(A Treatise of Human
Nature)
David Hume
QUYỂN I - PHẦN III.
Về tri thức và xác suất.
MỤC X.
Về Ảnh Hưởng Của Sự Tin Tưởng
T 1.3.10.1, SBN 118
Nhưng mặc dù triết học
bác bỏ giáo dục như một cơ sở không đáng tin cậy để chấp nhận một quan điểm, nó
vẫn có một ảnh hưởng rất lớn trong đời sống; và chính nó là nguyên nhân khiến mọi
hệ thống tư tưởng mới, lúc đầu, đều dễ bị bác bỏ chỉ vì chúng còn mới lạ và
khác thường.
Con người hầu như
không bao giờ sẵn lòng tin rằng những hiệu quả có tầm quan trọng lớn lao như vậy
lại có thể phát sinh từ những nguyên lý thoạt nhìn có vẻ quá nhỏ bé và tầm thường;
cũng như không dễ chấp nhận rằng phần lớn những suy luận của chúng ta, cùng với
toàn bộ những hành động và đam mê của chúng ta, cuối cùng đều có thể được quy về
không gì khác ngoài thói quen và tập quán [2].
Để trả lời trước sự
phản đối ấy, ở đây tôi sẽ trình bày trước một phần của những điều vốn phải được
dành cho phần sau của tác phẩm, khi chúng ta khảo sát những đam mê và cảm thức
về cái đẹp.
T 1.3.10.2, SBN
118–119
Trong não thức con
người vốn có sẵn một sự tri giác về đau đớn và khoái cảm; chúng là nguồn động lực
chủ yếu và nguyên lý thúc đẩy mọi hành động của con người. Nhưng đau đớn và
khoái cảm có thể xuất hiện trong não thức theo hai cách; và mỗi cách tạo ra những
tác động rất khác nhau. Chúng hoặc xuất hiện dưới dạng ấn tượng, nghĩa là trong
sự cảm nhận trực tiếp, hoặc chỉ xuất hiện dưới dạng ý niệm, như lúc này khi tôi
chỉ nhắc đến chúng.
Rõ ràng, ảnh hưởng của
hai cách xuất hiện ấy đối với hành động của chúng ta hoàn toàn không ngang
nhau. Ấn tượng luôn thúc đẩy não thức, và thúc đẩy ở mức mạnh nhất; nhưng không
phải mọi ý niệm đều có tác dụng như vậy.
Trong trường hợp này,
tự nhiên đã hành động hết sức thận trọng và dường như đã cẩn thận tránh những bất
lợi của cả hai thái cực.
Nếu chỉ có ấn tượng mới
tác động đến ý chí, thì trong từng khoảnh khắc của cuộc đời, chúng ta sẽ phải hứng
chịu những tai họa lớn nhất; bởi lẽ, mặc dù có thể thấy trước chúng đang đến, tự
nhiên lại không ban cho chúng ta một nguyên lý hành động nào có thể thôi thúc
chúng ta tránh khỏi chúng.
Ngược lại, nếu mọi ý
niệm đều có thể tác động đến hành động của chúng ta, thì tình trạng của chúng
ta cũng chẳng khá hơn là bao. Bởi tư tưởng vốn luôn dao động và không ngừng vận
động; những hình ảnh về mọi sự vật, đặc biệt là về những điều tốt và những điều
xấu, luôn lang thang trong não thức; và nếu não thức bị chi phối bởi mọi ý niệm
vu vơ như vậy, thì nó sẽ không bao giờ có được dù chỉ một khoảnh khắc bình yên
và tĩnh lặng.[3]
T 1.3.10.3, SBN
119–20
Vì vậy, tự nhiên đã chọn một con đường trung dung: nó
không trao cho mọi ý niệm về điều thiện và điều ác khả năng tác động đến ý chí,
nhưng cũng không hoàn toàn tước bỏ ảnh hưởng ấy khỏi tất cả những ý niệm.
Mặc dù một điều hư cấu vu vơ không có chút hiệu lực nào,
nhưng kinh nghiệm cho chúng ta thấy rằng những ý niệm về những đối tượng mà
chúng ta tin là đang hiện hữu hoặc sẽ hiện hữu vẫn tạo ra, tuy ở một mức độ thấp
hơn, cùng một loại tác động như những ấn tượng đang trực tiếp hiện diện trước
giác quan và sự tri giác.
Vì vậy, tác dụng của sự tin tưởng (belief) là nâng một ý
niệm đơn thuần lên gần ngang với một ấn tượng, và trao cho nó một ảnh hưởng
tương tự đối với những đam mê.
Nó chỉ có thể tạo ra hiệu quả ấy bằng cách làm cho ý niệm
tiến gần đến ấn tượng về lực và tính sống động.
Bởi lẽ, chính sự khác nhau về mức độ lực và tính sống động
tạo nên toàn bộ sự khác biệt nguyên thủy giữa một ấn tượng và một ý niệm. Do
đó, sự khác biệt ấy tất yếu cũng là nguồn gốc của mọi khác biệt trong tác động
của hai loại tri giác này; và việc thu hẹp hoặc xóa bỏ sự khác biệt ấy, dù toàn
bộ hay chỉ một phần, chính là nguyên nhân khiến chúng ngày càng giống nhau hơn.
Ở bất cứ nơi nào một ý niệm được làm cho tiến gần đến một
ấn tượng về lực và tính sống động, thì nó cũng sẽ bắt chước ấn tượng ấy trong ảnh
hưởng của nó đối với não thức. Và ngược lại, ở bất cứ nơi nào một ý niệm có được
ảnh hưởng tương tự như một ấn tượng — như trong trường hợp đang bàn đến — thì
điều đó nhất thiết phải bắt nguồn từ việc nó đã tiến gần đến ấn tượng về lực và
tính sống động.
Vì vậy, bởi sự tin tưởng khiến một ý niệm có khả năng tạo
ra những tác động giống như một ấn tượng, nên nó cũng phải làm cho ý niệm ấy trở
nên giống với ấn tượng về chính những phẩm chất này. Do đó, sự tin tưởng không
là gì khác ngoài việc một ý niệm được hình dung với sức mạnh và tính sống động
lớn hơn.
Điều này vừa cung cấp thêm một luận cứ ủng hộ hệ thống mà
tôi đang trình bày, vừa giúp chúng ta hiểu được bằng cách nào những suy luận của
chúng ta từ quan hệ nhân quả có thể tác động đến ý chí và những đam mê.[4]
T 1.3.10.4, SBN 120
Vì sự tin tưởng gần như là điều kiện không thể thiếu để
khơi dậy những đam mê, nên ngược lại, những đam mê cũng rất thuận lợi cho sự
hình thành sự tin tưởng. Không chỉ những sự việc đem lại những cảm xúc dễ chịu,
mà rất thường cả những sự việc gây đau đớn cũng chính vì thế mà dễ trở thành đối
tượng của sự tin tưởng và sự chấp nhận.
Một người hèn nhát, vốn rất dễ bị khơi dậy nỗi sợ hãi, sẽ
dễ dàng tin vào mọi câu chuyện về hiểm nguy mà mình nghe được; cũng như một người
có tính khí buồn bã và u uất rất dễ tin vào mọi điều nuôi dưỡng đam mê đang chi
phối mình.
Khi một đối tượng gây xúc động xuất hiện, nó lập tức đánh
thức một mức độ tương ứng của chính đam mê ấy, đặc biệt ở những người vốn có
khuynh hướng tự nhiên đối với đam mê đó.
Cảm xúc ấy sau đó chuyển sang trí tưởng tượng bằng một sự
chuyển dịch dễ dàng; rồi lan tỏa lên ý niệm về đối tượng gây xúc động, khiến
chúng ta hình dung ý niệm ấy với sức mạnh và tính sống động lớn hơn, và vì thế
tin vào nó, đúng theo học thuyết mà tôi đã trình bày.
Sự thán phục và sự ngạc nhiên cũng có tác dụng giống như
những đam mê khác. Vì vậy, chúng ta có thể nhận thấy rằng trong đám đông bình
dân, những kẻ lang băm và những kẻ đề xướng những dự án viển vông thường dễ
giành được lòng tin hơn nhờ những lời tuyên bố khoa trương của mình, so với khi
họ giữ trong giới hạn của sự chừng mực.
Sự kinh ngạc ban đầu, vốn tự nhiên đi kèm với những câu
chuyện kỳ diệu mà họ thuật lại, lan tỏa khắp não thức, làm cho ý niệm trở nên sống
động đến mức nó giống với những suy luận mà chúng ta rút ra từ kinh nghiệm.
Đây là một hiện tượng mà đến nay chúng ta đã phần nào làm
quen; và trong tiến trình của Luận thuyết này, chúng ta sẽ còn nhiều dịp
hiểu rõ hơn về nó.
T 1.3.10.5, SBN 120–1
Sau khi đã giải thích ảnh hưởng của sự tin tưởng đối với
những đam mê, chúng ta sẽ thấy ít khó khăn hơn khi giải thích tác động của nó đối
với trí tưởng tượng, cho dù những tác động ấy thoạt nhìn có vẻ rất khác thường.
Chắc chắn rằng chúng ta không thể tìm thấy sự thích thú
trong bất kỳ một câu chuyện hay bài thuật lại nào, nếu phán đoán của chúng ta
không chấp nhận những hình ảnh được trình bày trước trí tưởng tượng.
Câu chuyện của những người đã thành thói quen nói dối, dù
chỉ trong những chuyện không đáng kể, cũng không bao giờ đem lại nhiều thích
thú; bởi những ý niệm mà họ trình bày không đi kèm với sự tin tưởng, nên không
tạo được ảnh hưởng nào đáng kể lên não thức.
Ngay cả những nhà thơ, tuy "nói dối" là nghề của
họ, cũng luôn cố gắng đem lại cho những hư cấu của mình một vẻ chân thật; và ở
đâu điều đó hoàn toàn bị bỏ qua, thì tác phẩm của họ, dù tài tình đến đâu, cũng
không thể đem lại nhiều thích thú.
Nói ngắn gọn, chúng ta có thể nhận thấy rằng, ngay cả khi
những ý niệm hoàn toàn không có ảnh hưởng nào đối với ý chí và những đam mê,
thì chân lý và tính hiện thực vẫn là những điều cần thiết để khiến chúng trở
nên hấp dẫn đối với trí tưởng tượng. [5]
T 1.3.10.6, SBN 121–122
Nhưng nếu chúng ta cùng xem xét tất cả những hiện tượng xảy
ra liên quan đến vấn đề này, chúng ta sẽ nhận thấy rằng sự thật, dù dường như cần
thiết trong mọi tác phẩm của thiên tài đến đâu, cũng không có tác dụng nào khác
ngoài việc giúp những ý niệm ấy được tiếp nhận một cách dễ dàng hơn, và khiến
não thức thuận theo chúng với sự hài lòng, hoặc ít nhất là không có sự chống đối.
Nhưng vì đây là một hiệu quả mà chúng ta có thể dễ dàng
cho rằng nó phát sinh từ tính vững chắc và sức mạnh vốn đi kèm với những ý niệm
được thiết lập bởi những suy luận từ quan hệ nhân quả — theo đúng hệ thống mà
tôi đã trình bày — nên tất yếu rằng toàn bộ ảnh hưởng của sự tin tưởng đối với
trí tưởng tượng đều có thể được giải thích từ hệ thống ấy.
