Wednesday, July 15, 2026

Hume – Một Chuyên Luận Về Bản Chất Con Người (10)

Một Chuyên Luận Về Bản Chất Con Người

(A Treatise of Human Nature)

David Hume

( ← ... tiếp theo )








QUYỂN I - PHẦN III.

Về tri thức và xác suất.

 

MỤC X.

Về Ảnh Hưởng Của Sự Tin Tưởng

 

T 1.3.10.1, SBN 118

Nhưng mặc dù triết học bác bỏ giáo dục như một cơ sở không đáng tin cậy để chấp nhận một quan điểm, nó vẫn có một ảnh hưởng rất lớn trong đời sống; và chính nó là nguyên nhân khiến mọi hệ thống tư tưởng mới, lúc đầu, đều dễ bị bác bỏ chỉ vì chúng còn mới lạ và khác thường.

Có lẽ đó cũng sẽ là số phận của học thuyết mà tôi đã trình bày ở đây về sự tin tưởng [1] . Mặc dù đối với tôi, những bằng chứng mà tôi đã đưa ra dường như hoàn toàn có sức thuyết phục, nhưng tôi không kỳ vọng sẽ thuyết phục được nhiều người chấp nhận quan điểm ấy.

Con người hầu như không bao giờ sẵn lòng tin rằng những hiệu quả có tầm quan trọng lớn lao như vậy lại có thể phát sinh từ những nguyên lý thoạt nhìn có vẻ quá nhỏ bé và tầm thường; cũng như không dễ chấp nhận rằng phần lớn những suy luận của chúng ta, cùng với toàn bộ những hành động và đam mê của chúng ta, cuối cùng đều có thể được quy về không gì khác ngoài thói quen và tập quán [2].

Để trả lời trước sự phản đối ấy, ở đây tôi sẽ trình bày trước một phần của những điều vốn phải được dành cho phần sau của tác phẩm, khi chúng ta khảo sát những đam mê và cảm thức về cái đẹp.

 

T 1.3.10.2, SBN 118–119

Trong não thức con người vốn có sẵn một sự tri giác về đau đớn và khoái cảm; chúng là nguồn động lực chủ yếu và nguyên lý thúc đẩy mọi hành động của con người. Nhưng đau đớn và khoái cảm có thể xuất hiện trong não thức theo hai cách; và mỗi cách tạo ra những tác động rất khác nhau. Chúng hoặc xuất hiện dưới dạng ấn tượng, nghĩa là trong sự cảm nhận trực tiếp, hoặc chỉ xuất hiện dưới dạng ý niệm, như lúc này khi tôi chỉ nhắc đến chúng.

Rõ ràng, ảnh hưởng của hai cách xuất hiện ấy đối với hành động của chúng ta hoàn toàn không ngang nhau. Ấn tượng luôn thúc đẩy não thức, và thúc đẩy ở mức mạnh nhất; nhưng không phải mọi ý niệm đều có tác dụng như vậy.

Trong trường hợp này, tự nhiên đã hành động hết sức thận trọng và dường như đã cẩn thận tránh những bất lợi của cả hai thái cực.

Nếu chỉ có ấn tượng mới tác động đến ý chí, thì trong từng khoảnh khắc của cuộc đời, chúng ta sẽ phải hứng chịu những tai họa lớn nhất; bởi lẽ, mặc dù có thể thấy trước chúng đang đến, tự nhiên lại không ban cho chúng ta một nguyên lý hành động nào có thể thôi thúc chúng ta tránh khỏi chúng.

Ngược lại, nếu mọi ý niệm đều có thể tác động đến hành động của chúng ta, thì tình trạng của chúng ta cũng chẳng khá hơn là bao. Bởi tư tưởng vốn luôn dao động và không ngừng vận động; những hình ảnh về mọi sự vật, đặc biệt là về những điều tốt và những điều xấu, luôn lang thang trong não thức; và nếu não thức bị chi phối bởi mọi ý niệm vu vơ như vậy, thì nó sẽ không bao giờ có được dù chỉ một khoảnh khắc bình yên và tĩnh lặng.[3]

 

T 1.3.10.3, SBN 119–20

Vì vậy, tự nhiên đã chọn một con đường trung dung: nó không trao cho mọi ý niệm về điều thiện và điều ác khả năng tác động đến ý chí, nhưng cũng không hoàn toàn tước bỏ ảnh hưởng ấy khỏi tất cả những ý niệm.

