(A Treatise of Human Nature)
David Hume
QUYỂN I - PHẦN III.
Về tri thức và xác suất.
MỤC I.
Về Tri Thức
T 1.3.1.1, SBN 69–70
Có bảy [15]
loại quan hệ triết học khác nhau, đó là: tương tự, đồng
nhất, những quan hệ về thời gian và nơi chốn, tỉ lệ về lượng hay số, những mức
độ của bất kỳ phẩm chất nào, sự đối lập và nhân quả.
Những quan hệ này có thể được chia thành hai loại: một loại
hoàn toàn phụ thuộc vào những ý niệm mà chúng ta đem ra so sánh với nhau; và một
loại có thể thay đổi mà không cần có bất kỳ sự thay đổi nào trong những ý niệm ấy.
Chính từ ý niệm về một tam giác mà chúng ta khám phá ra
quan hệ bằng nhau giữa ba góc của nó với hai góc vuông; và quan hệ ấy là bất biến,
chừng nào ý niệm của chúng ta vẫn còn như cũ.
Đồng nhất và nhân quả cũng vậy. Hai đối tượng, tuy hoàn toàn
tương tự nhau, và thậm chí còn xuất hiện ở cùng một nơi vào những thời điểm
khác nhau, vẫn có thể khác nhau về mặt số lượng. Và vì năng lực mà nhờ đó một đối
tượng tạo ra một đối tượng khác không bao giờ có thể được khám phá chỉ từ ý niệm
về chúng, nên rõ ràng nguyên nhân và kết quả là những quan hệ mà chúng ta
có được nhờ kinh nghiệm, chứ không phải nhờ bất kỳ sự suy luận trừu tượng hay sự
suy ngẫm nào.
Không có một hiện tượng nào, dù là đơn giản nhất, có thể
được giải thích từ những phẩm chất của những đối tượng như chúng xuất hiện trước
chúng ta; cũng không có hiện tượng nào mà chúng ta có thể biết trước nếu không
có sự trợ giúp của ký ức và kinh nghiệm.
T 1.3.1.2, SBN 70
Vì vậy, có thể thấy rằng trong số bảy quan hệ triết học ấy,
chỉ còn lại bốn quan hệ — do chỉ phụ thuộc vào những ý niệm — mới có thể là đối
tượng của tri thức và sự chắc chắn. Bốn quan hệ ấy là tương tự, sự đối lập,
những mức độ của phẩm chất, và những tỉ lệ về lượng hay số.
Ba trong số những quan hệ ấy có thể được nhận ra ngay từ
cái nhìn đầu tiên, và đúng ra thuộc phạm vi của trực giác hơn là của chứng
minh. Khi hai đối tượng tương tự nhau, quan hệ tương tự ấy lập tức tác động đến
mắt, hay đúng hơn là đến não thức; và hiếm khi cần phải xem xét lần thứ hai.
Trường hợp cũng như vậy đối với sự đối lập và những mức độ của bất kỳ phẩm chất
nào.
Không ai có thể nghi ngờ rằng sự tồn tại và sự không tồn
tại triệt tiêu lẫn nhau, và hoàn toàn không thể dung hòa, cũng như đối lập với
nhau. Và mặc dù không thể phán đoán chính xác về những mức độ của bất kỳ phẩm
chất nào — chẳng hạn như màu sắc, vị, nóng hay lạnh — khi sự khác biệt giữa
chúng rất nhỏ; nhưng khi sự khác biệt ấy đủ lớn, thì chúng ta dễ dàng quyết định
rằng cái này cao hơn hay thấp hơn cái kia.
Và sự phán đoán ấy luôn được chúng ta đưa ra ngay từ cái
nhìn đầu tiên, không cần bất kỳ sự khảo xét hay suy luận nào.
T 1.3.1.3, SBN 70
Chúng ta cũng có thể tiến hành theo cách như vậy khi xác
định những tỉ lệ về lượng hay số, và chỉ trong một cái
nhìn cũng có thể nhận ra sự lớn hơn hay nhỏ hơn giữa bất kỳ những con số hay
hình nào, nhất là khi sự khác biệt của chúng rất lớn và rõ rệt.
Còn đối với sự bằng nhau hay bất kỳ tỉ lệ chính xác nào,
thì chỉ bằng một lần xem xét, chúng ta chỉ có thể phỏng đoán mà thôi; ngoại trừ
trường hợp những con số rất nhỏ hoặc những phần rất giới hạn của độ mở rộng, vốn
được bao quát trong một khoảnh khắc, và trong đó chúng ta nhận thấy rằng hầu
như không thể mắc phải một sai lầm đáng kể nào.
Trong mọi trường hợp khác, chúng ta phải xác định những tỉ
lệ ấy với một mức độ linh hoạt nhất định, hoặc phải tiến hành theo một phương
pháp nhân tạo hơn.
T 1.3.1.4, SBN 70–71
Tôi đã nhận xét rằng hình học, hay nghệ thuật nhờ đó
chúng ta xác định những tỉ lệ của những hình, tuy vượt xa những phán đoán không
chính xác của giác quan và trí tưởng tượng, cả về tính tổng quát lẫn độ chính
xác, nhưng vẫn không bao giờ đạt tới sự chính xác tuyệt đối.
Những nguyên lý đầu tiên của nó vẫn được rút ra từ hình
thức tổng quát của những đối tượng; và hình thức ấy không bao giờ có thể đem lại
cho chúng ta sự bảo đảm khi chúng ta khảo sát mức độ nhỏ bé đến kinh ngạc mà tự
nhiên có thể đạt tới.
Những ý niệm của chúng ta dường như đem lại một sự bảo đảm
hoàn toàn rằng không có hai đường thẳng nào có thể có chung một đoạn thẳng.
Nhưng nếu xem xét những ý niệm ấy, chúng ta sẽ thấy rằng chúng luôn giả định
hai đường thẳng có một độ nghiêng có thể cảm nhận được; và khi góc mà chúng tạo
thành cực kỳ nhỏ, chúng ta không có một tiêu chuẩn nào về đường thẳng đủ chính
xác để bảo đảm cho chúng ta tính đúng đắn của mệnh đề ấy.
Hầu hết những phán đoán cơ bản của toán học cũng đều như
vậy.
T 1.3.1.5, SBN 71
Vì vậy, chỉ còn lại đại số và số học là những khoa học mà
trong đó chúng ta có thể theo đuổi một chuỗi suy luận đến bất kỳ mức độ phức tạp
nào mà vẫn giữ được sự chính xác và sự chắc chắn hoàn toàn.
Chúng ta có một tiêu chuẩn chính xác để phán đoán sự bằng
nhau và tỉ lệ của những con số; và tùy theo chúng có hay không phù hợp với tiêu
chuẩn ấy, chúng ta xác định những quan hệ của chúng mà không hề có khả năng mắc
sai lầm.
Khi hai con số được kết hợp theo cách mà mỗi đơn vị của
con số này luôn có một đơn vị tương ứng với mỗi đơn vị của con số kia, chúng ta
khẳng định rằng chúng bằng nhau. Và chính vì thiếu một tiêu chuẩn như thế về sự
bằng nhau trong độ mở rộng, nên hình học khó có thể được xem là một khoa học
hoàn hảo và không thể sai lầm.
T 1.3.1.6, SBN 71–72
Nhưng ở đây sẽ không thừa nếu tôi giải đáp trước một khó
khăn có thể nảy sinh từ việc tôi khẳng định rằng, dù hình học kém hơn về độ
chính xác và chắc chắn tuyệt đối — vốn đặc thù của số học và đại số — nhưng nó
vẫn vượt trội hơn những phán đoán không hoàn hảo của giác quan và trí tưởng tượng.
Lý do tôi gán cho hình học một khiếm khuyết nào đó là vì
những nguyên lý ban đầu và nền tảng của nó chỉ được rút ra từ những hình thức
hiện ra; và có lẽ người ta sẽ nghĩ rằng khiếm khuyết này luôn đi kèm với nó,
khiến nó không bao giờ đạt được mức độ chính xác lớn hơn trong việc so sánh những
đối tượng hay ý niệm so với mức mà mắt hay trí tưởng tượng có thể đạt tới.
Tôi thừa nhận rằng khiếm khuyết này đúng là đi kèm với
nó, đến mức khiến nó không bao giờ có thể đạt tới sự chắc chắn hoàn toàn. Nhưng
vì những nguyên lý nền tảng ấy dựa trên những hình thức hiện ra đơn giản nhất
và ít đánh lừa nhất, nên chúng mang lại cho những hệ quả của mình một mức độ
chính xác mà bản thân những hệ quả ấy, xét riêng, không thể có được.
Mắt không thể xác định rằng những góc của một hình đa
giác một nghìn cạnh [1] bằng 1996
góc vuông, cũng không thể đưa ra bất kỳ phỏng đoán nào gần với tỉ lệ ấy; nhưng
khi nó xác định rằng hai đường thẳng không thể cắt nhau, hay rằng chúng ta
không thể vẽ nhiều hơn một đường thẳng giữa hai điểm cho trước, thì những sai lầm
của nó không bao giờ có hậu quả đáng kể.