Theo đó, chúng ta có thể nhận thấy rằng ở bất cứ nơi nào ảnh
hưởng ấy xuất hiện nhờ những nguyên tắc khác ngoài sự thật hay thực tại, thì những
nguyên tắc ấy sẽ thay thế vị trí của sự thật và đem lại cho trí tưởng tượng một
mức độ thích thú tương đương.
Các nhà thơ đã tạo ra những gì vốn họ gọi là một hệ thống
sự vật mang tính thi ca; mặc dù bản thân họ cũng như độc giả đều không thực sự
tin vào nó, nhưng hệ thống ấy thường được xem là một nền tảng đủ để xây dựng bất
kỳ hư cấu nào.
Chúng ta đã quá quen thuộc với những cái tên như Mars,
Jupiter, Venus, đến mức, cũng giống như giáo dục khắc sâu một quan điểm vào não
thức, sự lặp lại thường xuyên của những ý niệm này khiến chúng đi vào não thức
một cách dễ dàng và chi phối trí tưởng tượng, dù không hề tác động đến phán
đoán.
Tương tự như vậy, những nhà viết bi kịch luôn vay mượn cốt
truyện, hoặc ít nhất là tên tuổi của những nhân vật chính, từ một sự kiện quen
thuộc trong lịch sử; và họ làm điều đó không phải để đánh lừa khán giả, bởi họ
sẵn sàng thừa nhận rằng sự thật không được tuân thủ một cách tuyệt đối trong mọi
chi tiết, mà là để khiến những biến cố phi thường mà họ trình bày được trí tưởng
tượng tiếp nhận dễ dàng hơn.
Tuy nhiên, sự thận trọng này lại không cần thiết đối với
những nhà viết hài kịch. Những nhân vật và biến cố trong hài kịch thường thuộc
về loại quen thuộc hơn, nên chúng dễ dàng đi vào sự hình dung của chúng ta và
được tiếp nhận mà không cần bất kỳ nghi thức chuẩn bị nào như vậy, ngay cả khi
ngay từ cái nhìn đầu tiên chúng ta đã biết chúng là hư cấu và chỉ là sản phẩm
thuần túy của trí tưởng tượng.
T 1.3.10.7, SBN 122
Sự pha trộn giữa sự thật và giả dối trong những câu chuyện
của những nhà viết bi kịch không chỉ phục vụ cho mục đích hiện tại của chúng ta
— đó là cho thấy rằng trí tưởng tượng có thể được thỏa mãn mà không cần một sự
tin tưởng hay sự chắc chắn tuyệt đối — mà dưới một góc nhìn khác, nó còn có thể
được xem như một sự xác nhận rất mạnh mẽ cho hệ thống này.
Rõ ràng rằng những nhà thơ sử dụng thủ pháp vay mượn tên
tuổi của nhân vật và những biến cố chính trong tác phẩm từ lịch sử là nhằm khiến
toàn bộ câu chuyện được tiếp nhận dễ dàng hơn, đồng thời làm cho nó tạo ra một ấn
tượng sâu sắc hơn đối với trí tưởng tượng và những cảm xúc.
Những biến cố khác nhau trong tác phẩm đạt được một dạng quan
hệ liên kết nhờ được kết hợp lại trong cùng một bài thơ hoặc một sự trình bày
thống nhất; và nếu bất kỳ một trong những biến cố ấy là đối tượng của sự tin tưởng,
thì nó sẽ trao một sức mạnh và tính sống động cho những biến cố khác có liên hệ
với nó.
Tính sống động của sự hình dung ban đầu lan truyền theo
những mối liên hệ ấy, và được truyền đi — giống như qua nhiều ống dẫn hay dòng
kênh — đến mọi ý niệm có bất kỳ sự kết nối nào với ý niệm nguyên thủy.
Dĩ nhiên, điều này không bao giờ có thể đạt đến mức độ của
một sự chắc chắn hoàn toàn; bởi sự kết hợp giữa những ý niệm ở đây phần nào chỉ
là ngẫu nhiên.
Tuy nhiên, ảnh hưởng của nó vẫn tiến gần đến mức có thể
khiến chúng ta nhận ra rằng tất cả những hiện tượng ấy đều bắt nguồn từ cùng một
nguyên lý.
Sự tin tưởng phải làm cho trí tưởng tượng trở nên thích
thú thông qua lực và tính sống động mà nó mang theo; bởi vì mọi ý niệm nào có lực
và tính sống động đều được nhận thấy là phù hợp và dễ chịu đối với năng lực ấy.[6]
T 1.3.10.8, SBN 122–3
Để xác nhận điều này, chúng ta có thể nhận thấy rằng có một
sự hỗ trợ lẫn nhau giữa phán đoán và trí tưởng tượng, cũng như giữa phán đoán
và đam mê; và rằng sự tin tưởng không chỉ đem lại sức mạnh cho trí tưởng tượng,
mà một trí tưởng tượng mạnh mẽ và sống động cũng là, trong tất cả những năng lực
của con người, năng lực thích hợp nhất để tạo ra sự tin tưởng và uy tín.
Chúng ta rất khó có thể từ chối sự đồng thuận của mình đối
với những gì được trình bày trước chúng ta bằng tất cả những màu sắc của tài
hùng biện; và trong nhiều trường hợp, tính sống động do trí tưởng tượng tạo ra
còn lớn hơn cả tính sống động phát sinh từ thói quen và kinh nghiệm.
Chúng ta bị cuốn theo trí tưởng tượng sống động của tác
giả hoặc người đối thoại với mình; và ngay cả chính bản thân người ấy cũng thường
trở thành nạn nhân của ngọn lửa nhiệt tình và thiên tài của chính mình.
T 1.3.10.9, SBN 123
Cũng không nên bỏ qua nhận xét rằng, cũng như một trí tưởng
tượng sống động rất thường suy thoái thành sự điên loạn hoặc sự ngông cuồng, và
có sự tương đồng lớn với chúng trong hoạt động của nó, thì những trạng thái ấy
cũng tác động lên phán đoán theo cùng một cách và tạo ra sự tin tưởng từ chính
những nguyên tắc giống nhau.
Khi trí tưởng tượng, do một sự xáo động bất thường của
máu huyết và những tinh lực [7],
đạt đến một mức độ sống động làm rối loạn toàn bộ năng lực và hoạt động của nó,
thì không còn phương tiện nào để phân biệt giữa sự thật và sự giả dối.
Khi ấy, mọi sự hư cấu tùy tiện hay mọi ý niệm rời rạc, vì
có cùng ảnh hưởng như những ấn tượng của ký ức hoặc những kết luận của phán
đoán, đều được tiếp nhận trên cùng một nền tảng, và tác động lên những đam mê với
một sức mạnh ngang nhau.
Lúc này, một ấn tượng hiện tại và một sự chuyển dịch theo
thói quen không còn cần thiết để làm cho những ý niệm của chúng ta trở nên sống
động nữa.
Mọi hình ảnh kỳ quái của não thức đều trở nên sống động
và mãnh liệt ngang với bất kỳ suy luận nào mà trước đây chúng ta từng dành cho
cái tên trang trọng là những kết luận về những sự kiện thực tế; và đôi khi
chúng còn ngang với chính những ấn tượng hiện tại của giác quan.[8]
T 1.3.10.10, SBN 123, 630–631
Chúng ta có thể nhận thấy cùng một tác động ấy của thi
ca, nhưng ở một mức độ thấp hơn; và điều chung giữa thi ca và sự điên loạn là:
tính sống động mà chúng đem lại cho những ý niệm không bắt nguồn từ những hoàn
cảnh hay những mối liên hệ đặc thù của chính những đối tượng được những ý niệm ấy
biểu thị, mà bắt nguồn từ trạng thái và khuynh hướng hiện thời của chính con
người.
Nhưng cho dù mức độ sống động này có thể được đẩy lên cao
đến đâu, thì rõ ràng rằng trong thi ca, nó không bao giờ tạo ra cùng một cảm nhận
như tính sống động nảy sinh trong não thức khi chúng ta suy luận, ngay cả khi
chúng ta chỉ suy luận từ những xác suất thấp nhất.
Não thức có thể dễ dàng phân biệt giữa hai điều ấy; và bất
cứ sự kích động nào mà nhiệt hứng thi ca có thể tạo ra nơi chúng ta, thì nó vẫn
chỉ là cái bóng của sự tin tưởng hay sự thuyết phục.
Trường hợp của ý niệm cũng giống như trường hợp của đam
mê mà nó khơi dậy. Không có một đam mê nào của não thức con người mà thi ca
không thể tạo ra; nhưng đồng thời, cảm giác đi kèm với những đam mê ấy rất khác
nhau tùy theo việc chúng được khơi dậy bởi những hư cấu thi ca hay bởi sự tin
tưởng và thực tại.
Một đam mê vốn gây khó chịu trong đời sống thực tế có thể
đem lại sự thích thú cao nhất trong một vở bi kịch hoặc một bản anh hùng ca.
Trong trường hợp sau, nó không đè nặng lên chúng ta với cùng một sức nặng như
trong thực tế; nó có vẻ kém vững chắc và kém thực hơn; và nó không có tác dụng
nào khác ngoài tác dụng dễ chịu là kích thích những tinh lực và đánh thức sự
chú ý.
Sự khác biệt trong những đam mê là một bằng chứng rõ ràng
cho thấy có một sự khác biệt tương ứng trong những ý niệm mà từ đó những đam mê
ấy phát sinh.
Ở nơi nào tính sống động bắt nguồn từ một sự kết hợp theo
thói quen với một ấn tượng hiện tại, thì mặc dù trí tưởng tượng bề ngoài có thể
không bị kích động nhiều như vậy, nhưng trong hoạt động của nó luôn có một điều
gì đó mạnh mẽ và thực hơn những sự bùng cháy nhiệt thành của thi ca và tài hùng
biện.
Trong trường hợp này cũng như trong mọi trường hợp khác,
sức mạnh của những hoạt động trong não thức không thể được đo lường bằng mức độ
dao động hay kích động bề ngoài của nó.
Một sự mô tả bằng thi ca có thể tạo ra một tác động rõ rệt
hơn lên trí tưởng tượng so với một bản thuật lại mang tính lịch sử. Nó có thể tập
hợp nhiều hoàn cảnh hơn để tạo thành một hình ảnh hay một bức tranh hoàn chỉnh.
Nó có thể dường như đặt đối tượng trước mắt chúng ta với những màu sắc sống động
hơn.
Nhưng dù vậy, những ý niệm mà nó trình bày vẫn khác về mặt
cảm nhận với những ý niệm phát sinh từ trí nhớ và phán đoán.
Giữa tất cả vẻ mãnh liệt bề ngoài của tư tưởng và tình cảm
đi kèm với những hư cấu của thi ca, vẫn luôn tồn tại một điều gì đó yếu ớt và
không hoàn chỉnh.[9]
T 1.3.10.11, SBN 631–632
Sau này chúng ta sẽ có dịp xem xét cả những điểm tương đồng
lẫn những điểm khác biệt giữa sự hứng khởi thi ca và một sự xác tín nghiêm túc.
Trong lúc này, tôi không thể không nhận xét rằng sự khác biệt lớn lao trong cảm
nhận của chúng phần nào xuất phát từ sự tự suy xét và những quy tắc tổng quát.
