Một Chuyên Luận Về Bản Chất Con Người
(A Treatise of Human Nature)
David Hume
QUYỂN I - PHẦN III.
Về tri thức và xác suất.
MỤC XIII
Về Xác Suất Phi-Triết Học
T 1.3.13.1, SBN 143
Tất cả những loại xác suất này đều được những nhà triết học thừa nhận, và họ xem chúng là những nền tảng hợp lý của tin tưởng và ý kiến. Tuy nhiên, còn có những loại xác suất khác cũng phát sinh từ chính những nguyên lý ấy, mặc dù chúng không may mắn nhận được cùng sự thừa nhận.
Loại xác suất đầu tiên thuộc về nhóm này có thể được giải thích như sau. Như đã giải thích ở trên, khi sự kết hợp (union) và sự giống nhau (resemblance) bị suy giảm, thì sự dễ dàng của sự chuyển tiếp (transition) cũng suy giảm theo, và do đó làm yếu đi bằng chứng (evidence). Chúng ta còn có thể nhận thấy rằng sự suy giảm của bằng chứng cũng xảy ra khi ấn tượng (impression) bị suy yếu, nghĩa là khi những “màu sắc” mà một sự vật mang theo trong ký ức hoặc trong giác quan dần trở nên nhạt hơn.
Lập luận mà chúng ta xây dựng trên một sự kiện mà chúng ta nhớ lại sẽ có mức độ thuyết phục mạnh hay yếu tùy theo việc sự kiện ấy xảy ra gần đây hay đã xảy ra từ lâu. Mặc dù triết học không thừa nhận sự khác biệt về những mức độ bằng chứng này là một sự khác biệt vững chắc và hợp lý—bởi nếu thừa nhận điều đó, một lập luận hôm nay sẽ phải có một lực khác với chính lập luận ấy một tháng sau—nhưng bất chấp sự phản đối của triết học, chắc chắn rằng hoàn cảnh này vẫn có ảnh hưởng đáng kể lên khả năng nhận thức (understanding), và một cách âm thầm làm thay đổi uy lực của cùng một lập luận tùy theo thời điểm mà nó được trình ra cho chúng ta.
Một ấn tượng có lực và tính sinh động lớn hơn sẽ tự nhiên truyền một mức độ lực lớn hơn sang ý niệm liên hệ; và theo hệ thống đã trình bày trước đây, chính những mức độ lực và tính sinh động này quyết định mức độ của tin tưởng.
T 1.3.13.2, SBN 143–144
Có một sự khác biệt thứ hai mà chúng ta thường xuyên nhận thấy trong những mức độ tin tưởng và sự bảo đảm của mình; và sự khác biệt này luôn luôn xuất hiện, mặc dù những nhà triết học phủ nhận nó.
Một thực nghiệm mới xảy ra và còn tươi mới trong ký ức tác động đến chúng ta mạnh hơn một thực nghiệm đã phần nào bị xóa mờ; và vì thế nó có ảnh hưởng lớn hơn không chỉ lên phán đoán, mà cả lên những đam mê của chúng ta.
Một ấn tượng sinh động tạo ra sự bảo đảm mạnh hơn một ấn tượng mờ nhạt, bởi vì nó có nhiều lực nguyên thủy hơn để truyền sang ý niệm liên hệ, khiến ý niệm ấy đạt được một mức độ lực và tính sinh động lớn hơn. Một quan sát gần đây cũng có tác động tương tự, bởi vì trong trường hợp ấy, thói quen và sự chuyển tiếp vẫn còn đầy đủ hơn, và bảo tồn tốt hơn lực nguyên thủy trong quá trình truyền đạt.
Chẳng hạn, một người nghiện rượu đã từng chứng kiến bạn mình chết vì một cuộc say xỉn sẽ bị trường hợp ấy tác động mạnh trong một thời gian, và sẽ lo sợ một tai họa tương tự xảy đến với chính mình. Nhưng khi ký ức về sự việc ấy dần dần phai nhạt, cảm giác an toàn trước đây lại quay trở lại, và mối nguy hiểm ấy dường như trở nên kém chắc chắn và kém hiện thực hơn.
T 1.3.13.3, SBN 144
Tôi thêm vào đây một trường hợp thứ ba thuộc loại này: mặc dù những suy luận từ chứng minh (proofs) và những suy luận từ xác suất (probabilities) khác nhau đáng kể, nhưng loại suy luận thứ nhất thường dần dần biến thành loại thứ hai chỉ do số lượng quá lớn của những lập luận liên kết.
Rõ ràng rằng khi một kết luận được rút ra trực tiếp từ một đối tượng, không thông qua bất kỳ nguyên nhân hay kết quả trung gian nào, thì sự xác tín sẽ mạnh hơn nhiều, và sự thuyết phục sẽ sinh động hơn nhiều, so với trường hợp trí tưởng tượng phải đi qua một chuỗi dài những lập luận liên kết, dù sự liên hệ của từng mắt xích trong chuỗi ấy được xem là hoàn toàn chắc chắn.
Bởi chính từ ấn tượng ban đầu mà tính sinh động của tất cả những ý niệm được truyền đến, thông qua sự chuyển tiếp theo thói quen của trí tưởng tượng; và rõ ràng rằng tính sinh động ấy phải dần dần suy giảm theo khoảng cách, đồng thời mất đi một phần trong mỗi lần chuyển tiếp.
Đôi khi khoảng cách này còn có ảnh hưởng lớn hơn cả những thực nghiệm trái ngược. Một người có thể nhận được một sự xác tín sinh động hơn từ một suy luận xác suất gần gũi và trực tiếp, so với từ một chuỗi dài những hệ quả, mặc dù mỗi bước trong chuỗi ấy đều đúng đắn và kết luận.
Thậm chí, những suy luận như vậy hiếm khi tạo ra sự xác tín thực sự; và cần phải có một trí tưởng tượng đặc biệt mạnh mẽ và ổn định mới có thể duy trì được toàn bộ lực của bằng chứng cho đến cuối cùng, khi bằng chứng ấy phải đi qua quá nhiều giai đoạn trung gian.[1]
T 1.3.13.4, SBN 144–145
Nhưng ở đây có thể không thừa khi lưu ý đến một hiện tượng rất đáng chú ý mà chủ đề hiện tại gợi ra cho chúng ta.
Rõ ràng rằng không có bất kỳ điểm nào trong lịch sử cổ đại mà chúng ta có thể có được sự bảo đảm, nếu không phải đi qua hàng triệu chuỗi nguyên nhân và kết quả, cũng như một chuỗi lập luận có độ dài gần như không thể đo lường.
Trước khi sự nhận thức về một sự kiện có thể đến được với nhà sử học đầu tiên, sự kiện ấy phải được truyền qua rất nhiều lời kể của con người; và sau khi nó được ghi chép thành văn bản, mỗi bản sao mới lại trở thành một đối tượng mới, mà mối liên hệ của nó với bản sao trước chỉ có thể được biết đến nhờ kinh nghiệm và sự quan sát.
Vì vậy, từ những lập luận đã trình bày trước đây, có thể người ta sẽ kết luận rằng bằng chứng của toàn bộ lịch sử cổ đại hiện nay hẳn đã bị mất đi; hoặc ít nhất, nó sẽ bị mất dần theo thời gian, khi chuỗi nguyên nhân và kết quả ngày càng gia tăng và kéo dài hơn nữa.
Nhưng điều này dường như trái với phán đoán thực tiễn dựa trên kiến thức thông thường. Bởi nếu cộng đồng học thuật và nghệ thuật in ấn tiếp tục tồn tại như hiện nay, thì thật khó có thể nghĩ rằng hậu thế của chúng ta, ngay cả sau một nghìn thế hệ, lại có thể nghi ngờ rằng đã từng có một con người như Julius Caesar.[2]
Điều này có thể được xem như một sự phản đối đối với hệ thống hiện tại của tôi.
Bởi nếu sự tin tưởng chỉ bao gồm một mức độ tính sinh động nào đó được truyền từ một ấn tượng ban đầu, thì tính sinh động ấy sẽ suy giảm theo độ dài của sự chuyển tiếp, và cuối cùng hoàn toàn bị dập tắt.
Và ngược lại, nếu trong một số trường hợp sự tin tưởng không thể bị dập tắt theo cách đó, thì rõ ràng nó phải là một điều gì đó khác với chỉ tính sinh động ấy.
T 1.3.13.5, SBN 145–146
Trước khi trả lời phản đối này, tôi muốn lưu ý rằng từ chủ đề này người ta đã rút ra một lập luận rất nổi tiếng chống lại Kitô giáo; tuy nhiên, có một sự khác biệt: trong lập luận ấy, người ta giả định rằng mối liên hệ giữa mỗi mắt xích trong chuỗi chứng ngôn của con người không vượt quá xác suất, và do đó luôn chịu một mức độ nghi ngờ và bất định.
Quả thật, phải thừa nhận rằng nếu xem xét vấn đề theo cách này—mặc dù đây không phải là cách xem xét đúng đắn—thì không có lịch sử hay truyền thống nào cuối cùng không mất hết sức mạnh và bằng chứng của nó.[3]
Mỗi xác suất mới đều làm giảm sự xác tín ban đầu; và dù sự xác tín ấy được giả định lớn đến đâu, nó cũng không thể tồn tại trước những sự suy giảm lặp đi lập lại như vậy.
Điều này đúng một cách tổng quát; tuy nhiên, chúng ta sẽ thấy sau này rằng có một ngoại lệ rất đáng chú ý, một ngoại lệ có tầm quan trọng lớn đối với vấn đề hiện tại về năng lực nhận thức.
T 1.3.13.6, SBN 146
Trong lúc này, để giải quyết phản đối trên, dựa trên giả định rằng bằng chứng lịch sử ban đầu đạt đến mức một bằng chứng chắc chắn hoàn toàn, chúng ta hãy xem xét điều sau đây:
Mặc dù có vô số mắt xích nối một sự kiện ban đầu với ấn tượng hiện tại—là nền tảng của sự tin tưởng—nhưng tất cả những mắt xích ấy đều cùng thuộc một loại, và đều phụ thuộc vào sự trung thực của những người in và sao chép.
Một bản in được truyền sang một bản in khác; bản in đó lại truyền sang bản thứ ba; và cứ như vậy tiếp tục cho đến cuốn sách mà chúng ta hiện đang đọc.
Không có sự thay đổi nào trong những bước chuyển tiếp ấy. Sau khi chúng ta biết một bước, chúng ta biết tất cả những bước còn lại; và sau khi đã thực hiện một bước, chúng ta không còn nghi ngờ gì về những bước tiếp theo.
Chính đặc điểm này bảo tồn bằng chứng của lịch sử, và sẽ duy trì ký ức về thời đại hiện tại cho đến những thế hệ xa nhất.
Nếu toàn bộ chuỗi dài những nguyên nhân và kết quả nối một sự kiện quá khứ với một cuốn sách lịch sử được cấu thành bởi những phần khác biệt nhau, trong đó mỗi phần đều đòi hỏi năng lực nhận thức phải hình dung riêng biệt, thì không thể nào chúng ta duy trì được sự tin tưởng hay bằng chứng cho đến cuối cùng.
Nhưng vì phần lớn những mắt xích này hoàn toàn tương tự nhau, nên não thức có thể dễ dàng vận hành qua chúng: nó chuyển từ phần này sang phần khác một cách thuận lợi, và chỉ hình thành một ý niệm chung chung, không rõ ràng về từng mắt xích riêng lẻ.
Nhờ vậy, một chuỗi lập luận rất dài có thể làm suy giảm tính sinh động ban đầu ít hơn một chuỗi ngắn hơn nhưng được cấu thành từ những phần khác biệt nhau, trong đó mỗi phần đòi hỏi một sự xem xét riêng biệt.[4]
T 1.3.13.7, SBN 146–7
Một loại xác suất phi triết học thứ tư là loại xác suất được rút ra từ những quy tắc tổng quát, mà chúng ta vội vàng tự hình thành cho mình, và chính chúng là nguồn gốc của những gì vốn chúng ta đúng nghĩa gọi là định kiến.
Một người Ireland không thể có trí tuệ, và một người Pháp không thể có sự chín chắn; vì lý do đó, mặc dù trong bất kỳ trường hợp nào, cuộc trò chuyện của người trước rõ ràng rất dễ chịu, và của người sau rất có sự phán đoán, chúng ta vẫn đã hình thành một định kiến chống lại họ đến mức họ, bất chấp cảm thức và lý trí, phải bị xem là kẻ ngu dốt hoặc kẻ phù phiếm.
Bản tính con người rất dễ mắc sai lầm kiểu này; và có lẽ dân tộc này cũng như bất kỳ dân tộc nào khác.
T 1.3.13.8, SBN 147
Nếu người ta yêu cầu lý do vì sao con người hình thành những quy tắc tổng quát, và cho phép chúng ảnh hưởng đến phán đoán của họ, ngay cả khi nó đi ngược lại quan sát và kinh nghiệm hiện tại, tôi sẽ trả lời rằng, theo tôi, điều này xuất phát từ chính những nguyên tắc mà mọi phán đoán về nguyên nhân và kết quả đều phụ thuộc vào.
Các phán đoán của chúng ta về nguyên nhân và kết quả được rút ra từ thói quen và kinh nghiệm; và khi chúng ta đã quen thấy một đối tượng liên kết với một đối tượng khác, não thức của chúng ta chuyển từ đối tượng thứ nhất sang đối tượng thứ hai bằng một chuyển tiếp tự nhiên, vốn đi trước tự suy ngẫm, và không thể bị tự suy ngẫm ngăn chặn.
Và bản chất của thói quen không chỉ là vận hành với toàn bộ lực của nó khi những đối tượng được trình hiện giống hệt với những đối tượng mà chúng ta đã quen; mà còn vận hành ở mức độ thấp hơn khi chúng ta tìm thấy những đối tượng tương tự; và mặc dù thói quen mất đi phần nào lực của nó theo mỗi khác biệt, nó hiếm khi bị phá hủy hoàn toàn, nơi nào còn giữ lại những hoàn cảnh quan trọng giống nhau.
Một người đã hình thành thói quen ăn trái cây nhờ dùng lê hoặc đào sẽ tự thỏa mãn với dưa khi không tìm được trái cây ưa thích của mình; cũng như một người đã trở thành kẻ nghiện rượu nhờ dùng rượu vang đỏ sẽ bị kéo gần như với cùng một lực sang rượu trắng, nếu nó được đưa ra trước mặt.
Từ nguyên tắc này, tôi đã giải thích loại xác suất được rút ra từ loại suy, nơi chúng ta chuyển kinh nghiệm quá khứ sang những đối tượng tương tự nhưng không hoàn toàn giống với những đối tượng mà chúng ta đã có kinh nghiệm.
Theo mức độ tương đồng giảm đi, xác suất giảm đi; nhưng nó vẫn còn một phần lực chừng nào vẫn còn bất kỳ dấu vết nào của sự tương đồng.
T 1.3.13.9, SBN 147–8
Quan sát này chúng ta có thể mở rộng thêm; và có thể nhận thấy rằng, mặc dù thói quen là nền tảng của mọi phán đoán của chúng ta, nhưng đôi khi nó có một tác động lên tưởng tượng đối lập với phán đoán, và tạo ra một sự đối lập trong cảm nhận của chúng ta đối với cùng một đối tượng.
Tôi giải thích rõ.
Trong hầu hết những loại nguyên nhân có một sự phức hợp của những hoàn cảnh, trong đó một số là thiết yếu, và một số là phụ; một số hoàn toàn cần thiết để tạo ra hiệu quả, và một số chỉ đi kèm do ngẫu nhiên.
Bây giờ ta quan sát rằng, khi những hoàn cảnh phụ này nhiều, nổi bật, và thường xuyên đi kèm với những yếu tố thiết yếu, chúng có ảnh hưởng mạnh đến tưởng tượng đến mức ngay cả khi thiếu những yếu tố thiết yếu, chúng vẫn kéo não thức đi đến sự hình thành hiệu quả quen thuộc, và trao cho sự hình thành đó một lực và sinh động, khiến nó vượt lên trên những hư cấu thuần túy của tưởng tượng.
Ta có thể sửa lại khuynh hướng này bằng một tự suy ngẫm về bản chất của những hoàn cảnh đó; nhưng vẫn chắc chắn rằng thói quen luôn đi trước, và tạo ra một thiên lệch cho tưởng tượng. [5]
T 1.3.13.10, SBN 148–9
Để minh họa điều này bằng một trường hợp quen thuộc, chúng ta hãy xét trường hợp của một người bị treo lơ lửng từ một tòa tháp cao trong một chiếc lồng sắt. Người ấy không thể không run sợ khi nhìn xuống vực sâu bên dưới, mặc dù anh ta biết chắc chắn rằng mình hoàn toàn an toàn, dựa trên kinh nghiệm về độ vững chắc của chiếc sắt đang nâng đỡ mình; và mặc dù những ý niệm về sự rơi xuống, sự lao xuống, tổn hại và cái chết đều chỉ bắt nguồn từ thói quen và kinh nghiệm. [6]
Thói quen ấy vượt ra ngoài những trường hợp mà nó được hình thành và hoàn toàn phù hợp, để tác động lên những ý niệm về những đối tượng có một mức độ tương tự nào đó, mặc dù chúng không hoàn toàn thuộc cùng một quy luật. Những hoàn cảnh như độ sâu và sự rơi xuống tác động mạnh đến ông ta đến mức ảnh hưởng của chúng không thể bị loại bỏ bởi những hoàn cảnh đối lập như sự nâng đỡ và độ vững chắc—những điều lẽ ra phải đem lại cho ông ta một sự an toàn hoàn toàn.
Trí tưởng tượng của ông ta bị cuốn theo đối tượng của nó, và khơi dậy một đam mê tương xứng với đối tượng ấy. Rồi đam mê này lại tác động trở lại lên trí tưởng tượng và làm cho ý niệm trở nên sinh động hơn; đến lượt nó, ý niệm sinh động ấy lại tác động mới lên đam mê, làm tăng thêm sức mạnh và mức độ mãnh liệt của nó. Vì vậy, trí tưởng tượng và những cảm xúc của ông ta, trong sự hỗ trợ lẫn nhau như thế, khiến toàn bộ hiện tượng này có một ảnh hưởng cực kỳ mạnh mẽ đối với ông ta.
T 1.3.13.11, SBN 149
Nhưng tại sao chúng ta phải tìm kiếm những ví dụ khác, khi chính đề tài hiện tại về xác suất phi triết học đã cung cấp cho chúng ta một ví dụ rõ ràng như vậy, đó là sự đối lập giữa phán đoán và trí tưởng tượng phát sinh từ những tác động của thói quen?
Theo hệ thống của tôi, mọi suy luận đều chỉ là những tác động của thói quen; và thói quen không có ảnh hưởng nào khác ngoài việc làm cho trí tưởng tượng trở nên sinh động hơn, từ đó đem lại cho chúng ta một sự hình dung mạnh mẽ về một đối tượng. Vì vậy, thoạt nhìn người ta có thể kết luận rằng phán đoán và trí tưởng tượng không bao giờ có thể đối lập nhau, và rằng thói quen không thể tác động lên trí tưởng tượng theo cách khiến nó đi ngược lại với phán đoán.
Nhưng khó khăn này chỉ có thể được giải quyết bằng cách giả định sự tác động của những quy tắc tổng quát (general rules).
Sau này chúng ta sẽ xem xét một số quy tắc tổng quát mà chúng ta nên dùng để điều chỉnh phán đoán của mình về những nguyên nhân và kết quả. Những quy tắc này được hình thành từ bản chất của năng lực nhận thức của chúng ta, cũng như từ kinh nghiệm về cách thức mà năng lực ấy vận hành trong những phán đoán của chúng ta về những đối tượng.
Nhờ những quy tắc này, chúng ta học cách phân biệt những hoàn cảnh ngẫu nhiên với những nguyên nhân thực sự có hiệu lực. Khi nhận thấy rằng một kết quả có thể được tạo ra mà không cần sự hiện diện của một hoàn cảnh đặc biệt nào đó, chúng ta kết luận rằng hoàn cảnh ấy không phải là một phần của nguyên nhân có hiệu lực, dù nó thường xuyên đi kèm với kết quả ấy.
Tuy nhiên, vì sự kết hợp thường xuyên ấy tất yếu khiến hoàn cảnh đó vẫn có một ảnh hưởng nào đó lên trí tưởng tượng, bất chấp kết luận ngược lại của những quy tắc tổng quát, nên sự đối lập giữa hai nguyên lý này tạo ra một sự xung đột trong tư tưởng của chúng ta. Điều đó khiến chúng ta quy một suy luận cho phán đoán, và suy luận kia cho trí tưởng tượng.
Quy tắc tổng quát được quy cho phán đoán, bởi nó có phạm vi rộng hơn và tính ổn định cao hơn. Còn trường hợp ngoại lệ được quy cho trí tưởng tượng, bởi trí tưởng tượng có tính thất thường và không ổn định hơn.
T 1.3.13.12, SBN 149–150
Như vậy, những quy tắc tổng quát của chúng ta theo một nghĩa nào đó lại được đặt vào thế đối lập với nhau.
Khi một đối tượng xuất hiện và nó giống với một nguyên nhân nào đó ở những phương diện rất quan trọng, thì trí tưởng tượng tự nhiên dẫn chúng ta đến một sự hình dung sinh động về hiệu quả thường lệ của nguyên nhân ấy, mặc dù đối tượng hiện tại lại khác với nguyên nhân đó ở những phương diện quan trọng nhất và có tính quyết định nhất.
Đây là ảnh hưởng thứ nhất của những quy tắc tổng quát.
Nhưng khi chúng ta nhìn lại hoạt động này của não thức và so sánh nó với những hoạt động tổng quát hơn và đáng tin cậy hơn của năng lực nhận thức, chúng ta nhận thấy rằng hoạt động ấy có tính chất bất thường và phá hủy những nguyên tắc suy luận được thiết lập vững chắc nhất; và chính vì vậy mà chúng ta bác bỏ nó.
Đây là ảnh hưởng thứ hai của những quy tắc tổng quát, và nó bao hàm sự lên án đối với ảnh hưởng thứ nhất.
Đôi khi ảnh hưởng này thắng thế, đôi khi ảnh hưởng kia thắng thế, tùy theo khuynh hướng và tính cách của mỗi người.
Những người bình thường thường được dẫn dắt bởi ảnh hưởng thứ nhất, còn những người khôn ngoan thì được dẫn dắt bởi ảnh hưởng thứ hai.
Trong khi đó, những người hoài nghi có thể vui thích khi nhận thấy ở đây một sự mâu thuẫn mới và rõ rệt trong chính năng lực nhận thức của chúng ta: họ có thể thấy toàn bộ triết học dường như sắp bị lật đổ bởi một nguyên lý của bản tính con người, rồi lại được cứu vãn bởi một sự định hướng mới của chính nguyên lý ấy.
Việc tuân theo những quy tắc tổng quát là một dạng xác suất rất phi triết học; tuy nhiên, chính nhờ việc tuân theo những quy tắc ấy mà chúng ta có thể sửa chữa dạng xác suất phi triết học này cũng như tất cả những dạng xác suất phi triết học khác.
T 1.3.13.13, SBN 150–151
Vì chúng ta đã có những trường hợp trong đó những quy tắc tổng quát tác động lên trí tưởng tượng, thậm chí trái ngược với phán đoán, nên chúng ta không cần ngạc nhiên khi thấy ảnh hưởng của chúng gia tăng khi chúng kết hợp với năng lực nhận thức ấy; và khi nhận thấy rằng chúng ban cho những ý niệm mà chúng trình bày cho chúng ta một sức mạnh vượt trội hơn so với những ý niệm khác.
Ai cũng biết rằng có một cách gián tiếp để gợi ý lời khen hoặc lời chê, cách này ít gây khó chịu hơn nhiều so với việc công khai tâng bốc hoặc khiển trách một người.
Dù một người có thể truyền đạt cảm nghĩ của mình bằng những sự ám chỉ kín đáo như vậy và khiến người khác hiểu được chúng với sự chắc chắn không kém gì khi trực tiếp bộc lộ, nhưng chắc chắn rằng ảnh hưởng của chúng không mạnh mẽ và có sức tác động ngang nhau.
Một người dùng những lời châm biếm kín đáo để công kích tôi sẽ không khơi dậy sự phẫn nộ trong tôi mạnh bằng khi người đó thẳng thừng nói rằng tôi là một kẻ ngu ngốc và tự phụ, mặc dù tôi hiểu ý nghĩa của người đó cũng rõ ràng như khi người đó nói trực tiếp.
Sự khác biệt này phải được quy cho ảnh hưởng của những quy tắc tổng quát.
T 1.3.13.14, SBN 151
Dù một người công khai xúc phạm tôi hay chỉ kín đáo ám chỉ sự khinh miệt của người ấy đối với tôi, thì trong cả hai trường hợp tôi đều không trực tiếp nhận biết cảm nghĩ hay ý kiến của người ấy; tôi chỉ nhận biết nó thông qua những dấu hiệu, tức là thông qua những hiệu quả của nó.