Và đó chính là bản chất và công dụng của hình học: đưa
chúng ta trở về những hình thức đơn giản nhất, vốn vì tính đơn giản của chúng,
không thể dẫn chúng ta vào bất kỳ sai lầm đáng kể nào.
T 1.3.1.7, SBN 72–73
Tôi nhân đây nêu thêm một nhận xét thứ hai về những suy
luận chứng minh của chúng ta, được gợi ra từ cùng chủ đề toán học này.
Các nhà toán học thường cho rằng những ý niệm mà họ
nghiên cứu có bản chất tinh tế và phi vật chất đến mức chúng không thuộc phạm
vi hình dung của óc tưởng tượng, mà phải được nắm bắt bằng một cái nhìn thuần
trí, vốn chỉ thuộc về những năng lực cao hơn của linh hồn.
Cùng quan niệm ấy lan rộng trong hầu hết những phần của
triết học, và chủ yếu được dùng để giải thích những ý niệm trừu tượng, cũng như
để chỉ ra cách chúng ta có thể hình thành một ý niệm về tam giác, chẳng hạn,
không phải tam giác cân cũng không phải tam giác không đều, và không bị giới hạn
bởi bất kỳ độ dài hay tỉ lệ cạnh nào.
Dễ thấy vì sao những nhà triết học lại rất chuộng quan niệm
về những tri giác tinh tế và phi vật chất như vậy: bởi nhờ đó họ che đậy nhiều
điều phi lý trong học thuyết của mình, và có thể từ chối tuân theo những phán
quyết của những ý niệm rõ ràng, bằng cách viện đến những ý niệm mơ hồ và bất định.
Nhưng để phá bỏ thủ thuật này, ta chỉ cần suy xét nguyên
lý đã nhiều lần được nhấn mạnh: rằng mọi ý niệm của chúng ta đều được sao lại
từ những ấn tượng.
Từ đó, ta có thể kết luận ngay rằng, vì mọi ấn tượng đều
rõ ràng và xác định, nên những ý niệm được sao lại từ chúng cũng phải cùng bản
chất ấy, và không bao giờ — trừ khi do lỗi của chúng ta — chứa đựng bất cứ điều
gì mơ hồ hay rắc rối như vậy.
Một ý niệm, xét theo bản chất, luôn yếu hơn và mờ nhạt
hơn một ấn tượng; nhưng về mọi phương diện khác, nó vẫn cùng một loại, và do đó
không thể hàm chứa một bí ẩn nào quá lớn.
Nếu sự yếu hơn của nó khiến nó trở nên mơ hồ, thì nhiệm vụ
của chúng ta là khắc phục khuyết điểm ấy nhiều nhất có thể, bằng cách giữ cho ý
niệm được ổn định và chính xác; và cho đến khi làm được điều đó, thì việc tự nhận
là đang lý luận và làm triết học là hoàn toàn vô ích.
T 1.3.1.1n15, SBN 69
[15.] Part
I. Sect. 5.
MỤC II.
Về Xác Suất Và Về Ý Niệm Nguyên
Nhân Và Kết Quả
T 1.3.2.1, SBN 73
Đây là tất cả những gì tôi nghĩ cần quan sát về bốn quan
hệ là nền tảng của khoa học; nhưng đối với ba quan hệ còn lại, vốn không phụ
thuộc vào ý niệm, và có thể vắng mặt hay hiện diện ngay cả khi ý niệm ấy vẫn
không thay đổi, sẽ thích hợp để giải thích rõ hơn.
Ba quan hệ này là: sự đồng nhất, [2] những
vị trí trong thời gian và nơi chốn, [3] và nhân quả.
T 1.3.2.2, SBN 73–74
Mọi loại lý luận đều không gì khác hơn là một so sánh,
và một nhận ra những quan hệ — hoặc thường xuyên hoặc không thường xuyên — mà
hai hay nhiều đối tượng có với nhau.
Sự so sánh này có thể được thực hiện: hoặc khi cả hai đối
tượng đều hiện diện với giác quan, hoặc khi không đối tượng nào hiện diện, hoặc
khi chỉ có một đối tượng hiện diện.
Khi cả hai đối tượng cùng hiện diện với giác quan, cùng với
quan hệ, thì chúng ta gọi đó là tri giác hơn là lý luận; và trong trường hợp
này không có sự vận dụng tư duy, hay bất kỳ hành động nào đúng nghĩa, mà chỉ là
sự tiếp nhận thụ động những ấn tượng qua những cơ quan cảm giác.
Theo cách nhìn này, chúng ta không nên xem là lý luận bất
kỳ quan sát nào liên quan đến sự đồng nhất và những quan hệ về thời gian và nơi
chốn; vì trong những trường hợp ấy, não thức không thể vượt ra ngoài những gì
trực tiếp hiện diện với giác quan, để khám phá sự tồn tại thực hay những quan hệ
của đối tượng.
Chỉ có nhân quả mới tạo ra một liên kết như vậy, khiến
chúng ta từ sự tồn tại hay hành động của một đối tượng suy ra rằng nó đã được
theo sau hoặc đi trước bởi một sự tồn tại hay hành động khác; và hai quan hệ
kia không thể được dùng trong lý luận, trừ khi chúng hoặc tác động đến, hoặc bị
tác động bởi nhân quả.
Không có gì trong bất kỳ đối tượng nào tự nó thuyết phục
chúng ta rằng chúng luôn xa cách hoặc luôn kề cận; và khi từ kinh nghiệm và
quan sát chúng ta nhận ra rằng quan hệ của chúng trong điểm này là bất biến,
chúng ta luôn kết luận rằng có một nguyên nhân ẩn nào đó tách rời hoặc kết nối
chúng.
Lý luận tương tự cũng áp dụng cho sự đồng nhất. Chúng ta
dễ dàng giả định rằng một đối tượng có thể vẫn là cùng một cá thể, dù nhiều lần
vắng mặt và hiện diện với giác quan; và chúng ta gán cho nó sự đồng nhất, bất
chấp sự gián đoạn của tri giác, bất cứ khi nào chúng ta kết luận rằng nếu mắt
hay tay ta giữ liên tục trên nó, nó sẽ truyền đến chúng ta một tri giác không đổi
và liên tục.
Nhưng kết luận vượt ra ngoài những ấn tượng của giác quan
này chỉ có thể dựa trên liên hệ của nhân quả; và không có cách nào khác để
chúng ta có được sự chắc chắn rằng đối tượng không bị thay đổi trước ta, dù đối
tượng mới có thể giống đối tượng trước đó đến mức nào.
Bất cứ khi nào chúng ta nhận ra sự tương tự hoàn hảo như
vậy, chúng ta sẽ xem xét liệu nó có phổ biến trong loại đối tượng ấy hay không;
liệu có thể hoặc có xác suất rằng một nguyên nhân nào đó đã tác động để tạo ra
sự thay đổi và sự tương tự ấy hay không; và tùy theo cách chúng ta xác định những
nguyên nhân và kết quả này, chúng ta hình thành phán đoán về sự đồng nhất của đối
tượng.
T 1.3.2.3, SBN 74
Vậy thì ở đây có vẻ rõ rằng, trong ba quan hệ ấy — vốn
không phụ thuộc vào những ý niệm thuần túy — thì quan hệ duy nhất có thể truy
theo vượt ra ngoài những giác quan của chúng ta, và thông báo cho chúng ta về
những tồn tại và đối tượng mà chúng ta không nhìn thấy hay cảm nhận được, chính
là nhân quả.
Do đó, chúng ta sẽ cố gắng giải thích đầy đủ quan hệ này
trước khi rời khỏi chủ đề về hiểu biết.
T 1.3.2.4, SBN 74–75
Để bắt đầu một cách có thứ tự, chúng ta phải xem xét ý niệm
về nhân quả, và tìm xem nó bắt nguồn từ đâu.
Không thể lý luận đúng đắn mà không hiểu đầy đủ ý niệm mà
chúng ta đang lý luận về; và cũng không thể hiểu đầy đủ bất kỳ ý niệm nào mà
không truy về nguồn gốc của nó, và khảo sát ấn tượng nguyên sơ từ đó nó phát
sinh.
Việc khảo sát ấn tượng làm sáng tỏ ý niệm; và việc khảo
sát ý niệm cũng làm sáng tỏ tương tự toàn bộ lý luận của chúng ta.
T 1.3.2.5, SBN 75
Vậy hãy hướng nhìn vào bất kỳ hai đối tượng nào mà chúng
ta gọi là nguyên nhân và kết quả, và xem xét chúng theo mọi phía, để tìm ra ấn
tượng nào sinh ra một ý niệm có tầm quan trọng lớn như vậy.
Thoạt nhìn, tôi nhận thấy rằng tôi không nên tìm nó trong
bất kỳ phẩm chất riêng biệt nào của những đối tượng; vì dù tôi chọn phẩm chất
nào, tôi cũng đều thấy có những đối tượng không có phẩm chất ấy, nhưng vẫn được
gọi là nguyên nhân hay kết quả.
Và thực vậy, không có gì tồn tại, dù bên ngoài hay bên
trong, mà không thể được xem là nguyên nhân hoặc kết quả; tuy nhiên rõ ràng là
không có một phẩm chất nào thuộc về mọi hữu thể, để trao cho chúng danh hiệu ấy.