Mặc dù một điều hư cấu vu vơ không có chút hiệu lực nào, nhưng kinh nghiệm cho chúng ta thấy rằng những ý niệm về những đối tượng mà chúng ta tin là đang hiện hữu hoặc sẽ hiện hữu vẫn tạo ra, tuy ở một mức độ thấp hơn, cùng một loại tác động như những ấn tượng đang trực tiếp hiện diện trước giác quan và sự tri giác.

Vì vậy, tác dụng của sự tin tưởng (belief) là nâng một ý niệm đơn thuần lên gần ngang với một ấn tượng, và trao cho nó một ảnh hưởng tương tự đối với những đam mê.

Nó chỉ có thể tạo ra hiệu quả ấy bằng cách làm cho ý niệm tiến gần đến ấn tượng về lực và tính sống động.

Bởi lẽ, chính sự khác nhau về mức độ lực và tính sống động tạo nên toàn bộ sự khác biệt nguyên thủy giữa một ấn tượng và một ý niệm. Do đó, sự khác biệt ấy tất yếu cũng là nguồn gốc của mọi khác biệt trong tác động của hai loại tri giác này; và việc thu hẹp hoặc xóa bỏ sự khác biệt ấy, dù toàn bộ hay chỉ một phần, chính là nguyên nhân khiến chúng ngày càng giống nhau hơn.

Ở bất cứ nơi nào một ý niệm được làm cho tiến gần đến một ấn tượng về lực và tính sống động, thì nó cũng sẽ bắt chước ấn tượng ấy trong ảnh hưởng của nó đối với não thức. Và ngược lại, ở bất cứ nơi nào một ý niệm có được ảnh hưởng tương tự như một ấn tượng — như trong trường hợp đang bàn đến — thì điều đó nhất thiết phải bắt nguồn từ việc nó đã tiến gần đến ấn tượng về lực và tính sống động.

Vì vậy, bởi sự tin tưởng khiến một ý niệm có khả năng tạo ra những tác động giống như một ấn tượng, nên nó cũng phải làm cho ý niệm ấy trở nên giống với ấn tượng về chính những phẩm chất này. Do đó, sự tin tưởng không là gì khác ngoài việc một ý niệm được hình dung với sức mạnh và tính sống động lớn hơn.

Điều này vừa cung cấp thêm một luận cứ ủng hộ hệ thống mà tôi đang trình bày, vừa giúp chúng ta hiểu được bằng cách nào những suy luận của chúng ta từ quan hệ nhân quả có thể tác động đến ý chí và những đam mê.[4]

 

T 1.3.10.4, SBN 120

Vì sự tin tưởng gần như là điều kiện không thể thiếu để khơi dậy những đam mê, nên ngược lại, những đam mê cũng rất thuận lợi cho sự hình thành sự tin tưởng. Không chỉ những sự việc đem lại những cảm xúc dễ chịu, mà rất thường cả những sự việc gây đau đớn cũng chính vì thế mà dễ trở thành đối tượng của sự tin tưởng và sự chấp nhận.

Một người hèn nhát, vốn rất dễ bị khơi dậy nỗi sợ hãi, sẽ dễ dàng tin vào mọi câu chuyện về hiểm nguy mà mình nghe được; cũng như một người có tính khí buồn bã và u uất rất dễ tin vào mọi điều nuôi dưỡng đam mê đang chi phối mình.

Khi một đối tượng gây xúc động xuất hiện, nó lập tức đánh thức một mức độ tương ứng của chính đam mê ấy, đặc biệt ở những người vốn có khuynh hướng tự nhiên đối với đam mê đó.

Cảm xúc ấy sau đó chuyển sang trí tưởng tượng bằng một sự chuyển dịch dễ dàng; rồi lan tỏa lên ý niệm về đối tượng gây xúc động, khiến chúng ta hình dung ý niệm ấy với sức mạnh và tính sống động lớn hơn, và vì thế tin vào nó, đúng theo học thuyết mà tôi đã trình bày.