Vì vậy, sự khác biệt duy nhất giữa hai trường hợp này nằm ở chỗ:
Trong sự bộc lộ công khai cảm nghĩ của mình, người ấy dùng những dấu hiệu có tính phổ quát và thông thường; còn trong sự ám chỉ kín đáo, người ấy dùng những dấu hiệu riêng biệt và ít phổ biến hơn.
Hệ quả của hoàn cảnh này là: khi trí tưởng tượng chuyển từ ấn tượng hiện tại sang ý niệm vắng mặt, nó thực hiện sự chuyển tiếp dễ dàng hơn, và do đó hình dung đối tượng với sức mạnh lớn hơn, khi mối liên hệ là thông thường và phổ quát, so với khi mối liên hệ ấy hiếm gặp và riêng biệt.
Do đó, chúng ta có thể nhận thấy rằng sự bộc lộ công khai cảm nghĩ của mình được gọi là “gỡ bỏ mặt nạ”, còn sự ám chỉ kín đáo ý kiến của mình được gọi là “che phủ chúng”.
Ở đây, sự khác biệt giữa một ý niệm được tạo ra bởi một mối liên hệ tổng quát và một ý niệm phát sinh từ một mối liên hệ riêng biệt được so sánh với sự khác biệt giữa một ấn tượng và một ý niệm.
Sự khác biệt này trong trí tưởng tượng tạo ra một ảnh hưởng tương ứng lên những đam mê; và ảnh hưởng ấy còn được gia tăng bởi một hoàn cảnh khác.
Một sự ám chỉ kín đáo về sự giận dữ hoặc khinh miệt cho thấy rằng chúng ta vẫn còn giữ một sự tôn trọng nào đó đối với người kia và tránh trực tiếp lăng mạ họ.
Điều này khiến một lời châm biếm kín đáo trở nên ít khó chịu hơn; nhưng điều đó vẫn phụ thuộc trên cùng một nguyên lý.
Bởi nếu một ý niệm không trở nên yếu hơn khi nó chỉ được ám chỉ, thì việc dùng phương thức này thay vì phương thức kia sẽ không bao giờ được xem là dấu hiệu của sự tôn trọng lớn hơn.
T 1.3.13.15, SBN 151–152
Đôi khi những lời lẽ thô tục lại ít gây khó chịu hơn lời châm biếm tinh tế, bởi vì chúng theo một cách nào đó trả thù cho chúng ta ngay tại thời điểm sự tổn thương xảy ra, bằng cách cho chúng ta một lý do chính đáng để khiển trách và khinh thường người gây tổn thương.
Nhưng hiện tượng này cũng phụ thuộc vào cùng một nguyên lý.
Bởi vì tại sao chúng ta lại khiển trách mọi lời nói thô lỗ và gây tổn thương, nếu không phải vì chúng ta xem chúng là trái với sự lịch thiệp và tính nhân văn?
Và tại sao chúng lại trái với những điều ấy, nếu không phải vì chúng gây sốc mạnh hơn bất kỳ lời châm biếm tinh tế nào?
Những quy tắc về sự lịch thiệp lên án bất cứ điều gì công khai gây khó chịu và gây ra nỗi đau cùng sự bối rối rõ ràng cho những người mà chúng ta giao tiếp.
Một khi điều này đã được thiết lập, những lời nói xúc phạm sẽ bị lên án một cách phổ quát; và chúng gây ra ít đau đớn hơn bởi vì sự thô lỗ và thiếu lịch sự của chúng khiến người dùng chúng trở nên đáng khinh.
Nó trở nên ít khó chịu hơn chỉ bởi vì ngay từ đầu nó đã khó chịu hơn; và nó khó chịu hơn bởi vì nó cho phép chúng ta rút ra một suy luận dựa trên những quy tắc tổng quát và thông thường, những quy tắc hiển nhiên và không thể phủ nhận.
T 1.3.13.16, SBN 152
Để bổ sung cho sự giải thích này về ảnh hưởng khác nhau của sự tâng bốc hoặc châm biếm công khai và kín đáo, tôi sẽ xem xét thêm một hiện tượng khác có tính tương đồng với nó.
Có nhiều điểm trong vấn đề danh dự của cả nam giới lẫn phụ nữ mà khi bị vi phạm một cách công khai và thừa nhận, người đời không bao giờ tha thứ; nhưng người ta lại dễ bỏ qua hơn khi vẻ bề ngoài vẫn được bảo toàn và sự vi phạm được giữ kín.
Ngay cả những người biết chắc chắn rằng lỗi lầm đã xảy ra cũng dễ dàng tha thứ hơn khi bằng chứng dường như chỉ mang tính gián tiếp và còn có thể nghi ngờ, so với khi bằng chứng trực tiếp và không thể phủ nhận.
Trong cả hai trường hợp, cùng một ý niệm được trình bày, và xét đúng nghĩa, phán đoán đều chấp nhận nó như nhau; tuy nhiên ảnh hưởng của nó lại khác nhau, bởi vì cách thức mà nó được trình bày khác nhau.
T 1.3.13.17, SBN 152–153
Nếu chúng ta so sánh hai trường hợp này—sự vi phạm công khai và sự vi phạm kín đáo những quy tắc về danh dự—chúng ta sẽ thấy rằng sự khác biệt giữa chúng nằm ở điểm sau:
Trong trường hợp thứ nhất, dấu hiệu mà từ đó chúng ta suy ra hành động đáng trách chỉ là một dấu hiệu đơn lẻ, và tự nó đủ làm nền tảng cho suy luận và phán đoán của chúng ta.
Trong trường hợp thứ hai, những dấu hiệu thì nhiều, và mỗi dấu hiệu riêng lẻ hầu như không quyết định điều gì nếu không đi kèm với nhiều hoàn cảnh nhỏ nhặt khác, vốn gần như không thể nhận thấy.
Nhưng chắc chắn rằng bất kỳ suy luận nào cũng luôn có tính thuyết phục hơn khi nó càng đơn nhất và tập trung trước mắt chúng ta, và khi nó càng ít buộc trí tưởng tượng phải lao động để tập hợp tất cả những phần của nó lại, rồi chuyển từ những phần ấy đến ý niệm tương ứng tạo thành kết luận.
Sự lao động của khả năng suy nghĩ làm xáo trộn tiến trình đều đặn của cảm xúc, như chúng ta sẽ thấy sau đây.
Ý niệm không tác động lên chúng ta với cùng mức độ sinh động; và do đó nó không có cùng ảnh hưởng lên đam mê và trí tưởng tượng. [7]
T 1.3.13.18, SBN 153
Từ cùng những nguyên lý ấy, chúng ta có thể giải thích những nhận xét của Hồng y de Retz rằng: có nhiều điều mà thế gian mong muốn được tự lừa dối; và người ta dễ tha thứ hơn cho một người khi người đó hành động trái với sự đúng mực của nghề nghiệp và địa vị của mình, hơn là khi người đó nói ra những điều trái với chúng.
Một lỗi lầm trong lời nói thường công khai và rõ ràng hơn một lỗi lầm trong hành động; bởi hành động cho phép nhiều lời giải thích giảm nhẹ hơn, và không quyết định rõ ràng như lời nói về ý định cũng như mục đích của người hành động.
T 1.3.13.19, SBN 153–154
Như vậy, xét toàn bộ vấn đề, có thể thấy rằng mọi loại ý kiến hay phán đoán nào chưa đạt đến mức tri thức (knowledge) đều hoàn toàn phát sinh từ lực và tính sinh động (force and vivacity) của sự nhận thức (perception); và chính những phẩm tính này tạo thành trong não thức điều mà chúng ta gọi là sự tin tưởng (belief) vào sự tồn tại của một đối tượng.
Lực và tính sinh động này biểu hiện rõ ràng nhất trong ký ức (memory); vì vậy, sự tin cậy của chúng ta đối với tính trung thực của năng lực này đạt đến mức cao nhất có thể hình dung được, và trong nhiều phương diện tương đương với sự xác tín của một phép chứng minh.
Mức độ kế tiếp của những phẩm tính này phát sinh từ quan hệ nhân quả; và mức độ này cũng rất lớn, đặc biệt khi kinh nghiệm cho thấy sự kết hợp giữa nguyên nhân và kết quả là hoàn toàn thường xuyên, ổn định, và khi đối tượng hiện diện trước chúng ta hoàn toàn giống với những đối tượng mà chúng ta đã từng có kinh nghiệm.
Nhưng bên dưới mức độ bằng chứng này còn có nhiều mức độ khác, và chúng tác động lên những đam mê (passions) và trí tưởng tượng (imagination) tương ứng với mức độ lực và tính sinh động mà chúng truyền sang những ý niệm.
Chính nhờ thói quen (habit) mà chúng ta thực hiện sự chuyển tiếp từ nguyên nhân sang kết quả; và chính từ một ấn tượng hiện tại nào đó mà chúng ta vay mượn tính sinh động, rồi truyền nó sang ý niệm tương ứng.
Nhưng khi chúng ta chưa quan sát đủ số lượng trường hợp để tạo nên một thói quen mạnh mẽ; hoặc khi những trường hợp ấy đối lập nhau; hoặc khi sự tương tự không hoàn toàn chính xác; hoặc khi ấn tượng hiện tại yếu ớt và mờ nhạt; hoặc khi kinh nghiệm phần nào đã bị xóa mờ khỏi ký ức; hoặc khi sự kết nối phụ thuộc vào một chuỗi dài những đối tượng trung gian; hoặc khi suy luận được rút ra từ những quy tắc tổng quát nhưng lại không phù hợp với chính những quy tắc ấy:
Trong tất cả những trường hợp này, bằng chứng suy giảm bởi vì lực và cường độ của ý niệm cũng suy giảm.
Đó chính là bản chất của phán đoán và xác suất. [8]
T 1.3.13.20, SBN 154–155
Điều chủ yếu đem lại thẩm quyền cho hệ thống này—ngoài những lập luận không thể phủ nhận mà mỗi phần của nó dựa vào—chính là sự phù hợp lẫn nhau giữa những phần ấy, cũng như sự cần thiết của phần này để giải thích phần kia.
Sự tin tưởng đi kèm với ký ức có cùng bản chất với sự tin tưởng phát sinh từ những phán đoán của chúng ta. Cũng không có sự khác biệt về bản chất giữa một phán đoán phát sinh từ sự kết hợp thường xuyên và đồng nhất của những nguyên nhân và kết quả, với một phán đoán phụ thuộc vào một sự kết hợp bị gián đoạn và không chắc chắn.
Quả thật, rõ ràng rằng trong tất cả những quyết định mà não thức phải phán đoán dựa trên những thực nghiệm đối lập nhau, ban đầu nó bị phân chia bên trong chính nó, và nghiêng về mỗi phía tương ứng với số lượng những thực nghiệm mà chúng ta đã quan sát và ghi nhớ.
Cuộc tranh chấp này cuối cùng được quyết định theo hướng có lợi cho phía mà chúng ta nhận thấy có số lượng thực nghiệm vượt trội hơn; tuy nhiên, lực của bằng chứng vẫn bị giảm xuống tương ứng với số lượng những thực nghiệm ở phía đối lập.
Mỗi khả năng riêng lẻ, vốn cấu thành nên xác suất, đều tác động riêng biệt lên trí tưởng tượng; và cuối cùng, chính tập hợp những khả năng lớn hơn sẽ chiếm ưu thế, với một lực tương ứng với mức độ vượt trội của nó.
Tất cả những hiện tượng này đều trực tiếp dẫn đến hệ thống đã trình bày ở trên; và trên bất kỳ nguyên lý nào khác, chúng ta sẽ không bao giờ có thể đưa ra một sự giải thích thỏa đáng và nhất quán cho chúng.
Nếu không xem những phán đoán này như là những hiệu quả của thói quen tác động lên trí tưởng tượng, chúng ta sẽ rơi vào những mâu thuẫn và nghịch lý không bao giờ chấm dứt.[9]
______________________________
Ghi chú
T 1.3.13.11n25, SBN 149
MỤC XIV
Về Ý Niệm Về Sự Kết Nối Tất Yếu
T 1.3.14.1, SBN 155–6
Sau khi đã giải thích cách thức chúng ta suy luận vượt ra ngoài những ấn tượng trực tiếp của mình, và đi đến kết luận rằng những nguyên nhân đặc thù như vậy phải có những kết quả đặc thù như vậy, giờ đây chúng ta phải quay trở lại điểm xuất phát để khảo sát câu hỏi đã xuất hiện ngay từ đầu nhưng chúng ta đã tạm gác lại trên đường, đó là: Ý niệm của chúng ta về tính tất yếu là gì, khi chúng ta nói rằng hai đối tượng được kết nối tất yếu với nhau?
Về vấn đề này, tôi xin nhắc lại điều mà tôi đã nhiều lần có dịp nhận xét: vì chúng ta không có bất kỳ ý niệm nào mà không bắt nguồn từ một ấn tượng, nên nếu quả thật chúng ta có ý niệm về tính tất yếu, thì chúng ta phải tìm được một ấn tượng làm phát sinh ý niệm ấy.
Để làm điều đó, tôi xem xét những đối tượng mà người ta thường cho rằng tính tất yếu nằm trong đó; và vì thấy rằng nó luôn được quy cho quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả, nên tôi hướng sự khảo sát của mình vào hai đối tượng được giả định là đứng trong quan hệ ấy, rồi xem xét chúng dưới mọi phương diện mà chúng có thể được xem xét.
Tôi lập tức nhận thấy rằng chúng kề cận nhau trong thời gian và không gian, và rằng đối tượng mà chúng ta gọi là nguyên nhân luôn đi trước đối tượng mà chúng ta gọi là kết quả. Trong bất kỳ trường hợp nào tôi cũng không thể đi xa hơn, cũng không thể khám phá thêm một quan hệ thứ ba nào giữa hai đối tượng ấy.
Vì vậy, tôi mở rộng phạm vi khảo sát sang nhiều trường hợp tương tự hơn, và nhận thấy rằng những đối tượng giống nhau luôn xuất hiện trong những quan hệ giống nhau về sự kề cận và sự kế tiếp.
Thoạt nhìn, điều này dường như chẳng giúp ích bao nhiêu cho mục đích của tôi. Việc tự suy ngẫm về nhiều trường hợp chỉ lập lại những đối tượng giống nhau, nên dường như không thể làm phát sinh một ý niệm mới.
Nhưng khi khảo sát kỹ hơn, tôi nhận thấy rằng sự lập lại ấy không hoàn toàn giống nhau ở mọi phương diện; trái lại, nó tạo ra một ấn tượng mới, và chính nhờ đó làm phát sinh ý niệm mà hiện nay tôi đang khảo sát.
Bởi sau nhiều lần lập lại, tôi nhận thấy rằng, mỗi khi một trong hai đối tượng xuất hiện, não thức, do tác động của thói quen, liền được xác định để hướng đến đối tượng thường đi kèm với nó, và hình dung đối tượng ấy với một mức độ lực và tính sinh động mạnh hơn vì quan hệ của nó với đối tượng thứ nhất.
Chính ấn tượng này—hay đúng hơn, chính sự xác định của não thức này—đã cung cấp cho tôi ý niệm về tính tất yếu.
T 1.3.14.2, SBN 156
Tôi không nghi ngờ rằng, thoạt nhìn, những kết luận này sẽ được tiếp nhận một cách dễ dàng, vì chúng chỉ là những hệ quả hiển nhiên rút ra từ những nguyên tắc mà chúng ta đã thiết lập và đã nhiều lần vận dụng trong những lập luận trước đây.
Chính sự hiển nhiên ấy—cả ở những nguyên tắc nền tảng lẫn ở những suy diễn từ chúng—có thể vô tình khiến chúng ta tiếp nhận kết luận này quá dễ dàng và tưởng rằng nó không chứa đựng điều gì đặc biệt hay đáng để khảo cứu.
Nhưng mặc dù sự thiếu chú ý ấy có thể giúp người đọc dễ dàng chấp nhận lập luận này, thì cũng chính vì thế mà nó càng dễ bị quên lãng.
Vì vậy, tôi thấy cần phải nhắc người đọc rằng điều tôi vừa khảo sát chính là một trong những vấn đề cao siêu nhất của triết học, tức là vấn đề về năng lực (power) và hiệu lực (efficacy) của nguyên nhân, một vấn đề mà hầu như mọi ngành khoa học đều có lợi ích trực tiếp liên quan.
Lời nhắc này tự nhiên sẽ đánh thức sự chú ý của người đọc và khiến người đó mong muốn có một sự trình bày đầy đủ hơn về học thuyết của tôi cũng như về những lập luận làm nền tảng cho học thuyết ấy.
Yêu cầu đó hoàn toàn hợp lý, và tôi không thể từ chối đáp ứng; nhất là vì tôi hy vọng rằng những nguyên tắc này, càng được khảo sát kỹ lưỡng, sẽ càng bộc lộ rõ sức mạnh và tính hiển nhiên của chúng.
T 1.3.14.3, SBN 156
Không có vấn đề nào, xét cả về tầm quan trọng lẫn độ khó, lại gây ra nhiều tranh luận hơn giữa những nhà triết học cổ đại và hiện đại cho bằng vấn đề về hiệu lực của nguyên nhân, hay về phẩm tính khiến nguyên nhân được theo sau bởi kết quả của nó.
Nhưng trước khi bước vào những cuộc tranh luận ấy, theo tôi, lẽ ra người ta nên khảo sát trước xem chúng ta thực sự có ý niệm gì về chính cái hiệu lực ấy, vốn là đối tượng của toàn bộ cuộc tranh luận.
Đó chính là điều mà tôi thấy còn thiếu chủ yếu trong những lập luận của họ, và cũng là điều mà ở đây tôi sẽ cố gắng bổ sung.[10]
T 1.3.14.4, SBN 157
Tôi bắt đầu bằng việc nhận xét rằng những thuật ngữ hiệu lực (efficacy), tác năng (agency), năng lực (power), sức mạnh (force), năng lượng (energy), tính tất yếu (necessity), sự kết nối (connexion) và năng lực sản sinh (productive quality) đều gần như đồng nghĩa với nhau; vì vậy, dùng bất kỳ thuật ngữ nào trong số chúng để định nghĩa những thuật ngữ còn lại đều là điều vô lý.
Chỉ với nhận xét này, chúng ta có thể gạt bỏ ngay tất cả những định nghĩa thông thường mà những nhà triết học đã đưa ra về năng lực và hiệu lực. Thay vì tìm kiếm ý niệm ấy trong những định nghĩa đó, chúng ta phải tìm nó trong ấn tượng mà từ đó nó nguyên thủy phát sinh.
Nếu đây là một ý niệm phức hợp, thì nó phải phát sinh từ những ấn tượng phức hợp; còn nếu là một ý niệm đơn giản, thì nó phải phát sinh từ một ấn tượng đơn giản.
T 1.3.14.5, SBN 157
Tôi tin rằng cách giải thích phổ biến nhất về vấn đề này là nói rằng: khi từ kinh nghiệm chúng ta nhận thấy trong vật chất luôn xuất hiện những hiện tượng mới, chẳng hạn như những chuyển động và những biến đổi của những vật thể, rồi từ đó kết luận rằng ở đâu đó phải tồn tại một năng lực có khả năng tạo ra những hiện tượng ấy, thì cuối cùng, thông qua lối suy luận đó, chúng ta đạt được ý niệm về năng lực và hiệu lực.
Nhưng để thấy rằng cách giải thích này chỉ phổ biến chứ không thật sự có tính triết học, chúng ta chỉ cần suy ngẫm về hai nguyên tắc rất hiển nhiên.
Thứ nhất, chỉ riêng lý trí không bao giờ có thể làm phát sinh bất kỳ ý niệm nguyên thủy nào.
Thứ hai, lý trí, khi được phân biệt với kinh nghiệm, cũng không bao giờ có thể khiến chúng ta kết luận rằng phải tuyệt đối có một nguyên nhân hay một năng lực sản sinh đối với mọi sự khởi đầu của sự hiện hữu.
Hai điểm này đã được giải thích đầy đủ trước đây, nên tôi sẽ không bàn thêm ở đây.
T 1.3.14.6, SBN 157–8
Tôi chỉ rút ra từ đó rằng: vì lý trí không bao giờ có thể làm phát sinh ý niệm về hiệu lực, nên ý niệm ấy nhất thiết phải bắt nguồn từ kinh nghiệm, và từ một số trường hợp cụ thể của chính hiệu lực ấy, những trường hợp đi vào não thức qua những con đường thông thường của cảm giác hoặc sự tự suy ngẫm.
Các ý niệm luôn biểu trưng cho những đối tượng hoặc những ấn tượng của chúng; và ngược lại, muốn có bất kỳ ý niệm nào thì phải có một đối tượng hay một ấn tượng tương ứng làm phát sinh nó.
Vì vậy, nếu chúng ta quả thật cho rằng mình có một ý niệm xác đáng về hiệu lực, thì chúng ta phải chỉ ra được một trường hợp trong đó hiệu lực ấy được bộc lộ rõ ràng cho não thức, và hoạt động của nó hiển hiện trực tiếp đối với ý thức hoặc cảm giác của chúng ta.
Nếu không thể làm được điều đó, thì chính chúng ta phải thừa nhận rằng ý niệm ấy chỉ là một ý niệm hư cấu và không thể có được. Bởi lẽ, học thuyết về ý niệm bẩm sinh—con đường duy nhất có thể cứu chúng ta khỏi tình thế khó xử này—đã bị bác bỏ từ trước và hiện nay hầu như đã bị toàn thể giới học thuật từ bỏ.
Vì vậy, nhiệm vụ của chúng ta bây giờ là tìm ra một trường hợp tự nhiên, trong đó hoạt động và hiệu lực của một nguyên nhân có thể được não thức nhận thức và hiểu một cách rõ ràng, không còn nguy cơ mơ hồ hay nhầm lẫn. [11]
T 1.3.14.7, SBN 158–9
Trong cuộc khảo sát này, chúng ta nhận được rất ít sự khích lệ từ sự đa dạng đáng kinh ngạc trong những quan điểm của những nhà triết học, những người đã tự nhận rằng họ có thể giải thích sức mạnh bí mật và năng lực tác động của những nguyên nhân.[29]
Có những người cho rằng những vật thể tác động nhờ mô thể bản thể (substantial form) [12] của chúng; những người khác cho rằng nhờ những thuộc tính ngẫu nhiên (accidents) hay những phẩm chất của chúng; một số người cho rằng nhờ vật chất và mô thể; một số khác cho rằng nhờ mô thể và những thuộc tính ngẫu nhiên; lại có những người viện đến những năng lực và khả năng nhất định khác biệt với tất cả những điều trên.
Tất cả những quan điểm này lại tiếp tục được pha trộn và biến đổi theo hàng nghìn cách khác nhau; và chúng tạo thành một lý do mạnh mẽ để cho rằng không một quan điểm nào trong số đó có tính vững chắc hay bằng chứng xác đáng, đồng thời giả định rằng có một hiệu lực nằm trong bất kỳ phẩm chất đã biết nào của vật chất là hoàn toàn không có nền tảng.
Giả định này càng trở nên mạnh hơn khi chúng ta xem xét rằng những nguyên lý về mô thể bản thể, những thuộc tính ngẫu nhiên và những năng lực thực ra không phải là bất kỳ thuộc tính đã biết nào của những vật thể, mà hoàn toàn không thể hiểu được và không thể giải thích được.
Bởi rõ ràng những nhà triết học sẽ không bao giờ phải viện đến những nguyên lý tối tăm và bất định như vậy nếu họ tìm thấy sự thỏa mãn trong những nguyên lý rõ ràng và có thể hiểu được; đặc biệt trong một vấn đề như vấn đề này, vốn lẽ ra phải là đối tượng của sự hiểu biết đơn giản nhất, nếu không phải của chính những giác quan.
Nhìn chung, chúng ta có thể kết luận rằng không thể trong bất kỳ trường hợp nào chỉ ra được nguyên lý mà trong đó sức mạnh và năng lực tác động của một nguyên nhân được đặt vào; và rằng cả những trí tuệ tinh tế nhất lẫn những hiểu biết thông thường nhất đều lúng túng như nhau về điểm này.
Nếu có ai muốn bác bỏ khẳng định này, người đó không cần phải mất công xây dựng những lập luận dài dòng; chỉ cần chỉ ra cho chúng ta một trường hợp về một nguyên nhân, trong đó chúng ta khám phá được năng lực hay nguyên lý tác động của nó.
Lời thách thức này chúng ta buộc phải thường xuyên đưa ra, bởi đây gần như là phương tiện duy nhất để chứng minh một mệnh đề phủ định trong triết học.
T 1.3.14.8, SBN 159
Sự thành công ít ỏi đạt được trong tất cả những nỗ lực nhằm xác định năng lực này cuối cùng đã buộc những nhà triết học phải kết luận rằng sức mạnh và hiệu lực tối hậu của tự nhiên hoàn toàn không được chúng ta biết đến, và rằng việc tìm kiếm nó trong tất cả những phẩm chất đã biết của vật chất là vô ích.
Về điểm này, họ hầu như hoàn toàn đồng thuận; và chỉ trong những suy luận mà họ rút ra từ đó, sự khác biệt giữa những quan điểm của họ mới xuất hiện.