T 1.3.2.6, SBN 75
Vậy thì ý niệm về nhân quả phải bắt nguồn từ một quan hệ
nào đó giữa những đối tượng; và chúng ta phải cố gắng khám phá quan hệ đó ngay
bây giờ.
Trước hết, tôi thấy rằng bất kỳ đối tượng nào được xem là
nguyên nhân hay kết quả đều kề cận nhau; và không có gì có thể tác động trong một
thời gian hay nơi chốn hoàn toàn tách biệt khỏi thời gian và nơi chốn tồn tại của
nó.
Dù đôi khi những đối tượng ở xa có vẻ như tác động lẫn
nhau, nhưng khi khảo sát kỹ, người ta luôn thấy chúng được liên kết bởi một chuỗi
nguyên nhân kề cận nhau, và kề cận với cả những đối tượng ở xa; và khi trong bất
kỳ trường hợp đặc thù nào chúng ta không thể nhận ra được sự liên kết ấy, chúng
ta vẫn giả định rằng nó tồn tại.
Do đó, chúng ta có thể coi kề cận là một điều kiện cần của
quan hệ nhân quả; hoặc ít nhất là giả định như vậy theo quan điểm chung, cho đến
khi chúng ta có dịp thích hợp hơn để làm rõ vấn đề này bằng cách khảo sát những
đối tượng nào có thể hoặc không thể kề cận và kết hợp với nhau.
T 1.3.2.7, SBN 75–76
Quan hệ thứ hai mà tôi nhận thấy là cần thiết đối với
nguyên nhân và kết quả không được thừa nhận một cách phổ quát như vậy, mà còn
có thể là đối tượng của một số tranh luận. Đó là quan hệ nguyên nhân có trước kết
quả về mặt thời gian. Một số người cho rằng nguyên nhân không nhất thiết phải
đi trước kết quả của nó; mà bất kỳ đối tượng hay hành động nào, ngay trong khoảnh
khắc đầu tiên của sự tồn tại, đều có thể phát huy năng lực sản sinh của mình và
làm nảy sinh một đối tượng hay hành động khác hoàn toàn đồng thời với chính nó.
Nhưng ngoài việc kinh nghiệm trong phần lớn những trường
hợp dường như mâu thuẫn với quan điểm này, chúng ta còn có thể xác lập quan hệ
có trước ấy bằng một dạng suy luận hay lý luận. Đây là một châm ngôn đã được
xác lập trong cả triết học tự nhiên lẫn triết học đạo đức, rằng một đối tượng,
nếu tồn tại trong một khoảng thời gian với toàn bộ sự hoàn thiện của nó mà
không sản sinh ra một đối tượng khác, thì không phải là nguyên nhân duy nhất của
đối tượng ấy; mà còn được hỗ trợ bởi một nguyên lý nào khác, nguyên lý này đẩy
nó ra khỏi trạng thái không hoạt động và khiến nó phát huy năng lực mà trước đó
nó vẫn ngầm sở hữu.
Bây giờ, nếu bất kỳ nguyên nhân nào cũng có thể hoàn toàn
đồng thời với kết quả của nó, thì theo châm ngôn này, chắc chắn tất cả những
nguyên nhân đều phải như vậy; vì bất kỳ nguyên nhân nào trì hoãn tác động của
mình dù chỉ một khoảnh khắc, thì cũng không phát huy chính mình vào đúng khoảnh
khắc mà nó có thể đã phát huy; và do đó không phải là một nguyên nhân đúng
nghĩa.
Hệ quả của điều này sẽ không gì khác hơn là sự phá hủy
chuỗi kế tiếp của những nguyên nhân mà chúng ta quan sát thấy trong thế giới;
và thực ra là sự tiêu hủy hoàn toàn của thời gian. Vì nếu một nguyên nhân đồng
thời với kết quả của nó, rồi kết quả ấy lại đồng thời với kết quả của chính nó,
và cứ tiếp tục như vậy, thì rõ ràng sẽ không còn cái gọi là sự kế tiếp, và mọi
đối tượng đều phải cùng tồn tại.
T 1.3.2.8, SBN 76
Nếu lập luận này có vẻ thỏa đáng thì rất tốt. Nếu không,
tôi xin độc giả cho phép tôi được sử dụng cùng một sự tự do như tôi đã dùng
trong trường hợp trước, tức là giả định rằng nó là thỏa đáng. Vì rồi độc giả sẽ
thấy rằng vấn đề này không có tầm quan trọng lớn.
T 1.3.2.9, SBN 76–77
Sau khi tìm ra, hoặc giả định, rằng hai quan hệ kề cận và
kế tiếp là cần thiết đối với nguyên nhân và kết quả, tôi thấy mình dừng lại ở
đó, và không thể tiến xa hơn trong việc xem xét bất kỳ một trường hợp riêng lẻ
nào của nguyên nhân và kết quả. Chuyển động của một vật thể, khi va chạm, được
coi là nguyên nhân của chuyển động của một vật thể khác. Khi xem xét những đối
tượng này với sự chú ý cao nhất, chúng ta chỉ thấy rằng vật thể này tiến đến gần
vật thể kia; và chuyển động của nó đi trước chuyển động của vật thể kia, nhưng
không có một khoảng cách thời gian nào có thể cảm nhận được. Thật vô ích khi tự
làm khổ mình bằng những suy nghĩ và sự tự suy ngẫm thêm nữa về chủ đề này.
Chúng ta không thể đi xa hơn khi xem xét trường hợp riêng lẻ này.
T 1.3.2.10, SBN 77
Nếu có ai bỏ qua trường hợp này, rồi định nghĩa nguyên
nhân bằng cách nói rằng nó là cái gì đó sản sinh ra một cái khác, thì rõ ràng
người ấy chẳng nói lên được điều gì cả. Vì người ấy muốn nói gì bởi sự sản
sinh? Liệu người ấy có thể đưa ra một định nghĩa nào về nó mà không lại chính
là định nghĩa của quan hệ nhân quả hay không? Nếu có, tôi mong người ấy hãy đưa
nó ra. Nếu không, thì người ấy chỉ đang lập luận vòng quanh, và dùng một từ đồng
nghĩa thay cho một định nghĩa.
T 1.3.2.11, SBN 77
Vậy thì chúng ta có nên bằng lòng với hai quan hệ kề cận
và kế tiếp này, như thể chúng đã cung cấp một ý niệm đầy đủ về quan hệ nhân quả
hay không? Hoàn toàn không. Một đối tượng có thể kề cận và có trước một đối tượng
khác, mà không được coi là nguyên nhân của nó. Còn có một sự kết nối tất yếu cần
phải được xem xét; và quan hệ này quan trọng hơn nhiều so với hai quan hệ vừa
được nói đến.
T 1.3.2.12, SBN 77
Một lần nữa, tôi xoay đối tượng về mọi phía, để tìm ra bản
chất của sự kết nối tất yếu này, và tìm ấn tượng, hay những ấn tượng, mà từ đó
ý niệm về nó có thể bắt nguồn. Khi tôi nhìn vào những phẩm chất đã biết của những
đối tượng, tôi lập tức tìm ra rằng quan hệ nguyên nhân và kết quả hoàn toàn
không phụ thuộc vào chúng. Khi xem xét những quan hệ của chúng, tôi không tìm
thấy quan hệ nào ngoài kề cận và kế tiếp; mà tôi đã xem là không hoàn hảo và
không thỏa đáng. Vậy chẳng lẽ vì tuyệt vọng không thành công mà tôi lại khẳng định
rằng ở đây mình có một ý niệm không hề được đi trước bởi bất kỳ ấn tượng tương
tự nào? Điều đó sẽ là một bằng chứng quá rõ về sự hấp tấp và thiếu nhất quán;
vì nguyên tắc ngược lại đã được xác lập quá vững chắc đến mức không còn chỗ cho
bất kỳ sự nghi ngờ nào nữa, ít nhất là cho đến khi chúng ta khảo sát đầy đủ hơn
khó khăn hiện tại.
T 1.3.2.13, SBN 77–78
Do đó, chúng ta phải tiến hành như những người đang tìm
kiếm một điều gì đó bị che giấu khỏi mình; và khi không tìm thấy nó ở nơi mình
mong đợi, thì lùng tìm khắp những cánh đồng lân cận, không có một hướng đi hay
mục đích nào thật sự chắc chắn, với hy vọng rằng cuối cùng vận may sẽ dẫn họ đến
điều họ đang tìm kiếm.
Vì thế, chúng ta cần tạm rời việc khảo sát trực tiếp câu
hỏi về bản chất của sự kết nối tất yếu vốn đi vào ý niệm của chúng ta về
nguyên nhân và kết quả, và cố gắng tìm đến một vài câu hỏi khác, mà việc khảo
sát chúng có lẽ sẽ đem lại một gợi ý có thể giúp làm sáng tỏ khó khăn hiện tại.