Chúng ta nhận thấy rằng sức mạnh của sự hình dung mà những
hư cấu nhận được từ thi ca và tài hùng biện chỉ là một yếu tố hoàn toàn ngẫu
nhiên, điều mà bất kỳ ý niệm nào cũng đều có thể đạt được; đồng thời chúng ta
cũng nhận thấy rằng những hư cấu ấy không được nối kết với bất kỳ điều gì có thực.
Sự nhận thức này chỉ khiến chúng ta, có thể nói như vậy,
tạm thời thuận theo hư cấu; nhưng đồng thời nó cũng khiến ý niệm ấy được cảm nhận
một cách rất khác với những sự tin tưởng bền vững đã được thiết lập trên nền tảng
của trí nhớ và thói quen.
Hai loại này có phần nào cùng một bản tính; nhưng một loại
kém xa loại kia, cả về nguồn gốc tạo thành lẫn những tác động mà nó gây ra.
T 1.3.10.12, SBN 632
Một sự tự suy xét tương tự dựa trên những quy tắc tổng
quát cũng ngăn cản chúng ta gia tăng mức độ tin tưởng của mình chỉ vì lực và
tính sống động của những ý niệm được gia tăng.
Khi một quan điểm không còn chấp nhận bất kỳ sự nghi ngờ
nào hay bất kỳ một xác suất đối nghịch nào, chúng ta dành cho nó một sự xác tín
hoàn toàn; mặc dù sự thiếu vắng tính tương tự hoặc sự kề cận có thể khiến lực của
nó thấp hơn so với lực của những quan điểm khác.
Đó cũng là cách mà phán đoán của chúng ta điều chỉnh những
biểu hiện bề ngoài của giác quan, và khiến chúng ta hình dung rằng một vật thể ở
khoảng cách hai mươi bộ, ngay cả đối với con mắt, dường như cũng lớn bằng một vật
thể có cùng kích thước ở khoảng cách mười bộ.[10]
MỤC XI.
Về Xác Suất Của Những Trường Hợp Ngẫu Nhiên
T 1.3.11.1, SBN 124
Nhưng để đem lại cho hệ thống này toàn bộ sức mạnh và
tính hiển nhiên của nó, chúng ta phải tạm thời rời mắt khỏi chính nó để xem xét
những hệ quả của nó, và từ chính những nguyên lý ấy giải thích một số loại suy
luận khác, vốn cũng bắt nguồn từ cùng một nguồn gốc.
T 1.3.11.2, SBN 124
Những triết gia đã phân chia lý trí của con người thành
tri thức và xác suất, đồng thời định nghĩa loại thứ nhất là loại bằng chứng
phát sinh từ sự so sánh giữa những ý niệm, buộc phải gộp tất cả những lập luận
của chúng ta từ nhân quả vào dưới thuật ngữ tổng quát là xác suất. Nhưng mặc dù
ai cũng có quyền dùng thuật ngữ của mình theo nghĩa mà mình muốn; và vì thế,
trong phần trước của chuyên luận này, tôi cũng đã theo cách diễn đạt ấy; tuy
nhiên, điều chắc chắn là trong cách nói thông thường, chúng ta dễ dàng khẳng định
rằng nhiều lập luận dựa trên nhân quả vượt quá xác suất, và có thể được chấp nhận
như một loại bằng chứng cao hơn. Người nào nói rằng chỉ có xác suất là mặt trời
sẽ mọc vào ngày mai, hoặc rằng mọi người đều phải chết, hẳn sẽ trở nên lố bịch;
mặc dù rõ ràng chúng ta không có sự bảo đảm nào khác về những sự kiện ấy ngoài
điều mà kinh nghiệm đem lại cho chúng ta. Vì lý do này, có lẽ sẽ thuận tiện
hơn, vừa để giữ nguyên ý nghĩa thông thường của những từ ngữ, vừa để phân biệt
những mức độ khác nhau của bằng chứng, nếu phân chia lý trí của con người thành
ba loại, tức là: loại phát sinh từ tri thức, từ chứng minh, và từ xác suất. [11]
Bằng tri thức, tôi muốn nói đến sự bảo đảm phát sinh từ sự so sánh giữa những ý
niệm. Bằng chứng minh, tôi muốn nói đến những lập luận phát sinh từ quan hệ
nhân quả, và hoàn toàn không còn nghi ngờ hay bất định. Bằng xác suất, tôi muốn
nói đến loại bằng chứng vẫn còn đi kèm với sự bất định. Chính loại suy luận sau
cùng này là điều tôi sẽ tiếp tục xem xét.
T 1.3.11.3, SBN 124–5
XÁC SUẤT, hay suy luận từ sự phỏng đoán, có thể được chia
thành hai loại, đó là: loại đặt nền tảng trên những trường hợp ngẫu nhiên, và
loại phát sinh từ những nguyên nhân. Chúng ta sẽ lần lượt xem xét từng loại.
T 1.3.11.4, SBN 125
Ý niệm về nhân quả bắt nguồn từ kinh nghiệm; kinh nghiệm,
khi trình bày cho chúng ta thấy một số đối tượng luôn luôn kết hợp với nhau, tạo
nên một thói quen khiến chúng ta nhìn những đối tượng ấy trong quan hệ đó đến mức
chúng ta không thể, nếu không cảm thấy một sự gượng ép rõ rệt, nhìn chúng trong
bất kỳ quan hệ nào khác. Ngược lại, vì ngẫu nhiên tự nó không phải là điều gì
có thật, và nói cho đúng, chỉ đơn thuần là sự phủ định của một nguyên nhân, nên
ảnh hưởng của nó đối với não thức trái ngược với ảnh hưởng của nhân quả; và bản
chất của nó là để cho trí tưởng tượng hoàn toàn không thiên về phía nào, dù xem
xét sự hiện hữu hay không hiện hữu của đối tượng được coi là ngẫu nhiên ấy. Một
nguyên nhân vạch ra con đường cho tư tưởng của chúng ta, và theo một cách nào
đó buộc chúng ta phải xem xét những đối tượng nhất định trong những quan hệ nhất
định. Ngẫu nhiên chỉ có thể phá bỏ sự định hướng ấy của tư tưởng, và để não thức
trở về trạng thái thờ ơ vốn có của nó; trạng thái mà, khi không có một nguyên
nhân, nó lập tức quay trở lại.
T 1.3.11.5, SBN 125
Vì vậy, do sự thờ ơ hoàn toàn là điều cốt yếu của ngẫu
nhiên, nên không một trường hợp ngẫu nhiên nào có thể vượt hơn một trường hợp
ngẫu nhiên khác, ngoại trừ ở chỗ nó được cấu thành từ một số lượng lớn hơn những
trường hợp ngẫu nhiên ngang nhau. Bởi nếu chúng ta khẳng định rằng một trường hợp
ngẫu nhiên có thể vượt hơn một trường hợp ngẫu nhiên khác theo bất kỳ cách nào
khác, thì đồng thời chúng ta cũng phải khẳng định rằng có một điều gì đó đem lại
cho nó sự vượt trội ấy và khiến kết quả nghiêng về phía này hơn là phía kia.
Nói cách khác, chúng ta phải thừa nhận có một nguyên nhân, và như thế là phá bỏ
giả định về ngẫu nhiên mà trước đó chúng ta đã thiết lập. Một sự thờ ơ hoàn
toàn và tuyệt đối là điều cốt yếu của ngẫu nhiên, và một sự thờ ơ tuyệt đối
không bao giờ, tự nó, có thể vượt hơn hay kém hơn một sự thờ ơ tuyệt đối khác.
Chân lý này không phải chỉ riêng hệ thống của tôi mới có, mà được mọi người thừa
nhận, những người thực hiện những phép tính về xác suất của những trường hợp ngẫu
nhiên.[12]
T 1.3.11.6, SBN 125–6
Và ở đây có một điều đáng chú ý: mặc dù ngẫu nhiên và
nhân quả hoàn toàn trái ngược nhau, nhưng chúng ta không thể hình dung được sự
kết hợp giữa những trường hợp ngẫu nhiên, vốn cần thiết để làm cho một khả năng
xảy ra vượt hơn một khả năng khác, nếu không giả định rằng giữa những trường hợp
ngẫu nhiên có sự pha trộn của những nguyên nhân, và trong một số phương diện có
sự kết hợp của tính tất yếu với sự thờ ơ hoàn toàn trong những phương diện
khác. Khi không có gì giới hạn những trường hợp ngẫu nhiên, thì mọi ý niệm mà
trí tưởng tượng phóng túng nhất có thể tạo ra đều hoàn toàn ngang nhau; và
không thể có bất kỳ hoàn cảnh nào đem lại ưu thế cho ý niệm này hơn ý niệm
khác. Vì thế, nếu chúng ta không thừa nhận rằng có những nguyên nhân làm cho
con xúc xắc rơi xuống, giữ nguyên hình dạng của nó trong lúc rơi, và khiến nó nằm
trên một trong những mặt của nó, thì chúng ta không thể thực hiện bất kỳ phép
tính nào về những quy luật của ngẫu nhiên. Nhưng nếu giả định rằng những nguyên
nhân ấy tác động, đồng thời cũng giả định rằng mọi điều còn lại đều thờ ơ và
hoàn toàn do ngẫu nhiên quyết định, thì chúng ta dễ dàng hình thành ý niệm về một
sự kết hợp vượt trội của những trường hợp ngẫu nhiên. Một con xúc xắc có bốn mặt
được đánh dấu bằng cùng một số chấm, và chỉ có hai mặt được đánh dấu bằng một số
chấm khác, đem lại cho chúng ta một ví dụ rõ ràng và dễ hiểu về sự vượt trội ấy.
Ở đây, não thức bị những nguyên nhân giới hạn vào một số lượng và một tính chất
xác định của những kết quả; đồng thời, nó vẫn không bị định hướng về việc lựa
chọn bất kỳ kết quả riêng biệt nào. [13]
T 1.3.11.7, SBN 126–7
Tiếp tục mạch suy luận mà chúng ta đã tiến qua ba bước: rằng
ngẫu nhiên chỉ đơn thuần là sự phủ định của một nguyên nhân, và tạo ra một trạng
thái thờ ơ hoàn toàn trong não thức; rằng một sự phủ định của nguyên nhân và một
trạng thái thờ ơ hoàn toàn không bao giờ có thể vượt hơn hay kém hơn một sự phủ
định hay một trạng thái thờ ơ khác; và rằng luôn luôn phải có sự pha trộn của
những nguyên nhân giữa những trường hợp ngẫu nhiên để làm nền tảng cho bất kỳ
suy luận nào; tiếp theo, chúng ta phải xem xét sự kết hợp vượt trội của những trường
hợp ngẫu nhiên có thể tạo ra ảnh hưởng gì đối với não thức, và bằng cách nào nó
tác động đến phán đoán và ý kiến của chúng ta. Ở đây, chúng ta có thể lặp lại
toàn bộ những lập luận đã dùng khi khảo sát sự tin tưởng phát sinh từ nhân quả,
và bằng chính phương pháp ấy chứng minh rằng một số lượng lớn hơn những trường
hợp ngẫu nhiên không tạo ra sự chấp thuận của chúng ta bằng chứng minh, cũng
không bằng xác suất. Quả thật, hiển nhiên là chúng ta không bao giờ có thể, chỉ
bằng sự so sánh thuần túy giữa những ý niệm, khám phá được điều gì có ý nghĩa đối
với vấn đề này; và cũng không thể chứng minh một cách chắc chắn rằng bất kỳ kết
quả nào nhất định sẽ rơi vào phía có số lượng trường hợp ngẫu nhiên lớn hơn. Giả
sử có bất kỳ sự chắc chắn nào trong trường hợp này thì cũng có nghĩa là lật đổ
điều chúng ta đã xác lập về sự đối lập giữa những trường hợp ngẫu nhiên, cũng
như về sự bình đẳng và thờ ơ hoàn toàn của chúng.