Bởi một số người trong số họ, đặc biệt là những người theo Descartes, sau khi thiết lập nguyên tắc rằng chúng ta hoàn toàn hiểu biết bản chất của vật chất, đã rất tự nhiên suy ra rằng vật chất không được trang bị bất kỳ hiệu lực nào, và rằng tự bản thân nó không thể truyền chuyển động hay tạo ra bất kỳ hiệu quả nào mà chúng ta vẫn quy cho nó.
Vì bản chất của vật chất nằm ở sự mở rộng trong không gian (extension), [13] và vì sự mở rộng trong không gian không bao hàm chuyển động thực tại mà chỉ bao hàm khả năng chuyển động (mobility), nên họ kết luận rằng năng lực tạo ra chuyển động không thể nằm trong sự mở rộng trong không gian ấy.
T 1.3.14.9, SBN 159
Kết luận này dẫn họ đến một kết luận khác mà họ xem là hoàn toàn không thể tránh khỏi. Theo họ, vật chất tự thân hoàn toàn không hoạt động, và bị tước bỏ mọi năng lực nhờ đó nó có thể tạo ra, duy trì hoặc truyền chuyển động.
Nhưng vì những hiệu quả này hiển nhiên đối với những giác quan của chúng ta, và vì năng lực tạo ra chúng nhất định phải được đặt ở đâu đó, nên nó phải nằm trong Gót, hay hữu thể thần linh — đấng chứa đựng trong bản tính của mình mọi sự ưu việt và hoàn hảo.
Vì vậy, chính Gót là động lực đầu tiên (prime mover) của vũ trụ; Ngài không chỉ sáng tạo vật chất ban đầu và ban cho nó xung lực nguyên thủy, mà còn bằng sự vận hành liên tục của quyền năng toàn năng, duy trì sự tồn tại của nó, và lần lượt ban cho nó tất cả những chuyển động, những cấu hình và những phẩm chất mà nó có.
T 1.3.14.10, SBN 160
Quan điểm này quả thật rất đáng chú ý và xứng đáng với sự quan tâm của chúng ta; nhưng nó sẽ trở nên không cần thiết phải khảo sát ở đây, nếu chúng ta chỉ suy xét trong chốc lát về mục đích hiện tại của việc nhắc đến nó.
Chúng ta đã xác lập một nguyên tắc rằng: vì mọi ý niệm đều bắt nguồn từ những ấn tượng, hay từ một số tri giác có trước, nên chúng ta không thể có bất kỳ ý niệm nào về năng lực và hiệu lực, trừ khi có thể đưa ra một số trường hợp trong đó năng lực ấy được nhận thấy là đang tự biểu hiện tác dụng của nó.
Nhưng vì những trường hợp như vậy không bao giờ có thể được tìm thấy trong vật thể, nên những người theo Descartes, dựa trên nguyên tắc về những ý niệm bẩm sinh, đã viện đến một tinh thần tối cao hay Gót; họ xem Ngài là hữu thể duy nhất có tính tác động trong vũ trụ, và là nguyên nhân trực tiếp của mọi biến đổi trong vật chất.
Tuy nhiên, khi nguyên tắc về những ý niệm bẩm sinh đã được thừa nhận là sai lầm, thì hệ quả là giả định về Gót không thể giúp chúng ta giải thích ý niệm về hiệu lực tác động mà chúng ta đã tìm kiếm vô ích trong tất cả những đối tượng được trình ra trước giác quan, hay trong những gì chúng ta nhận thức nội tâm nơi chính não thức của mình.
Bởi vì nếu mọi ý niệm đều bắt nguồn từ một ấn tượng, thì ý niệm về Gót cũng phải xuất phát từ cùng một nguồn gốc ấy; và nếu không có một ấn tượng nào — dù thuộc về cảm giác hay sự tự suy ngẫm — chứa đựng bất kỳ sức mạnh hay hiệu lực nào, thì chúng ta cũng không thể tìm thấy, hay thậm chí hình dung, một nguyên lý tác động như vậy nơi Gót.
Vì thế, nếu những nhà triết học này đã kết luận rằng vật chất không thể được trang bị một nguyên lý có hiệu lực, bởi vì không thể tìm thấy nguyên lý ấy trong vật chất, thì cùng một lối suy luận đó cũng phải khiến họ loại bỏ nó khỏi hữu thể tối cao. [14]
Hoặc nếu họ xem kết luận ấy là phi lý và báng bổ — như quả thật nó là như vậy — thì tôi sẽ chỉ cho họ cách tránh khỏi nó: đó là ngay từ đầu hãy kết luận rằng họ không có một ý niệm đầy đủ về năng lực hay hiệu lực nơi bất kỳ đối tượng nào; bởi vì họ không thể tìm thấy một trường hợp duy nhất của nó, dù trong thân thể hay tinh thần, dù trong những bản tính cao hơn hay thấp hơn.
T 1.3.14.11, SBN 160–1
Cùng một kết luận cũng không thể tránh khỏi dựa trên giả thuyết của những người duy trì hiệu lực của những nguyên nhân thứ hai (second causes), và quy cho vật chất một năng lực và sức tác động có thật nhưng là năng lực phái sinh.
Bởi vì họ thừa nhận rằng sức tác động này không nằm trong bất kỳ phẩm chất nào đã biết của vật chất, nên khó khăn về nguồn gốc của ý niệm về nó vẫn còn nguyên vẹn.
Nếu chúng ta thực sự có một ý niệm về năng lực, chúng ta có thể quy năng lực ấy cho một phẩm chất chưa được biết đến. Nhưng vì không thể nào ý niệm ấy lại bắt nguồn từ một phẩm chất như vậy, và vì không có gì trong những phẩm chất đã biết có thể tạo ra nó, nên hệ quả là chúng ta tự đánh lừa mình khi tưởng rằng mình sở hữu một ý niệm thuộc loại này theo cách mà người ta thường hiểu.
Mọi ý niệm đều bắt nguồn từ những ấn tượng và biểu thị cho những ấn tượng ấy. Chúng ta chưa bao giờ có một ấn tượng nào chứa đựng năng lực hay hiệu lực.
Vì vậy, chúng ta cũng chưa bao giờ có bất kỳ ý niệm nào về năng lực.
T 1.3.14.12, SBN 632–3
Một số người khẳng định rằng chúng ta cảm nhận được một sức tác động hay năng lực trong chính não thức của mình; và rằng bằng cách có được ý niệm về năng lực theo cách này, chúng ta chuyển phẩm tính ấy sang vật chất, nơi chúng ta không thể trực tiếp tìm thấy nó.
Theo họ, những chuyển động của thân thể chúng ta, cũng như những tư tưởng và cảm xúc của não thức chúng ta, đều tuân theo ý chí; và chúng ta không cần tìm kiếm xa hơn để có được một quan niệm đúng đắn về sức mạnh hay năng lực.
Nhưng để thuyết phục chúng ta thấy lập luận này sai lầm như thế nào, chúng ta chỉ cần xem xét rằng ý chí, khi được xem như một nguyên nhân ở đây, cũng không có một sự kết nối có thể tìm thấy được với những hiệu quả của nó, chẳng khác gì bất kỳ nguyên nhân vật chất nào đối với hiệu quả thích hợp của nó.
Chúng ta không hề nhận thấy sự kết nối giữa một hành vi của ý chí và một chuyển động của thân thể; trái lại, người ta thừa nhận rằng không có hiệu quả nào khó giải thích hơn hiệu quả này nếu xét từ những năng lực và bản chất của tư tưởng cũng như vật chất.
Quyền lực của ý chí đối với chính não thức của chúng ta cũng không dễ hiểu hơn. Ở đó, hiệu quả có thể được phân biệt và tách rời khỏi nguyên nhân; và người ta không thể tiên đoán hiệu quả ấy nếu không có kinh nghiệm về sự kết hợp thường xuyên giữa chúng.
Chúng ta có quyền kiểm soát não thức của mình trong một mức độ nhất định, nhưng vượt quá giới hạn đó thì chúng ta mất đi mọi quyền làm chủ; và rõ ràng không thể xác định chính xác phạm vi quyền lực của mình nếu không dựa vào kinh nghiệm.
Tóm lại, những hoạt động của não thức, xét về phương diện này, cũng giống như những hoạt động của vật chất. Chúng ta chỉ nhận thấy sự kết hợp thường xuyên giữa chúng; và chúng ta không bao giờ có thể suy luận vượt ra ngoài điều đó.
Không có một ấn tượng nội tại nào biểu lộ một năng lực tác động rõ ràng hơn so với những đối tượng bên ngoài.
Vì vậy, nếu vật chất được chính những triết gia thừa nhận là tác động nhờ một sức mạnh không được biết đến, thì chúng ta cũng vô ích khi hy vọng đạt được một ý niệm về sức mạnh ấy bằng cách khảo sát chính não thức của mình.
T 1.3.14.13, SBN 161–2
Chúng ta đã thiết lập như một nguyên tắc chắc chắn rằng những ý niệm tổng quát hay trừu tượng không gì khác hơn là những ý niệm cá biệt được xem xét dưới một phương diện nhất định; và rằng khi suy xét bất kỳ đối tượng nào, chúng ta không thể loại bỏ khỏi tư tưởng của mình mọi mức độ cụ thể của số lượng hay phẩm chất, cũng giống như không thể loại bỏ chúng khỏi bản tính thực sự của sự vật.
Vì vậy, nếu chúng ta sở hữu bất kỳ ý niệm nào về năng lực nói chung, chúng ta cũng phải có khả năng hình dung một dạng cụ thể nào đó của năng lực ấy. Và vì năng lực không thể tồn tại một cách độc lập, mà luôn luôn được xem như một thuộc tính của một hữu thể hay một sự tồn tại nào đó, chúng ta phải có khả năng đặt năng lực ấy nơi một hữu thể cụ thể nào đó, và hình dung hữu thể ấy như được trang bị một sức mạnh và hiệu lực thực sự, nhờ đó một hiệu quả đặc thù tất yếu phát sinh từ hoạt động của nó.
Chúng ta phải có khả năng hình dung một cách rõ ràng và cụ thể sự kết nối giữa nguyên nhân và kết quả, và có thể từ việc đơn thuần nhận thức một trong hai mà kết luận rằng cái kia nhất định sẽ theo sau hoặc đi trước nó.
Đó mới chính là cách thức thực sự để hình dung một năng lực cụ thể trong một vật thể cụ thể. Và vì một ý niệm tổng quát không thể tồn tại nếu không có một ý niệm cá biệt, nên ở đâu ý niệm cá biệt là không thể có, thì chắc chắn ý niệm tổng quát cũng không thể tồn tại.
Không có gì hiển nhiên hơn việc não thức con người không thể hình thành một ý niệm về hai đối tượng sao cho có thể hình dung được bất kỳ sự kết nối nào giữa chúng, hoặc hiểu một cách rõ ràng năng lực hay hiệu lực khiến chúng được liên kết.
Một sự kết nối như vậy sẽ tương đương với một chứng minh tất yếu, và sẽ hàm ý rằng hoàn toàn không thể để một đối tượng không theo sau đối tượng kia, hoặc thậm chí không thể hình dung rằng nó không theo sau đối tượng kia. Loại kết nối như vậy đã bị bác bỏ trong mọi trường hợp.
Nếu có ai giữ quan điểm ngược lại và cho rằng mình đã đạt được một khái niệm về năng lực trong một đối tượng cụ thể nào đó, tôi yêu cầu người ấy chỉ ra cho tôi đối tượng đó.
Nhưng cho đến khi gặp được một trường hợp như vậy — điều mà tôi không hy vọng xảy ra — tôi không thể không kết luận rằng, bởi vì chúng ta không bao giờ có thể hình dung một cách rõ ràng bằng cách nào một năng lực cụ thể có thể tồn tại trong một đối tượng cụ thể, nên chúng ta đang tự đánh lừa mình khi tưởng rằng mình có thể hình thành một ý niệm tổng quát như vậy. [15]
T 1.3.14.14, SBN 162
Như vậy, xét toàn bộ vấn đề, chúng ta có thể suy ra rằng khi nói về bất kỳ hữu thể nào, dù thuộc bản tính cao hơn hay thấp hơn, như được trang bị một năng lực hay sức mạnh tương xứng với một hiệu quả nào đó; khi nói về một sự kết nối tất yếu giữa những đối tượng, và giả định rằng sự kết nối này phụ thuộc vào một hiệu lực hay sức tác động mà một trong những đối tượng ấy được trang bị; thì trong tất cả những cách diễn đạt như vậy, khi được dùng theo cách ấy, thực sự chúng ta không có một ý nghĩa rõ ràng nào, mà chỉ đang dùng những từ ngữ thông thường mà không có những ý niệm minh xác và xác định đi kèm.
Tuy nhiên, vì có khả năng rằng những cách diễn đạt này đã đánh mất ý nghĩa đích thực của chúng do bị áp dụng sai chỗ, hơn là chúng hoàn toàn chưa bao giờ có bất kỳ ý nghĩa nào, nên thích hợp hơn là dành thêm một sự khảo sát khác cho vấn đề này, để xem liệu chúng ta có thể khám phá được bản tính và nguồn gốc của những ý niệm mà chúng ta gắn vào những thuật ngữ ấy hay không.
T 1.3.14.15, SBN 162
Giả sử có hai đối tượng được trình bày cho chúng ta, trong đó một đối tượng là nguyên nhân và đối tượng kia là kết quả; rõ ràng rằng chỉ bằng việc xem xét riêng một trong hai đối tượng, hoặc cả hai đối tượng này, chúng ta sẽ không bao giờ nhận thức được mối liên hệ ràng buộc khiến chúng được nối kết với nhau, cũng không thể chắc chắn khẳng định rằng giữa chúng có một sự kết nối nào đó.
Vì vậy, không phải từ một trường hợp đơn lẻ nào mà chúng ta đạt đến ý niệm về nguyên nhân và kết quả, về sự kết nối tất yếu, về năng lực, sức mạnh, năng lượng hay hiệu lực.
Nếu chúng ta chưa bao giờ thấy gì ngoài những sự kết hợp riêng biệt giữa những đối tượng hoàn toàn khác nhau, chúng ta sẽ không bao giờ có thể hình thành bất kỳ ý niệm nào như vậy.
T 1.3.14.16, SBN 163
Nhưng một lần nữa, hãy giả sử rằng chúng ta quan sát nhiều trường hợp trong đó những đối tượng giống nhau luôn luôn được kết hợp với nhau; ngay lập tức chúng ta hình thành một sự kết nối giữa chúng, và bắt đầu suy luận từ một đối tượng này sang đối tượng kia.
Do đó, chính sự đa dạng của những trường hợp tương tự lặp đi lập lại này tạo thành bản chất của năng lực hay sự kết nối, và là nguồn gốc từ đó ý niệm về nó phát sinh.
Vì vậy, để hiểu được ý niệm về năng lực, chúng ta phải xem xét sự đa dạng ấy; và tôi không yêu cầu gì hơn thế để giải quyết khó khăn đã khiến chúng ta bối rối trong một thời gian dài.
Lập luận của tôi như sau:
Sự lập lại của những trường hợp hoàn toàn giống nhau tự nó không bao giờ có thể làm nảy sinh một ý niệm nguyên thủy mới, khác với những gì đã được tìm thấy trong bất kỳ trường hợp riêng lẻ nào, như chúng ta đã nhận xét; và điều này cũng hiển nhiên từ nguyên tắc nền tảng của chúng ta rằng mọi ý niệm đều là bản sao của những ấn tượng.
Vì vậy, bởi vì ý niệm về năng lực là một ý niệm nguyên thủy mới, không được tìm thấy trong bất kỳ trường hợp riêng lẻ nào, nhưng lại phát sinh từ sự lập lại của nhiều trường hợp, nên hệ quả là sự lập lại tự nó không tạo ra ý niệm ấy; mà nó phải hoặc tìm ra, hoặc tạo ra một điều gì đó mới mẻ, và chính điều mới mẻ đó là nguồn gốc của ý niệm này.
Nếu sự lập lại không tìm ra hoặc tạo ra bất kỳ điều gì mới, thì nó chỉ có thể làm tăng số lượng những ý niệm của chúng ta, chứ không thể mở rộng chúng vượt quá những gì chúng ta có được từ việc quan sát một trường hợp duy nhất.
Vì vậy, mọi sự mở rộng của ý niệm — chẳng hạn như ý niệm về năng lực hay sự kết nối — phát sinh từ sự đa dạng của những trường hợp tương tự, đều phải bắt nguồn từ một hiệu quả nào đó của chính sự đa dạng ấy; và chúng ta chỉ có thể hiểu hoàn toàn nó bằng cách hiểu những hiệu quả ấy.
Bất cứ nơi nào chúng ta tìm thấy một điều gì đó mới được tìm ra hoặc được tạo ra bởi sự lập lại, thì chính ở đó chúng ta phải đặt năng lực; và chúng ta không bao giờ được tìm kiếm nó trong bất kỳ đối tượng nào khác.[16]
T 1.3.14.17, SBN 163–4
Trước hết, rõ ràng rằng sự lập lại của những đối tượng giống nhau trong những quan hệ giống nhau về sự kế tiếp và sự tiếp giáp không tìm ra điều gì mới trong bất kỳ đối tượng nào trong số đó; bởi vì chúng ta không thể rút ra bất kỳ suy luận nào từ sự lập lại ấy, cũng không thể biến nó thành đối tượng của những suy luận chứng minh hay xác suất của chúng ta; như đã được chứng minh trước đây. Hơn nữa, giả sử chúng ta có thể rút ra một suy luận, điều đó cũng không có ý nghĩa gì trong trường hợp hiện tại; bởi vì không có bất kỳ kiểu lý luận nào có thể làm phát sinh một ý niệm mới, như ý niệm về năng lực này. Trái lại, bất cứ khi nào chúng ta lý luận, chúng ta nhất thiết phải đã sở hữu trước những ý niệm rõ ràng, vốn có thể trở thành đối tượng của sự lý luận. Sự hình dung luôn đi trước sự hiểu biết; và khi cái trước mơ hồ, cái sau cũng không chắc chắn; khi cái trước thiếu vắng, cái sau cũng nhất định thất bại.
T 1.3.14.18, SBN 164
Thứ hai, chắc chắn rằng sự lập lại của những đối tượng tương tự trong những hoàn cảnh tương tự không tạo ra điều gì mới, dù trong chính những đối tượng ấy hay trong bất kỳ vật thể bên ngoài nào. Người ta dễ dàng thừa nhận rằng những trường hợp khác nhau mà chúng ta có về sự kết hợp của những nguyên nhân và kết quả tương tự, xét tự thân, hoàn toàn độc lập với nhau; và rằng sự truyền chuyển động mà hiện nay tôi thấy phát sinh từ sự va chạm của hai quả bi-a hoàn toàn khác biệt với sự truyền chuyển động mà tôi đã thấy phát sinh từ một sự tác động tương tự cách đây mười hai tháng. Những sự tác động ấy không có ảnh hưởng lẫn nhau. Chúng hoàn toàn bị phân cách bởi thời gian và không gian; và một trường hợp có thể đã tồn tại và truyền chuyển động, ngay cả khi trường hợp kia chưa từng tồn tại.
T 1.3.14.19, SBN 164
Vì vậy, không có điều gì mới được tìm thấy hay được tạo ra trong bất kỳ sự vật nào bởi sự kết hợp thường xuyên của chúng, cũng như bởi sự tương đồng không gián đoạn trong những quan hệ về sự kế tiếp và sự kề cận của chúng. Thế nhưng chính từ sự tương đồng này mà những ý niệm về tính tất yếu, về năng lực và về hiệu lực lại nảy sinh. Do đó, những ý niệm ấy không biểu thị bất kỳ điều gì thực sự thuộc về, hay có thể thuộc về, những sự vật vốn thường xuyên kết hợp với nhau.
Đây là một lập luận mà dù xem xét từ bất kỳ góc độ nào, chúng ta cũng sẽ thấy nó hoàn toàn không thể bác bỏ. Những trường hợp tương tự vẫn là nguồn gốc đầu tiên của ý niệm về năng lực hay tính tất yếu của chúng ta; đồng thời, bản thân sự tương đồng giữa chúng không gây ra bất kỳ tác động nào lên nhau, cũng không gây ra bất kỳ tác động nào lên một sự vật bên ngoài nào. Vì vậy, chúng ta phải hướng sang một phương diện khác để tìm kiếm nguồn gốc của ý niệm ấy. [17]
T 1.3.14.20, SBN 164–5
Mặc dù những trường hợp tương tự khác nhau làm phát sinh ý niệm về năng lực không có ảnh hưởng lẫn nhau, và cũng không bao giờ có thể tạo ra một phẩm chất mới nào trong đối tượng để trở thành khuôn mẫu cho ý niệm ấy, nhưng việc nhận thấy sự tương đồng này lại tạo ra một ấn tượng mới trong não thức, và chính ấn tượng đó mới là khuôn mẫu thực sự của ý niệm.
Bởi vì sau khi đã quan sát sự tương đồng ấy trong một số lượng đủ lớn những trường hợp, chúng ta lập tức cảm nhận một sự xác định của não thức, khiến chúng ta chuyển từ một đối tượng sang đối tượng thường đi kèm với nó, và hình dung đối tượng ấy với một mức độ mạnh mẽ hơn do quan hệ đó.
Sự xác định này là hiệu quả duy nhất của sự tương đồng; và vì vậy nó phải chính là điều tương ứng với năng lực hay hiệu lực, vốn là nơi ý niệm về năng lực và hiệu lực bắt nguồn.
Những trường hợp kết hợp tương tự nhau dẫn chúng ta đến ý niệm về năng lực và tính tất yếu. Tự thân, những trường hợp ấy hoàn toàn tách biệt với nhau, và không có sự hợp nhất nào ngoài sự hợp nhất trong não thức — nơi quan sát chúng và tập hợp những ý niệm về chúng.
Vì thế, tính tất yếu là hiệu quả của sự quan sát này; nó không gì khác hơn là một ấn tượng nội tại của não thức, hay một sự xác định khiến tư tưởng của chúng ta chuyển từ một đối tượng sang một đối tượng khác.
Nếu không xem xét tính tất yếu theo cách này, chúng ta sẽ không bao giờ đạt được ngay cả một ý niệm xa xôi nhất về nó, cũng không thể quy nó cho những đối tượng bên ngoài hay bên trong, cho tinh thần hay thân thể, cho nguyên nhân hay kết quả.
T 1.3.14.21, SBN 165
Sự kết nối tất yếu giữa nguyên nhân và kết quả là nền tảng cho sự suy luận của chúng ta từ cái này sang cái kia.
Nền tảng của sự suy luận ấy chính là sự chuyển tiếp phát sinh từ sự kết hợp đã trở thành thói quen.
Vì vậy, hai điều này thực chất là một.
T 1.3.14.22, SBN 165–6
Ý niệm về tính tất yếu phát sinh từ một ấn tượng nào đó. Không có ấn tượng nào được truyền đạt qua giác quan có thể làm phát sinh ý niệm ấy. Vì vậy, nó phải bắt nguồn từ một ấn tượng nội tại, hay một ấn tượng của sự tự suy ngẫm.
Không có ấn tượng nội tại nào liên quan đến vấn đề hiện tại, ngoại trừ khuynh hướng mà thói quen tạo ra: khuynh hướng chuyển từ một đối tượng sang ý niệm về đối tượng thường đi kèm với nó.
Do đó, đây chính là bản chất của tính tất yếu.
Tóm lại, tính tất yếu là một cái gì đó tồn tại trong não thức, chứ không tồn tại trong những đối tượng; và chúng ta cũng không bao giờ có thể hình thành ngay cả ý niệm xa xôi nhất về nó nếu xem nó như một phẩm tính nằm trong những vật thể.
Hoặc là chúng ta không có bất kỳ ý niệm nào về tính tất yếu; hoặc tính tất yếu không gì khác hơn chính là sự xác định của tư tưởng khiến chúng ta chuyển từ nguyên nhân sang kết quả và từ kết quả sang nguyên nhân, phù hợp với sự kết hợp mà kinh nghiệm đã cho chúng ta thấy.[18]
T 1.3.14.23, SBN 166
Vì vậy, cũng như tính tất yếu khiến hai lần hai bằng bốn, hay ba góc của một tam giác bằng hai góc vuông, chỉ nằm trong hoạt động của năng lực nhận thức, nhờ đó chúng ta xem xét và so sánh những ý niệm này; thì theo cùng cách đó, tính tất yếu hay năng lực nối kết những nguyên nhân với những kết quả cũng nằm trong sự xác định của não thức khi chuyển từ cái này sang cái kia.