Trong số những câu hỏi ấy, có hai câu mà bây giờ tôi sẽ lần
lượt khảo sát, đó là:
T 1.3.2.14, SBN 78
Thứ nhất, vì lý do gì chúng ta tuyên bố rằng mọi sự vật
có sự tồn tại bắt đầu đều tất yếu phải có một nguyên nhân?
T 1.3.2.15, SBN 78
Thứ hai, tại sao chúng ta kết luận rằng những nguyên nhân
đặc thù như vậy tất yếu phải có những kết quả đặc thù như vậy; và bản chất
của suy luận mà chúng ta rút ra từ cái này sang cái kia, cũng như của niềm
tin mà chúng ta đặt vào suy luận ấy, là gì?
T 1.3.2.16, SBN 78
Trước khi tiến xa hơn, tôi chỉ xin lưu ý rằng mặc dù những
ý niệm về nguyên nhân và kết quả bắt nguồn từ những ấn tượng của sự tự suy ngẫm
cũng như từ những ấn tượng của cảm giác, nhưng để ngắn gọn, tôi thường chỉ nhắc
đến loại sau như nguồn gốc của những ý niệm ấy; mặc dù tôi mong rằng bất cứ điều
gì tôi nói về chúng cũng sẽ được hiểu là áp dụng cho cả loại trước.
Những đam mê liên kết với những đối tượng của chúng và với
nhau, cũng không kém gì những vật thể bên ngoài liên kết với nhau. Vì vậy, cùng
một quan hệ nguyên nhân và kết quả thuộc về cái này cũng phải là quan hệ chung
của tất cả chúng.
T 1.3.2.6n16, SBN 75
[16.] Part
IV. Sect. 5.
MỤC III.
Tại sao nguyên nhân luôn luôn là
tất yếu
T 1.3.3.1, SBN 78–9
Để bắt đầu với câu hỏi thứ nhất về tính tất yếu của
nguyên nhân: Trong triết học có một châm ngôn tổng quát rằng bất cứ điều gì bắt
đầu hiện hữu đều phải có một nguyên nhân của sự hiện hữu. Châm ngôn này thường
được mặc nhiên thừa nhận trong mọi lý luận, mà không cần đưa ra hay đòi hỏi bất
kỳ bằng chứng nào. Người ta cho rằng nó được đặt nền tảng trên trực giác, và là
một trong những châm ngôn mà tuy có thể bị phủ nhận bằng lời nói, nhưng con người
không thể thực sự nghi ngờ trong lòng. Nhưng nếu chúng ta khảo sát châm ngôn
này bằng ý niệm về tri thức đã được giải thích ở trên, chúng ta sẽ không tìm thấy
trong đó bất kỳ dấu hiệu nào của sự chắc chắn trực giác như vậy; trái lại, sẽ
thấy rằng nó có một bản chất hoàn toàn xa lạ với loại xác tín ấy. [4]
T 1.3.3.2, SBN 79
Mọi sự chắc chắn đều nảy sinh từ sự so sánh những ý niệm,
và từ việc tìm ra những quan hệ bất biến, miễn là những ý niệm vẫn giữ nguyên
như cũ. Những quan hệ ấy là sự tương tự, những tỉ lệ về lượng hay con số, những
mức độ của bất kỳ phẩm chất nào, và sự đối lập; không một quan hệ nào trong số
đó được hàm chứa trong mệnh đề: Bất cứ điều gì bắt đầu hiện hữu đều cũng có một
nguyên nhân của sự hiện hữu. Do đó, mệnh đề ấy không có sự chắc chắn của trực
giác. Ít nhất, bất kỳ ai muốn khẳng định rằng mệnh đề ấy có sự chắc chắn của trực
giác thì phải phủ nhận rằng đây là những quan hệ duy nhất không thể sai lầm, đồng
thời phải tìm ra một quan hệ khác cùng loại được hàm chứa trong mệnh đề ấy; khi
đó sẽ là lúc thích hợp để khảo sát quan hệ đó.
T 1.3.3.3, SBN 79–80
Nhưng ở đây có một lập luận chứng minh ngay rằng mệnh đề
trên không phải là chắc chắn trực giác cũng không phải chắc chắn chứng minh.
Chúng ta không thể chứng minh tính tất yếu của một nguyên nhân đối với mọi sự
hiện hữu mới, hay mọi biến đổi mới của sự hiện hữu, mà không đồng thời chỉ ra
tính không thể rằng bất cứ điều gì có thể bắt đầu hiện hữu mà không có một
nguyên tắc sản xuất nào; và khi mệnh đề sau không thể được chứng minh, thì
chúng ta phải tuyệt vọng về khả năng chứng minh mệnh đề trước.
Bây giờ, rằng mệnh đề sau hoàn toàn không thể có một chứng
minh diễn dịch, chúng ta có thể tự thuyết phục bằng cách xem xét rằng, vì tất cả
những ý niệm phân biệt đều có thể tách rời khỏi nhau, và vì những ý niệm về
nguyên nhân và kết quả rõ ràng là phân biệt, thì chúng ta có thể dễ dàng hình
dung một đối tượng không hiện hữu ở khoảnh khắc này và hiện hữu ở khoảnh khắc
tiếp theo, mà không kết hợp với nó ý niệm phân biệt về một nguyên nhân hay
nguyên tắc sản xuất.
Sự tách rời, do đó, của ý niệm về một nguyên nhân khỏi ý
niệm về một sự bắt đầu hiện hữu là hoàn toàn khả hữu đối với trí tưởng tượng;
và do đó, sự tách rời thực sự của những đối tượng này cũng khả hữu đến mức
không hàm chứa mâu thuẫn hay vô lý nào; và vì thế không thể bị bác bỏ bằng bất
kỳ lý luận nào từ những ý niệm đơn thuần; mà nếu không có điều đó thì không thể
chứng minh tính tất yếu của một nguyên nhân.
T 1.3.3.4, SBN 80
Theo đó, chúng ta sẽ thấy rằng mọi chứng minh từng được
đưa ra cho tính tất yếu của một nguyên nhân đều là sai lầm và ngụy biện.
Tất cả những thời điểm và nơi chốn, một số nhà triết học
nói, mà trong đó chúng ta có thể giả định bất kỳ đối tượng nào bắt đầu hiện hữu,
đều bằng nhau xét tự thân; và trừ khi có một nguyên nhân nào đó đặc thù với một
thời điểm và một nơi chốn, và bằng cách đó xác định và cố định sự hiện hữu, thì
nó phải rơi vào tình trạng lơ lửng vĩnh viễn; và đối tượng không thể bắt đầu hiện
hữu, vì thiếu một cái gì đó để cố định sự bắt đầu của nó.
Nhưng tôi hỏi: có khó khăn gì hơn khi giả định rằng thời
gian và nơi chốn được cố định mà không có nguyên nhân, so với việc giả định rằng
sự hiện hữu được xác định theo cách đó không?
Câu hỏi đầu tiên nảy sinh về chủ đề này luôn là: liệu đối
tượng có hiện hữu hay không. Câu tiếp theo là: khi nào và ở đâu nó bắt đầu hiện
hữu.
Nếu việc loại bỏ một nguyên nhân là vô lý về mặt trực
giác trong trường hợp này, thì nó cũng phải như vậy trong trường hợp kia; và nếu
sự vô lý ấy không hiển nhiên nếu không có chứng minh trong trường hợp này, thì
nó cũng sẽ đòi hỏi chứng minh trong trường hợp kia.
Do đó, sự vô lý của giả định này không bao giờ có thể là
một chứng minh cho sự vô lý của giả định kia; vì cả hai đều ở trên cùng một nền
tảng, và phải cùng đứng hoặc cùng sụp đổ theo một lý luận như nhau.
T 1.3.3.5, SBN 80–81
Lập luận thứ hai [18] mà tôi thấy được sử dụng về vấn đề
này cũng gặp phải khó khăn tương đương. Mọi thứ, người ta nói, phải có một
nguyên nhân; vì nếu bất cứ thứ gì thiếu một nguyên nhân, nó sẽ tự sản xuất ra
chính mình; tức là, hiện hữu trước khi nó hiện hữu; điều đó là không thể.
Nhưng lý luận này rõ ràng là không có kết luận; bởi vì nó
giả định rằng trong việc phủ nhận một nguyên nhân, chúng ta vẫn thừa nhận điều
mà chúng ta tường minh phủ nhận, cụ thể là phải có một nguyên nhân; nguyên nhân
đó vì vậy được lấy làm chính đối tượng ấy; và điều đó, không còn nghi ngờ gì,
là một mâu thuẫn hiển nhiên.
Nhưng nói rằng bất cứ thứ gì được sản xuất ra, hay để diễn
đạt chính xác hơn, đi vào hiện hữu mà không có nguyên nhân, không phải là khẳng
định rằng nó là nguyên nhân của chính nó; mà ngược lại, khi loại trừ tất cả những
nguyên nhân bên ngoài, nó loại trừ a fortiori chính sự vật được tạo ra.
Một đối tượng hiện hữu tuyệt đối không có bất kỳ nguyên
nhân nào, chắc chắn không phải là nguyên nhân của chính nó; và khi bạn khẳng định
rằng cái này suy ra từ cái kia, bạn đang giả định chính điều đang được đặt vấn
đề, và coi là hiển nhiên rằng hoàn toàn không thể có bất cứ thứ gì bắt đầu hiện
hữu mà không có nguyên nhân; nhưng rằng khi loại bỏ một nguyên tắc sản xuất,
chúng ta vẫn phải quay về một nguyên tắc khác.