Sự thán phục và sự ngạc nhiên cũng có tác dụng giống như những đam mê khác. Vì vậy, chúng ta có thể nhận thấy rằng trong đám đông bình dân, những kẻ lang băm và những kẻ đề xướng những dự án viển vông thường dễ giành được lòng tin hơn nhờ những lời tuyên bố khoa trương của mình, so với khi họ giữ trong giới hạn của sự chừng mực.

Sự kinh ngạc ban đầu, vốn tự nhiên đi kèm với những câu chuyện kỳ diệu mà họ thuật lại, lan tỏa khắp não thức, làm cho ý niệm trở nên sống động đến mức nó giống với những suy luận mà chúng ta rút ra từ kinh nghiệm.

Đây là một hiện tượng mà đến nay chúng ta đã phần nào làm quen; và trong tiến trình của Luận thuyết này, chúng ta sẽ còn nhiều dịp hiểu rõ hơn về nó.

 

T 1.3.10.5, SBN 120–1

Sau khi đã giải thích ảnh hưởng của sự tin tưởng đối với những đam mê, chúng ta sẽ thấy ít khó khăn hơn khi giải thích tác động của nó đối với trí tưởng tượng, cho dù những tác động ấy thoạt nhìn có vẻ rất khác thường.

Chắc chắn rằng chúng ta không thể tìm thấy sự thích thú trong bất kỳ một câu chuyện hay bài thuật lại nào, nếu phán đoán của chúng ta không chấp nhận những hình ảnh được trình bày trước trí tưởng tượng.

Câu chuyện của những người đã thành thói quen nói dối, dù chỉ trong những chuyện không đáng kể, cũng không bao giờ đem lại nhiều thích thú; bởi những ý niệm mà họ trình bày không đi kèm với sự tin tưởng, nên không tạo được ảnh hưởng nào đáng kể lên não thức.

Ngay cả những nhà thơ, tuy "nói dối" là nghề của họ, cũng luôn cố gắng đem lại cho những hư cấu của mình một vẻ chân thật; và ở đâu điều đó hoàn toàn bị bỏ qua, thì tác phẩm của họ, dù tài tình đến đâu, cũng không thể đem lại nhiều thích thú.

Nói ngắn gọn, chúng ta có thể nhận thấy rằng, ngay cả khi những ý niệm hoàn toàn không có ảnh hưởng nào đối với ý chí và những đam mê, thì chân lý và tính hiện thực vẫn là những điều cần thiết để khiến chúng trở nên hấp dẫn đối với trí tưởng tượng. [5]

 

T 1.3.10.6, SBN 121–122

Nhưng nếu chúng ta cùng xem xét tất cả những hiện tượng xảy ra liên quan đến vấn đề này, chúng ta sẽ nhận thấy rằng sự thật, dù dường như cần thiết trong mọi tác phẩm của thiên tài đến đâu, cũng không có tác dụng nào khác ngoài việc giúp những ý niệm ấy được tiếp nhận một cách dễ dàng hơn, và khiến não thức thuận theo chúng với sự hài lòng, hoặc ít nhất là không có sự chống đối.

Nhưng vì đây là một hiệu quả mà chúng ta có thể dễ dàng cho rằng nó phát sinh từ tính vững chắc và sức mạnh vốn đi kèm với những ý niệm được thiết lập bởi những suy luận từ quan hệ nhân quả — theo đúng hệ thống mà tôi đã trình bày — nên tất yếu rằng toàn bộ ảnh hưởng của sự tin tưởng đối với trí tưởng tượng đều có thể được giải thích từ hệ thống ấy.

Theo đó, chúng ta có thể nhận thấy rằng ở bất cứ nơi nào ảnh hưởng ấy xuất hiện nhờ những nguyên tắc khác ngoài sự thật hay thực tại, thì những nguyên tắc ấy sẽ thay thế vị trí của sự thật và đem lại cho trí tưởng tượng một mức độ thích thú tương đương.

Các nhà thơ đã tạo ra những gì vốn họ gọi là một hệ thống sự vật mang tính thi ca; mặc dù bản thân họ cũng như độc giả đều không thực sự tin vào nó, nhưng hệ thống ấy thường được xem là một nền tảng đủ để xây dựng bất kỳ hư cấu nào.