Hiệu lực hay sức tác động của những nguyên nhân không nằm trong bản thân những nguyên nhân ấy, cũng không nằm trong Gót, cũng không nằm trong sự phối hợp của hai nguyên lý này; mà hoàn toàn thuộc về hồn người, tức chủ thể nhận thức, khi chủ thể ấy xem xét sự kết hợp của hai hay nhiều đối tượng trong tất cả những trường hợp đã xảy ra trước đây. Chính tại đây đặt nền tảng cho năng lực thực sự của những nguyên nhân, cùng với mối liên hệ và tính tất yếu của chúng. [19]
T 1.3.14.24, SBN 166–7
Tôi ý thức rằng, trong tất cả những nghịch lý mà tôi đã có dịp đưa ra, hoặc sẽ còn có dịp đưa ra trong quá trình của chuyên luận này, thì nghịch lý hiện tại là nghịch lý mạnh mẽ nhất; và chỉ nhờ sức mạnh của những chứng minh và lý luận vững chắc mà tôi mới có thể hy vọng nó được chấp nhận, vượt qua những định kiến đã ăn sâu trong con người.
Trước khi chúng ta có thể hòa giải với học thuyết này, chúng ta phải thường xuyên nhắc lại với chính mình rằng: sự quan sát đơn giản về bất kỳ hai đối tượng hay hành động nào, dù chúng có liên hệ với nhau đến đâu, cũng không bao giờ có thể đem lại cho chúng ta ý niệm về năng lực hay về sự kết nối giữa chúng; rằng ý niệm này phát sinh từ sự lập lại của sự kết hợp giữa chúng; rằng sự lập lại ấy không tìm thấy cũng không tạo ra bất cứ điều gì trong những đối tượng, mà chỉ tác động lên não thức thông qua sự chuyển tiếp có tính thói quen mà nó tạo ra; và rằng sự chuyển tiếp có tính thói quen này, vì thế, chính là điều đồng nhất với năng lực và tính tất yếu.
Do đó, năng lực và tính tất yếu là những phẩm tính của những tri giác, chứ không phải của những đối tượng; chúng được hồn người cảm nhận từ bên trong, chứ không được tri giác từ bên ngoài trong những vật thể.
Thông thường, mọi điều khác thường đều gây ra sự kinh ngạc; và sự kinh ngạc ấy lập tức biến thành mức độ tán thưởng hoặc khinh miệt cao nhất, tùy theo việc chúng ta đồng ý hay không đồng ý với đối tượng đang được xét đến.
Tôi e rằng, mặc dù lập luận trên đây đối với tôi dường như là ngắn gọn nhất và có sức thuyết phục nhất có thể, nhưng đối với phần đông độc giả, khuynh hướng thiên lệch của não thức vẫn sẽ chiếm ưu thế và tạo ra thành kiến chống lại học thuyết hiện tại.
T 1.3.14.25, SBN 167
Khuynh hướng thiên lệch đối nghịch này có thể dễ dàng được giải thích.
Một nhận xét phổ biến là não thức có khuynh hướng mạnh mẽ muốn mở rộng chính mình ra những đối tượng bên ngoài, và gắn vào những đối tượng ấy bất kỳ ấn tượng nội tại nào mà chúng gây ra; những ấn tượng này luôn xuất hiện cùng lúc với khi những đối tượng ấy được trình hiện trước giác quan.
Chẳng hạn, vì một số âm thanh và mùi vị nhất định luôn đi kèm với một số đối tượng hữu hình nhất định, nên chúng ta tự nhiên tưởng tượng có một sự kết hợp — thậm chí cả về mặt không gian — giữa những đối tượng và những phẩm chất ấy, mặc dù những phẩm chất này không cho phép có một sự kết hợp như vậy và thực sự không tồn tại ở bất kỳ nơi nào.
Nhưng tôi sẽ bàn đầy đủ hơn về điều này sau. Trong lúc này, chỉ cần nhận xét rằng chính khuynh hướng ấy là lý do tại sao chúng ta cho rằng tính tất yếu và năng lực nằm trong những đối tượng mà chúng ta xem xét, chứ không nằm trong não thức đang xem xét chúng; mặc dù chúng ta không thể hình thành ngay cả một ý niệm xa xôi nhất về phẩm tính ấy nếu không hiểu nó như sự xác định của não thức khiến nó chuyển từ ý niệm về một đối tượng sang ý niệm về đối tượng thường đi kèm với nó.[20]
T 1.3.14.26, SBN 167–8
Nhưng mặc dù đây là cách giải thích hợp lý duy nhất mà chúng ta có thể đưa ra về tính tất yếu, quan niệm đối lập lại bám rễ quá sâu trong não thức, do những nguyên tắc đã được đề cập ở trên, đến mức tôi không nghi ngờ rằng nhiều người sẽ xem quan điểm của tôi là kỳ quặc và lố bịch.
Chẳng lẽ hiệu lực của những nguyên nhân lại nằm trong sự xác định của não thức hay sao! Như thể những nguyên nhân không hoạt động hoàn toàn độc lập với não thức, và sẽ không tiếp tục hoạt động ngay cả khi không tồn tại một não thức nào để quan sát chúng hay suy xét về chúng.
Tư tưởng quả thật có thể phụ thuộc vào những nguyên nhân trong hoạt động của nó; nhưng những nguyên nhân thì không phụ thuộc vào tư tưởng.
Điều này chẳng phải là đảo ngược trật tự của tự nhiên hay sao, khiến cái vốn thực sự là nền tảng lại trở thành thứ yếu? Đối với mỗi hoạt động, đều phải có một năng lực tương ứng; và năng lực ấy phải được đặt nơi vật thể đang thực hiện hoạt động đó.
Nếu chúng ta loại bỏ năng lực khỏi một nguyên nhân, chúng ta phải quy nó cho một nguyên nhân khác. Nhưng loại bỏ năng lực ấy khỏi mọi nguyên nhân, rồi trao nó cho một hữu thể không có bất kỳ mối liên hệ nào với nguyên nhân hay kết quả, ngoài việc nhận biết chúng, thì đó là một sự phi lý trắng trợn, trái ngược với những nguyên tắc chắc chắn nhất của lý trí con người. [21]
T 1.3.14.27, SBN 168
Tôi chỉ có thể trả lời tất cả những lập luận này rằng trường hợp ở đây cũng gần giống như việc một người mù cố cho rằng mình có thể tìm thấy rất nhiều điều phi lý trong giả định rằng màu đỏ tươi không đồng nhất với âm thanh của một chiếc kèn, hay ánh sáng không đồng nhất với tính rắn chắc.
Nếu quả thật chúng ta không có một ý niệm nào về năng lực hay hiệu lực trong bất kỳ đối tượng nào, hoặc về bất kỳ sự kết nối thực sự nào giữa nguyên nhân và kết quả, thì việc chứng minh rằng một hiệu lực là cần thiết trong mọi hoạt động sẽ chẳng đem lại ích lợi gì.
Chúng ta không hiểu chính ý nghĩa của điều mình nói; mà chỉ vô tình lẫn lộn những ý niệm vốn hoàn toàn khác biệt với nhau.
Tôi thực sự sẵn lòng thừa nhận rằng có thể có nhiều phẩm chất khác nhau trong cả những đối tượng vật chất lẫn phi vật chất mà chúng ta hoàn toàn không biết đến; và nếu chúng ta muốn gọi những phẩm chất ấy là “năng lực” hay “hiệu lực”, thì điều đó cũng không có tầm quan trọng gì đối với thế giới.
Nhưng khi, thay vì chỉ những phẩm chất chưa được biết ấy, chúng ta lại khiến những thuật ngữ năng lực và hiệu lực biểu thị một điều gì đó mà chúng ta có một ý niệm rõ ràng, và điều đó lại không tương thích với những đối tượng mà chúng ta áp dụng nó, thì sự tối nghĩa và sai lầm bắt đầu xuất hiện, và chúng ta bị dẫn lạc bởi một nền triết học sai lầm.
Đây chính là trường hợp xảy ra khi chúng ta chuyển sự xác định của tư tưởng sang những đối tượng bên ngoài, và giả định rằng giữa chúng tồn tại một sự kết nối thực sự có thể hiểu được; trong khi đó, đây lại là một phẩm tính chỉ có thể thuộc về não thức đang xem xét chúng. [22]
T 1.3.14.28, SBN 168–9
Đối với điều có thể được nói rằng những vận hành của tự nhiên độc lập với suy nghĩ và sự suy luận của chúng ta, tôi thừa nhận điều đó; và vì vậy, tôi đã nhận thấy rằng những đối tượng có những quan hệ với nhau về sự kề cận và sự kế tiếp; rằng những đối tượng giống nhau có thể được quan sát, trong nhiều trường hợp, là có những quan hệ giống nhau; và rằng tất cả những điều này đều độc lập với, và có trước, những vận hành của sự hiểu biết.
Nhưng nếu chúng ta đi xa hơn nữa, và quy cho những đối tượng này một năng lực hay một sự kết nối tất yếu, thì đây là điều mà chúng ta không bao giờ có thể quan sát thấy nơi chúng. Trái lại, chúng ta phải rút ra ý niệm ấy từ điều mà chúng ta cảm nhận bên trong khi suy xét về chúng.
Và tôi đẩy lập luận này đi xa đến mức sẵn sàng biến chính lập luận hiện tại của mình thành một trường hợp minh họa cho nó, bằng một sự tinh tế mà không khó để hiểu.
T 1.3.14.29, SBN 169
Khi bất kỳ một đối tượng nào được trình ra trước chúng ta, nó lập tức truyền vào não thức một ý niệm sinh động về đối tượng kia, vốn thường được nhận thấy là đi kèm với nó; và sự xác định này của não thức tạo nên sự kết nối tất yếu giữa những đối tượng ấy.
Nhưng khi chúng ta thay đổi điểm nhìn, từ những đối tượng sang những tri giác, thì trong trường hợp đó, ấn tượng phải được xem như nguyên nhân, còn ý niệm sinh động như kết quả; và sự kết nối tất yếu giữa chúng chính là sự xác định mới mà chúng ta cảm nhận khi chuyển từ ý niệm về cái này sang ý niệm về cái kia.
Nguyên lý liên kết giữa những tri giác nội tại của chúng ta cũng khó hiểu như nguyên lý liên kết giữa những đối tượng bên ngoài; và chúng ta không biết nó theo bất kỳ cách nào khác ngoài kinh nghiệm.
Như đã được khảo sát và giải thích đầy đủ, bản chất và tác động của kinh nghiệm không bao giờ cho chúng ta bất kỳ sự hiểu biết nào về cấu trúc bên trong hay nguyên lý vận hành của những đối tượng; nó chỉ khiến não thức quen với việc chuyển từ một đối tượng này sang một đối tượng khác.[23]
T 1.3.14.30, SBN 169
Giờ đây đã đến lúc tập hợp tất cả những phần khác nhau của lập luận này lại, và bằng cách kết hợp chúng với nhau, hình thành một định nghĩa chính xác về quan hệ nhân quả — vốn là chủ đề của cuộc khảo sát hiện tại.
Trật tự trình bày này sẽ không thể được biện minh, nếu ngay từ đầu chúng ta khảo sát sự suy luận của chúng ta dựa trên quan hệ ấy trước khi giải thích chính bản thân quan hệ; nếu như chúng ta có thể tiến hành theo một phương pháp khác.
Nhưng bởi vì bản chất của quan hệ này phụ thuộc rất nhiều vào bản chất của sự suy luận, nên chúng ta buộc phải tiến hành theo cách dường như đảo ngược này: sử dụng những thuật ngữ trước khi chúng ta có thể định nghĩa chính xác chúng hoặc xác định ý nghĩa của chúng.
Giờ đây, chúng ta sẽ sửa chữa khiếm khuyết ấy bằng cách đưa ra một định nghĩa chính xác về nguyên nhân và kết quả.
T 1.3.14.31, SBN 169–70
Có thể đưa ra hai định nghĩa về quan hệ này; chúng chỉ khác nhau ở chỗ trình bày cùng một đối tượng dưới hai góc nhìn khác nhau, và khiến chúng ta xem xét nó hoặc như một quan hệ triết học, hoặc như một quan hệ tự nhiên; hoặc như sự so sánh giữa hai ý niệm, hoặc như một sự liên kết giữa chúng.
Chúng ta có thể định nghĩa nguyên nhân như sau:
Một nguyên nhân là một đối tượng có trước và kề cận với một đối tượng khác, và trong đó tất cả những đối tượng giống với đối tượng thứ nhất đều được đặt trong những quan hệ tương tự về sự có trước và sự kề cận với những đối tượng giống với đối tượng thứ hai.
Nếu định nghĩa này bị xem là khiếm khuyết, bởi vì nó được rút ra từ những đối tượng bên ngoài bản thân nguyên nhân, thì chúng ta có thể thay thế bằng định nghĩa khác sau đây:
Một nguyên nhân là một đối tượng có trước và kề cận với một đối tượng khác, và được liên kết với nó đến mức ý niệm về một đối tượng xác định não thức hình thành ý niệm về đối tượng kia, còn ấn tượng về một đối tượng khiến não thức hình thành một ý niệm sinh động hơn về đối tượng kia.
Nếu định nghĩa này cũng bị bác bỏ vì cùng một lý do, thì tôi không biết còn phương cách nào khác ngoài việc những người đưa ra sự phản đối tinh tế ấy phải thay thế nó bằng một định nghĩa đúng đắn hơn.
Về phần mình, tôi phải thừa nhận rằng tôi không có khả năng thực hiện công việc ấy.
Khi khảo sát với sự chính xác cao nhất những đối tượng mà chúng ta thường gọi là nguyên nhân và kết quả, tôi nhận thấy rằng, khi xem xét một trường hợp đơn lẻ, một đối tượng có trước và kề cận với đối tượng kia; còn khi mở rộng sự xem xét để bao quát nhiều trường hợp, tôi chỉ nhận thấy rằng những đối tượng giống nhau luôn được đặt trong những quan hệ giống nhau về sự kế tiếp và sự kề cận.
Một lần nữa, khi xem xét ảnh hưởng của sự kết hợp thường xuyên này, tôi nhận thấy rằng một quan hệ như vậy không bao giờ có thể trở thành đối tượng của sự suy luận, và cũng không bao giờ có thể tác động lên não thức, ngoại trừ thông qua thói quen — thứ khiến trí tưởng tượng chuyển từ ý niệm về một đối tượng sang ý niệm về cái thường đi kèm với nó, và chuyển từ ấn tượng về một đối tượng sang một ý niệm sinh động hơn về đối tượng kia.
Dù những quan điểm này có vẻ khác thường đến đâu, tôi cho rằng việc tiếp tục làm phiền mình bằng những khảo sát hay lập luận xa hơn về vấn đề này là vô ích; vì vậy tôi sẽ dựa vào chúng như những nguyên lý đã được xác lập.
T 1.3.14.32, SBN 170–1
Trước khi rời khỏi chủ đề này, chúng ta chỉ cần rút ra một số hệ quả từ nó, nhờ đó có thể loại bỏ một số thành kiến và những sai lầm phổ biến đã tồn tại rất lâu trong triết học.
Thứ nhất, từ học thuyết trên đây chúng ta có thể nhận thấy rằng mọi nguyên nhân đều thuộc cùng một loại; và đặc biệt, không có nền tảng nào cho sự phân biệt mà đôi khi chúng ta đưa ra giữa nguyên nhân tác động (efficient causes) và nguyên nhân điều kiện cần (causes sine qua non); hoặc giữa nguyên nhân tác động với những nguyên nhân mô thể, vật chất, mô phỏng và cứu cánh (formal, material, exemplary, and final causes).
Bởi vì ý niệm của chúng ta về hiệu lực tác động (efficiency) bắt nguồn từ sự kết hợp thường xuyên giữa hai đối tượng, nên bất cứ nơi nào sự kết hợp ấy được quan sát, ở đó có một nguyên nhân tác động; còn nơi nào không có sự kết hợp ấy, thì ở đó không thể có bất kỳ loại nguyên nhân nào.
Vì cùng một lý do, chúng ta cũng phải bác bỏ sự phân biệt giữa nguyên nhân và duyên cớ (occasion), nếu sự phân biệt ấy được giả định là biểu thị một điều gì đó khác biệt về bản chất.
Nếu trong điều mà chúng ta gọi là “duyên cớ” có bao hàm sự kết hợp thường xuyên, thì đó là một nguyên nhân thực sự. Nếu không, thì nó không phải là một quan hệ nào cả, và không thể làm phát sinh bất kỳ lập luận hay sự suy luận nào.
T 1.3.14.33, SBN 171
Thứ hai, cùng một lối suy luận sẽ khiến chúng ta kết luận rằng chỉ có một loại tất yếu, cũng như chỉ có một loại nguyên nhân; và rằng sự phân biệt thông thường giữa tất yếu đạo đức (moral necessity) và tất yếu vật lý (physical necessity) không có nền tảng nào trong tự nhiên.
Điều này rõ ràng xuất hiện từ sự giải thích trước đó về tính tất yếu.
Chính sự kết hợp thường xuyên giữa những đối tượng, cùng với sự xác định của não thức, tạo thành cái gọi là tất yếu vật lý; và việc loại bỏ hai yếu tố này cũng chính là điều giống với ngẫu nhiên (chance).
Bởi vì những đối tượng hoặc phải được kết hợp với nhau hoặc không; và bởi vì não thức hoặc phải được xác định để chuyển từ một đối tượng sang một đối tượng khác hoặc không; nên không thể thừa nhận bất kỳ trạng thái trung gian nào giữa ngẫu nhiên và sự tất yếu tuyệt đối.
Khi làm suy yếu sự kết hợp này và sự xác định ấy, chúng ta không thay đổi bản chất của tính tất yếu; bởi ngay cả trong sự vận hành của những vật thể, chúng cũng có những mức độ khác nhau về tính thường xuyên và sức mạnh, mà không tạo ra một loại quan hệ khác biệt.
T 1.3.14.34, SBN 171
Sự phân biệt mà chúng ta thường đưa ra giữa năng lực (power) và việc thực hiện năng lực ấy (the exercise of it) cũng không có nền tảng tương tự.
T 1.3.14.35, SBN 172
Thứ ba, giờ đây chúng ta có thể hoàn toàn vượt qua sự phản kháng tự nhiên mà chúng ta thường có đối với lập luận trước đó — lập luận nhằm chứng minh rằng sự tất yếu của một nguyên nhân đối với mọi sự bắt đầu tồn tại không được dựa trên bất kỳ lập luận chứng minh hay trực giác nào.
Quan điểm như vậy sẽ không còn gây ngạc nhiên sau những định nghĩa trên đây.
Nếu chúng ta định nghĩa nguyên nhân là:
Một đối tượng có trước và kề cận với một đối tượng khác, và trong đó tất cả những đối tượng giống với đối tượng thứ nhất đều được đặt trong một quan hệ tương tự về tính ưu tiên và sự kề cận với những đối tượng giống với đối tượng thứ hai,
thì chúng ta có thể dễ dàng hiểu rằng không có một sự tất yếu tuyệt đối hay siêu hình nào khiến mọi sự bắt đầu tồn tại đều phải đi kèm với một đối tượng như vậy.
Nếu chúng ta định nghĩa nguyên nhân là:
Một đối tượng có trước và kề cận với một đối tượng khác, và được liên kết với nó trong trí tưởng tượng đến mức ý niệm về một đối tượng xác định não thức hình thành ý niệm về đối tượng kia, còn ấn tượng về một đối tượng khiến não thức hình thành một ý niệm sinh động hơn về đối tượng kia,
thì chúng ta càng dễ dàng chấp nhận quan điểm này hơn nữa.
Một sự tác động như vậy lên não thức tự nó hoàn toàn đặc biệt và không thể hiểu được; và chúng ta chỉ có thể chắc chắn về tính hiện thực của nó nhờ kinh nghiệm và sự quan sát.
T 1.3.14.36, SBN 172
Tôi sẽ thêm vào đây một hệ quả thứ tư:
Chúng ta không bao giờ có lý do để tin rằng có một đối tượng tồn tại mà chúng ta không thể hình thành một ý niệm về nó.
Bởi vì mọi suy luận của chúng ta liên quan đến sự tồn tại đều bắt nguồn từ quan hệ nhân quả; và mọi suy luận của chúng ta liên quan đến quan hệ nhân quả đều bắt nguồn từ sự kết hợp được kinh nghiệm giữa những đối tượng, chứ không bắt nguồn từ bất kỳ sự suy luận hay sự phản tỉnh nào; do đó, chính kinh nghiệm ấy cũng phải cung cấp cho chúng ta một ý niệm về những đối tượng này và loại bỏ mọi điều bí ẩn khỏi những kết luận của chúng ta.
Điều này hiển nhiên đến mức hầu như không đáng để chúng ta chú ý, nếu nó không nhằm ngăn chặn một số phản đối có thể nảy sinh theo hướng này đối với những lập luận tiếp theo của tôi về vật chất và bản thể.
Tôi không cần phải nói thêm rằng một sự hiểu biết đầy đủ về đối tượng không phải là điều cần thiết; mà chỉ cần biết những phẩm chất của nó mà chúng ta tin là tồn tại.[24]
--------------------------
Chú thích của Hume
T 1.3.14.1n27, SBN 155
27. Xem Mục 2.
T 1.3.14.5n28, SBN 157
28. Xem Locke; chương bàn về năng lực (power).
T 1.3.14.7n29, SBN 158
29. Xem Cha Malebranche, Quyển VI, Phần II, chương 3, cùng với những phần minh giải về chương đó.
T 1.3.14.12n30, SBN 633
30. Cùng sự bất toàn ấy cũng tồn tại trong những ý niệm của chúng ta về Thượng đế; nhưng điều này không gây ảnh hưởng gì đến tôn giáo hay đạo đức. Trật tự của vũ trụ chứng minh một não thức toàn năng — tức một não thức mà ý chí của nó luôn luôn được mọi sinh vật và mọi hữu thể tuân theo. Chỉ cần điều đó là đủ để đặt nền tảng cho tất cả những điều khoản của tôn giáo; và chúng ta cũng không cần phải hình thành một ý niệm rõ ràng và phân biệt về sức mạnh hay hiệu lực của Đấng Tối Cao. [25]
T 1.3.14.17n31, SBN 163
31.Xem Mục 6.
T 1.3.14.25n32, SBN 167
32. Phần IV, Mục 5.
MỤC XV
Những Quy Tắc Để Phán Đoán Những Nguyên Nhân Và Kết Quả
T 1.3.15.1, SBN 173
Theo học thuyết đã trình bày ở phần trước, không có bất kỳ đối tượng nào mà chỉ bằng việc xem xét đơn thuần, không cần đến kinh nghiệm, chúng ta có thể xác định nó là nguyên nhân của một đối tượng khác; cũng không có đối tượng nào mà bằng cùng cách thức ấy, chúng ta có thể chắc chắn xác định rằng nó không phải là nguyên nhân.
Bất cứ sự vật nào cũng có thể, xét riêng theo lý trí, được hình dung như là nguyên nhân của bất cứ sự vật nào khác. Sự tạo thành, sự hủy diệt, sự vận động, lý trí hay ý chí — tất cả những hiện tượng này đều có thể được hình dung là phát sinh từ nhau, hoặc từ bất kỳ đối tượng nào khác mà chúng ta có thể tưởng tượng.[26]
Điều này sẽ không còn có vẻ kỳ lạ nếu chúng ta so sánh nó với hai nguyên tắc đã được giải thích ở trên: sự kết hợp thường xuyên của những đối tượng là điều xác định quan hệ nhân quả của chúng, và rằng, nói một cách chính xác, không có đối tượng nào đối lập với nhau, ngoại trừ tồn tại và không tồn tại. Khi những đối tượng không đối lập nhau, không có gì ngăn cản chúng có sự kết hợp thường xuyên — mà trên đó toàn bộ quan hệ nguyên nhân và kết quả phụ thuộc.
T 1.3.15.2, SBN 173
Vì vậy, nếu mọi đối tượng đều có khả năng trở thành nguyên nhân hoặc kết quả của nhau, thì việc đưa ra một số quy tắc tổng quát để chúng ta có thể nhận biết khi nào chúng thực sự là nguyên nhân hay kết quả là điều thích hợp.
T 1.3.15.3, SBN 173
1. Nguyên nhân và kết quả phải kề cận nhau trong không gian và thời gian.
T 1.3.15.4, SBN 173
2. Nguyên nhân phải có trước kết quả.
T 1.3.15.5, SBN 173
3. Phải có sự kết hợp thường xuyên giữa nguyên nhân và kết quả. Chính đặc tính này là yếu tố chủ yếu cấu thành nên quan hệ ấy.
T 1.3.15.6, SBN 173–174
4. Cùng một nguyên nhân luôn luôn tạo ra cùng một kết quả, và cùng một kết quả không bao giờ xuất hiện nếu không có cùng một nguyên nhân.
Nguyên tắc này được chúng ta rút ra từ kinh nghiệm, và nó là nguồn gốc của phần lớn những suy luận triết học của chúng ta. Bởi vì khi, bằng một thí nghiệm rõ ràng, chúng ta đã tìm ra nguyên nhân hoặc kết quả của một hiện tượng nào đó, chúng ta lập tức mở rộng sự quan sát ấy đến mọi hiện tượng cùng loại, mà không chờ đợi sự lập lại thường xuyên — thứ vốn là nguồn gốc đầu tiên hình thành ý niệm về quan hệ này.