T 1.3.3.6, SBN 81
Chính xác cũng là trường hợp tương tự với lập luận thứ ba
[19] đã được sử dụng để chứng minh tính tất yếu của một nguyên nhân.
Bất cứ thứ gì được sản xuất ra mà không có bất kỳ nguyên
nhân nào, thì được sản xuất bởi không gì cả; hay nói cách khác, có không
gì là nguyên nhân của nó.
Nhưng không gì không bao giờ có thể là một nguyên nhân,
cũng giống như nó không thể là cái gì đó, hay bằng hai góc vuông.
Bằng cùng trực giác mà chúng ta nhận thấy rằng không gì
không bằng hai góc vuông, hay không phải là cái gì đó, chúng ta nhận thấy rằng
nó không thể bao giờ là một nguyên nhân; và do đó phải nhận thấy rằng mọi đối
tượng đều có một nguyên nhân thực của sự hiện hữu của nó.
T 1.3.3.7, SBN 81–2
Tôi nghĩ sẽ không cần dùng nhiều lời để chỉ ra sự yếu kém
của lập luận này, sau những gì tôi đã nói về những lập luận trước đó. Tất cả
chúng đều dựa trên cùng một ngụy biện, và xuất phát từ cùng một cách chuyển ý.
Chỉ cần nhận xét rằng, khi chúng ta loại bỏ mọi nguyên nhân, thì chúng ta thực
sự loại bỏ chúng, và không hề giả định “không có gì” hay chính đối tượng là
nguyên nhân của sự tồn tại; và do đó không thể rút ra bất kỳ lập luận nào từ sự
vô lý của những giả định ấy để chứng minh sự vô lý của việc loại bỏ nguyên
nhân. Nếu mọi thứ phải có nguyên nhân, thì từ việc loại bỏ những nguyên nhân
khác sẽ suy ra rằng chúng ta phải chấp nhận hoặc chính đối tượng, hoặc “không
có gì”, như là nguyên nhân. Nhưng chính điều đang được đặt vấn đề là liệu mọi
thứ có phải có nguyên nhân hay không; và do đó, theo mọi lối lý luận đúng đắn,
điều đó không bao giờ được phép giả định sẵn.
T 1.3.3.8, SBN 82
Những người còn tầm thường hơn nữa là những người nói rằng
mọi kết quả phải có nguyên nhân, bởi vì điều đó đã được hàm chứa ngay trong ý
niệm về “kết quả”. Mọi kết quả tất yếu giả định một nguyên nhân; vì “kết quả”
là một thuật ngữ tương quan, trong đó “nguyên nhân” là cái tương ứng. Nhưng điều
này không chứng minh rằng mọi tồn tại đều phải được đi trước bởi một nguyên
nhân; cũng như từ việc mọi người chồng đều phải có vợ, không suy ra rằng mọi
người đàn ông đều phải kết hôn. Vấn đề thực sự là liệu mọi đối tượng bắt đầu hiện
hữu có phải vay mượn sự tồn tại của nó từ một nguyên nhân hay không; và điều
này, tôi khẳng định, không phải là chân lý trực giác hay chứng minh, và tôi hy
vọng đã chứng minh đủ bằng những lập luận trên.
T 1.3.3.9, SBN 82
Vì không phải từ tri thức hay bất kỳ suy luận khoa học
nào mà chúng ta rút ra ý kiến về tính tất yếu của một nguyên nhân cho mọi sự sản
sinh mới, nên ý kiến đó tất yếu phải xuất phát từ quan sát và kinh nghiệm. Câu
hỏi tiếp theo một cách tự nhiên sẽ là: kinh nghiệm làm nảy sinh nguyên lý
này như thế nào? Nhưng vì tôi thấy sẽ thuận tiện hơn nếu gộp câu hỏi này
vào câu hỏi sau: tại sao chúng ta kết luận rằng những nguyên nhân đặc thù phải
có những kết quả đặc thù, và tại sao chúng ta hình thành suy luận từ cái này
sang cái kia? nên chúng ta sẽ lấy đó làm chủ đề của khảo sát tiếp theo. Có
lẽ cuối cùng sẽ thấy rằng cùng một câu trả lời có thể dùng cho cả hai câu hỏi.
T 1.3.3.4n17, SBN 80
[17.] Mr. Hobbes.
T 1.3.3.5n18, SBN 80
[18.]Dr. Clarke and
others.
MỤC. IV.
Về những phần cấu thành của những
suy luận của chúng ta liên quan đến nguyên nhân và kết quả.
T 1.3.4.1, SBN 82–3
Dù tâm trí trong những suy luận từ nguyên nhân hay kết quả
có đưa cái nhìn của nó vượt ra ngoài những đối tượng mà nó thấy hay nhớ, nó vẫn
không bao giờ được đánh mất hoàn toàn chúng khỏi tầm nhìn, cũng như không thể
lý luận chỉ trên những ý niệm của chính nó, mà không có sự pha trộn nào đó của
những ấn tượng, hoặc ít nhất là những ý niệm của ký ức, vốn tương đương với những
ấn tượng. Khi chúng ta suy ra kết quả từ nguyên nhân, chúng ta phải xác lập sự
tồn tại của những nguyên nhân đó; và chúng ta chỉ có hai cách để làm điều này:
hoặc bằng một tri giác trực tiếp của ký ức hay giác quan, hoặc bằng một suy luận
từ những nguyên nhân khác; mà những nguyên nhân này lại phải được xác định theo
cùng cách, hoặc bằng một ấn tượng hiện tại, hoặc bằng một suy luận từ những
nguyên nhân của chúng, và cứ như vậy, cho đến khi chúng ta đạt đến một đối tượng
mà chúng ta thấy hay nhớ. Chúng ta không thể kéo dài những suy luận của mình đến
vô hạn; và điều duy nhất có thể chặn chúng lại là một ấn tượng của ký ức hoặc
giác quan, vượt ra ngoài đó thì không còn chỗ cho nghi ngờ hay khảo sát.
T 1.3.4.2, SBN 83
Để đưa ra một ví dụ về điều này, chúng ta có thể chọn bất
kỳ điểm nào của lịch sử và xét vì sao chúng ta tin hoặc bác bỏ nó. Chẳng hạn,
chúng ta tin rằng Caesar đã bị giết trong viện nguyên lão vào ngày Ides tháng
Ba; và điều đó là vì sự kiện này được xác lập bởi lời chứng nhất trí của những
sử gia, những người đồng thuận quy định thời điểm và nơi chốn chính xác cho biến
cố đó. Ở đây có những ký hiệu và chữ viết hiện diện hoặc trong ký ức hoặc trước
những giác quan của chúng ta; những ký hiệu này chúng ta cũng nhớ rằng đã được
dùng như dấu hiệu của những ý niệm nhất định; và những ý niệm này hoặc ở trong
tâm trí của những người trực tiếp có mặt tại hành động đó, và nhận những ý niệm
trực tiếp từ sự tồn tại của nó; hoặc chúng được rút ra từ lời chứng của người
khác, và lời chứng đó lại từ một lời chứng khác, theo một chuỗi chuyển tiếp có
thể thấy được, cho đến khi chúng ta đạt đến những người đã tận mắt chứng kiến
và quan sát biến cố. Rõ ràng là toàn bộ chuỗi lập luận hay liên kết nguyên nhân
và kết quả này ban đầu đều dựa trên những ký hiệu hay chữ viết được nhìn thấy
hoặc được nhớ lại; và nếu không có thẩm quyền của ký ức hay giác quan, toàn bộ
suy luận của chúng ta sẽ trở nên hư cấu và không có nền tảng. Mỗi mắt xích
trong chuỗi trong trường hợp đó sẽ treo vào mắt xích khác; nhưng sẽ không có gì
cố định ở một đầu của nó để nâng đỡ toàn bộ; và do đó sẽ không có niềm tin cũng
như bằng chứng. Và đây thực sự là trường hợp của mọi lập luận giả định, hay những
suy luận trên giả định; vì trong chúng không có ấn tượng hiện tại nào, cũng
không có niềm tin về một tồn tại thực.
T 1.3.4.3, SBN 84
Tôi không cần lưu ý rằng không phải là một phản bác hợp
lý đối với học thuyết hiện tại khi nói rằng chúng ta có thể lý luận trên những
kết luận hay nguyên lý trong quá khứ của mình mà không cần quay lại những ấn tượng
mà từ đó chúng ban đầu nảy sinh. Vì ngay cả giả sử những ấn tượng này đã bị xóa
hoàn toàn khỏi ký ức, thì sự xác tín mà chúng tạo ra vẫn có thể còn lại; và điều
cũng đúng là mọi suy luận về nguyên nhân và kết quả đều bắt nguồn ban đầu từ một
ấn tượng, theo cùng cách mà sự chắc chắn của một chứng minh luôn xuất phát từ sự
so sánh những ý niệm, dù nó có thể tiếp tục tồn tại sau khi sự so sánh đã bị
quên đi.