T 1.3.11.8, SBN 127
Nếu có người nói rằng, mặc dù khi những trường hợp ngẫu
nhiên đối lập nhau thì không thể xác định một cách chắc chắn kết quả sẽ rơi về
phía nào, nhưng chúng ta vẫn có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng kết quả
có nhiều khả năng và có xác suất cao hơn sẽ rơi vào phía có số lượng trường hợp
ngẫu nhiên lớn hơn thay vì phía có số lượng ít hơn; nếu có người nói như vậy,
tôi sẽ hỏi rằng ở đây người ấy muốn nói gì khi dùng những từ khả năng và xác suất?
Khả năng và xác suất của những trường hợp ngẫu nhiên chính là số lượng lớn hơn
của những trường hợp ngẫu nhiên ngang nhau; do đó, khi chúng ta nói rằng nhiều
khả năng kết quả sẽ rơi vào phía vượt trội hơn thay vì phía kém hơn, thì chúng
ta chẳng làm gì hơn ngoài việc khẳng định rằng ở nơi có số lượng trường hợp ngẫu
nhiên lớn hơn thì quả thật có số lượng lớn hơn, và ở nơi có số lượng ít hơn thì
quả thật có số lượng ít hơn; mà đó chỉ là những mệnh đề đồng nhất, hoàn toàn
không đem lại điều gì đáng kể. Câu hỏi đặt ra là: bằng cách nào một số lượng lớn
hơn những trường hợp ngẫu nhiên ngang nhau tác động lên não thức, và tạo ra sự
tin tưởng hay sự chấp thuận, vì rõ ràng điều đó không diễn ra bằng những lập luận
rút ra từ chứng minh, cũng không từ xác suất.
T 1.3.11.9, SBN 127–8
Để làm sáng tỏ khó khăn này, chúng ta hãy giả sử có một
người cầm một con xúc xắc được chế tạo sao cho bốn mặt của nó mang cùng một
hình vẽ, hoặc cùng một số chấm, còn hai mặt kia mang một hình vẽ khác; rồi người
ấy bỏ con xúc xắc vào hộp với ý định gieo nó. Rõ ràng người ấy phải kết luận rằng
hình vẽ thứ nhất có xác suất cao hơn hình vẽ thứ hai, và sẽ ưu tiên hình được
ghi trên số lượng mặt nhiều hơn. Theo một nghĩa nào đó, người ấy tin rằng hình ấy
sẽ ngửa lên trên; tuy vậy, sự tin tưởng ấy vẫn còn kèm theo do dự và nghi ngờ,
tương ứng với số lượng trường hợp ngẫu nhiên đối lập với nó. Và khi số lượng những
trường hợp ngẫu nhiên đối lập ấy giảm xuống, còn sự vượt trội của phía kia tăng
lên, thì sự tin tưởng của người ấy cũng đạt đến những mức độ ổn định và chắc chắn
mới. Sự tin tưởng này phát sinh từ một hoạt động của não thức trên một đối tượng
đơn giản và hữu hạn trước mắt chúng ta; vì thế bản chất của nó sẽ càng dễ được
khám phá và giải thích hơn. Chúng ta chỉ cần xem xét một con xúc xắc duy nhất để
hiểu được một trong những hoạt động kỳ thú nhất của khả năng nhận thức.
T 1.3.11.10, SBN 128
Con xúc xắc vừa mô tả có ba đặc điểm đáng để chúng ta chú
ý.
Thứ nhất, có những nguyên nhân nhất định, như trọng lực,
tính rắn chắc, hình lập phương, v.v., khiến nó rơi xuống, giữ nguyên hình dạng
của nó trong khi rơi, và làm cho một trong những mặt của nó ngửa lên.
Thứ hai, có một số lượng nhất định những mặt, vốn được giả
định là hoàn toàn thờ ơ.
Thứ ba, có một hình vẽ nhất định được ghi trên mỗi mặt.
Ba đặc điểm này tạo thành toàn bộ bản chất của con xúc xắc,
trong chừng mực liên quan đến mục đích hiện tại của chúng ta; vì thế, chúng
cũng là những hoàn cảnh duy nhất mà não thức xét đến khi hình thành một phán
đoán về kết quả của lần gieo ấy. Vậy nên, chúng ta hãy lần lượt và cẩn thận xem
xét từng đặc điểm sẽ ảnh hưởng đến tư tưởng và trí tưởng tượng như thế nào. [14]
T 1.3.11.11, SBN 128
Thứ nhất, chúng ta đã nhận thấy rằng não thức, do tác động
của tập quán, bị định hướng chuyển từ bất kỳ nguyên nhân nào sang kết quả của
nó; và khi một bên xuất hiện, thì hầu như nó không thể không hình thành ý niệm về
bên kia. Sự kết hợp thường xuyên của chúng trong những trường hợp trước đây đã
tạo nên một thói quen trong não thức, khiến nó luôn liên kết chúng trong tư tưởng,
và suy luận từ sự hiện hữu của cái này sang sự hiện hữu của cái thường đi kèm với
nó. Khi não thức xem con xúc xắc không còn được hộp nâng đỡ nữa, thì nó không
thể, nếu không cảm thấy gượng ép, xem con xúc xắc như đang lơ lửng trong không
trung; trái lại, theo lẽ tự nhiên, nó đặt con xúc xắc xuống mặt bàn và hình
dung rằng một trong những mặt của nó sẽ ngửa lên. Đó là kết quả của sự pha trộn
giữa những nguyên nhân, vốn cần thiết để chúng ta có thể hình thành bất kỳ phép
tính nào về những trường hợp ngẫu nhiên.
T 1.3.11.12, SBN 128–9
Thứ hai, chúng ta giả định rằng mặc dù con xúc xắc tất yếu
phải rơi xuống và làm cho một trong những mặt của nó ngửa lên, nhưng không có
gì quyết định mặt cụ thể nào sẽ ngửa lên; điều đó hoàn toàn do ngẫu nhiên quyết
định. Chính bản chất và cốt lõi của ngẫu nhiên là sự phủ định những nguyên
nhân, và để não thức ở trong trạng thái hoàn toàn thờ ơ giữa những kết quả được
giả định là ngẫu nhiên. Vì vậy, khi tư tưởng được những nguyên nhân khiến phải
xem con xúc xắc đang rơi xuống và một trong những mặt của nó sẽ ngửa lên, thì
những trường hợp ngẫu nhiên trình bày tất cả những mặt ấy như hoàn toàn ngang
nhau, và khiến chúng ta lần lượt xem từng mặt một đều có khả năng và xác suất
như nhau. Trí tưởng tượng chuyển từ nguyên nhân, tức là hành động gieo con xúc
xắc, sang kết quả, tức là việc một trong sáu mặt ngửa lên; và nó cảm thấy hầu
như không thể vừa dừng lại giữa chừng trên con đường ấy, vừa hình thành bất kỳ
ý niệm nào khác. Nhưng vì cả sáu mặt ấy loại trừ lẫn nhau, và con xúc xắc không
thể đồng thời ngửa nhiều hơn một mặt, nên nguyên lý này không khiến chúng ta
xem tất cả những mặt cùng lúc đều đang ngửa lên, bởi chúng ta xem điều đó là
không thể. Tuy nhiên, nguyên lý ấy cũng không hướng toàn bộ sức mạnh của nó về
bất kỳ mặt riêng biệt nào; vì nếu như vậy thì mặt ấy sẽ được xem là chắc chắn
và tất yếu. Trái lại, nó hướng tới toàn bộ sáu mặt theo cách phân chia sức mạnh
của nó một cách đồng đều giữa tất cả những mặt. Chúng ta kết luận một cách tổng
quát rằng nhất định sẽ có một mặt xuất hiện sau lần gieo; chúng ta lần lượt lướt
qua tất cả những mặt ấy trong não thức; sự định hướng của tư tưởng là chung cho
tất cả; nhưng không mặt nào nhận được phần sức mạnh nhiều hơn phần tương ứng với
tỷ lệ của nó so với những mặt còn lại. Chính theo cách ấy mà xung lực ban đầu,
và do đó cả tính sinh động của tư tưởng phát sinh từ những nguyên nhân, bị những
trường hợp ngẫu nhiên xen vào phân chia và tách thành nhiều phần.
T 1.3.11.13, SBN 129–30
Chúng ta đã thấy ảnh hưởng của hai đặc điểm đầu tiên của
con xúc xắc, tức là những nguyên nhân, và số lượng cùng sự thờ
ơ của những mặt; [15]
đồng thời cũng đã biết chúng tạo ra một xung lực đối với tư tưởng như thế nào,
và phân chia xung lực ấy thành nhiều phần tương ứng với số đơn vị trong tổng số
những mặt ra sao. Bây giờ chúng ta phải xem xét ảnh hưởng của đặc điểm thứ ba,
tức là những hình vẽ được ghi trên mỗi mặt.
Rõ ràng là khi nhiều mặt mang cùng một hình vẽ, thì chúng
phải cùng phối hợp trong ảnh hưởng của chúng lên não thức, và phải hợp nhất tất
cả những xung lực đã bị phân tán trên những mặt khác nhau mang hình ấy vào
trong một hình ảnh hay một ý niệm duy nhất về hình đó. Nếu vấn đề chỉ là mặt
nào sẽ ngửa lên, thì tất cả những mặt đều hoàn toàn ngang nhau, và không mặt
nào có thể có ưu thế hơn mặt khác. Nhưng vì vấn đề ở đây là hình vẽ nào sẽ xuất
hiện, và cùng một hình vẽ lại được trình bày trên nhiều hơn một mặt, nên hiển
nhiên là những xung lực thuộc về tất cả những mặt ấy phải hợp lại nơi một hình
vẽ duy nhất, và nhờ sự hợp nhất đó mà trở nên mạnh hơn, có lực hơn. Trong trường
hợp hiện tại, chúng ta giả định có bốn mặt mang cùng một hình vẽ, và hai mặt
mang một hình vẽ khác. Vì thế, những xung lực thuộc về nhóm bốn mặt vượt trội
hơn những xung lực thuộc về nhóm hai mặt. Nhưng vì hai kết quả ấy đối lập nhau,
và hai hình vẽ ấy không thể đồng thời cùng xuất hiện, nên những xung lực cũng
trở thành đối lập; và xung lực yếu hơn triệt tiêu xung lực mạnh hơn trong chừng
mực sức mạnh của nó có thể triệt tiêu được. Tính sinh động của ý niệm luôn tỷ lệ
với mức độ của xung lực hay khuynh hướng chuyển dịch; và sự tin tưởng, theo học
thuyết đã trình bày trước đây, chính là tính sinh động của ý niệm. [16]
Lê Dọn Bàn tạm dịch
– bản nháp thứ hai
(Jun/2026)
(Còn tiếp... →)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1]
belief
[2]
custom and habit
[3] Đoạn này đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong lập luận của Hume: từ
việc phân tích bản chất của sự tin tưởng (belief) sang việc giải thích động lực
của hành động. Ông mở đầu bằng tiền đề rằng đau đớn và khoái cảm là nguồn động
lực căn bản của mọi hành động con người, nhưng ngay sau đó phân biệt hai cách
chúng có thể xuất hiện trong não thức: hoặc như ấn tượng đang được cảm nhận trực
tiếp, hoặc chỉ như ý niệm được hình dung. Hai hình thức này không có cùng sức mạnh
tâm lý. Ấn tượng luôn tác động mạnh mẽ đến ý chí, còn ý niệm thì không phải lúc
nào cũng đủ sức thúc đẩy hành động.
