Một Chuyên Luận Về Bản Chất Con Người
(A Treatise of Human
Nature)
David Hume
QUYỂN I - PHẦN III.
Về tri thức và xác suất.
MỤC. VIII.
Về Những Nguyên Nhân
Của Sự Tin Tưởng
T 1.3.8.1, SBN 98
Sau khi đã giải thích
bản chất của sự tin tưởng, và cho thấy rằng nó là một ý niệm sống động gắn với
một ấn tượng hiện tại, bây giờ chúng ta cần tìm xem nó phát sinh từ những
nguyên tắc nào, và điều gì làm cho ý niệm trở nên sống động.
T 1.3.8.2, SBN 98–9
Tôi muốn đặt làm một
nguyên tắc tổng quát trong nghiên cứu về bản chất con người rằng: khi một ấn tượng
hiện diện trước não thức, nó không chỉ dẫn dắt não thức đi tới những ý niệm có
liên hệ với nó, mà còn truyền sang cho những ý niệm ấy một phần sức mạnh và độ
sống động của chính nó.
Mọi hoạt động của não
thức phụ thuộc rất nhiều vào trạng thái của nó khi nó hoạt động. Khi những
“tinh thần” (spirits) hưng phấn hơn hay kém hơn, và khi sự chú ý tập trung hơn
hay phân tán hơn, thì mọi hoạt động của não thức đều trở nên mạnh hơn hoặc yếu
hơn tương ứng.
Vì vậy, khi một đối
tượng làm cho suy nghĩ trở nên sinh động và rõ ràng hơn, mọi hoạt động mà não
thức thực hiện trong trạng thái đó cũng trở nên mạnh và sống động hơn, chừng
nào trạng thái ấy còn kéo dài.
Bây giờ có thể thấy
rõ rằng sự kéo dài của trạng thái này hoàn toàn phụ thuộc vào những đối tượng
mà não thức đang hướng tới. Một đối tượng mới thường kéo não thức sang một hướng
khác và làm thay đổi trạng thái hiện tại. Ngược lại, khi não thức giữ lâu một đối
tượng, hoặc chuyển từ đối tượng này sang đối tượng liên hệ một cách tự nhiên và
liên tục, thì trạng thái đó được duy trì lâu hơn.
Vì vậy, khi não thức
đã được làm sống động bởi một ấn tượng hiện tại, nó sẽ tự nhiên chuyển sang những
ý niệm có liên hệ và hình thành một ý niệm sống động hơn về chúng. Sự chuyển dịch
này diễn ra rất nhẹ và liên tục, đến mức não thức hầu như không nhận ra sự thay
đổi.
Do đó, não thức tiếp
nhận ý niệm liên hệ với toàn bộ sức mạnh và độ sống động mà nó vừa nhận được từ
ấn tượng hiện tại.[1]
T 1.3.8.3, SBN 99
Nếu khi xem xét bản
chất của quan hệ, và sự dễ dàng trong chuyển dịch vốn là đặc trưng của nó,
chúng ta có thể tự thỏa mãn về tính thực của hiện tượng này thì cũng tốt. Nhưng
tôi phải thú nhận rằng tôi đặt tin tưởng chủ yếu vào kinh nghiệm để chứng minh
một nguyên tắc quan trọng như vậy.
Do đó, chúng ta có thể
quan sát thí nghiệm đầu tiên cho mục đích hiện tại: khi nhìn thấy bức chân dung
của một người bạn vắng mặt, ý niệm của chúng ta về người đó rõ ràng được làm sống
động nhờ sự tương tự, và mọi cảm xúc mà ý niệm ấy gợi ra, dù vui hay buồn, đều
trở nên mạnh hơn và rõ hơn.
Để tạo ra hiệu quả
này, cần có cả sự tương quan và một ấn tượng hiện tại cùng tham gia. Nếu bức
tranh không giống người bạn, hoặc ít nhất không được làm với ý định đại diện
cho người đó, nó sẽ không dẫn ý nghĩ của chúng ta đến người ấy. Và nếu cả bức
tranh lẫn người bạn đều vắng mặt, thì dù não thức có thể đi từ ý nghĩ về cái
này sang cái kia, sự chuyển dịch đó không làm ý niệm trở nên sống động hơn, mà
ngược lại còn làm nó yếu đi.