Chúng ta đã quá quen thuộc với những cái tên như Mars, Jupiter, Venus, đến mức, cũng giống như giáo dục khắc sâu một quan điểm vào não thức, sự lập lại thường xuyên của những ý niệm này khiến chúng đi vào não thức một cách dễ dàng và chi phối trí tưởng tượng, dù không hề tác động đến phán đoán.

Tương tự như vậy, những nhà viết bi kịch luôn vay mượn cốt truyện, hoặc ít nhất là tên tuổi của những nhân vật chính, từ một sự kiện quen thuộc trong lịch sử; và họ làm điều đó không phải để đánh lừa khán giả, bởi họ sẵn sàng thừa nhận rằng sự thật không được tuân thủ một cách tuyệt đối trong mọi chi tiết, mà là để khiến những biến cố phi thường mà họ trình bày được trí tưởng tượng tiếp nhận dễ dàng hơn.

Tuy nhiên, sự thận trọng này lại không cần thiết đối với những nhà viết hài kịch. Những nhân vật và biến cố trong hài kịch thường thuộc về loại quen thuộc hơn, nên chúng dễ dàng đi vào sự hình dung của chúng ta và được tiếp nhận mà không cần bất kỳ nghi thức chuẩn bị nào như vậy, ngay cả khi ngay từ cái nhìn đầu tiên chúng ta đã biết chúng là hư cấu và chỉ là sản phẩm thuần túy của trí tưởng tượng.

 

T 1.3.10.7, SBN 122

Sự pha trộn giữa sự thật và giả dối trong những câu chuyện của những nhà viết bi kịch không chỉ phục vụ cho mục đích hiện tại của chúng ta — đó là cho thấy rằng trí tưởng tượng có thể được thỏa mãn mà không cần một sự tin tưởng hay sự chắc chắn tuyệt đối — mà dưới một góc nhìn khác, nó còn có thể được xem như một sự xác nhận rất mạnh mẽ cho hệ thống này.

Rõ ràng rằng những nhà thơ dùng thủ pháp vay mượn tên tuổi của nhân vật và những biến cố chính trong tác phẩm từ lịch sử là nhằm khiến toàn bộ câu chuyện được tiếp nhận dễ dàng hơn, đồng thời làm cho nó tạo ra một ấn tượng sâu sắc hơn đối với trí tưởng tượng và những cảm xúc.

Những biến cố khác nhau trong tác phẩm đạt được một dạng quan hệ liên kết nhờ được kết hợp lại trong cùng một bài thơ hoặc một sự trình bày thống nhất; và nếu bất kỳ một trong những biến cố ấy là đối tượng của sự tin tưởng, thì nó sẽ trao một sức mạnh và tính sống động cho những biến cố khác có liên hệ với nó.

Tính sống động của sự hình dung ban đầu lan truyền theo những mối liên hệ ấy, và được truyền đi — giống như qua nhiều ống dẫn hay dòng kênh — đến mọi ý niệm có bất kỳ sự kết nối nào với ý niệm nguyên thủy.

Dĩ nhiên, điều này không bao giờ có thể đạt đến mức độ của một sự chắc chắn hoàn toàn; bởi sự kết hợp giữa những ý niệm ở đây phần nào chỉ là ngẫu nhiên.

Tuy nhiên, ảnh hưởng của nó vẫn tiến gần đến mức có thể khiến chúng ta nhận ra rằng tất cả những hiện tượng ấy đều bắt nguồn từ cùng một nguyên lý.

Sự tin tưởng phải làm cho trí tưởng tượng trở nên thích thú thông qua lực và tính sống động mà nó mang theo; bởi vì mọi ý niệm nào có lực và tính sống động đều được nhận thấy là phù hợp và dễ chịu đối với năng lực ấy.[6]

 

T 1.3.10.8, SBN 122–3

Để xác nhận điều này, chúng ta có thể nhận thấy rằng có một sự hỗ trợ lẫn nhau giữa phán đoán và trí tưởng tượng, cũng như giữa phán đoán và đam mê; và rằng sự tin tưởng không chỉ đem lại sức mạnh cho trí tưởng tượng, mà một trí tưởng tượng mạnh mẽ và sống động cũng là, trong tất cả những năng lực của con người, năng lực thích hợp nhất để tạo ra sự tin tưởng và uy tín.