Từ đó, Hume cho rằng tự nhiên đã tránh cả hai thái cực. Nếu
chỉ những ấn tượng hiện tại mới có thể chi phối hành động, con người sẽ không
thể chuẩn bị để tránh những đau khổ hay nguy hiểm mà mình thấy trước. Ngược lại,
nếu mọi ý niệm đều có sức mạnh như nhau, thì vô số ý nghĩ và hình ảnh thoáng
qua sẽ liên tục lôi kéo ý chí, khiến đời sống tinh thần không bao giờ đạt được
sự ổn định và yên tĩnh.
Đây chính là tiền đề trực tiếp cho học thuyết về belief.
Hume sắp lập luận rằng không phải mọi ý niệm đều có khả năng thúc đẩy hành động,
mà chỉ những ý niệm được não thức nắm giữ với sức mạnh và tính sống động đặc biệt
— tức những ý niệm cấu thành sự tin tưởng. Vì vậy, belief không phải là
một loại ý niệm mới, mà là một phương thức tồn tại đặc biệt của ý niệm, nhờ đó
nó đạt đến mức độ gần với một ấn tượng, đủ sức tác động đến ý chí, đam mê và
hành động. Chính từ đây, Hume bắt đầu nối kết học thuyết nhận thức của mình với
học thuyết về đam mê và ý chí trong những phần tiếp theo của Treatise.
[4] Đây là đoạn Hume phát biểu gần như đầy đủ định nghĩa nổi tiếng của mình về
sự tin tưởng (belief): "Belief… is nothing but a more vivid and intense
conception of any idea." (Tin tưởng không gì khác hơn là một sự
hình dung sinh động và mãnh liệt hơn của một ý niệm.)
Lập luận của ông diễn ra theo một trình tự rất chặt chẽ.
Trước hết, Hume cho rằng tự nhiên đã chọn một con đường trung dung giữa hai
thái cực: nếu chỉ những ấn tượng đang hiện diện mới có thể thúc đẩy hành động,
con người sẽ không thể chuẩn bị cho tương lai; ngược lại, nếu mọi ý niệm đều có
sức mạnh như nhau, thì vô số ý nghĩ và hình ảnh thoáng qua sẽ liên tục chi phối
ý chí. Vì vậy, chỉ một số ý niệm đặc biệt mới có khả năng tác động đến ý chí và
những đam mê.
Điều khiến những ý niệm ấy khác với những ý niệm thông
thường không phải là chúng chứa thêm một nội dung mới, mà là chúng được não thức
nắm giữ với sức mạnh (force) và tính sống động (vivacity) lớn hơn, nhờ đó tiến
gần đến một ấn tượng trong ảnh hưởng tâm lý của mình. Khi chúng ta tin rằng một
sự vật đang hiện hữu hoặc sẽ hiện hữu, ý niệm về sự vật ấy không còn là một
hình ảnh mờ nhạt của trí tưởng tượng, mà trở nên đủ mạnh để khơi dậy cảm xúc và
thúc đẩy hành động, gần giống như một ấn tượng đang trực tiếp hiện diện.
Đây là một trong những luận điểm nền tảng của toàn bộ Treatise.
Hume bác bỏ quan niệm cho rằng belief là một hành vi riêng biệt của lý trí.
Theo ông, sự khác biệt giữa một ý niệm đơn thuần và một ý niệm được tin tưởng
không nằm ở nội dung của chúng, mà ở cách não thức tri giác cùng một ý niệm.
Chính sự thay đổi về mức độ lực và tính sống động ấy giải thích vì sao những
suy luận từ quan hệ nhân quả, tuy không phải là những chứng minh logic, vẫn có
thể tạo ra tin tưởng và chi phối hành động. Nhờ đó, Hume nối kết học thuyết nhận
thức của mình với học thuyết về ý chí và đam mê: belief chính là chiếc cầu nối
giữa ý niệm và hành động.
[5] Hai đoạn này đánh dấu một bước phát triển rất quan trọng trong tâm lý học
của Hume. Nếu trước đó ông chủ yếu giải thích sự tin tưởng (belief) như kết quả
của kinh nghiệm và thói quen, thì ở đây ông cho thấy quan hệ ấy không chỉ diễn
ra theo một chiều. Sự tin tưởng làm cho những đam mê trở nên mạnh mẽ hơn; nhưng
chính những đam mê cũng làm cho một ý niệm trở nên sống động hơn và vì thế dễ
được tin tưởng hơn. Đồng thời, một ý niệm được tin tưởng cũng có sức hấp dẫn lớn
hơn đối với trí tưởng tượng, khiến nó gây ấn tượng sâu sắc và đem lại nhiều
thích thú hơn cả trong thơ ca, hùng biện hay nghệ thuật.
Qua đó, Hume dần quy nhiều hiện tượng tưởng như rất khác
nhau — từ suy luận, tin tưởng, cảm xúc, ý chí cho đến kinh nghiệm thẩm mỹ — về
cùng một nguyên lý tâm lý học: mức độ sức mạnh (force) và tính sống động
(vivacity) mà một ý niệm đạt được trong não thức. Một ý niệm càng tiến gần đến
một ấn tượng về sức mạnh và tính sống động, nó càng có khả năng được tin là thật,
khơi dậy cảm xúc và chi phối hành động. Đây cũng là chiếc cầu nối giữa học thuyết
nhận thức ở Quyển I với học thuyết về đam mê và thẩm mỹ mà Hume sẽ phát triển
trong những phần tiếp theo của Luận thuyết.
[6] Hai đoạn này tiếp tục mở rộng học thuyết về belief sang lĩnh vực nghệ thuật
và thẩm mỹ. Điểm tinh tế của Hume là ông không nói rằng nghệ thuật cần sự thật
theo nghĩa tác phẩm phải mô tả đúng thực tại. Một bi kịch về thần thoại Hy Lạp,
dù không ai tin Mars hay Jupiter thật sự tồn tại, vẫn có thể gây xúc động. Điều
cần thiết không phải là tin tưởng vào toàn bộ câu chuyện, mà là một mức độ quen
thuộc, liên hệ và sống động đủ để những ý niệm đi vào não thức một cách tự
nhiên.
Vì vậy, trong nghệ thuật, những yếu tố có liên hệ với ký ức,
lịch sử hoặc những ý niệm đã quen thuộc sẽ đóng vai trò giống như một “điểm tựa”
cho trí tưởng tượng. Một yếu tố được tin tưởng hoặc quen thuộc có thể truyền lực
và tính sống động sang những yếu tố hư cấu liên kết với nó.
Đây chính là sự nối tiếp trực tiếp với phân tích trước đó
về belief: tin tưởng không chỉ ảnh hưởng đến hành động và đam mê; nó còn là nguồn
sức mạnh khiến những ý niệm trở nên hấp dẫn đối với trí tưởng tượng.
[7] blood and spirits
[8] Trong hai đoạn này, Hume làm rõ quan hệ hai chiều giữa sự tin tưởng và
trí tưởng tượng. Một mặt, sự tin tưởng làm cho những ý niệm trở nên mạnh mẽ và
sống động hơn, nhờ đó chúng có khả năng tác động đến cảm xúc và hành động. Mặt
khác, chính một trí tưởng tượng mạnh mẽ, khi trình bày những ý niệm với sức
thuyết phục và sự sinh động cao, lại có thể tạo ra sự tin tưởng nơi người tiếp
nhận.
Tuy nhiên, cơ chế này cũng cho thấy giới hạn của nó: tính
sống động của một ý niệm không tự nó bảo đảm tính đúng đắn của ý niệm ấy. Khi sức
sống động của ý niệm bắt nguồn từ kinh nghiệm, thói quen và những mối liên hệ ổn
định giữa những sự kiện, nó tạo nên những tin tưởng hợp lý trong đời sống thường
ngày. Nhưng khi nó chỉ xuất phát từ sự kích động quá mức của trí tưởng tượng mà
không còn được kiểm soát bởi kinh nghiệm, nó có thể dẫn đến mê tín, ảo tưởng hoặc
những phán đoán sai lầm.Vì vậy, điều quan trọng đối với Hume không phải chỉ là
một ý niệm mạnh hay yếu, mà là nguồn gốc của sức mạnh ấy. Cùng một cơ chế tâm
lý có thể làm nền tảng cho cả tri thức và sai lầm; sự khác biệt nằm ở chỗ tính
sống động của ý niệm được hình thành từ một trật tự kinh nghiệm ổn định hay chỉ
từ sự vận động tự do của trí tưởng tượng.
[9] Đoạn này là một bước rất tinh tế trong phân tích của Hume về sự khác biệt
giữa tưởng tượng nghệ thuật và sự tin tưởng. Ông thừa nhận rằng thi ca có thể tạo
ra những ý niệm vô cùng sống động và khơi dậy mọi loại đam mê: sợ hãi, thương cảm,
kinh ngạc, đau buồn hay hân hoan. Tuy nhiên, sự sống động ấy vẫn khác căn bản với
sự sống động của những ý niệm được hình thành từ ký ức, kinh nghiệm và suy luận
nhân quả.
Đối với Hume, vấn đề không nằm ở mức độ kích thích bề
ngoài của cảm xúc. Một cảnh trong bi kịch có thể khiến ta xúc động mạnh hơn một
sự kiện lịch sử được thuật lại khô khan; nhưng cảm xúc ấy vẫn thiếu “sức nặng của
thực tại”, bởi nó không đi kèm với sự tin tưởng rằng đối tượng thực sự đang hiện
hữu hoặc đã xảy ra.
Vì vậy, thi ca cho thấy một điểm quan trọng trong học
thuyết của Hume: tính sống động của ý niệm có thể được tạo ra bằng nhiều con đường
khác nhau, nhưng chỉ tính sống động bắt nguồn từ kinh nghiệm và thói quen mới tạo
nên belief theo nghĩa đầy đủ. Nghệ thuật có thể mô phỏng sức mạnh của
tin tưởng đối với trí tưởng tượng và cảm xúc, nhưng không thể hoàn toàn thay thế
cảm giác về thực tại mà tin tưởng đem lại.
[10] Ảnh hưởng của sự tin tưởng: từ nhận thức đến cảm xúc và trí tưởng tượng: Trong
phần này, Hume không chỉ giải thích tin tưởng (belief) là gì, mà còn khảo
sát cách thức nó vận hành trong toàn bộ đời sống tinh thần của con người. Sau
khi chứng minh rằng tin tưởng không phải là một ý niệm mới được thêm vào não thức,
mà chỉ là một ý niệm được hình dung với sức mạnh (force) và tính sống động (vivacity)
lớn hơn, Hume đặt ra câu hỏi quan trọng hơn: vì sao một ý niệm có được sức mạnh
ấy lại có khả năng chi phối cảm xúc, ý chí và hành động?
Điểm xuất phát của ông là nhận xét rằng đau đớn và khoái
cảm là những động lực căn bản của hành động con người. Tuy nhiên, chúng có thể
xuất hiện trong não thức theo hai cách khác nhau: hoặc như những ấn tượng đang
được cảm nhận trực tiếp, hoặc như những ý niệm về những điều không hiện diện.