T 1.3.15.7, SBN 174
5. Có một nguyên tắc khác phụ thuộc vào nguyên tắc trên: khi nhiều đối tượng khác nhau tạo ra cùng một kết quả, thì điều đó phải xảy ra nhờ một phẩm tính nào đó mà chúng ta nhận thấy là chung giữa chúng.
Bởi vì những kết quả giống nhau hàm ý những nguyên nhân giống nhau, chúng ta luôn phải quy năng lực nhân quả cho yếu tố mà trong đó chúng ta tìm ra sự tương đồng.
T 1.3.15.8, SBN 174
6. Nguyên tắc tiếp theo cũng dựa trên cùng một lý do.
Sự khác biệt trong kết quả của hai đối tượng tương tự nhau phải xuất phát từ yếu tố đặc biệt mà chúng khác nhau.
Bởi vì những nguyên nhân giống nhau luôn tạo ra những kết quả giống nhau, nên khi trong một trường hợp nào đó chúng ta thấy kỳ vọng của mình không được đáp ứng, chúng ta phải kết luận rằng sự bất thường ấy xuất phát từ một sự khác biệt nào đó trong những nguyên nhân.
T 1.3.15.9, SBN 174
7. Khi một đối tượng tăng hoặc giảm cùng với sự tăng hoặc giảm của nguyên nhân của nó, thì nó phải được xem như một kết quả phức hợp, phát sinh từ sự kết hợp của nhiều kết quả khác nhau do những phần khác nhau của nguyên nhân tạo ra.
Ở đây giả định rằng sự vắng mặt hoặc hiện diện của một phần của nguyên nhân luôn luôn đi kèm với sự vắng mặt hoặc hiện diện của một phần tương ứng của kết quả. Sự kết hợp thường xuyên này chứng minh đầy đủ rằng một phần này là nguyên nhân của phần kia.
Tuy nhiên, chúng ta phải cẩn thận, không được rút ra kết luận như vậy chỉ từ một vài thí nghiệm. Một mức độ nhiệt nhất định tạo ra cảm giác dễ chịu; nếu giảm mức nhiệt ấy, sự dễ chịu giảm xuống. Nhưng không vì thế mà ta có thể kết luận rằng nếu tăng nhiệt vượt quá một mức nhất định, sự dễ chịu cũng sẽ tăng theo; bởi vì chúng ta thấy rằng nó chuyển thành đau đớn.
T 1.3.15.10, SBN 174–175
8. Quy tắc thứ tám và cũng là quy tắc cuối cùng mà tôi muốn đề cập là: Một đối tượng tồn tại trong một khoảng thời gian với đầy đủ những đặc tính của nó mà không tạo ra bất kỳ kết quả nào, thì nó không phải là nguyên nhân duy nhất của kết quả ấy; nó cần được hỗ trợ bởi một nguyên tắc khác có thể thúc đẩy ảnh hưởng và hoạt động của nó.
Bởi vì những kết quả giống nhau tất yếu phải xuất hiện từ những nguyên nhân giống nhau, trong cùng một không gian và thời gian kề cận; việc những nguyên nhân ấy từng tồn tại mà trong một thời điểm lại không tạo ra kết quả cho thấy rằng chúng không phải là những nguyên nhân hoàn chỉnh.
T 1.3.15.11, SBN 175
Đây là toàn bộ phần lô-gích mà tôi cho là thích hợp để sử dụng trong lập luận của mình; và có lẽ ngay cả điều này cũng không thật sự cần thiết, bởi nó có thể đã được thay thế bằng những nguyên tắc tự nhiên của năng lực nhận thức của chúng ta. Những bậc thầy kinh viện và những nhà lô-gích học của chúng ta không cho thấy một sự vượt trội nào về lý trí và khả năng suy luận so với những người bình thường, đến mức khiến chúng ta muốn noi theo họ trong việc đưa ra một hệ thống dài dòng những quy tắc và nguyên tắc nhằm hướng dẫn sự phán đoán của chúng ta trong triết học.
Tất cả những quy tắc thuộc loại này đều rất dễ được nghĩ ra, nhưng lại cực kỳ khó áp dụng; và ngay cả triết học thực nghiệm — vốn dường như là loại triết học tự nhiên và đơn giản nhất — cũng đòi hỏi sự vận dụng cao nhất của năng lực phán đoán con người.
Không có hiện tượng nào trong tự nhiên mà không bị cấu thành và biến đổi bởi rất nhiều hoàn cảnh khác nhau; vì vậy, để đi đến điểm quyết định, chúng ta phải cẩn thận tách bỏ mọi yếu tố dư thừa, và bằng những thí nghiệm mới, khảo sát xem liệu mỗi hoàn cảnh riêng biệt trong thí nghiệm ban đầu có phải là điều thiết yếu đối với hiện tượng ấy hay không.
Những thí nghiệm mới này lại tiếp tục chịu sự xem xét theo cùng một cách; do đó, cần có sự kiên trì cao độ để khiến chúng ta tiếp tục cuộc khảo sát, và cần có sự sáng suốt cao độ để lựa chọn con đường đúng đắn giữa rất nhiều con đường đang mở ra trước mắt.
Nếu tình trạng này còn tồn tại ngay cả trong triết học tự nhiên, thì trong triết học đạo đức còn khó khăn hơn biết bao; bởi ở đó có một sự phức tạp lớn hơn nhiều của những hoàn cảnh, và những cách nhìn cùng những cảm xúc vốn thiết yếu đối với bất kỳ hành động nào của não thức lại quá kín đáo và mơ hồ, đến mức chúng thường thoát khỏi sự chú ý nghiêm ngặt nhất của chúng ta; chúng không chỉ không thể giải thích được về nguyên nhân của chúng, mà thậm chí còn không được chúng ta nhận biết rằng chúng đang tồn tại.
Tôi rất e rằng sự thành công ít ỏi mà tôi đạt được trong những khảo sát của mình sẽ khiến nhận xét này mang dáng vẻ của một lời biện hộ hơn là một lời tự hào.
T 1.3.15.12, SBN 175–6
Nếu có điều gì có thể đem lại cho tôi sự chắc chắn về điểm này, thì đó chính là việc mở rộng phạm vi những thí nghiệm của mình càng nhiều càng tốt; và vì lý do đó, ở đây có lẽ thích hợp để khảo sát năng lực suy luận của những loài động vật, cũng như của con người.
-----------------------
Chú thích
T 1.3.15.1n33, SBN 173
[33.] Xem Phần I, Mục 5.
MỤC XVI.
Về Suy Luận Của Động Vật.
T 1.3.16.1, SBN 176
Đứng sau việc chế giễu hành động phủ nhận một chân lý hiển nhiên là việc bỏ ra quá nhiều công sức để bảo vệ chân lý ấy; và đối với tôi, không có chân lý nào hiển nhiên hơn chân lý rằng động vật cũng được ban cho khả năng suy nghĩ và lý trí giống như con người. Trong trường hợp này, những lập luận quá rõ ràng đến mức ngay cả những người ngu dốt và thiếu hiểu biết nhất cũng không bao giờ bỏ sót chúng.
T 1.3.16.2, SBN 176
khả năng suy nghĩ
Theo tôi, không cần thiết phải minh họa lập luận này bằng cách liệt kê từng trường hợp cụ thể. Chỉ cần một sự chú ý nhỏ nhất cũng sẽ cung cấp cho chúng ta nhiều ví dụ hơn mức cần thiết. Sự tương tự giữa những hành động của động vật và những hành động của con người, xét về phương diện này, hoàn toàn đầy đủ đến mức hành động đầu tiên của bất kỳ con vật đầu tiên nào mà chúng ta muốn chọn xem xét cũng sẽ cung cấp cho chúng ta một lập luận không thể bác bỏ để bảo vệ học thuyết đang bàn.
T 1.3.16.3, SBN 176–7
Học thuyết này không chỉ hiển nhiên mà còn rất hữu ích; nó cung cấp cho chúng ta một loại đá thử vàng [27] để kiểm nghiệm mọi hệ thống thuộc lĩnh vực triết học này. Chính từ sự tương tự giữa những hành động bên ngoài của động vật với những hành động mà chính chúng ta thực hiện, chúng ta phán đoán rằng những hoạt động bên trong của chúng cũng tương tự như của chúng ta; và nếu đưa cùng nguyên lý suy luận ấy tiến thêm một bước nữa, chúng ta sẽ kết luận rằng, vì những hoạt động bên trong của chúng ta tương tự nhau, nên những nguyên nhân tạo ra chúng cũng phải tương tự nhau. Do đó, bất cứ khi nào người ta đưa ra một giả thuyết nhằm giải thích một hoạt động của não thức vốn chung cho cả con người lẫn động vật, thì chúng ta phải áp dụng cùng giả thuyết ấy cho cả hai; và cũng như mọi giả thuyết đúng đều sẽ vượt qua được phép thử này, tôi dám khẳng định rằng không một giả thuyết sai nào có thể chịu đựng được nó. Khuyết điểm phổ biến của những hệ thống mà các triết gia đã sử dụng để giải thích những hoạt động của não thức là họ giả định một mức độ tinh vi và phức tạp của khả năng suy nghĩ không chỉ vượt quá khả năng của những động vật bình thường, mà còn vượt quá cả khả năng của trẻ nhỏ và của những người bình thường trong chính loài người chúng ta; trong khi những đối tượng ấy vẫn có thể kinh nghiệm chính những cảm giác và tình cảm như những người có thiên tài và khả năng nhận thức xuất sắc nhất. Chính sự tinh vi quá mức ấy là bằng chứng rõ ràng cho thấy một hệ thống là sai; cũng như sự giản dị trái ngược của nó là dấu hiệu cho thấy một hệ thống là đúng.
T 1.3.16.4, SBN 177
Vậy, hãy đem hệ thống hiện nay của chúng ta về bản chất của khả năng nhận thức ra thử nghiệm bằng phép thử quyết định này, và xem liệu nó có giải thích được suy luận của động vật cũng như suy luận của loài người hay không.
T 1.3.16.5, SBN 177
Ở đây, chúng ta phải phân biệt giữa những hành động của động vật thuộc loại thông thường, dường như chỉ ngang với năng lực bình thường của chúng, và những trường hợp sáng suốt phi thường hơn mà đôi khi chúng bộc lộ nhằm tự bảo tồn và duy trì nòi giống của chúng. Một con chó biết tránh lửa và vực thẳm, biết tránh người lạ và quấn quýt với chủ của nó là một ví dụ thuộc loại thứ nhất. Một con chim lựa chọn nơi làm tổ và vật liệu làm tổ với sự cẩn trọng và tỉ mỉ đến như vậy, rồi ấp trứng trong một khoảng thời gian thích hợp và đúng mùa, với tất cả sự thận trọng mà một nhà hóa học có thể có khi tiến hành một thí nghiệm tinh vi nhất, là một ví dụ sinh động thuộc loại thứ hai.
T 1.3.16.6, SBN 177–8
Đối với loại hành động thứ nhất, tôi khẳng định rằng chúng phát sinh từ một quá trình suy luận, mà bản thân nó không khác, cũng không dựa trên những nguyên lý khác, so với quá trình suy luận xuất hiện trong bản tính con người. Trước hết, cần phải có một ấn tượng nào đó hiện diện trực tiếp trước trí nhớ hoặc các giác quan của chúng để làm nền tảng cho phán đoán của chúng. Từ giọng nói, con chó suy luận rằng chủ của nó đang tức giận và thấy trước hình phạt sắp giáng xuống nó. Từ một cảm giác nhất định tác động lên khứu giác, nó phán đoán rằng con mồi của nó không còn ở quá xa.
T 1.3.16.7, SBN 178
Thứ hai, suy luận mà nó rút ra từ ấn tượng hiện tại được xây dựng trên kinh nghiệm và trên sự quan sát của nó về sự kết hợp giữa những đối tượng trong những trường hợp trước đây. Khi chúng ta thay đổi kinh nghiệm này, nó cũng thay đổi suy luận của mình. Nếu trong một thời gian, chúng ta khiến một trận đòn xảy ra sau một dấu hiệu hoặc một cử động nào đó, rồi sau đó lại khiến trận đòn xảy ra sau một dấu hiệu hoặc cử động khác, thì nó sẽ lần lượt rút ra những kết luận khác nhau, tùy theo kinh nghiệm gần đây nhất của nó.
T 1.3.16.8, SBN 178
Bây giờ, hãy để bất kỳ triết gia nào thử sức giải thích hoạt động của não thức mà chúng ta gọi là tin tưởng, đồng thời trình bày những nguyên lý mà từ đó hoạt động ấy phát sinh, nhưng không dựa vào ảnh hưởng của thói quen đối với trí tưởng tượng; hơn nữa, hãy để giả thuyết của ông ta có thể áp dụng như nhau cho động vật cũng như cho loài người; nếu làm được điều đó, tôi hứa sẽ chấp nhận quan điểm của ông. Nhưng đồng thời, tôi cũng yêu cầu một điều kiện công bằng: nếu hệ thống của tôi là hệ thống duy nhất đáp ứng được tất cả những yêu cầu ấy, thì nó phải được thừa nhận là hoàn toàn thỏa đáng và có sức thuyết phục. Và rằng đó thực sự là hệ thống duy nhất thì hầu như không cần suy luận cũng thấy rõ. Chắc chắn động vật không bao giờ nhận ra bất kỳ sự liên kết thực sự nào giữa những đối tượng. Vì thế, chúng chỉ suy luận từ đối tượng này sang đối tượng khác nhờ kinh nghiệm. Chúng cũng không bao giờ có thể, bằng bất kỳ lập luận nào, hình thành một kết luận tổng quát rằng những đối tượng mà chúng chưa từng kinh nghiệm sẽ giống với những đối tượng mà chúng đã từng kinh nghiệm. Vì thế, chỉ nhờ thói quen mà kinh nghiệm mới tác động lên chúng. Điều này vốn đã đủ rõ đối với con người. Nhưng đối với động vật thì không thể có chút nghi ngờ nào về sự nhầm lẫn; và điều đó phải được thừa nhận là một sự xác nhận mạnh mẽ, hay đúng hơn là một bằng chứng không thể bác bỏ, cho hệ thống của tôi.
T 1.3.16.9, SBN 178–9
Không có điều gì cho thấy sức mạnh của thói quen trong việc khiến chúng ta quen với bất kỳ hiện tượng nào rõ hơn điều này: con người không hề ngạc nhiên trước những hoạt động của chính lý trí mình, trong khi lại khâm phục bản năng của động vật và thấy khó giải thích nó, chỉ vì họ không thể quy nó về đúng những nguyên lý ấy. Nếu xem xét vấn đề cho đúng, thì lý trí chẳng là gì khác ngoài một bản năng kỳ diệu và không thể giải thích trong hồn người; bản năng ấy dẫn dắt chúng ta đi theo một chuỗi nhất định của những ý niệm và ban cho chúng những đặc tính riêng tùy theo những vị trí và những quan hệ riêng của chúng. Đúng là bản năng ấy phát sinh từ sự quan sát và kinh nghiệm trong quá khứ; nhưng liệu có ai có thể nêu ra được lý do tối hậu vì sao sự quan sát và kinh nghiệm trong quá khứ lại tạo ra hiệu quả như vậy, hơn là giải thích vì sao chỉ riêng tự nhiên lại tạo ra hiệu quả ấy? Chắc chắn tự nhiên có thể tạo ra bất cứ điều gì mà thói quen có thể tạo ra. Hơn nữa, thói quen chẳng qua chỉ là một trong những nguyên lý của tự nhiên, và toàn bộ sức mạnh của nó đều bắt nguồn từ chính nguồn gốc ấy.[28]
Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ hai
(Jun/2026)
(Còn tiếp... →)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1] Xác suất Phi-Triết Học” (unphilosophical probability) và giới hạn của mô hình suy luận lý tưởng ở Hume
Trong mục này, Hume không dùng thuật ngữ “xác suất Phi-Triết Học” (unphilosophical probability) để chỉ những suy luận sai lầm, phi lý, hay chống lại triết học. Tiền tố un- ở đây không mang nghĩa phủ định giá trị, mà chỉ có nghĩa rằng những hiện tượng này không thuộc vào mô hình suy luận đã được triết học chuẩn hóa và lý tưởng hóa.
Khi nói đến những loại xác suất được triết học thừa nhận (philosophical probability), Hume đang xem xét khả năng nhận thức trong một hình thức đã được tinh lọc: sự tin tưởng được giải thích dựa trên những yếu tố có thể trình bày rõ ràng như số lượng kinh nghiệm, sự thường xuyên của kết hợp, mức độ tương đồng giữa những trường hợp, và sự cân nhắc có ý thức của não thức. Trong mô hình này, nếu bằng chứng khách quan không thay đổi, mức độ tin tưởng về nguyên tắc cũng phải giữ nguyên.
Tuy nhiên, Hume nhận thấy hoạt động thực tế của não thức không hoàn toàn vận hành theo mô hình lý tưởng đó. Cùng một bằng chứng có thể tạo ra những mức độ tin tưởng khác nhau tùy theo cách nó xuất hiện trong kinh nghiệm: một ký ức gần hay xa, một ấn tượng mới hay đã phai nhạt, một suy luận trực tiếp hay một chuỗi dài những bước trung gian. Những yếu tố này không làm thay đổi nội dung logic của bằng chứng, nhưng chúng làm thay đổi lực và tính sinh động (force and vivacity) của những ý niệm mà bằng chứng tạo ra; và theo lý thuyết của Hume, chính mức độ lực và tính sinh động ấy quyết định mức độ của tin tưởng (belief).
Vì vậy, “xác suất Phi-Triết Học” chỉ những trường hợp trong đó con người vẫn suy luận dựa trên kinh nghiệm và những nguyên lý liên kết của não thức, nhưng quá trình hình thành tin tưởng còn chịu tác động của những điều kiện tâm lý mà mô hình suy luận thuần lý thường bỏ qua.
Hume phân tích ba dạng biến thiên chính:
Thứ nhất, khoảng cách của ký ức (remoteness of memory).
Một sự kiện càng xa trong quá khứ thì dấu ấn của nó trong ký ức càng suy yếu. Khi ấn tượng ban đầu mất dần lực và tính sinh động, ý niệm liên hệ được truyền sang cũng trở nên kém sinh động hơn, và do đó mức độ tin tưởng giảm xuống. Điều này xảy ra dù nội dung của lập luận vẫn hoàn toàn giống nhau.
Thứ hai, độ mới của kinh nghiệm (freshness of impression).
Một kinh nghiệm vừa xảy ra tác động mạnh hơn một kinh nghiệm đã bị thời gian làm mờ đi. Một quan sát mới không cung cấp thêm bằng chứng theo nghĩa logic, nhưng nó có khả năng duy trì một sự chuyển tiếp mạnh hơn từ ấn tượng sang ý niệm liên hệ, bởi vì thói quen chưa bị suy yếu và lực nguyên thủy của ấn tượng vẫn còn được bảo toàn.
Thứ ba, độ dài của chuỗi suy luận (length of reasoning chain).
Ngay cả khi mỗi bước trong một chuỗi suy luận đều chắc chắn, sự chuyển tiếp qua nhiều bước trung gian vẫn làm suy giảm dần lực và tính sinh động được truyền từ ấn tượng ban đầu. Vì thế, một kết luận gần và trực tiếp đôi khi tạo ra một sự tin tưởng mạnh hơn một kết luận được chứng minh qua một chuỗi dài những bước suy luận, dù về mặt logic chuỗi ấy hoàn toàn đúng đắn.
Điểm thống nhất của ba trường hợp này là: cấu trúc lý luận của bằng chứng không thay đổi, nhưng mức độ tin tưởng thay đổi. Sự thay đổi ấy không phải là một sai lầm của lý trí, mà là kết quả tự nhiên của cách não thức con người thực sự hoạt động.
Do đó, “xác suất Phi-Triết Học” đóng vai trò quan trọng trong dự án triết học của Hume: nó cho thấy rằng tin tưởng không chỉ là kết quả của việc đánh giá những quan hệ khách quan giữa những ý niệm, mà còn là một trạng thái tâm lý được hình thành qua sự vận động của ký ức, tưởng tượng, thói quen và mức độ sinh động của những ấn tượng. Nói cách khác, đây là sự khảo sát lý trí trong điều kiện thực tế của đời sống tinh thần, chứ không phải lý trí trong một mô hình trừu tượng đã được tách khỏi con người cụ thể.
[2] Hume đưa Julius Caesar làm ví dụ vì đây là một trường hợp điển hình về một sự kiện lịch sử rất xa xưa nhưng vẫn tạo ra sự tin tưởng mạnh mẽ trong chúng ta. Nếu mọi chuỗi truyền đạt bằng chứng đều tất yếu làm suy giảm tính sinh động và cuối cùng phá hủy sự tin tưởng, thì chúng ta lẽ ra không thể còn tin rằng Caesar từng tồn tại, bởi sự kiện ấy đến với chúng ta qua vô số lời kể, bản ghi chép và bản sao nối tiếp nhau qua nhiều thế hệ. Nhưng điều này trái với phán đoán thực tiễn dựa trên kiến thức thông thường. Qua ví dụ này, Hume cho thấy vấn đề không nằm ở độ dài của chuỗi truyền đạt, mà ở bản chất của những mắt xích trong chuỗi: khi những mắt xích có cùng loại, lập lại và tương tự nhau, não thức có thể dễ dàng chuyển tiếp qua chúng mà không làm suy giảm đáng kể sức mạnh của bằng chứng.
[3] Ở đây Hume đề cập đến một kiểu lập luận hoài nghi từng được dùng trong những tranh luận về nền tảng lịch sử của Kitô giáo. Lập luận này dựa trên ý tưởng rằng những sự kiện tôn giáo trong quá khứ không đến với chúng ta trực tiếp, mà được truyền lại qua một chuỗi dài những chứng ngôn của con người: từ những người chứng kiến ban đầu, qua lời kể truyền miệng, đến những văn bản được sao chép và lưu truyền qua nhiều thế hệ. Nếu mỗi mắt xích trong chuỗi truyền đạt ấy chỉ có mức độ đáng tin như một xác suất—nghĩa là luôn có khả năng sai sót, thêm thắt hoặc biến đổi—thì mỗi lần truyền đạt mới lại làm giảm thêm độ chắc chắn của bằng chứng ban đầu. Theo kiểu lập luận này, những sự kiện xảy ra quá xa trong quá khứ, chẳng hạn những biến cố được kể lại trong Kinh Thánh về cuộc đời, cái chết và sự phục sinh của Chúa Jesus, cuối cùng sẽ không còn đủ sức thuyết phục vì đã phải đi qua quá nhiều tầng lớp trung gian.
Tuy nhiên, Hume không đưa ra lập luận này để trực tiếp bác bỏ Kitô giáo. Ông chỉ dùng nó như một trường hợp minh họa cho một vấn đề rộng hơn trong lý thuyết về tin tưởng: nếu mọi mắt xích trong một chuỗi chứng ngôn đều chỉ mang tính xác suất và đều làm suy giảm bằng chứng, thì bất kỳ tri thức lịch sử nào dựa trên truyền đạt của con người cũng sẽ dần mất hết sức mạnh. Vì vậy, Hume tiếp tục phân tích để chỉ ra rằng vấn đề không đơn giản như vậy: khi những mắt xích trong chuỗi truyền đạt đều cùng một loại và được củng cố bởi sự lập lại ổn định (như việc sao chép văn bản), sự suy giảm tin tưởng không diễn ra theo cách cơ học như trong lập luận hoài nghi trên.
[4] Điểm Hume muốn chứng minh ở đây là ông không hề từ bỏ nguyên lý đã trình bày trước đó rằng mỗi lần chuyển tiếp của trí tưởng tượng từ một ý niệm sang một ý niệm khác đều có thể làm suy giảm phần nào tính sinh động của ý niệm ban đầu. Tuy nhiên, Hume cho rằng mức độ suy giảm ấy không chỉ phụ thuộc vào độ dài của chuỗi suy luận, mà còn phụ thuộc vào cấu trúc và bản chất của những mắt xích tạo nên chuỗi ấy.
Nếu một chuỗi chuyển tiếp bao gồm nhiều bước hoàn toàn khác nhau, trong đó mỗi bước đòi hỏi não thức phải xem xét một quan hệ riêng biệt, thì mỗi lần chuyển tiếp sẽ tạo ra một khoảng cách mới giữa ấn tượng ban đầu và ý niệm cuối cùng. Trong trường hợp này, tính sinh động ban đầu sẽ dần dần suy yếu, bởi trí tưởng tượng phải liên tục thay đổi hướng chuyển dịch và duy trì nhiều mối liên hệ khác nhau.
Nhưng nếu một chuỗi rất dài được cấu thành từ những mắt xích cùng loại, lập lại và hoàn toàn tương tự nhau, như trong trường hợp những bản sao của một văn bản được sao chép liên tiếp qua nhiều thế hệ, thì tình huống lại khác. Não thức không cần phải hình dung riêng biệt từng mắt xích như một bước độc lập, mà có thể nắm bắt chúng như một quá trình thống nhất dựa trên cùng một nguyên tắc. Một khi đã hiểu được một bước chuyển từ bản sao này sang bản sao khác, chúng ta không cần phải thực hiện lại sự phân tích ấy đối với mọi bước tiếp theo.