T
1.3.3.6n19, SBN 81
[19.] Mr. Locke.
MỤC IV.
Về những Phần Cấu Thành Của Những
Suy Luận Của Chúng Ta Về Nguyên Nhân Và Kết Quả
T 1.3.4.1, SBN 82–3
Dù não thức trong những suy luận từ nguyên nhân hay kết
quả có đưa tầm nhìn của nó vượt ra ngoài những đối tượng mà nó thấy hay nhớ, nó
vẫn không bao giờ được đánh mất hoàn toàn những đối tượng ấy khỏi tầm nhìn,
cũng không được lý luận chỉ trên những ý niệm của chính nó mà không có sự pha
trộn nào của những ấn tượng, hoặc ít nhất là những ý niệm của trí nhớ — những
cái tương đương với những ấn tượng. Khi chúng ta suy ra những kết quả từ những
nguyên nhân, chúng ta phải xác lập sự hiện hữu của những nguyên nhân này; điều
mà chúng ta chỉ có hai cách để làm: hoặc bằng một tri giác trực tiếp của trí nhớ
hay những giác quan, hoặc bằng một suy luận từ những nguyên nhân khác; và những
nguyên nhân này lại phải được xác định theo cùng cách, hoặc bằng một ấn tượng
hiện tại, hoặc bằng một suy luận từ những nguyên nhân của chúng, và cứ như vậy,
cho đến khi chúng ta đạt đến một đối tượng mà chúng ta thấy hay nhớ. Không thể
nào chúng ta kéo dài những suy luận của mình đến vô hạn; và điều duy nhất có thể
chặn chúng lại là một ấn tượng của trí nhớ hay những giác quan, vượt ra ngoài
đó không còn chỗ cho nghi ngờ hay khảo sát.
T 1.3.4.2, SBN 83
Để đưa ra một ví dụ về điều này, chúng ta có thể chọn bất
kỳ điểm nào của lịch sử, và xem xét vì lý do gì chúng ta hoặc tin hoặc bác bỏ
nó. Chẳng hạn, chúng ta tin rằng Caesar đã bị giết trong viện nguyên lão vào
ngày Ides tháng Ba; [5] và điều đó
là vì sự kiện này được xác lập trên lời chứng nhất trí của những sử gia, những
người đều đồng ý quy định chính xác thời gian và nơi chốn ấy cho biến cố đó. Ở
đây có những ký tự và chữ viết nhất định hiện diện hoặc với trí nhớ hoặc với những
giác quan của chúng ta; những ký tự này chúng ta cũng nhớ đã được dùng làm những
dấu hiệu của những ý niệm nhất định; và những ý niệm ấy hoặc đã ở trong não thức
của những người trực tiếp có mặt tại hành động đó, và đã tiếp nhận chúng trực
tiếp từ sự hiện hữu của biến cố; hoặc chúng được bắt nguồn từ lời chứng của những
người khác, rồi lời chứng ấy lại bắt nguồn từ một lời chứng khác nữa, qua một
chuỗi chuyển tiếp có thể nhận thấy được, cho đến khi chúng ta đạt đến những người
đã tận mắt chứng kiến và trực tiếp quan sát biến cố ấy.
Rõ ràng toàn bộ chuỗi lập luận, hay sự kết nối giữa
nguyên nhân và kết quả này, lúc đầu đều được đặt nền tảng trên những ký tự hay
chữ viết được nhìn thấy hoặc được nhớ lại; và nếu không có thẩm quyền của trí
nhớ hay những giác quan thì toàn bộ lý luận của chúng ta sẽ chỉ là hư cấu và
không có nền tảng. Trong trường hợp đó, mọi mắt xích của chuỗi sẽ chỉ treo vào
một mắt xích khác; nhưng sẽ không có gì được cố định ở một đầu của chuỗi để
nâng đỡ toàn bộ; và do đó sẽ không có niềm tin cũng như không có bằng chứng. Và
đây thực sự là trường hợp của mọi lập luận giả định, hay những lý luận dựa trên
một giả định; vì trong chúng không có ấn tượng hiện tại nào, cũng không có niềm
tin vào một sự hiện hữu thực.
T 1.3.4.3, SBN 84
Tôi không cần phải lưu ý rằng sẽ không phải là một phản đối
chính đáng đối với học thuyết hiện tại nếu nói rằng chúng ta có thể lý luận dựa
trên những kết luận hay nguyên lý trước đây của mình mà không cần quay lại những
ấn tượng từ đó chúng ban đầu nảy sinh. Vì ngay cả khi giả sử những ấn tượng ấy
đã hoàn toàn bị xóa khỏi trí nhớ, thì sự xác tín mà chúng tạo ra vẫn có thể còn
lại; và cũng đúng như vậy rằng mọi lý luận về nguyên nhân và kết quả ban đầu đều
bắt nguồn từ một ấn tượng nào đó; cũng như sự xác chắc của một chứng minh luôn
luôn xuất phát từ sự so sánh những ý niệm, mặc dù nó vẫn có thể tiếp tục tồn tại
sau khi sự so sánh ấy đã bị quên đi.
T 1.3.5.1, SBN 84
MỤC V.
Về Những Ấn Tượng Của những Giác
Quan Và Trí Nhớ
T 1.3.5.1, SBN 84
Vậy thì trong loại lý luận từ quan hệ nhân quả này, chúng
ta sử dụng những chất liệu có bản chất pha trộn và không đồng nhất; và tuy được
kết nối với nhau, chúng vẫn về bản chất khác biệt với nhau. Tất cả những lập luận
của chúng ta về nguyên nhân và kết quả đều bao gồm một ấn tượng của trí nhớ hay
những giác quan, và ý niệm về sự hiện hữu tạo ra đối tượng của ấn tượng ấy, hoặc
được chính đối tượng ấy tạo ra. Do đó, ở đây có ba điều chúng ta cần giải
thích, đó là: thứ nhất, ấn tượng ban đầu; thứ hai, sự chuyển tiếp sang ý niệm về
nguyên nhân hay kết quả có sự kết nối; và thứ ba, bản chất và những phẩm chất của
ý niệm ấy.
T 1.3.5.2, SBN 84
Đối với những ấn tượng nảy sinh từ những giác quan,
nguyên nhân tối hậu của chúng, theo ý kiến của tôi, hoàn toàn không thể được giải
thích bằng lý trí con người; và sẽ luôn không thể quyết định một cách chắc chắn
liệu chúng nảy sinh trực tiếp từ đối tượng, hay được tạo ra bởi năng lực sáng tạo
của não thức, hay được bắt nguồn từ Đấng sáng tạo nên sự hiện hữu của chúng ta [6] . Một câu
hỏi như vậy cũng hoàn toàn không có ý nghĩa gì đối với mục đích hiện tại của
chúng ta. Chúng ta có thể rút ra những suy luận từ sự mạch lạc của những tri
giác của mình, dù chúng đúng hay sai; dù chúng phản ánh tự nhiên một cách trung
thực, hay chỉ là những ảo giác của những giác quan.
T 1.3.5.3, SBN 85
Khi chúng ta tìm kiếm đặc điểm phân biệt trí nhớ với trí
tưởng tượng, chúng ta phải ngay lập tức nhận thấy rằng nó không thể nằm ở những
ý niệm đơn giản mà chúng trình bày với chúng ta; vì cả hai năng lực này đều mượn
những ý niệm đơn giản của mình từ những ấn tượng, và không bao giờ có thể vượt
ra ngoài những tri giác nguyên thủy ấy. Hai năng lực này cũng ít được phân biệt
với nhau bởi sự sắp xếp những ý niệm phức hợp của chúng. Vì mặc dù việc gìn giữ
thứ tự và vị trí ban đầu của những ý niệm là một tính chất đặc thù của trí nhớ,
trong khi trí tưởng tượng thì hoán đổi và thay đổi chúng theo ý mình; nhưng sự
khác biệt này không đủ để phân biệt chúng trong hoạt động của chúng, hay giúp
chúng ta nhận biết cái này với cái kia; bởi lẽ không thể gợi lại những ấn tượng
trong quá khứ để so sánh chúng với những ý niệm hiện tại của chúng ta, và xem
liệu sự sắp xếp của chúng có hoàn toàn giống nhau hay không. Vì vậy, nếu trí nhớ
không được nhận biết nhờ thứ tự của những ý niệm phức hợp của nó, cũng không nhờ
bản chất của những ý niệm đơn giản của nó, thì hệ quả là sự khác biệt giữa nó
và trí tưởng tượng nằm ở sức mạnh và sự sống động vượt trội của nó. Một người
có thể mặc sức tưởng tượng để hư cấu nên bất kỳ cảnh phiêu lưu nào trong quá khứ;
và sẽ không có cách nào phân biệt điều đó với một ký ức cùng loại, nếu những ý
niệm của trí tưởng tượng không mờ nhạt và lu mờ hơn.