Hai hình thức này không có cùng sức mạnh. Một ấn tượng hiện tại luôn tác động mạnh
mẽ đến não thức; trong khi một ý niệm đơn thuần thường chỉ là một hình ảnh yếu
hơn, không đủ sức thúc đẩy hành động.
Theo Hume, tự nhiên đã lựa chọn một vị trí trung gian giữa
hai thái cực. Nếu chỉ những ấn tượng trực tiếp mới có khả năng tác động đến ý
chí, con người sẽ không thể hành động dựa trên những điều chưa xảy ra: chúng ta
có thể nhận thấy một nguy hiểm đang đến nhưng không có động lực để chuẩn bị hay
tránh né nó. Nhưng nếu mọi ý niệm trong não thức đều có sức mạnh ngang nhau, đời
sống tinh thần sẽ trở nên hỗn loạn, bởi vô số hình ảnh, khả năng và tưởng tượng
thoáng qua sẽ liên tục lôi kéo chúng ta theo những hướng khác nhau.
Vì vậy, không phải mọi ý niệm đều có khả năng chi phối
hành động. Chỉ những ý niệm đạt được một mức độ đặc biệt về sức mạnh và tính sống
động mới có thể tác động lên ý chí gần giống như những ấn tượng trực tiếp. Trạng
thái ấy chính là tin tưởng.
Đây là điểm cốt lõi trong định nghĩa nổi tiếng của Hume:
“Belief is nothing but a more vivid and intense
conception of any idea.” / Tin tưởng không gì khác hơn là một sự hình dung
sinh động và mãnh liệt hơn của một ý niệm.
Theo đó, sự khác biệt giữa một ý niệm thông thường và một
tin tưởng không phải là sự khác biệt về bản chất, mà chỉ là sự khác biệt về mức
độ. Tin tưởng không bổ sung một nội dung mới vào ý niệm; nó chỉ thay đổi cách
não thức nắm giữ ý niệm ấy, khiến nó trở nên gần với một ấn tượng hơn và do đó
có sức tác động mạnh hơn.
Từ nguyên lý này, Hume tiếp tục phân tích quan hệ qua lại
giữa tin tưởng, đam mê và trí tưởng tượng. Một mặt, tin tưởng làm cho những ý
niệm có khả năng khơi dậy cảm xúc mạnh mẽ hơn; mặt khác, chính những đam mê mạnh
mẽ cũng có thể làm tăng sức sống của những ý niệm và khiến chúng dễ được tiếp
nhận như những điều đáng tin hơn. Một người vốn sợ hãi sẽ dễ tin vào những câu
chuyện về nguy hiểm; một người có tâm trạng u buồn sẽ dễ tiếp nhận những điều củng
cố nỗi buồn của mình. Ở đây, Hume cho thấy sự tin tưởng không hoạt động như một
phán đoán thuần lý tách biệt khỏi đời sống cảm xúc, mà luôn nằm trong sự vận động
qua lại giữa nhận thức và tình cảm.
Cơ chế ấy cũng giải thích vì sao thi ca, hùng biện và nghệ
thuật có thể tác động mạnh đến con người. Một câu chuyện hư cấu không thể hấp dẫn
nếu nó hoàn toàn xa lạ với mọi kinh nghiệm và không tạo ra bất kỳ cảm giác chân
thực nào. Vì vậy, những nhà thơ và tác giả bi kịch thường mượn những nhân vật,
địa danh hoặc sự kiện quen thuộc từ lịch sử hay truyền thống, không phải để
đánh lừa người đọc, mà để làm cho trí tưởng tượng dễ dàng tiếp nhận câu chuyện
hơn. Những yếu tố đã quen thuộc mang theo một phần sức mạnh của những ý niệm vốn
đã được thiết lập trong ký ức và kinh nghiệm, rồi truyền sức sống ấy sang những
phần còn lại của tác phẩm.
Tuy nhiên, Hume nhấn mạnh rằng sự sinh động do thi ca hay
tài hùng biện tạo ra không bao giờ hoàn toàn giống với sự sinh động của một tin
tưởng thực sự. Một bài thơ có thể khiến chúng ta kinh sợ, thương cảm hoặc xúc động
sâu sắc; nhưng những cảm xúc ấy khác với những cảm xúc phát sinh khi chúng ta
tin rằng một sự việc thực sự đang xảy ra. Nỗi đau trong một bi kịch có thể đem
lại khoái cảm thẩm mỹ, bởi nó không đè nặng lên chúng ta với toàn bộ sức nặng của
thực tại. Nó kích thích tinh thần và trí tưởng tượng, nhưng không có cùng mức độ
vững chắc và sức ép như một kinh nghiệm được tin là có thật.
Điểm phân biệt quan trọng ở đây là: tính sinh động của ý
niệm tự nó chưa đủ để tạo thành tri thức hay sự thật. Một ý niệm có thể trở nên
mạnh mẽ nhờ nghệ thuật, cảm xúc hoặc sự kích động của trí tưởng tượng; nhưng chỉ
những ý niệm được củng cố bởi trí nhớ, kinh nghiệm và những mối liên hệ ổn định
của thói quen mới tạo thành những tin tưởng có nền tảng trong đời sống thực tiễn.
Chính vì vậy, Hume cho rằng con người không bị chi phối bởi
mọi sự gia tăng của sức mạnh và tính sinh động trong ý niệm. Sự tự suy ngẫm và
những quy tắc tổng quát hình thành từ kinh nghiệm giúp chúng ta điều chỉnh những
ấn tượng ban đầu, phân biệt giữa sự hứng khởi của thi ca và sự tin tưởng dựa
trên thực tại. Nhờ cơ chế điều chỉnh ấy, chúng ta có thể hoàn toàn bị cuốn hút
bởi một câu chuyện hư cấu mà vẫn biết rằng nó không phải là hiện thực.
Toàn bộ phân tích này cho thấy một nguyên lý nền tảng
trong triết học Hume: sự tin tưởng không phải là kết quả của một năng lực lý
trí đặc biệt đứng ngoài kinh nghiệm, mà là một trạng thái đặc biệt của não thức,
trong đó một ý niệm đạt đến mức độ sức mạnh và tính sống động đủ để tác động
lên cảm xúc, ý chí và hành động. Chính từ cơ chế tâm lý ấy, Hume giải thích vì
sao những suy luận về quan hệ nhân quả — dù không mang tính tất yếu logic — vẫn
có khả năng điều hướng phần lớn đời sống thực tiễn của con người.
[11] Hume về sự khác biệt giữa “xác suất” theo
nghĩa kỹ thuật và sự chắc chắn trong đời sống thường ngày
Trong đoạn này, Hume
đang giải quyết một vấn đề về thuật ngữ và sự phân loại những hình thức suy luận
của lý trí con người. Một số nhà triết học trước ông chia toàn bộ nhận thức
thành hai loại: tri thức (knowledge) và xác suất (probability).
Theo cách phân chia này, chỉ những gì nảy sinh từ sự so sánh giữa những ý niệm
— chẳng hạn những mệnh đề toán học hay những quan hệ logic tất yếu — mới đạt đến
cấp độ tri thức; còn mọi suy luận dựa trên kinh nghiệm về nguyên nhân và kết quả
đều phải được xếp vào phạm vi xác suất, bởi chúng không mang tính tất yếu
logic.
Hume thừa nhận rằng nếu
dùng thuật ngữ theo nghĩa chặt chẽ ấy, mọi suy luận nhân quả quả thực đều thuộc
về xác suất, bởi kinh nghiệm không bao giờ đem lại một sự chắc chắn tuyệt đối
giống như sự chứng minh trong toán học. Tuy nhiên, ông cho rằng cách phân loại
này không phản ánh đầy đủ cách con người thực sự sử dụng khái niệm “xác suất”
trong đời sống. Trong ngôn ngữ thông thường, chúng ta không xem những tin tưởng
được củng cố mạnh mẽ bởi kinh nghiệm lâu dài — chẳng hạn tin tưởng rằng mặt trời
sẽ mọc vào ngày mai hay rằng con người đều phải chết — chỉ là những phỏng đoán
có mức độ khả năng ngang với những trường hợp chưa rõ ràng.
Điểm tế nhị trong lập
luận của Hume nằm ở chỗ ông không phủ nhận rằng những tin tưởng nhân quả thiếu
sự tất yếu lý tính. Ông chỉ cho rằng cần phân biệt giữa sự thiếu chắc chắn tuyệt
đối và mức độ hiển nhiên đủ mạnh để hướng dẫn đời sống thực tiễn. Một suy luận
có thể không đạt đến tính tất yếu của tri thức toán học, nhưng vẫn có một mức độ
vững chắc vượt xa những xác suất thông thường.
Vì vậy, Hume đề nghị
một sự phân chia tế nhị hơn thành ba cấp độ:
- Tri thức (knowledge): sự chắc chắn phát sinh
từ quan hệ giữa những ý niệm, không phụ thuộc vào kinh nghiệm.
- Minh chứng (proofs): những suy luận dựa trên
quan hệ nhân quả đã được kinh nghiệm củng cố đến mức không còn chỗ cho
hoài nghi trong thực hành.
- Xác suất (probabilities): những suy luận vẫn
còn chứa yếu tố bất định, trong đó mức độ tin tưởng phụ thuộc vào bằng chứng,
kinh nghiệm và sự cân nhắc những khả năng đối nghịch.
Qua sự phân biệt này,
Hume chuẩn bị nền tảng cho phân tích nổi tiếng của ông về tin tưởng (belief):
con người không hành động chỉ dựa trên những gì được chứng minh một cách tuyệt
đối, mà chủ yếu dựa trên những phán đoán có mức độ tin tưởng khác nhau được
hình thành từ kinh nghiệm.
[12] Hume về ba cấp độ của bằng chứng:Trong đoạn
này, Hume bàn về cách mà nhiều triết gia trước ông phân chia lý trí con người
thành hai loại suy luận: tri thức (knowledge) và xác suất (probability). Theo
cách phân chia này, chỉ những kết luận phát sinh từ sự so sánh giữa những ý niệm
mới đạt đến tính chắc chắn tuyệt đối; còn mọi suy luận về những sự kiện thực tế
dựa trên quan hệ nhân quả đều được xếp vào phạm vi xác suất, vì chúng chỉ dựa
trên kinh nghiệm chứ không có tính tất yếu logic.
Hume thừa nhận rằng,
xét theo nghĩa chặt chẽ của thuật ngữ, cách phân loại này là hợp lý. Bởi lẽ,
ngay cả những kết luận mà chúng ta tin chắc nhất về thế giới bên ngoài cũng
không có nền tảng nào khác ngoài kinh nghiệm. Tuy nhiên, ông cho rằng cách sử dụng
ấy không phù hợp với ngôn ngữ thông thường. Trong đời sống hằng ngày, chúng ta
không nói rằng việc mặt trời sẽ mọc vào ngày mai hay mọi người đều phải chết chỉ
là những điều "có xác suất", mặc dù chúng cũng chỉ được biết đến nhờ
kinh nghiệm. Điều này cho thấy cần phải phân biệt giữa sự thiếu chắc chắn tuyệt
đối về mặt logic và mức độ xác tín rất cao mà kinh nghiệm có thể tạo ra.