Vì vậy, một chuỗi truyền đạt dù kéo dài qua hàng nghìn thế hệ không nhất thiết làm mất đi bằng chứng ban đầu, nếu những mối liên hệ trong chuỗi vẫn giữ nguyên tính đồng nhất và ổn định. Điều làm suy yếu tin tưởng không phải chỉ là số lượng những bước chuyển tiếp, mà là sự khác biệt, phức tạp và tính không đồng nhất của những bước ấy. Khi những mắt xích có cùng một bản chất và được lập lại đều đặn, trí tưởng tượng có thể di chuyển qua chúng một cách dễ dàng, bảo toàn phần lớn tính sinh động của ấn tượng ban đầu.
Nói cách khác, Hume muốn cho thấy rằng cơ chế tâm lý tạo ra tin tưởng không vận hành như một phép trừ cơ học: mỗi mắt xích không nhất thiết làm mất đi một phần cố định của bằng chứng. Điều quyết định là cách mà những mắt xích được tổ chức trong kinh nghiệm của não thức: một chuỗi dài nhưng đồng nhất có thể duy trì tin tưởng, trong khi một chuỗi ngắn hơn nhưng gồm những bước khác biệt và phức tạp lại có thể làm suy giảm nó nhanh chóng.
[5] Trong đoạn này, Hume mở rộng khái niệm “xác suất phi triết học” sang cách não thức hình thành những quy tắc tổng quát (general rules) và từ đó phát sinh định kiến.
Một số quy tắc tổng quát được não thức rút ra rất nhanh từ kinh nghiệm hạn chế, rồi được dùng như những nguyên tắc chung để phán đoán những trường hợp mới. Khi đã cố định, chúng có thể trở thành định kiến, chẳng hạn như gán cứng rằng một dân tộc hay nhóm người nào đó “không thể” có một phẩm chất nhất định. Dù quan sát hiện tại có thể cho thấy điều ngược lại, quy tắc đã hình thành vẫn tiếp tục chi phối tin tưởng.
Hume cho rằng nền tảng của hiện tượng này nằm ở thói quen (custom). Thói quen phát sinh từ việc não thức lập lại những liên kết giữa những sự vật, rồi hình thành sự chuyển tiếp tự động từ cái này sang cái kia. Cơ chế này không chỉ vận hành trong những trường hợp giống hệt nhau, mà còn mở rộng sang những trường hợp tương tự, dù với mức độ yếu hơn.
Vì vậy, não thức cũng suy luận theo loại suy: cái gì giống thì được xem là có khả năng giống về kết quả. Tuy nhiên, mức độ tin tưởng tăng hay giảm tùy theo mức độ tương đồng, chứ không cố định.
Hume cũng nhấn mạnh rằng trong mỗi sự vật luôn có yếu tố thiết yếu và yếu tố phụ. Khi những yếu tố phụ thường xuyên đi kèm yếu tố thiết yếu, chúng có thể tự mình kích hoạt lại toàn bộ phản ứng quen thuộc trong não thức, ngay cả khi điều kiện thực tế đã thay đổi.
Từ đó, Hume kết luận: định kiến và những “xác suất phi triết học” không phải là sai lầm thuần logic, mà là kết quả tự nhiên của thói quen khi nó vượt ra ngoài giới hạn của kinh nghiệm được kiểm chứng, nhưng vẫn tiếp tục vận hành như một cơ chế tự nhiên của não thức.
[6] Ví dụ về người bị treo trên tháp cho thấy một điểm quan trọng trong phân tích của Hume: một người có thể đồng thời biết rằng mình an toàn và vẫn cảm thấy sợ hãi. Phán đoán của người ấy, dựa trên những quy tắc tổng quát và kinh nghiệm về độ chắc chắn của chiếc lồng sắt, kết luận rằng không có nguy hiểm thực sự. Nhưng trí tưởng tượng, do bị chi phối bởi sự tương tự giữa hoàn cảnh hiện tại và những kinh nghiệm về rơi xuống hoặc tử vong trước đây, vẫn tạo ra một hình ảnh sinh động về tai nạn có thể xảy ra.
Theo Hume, sự mâu thuẫn này không phải do một bên là lý trí đúng còn bên kia là sai lầm đơn thuần. Cả hai đều phát sinh từ những cơ chế khác nhau của cùng một năng lực nhận thức: phán đoán dựa trên những quy tắc tổng quát được hình thành từ kinh nghiệm rộng lớn, còn trí tưởng tượng chịu ảnh hưởng mạnh bởi những liên tưởng gần gũi, sinh động và lập lại. Vì vậy, “xác suất phi triết học” chính là những trường hợp trong đó cơ chế tự nhiên của tưởng tượng vẫn hoạt động, dù nó tạo ra một mức độ tin tưởng hoặc cảm xúc không hoàn toàn phù hợp với phán đoán được điều chỉnh bởi suy xét.
[7] Những quy tắc tổng quát, tính sinh động của ý niệm và sự khác biệt giữa phán đoán với trí tưởng tượng ở Hume: Trong những đoạn này, Hume tiếp tục phát triển phân tích của ông về sự tin tưởng (belief) và hoạt động của trí tưởng tượng (imagination). Luận điểm trung tâm của ông là: cùng một đối tượng hoặc cùng một ý niệm có thể tạo ra những mức độ tác động khác nhau lên não thức, tùy thuộc vào cách thức mà nó được trình hiện và con đường mà trí tưởng tượng dùng để tiếp nhận nó.
Hume minh họa điều này qua sự khác biệt giữa một lời xúc phạm được nói ra công khai và một sự khinh miệt chỉ được ám chỉ kín đáo, cũng như giữa một hành vi vi phạm danh dự được bộc lộ rõ ràng và một hành vi tương tự nhưng được che giấu. Trong cả hai trường hợp, phán đoán có thể nhận ra cùng một ý nghĩa hoặc cùng một lỗi lầm; tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của chúng lên cảm xúc lại không giống nhau.
Sự khác biệt này không nằm ở bản thân đối tượng được phán đoán, mà nằm ở cách thức mà trí tưởng tượng chuyển từ những dấu hiệu được nhận biết đến ý niệm tương ứng. Khi dấu hiệu là trực tiếp, phổ biến và quen thuộc, như trong trường hợp một lời xúc phạm công khai, trí tưởng tượng thực hiện sự chuyển tiếp dễ dàng hơn từ ấn tượng hiện tại đến ý niệm vắng mặt. Vì vậy, ý niệm được hình thành có mức độ tính sinh động (vivacity) cao hơn và có ảnh hưởng mạnh hơn lên những đam mê.
Ngược lại, khi dấu hiệu chỉ mang tính gián tiếp, riêng biệt, hoặc cần phải được suy ra từ nhiều chi tiết nhỏ, trí tưởng tượng phải trải qua nhiều bước trung gian hơn. Quá trình này làm suy giảm tính sinh động của ý niệm, khiến cho cùng một kết luận, dù vẫn được phán đoán là đúng, lại không tạo ra cùng mức độ tác động lên cảm xúc.
Điểm Hume muốn nhấn mạnh là: sức mạnh của một ý niệm không chỉ phụ thuộc vào nội dung mà nó biểu đạt, mà còn phụ thuộc vào cách thức mà ý niệm ấy được hình thành trong não thức. Một suy luận càng đơn giản, thống nhất và trực tiếp thì càng duy trì được lực của ấn tượng ban đầu; ngược lại, một suy luận càng dài, phức tạp và đòi hỏi trí tưởng tượng phải nối kết nhiều yếu tố trung gian thì càng làm giảm mức độ sinh động của ý niệm.
Phân tích này cũng làm rõ vai trò hai mặt của những quy tắc tổng quát (general rules). Một mặt, những quy tắc này giúp chúng ta điều chỉnh những xu hướng tự nhiên của trí tưởng tượng, bằng cách đưa phán đoán trở lại những nguyên tắc suy luận ổn định hơn. Nhưng mặt khác, vì bản thân chúng cũng được hình thành từ thói quen và kinh nghiệm lập lại, chúng có thể tác động trở lại lên trí tưởng tượng, tạo ra những phản ứng không hoàn toàn phù hợp với phán đoán.
Vì vậy, Hume cho thấy rằng con người không chỉ suy luận bằng những nguyên tắc logic trừu tượng. Mọi suy luận và mọi sự tin tưởng đều diễn ra trong một não thức cụ thể, nơi thói quen, ký ức, trí tưởng tượng và mức độ sinh động của những ý niệm cùng tham gia vào việc quyết định sức mạnh của sự tin tưởng cũng như của những cảm xúc đi kèm.
[8] Đoạn kết này tóm tắt luận điểm trung tâm của Hume về xác suất: xác suất không phải là một dạng tri thức chưa hoàn chỉnh hay một kết luận thuần túy của lý trí về tỷ lệ khách quan, mà là một hình thức của sự tin tưởng (belief) được hình thành trong não thức. Mức độ tin tưởng phụ thuộc vào lực và tính sinh động của những ý niệm, mà thói quen từ kinh nghiệm truyền từ những ấn tượng hiện tại sang những đối tượng vắng mặt. Vì vậy, mọi cấp độ xác suất—từ ký ức, nhân quả, đến những trường hợp kinh nghiệm mâu thuẫn—đều là những cách khác nhau trong đó trí tưởng tượng tổ chức và phân phối mức độ bằng chứng trong não thức.
[9] Trong những đoạn cuối của mục này, Hume mở rộng phân tích từ những trường hợp cụ thể của “xác suất phi triết học” để đưa ra một kết luận chung về bản chất của mọi phán đoán và tin tưởng của con người.
Hume trước hết chỉ ra rằng cùng một nguyên tắc giải thích sự khác biệt giữa những phán đoán lý thuyết cũng giải thích cả những hiện tượng thuộc đời sống đạo đức và xã hội. Chẳng hạn, một lời nói trái với vai trò hay phẩm cách của một người thường bị đánh giá nghiêm khắc hơn một hành động tương tự, bởi vì lời nói là một dấu hiệu trực tiếp, rõ ràng và khó phủ nhận hơn về ý định của người đó; trong khi hành động thường cho phép nhiều cách giải thích và nhiều lý do biện minh hơn. Vì vậy, không chỉ nội dung của một sự việc, mà cả cách thức sự việc ấy được trình hiện cho trí tưởng tượng, đều ảnh hưởng đến phán đoán của chúng ta.
Từ đó Hume đưa ra kết luận quan trọng: mọi ý kiến hay phán đoán không đạt đến mức tri thức chắc chắn đều hoàn toàn phát sinh từ lực và tính sinh động của nhận thức (force and vivacity of perception). Chính hai đặc tính này tạo thành điều mà chúng ta gọi là sự tin tưởng (belief) vào sự tồn tại của một đối tượng.
Mức độ mạnh nhất của lực và tính sinh động xuất hiện trong ký ức (memory), bởi vì ký ức giữ lại dấu ấn gần với ấn tượng ban đầu nhất. Vì vậy, sự tin tưởng của chúng ta đối với ký ức thường đạt mức rất cao, gần tương đương với sự chắc chắn của một chứng minh. Sau ký ức là những suy luận dựa trên quan hệ nhân quả, đặc biệt khi kinh nghiệm cho thấy sự kết hợp giữa nguyên nhân và kết quả là thường xuyên và ổn định, đồng thời đối tượng hiện tại giống với những trường hợp đã từng được quan sát.
Tuy nhiên, bên dưới những mức độ bằng chứng mạnh này còn có vô số cấp độ khác nhau của xác suất. Mức độ tin tưởng trong những trường hợp ấy giảm hoặc tăng tùy theo những điều kiện cụ thể: số lượng kinh nghiệm quan sát được, sự nhất quán hay đối lập giữa những kinh nghiệm, mức độ giống nhau giữa trường hợp hiện tại và những trường hợp quá khứ, độ rõ ràng của ấn tượng hiện tại, mức độ lưu giữ của ký ức, độ dài của chuỗi suy luận, hoặc sự phù hợp giữa suy luận và những quy tắc tổng quát.
Điểm chung của tất cả những trường hợp này là: bằng chứng không thay đổi chỉ vì lý do hình thức của lập luận, mà thay đổi theo mức độ sinh động mà những ý niệm đạt được trong não thức. Khi một thói quen mạnh mẽ được hình thành từ nhiều kinh nghiệm tương tự, sự chuyển tiếp từ nguyên nhân sang kết quả trở nên dễ dàng và ý niệm kết quả nhận được nhiều lực hơn. Ngược lại, khi kinh nghiệm còn ít, khi những trường hợp mâu thuẫn nhau, khi sự tương tự không đầy đủ, khi ký ức suy yếu hoặc khi suy luận phải đi qua nhiều bước trung gian, lực của ý niệm giảm xuống và mức độ tin tưởng cũng giảm theo.
Trong đoạn cuối, Hume nhấn mạnh rằng sức mạnh của hệ thống này nằm không chỉ ở từng lập luận riêng lẻ, mà ở sự thống nhất giữa tất cả những hiện tượng mà nó giải thích. Sự tin tưởng trong ký ức, trong suy luận nhân quả, trong xác suất dựa trên những kinh nghiệm trái ngược, và trong những trường hợp xác suất phi triết học, đều có cùng một bản chất: chúng đều là những hiệu quả của thói quen tác động lên trí tưởng tượng.
Đặc biệt, trong trường hợp xác suất dựa trên những kinh nghiệm đối lập, não thức ban đầu bị chia thành nhiều khuynh hướng khác nhau. Mỗi khả năng riêng lẻ tác động lên trí tưởng tượng; cuối cùng, phía có số lượng kinh nghiệm vượt trội sẽ chiếm ưu thế. Tuy nhiên, sự vượt trội này luôn bị giảm bớt bởi sức mạnh của những khả năng đối lập. Vì vậy, xác suất không phải là một kết luận thuần lý về tỷ lệ, mà là kết quả của sự cạnh tranh giữa những hình ảnh và khuynh hướng khác nhau trong não thức.
Luận điểm kết thúc của Hume là: nếu không xem những phán đoán này như những hiệu quả của thói quen tác động lên trí tưởng tượng, chúng ta sẽ không thể giải thích nhất quán hoạt động thực tế của khả năng nhận thức con người. Mọi tin tưởng của con người—từ ký ức, nhân quả, xác suất cho đến những phán đoán đời thường—đều không phải là sản phẩm của một lý trí thuần túy đứng ngoài kinh nghiệm, mà là kết quả của cách não thức chuyển lực và tính sinh động từ những ấn tượng hiện có sang những ý niệm vắng mặt.
[10] Ở đây Hume thực hiện một bước chuyển quan trọng trong toàn bộ lý thuyết về quan hệ nhân quả. "Ấn tượng" mà ông đang tìm kiếm không phải là một phẩm tính được tri giác trong chính những đối tượng, mà là sự xác định của não thức (determination of the mind) do thói quen tạo ra: khi một nguyên nhân xuất hiện, não thức tự nhiên bị thúc đẩy hướng sang ý niệm về kết quả thường đi kèm với nó. Chính cảm nhận nội tại về sự chuyển tiếp tất yếu này cung cấp cho chúng ta ý niệm về sự kết nối tất yếu (necessary connexion). Vì vậy, theo Hume, tính tất yếu không phải là một thuộc tính khách quan được nhìn thấy trong những sự vật, mà là một cách thức vận hành của chính não thức khi kinh nghiệm được lập lại nhiều lần.
[11] Đây là một bước ngoặt trong toàn bộ lý thuyết về quan hệ nhân quả của Hume. Thay vì hỏi "năng lực" (power) hay "hiệu lực" (efficacy) là gì trong bản thân sự vật, Hume trước hết đặt lại câu hỏi theo phương pháp kinh nghiệm của ông: chúng ta có ý niệm ấy từ đâu? Theo nguyên lý nền tảng đã được thiết lập trước đó, mọi ý niệm đều phải bắt nguồn từ một ấn tượng tương ứng. Vì vậy, nếu thật sự có ý niệm về năng lực hay hiệu lực, thì phải chỉ ra được một ấn tượng mà từ đó ý niệm ấy phát sinh. Hume lập luận rằng chúng ta không hề tri giác trực tiếp một "năng lực" nào đang vận hành trong những đối tượng hay trong quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả. Kết luận này mở đường cho luận điểm nổi tiếng mà ông sẽ trình bày ngay sau đó: điều làm phát sinh ý niệm về sự kết nối tất yếu (necessary connexion) không phải là một phẩm tính khách quan của sự vật, mà là sự xác định của não thức (determination of the mind) do thói quen hình thành khi nhiều lần trải nghiệm sự kết hợp thường xuyên giữa những sự kiện. Đây là một trong những luận điểm trung tâm và có ảnh hưởng sâu rộng nhất của triết học Hume về nhân quả.
[12] Mô thể bản thể, nguyên nhân thứ hai và phê phán của Hume về ý niệm năng lực nhân quả
Trong những đoạn này, Hume khảo sát những cách giải thích truyền thống về năng lực (power), hiệu lực (efficacy) và hiệu lực tác động (agency) của nguyên nhân, nhằm cho thấy rằng những lý thuyết trước ông đều không thể chỉ ra được một nguyên lý có thể nhận biết trực tiếp như là “năng lực tạo ra kết quả” nằm trong bản thân sự vật.
Một trong những khái niệm mà Hume nhắc đến là mô thể bản thể (substantial form), một thuật ngữ bắt nguồn từ triết học Aristotle và được phát triển rộng rãi trong triết học kinh viện Trung cổ. Theo Aristotle, mỗi sự vật tự nhiên là sự kết hợp giữa vật chất (matter, hylē) và mô thể (form, morphē). Mô thể không phải là một hình dạng bên ngoài, mà là nguyên lý nội tại khiến một sự vật trở thành một loại sự vật xác định và có những khả năng hoạt động đặc thù. Chẳng hạn, mô thể của con mắt là nguyên lý khiến nó không chỉ là một khối vật chất, mà là một cơ quan có chức năng nhìn.
Trong truyền thống kinh viện, mô thể bản thể được xem như nguyên lý cấu thành bản chất của sự vật và giải thích những năng lực hoạt động của nó. Tuy nhiên, khái niệm này không đồng nghĩa với Các Mô thể (Forms/Ideas) của Plato. Đối với Plato, những Mô thể là những thực tại phổ quát tồn tại độc lập với những sự vật cảm tính; trong khi đó, mô thể của Aristotle nằm ngay trong chính sự vật, là nguyên lý nội tại làm cho sự vật là nó và hoạt động theo một cách nhất định.
Hume phê phán những cách giải thích như vậy vì chúng không thực sự giải thích nguồn gốc của ý niệm về năng lực. Những thuật ngữ như “mô thể bản thể”, “phẩm chất”, “năng lực” hay “khả năng tác động” chỉ đặt tên cho điều cần được giải thích, chứ chưa chỉ ra được một ấn tượng kinh nghiệm cụ thể nào làm phát sinh ý niệm tương ứng. Theo nguyên tắc nền tảng của Hume, mọi ý niệm đều phải bắt nguồn từ một ấn tượng; vì vậy, nếu chúng ta thực sự có một ý niệm về năng lực nhân quả, chúng ta phải có thể chỉ ra ấn tượng nào đã tạo ra nó.
Điểm then chốt là Hume không phủ nhận rằng những nguyên nhân tạo ra những kết quả, cũng không phủ nhận tính thực tế của những quan hệ nhân quả trong kinh nghiệm. Điều ông bác bỏ là quan niệm cho rằng chúng ta có thể tri giác trực tiếp một năng lực nhân quả khách quan nằm trong bản thân sự vật, giống như chúng ta tri giác màu sắc, hình dạng hoặc chuyển động. Khi quan sát một vật tác động lên vật khác, chúng ta chỉ thấy sự kế tiếp và liên hệ thường xuyên giữa những hiện tượng; chúng ta không thấy một “sức mạnh bí mật” nào đứng phía sau và sản sinh ra kết quả.
Hume cũng đề cập đến quan niệm về những nguyên nhân thứ hai (secondary causes). Đây là quan niệm thuộc truyền thống triết học–thần học, theo đó những sự vật tự nhiên là những nguyên nhân thực sự, nhưng năng lực của chúng chỉ là năng lực phái sinh từ nguyên nhân tối cao là Gót. Theo mô hình này, Gót là nguyên nhân đệ nhất (first cause), còn những sự vật tự nhiên — như lửa làm nóng nước hay một vật tác động lên vật khác — là những nguyên nhân thứ hai.
Hume chỉ ra rằng cách giải thích này vẫn không giải quyết được khó khăn căn bản. Nếu năng lực của những nguyên nhân thứ hai không nằm trong bất kỳ phẩm chất nào mà chúng ta có thể nhận biết ở vật chất, thì chúng ta vẫn không biết ý niệm về năng lực ấy bắt nguồn từ đâu. Việc chuyển năng lực nhân quả từ vật chất sang Gót không giải thích được nguồn gốc của chính ý niệm về năng lực, bởi vì theo tiêu chuẩn kinh nghiệm luận của Hume, ngay cả ý niệm về Gót cũng phải bắt nguồn từ một ấn tượng nào đó.
Do đó, những đoạn này là bước chuẩn bị trực tiếp cho lập luận nổi tiếng của Hume về sự kết nối tất yếu (necessary connexion). Kết luận của ông không phải là chúng ta không có quan hệ nhân quả, mà là chúng ta không tìm thấy trong những sự vật một năng lực bí mật nào làm nền tảng cho quan hệ ấy. Ý niệm về sự kết nối tất yếu không đến từ việc quan sát một sức mạnh khách quan trong thế giới bên ngoài, mà xuất phát từ cách não thức vận hành: qua sự lập lại của kinh nghiệm, thói quen khiến não thức chuyển từ một sự kiện đã quen thuộc sang sự kiện thường đi kèm với nó, và chính sự xác định này của não thức tạo nên ý niệm về tính tất yếu.
[13] extension (sự mở rộng trong không gian): Trong triết học Descartes, đây là thuộc tính căn bản của vật chất. Descartes cho rằng bản chất của vật chất (res extensa) không phải là một năng lực hoạt động, mà là việc chiếm một phần không gian. Vì vậy, từ việc vật chất có “sự mở rộng trong không gian”, ta chỉ có thể suy ra rằng vật chất có thể thay đổi vị trí, chứ không thể suy ra rằng nó chứa một năng lực nội tại tạo ra chuyển động.
[14] Phương cách khéo léo của Hume khi bàn về Gót và năng lực nhân quả: Đoạn này cho thấy sự thận trọng trong cách lập luận của Hume khi ông chạm đến một vấn đề rất nhạy cảm trong triết học thế kỷ XVIII: nếu chúng ta không thể tìm thấy một năng lực tác động (power, efficacy) nằm trong những sự vật tự nhiên, liệu điều đó có buộc chúng ta phải phủ nhận luôn năng lực tác động của Gót hay không?
Hume không trực tiếp khẳng định rằng Gót không có năng lực nhân quả, cũng không đưa ra một lập trường phủ nhận tôn giáo. Ông chỉ đặt ra một vấn đề về nguồn gốc của ý niệm. Theo nguyên tắc kinh nghiệm luận mà ông đã nhiều lần dùng, mọi ý niệm đều phải bắt nguồn từ một ấn tượng tương ứng. Vì vậy, nếu chúng ta nói rằng mình có một ý niệm về “năng lực” hay “hiệu lực”, chúng ta phải chỉ ra được ấn tượng nào đã tạo ra ý niệm ấy.
Nhưng khi quan sát những sự vật tự nhiên, chúng ta không bao giờ nhận thấy một năng lực bí ẩn nào đang truyền từ nguyên nhân sang kết quả. Chúng ta chỉ thấy những sự kiện nối tiếp nhau: lửa tiếp xúc với gỗ, rồi gỗ cháy; một vật va chạm với vật khác, rồi vật kia chuyển động. Điều chúng ta nhận thức được là sự kế tiếp và sự liên kết thường xuyên giữa những hiện tượng, chứ không phải một “sức mạnh sản sinh” nằm bên trong bản thân sự vật.
Các nhà triết học theo Descartes cố gắng giải quyết khó khăn này bằng cách cho rằng năng lực thật sự không nằm trong vật chất, mà nằm nơi Gót. Theo họ, vật chất tự nó không có khả năng tác động; chỉ Gót mới là nguyên nhân thực sự tạo ra mọi biến đổi trong thế giới.
Tuy nhiên, Hume chỉ ra rằng cách giải thích này vẫn không giải quyết được vấn đề ban đầu. Bởi nếu mọi ý niệm đều phải bắt nguồn từ một ấn tượng, thì ý niệm về Gót cũng phải tuân theo cùng nguyên tắc ấy. Nếu trong kinh nghiệm của chúng ta — dù là qua cảm giác bên ngoài hay qua sự tự suy ngẫm bên trong — không có một ấn tượng nào chứa đựng năng lực tác động, thì chúng ta cũng không thể nói rằng mình có một ý niệm rõ ràng và có cơ sở về năng lực tác động nơi Gót.
