng sẽ không phải
là những đức hạnh trung hậu, chất phác và thô kệch kia, vì những đức hạnh ấy
khiến chúng ta vừa kính trọng ông bà mình, vừa phải giữ họ ở một khoảng cách khỏi
thân thể mình.
Chúng ta, những người châu Âu của ngày mai, những kẻ đầu
tiên của thế kỷ hai mươi, — với toàn bộ tính tò mò nguy hiểm của chúng ta, sự
đa tạp và nghệ thuật hóa trang của chúng ta, sự tàn nhẫn đã trở nên mềm nhũn và
như được làm ngọt của chúng ta trong tinh thần và giác quan, — nếu chúng ta có
đức hạnh, thì rất có thể chỉ là những đức hạnh đã học cách thích nghi tốt nhất
với những khuynh hướng kín đáo nhất và sâu nhất của chúng ta, với những nhu cầu
nóng nhất của chúng ta.
Vậy thì hãy thử tìm chúng trong những mê cung của chúng
ta! — nơi mà, như người ta biết, đủ thứ bị đánh mất, và nhiều thứ mất hẳn không
thể tìm lại.
Tại sao Triết học từ bỏ Thực tại Tối hậu
Cái chết của Siêu hình học
Phần 5: Sự Tự Hủy Diệt Của Thuyết Thực Chứng
Vì sao Nguyên tắc Kiểm chứng tự
“nuốt chửng” chính nó
Thuyết Thực chứng Logic, dù từng giữ vị thế trung tâm trong triết học
phân tích đầu thế kỷ XX, đã suy tàn rõ rệt trong giai đoạn từ khoảng 1950 đến
1970. Sự sụp đổ này không thể được hiểu như một thay đổi mang tính học phái đơn
thuần, nhưng là kết quả của một khủng hoảng cấu trúc nội tại, trong đó chính những
nguyên tắc nền tảng của phong trào, khi được triển khai một cách nghiêm ngặt,
đã bộc lộ tính không thể thực hiện được của chúng. Quan trọng hơn, sự sụp đổ
này diễn ra đồng thời ở ba mức độ: mức độ ngôn ngữ (meaning), mức độ tiêu chuẩn
(criterion), và mức độ siêu-tiêu chuẩn (meta-criterion), tức chính điều
kiện để một tiêu chuẩn có thể được xem là hợp lệ.
(Of the Immortality of the Soul)
David Hume
GIỚI THIỆU CỦA NGƯỜI DỊCH
Hume Và Phê bình Quan Niệm Hồn
Người Bất Tử Trong Truyền Thống Đạo Kitô Châu Âu
1. Tống quát
Tiểu
luận Of the Immortality of the Soul (Về sự bất tử của hồn người)
của David Hume là một trong những văn bản triết học gây tranh luận mạnh nhất
trong thế kỷ XVIII. Trong bối cảnh tư tưởng châu Âu lúc bấy giờ, học thuyết về
hồn người bất tử là một trụ cột quan trọng của đạo Kitô: nó bảo đảm cho lòng
tin tôn giáo về phán xét sau khi chết, Thiên Đàng, Hỏa ngục và công lý tối hậu
của Gót.
Một Luận Văn Về Những Đam Mê
(A Dissertation on the Passions)
David Hume
MỘT LUẬN VĂN VỀ NHỮNG ĐAM MÊ
PHẦN IV
[ P 4.1, Bea 21 ]
1. Lý thuyết hiện nay về những đam mê (passions) ở
đây phụ thuộc hoàn toàn vào mối liên hệ hai chiều giữa cảm thức (sentiments) và
ý niệm (ideas), cũng như sự hỗ trợ qua lại mà các mối liên hệ này mang lại cho
nhau. Vì vậy, sẽ không sai nếu minh họa những nguyên lý này bằng thêm một vài
ví dụ.
(A Dissertation on the Passions)
David Hume
MỘT LUẬN VĂN VỀ NHỮNG ĐAM MÊ
PHẦN III.
[ P 3.1, Bea 18 ]
1. Khi rà soát lại tất cả những nguyên nhân sản sinh ra cảm
xúc (passion) tự về hào hay về tự ti (humility), người ta sẽ dễ
dàng nhận thấy rằng: chính hoàn cảnh đó, nếu được chuyển dịch từ bản thân chúng
ta sang một người khác, sẽ biến người đó thành đối tượng của tình yêu hay lòng
thù hận, sự kính trọng hay sự khinh miệt. Đức hạnh, tài năng, vẻ đẹp, gia thế,
sự giàu có và quyền lực của người khác sẽ khơi dậy những cảm thức (sentiments)
thuận lợi dành cho họ; còn thói xấu, sự ngu muội, hình thể khiếm khuyết, nghèo
khó và sự hèn hạ của họ lại khởi động những cảm thức trái ngược. Ràng buộc hai
chiều giữa những ấn tượng và những ý niệm vẫn vận hành trên những cảm xúc yêu
và ghét này, tương tự như đối với những cảm xúc tự hào và tự ti trước đó. Bất cứ
điều gì mang lại một sự dễ chịu hay nỗi khổ sở (pleasure or pain) biệt lập,
và có tương quan hoặc kết nối với một người khác, đều biến người đó thành đối
tượng cho tình cảm (affection) hay sự ghê tởm của chúng ta.
(A Dissertation on the Passions)
David Hume
MỘT LUẬN VĂN VỀ NHỮNG ĐAM MÊ
PHẦN II.
[ P 2.1, Bea 7 ]
1. Bên cạnh những cảm xúc (passions) đã nhắc đến ở
trên, vốn nảy sinh từ việc theo đuổi trực tiếp tốt lành (good) và né
tránh tai họa (evil), còn có những cảm xúc khác mang bản chất phức tạp
hơn, hàm chứa nhiều hơn một góc nhìn hay sự cân nhắc. Do đó, Tự hào (Pride)
là một sự hài lòng nhất định ở bản thân nhờ vào một thành tựu hay vật sở hữu
nào đó mà chúng ta được hưởng; ngược lại, Tự ti (Humility) [1] là
sự không hài lòng với bản thân do một khiếm khuyết hay sự yếu đuối nào đó.