Vì vậy, Hume đề nghị
phân chia những hình thức bằng chứng thành ba cấp độ. Thứ nhất là tri thức
(knowledge), tức sự chắc chắn phát sinh từ sự so sánh giữa những ý niệm và
không phụ thuộc vào kinh nghiệm. Thứ hai là chứng minh (proofs), tức những suy
luận từ quan hệ nhân quả đã được kinh nghiệm xác nhận một cách đồng nhất và
liên tục đến mức không còn chỗ cho sự nghi ngờ trong thực hành, mặc dù vẫn
không đạt đến tính tất yếu của tri thức. Thứ ba là xác suất (probability), tức
những suy luận mà bằng chứng còn chưa đầy đủ hoặc còn xung đột, nên mức độ tin
tưởng vẫn đi kèm với sự bất định.
Điều đáng chú ý là
Hume không phủ nhận rằng mọi suy luận nhân quả đều dựa trên kinh nghiệm. Điều
ông muốn nhấn mạnh chỉ là không phải mọi suy luận dựa trên kinh nghiệm đều có
cùng một mức độ xác tín. Có những trường hợp kinh nghiệm nhất quán đến mức tạo
ra một sự tin tưởng gần như không thể lay chuyển trong thực hành; cũng có những
trường hợp bằng chứng còn phân tán hoặc đối nghịch, nên chỉ tạo ra một mức độ
tin tưởng yếu hơn. Việc tách proofs khỏi probabilities vì thế chủ yếu nhằm giữ
đúng cách dùng thông thường của từ ngữ đồng thời phân biệt rõ những mức độ khác
nhau của bằng chứng.
Sự phân loại này cũng
mở đường cho lập luận của Hume trong những mục tiếp theo. Sau khi phân biệt những
cấp độ của bằng chứng, ông chuyển sang giải thích bằng cơ chế nào mà não thức
hình thành những mức độ sự tin tưởng (belief) khác nhau từ kinh nghiệm. Theo
Hume, điều thay đổi không phải là bản chất của sự tin tưởng, mà là mức độ sinh
động của ý niệm do kinh nghiệm và tập quán tạo ra. Đây là nền tảng cho phân
tích tiếp theo của ông về xác suất của những trường hợp ngẫu nhiên và xác suất
phát sinh từ những nguyên nhân.
[13] Hume về “trường hợp ngẫu nhiên” (chance):
Trong đoạn này, Hume muốn làm rõ một điểm quan trọng: trường hợp ngẫu nhiên
không phải là một sức mạnh hay nguyên lý riêng biệt tồn tại bên cạnh nguyên
nhân. Ngẫu nhiên chỉ xuất hiện khi chúng ta không tìm thấy, hoặc không nhận biết
được, một nguyên nhân nào đủ để xác định kết quả.
Lập luận của Hume có
thể tóm tắt như sau:Thứ nhất, nguyên nhân tạo ra sự định hướng cho tư tưởng.
Khi kinh nghiệm cho
chúng ta thấy hai sự kiện thường xuyên đi cùng nhau — chẳng hạn một hiện tượng
luôn xuất hiện sau một hiện tượng khác — não thức hình thành một thói quen liên
kết chúng lại. Từ đó, khi gặp sự kiện thứ nhất, chúng ta tự nhiên chờ đợi sự kiện
thứ hai xảy ra. Nguyên nhân vì vậy không chỉ là một quan hệ giữa những sự vật,
mà còn là điều định hướng cách não thức chúng ta suy nghĩ về chúng.
Thứ hai, trường hợp
ngẫu nhiên là sự thiếu vắng một sự xác định như vậy.Khi không có nguyên nhân
nào cho phép chúng ta ưu tiên một khả năng hơn những khả năng khác, não thức
không có cơ sở để lựa chọn. Nó rơi vào trạng thái “thờ ơ” (indifference):
mọi khả năng đều có vị trí ngang nhau trong trí tưởng tượng.Ví dụ, nếu không biết
gì về một con xúc xắc, ta không có lý do nào để nghĩ rằng một mặt sẽ xuất hiện
nhiều hơn một mặt khác. Mỗi kết quả đều có vẻ có khả năng ngang nhau.
Thứ ba, nhưng xác suất
không bao giờ xuất phát từ một sự ngẫu nhiên hoàn toàn. Hume chỉ ra rằng trong
thực tế, khi tính toán xác suất, chúng ta luôn dựa trên một số điều kiện đã được
xác định trước. Trường hợp con xúc xắc cho thấy điều này rõ ràng: ta chỉ có thể
nói một mặt có khả năng xuất hiện nhiều hơn mặt khác vì con xúc xắc có hình dạng
nhất định, có số lượng mặt nhất định, và những mặt được phân bố theo một cách
nhất định.
Những yếu tố này thuộc
về nguyên nhân: chúng tạo ra khuôn khổ và giới hạn cho những khả năng. Còn trường
hợp ngẫu nhiên chỉ quyết định kết quả cụ thể xảy ra bên trong khuôn khổ đó.
Vì vậy, đối với Hume,
xác suất không phải là sự đối lập đơn giản giữa nhân quả và ngẫu nhiên. Xác suất
hình thành từ sự kết hợp của hai yếu tố: (a) một cấu trúc được xác định bởi những
điều kiện và nguyên nhân; (b) một kết quả cụ thể vẫn chưa được xác định trước
trong từng trường hợp riêng lẻ.
Nói cách khác, Hume
cho thấy rằng ngẫu nhiên không có nghĩa là hoàn toàn không có trật tự. Một sự
kiện riêng lẻ có thể không thể dự đoán chắc chắn, nhưng toàn bộ hệ thống mà
trong đó sự kiện ấy xảy ra vẫn có thể chịu sự chi phối của những điều kiện xác
định.
Đây chính là điểm nền
tảng trong cách hiểu hiện đại về xác suất: chúng ta không nhất thiết biết trước
kết quả của từng lần xảy ra, nhưng chúng ta có thể biết được sự phân bố khả
năng của những kết quả dựa trên những điều kiện nền tảng.
[14] Hume giải thích vì sao xác suất tạo ra sự
tin tưởng trong não thức:Trong những đoạn này, Hume chuyển từ câu hỏi xác suất
là gì sang một vấn đề sâu hơn: bằng cách nào xác suất tạo ra sự tin tưởng
(belief) trong não thức. Nếu một con xúc xắc có bốn mặt mang cùng một dấu hiệu
và hai mặt mang một dấu hiệu khác, tại sao chúng ta lại tin rằng dấu hiệu xuất
hiện trên bốn mặt có khả năng xảy ra cao hơn? Điều gì khiến não thức nghiêng về
một khả năng thay vì giữ nguyên trạng thái thờ ơ giữa tất cả những khả năng?
Hume trước hết loại bỏ
những cách giải thích không thể trả lời câu hỏi này.
Sự ưu tiên của chúng
ta đối với khả năng có số lượng trường hợp ngẫu nhiên lớn hơn không thể xuất
phát từ chứng minh (demonstration). Không có mâu thuẫn logic nào nếu con xúc xắc
rơi vào mặt ít khả năng hơn; kết quả ấy có thể gây bất ngờ, nhưng không phải là
điều bất khả. Vì vậy, lý trí không thể chứng minh rằng một kết quả nhất định tất
yếu phải xảy ra.
Nó cũng không thể được
giải thích bằng cách đơn giản nói rằng "khả năng lớn hơn thì có xác suất lớn
hơn", bởi đó chỉ là lặp lại kết luận mà chưa giải thích nguyên nhân. Câu hỏi
thực sự của Hume là: bằng cách nào một số lượng lớn hơn của những trường hợp ngẫu
nhiên ngang nhau lại tác động lên não thức và tạo ra một mức độ tin tưởng mạnh
hơn?
Mặt khác, sự ưu tiên ấy
cũng không thể xuất phát từ một nguyên nhân quyết định hoàn toàn kết quả. Nếu
có một nguyên nhân khiến con xúc xắc nhất định phải rơi vào một mặt nào đó, thì
kết quả ấy không còn thuộc về phạm vi ngẫu nhiên nữa. Khi đó, chúng ta không
còn bàn về xác suất, mà về một quan hệ nhân quả xác định.
Vì vậy, Hume cho rằng
lời giải thích phải được tìm thấy trong chính hoạt động của não thức. Khi những
nguyên nhân khiến chúng ta dự đoán rằng con xúc xắc sẽ rơi xuống và xuất hiện một
trong những mặt, trí tưởng tượng tiếp nhận tất cả những mặt ấy như những khả
năng ngang nhau. Mỗi mặt nhận được một phần của xung lực ban đầu do nguyên nhân
tạo ra. Nhưng khi nhiều mặt cùng mang một dấu hiệu, những xung lực vốn phân tán
trên từng mặt sẽ hợp nhất vào cùng một ý niệm về dấu hiệu đó. Vì thế, dấu hiệu
xuất hiện trên nhiều mặt hơn sẽ có một ý niệm sinh động hơn, và mức độ sinh động
ấy chính là mức độ của sự tin tưởng.
Ví dụ về con xúc xắc
cho thấy sự kết hợp giữa hai yếu tố. Một mặt, có những nguyên nhân như trọng lực,
tính rắn chắc và hình dạng của con xúc xắc, vốn quyết định rằng nó sẽ rơi xuống
và nằm trên một trong những mặt. Mặt khác, giữa những mặt vẫn tồn tại sự không
xác định, vì không có nguyên nhân nào quyết định trước mặt cụ thể sẽ xuất hiện.
Chính trong khoảng không gian giữa cái đã được xác định và cái chưa được xác định
ấy mà xác suất hình thành.
Do đó, điều Hume muốn
giải thích không phải là tại sao một sự kiện chắc chắn xảy ra, mà là tại sao
não thức lại dành cho những khả năng khác nhau những mức độ tin tưởng khác
nhau. Xác suất không tạo ra một loại tri thức mới; nó là cách mà não thức phân
phối mức độ sinh động của những ý niệm dựa trên cấu trúc của những trường hợp
ngẫu nhiên. Một khả năng có nhiều cơ sở hơn sẽ tạo ra một khuynh hướng mạnh hơn
trong tư tưởng, và từ đó tạo ra một mức độ tin tưởng cao hơn.
Qua phân tích này,
Hume củng cố luận điểm trung tâm của mình: phần lớn những phán đoán của con người
trong đời sống không dựa trên sự chứng minh tuyệt đối, mà dựa trên những mức độ
tin tưởng khác nhau được hình thành từ kinh nghiệm, tập quán và cách não thức vận
hành khi đối diện với những khả năng chưa được xác định.
[15] Ý nghĩa của indifference trong phân
tích xác suất của Hume: Trong phân tích về xác suất của những trường hợp ngẫu
nhiên (probability of chances), khái niệm sự thờ ơ (indifference) giữ một vai trò
trung tâm trong cách Hume giải thích bản chất của ngẫu nhiên và sự hình thành của
sự tin tưởng. Tuy nhiên, thuật ngữ này cần được hiểu chính xác, bởi nếu dịch
đơn giản là "sự thờ ơ", người đọc dễ liên tưởng đến một thái độ tâm
lý như lãnh đạm hay thiếu quan tâm, trong khi Hume muốn nói đến một trạng thái
hoàn toàn khác.