T 1.3.5.4, SBN 627–8
Thường xảy ra rằng khi hai người cùng tham dự vào một sự
việc nào đó, thì người này nhớ nó rõ hơn người kia rất nhiều, và gặp đủ mọi khó
khăn để làm cho bạn mình nhớ lại. Người ấy lần lượt nhắc đến nhiều tình tiết
nhưng đều vô ích; nhắc đến thời gian, nơi chốn, những người có mặt, những gì đã
được nói, những gì đã được làm ở mỗi phía; cho đến cuối cùng tình cờ nhắc đúng
một tình tiết nào đó, khiến toàn bộ sự việc sống dậy, và đem lại cho người bạn
của mình một ký ức trọn vẹn về mọi chuyện. Ở đây, lúc đầu người đã quên tiếp nhận
tất cả những ý niệm từ lời thuật lại của người kia, cùng với những hoàn cảnh về
thời gian và nơi chốn; nhưng vẫn xem chúng chỉ là những hư cấu của trí tưởng tượng.
Thế nhưng, ngay khi tình tiết chạm đúng vào trí nhớ được nhắc đến, thì chính những
ý niệm ấy giờ đây xuất hiện dưới một ánh sáng mới, và theo một nghĩa nào đó
mang một cảm nhận khác hẳn trước đó. Không có bất kỳ sự thay đổi nào khác ngoài
sự thay đổi của cảm nhận ấy, chúng lập tức trở thành những ý niệm của trí nhớ,
và được não thức chấp nhận.
T 1.3.5.5, SBN 628, 85–6
Vì vậy, do trí tưởng tượng có thể trình bày tất cả những
đối tượng mà trí nhớ có thể đem đến cho chúng ta, và vì hai năng lực này chỉ được
phân biệt bởi cảm nhận khác nhau của những ý niệm mà chúng trình bày, nên sẽ
thích hợp nếu chúng ta xem xét bản chất của cảm nhận ấy là gì. Và ở đây tôi tin
rằng mọi người sẽ dễ dàng đồng ý với tôi rằng những ý niệm của trí nhớ thì mạnh
mẽ và sống động hơn những ý niệm của trí tưởng tượng. Một họa sĩ, khi muốn khắc
họa một đam mê hay một cảm xúc nào đó, sẽ cố gắng quan sát một người đang thực
sự bị chi phối bởi một cảm xúc tương tự, để làm cho những ý niệm của mình trở
nên sinh động hơn, và đem lại cho chúng một sức mạnh và sự sống động vượt trội
so với những ý niệm chỉ là những hư cấu của trí tưởng tượng. Ký ức ấy càng mới
thì ý niệm càng rõ ràng; và khi sau một khoảng thời gian dài ông quay trở lại
ngắm nhìn đối tượng của mình, ông luôn thấy ý niệm về nó đã phai nhạt đi rất
nhiều, nếu chưa hoàn toàn bị xóa mờ. Chúng ta thường phân vân về những ý niệm của
trí nhớ khi chúng trở nên quá yếu ớt và mờ nhạt; và không biết xác định liệu một
hình ảnh nào đó bắt nguồn từ trí tưởng tượng hay từ trí nhớ, khi nó không được
tô bằng những màu sắc sinh động vốn là đặc điểm phân biệt của năng lực sau. Tôi
nghĩ mình nhớ một sự việc như thế, có người nói, nhưng không chắc. Một quãng thời
gian dài gần như đã xóa nó khỏi trí nhớ của tôi, và khiến tôi không biết chắc
liệu nó có phải chỉ là sản phẩm thuần túy của trí tưởng tượng của mình hay
không.
T 1.3.5.6, SBN 86
Và cũng như một ý niệm của trí nhớ, do mất đi sức mạnh và
sự sống động của mình, có thể suy giảm đến mức bị coi là một ý niệm của trí tưởng
tượng; thì ngược lại, một ý niệm của trí tưởng tượng cũng có thể đạt được một sức
mạnh và sự sống động đến mức được xem như một ý niệm của trí nhớ, và mô phỏng
những tác động của nó đối với niềm tin và sự phán đoán. Điều này có thể thấy ở
những kẻ nói dối; những người, do thường xuyên lặp đi lặp lại những lời nói dối
của mình, cuối cùng tin và nhớ chúng như những sự việc có thật; bởi trong trường
hợp này, cũng như trong nhiều trường hợp khác, tập quán và thói quen có cùng một
ảnh hưởng đối với não thức như tự nhiên, và khắc sâu ý niệm với một sức mạnh và
sinh lực ngang nhau.
T 1.3.5.7, SBN 86
Như vậy, có thể thấy rằng niềm tin, hay sự chấp nhận, vốn
luôn đi kèm với trí nhớ và những giác quan, không gì khác hơn là sự sống động của
những tri giác mà chúng trình bày; và chính điều đó là cái duy nhất phân biệt
chúng với trí tưởng tượng. Tin, trong trường hợp này, là cảm nhận một ấn tượng
trực tiếp của những giác quan, hoặc sự lặp lại của ấn tượng ấy trong trí nhớ.[7]
Chính sức mạnh và sự sống động của tri giác tạo thành hành động đầu tiên của sự
phán đoán, và đặt nền tảng cho toàn bộ lý luận mà chúng ta xây dựng trên đó khi
truy theo quan hệ nguyên nhân và kết quả.
MỤC VI.
Về Sự Suy Luận Từ Ấn Tượng Đến Ý
Niệm
T 1.3.6.1, SBN 86–7
Dễ dàng nhận thấy rằng khi truy theo quan hệ này, suy luận
mà chúng ta rút ra từ nguyên nhân đến kết quả không bắt nguồn chỉ từ việc khảo
sát những đối tượng đặc thù này, cũng không từ một sự thấu suốt vào bản chất của
chúng đủ để khám phá ra sự phụ thuộc của cái này vào cái kia. Không có đối tượng
nào, nếu chúng ta chỉ xem xét bản thân nó và không bao giờ nhìn vượt ra ngoài
những ý niệm mà chúng ta hình thành về nó, lại hàm chứa sự hiện hữu của bất kỳ
đối tượng nào khác. Một suy luận như vậy sẽ tương đương với tri thức, và sẽ hàm
ý rằng việc hình dung bất cứ điều gì khác đều tuyệt đối mâu thuẫn và không thể
xảy ra. Nhưng vì mọi ý niệm khác biệt đều có thể tách rời khỏi nhau, nên rõ
ràng không thể có sự không thể nào thuộc loại ấy. Khi chuyển từ một ấn tượng hiện
tại sang ý niệm về một đối tượng nào đó, chúng ta hoàn toàn có thể tách ý niệm ấy
khỏi ấn tượng, rồi thay vào chỗ của nó bất kỳ ý niệm nào khác.
T 1.3.6.2, SBN 87
Vì vậy, chỉ nhờ KINH NGHIỆM mà chúng ta mới có thể suy ra
sự hiện hữu của một đối tượng từ sự hiện hữu của một đối tượng khác. Bản chất của
kinh nghiệm là như sau. Chúng ta nhớ rằng mình đã nhiều lần gặp sự hiện hữu của
một loại đối tượng; đồng thời cũng nhớ rằng những cá thể của một loại đối tượng
khác luôn đi kèm với chúng, và luôn hiện hữu theo một thứ tự đều đặn của sự kề
cận và sự kế tiếp đối với chúng. Chẳng hạn, chúng ta nhớ mình đã nhìn thấy loại
đối tượng mà chúng ta gọi là ngọn lửa, và đã cảm nhận loại cảm giác mà
chúng ta gọi là nhiệt. Chúng ta cũng nhớ lại sự kết hợp thường hằng của
chúng trong mọi trường hợp trước đây. Không cần thêm bất kỳ bước trung gian
nào, chúng ta gọi cái này là nguyên nhân, cái kia là kết quả, rồi
suy ra sự hiện hữu của cái này từ sự hiện hữu của cái kia.
Trong tất cả những trường hợp mà từ đó chúng ta học được
sự kết hợp giữa những nguyên nhân và kết quả đặc thù, cả nguyên nhân lẫn kết quả
đều đã được những giác quan tri giác và được trí nhớ ghi giữ. Nhưng trong mọi
trường hợp mà chúng ta lý luận về chúng, chỉ có một trong hai được tri giác hoặc
được nhớ, còn cái kia được bổ sung (is supply'd) cho phù hợp với kinh nghiệm
quá khứ của chúng ta.[8]
T 1.3.6.3, SBN 87–8
Vậy, trong khi tiếp tục lập luận, chúng ta đã không ngờ
tìm ra một quan hệ mới giữa nguyên nhân và kết quả, đúng vào lúc chúng ta ít
mong đợi nhất, và khi đang hoàn toàn bận tâm đến một chủ đề khác. Quan hệ ấy là
sự kết hợp thường hằng của chúng. Sự kề cận và kế tiếp không đủ để khiến chúng
ta khẳng định hai đối tượng là nguyên nhân và kết quả, trừ khi chúng ta nhận thấy
rằng hai quan hệ ấy được duy trì qua nhiều trường hợp.