Chúng ta thấy rằng
khi bức tranh đặt trước mắt, chúng ta cảm thấy thích thú khi nhìn nó. Nhưng khi
nó bị cất đi, chúng ta thường thích nghĩ trực tiếp về người bạn hơn là qua một
hình ảnh xa xôi và mờ nhạt như vậy.
T 1.3.8.4, SBN 99–100
Những nghi lễ của tôn
giáo Catỏ Rôma có thể được xem như một thí nghiệm cùng loại.
Những người tin theo
hệ thống tôn giáo này thường biện minh cho những nghi thức mà người khác xem là
hình thức rườm rà, rằng họ cảm thấy những hành động, tư thế và cử chỉ bên ngoài
này có tác dụng làm cho lòng tin trở nên sống động hơn và làm tăng nhiệt thành
tôn giáo của họ; nếu không có những yếu tố đó, lòng tin sẽ dễ suy yếu khi hướng
đến những đối tượng xa xôi và trừu tượng.
Họ nói rằng họ “đặt”
những đối tượng của lòng tin tôn giáo vào những hình ảnh và biểu tượng cảm
tính, và nhờ sự hiện diện trực tiếp của những biểu tượng đó, những đối tượng ấy
trở nên gần gũi hơn so với việc chỉ suy tưởng bằng trí tuệ.
Những đối tượng cảm
tính luôn có ảnh hưởng mạnh hơn đến trí tưởng tượng so với bất kỳ loại đối tượng
nào khác; và ảnh hưởng này dễ dàng truyền sang những ý niệm mà chúng có liên hệ
và tương tự.
Từ những thực hành và
lập luận đó, chúng ta có thể kết luận rằng tác dụng của sự tương tự trong việc
làm sống động ý niệm là rất phổ biến. Và vì trong mọi trường hợp, sự tương tự
luôn đi kèm với một ấn tượng hiện tại, chúng ta có đủ cơ sở kinh nghiệm để xác
nhận nguyên tắc đã nêu.
Lê Dọn Bàn tạm dịch
– bản nháp thứ hai
(Jun/2026)
(Còn tiếp... →)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1] Đoạn này là bước nối rất quan trọng trong lập luận của
Hume. Sau khi xác định rằng sự tin tưởng không thêm nội dung mới vào ý niệm, mà
chỉ làm tăng mức độ sống động của ý niệm, Hume bắt đầu giải thích nguồn gốc của
chính “độ sống động” đó. Ông đưa ra nguyên tắc: khi một ấn tượng hiện diện, nó
không chỉ làm cho não thức nghĩ đến những ý niệm có liên hệ, mà còn truyền sang
cho những ý niệm ấy một phần sức mạnh và độ sống động của nó. Điều này không phải
là một bước suy luận có ý thức, mà là một quá trình diễn ra trong vận hành tự
nhiên của não thức.Điểm then chốt nằm ở chỗ: sự chuyển từ ấn tượng sang ý niệm
liên hệ không diễn ra bằng lý trí hay chứng minh. Nó diễn ra do trạng thái quen
thuộc của não thức, tức là khi não thức đã nhiều lần đi theo cùng một hướng, nó
hình thành một “đường đi quen” trong cách vận hành của mình. Chính vì vậy, mỗi
khi một ấn tượng xuất hiện, não thức không đứng yên để phân tích, mà tự động
chuyển sang những ý niệm thường đi kèm với nó. Sự chuyển dịch này mang tính gần
như tự nhiên và không được nhận ra rõ ràng, nhưng nó có tác dụng quan trọng: nó
giữ lại và truyền tiếp “độ sống động” ban đầu sang ý niệm mới.
Đây chính là bước chuẩn
bị trực tiếp cho học thuyết tiếp theo của Hume về thói quen (custom or habit):
cái làm nền cho nhân quả không phải là một quan hệ tất yếu được lý trí chứng
minh, mà là sự lặp lại kinh nghiệm khiến não thức hình thành những đường chuyển
dịch ổn định giữa những ý niệm.