Điểm quan trọng là Hume không phủ nhận Gót hay phủ nhận rằng Gót có thể là nguyên nhân tối cao của vũ trụ. Điều ông chỉ ra là con người không có một ý niệm kinh nghiệm rõ ràng về “năng lực nhân quả” như một phẩm tính có thể được nhận biết trong bất kỳ hữu thể nào. Nếu chúng ta không thể tìm thấy năng lực ấy trong vật chất, thì cũng không thể đơn giản giả định rằng mình hiểu được nó khi gán nó cho một hữu thể tối cao.
Vì vậy, Hume đưa những nhà triết học duy lý vào một khó khăn mà chính họ phải giải quyết. Nếu họ cho rằng vật chất không có năng lực tác động chỉ vì chúng ta không thể tìm thấy năng lực ấy trong vật chất, thì cùng một cách lập luận cũng phải được áp dụng cho Gót. Nhưng nếu họ cho rằng việc phủ nhận năng lực nơi Gót là phi lý hoặc xúc phạm tôn giáo, thì cách tránh khỏi kết luận đó là thừa nhận rằng ngay từ đầu chúng ta chưa bao giờ có một ý niệm đầy đủ về năng lực nhân quả như một phẩm tính nằm trong sự vật — dù đó là vật chất hay tinh thần, hữu thể thấp hơn hay hữu thể tối cao.
Sự khéo léo của Hume nằm ở chỗ ông không trực tiếp tấn công thần học. Ông chỉ yêu cầu những người bảo vệ quan điểm thần học phải nhất quán với chính nguyên tắc nhận thức luận mà họ dùng. Ông không phủ nhận Gót; ông chỉ cho thấy rằng việc viện dẫn đến Gót không thể giải thích được nguồn gốc của ý niệm về “năng lực tác động”, bởi vì chính ý niệm ấy vẫn chưa được chứng minh có một nền tảng trong kinh nghiệm.
Đây là phương cách lập luận đặc trưng của Hume: thay vì trực tiếp bác bỏ một kết luận, ông xem xét những nguyên tắc được dùng để bảo vệ kết luận ấy và chỉ ra rằng, nếu áp dụng nhất quán, chính những nguyên tắc đó lại dẫn đến những khó khăn mà người dùng chúng không mong muốn.
[15] Hume và sự phủ nhận ý niệm truyền thống về năng lực nhân quả: Trong những đoạn này, Hume tiếp tục đẩy lập luận của mình đi xa hơn. Ông không chỉ chỉ ra rằng chúng ta không thể tìm thấy một năng lực nhân quả nào nằm trong bản thân những vật thể bên ngoài, mà còn xem xét khả năng cho rằng năng lực ấy có thể được tìm thấy trong chính hoạt động của não thức con người. Một số triết gia cho rằng chúng ta có một kinh nghiệm trực tiếp về năng lực qua ý chí của mình: chúng ta muốn cử động tay, và cánh tay chuyển động; chúng ta quyết định suy nghĩ về một điều gì đó, và tư tưởng xuất hiện. Vì vậy, có vẻ như chính trong nội tâm chúng ta, ta cảm nhận được một sức mạnh khiến nguyên nhân tạo ra kết quả.
Tuy nhiên, Hume cho thấy ngay cả trường hợp này cũng không cung cấp cho chúng ta một ý niệm rõ ràng về năng lực nhân quả. Khi quan sát quan hệ giữa ý chí và chuyển động của thân thể, chúng ta cũng chỉ nhận thấy sự nối tiếp thường xuyên giữa hai sự kiện: một hành vi ý chí xuất hiện, rồi một chuyển động xảy ra. Chúng ta không nhận thức được một “sức mạnh” nào của ý chí đang truyền sang thân thể, cũng không thấy được một nguyên lý bí mật khiến kết quả tất yếu phát sinh từ nguyên nhân. Hoạt động của não thức, xét về phương diện này, cũng giống như những hiện tượng vật chất: điều chúng ta kinh nghiệm chỉ là sự kết hợp thường xuyên, chứ không phải một năng lực tất yếu có thể được tri giác trực tiếp.
Từ đó, Hume đi đến một kết luận mạnh hơn: chúng ta không sở hữu một ý niệm kinh nghiệm về “năng lực” theo nghĩa truyền thống — tức một sức mạnh nội tại nằm trong sự vật và khiến nguyên nhân tất yếu sản sinh ra kết quả. Nếu không thể chỉ ra một ấn tượng cụ thể nào tạo ra ý niệm về năng lực ấy, thì theo nguyên tắc cơ bản của kinh nghiệm luận, chúng ta không có quyền khẳng định rằng mình thật sự có một ý niệm như vậy.
Đây là bước quan trọng trong dự án triết học của Hume. Ông không phủ nhận rằng những sự vật có quan hệ nhân quả, cũng không phủ nhận rằng những hiện tượng xảy ra theo những quy luật ổn định. Điều ông phủ nhận là cách hiểu truyền thống cho rằng giữa nguyên nhân và kết quả tồn tại một “sợi dây liên kết tất yếu” như một phẩm tính khách quan nằm sẵn trong bản thân sự vật và có thể được nhận biết bằng trí tuệ hay giác quan.
Phân tích này chuẩn bị trực tiếp cho kết luận nổi tiếng của Hume về sự kết nối tất yếu (necessary connexion): cái mà chúng ta gọi là tính tất yếu trong quan hệ nhân quả không phải là một thực tại được tìm thấy trong những đối tượng, mà là một cảm giác xác định của chính não thức, được hình thành khi thói quen khiến chúng ta chuyển từ việc quan sát một loại sự kiện sang chờ đợi một loại sự kiện khác.
[16] Sự chuyển hướng của Hume: từ năng lực nhân quả trong sự vật sang sự xác định của não thức: Đây là một đoạn có vai trò then chốt trong toàn bộ lập luận của Hume. Sau khi lần lượt bác bỏ những cách giải thích truyền thống về “năng lực” (power), “hiệu lực” (efficacy) hay “sức tác động” (agency) của nguyên nhân — dù được đặt trong vật chất, trong mô thể bản thể, trong những phẩm chất ẩn giấu, hay thậm chí trong Thượng đế — Hume không dừng lại ở kết luận tiêu cực rằng con người không thể tìm thấy một năng lực nhân quả như một phẩm tính khách quan nằm trong sự vật. Ông tiếp tục đặt ra câu hỏi quan trọng hơn: nếu chúng ta không tri giác được năng lực ấy trong bản thân những đối tượng, thì tại sao con người vẫn có ý niệm về năng lực, về sức mạnh nhân quả và về sự kết nối tất yếu giữa nguyên nhân và kết quả?
Câu trả lời của Hume là: ý niệm về năng lực không xuất phát từ việc quan sát một trường hợp đơn lẻ. Khi nhìn một sự kiện riêng biệt — chẳng hạn một viên đá va vào viên đá khác, hay ngọn lửa tiếp xúc với một vật dễ cháy — chúng ta chỉ nhận thấy sự hiện diện của những sự vật và sự kế tiếp giữa những sự kiện; chúng ta không nhận thấy một “sức mạnh bí mật” nào khiến kết quả phải xuất hiện từ nguyên nhân.
Tuy nhiên, khi nhiều trường hợp tương tự được lập lại, một điều mới xuất hiện: não thức hình thành một khuynh hướng chuyển từ ý niệm về một sự kiện sang ý niệm về sự kiện thường đi kèm với nó. Chính sự thay đổi này trong hoạt động của não thức — chứ không phải một phẩm tính mới được tìm thấy trong bản thân đối tượng — là nguồn gốc của ý niệm về năng lực và sự kết nối.
Điểm tinh tế trong lập luận của Hume là ông không cho rằng sự lập lại tự nó tạo ra một ý niệm mới. Theo nguyên tắc nền tảng của ông, mọi ý niệm đều phải bắt nguồn từ một ấn tượng. Vì vậy, nếu ý niệm về năng lực không xuất hiện trong bất kỳ trường hợp riêng lẻ nào, thì nó phải bắt nguồn từ một hiệu quả đặc biệt do sự lập lại tạo ra trong chính chủ thể nhận thức. Sự lập lại không thêm một phẩm tính mới vào những sự vật; nó làm thay đổi cách não thức liên hệ những ý niệm với nhau.
Do đó, Hume chuyển vị trí của vấn đề nhân quả: “năng lực” không còn được hiểu như một thực thể hay sức mạnh ẩn giấu nằm bên trong nguyên nhân, mà như một kết quả của cách não thức vận hành trước kinh nghiệm lập lại. Điều mà chúng ta gọi là “sự kết nối tất yếu” không phải là một mối liên hệ mà giác quan tìm thấy được trong thế giới bên ngoài, mà là cảm giác xác định xuất hiện trong não thức khi thói quen khiến chúng ta mong đợi một sự kiện sẽ tiếp nối một sự kiện khác.
Đây chính là bước chuẩn bị trực tiếp cho kết luận nổi tiếng của Hume: sự tất yếu trong quan hệ nhân quả không nằm trong những đối tượng, mà nằm trong sự xác định của não thức do thói quen tạo ra.
[17] Sự lập lại của kinh nghiệm và nguồn gốc của ý niệm về năng lực nhân quả: Đoạn này đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong lập luận của Hume. Ông vừa thừa nhận vừa giới hạn vai trò của kinh nghiệm lập lại. Sự lập lại của những trường hợp nhân quả tương tự quả thật là điều kiện khiến chúng ta hình thành ý niệm về năng lực và tính tất yếu; nhưng bản thân sự lập lại ấy không làm xuất hiện thêm bất kỳ phẩm tính mới nào trong những sự vật.
Chẳng hạn, khi quan sát một quả bi-a chuyển động sau khi bị một quả bi-a khác tác động, chúng ta chỉ thấy một sự kiện xảy ra tiếp sau một sự kiện khác: một quả bi-a đang chuyển động, tiếp xúc với quả kia, rồi quả kia bắt đầu chuyển động. Việc quan sát hàng trăm hay hàng nghìn trường hợp tương tự không làm cho những trường hợp sau có thêm một “sức mạnh” mà những trường hợp trước không có. Mỗi trường hợp xảy ra trong một thời điểm và hoàn cảnh riêng biệt; những trường hợp ấy không tác động lẫn nhau, cũng không truyền cho nhau bất kỳ năng lực nhân quả nào.
Vì vậy, nếu ý niệm về năng lực không xuất hiện trong một trường hợp riêng lẻ, và cũng không được tạo ra trong chính những đối tượng bên ngoài bởi sự lập lại, thì nguồn gốc của nó phải được tìm thấy ở một nơi khác. Theo Hume, điều mới xuất hiện không nằm trong bản thân sự vật, mà nằm trong chủ thể quan sát: sự lập lại của những trường hợp tương tự tạo ra trong não thức một khuynh hướng chuyển từ ý niệm về một sự kiện sang ý niệm về sự kiện thường đi kèm với nó.
Đây là bước chuẩn bị trực tiếp cho kết luận trung tâm của Hume: ý niệm về tính tất yếu không bắt nguồn từ việc chúng ta nhìn thấy một sức mạnh ẩn giấu trong nguyên nhân, mà từ một sự biến đổi trong chính hoạt động của não thức do thói quen tạo ra. Cái mà chúng ta gọi là “sự kết nối tất yếu” không phải là một mối liên hệ bí mật được tìm thấy trong bản thân những đối tượng, mà là sự xác định của khả năng suy nghĩ khi kinh nghiệm lập lại khiến chúng ta tự nhiên mong đợi một sự kiện này sẽ tiếp nối một sự kiện khác.
[18] Kết luận trung tâm của Hume về "sự kết nối tất yếu": Đây là đoạn then chốt trong toàn bộ phân tích nhân quả của Hume, nơi ông đưa ra lời giải thích tích cực sau khi đã phá bỏ quan niệm truyền thống về một “năng lực nhân quả” nằm trong sự vật.
Hume bắt đầu bằng một phân biệt rất quan trọng: sự lập lại của những trường hợp giống nhau không tạo ra bất kỳ thay đổi nào trong bản thân những đối tượng. Một viên bi-a hôm nay không chứa thêm một năng lực nào mà viên bi-a một năm trước không có; cú va chạm hiện tại không nhận được một “sức mạnh” từ những cú va chạm trước đó. Vì vậy, sự tất yếu không thể là một phẩm tính khách quan được thêm vào thế giới bên ngoài nhờ sự lập lại.
Tuy nhiên, sự lập lại lại tạo ra một điều mới — không phải trong sự vật, mà trong não thức. Khi đã nhiều lần chứng kiến một loại nguyên nhân luôn đi kèm với một loại kết quả, não thức hình thành một khuynh hướng tự nhiên chuyển từ ý niệm về nguyên nhân sang ý niệm về kết quả. Chính sự chuyển tiếp có tính thói quen này là “ấn tượng mới” mà Hume tìm kiếm.
Do đó, Hume thực hiện một sự đảo chiều quan trọng: cái mà triết học truyền thống gọi là “năng lực” hay “sự kết nối tất yếu” giữa nguyên nhân và kết quả không phải là một mối liên hệ bí mật nằm trong những đối tượng, mà là một trạng thái hoạt động của chủ thể nhận thức. Khi nói “A tất yếu gây ra B”, chúng ta không diễn tả việc nhìn thấy một sức mạnh ẩn giấu trong A; chúng ta diễn tả sự xác định của chính não thức rằng, sau kinh nghiệm lập lại, nó không thể không chuyển từ ý niệm về A sang mong đợi B.
Điểm này cũng giải thích tại sao Hume nói rằng sự kết nối tất yếu và sự chuyển tiếp của tư tưởng là cùng một điều. Quan hệ nhân quả không có thêm một yếu tố thứ ba nào nằm giữa nguyên nhân và kết quả. “Tính tất yếu” chính là cách não thức vận hành khi kinh nghiệm đã tạo thành thói quen.
Vì vậy, kết luận cuối cùng của Hume không phải là phủ nhận nhân quả, mà là thay đổi địa vị của nó: nhân quả vẫn tồn tại như một quy luật của kinh nghiệm và là nền tảng của suy luận đời thường; nhưng “tính tất yếu” trong nhân quả không phải là một quyền năng siêu hình của sự vật, mà là một sự xác định của não thức được hình thành từ thói quen. Đây chính là luận điểm nổi tiếng mà Hume dùng để giải quyết vấn đề về nguồn gốc của ý niệm “kết nối tất yếu”.
[19] Trong đoạn này, Hume dùng the understanding để chỉ năng lực nhận thức của con người trong hoạt động xem xét, so sánh và nhận ra quan hệ giữa những ý niệm. Cách lập luận của ông dựa trên một phép loại suy quan trọng với toán học. Tính tất yếu khiến “hai lần hai bằng bốn” hay “ba góc của một tam giác bằng hai góc vuông” không phải là một sức mạnh nằm trong bản thân những con số hay hình dạng hình học, mà xuất phát từ hoạt động của năng lực nhận thức khi ta thấy được quan hệ không thể tách rời giữa những ý niệm ấy.
Theo cùng một cách, trong quan hệ nhân quả, Hume cho rằng cái gọi là “tính tất yếu” không phải là một năng lực ẩn giấu tồn tại trong bản thân những sự vật, mà là sự xác định của não thức khi kinh nghiệm lập lại khiến chúng ta chuyển từ ý niệm về một sự kiện sang ý niệm về sự kiện thường đi kèm với nó. Nói cách khác, chúng ta không nhìn thấy một sức mạnh nối nguyên nhân với kết quả trong những đối tượng; điều chúng ta cảm nhận được là khuynh hướng của chính khả năng suy nghĩ khi đã quen với sự kết hợp thường xuyên giữa chúng.
Ở câu cuối, Hume dùng từ soul theo nghĩa chủ thể tinh thần hay đời sống nội tâm của con người, chứ không nhằm khẳng định một thực thể linh hồn siêu hình. Điểm ông muốn nhấn mạnh là “năng lực thực sự” của nguyên nhân — tức cái mà chúng ta gọi là sự kết nối tất yếu — không phải là một phẩm tính khách quan được tìm thấy trong sự vật, mà là một hoạt động của chủ thể nhận thức khi nó tổng hợp và ghi nhận những trường hợp kinh nghiệm đã lập lại. Chính trong sự vận hành của não thức trước kinh nghiệm, chứ không phải trong một sức mạnh ẩn giấu của thế giới bên ngoài, mà ý niệm về năng lực và tính tất yếu được hình thành.
[20] Bước hoàn tất cuộc “đảo chiều” của Hume về năng lực nhân quả: Đây là điểm cao trào trong phân tích nhân quả của Hume. Sau khi chứng minh rằng không thể tìm thấy một “năng lực sản sinh” nào nằm trong bản thân những sự vật, Hume đưa ra kết luận tích cực: năng lực nhân quả thực sự mà chúng ta kinh nghiệm không phải là một phẩm tính của đối tượng, mà là một hoạt động của não thức khi nó liên kết những tri giác theo thói quen.
Hume dùng một phép so sánh quan trọng với tính tất yếu trong toán học. Khi nói rằng hai lần hai bằng bốn, tính tất yếu không nằm trong bản thân những con số như một sức mạnh vật lý nào đó; nó nằm trong hoạt động của trí tuệ khi chúng ta hiểu và so sánh những ý niệm. Tương tự, khi nói rằng lửa tất yếu làm nóng nước, tính tất yếu không phải là một lực vô hình mà chúng ta nhìn thấy trong lửa; nó nằm trong sự xác định của não thức khiến chúng ta chuyển từ ý niệm về lửa sang sự mong đợi về nhiệt.
Điểm đặc biệt táo bạo của Hume nằm ở câu: “năng lực và tính tất yếu là những phẩm tính của những tri giác, chứ không phải của những đối tượng.” Điều này không có nghĩa rằng thế giới bên ngoài chỉ là ảo tưởng hay rằng nhân quả không tồn tại. Hume không phủ nhận trật tự nhân quả của tự nhiên. Điều ông phủ nhận là cách giải thích siêu hình cho rằng giữa nguyên nhân và kết quả tồn tại một “sức mạnh bí mật” có thể được nhận biết như một đặc tính khách quan của sự vật.
Theo Hume, cái chúng ta thực sự quan sát được chỉ là sự kết hợp thường xuyên (constant conjunction): một loại sự kiện thường xuyên xuất hiện sau một loại sự kiện khác. Khi sự kết hợp này được lập lại đủ nhiều lần, não thức hình thành một khuynh hướng tự nhiên chuyển từ ý niệm này sang ý niệm kia. Chính sự chuyển tiếp có tính thói quen đó tạo ra cảm giác về tính tất yếu.
Đoạn T 1.3.14.25 giải thích tại sao con người dễ hiểu sai điểm này. Theo Hume, não thức có một khuynh hướng tự nhiên “chiếu ra ngoài” những cảm giác và hoạt động bên trong của chính nó, rồi gán chúng cho những sự vật bên ngoài. Chúng ta thường gán màu sắc, âm thanh, mùi vị cho bản thân sự vật, trong khi thực tế đó là những tri giác xuất hiện trong quan hệ giữa đối tượng và chủ thể nhận thức. Tương tự, chúng ta cũng gán “năng lực” và “tính tất yếu” cho những đối tượng, trong khi chúng thực sự phát sinh từ cách não thức vận hành.
Vì vậy, Hume không đơn giản phủ nhận quan niệm truyền thống về nhân quả; ông thực hiện một cuộc đảo chiều vị trí của tính tất yếu: từ thế giới bên ngoài → vào hoạt động của chủ thể nhận thức. Đây là bước chuẩn bị cuối cùng để ông đưa ra định nghĩa hoàn chỉnh: sự kết nối tất yếu không phải là một mối liên hệ được khám phá trong những đối tượng, mà là một cảm giác xác định trong não thức khi thói quen khiến chúng ta chuyển từ nguyên nhân sang kết quả.
[21] Ở đây Hume cố ý trình bày phản ứng tự nhiên của người đọc trước quan điểm của ông. Người phản đối sẽ cho rằng: nếu “năng lực” hay “hiệu lực” của nguyên nhân nằm trong sự xác định của não thức, thì chẳng phải Hume đã biến những sự vật bên ngoài thành phụ thuộc vào tư tưởng con người hay sao? Hume để phản đối này xuất hiện rõ ràng, bởi ông biết đây là điểm gây nghịch lý nhất trong lập luận của mình.
Tuy nhiên, điều Hume muốn nói không phải là những nguyên nhân cần có một não thức quan sát thì mới hoạt động. Ông thừa nhận những quá trình tự nhiên diễn ra độc lập với khả năng suy nghĩ con người. Điều ông phủ nhận là: từ việc những sự kiện nối tiếp nhau trong tự nhiên, chúng ta có thể nhìn thấy một “năng lực tất yếu” nằm trong bản thân những sự vật. Cái nằm trong não thức không phải là hoạt động của nguyên nhân, mà là ý niệm về sự kết nối tất yếu giữa nguyên nhân và kết quả
[22] Ở đây Hume rất cẩn thận tránh một sự hiểu lầm quan trọng. Ông không phủ nhận rằng những sự vật trong tự nhiên thực sự tác động qua lại với nhau, cũng không cho rằng hoạt động của những nguyên nhân phụ thuộc vào sự hiện diện của một não thức quan sát. Các sự kiện vẫn diễn ra theo những trật tự nhất định, bất kể con người có nhận biết hay suy nghĩ về chúng hay không.
Điều Hume phủ nhận là một quan niệm mạnh hơn: cho rằng trong bản thân những sự vật có một năng lực nhân quả (causal power) — một sức mạnh hay hiệu lực khách quan mà nhờ đó nguyên nhân tất yếu sản sinh ra kết quả — và rằng con người có thể nhận biết trực tiếp năng lực ấy bằng lý trí hay kinh nghiệm.
Vì vậy, khi Hume nói rằng “năng lực” hay “tính tất yếu” nằm trong sự xác định của não thức (determination of the mind), ông không muốn nói rằng não thức tạo ra hoạt động của những sự vật, càng không phải rằng tự nhiên phụ thuộc vào khả năng suy nghĩ con người. Điều ông muốn nói là: cái mà chúng ta gọi là “sự kết nối tất yếu” không phải là một phẩm tính mà ta quan sát thấy trong những đối tượng, mà là cách thức não thức phản ứng trước sự kết hợp thường xuyên của những hiện tượng.
Các sự vật bên ngoài chỉ cung cấp cho chúng ta những quan hệ có thể quan sát được: chúng kế tiếp nhau, kề cận nhau, và những loại sự kiện giống nhau thường xuất hiện cùng nhau. Nhưng từ những quan sát ấy, não thức hình thành một khuynh hướng chuyển từ ý niệm về nguyên nhân sang ý niệm về kết quả. Chính sự chuyển tiếp quen thuộc này tạo nên cảm giác về sự tất yếu.
Do đó, Hume phân biệt rất rõ giữa trật tự khách quan của tự nhiên và ý niệm của con người về sự tất yếu trong trật tự ấy. Tự nhiên vẫn vận hành độc lập với chúng ta; nhưng cái gọi là “tính tất yếu nhân quả” mà chúng ta nhận thức được không phải là một sức mạnh ẩn giấu nằm trong sự vật. Nó là một hiệu quả của năng lực nhận thức, được hình thành qua kinh nghiệm lập lại và sự vận hành tự nhiên của não thức.
Chính sự phân biệt này cho phép Hume vừa tránh chủ nghĩa duy tâm cực đoan — tức quan điểm cho rằng thế giới chỉ tồn tại hay hoạt động nhờ khả năng suy nghĩ — vừa bác bỏ quan niệm siêu hình truyền thống rằng con người có thể khám phá một năng lực nhân quả nội tại hay một tính tất yếu duy lý nằm sẵn trong bản thân những đối tượng.
[23] Điểm tinh tế của Hume ở đây là ông phân biệt rất rõ hai tầng khác nhau: sự vận hành thực tế của tự nhiên và ý niệm của chúng ta về sự kết nối tất yếu trong vận hành ấy. Hume hoàn toàn thừa nhận rằng những sự vật tồn tại và tác động độc lập với não thức con người; ông không nói rằng suy nghĩ của chúng ta tạo ra những hiện tượng tự nhiên. Điều ông phủ nhận là việc chúng ta có thể quan sát trực tiếp một “năng lực tất yếu” nằm trong bản thân sự vật.
Cái mà kinh nghiệm thực sự cho thấy chỉ là sự kề cận và sự kế tiếp thường xuyên giữa những sự kiện. Còn “sự kết nối tất yếu” xuất hiện khi sự lập lại của những trường hợp tương tự tạo ra trong não thức một sự xác định khiến ta chuyển từ ý niệm về nguyên nhân sang ý niệm về kết quả. Vì vậy, tính tất yếu không thuộc về những đối tượng như một phẩm tính có thể quan sát được, mà thuộc về cách não thức vận hành khi kinh nghiệm đã tạo thành thói quen. Đây chính là điểm Hume chuẩn bị để đưa ra định nghĩa mới về quan hệ nhân quả.