Ở đây, indifference
không chỉ một cảm xúc hay thái độ, mà chỉ tình trạng trong đó không có nguyên
nhân nào tạo ra sự ưu tiên giữa những khả năng. Khi không có một nguyên nhân
quyết định hoặc định hướng kết quả về phía nào, não thức không có cơ sở để
nghiêng về một khả năng cụ thể hơn những khả năng khác. Vì vậy, sự "thờ
ơ" ở đây trước hết có nghĩa là sự không thiên lệch của tư tưởng trước những
khả năng ngang nhau.
Trong ví dụ về con
xúc xắc, sáu mặt ban đầu đều có vị trí ngang nhau. Không có mặt nào tự thân có
một ưu thế hơn những mặt khác, bởi không có nguyên nhân nào quyết định trước rằng
một mặt cụ thể phải xuất hiện. Nếu chỉ xét từng mặt riêng lẻ, mỗi mặt đều nhận
được một phần bằng nhau của sự chú ý và xung lực mà não thức dành cho những khả
năng.
Tuy nhiên, Hume chỉ
ra rằng chính từ sự ngang bằng này mà xác suất trở nên có thể hiểu được. những khả
năng riêng lẻ vẫn ngang nhau, nhưng chúng có thể được xem xét theo kết quả
chung mà chúng cùng hướng đến. Trong trường hợp một con xúc xắc có bốn mặt mang
ký hiệu A và hai mặt mang ký hiệu B, mỗi mặt vẫn có khả năng ngang nhau; nhưng
bốn khả năng riêng biệt cùng hướng đến A sẽ hợp nhất những xung lực của chúng
vào cùng một ý niệm, trong khi chỉ có hai khả năng hướng đến B. Vì vậy, ý niệm
về A nhận được một mức độ sinh động lớn hơn ý niệm về B.
Điểm quan trọng ở đây
là sự khác biệt không nằm trong bản thân từng mặt xúc xắc. Mỗi mặt vẫn hoàn
toàn ngang nhau. Sự khác biệt chỉ xuất hiện khi não thức xem xét những mặt ấy
dưới phương diện kết quả mà chúng tạo thành. Những xung lực ban đầu vốn được
phân chia đều giữa những khả năng nay được hợp nhất theo những ý niệm chung mà
chúng cùng góp phần tạo ra. Chính sự hợp nhất này làm tăng mức độ sinh động của
một ý niệm, và theo học thuyết của Hume, mức độ sinh động ấy chính là mức độ của
sự tin tưởng (belief).
Vì vậy, trong phân
tích của Hume có thể phân biệt ba bước liên tiếp:
Thứ nhất, những nguyên
nhân tạo ra khuôn khổ chung của sự kiện: con xúc xắc phải rơi xuống, giữ nguyên
hình dạng và xuất hiện một trong sáu mặt.
Thứ hai, ngẫu nhiên
xuất hiện ở điểm mà không có nguyên nhân nào quyết định mặt cụ thể sẽ xuất hiện.
Chính sự thiếu vắng nguyên nhân này tạo ra trạng thái indifference: những
khả năng riêng lẻ được não thức xem như ngang nhau.
Thứ ba, xác suất xuất
hiện khi những khả năng ngang nhau ấy được quy về những kết quả chung khác
nhau. Một kết quả được nhiều khả năng riêng lẻ cùng ủng hộ sẽ tập hợp được nhiều
xung lực hơn, làm cho ý niệm tương ứng trở nên sinh động hơn và tạo ra một mức
độ tin tưởng cao hơn.
Do đó, indifference không phải là đối lập với xác suất, mà chính là điểm xuất phát của xác suất. Xác suất không phá bỏ sự ngang bằng ban đầu của những khả năng; nó phát sinh từ việc những khả năng ngang bằng ấy được kết hợp lại theo những kết quả khác nhau và tác động lên hoạt động của não thức.
[16] Cấu trúc lập luận của Hume về xác suất của những trường hợp ngẫu nhiên
(probability of chances): Sau khi đã giải thích bản chất của sự tin tưởng
(belief) như là một ý niệm được hình dung với mức độ sinh động lớn hơn nhờ sự
chuyển dịch của não thức từ nguyên nhân sang kết quả, Hume mở rộng học thuyết ấy
sang một trường hợp tưởng như hoàn toàn khác: xác suất của những trường hợp ngẫu
nhiên. Mục tiêu của ông là chứng minh rằng ngay cả khi chúng ta phán đoán trong
những tình huống không thể biết chắc kết quả sẽ xảy ra thế nào, sự tin tưởng vẫn
không phát sinh từ bất kỳ suy luận logic hay toán học nào, mà từ chính những
nguyên lý tâm lý đã được trình bày trước đó.
Hume trước hết phân biệt ba mức độ của bằng chứng. Khác với
nhiều triết gia chỉ chia lý trí thành hai loại là tri thức (knowledge) và xác
suất (probability), ông cho rằng cách nói thông thường đòi hỏi phải thêm một cấp
độ trung gian là chứng minh (proofs). Tri thức là sự chắc chắn phát sinh từ việc
so sánh những ý niệm; chứng minh là sự chắc chắn của những suy luận từ nhân quả
khi kinh nghiệm hoàn toàn đồng nhất và không để lại nghi ngờ; còn xác suất là mọi
trường hợp mà bằng chứng vẫn còn kèm theo một mức độ bất định. Chính loại suy
luận cuối cùng này là đối tượng của toàn bộ mục XI.
Từ đó, Hume chia xác suất thành hai nguồn gốc khác nhau.
Một loại phát sinh từ những trường hợp ngẫu nhiên (chance); loại còn lại phát
sinh từ những nguyên nhân (causes). Trong mục này ông chỉ khảo sát loại thứ nhất.
Điểm xuất phát của lập luận là định nghĩa của chính khái
niệm "ngẫu nhiên". Theo Hume, ngẫu nhiên không phải là một sức mạnh
hay một nguyên lý tồn tại trong tự nhiên. Nói một cách chính xác, nó chỉ là sự
phủ định của nguyên nhân. Khi nguyên nhân khiến não thức chuyển dịch theo một
hướng xác định, thì ngẫu nhiên chỉ đơn giản là sự thiếu vắng mọi nguyên nhân có
khả năng ưu tiên một kết quả hơn kết quả khác. Vì vậy, bản chất của ngẫu nhiên
là để trí tưởng tượng ở trong trạng thái hoàn toàn thờ ơ giữa tất cả những khả
năng.
Từ định nghĩa ấy, Hume rút ra hệ quả quan trọng đầu tiên:
nếu hoàn toàn không có nguyên nhân nào làm cho một kết quả được ưu tiên hơn kết
quả khác, thì mọi khả năng đều hoàn toàn ngang nhau. Không có một "trường
hợp ngẫu nhiên" nào tự nó mạnh hơn hay yếu hơn một trường hợp khác. Nếu giả
định một khả năng vốn đã có ưu thế tự thân, thì chính điều đó đã ngầm thừa nhận
sự tồn tại của một nguyên nhân; khi ấy khái niệm ngẫu nhiên sẽ tự mâu thuẫn và
không còn ý nghĩa nữa.
Tuy nhiên, Hume lập tức lưu ý rằng mọi phép tính xác suất
trong thực tế đều không dựa trên ngẫu nhiên thuần túy. Muốn có xác suất, luôn
phải tồn tại một sự kết hợp giữa tất yếu và ngẫu nhiên. những nguyên nhân vật
lý quyết định rằng con xúc xắc sẽ rơi xuống, giữ nguyên hình dạng của nó và cuối
cùng sẽ nằm trên một trong sáu mặt. Nhưng không có nguyên nhân nào được biết để
quyết định chính xác mặt nào sẽ ngửa lên. Chính sự pha trộn giữa những yếu tố tất
yếu và những yếu tố chưa được quyết định ấy mới tạo thành nền tảng của mọi suy
luận về xác suất.
Sau khi xác lập điều đó, Hume đặt ra câu hỏi trung tâm: nếu
số lượng những khả năng thuận lợi nhiều hơn, thì vì sao não thức lại tin rằng kết
quả ấy có nhiều khả năng xảy ra hơn? Ông bác bỏ hai cách giải thích quen thuộc.
Trước hết, điều này không thể được chứng minh bằng tri thức, vì chỉ từ việc so
sánh những ý niệm chúng ta không thể suy ra bất kỳ sự kiện thực nghiệm nào. Đồng
thời, nó cũng không thể được giải thích bằng chính khái niệm xác suất, bởi nói
rằng "kết quả có xác suất cao hơn vì có nhiều khả năng hơn" chỉ là một
mệnh đề lặp lại chính điều cần giải thích. Vấn đề thực sự là phải giải thích bằng
cơ chế nào mà số lượng lớn hơn những khả năng ngang nhau lại tạo ra sự tin tưởng
trong não thức.
Để trả lời câu hỏi ấy, Hume sử dụng ví dụ về con xúc xắc
có bốn mặt mang cùng một ký hiệu và hai mặt mang ký hiệu khác. Trước hết, do tập
quán hình thành từ kinh nghiệm, khi nhìn thấy hành động gieo xúc xắc, não thức
tất yếu chuyển sang ý niệm về việc một trong những mặt sẽ ngửa lên. Đây là ảnh
hưởng của quan hệ nhân quả đã được xác lập từ trước.
Tiếp đó, vì sáu mặt đều được giả định là ngang nhau, nên
xung lực ban đầu của tư tưởng không tập trung vào bất kỳ mặt riêng lẻ nào mà được
phân chia đồng đều giữa tất cả những khả năng. Mỗi mặt nhận được một phần bằng
nhau của khuynh hướng chuyển dịch do nguyên nhân khởi đầu.
Sau cùng, khi nhiều mặt cùng mang một ký hiệu, những xung
lực vốn phân tán trên từng mặt lại hợp nhất vào cùng một ý niệm. Vì bốn mặt
cùng hướng đến một ký hiệu, còn chỉ hai mặt hướng đến ký hiệu kia, nên ý niệm
thứ nhất nhận được tổng lượng xung lực lớn hơn. Hai nhóm xung lực đối lập nhau
một phần triệt tiêu lẫn nhau, nhưng nhóm lớn hơn vẫn giữ lại một phần sức mạnh
còn dư. Chính phần sức mạnh còn dư ấy làm cho ý niệm tương ứng trở nên sinh động
hơn. Theo học thuyết đã trình bày trong những mục trước, sự tin tưởng không phải
là gì khác ngoài mức độ sinh động đặc biệt của một ý niệm; vì thế, ký hiệu xuất
hiện trên nhiều mặt hơn cũng là ký hiệu được tin tưởng nhiều hơn.
Qua toàn bộ mục này, Hume muốn chứng minh rằng xác suất của
những trường hợp ngẫu nhiên không hề tạo ra một loại suy luận mới. Nó vẫn tuân
theo đúng cơ chế chung của não thức: nguyên nhân khởi phát sự chuyển dịch của
tư tưởng; ngẫu nhiên phân chia xung lực ấy giữa những khả năng; số lượng những khả
năng giống nhau lại hợp nhất những xung lực phân tán; và chính tổng cường độ của
xung lực hợp nhất ấy quyết định mức độ sinh động của ý niệm, tức mức độ của sự
tin tưởng. Như vậy, ngay cả trong lĩnh vực xác suất, điều quyết định sự đồng
thuận của não thức không phải là một lập luận logic, mà là cách thức những khuynh
hướng của trí tưởng tượng được phân phối, kết hợp và tăng cường theo những quy
luật tâm lý phổ quát mà Hume đã xây dựng trong toàn bộ Phần III của A
Treatise of Human Nature.