Giờ đây chúng ta có thể thấy lợi ích của việc từ bỏ cách
khảo sát trực tiếp quan hệ này để tìm ra bản chất của sự kết nối tất yếu,
vốn tạo thành một phần thiết yếu trong ý niệm về quan hệ nhân quả. Có cơ sở để
hy vọng rằng bằng con đường ấy cuối cùng chúng ta sẽ đạt được mục đích đã đặt
ra; mặc dù, nói thật, quan hệ mới được nhận ra này — sự kết hợp thường hằng —
dường như cũng không giúp chúng ta tiến được bao xa.
Vì nó chẳng hàm ý gì hơn ngoài điều này: những đối tượng
giống nhau luôn được đặt trong những quan hệ giống nhau về sự kề cận và sự kế
tiếp. Và thoạt nhìn, dường như rõ ràng rằng bằng cách ấy chúng ta sẽ không bao
giờ khám phá được một ý niệm mới nào; chúng ta chỉ có thể làm tăng số lượng, chứ
không thể mở rộng phạm vi, của những đối tượng trong não thức.
Người ta có thể nghĩ rằng điều chúng ta không học được từ
một đối tượng thì cũng sẽ không bao giờ học được từ một trăm đối tượng, nếu tất
cả chúng đều thuộc cùng một loại và hoàn toàn giống nhau về mọi phương diện.
Cũng như trong một trường hợp, những giác quan chỉ cho chúng ta thấy hai vật thể,
hai chuyển động, hay hai phẩm chất trong một quan hệ nhất định về sự kế tiếp và
sự kề cận; thì trí nhớ cũng chỉ trình bày cho chúng ta một số lượng lớn những
trường hợp mà trong đó chúng ta luôn gặp những vật thể, chuyển động hay phẩm chất
giống nhau trong những quan hệ giống nhau.
Từ sự lặp lại đơn thuần của bất kỳ ấn tượng quá khứ nào,
dù lặp lại đến vô số lần, cũng sẽ không bao giờ nảy sinh một ý niệm nguyên thủy
mới, chẳng hạn như ý niệm về sự kết nối tất yếu; và trong trường hợp này, số lượng
ấn tượng cũng không tạo ra hiệu quả nào lớn hơn so với khi chúng ta chỉ xét một
trường hợp duy nhất.
Nhưng mặc dù lập luận này có vẻ đúng đắn và hiển nhiên, sẽ
là quá vội vàng nếu vì thế mà từ bỏ hy vọng. Vì vậy, chúng ta sẽ tiếp tục mạch
khảo sát của mình; và sau khi nhận thấy rằng, một khi đã nhận ra sự kết hợp thường
hằng giữa những đối tượng, chúng ta luôn rút ra một suy luận từ đối tượng này
sang đối tượng kia, giờ đây chúng ta sẽ khảo sát bản chất của chính sự suy luận
ấy, cũng như sự chuyển tiếp từ ấn tượng sang ý niệm. Có lẽ cuối cùng sẽ thấy rằng
chính sự kết nối tất yếu phụ thuộc vào sự suy luận, chứ không phải sự suy luận
phụ thuộc vào sự kết nối tất yếu.
T 1.3.6.4, SBN 88–9
Vì có vẻ rằng sự chuyển tiếp từ một ấn tượng đang hiện diện
với trí nhớ hay những giác quan sang ý niệm về một đối tượng mà chúng ta gọi là
nguyên nhân hay kết quả được đặt nền tảng trên kinh nghiệm quá khứ và
trên ký ức của chúng ta về sự kết hợp thường hằng của chúng, nên câu hỏi
tiếp theo là: kinh nghiệm tạo ra ý niệm ấy bằng trí tuệ hay bằng trí tưởng tượng?
Nói cách khác, phải chăng chính lý trí khiến chúng ta thực hiện sự chuyển tiếp ấy,
hay đó là kết quả của một sự liên kết và kết hợp nhất định giữa những tri giác?
Nếu lý trí quyết định chúng ta, thì nó hẳn phải dựa trên
nguyên tắc rằng những trường hợp chúng ta chưa từng kinh nghiệm phải giống với
những trường hợp chúng ta đã từng kinh nghiệm, và rằng tiến trình của tự nhiên
luôn tiếp diễn một cách đồng đều.
Vì vậy, để làm sáng tỏ vấn đề này, chúng ta hãy xem xét tất
cả những lập luận mà người ta có thể cho là làm nền tảng cho nguyên tắc ấy. Và
vì những lập luận đó tất phải thuộc hoặc tri thức, hoặc xác suất,
nên chúng ta hãy lần lượt khảo sát từng loại bằng chứng ấy để xem liệu chúng có
thực sự dẫn đến một kết luận như vậy hay không.
T 1.3.6.5, SBN 89
Phương pháp lập luận trước đây của chúng ta sẽ dễ dàng
thuyết phục chúng ta rằng không thể có một lập luận chứng minh nào chứng
minh được rằng những trường hợp chúng ta chưa từng kinh nghiệm sẽ giống với
những trường hợp chúng ta đã từng kinh nghiệm.
Ít nhất, chúng ta hoàn toàn có thể hình dung tiến trình của
tự nhiên thay đổi; và chỉ riêng điều đó cũng đủ chứng tỏ rằng một sự thay đổi
như vậy không phải là điều tuyệt đối không thể xảy ra.
Có thể hình thành một ý niệm rõ ràng về bất kỳ điều gì là
một bằng chứng không thể bác bỏ cho thấy điều ấy là khả hữu; và chỉ riêng điều
đó cũng đủ bác bỏ bất kỳ sự chứng minh nào muốn khẳng định điều ngược lại.
Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản
nháp thứ hai
(Jun/2026)
(Còn tiếp... →)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1] chiliagon
[2] Sự đồng nhất (identity) là cách chúng ta nói rằng một đối tượng
vẫn là “cùng một sự vật”, dù nó có lúc xuất hiện, có lúc không còn hiện diện với
giác quan; và ý nghĩ này chỉ được giữ vững khi chúng ta dựa vào quan hệ nhân quả
để tin rằng nó không thực sự bị thay đổi.
[3] Hume dùng
từ place (nơi chốn) thay vì space (không gian) để chỉ vị trí của
đối tượng trong kinh nghiệm trực tiếp của giác quan, chứ không phải một khái niệm
hình học trừu tượng về không gian. Vì vậy, “place” ở đây mang nghĩa kinh nghiệm,
gắn với quan hệ “ở đây / ở đó” giữa các đối tượng như chúng được tri giác, và
không nên đồng nhất với “không gian” theo nghĩa trừu tượng trong triết học hình
học hay sau này của Kant.
[4] Nguyên lý “bất cứ điều gì bắt đầu hiện hữu
đều phải có một nguyên nhân của sự hiện hữu” không xuất hiện như một mệnh đề
nguyên văn trong Aristotle, nhưng thường được xem như một sự hệ thống hóa hậu kỳ
từ lập trường của ông về nhân quả và sự trở thành, theo đó mọi “sinh thành” (coming-to-be)
đều phải xuất phát “từ một cái gì đó và bởi một cái gì đó” (Phys. I.7, 190a).
Trong truyền thống kinh viện, nguyên lý này được phát triển thành một châm ngôn
siêu hình mang tính phổ quát về tính tất yếu của nguyên nhân, đặc biệt trong
Thomas Aquinas, trước khi được Hume đưa vào khảo sát phê phán về tính “tự hiển
nhiên” của nó.
[5] Ides tháng Ba (Ides of March): Trong lịch La Mã cổ đại, Ides là một mốc
ngày cố định trong tháng; riêng tháng Ba, tháng Năm, tháng Bảy và tháng Mười,
Ides rơi vào ngày 15 (các tháng khác là ngày 13). Ides tháng Ba (15 tháng Ba năm
44 TCN) nổi tiếng vì là ngày Julius Caesar bị ám sát trong Viện nguyên lão La
Mã.
[6] the author of our being.
[7] Ở đây Hume không định nghĩa belief như một trạng thái tâm lý, mà định nghĩa
hành vi to believe ("tin"). Theo ông, "tin" không phải là sở
hữu thêm một ý niệm mới, mà là cảm nhận (to feel) một tri giác với mức độ sức mạnh
và sự sống động cao hơn ý niệm của trí tưởng tượng. Vì vậy, sự khác biệt giữa
tin và tưởng tượng không nằm ở nội dung của ý niệm, mà ở phương thức xuất hiện
của ý niệm trong não thức.
[8] Ở đây Hume mô tả cơ chế căn bản của suy luận nhân quả. Từ nhiều lần một
ấn tượng này luôn đi kèm một ấn tượng khác (constant conjunction), thói quen (custom
hay habit) khiến não thức, khi chỉ gặp lại một trong hai, tự động chuyển sang ý
niệm về cái còn lại. Vì vậy, suy luận nhân quả không phát sinh từ việc trực tiếp
tri giác một "mối liên hệ tất yếu", mà từ sự lặp lại của kinh nghiệm
và tác động của thói quen lên não thức. Đây là bước ngoặt trong lập luận của
Hume. Suy luận nhân quả không bắt nguồn từ việc tri giác một mối liên hệ tất yếu
giữa các sự vật, mà từ sự lặp lại thường hằng của các ấn tượng (constant
conjunction), khiến thói quen dẫn não thức từ một ấn tượng hiện tại sang ý niệm
về đối tượng thường đi kèm với nó.