[24] Kết luận của Hume về ý niệm nguyên nhân, sự kết nối tất yếu và sự chuyển đổi của tri thức thực nghiệm
Đây là phần kết luận then chốt của toàn bộ khảo sát về “ý niệm về sự kết nối tất yếu” (the idea of necessary connexion) trong Treatise of Human Nature (T 1.3.14). Sau khi lần lượt xem xét và bác bỏ những cách giải thích truyền thống về năng lực nhân quả — từ mô thể bản thể (substantial form), những phẩm chất của vật chất, những năng lực ẩn giấu (secret forces), cho đến việc quy năng lực ấy về Thượng đế hoặc về chính tâm trí — Hume giờ đây tổng hợp toàn bộ lập luận để đưa ra một cách hiểu mới về bản chất của nguyên nhân và tất yếu.
Điểm chuyển đổi quan trọng nhất trong lập luận của Hume là ông không phủ nhận rằng thế giới tự nhiên có trật tự, rằng những sự kiện có những quan hệ ổn định, hay rằng con người có thể dự đoán những hiện tượng tương lai dựa trên kinh nghiệm quá khứ. Điều ông phủ nhận là cách giải thích truyền thống cho rằng đằng sau những quan hệ ổn định ấy tồn tại một “năng lực bí mật” (secret force), một “hiệu lực” (efficacy) hay một sức mạnh sản sinh kết quả nằm trong chính bản thân sự vật, và rằng lý trí con người có thể nhận biết trực tiếp phẩm tính ấy.
Theo quan niệm triết học cổ điển, đặc biệt trong truyền thống Aristotle và triết học kinh viện, một nguyên nhân được hiểu như một thực tại tích cực chứa đựng một nguyên lý hoạt động. Một vật có thể tạo ra một hiệu quả nào đó bởi vì trong bản tính của nó có một năng lực tương ứng. Lửa làm nóng không chỉ vì chúng ta thường xuyên thấy lửa xuất hiện trước nhiệt, mà bởi vì trong bản chất của lửa có một năng lực sinh nhiệt. Một vật chuyển động tác động lên vật khác không chỉ vì hai hiện tượng thường đi kèm nhau, mà bởi vì giữa chúng có một mối liên hệ khách quan nối nguyên nhân với kết quả.
Hume cho rằng cách hiểu này vượt quá những gì kinh nghiệm thực sự cung cấp. Khi quan sát tự nhiên, chúng ta chỉ nhận thấy những sự kiện nối tiếp nhau theo một trật tự ổn định: lửa tiếp xúc với vật dễ cháy, sau đó xuất hiện sự nóng lên hoặc cháy; một viên bi va vào viên bi khác, sau đó viên bi thứ hai chuyển động; một hành động ý chí đi kèm với một vận động của cơ thể. Nhưng trong tất cả những trường hợp đó, chúng ta không bao giờ trực tiếp tri giác một “sức mạnh sản sinh” nào truyền từ nguyên nhân sang kết quả. Không có một ấn tượng cảm giác nào tương ứng với một năng lực nhân quả như một phẩm tính nằm bên trong sự vật.
Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là Hume phủ nhận hiện tượng nhân quả trong tự nhiên. Ông không nói rằng lửa không làm nóng, rằng va chạm không gây ra chuyển động, hay rằng những sự kiện không có quan hệ với nhau. Điều ông phủ nhận là một cách giải thích siêu hình về những quan hệ ấy: giả định rằng chúng ta có thể tìm thấy trong bản thân sự vật một nguyên lý tất yếu khiến kết quả phải xảy ra.
Sự phân biệt này là trung tâm trong triết học nhân quả của Hume. Ông không phủ nhận sự kết hợp thường xuyên giữa những hiện tượng(constant conjunction); ông phủ nhận việc biến sự kết hợp ấy thành bằng chứng cho một năng lực nội tại nằm trong đối tượng. Khi quan sát một trường hợp riêng lẻ, chúng ta chỉ thấy một sự kiện đi trước một sự kiện khác và kề cận với nó. Chúng ta không thấy một “sợi dây tất yếu” nối hai sự kiện ấy. Cái mà kinh nghiệm đem lại chỉ là sự lập lại của những trường hợp tương tự; còn ý niệm về sự kết nối tất yếu xuất hiện từ tác động của sự lập lại ấy lên chính não thức của chúng ta.
Vì vậy, Hume đưa ra một định nghĩa mới về nguyên nhân. Nguyên nhân không còn được hiểu như một vật chứa đựng một sức mạnh sản sinh kết quả, mà như một quan hệ trong đó một loại sự kiện thường xuyên đi trước và kề cận với một loại sự kiện khác; đồng thời sự kết hợp thường xuyên ấy tạo ra trong não thức một khuynh hướng chuyển từ ý niệm về cái này sang ý niệm về cái kia. “Năng lực” (power), “hiệu lực” (efficacy) và “tính tất yếu” (necessity) không phải là những phẩm tính được tìm thấy trong đối tượng, mà là những khái niệm phản ánh cách thức não thức vận hành khi kinh nghiệm đã hình thành một thói quen liên tưởng.
Đây chính là điểm làm thay đổi căn bản quan niệm về tri thức thực nghiệm. Theo cách hiểu truyền thống, khoa học được xem như một nỗ lực khám phá những nguyên lý thực sự nằm bên dưới những hiện tượng: tìm ra bản chất của lửa, bản chất của chuyển động, hay những lực lượng ẩn giấu điều khiển tự nhiên. Nhưng theo Hume, kinh nghiệm không cho phép chúng ta đi xa đến mức đó. Kinh nghiệm cho chúng ta biết rằng những hiện tượng nhất định thường xuất hiện cùng nhau trong những điều kiện nhất định; nó không cho chúng ta thấy cơ chế bản thể sâu xa khiến chúng phải nối tiếp nhau như vậy.
Từ đây nảy sinh vấn đề căn bản đối với lập luận quy nạp. Khoa học thực nghiệm luôn dựa trên một bước chuyển từ cái đã quan sát sang cái chưa quan sát: từ những trường hợp trong quá khứ sang những dự đoán về tương lai. Chúng ta tin rằng mặt trời sẽ mọc ngày mai bởi vì nó đã mọc trong vô số ngày trước đó. Chúng ta tin rằng một loại thuốc sẽ tiếp tục có hiệu quả bởi vì nó đã có hiệu quả trong nhiều thử nghiệm trước đây.
Nhưng Hume chỉ ra rằng bước chuyển này không thể được biện minh bằng lý trí diễn dịch. Không có mâu thuẫn logic nào trong việc tưởng tượng rằng một quy luật tự nhiên có thể thay đổi trong tương lai. Việc mặt trời đã mọc mỗi ngày trong quá khứ không chứa đựng một sự bảo đảm tuyệt đối rằng nó nhất định phải mọc vào ngày mai.
Nó cũng không thể được chứng minh bằng kinh nghiệm, bởi vì mọi nỗ lực dùng kinh nghiệm để chứng minh tính đồng nhất của tự nhiên đều đã giả định chính nguyên tắc ấy. Nếu ta nói rằng:
“Thiên nhiên sẽ tiếp tục giống như quá khứ bởi vì trong quá khứ thiên nhiên luôn giống như vậy,”
thì ta đang sử dụng chính sự ổn định của quá khứ để chứng minh cho sự ổn định trong tương lai. Đây chính là vòng tròn mà Hume chỉ ra trong nền tảng của mọi suy luận quy nạp.
Tuy nhiên, kết luận của Hume không phải là một sự phủ nhận khoa học hay một chủ nghĩa hoài nghi tuyệt đối. Ông không cho rằng con người không thể có tri thức về thế giới. Điều ông muốn chứng minh là tri thức thực nghiệm có một nền tảng khác với điều những nhà triết học trước đó thường nghĩ. Khoa học không dựa trên việc nhận thức những tất yếu siêu hình trong bản thân tự nhiên; nó dựa trên kinh nghiệm, quan sát, sự tìm thấy những mô thức ổn định, và cơ chế tự nhiên của não thức trong việc hình thành niềm tin.
Theo Hume, khi một người quan sát nhiều lần cùng một quan hệ giữa những sự kiện, sự lập lại ấy không tạo ra một phẩm tính mới trong bản thân những đối tượng. Những lần va chạm khác nhau giữa những viên bi hoàn toàn độc lập với nhau; lần va chạm hôm nay không truyền thêm một năng lực nào cho lần va chạm ngày mai. Cái mới xuất hiện không nằm trong đối tượng, mà nằm trong người quan sát: não thức hình thành một khuynh hướng tự nhiên chuyển từ ý niệm về một sự kiện sang ý niệm về sự kiện thường đi kèm với nó.
Chính sự chuyển tiếp quen thuộc ấy là nguồn gốc của ý niệm về năng lực và tất yếu. Điều mà chúng ta gọi là “sự kết nối tất yếu giữa nguyên nhân và kết quả” không phải là một sức mạnh ẩn giấu trong thế giới bên ngoài, mà là sự xác định của tư tưởng được hình thành bởi thói quen khi kinh nghiệm lập lại.
Do đó, Hume thực hiện một sự đảo chiều căn bản trong triết học nhân quả. Câu hỏi truyền thống là:
“Có năng lực nào trong sự vật khiến kết quả tất yếu xảy ra?”
Hume thay đổi câu hỏi thành:
“Điều gì trong hoạt động của não thức khiến chúng ta hình thành ý niệm rằng có một năng lực nối nguyên nhân với kết quả?”
Sự thay đổi này là một trong những đóng góp lớn nhất của Hume đối với triết học hiện đại. Ông chuyển nhiệm vụ của triết học từ việc tìm kiếm những lực lượng ẩn giấu trong tự nhiên sang việc phân tích nguồn gốc và giới hạn của những khái niệm mà con người dùng để hiểu tự nhiên.
Theo nghĩa đó, Hume không phá hủy quan niệm khoa học về nhân quả; ông làm cho nó trở nên khiêm tốn và chính xác hơn. Ông buộc triết học phải từ bỏ giả định rằng con người có thể nhìn thấy những tất yếu nằm bên trong thế giới, và thay vào đó phải khảo sát cách thức mà kinh nghiệm, trí nhớ và thói quen của não thức tạo nên những niềm tin mà chúng ta gọi là tri thức về tự nhiên.
Đây chính là nền tảng của “vấn đề quy nạp” nổi tiếng của Hume: nếu mọi tri thức về thế giới đều bắt đầu từ kinh nghiệm, thì làm thế nào chúng ta có thể biện minh cho việc vượt khỏi những gì đã quan sát để khẳng định điều chưa từng được quan sát? Câu hỏi này không chỉ giới hạn trong triết học của Hume, mà trở thành một trong những vấn đề trung tâm của triết học khoa học hiện đại.
[25] Giới hạn của ý niệm về năng lực nơi Gót: Trong chú thích này, Hume đưa ra một sự phân biệt tinh tế nhằm trả lời một vấn đề có thể nảy sinh từ lập luận của ông về ý niệm về năng lực (power) và hiệu lực (efficacy). Nếu con người không thể hình thành một ý niệm rõ ràng về “năng lực nhân quả” ngay cả trong thế giới tự nhiên — bởi chúng ta không bao giờ tri giác được một sức mạnh ẩn giấu khiến nguyên nhân tất yếu sản sinh ra kết quả — thì liệu điều này có làm suy yếu ý niệm về quyền năng của Gót hay nền tảng của tôn giáo hay không?
Câu trả lời của Hume là không. Ông thừa nhận rằng những ý niệm của chúng ta về Gót cũng mang cùng một giới hạn nhận thức: chúng ta không có một ý niệm trực tiếp, đầy đủ và phân biệt về bản chất của năng lực tối cao hay về cách thức mà ý chí thần linh tác động lên thế giới. Tuy nhiên, theo Hume, sự thiếu vắng một ý niệm như vậy không làm mất đi nền tảng của tôn giáo. Điều cần thiết để hình thành ý niệm về một Gót toàn năng không phải là hiểu được cơ chế bên trong của quyền năng ấy, mà chỉ là nhận ra một trật tự phổ quát của tự nhiên, trong đó mọi sự vật đều vận hành theo những quy luật ổn định và không có gì tồn tại bên ngoài sự chi phối của nguyên tắc tối cao ấy.
Ẩn ý quan trọng ở đây là Hume chuyển vấn đề từ bản chất của năng lực sang phạm vi của sự biểu hiện và tác động của năng lực. Chúng ta không biết “Gót bằng cách nào” khiến mọi sự vật tuân theo ý chí của Ngài; chúng ta chỉ có thể nói rằng trật tự của vũ trụ cho thấy có một nguyên tắc tối cao mà mọi hiện tượng đều nằm trong phạm vi chi phối của nó. Nói cách khác, từ góc nhìn của Hume, niềm tin vào một Đấng Tối Cao không đòi hỏi con người phải nắm bắt được một “cơ chế nhân quả siêu hình” đứng sau thế giới.
Điều này cũng cho thấy một sự nhất quán trong phương pháp duy nghiệm của Hume. Ông không dùng sự hoài nghi về khả năng nhận thức bản chất của năng lực để phủ nhận mọi khái niệm vượt khỏi kinh nghiệm trực tiếp; thay vào đó, ông giới hạn điều mà lý trí có thể tuyên bố. Chúng ta có thể nói về Gót dựa trên những dấu hiệu của trật tự, tính nhất quán và sự phụ thuộc của những hiện tượng; nhưng chúng ta không thể giả định rằng mình đã hiểu được bản thân “sức mạnh” nhờ đó trật tự ấy được duy trì.
Về mặt lập luận, chú thích này có hai chức năng. Thứ nhất, nó ngăn chặn một sự diễn giải sai rằng phân tích của Hume về nhân quả dẫn đến chủ nghĩa vô thần hay phủ nhận tôn giáo. Hume không nói rằng vì chúng ta không biết năng lực là gì nên không có năng lực; ông chỉ nói rằng ta không có một ý niệm rõ ràng về năng lực như một phẩm tính có thể được quan sát trong sự vật. Thứ hai, nó mở rộng nguyên tắc nhận thức luận của Hume sang lĩnh vực thần học: ngay cả đối với thực tại tối cao, con người cũng phải phân biệt giữa điều mình có lý do để tin và điều mình có thể hình dung một cách rõ ràng.
Tuy nhiên, chú thích này cũng bộc lộ một điểm căng thẳng trong triết học Hume. Một mặt, ông muốn duy trì rằng trật tự của vũ trụ cho phép chúng ta thừa nhận một “não thức toàn năng”; mặt khác, chính phân tích của ông về nhân quả đã làm suy yếu ý tưởng rằng từ trật tự ấy ta có thể suy ra một bản chất hay năng lực siêu hình đứng phía sau nó. Vì vậy, chú thích này không phải là một sự khẳng định đơn giản về thần học truyền thống, mà là một sự giới hạn hóa: nếu có một Gót, thì điều con người có thể biết về Ngài chỉ nằm trong phạm vi những gì kinh nghiệm và suy luận cho phép, chứ không phải trong việc hiểu được bản chất của quyền năng thần linh.
Nói cách khác, Hume chuyển câu hỏi từ:
“Gót có một năng lực như thế nào để tạo ra và điều khiển thế giới?” sang: “Con người có thể có một ý niệm rõ ràng đến mức nào về loại năng lực mà mình gán cho Gót?”
Chính sự chuyển đổi này phản ánh toàn bộ tinh thần của T 1.3.14: vấn đề trung tâm không phải là phủ nhận thực tại của những quan hệ trong thế giới, mà là khảo sát giới hạn của những ý niệm mà con người hình thành về những quan hệ ấy.
[26] Câu mở đầu của mục này là một hệ quả trực tiếp từ toàn bộ phân tích trước đó của Hume về ý niệm về sự kết nối tất yếu (the idea of necessary connexion). Sau khi chứng minh rằng chúng ta không bao giờ quan sát được một “năng lực nhân quả” hay một “hiệu lực” (efficacy) nằm trong bản thân những sự vật, Hume đi đến một kết luận có tính phương pháp luận: không có bất kỳ quan hệ nhân quả nào có thể được xác định chỉ bằng sự xem xét lý trí đối với bản thân những ý niệm hay đối tượng, trước khi có kinh nghiệm.
Vì không thể nhận biết một sức mạnh nội tại khiến một sự vật tất yếu sản sinh ra một kết quả nhất định, nên lý trí tự thân không thể cho chúng ta biết trước rằng sự vật nào phải là nguyên nhân của sự vật nào. Nếu chỉ dựa vào việc phân tích khái niệm, chúng ta không thể thấy có một sự mâu thuẫn nào trong việc hình dung rằng một hiện tượng có thể xảy ra mà không có hiện tượng mà trước đây ta vẫn quen xem là nguyên nhân của nó. Không có gì trong bản thân ý niệm về lửa buộc lý trí phải kết luận rằng lửa nhất thiết sinh ra nhiệt; không có gì trong ý niệm về một vật rơi khiến ta có thể tiên nghiệm suy ra quy luật vận động của nó; cũng không có gì trong ý niệm về ý chí cho phép ta trực tiếp nhận biết mối liên hệ tất yếu giữa một quyết định tinh thần và một vận động của cơ thể.
Điều này không có nghĩa là Hume phủ nhận sự tồn tại của những quan hệ nhân quả trong tự nhiên. Ông không cho rằng mọi thứ xảy ra một cách hỗn loạn hay rằng bất kỳ hiện tượng nào cũng thực sự có thể sinh ra bất kỳ hiện tượng nào khác. Điểm ông muốn nhấn mạnh là: khả năng nhận biết quan hệ nhân quả không đến từ sự phân tích lý tính về bản chất của sự vật, mà chỉ đến từ kinh nghiệm về cách những hiện tượng thực sự kết hợp với nhau trong quá trình quan sát.
Vì vậy, khi Hume viết rằng “bất cứ thứ gì cũng có thể tạo ra bất cứ thứ gì khác”, ông không đưa ra một khẳng định về thế giới tự nhiên, mà đưa ra một khẳng định về giới hạn của nhận thức con người. Trước khi có kinh nghiệm, lý trí không có cơ sở để loại trừ khả năng một sự kiện này có thể đi trước một sự kiện khác. Chỉ khi quan sát nhiều trường hợp tương tự lập lại, chúng ta mới hình thành ý niệm về quan hệ nhân quả thông qua sự kết hợp thường xuyên (constant conjunction) giữa những hiện tượng.
Theo nghĩa này, câu văn của Hume đánh dấu một bước chuyển quan trọng từ quan niệm duy lý truyền thống sang quan niệm duy nghiệm triệt để hơn. Thay vì cho rằng khoa học khám phá những “năng lực” hay “bản chất” ẩn giấu khiến sự vật vận hành như chúng vận hành, Hume cho rằng khoa học trước hết khảo sát những mô thức ổn định của kinh nghiệm. Quan hệ nhân quả không phải là điều lý trí nhìn thấy trong bản thân sự vật trước kinh nghiệm; nó là một khái niệm được hình thành khi não thức con người nhận thấy những sự kiện tương tự thường xuyên đi kèm nhau và từ đó phát triển một khuynh hướng dự đoán sự kiện này sau sự kiện kia.
Do đó, nguyên tắc nền tảng của phương pháp duy nghiệm Hume có thể được tóm tắt như sau: mọi tri thức về nguyên nhân và kết quả đều bắt nguồn từ kinh nghiệm; lý trí chỉ có thể phân tích và sắp xếp những gì kinh nghiệm cung cấp, chứ không thể tự mình khám phá ra những mối nối tất yếu vượt khỏi kinh nghiệm. Đây chính là điểm khởi đầu cho những phân tích tiếp theo của Hume về những quy tắc phán đoán nguyên nhân và kết quả, cũng như cho toàn bộ vấn đề quy nạp trong triết học khoa học hiện đại.
[27] Touchstone: “Đá thử vàng” là một hòn đá đặc biệt (thường là đá silic đen) được dùng trong nghề kim hoàn để thử và xác định độ tinh khiết của vàng bằng cách cọ kim loại lên bề mặt đá. Theo nghĩa ẩn dụ, “đá thử vàng” chỉ một tiêu chuẩn hoặc phép thử có khả năng bộc lộ giá trị, tính đúng đắn hay sự vững chắc của một điều gì đó.
Trong đoạn này, Hume nói rằng học thuyết về khả năng suy luận của động vật là một “đá thử vàng” (touchstone) để kiểm tra mọi hệ thống triết học về bản chất của não thức. Một học thuyết đúng đắn về suy luận phải có thể giải thích được cả hoạt động nhận thức của con người lẫn của động vật; nếu nó chỉ giải thích được con người bằng những năng lực quá tinh vi mà động vật không thể có, thì chính sự phức tạp ấy cho thấy sự thiếu chính xác của hệ thống đó.
[28] Chú thích dẫn giải: Hume bàn về lý trí của động vật và ý hướng của lập luận: Trong Mục XVI – “Về suy luận của động vật” (Of the reason of animals), Hume không đưa vấn đề động vật vào chỉ như một khảo sát riêng về hành vi của loài vật, mà sử dụng nó như một phép thử quyết định đối với toàn bộ lý thuyết của ông về bản chất của suy luận và sự tin tưởng.
Luận điểm chính của Hume có thể tóm lược như sau:
- Động vật cũng có khả năng suy luận theo kinh nghiệm
Hume bắt đầu từ một nhận xét hiển nhiên: động vật thực hiện nhiều hành động có mục đích giống con người. Con chó tránh lửa, tránh vực thẳm, nhận biết sự giận dữ của chủ qua giọng nói; chim lựa chọn nơi làm tổ, vật liệu làm tổ và thời điểm ấp trứng một cách thích hợp. Những hành động ấy không thể được giải thích đơn giản như những chuyển động cơ học ngẫu nhiên.
Từ sự tương tự giữa hành vi bên ngoài của động vật và con người, Hume cho rằng chúng ta có lý do để kết luận rằng những hoạt động bên trong của chúng cũng có sự tương tự với con người.
- Động vật không suy luận bằng lý thuyết trừu tượng mà bằng kinh nghiệm và thói quen
Hume đặc biệt nhấn mạnh rằng suy luận của động vật có cùng nền tảng với suy luận của con người: chúng dựa trên kinh nghiệm về sự kết hợp thường xuyên giữa các sự kiện.
Con chó không biết một cách tiên nghiệm rằng một dấu hiệu nào đó sẽ dẫn đến hình phạt; nó học điều ấy qua những lần trải nghiệm trước đó. Khi sự kết hợp giữa dấu hiệu và hình phạt thay đổi, nó cũng thay đổi sự dự đoán của mình theo kinh nghiệm mới nhất.
Điều này cho thấy động vật không cần đến những lập luận trừu tượng hay những nguyên tắc diễn dịch để hình thành sự tin tưởng; chúng được dẫn dắt bởi thói quen (custom), tức nguyên lý tự nhiên khiến tâm trí chuyển từ một kinh nghiệm đã quen thuộc sang một kỳ vọng về điều chưa thấy.
- Động vật cung cấp một bằng chứng mạnh mẽ cho lý thuyết về sự tin tưởng của Hume
Ý hướng sâu xa của Hume là dùng trường hợp động vật để củng cố luận điểm trung tâm trong phần trước của Treatise: rằng những suy luận về nhân quả không phát sinh từ việc nhận ra một “liên hệ cần thiết” giữa các sự kiện, mà từ kinh nghiệm lặp lại và thói quen của não thức.
Đối với con người, người ta có thể cố gắng giải thích suy luận nhân quả bằng những năng lực cao cấp như lý trí, khái niệm hay nguyên tắc trừu tượng. Nhưng đối với động vật, những cách giải thích ấy trở nên không thể chấp nhận, bởi chúng vượt quá khả năng của loài vật. Nếu động vật vẫn có thể dự đoán, học hỏi và điều chỉnh hành vi dựa trên kinh nghiệm, thì nguyên lý giải thích phải là một nguyên lý đơn giản hơn và phổ quát hơn.
Vì vậy, động vật trở thành một phép thử chống lại những lý thuyết duy lý quá mức về lý trí con người. Nếu một học thuyết về suy luận chỉ có thể giải thích con người bằng những năng lực tinh vi mà động vật không thể có, thì theo Hume, chính sự tinh vi ấy là dấu hiệu cho thấy học thuyết đó có thể sai.
- Kết luận triết học của Hume
Điều Hume muốn chứng minh không phải là động vật “có lý trí” theo nghĩa chúng có khả năng suy luận trừu tượng như con người, mà là cơ chế nền tảng của sự suy luận dựa trên kinh nghiệm không thuộc riêng về con người.
Cả con người lẫn động vật đều được tự nhiên dẫn dắt từ kinh nghiệm quá khứ đến kỳ vọng về tương lai. Sự khác biệt giữa hai loài nằm ở mức độ phức tạp của hoạt động nhận thức, chứ không nằm ở nguyên lý căn bản tạo ra sự tin tưởng.
Do đó, việc Hume bàn về động vật trong mục này phục vụ một mục tiêu nhận thức luận rộng hơn: chứng minh rằng lý trí của con người, xét ở nền tảng của suy luận nhân quả, không phải là một năng lực siêu việt tách biệt khỏi tự nhiên, mà là một hình thức phát triển cao hơn của cùng những nguyên lý tự nhiên chi phối sự học hỏi và dự đoán ở mọi sinh vật có kinh nghiệm.