Chúng ta rất khó có thể từ chối sự đồng thuận của mình đối với những gì được trình bày trước chúng ta bằng tất cả những màu sắc của tài hùng biện; và trong nhiều trường hợp, tính sống động do trí tưởng tượng tạo ra còn lớn hơn cả tính sống động phát sinh từ thói quen và kinh nghiệm.

Chúng ta bị cuốn theo trí tưởng tượng sống động của tác giả hoặc người đối thoại với mình; và ngay cả chính bản thân người ấy cũng thường trở thành nạn nhân của ngọn lửa nhiệt tình và thiên tài của chính mình.

 

T 1.3.10.9, SBN 123

Cũng không nên bỏ qua nhận xét rằng, cũng như một trí tưởng tượng sống động rất thường suy thoái thành sự điên loạn hoặc sự ngông cuồng, và có sự tương đồng lớn với chúng trong hoạt động của nó, thì những trạng thái ấy cũng tác động lên phán đoán theo cùng một cách và tạo ra sự tin tưởng từ chính những nguyên tắc giống nhau.

Khi trí tưởng tượng, do một sự xáo động bất thường của máu huyết và những tinh lực [7], đạt đến một mức độ sống động làm rối loạn toàn bộ năng lực và hoạt động của nó, thì không còn phương tiện nào để phân biệt giữa sự thật và sự giả dối.

Khi ấy, mọi sự hư cấu tùy tiện hay mọi ý niệm rời rạc, vì có cùng ảnh hưởng như những ấn tượng của ký ức hoặc những kết luận của phán đoán, đều được tiếp nhận trên cùng một nền tảng, và tác động lên những đam mê với một sức mạnh ngang nhau.

Lúc này, một ấn tượng hiện tại và một sự chuyển dịch theo thói quen không còn cần thiết để làm cho những ý niệm của chúng ta trở nên sống động nữa.

Mọi hình ảnh kỳ quái của não thức đều trở nên sống động và mãnh liệt ngang với bất kỳ suy luận nào mà trước đây chúng ta từng dành cho cái tên trang trọng là những kết luận về những sự kiện thực tế; và đôi khi chúng còn ngang với chính những ấn tượng hiện tại của giác quan.[8]

 

T 1.3.10.10, SBN 123, 630–631

Chúng ta có thể nhận thấy cùng một tác động ấy của thi ca, nhưng ở một mức độ thấp hơn; và điều chung giữa thi ca và sự điên loạn là: tính sống động mà chúng đem lại cho những ý niệm không bắt nguồn từ những hoàn cảnh hay những mối liên hệ đặc thù của chính những đối tượng được những ý niệm ấy biểu thị, mà bắt nguồn từ trạng thái và khuynh hướng hiện thời của chính con người.

Nhưng cho dù mức độ sống động này có thể được đẩy lên cao đến đâu, thì rõ ràng rằng trong thi ca, nó không bao giờ tạo ra cùng một cảm nhận như tính sống động nảy sinh trong não thức khi chúng ta suy luận, ngay cả khi chúng ta chỉ suy luận từ những xác suất thấp nhất.

Não thức có thể dễ dàng phân biệt giữa hai điều ấy; và bất cứ sự kích động nào mà nhiệt hứng thi ca có thể tạo ra nơi chúng ta, thì nó vẫn chỉ là cái bóng của sự tin tưởng hay sự thuyết phục.

Trường hợp của ý niệm cũng giống như trường hợp của đam mê mà nó khơi dậy. Không có một đam mê nào của não thức con người mà thi ca không thể tạo ra; nhưng đồng thời, cảm giác đi kèm với những đam mê ấy rất khác nhau tùy theo việc chúng được khơi dậy bởi những hư cấu thi ca hay bởi sự tin tưởng và thực tại.

Một đam mê vốn gây khó chịu trong đời sống thực tế có thể đem lại sự thích thú cao nhất trong một vở bi kịch hoặc một bản anh hùng ca. Trong trường hợp sau, nó không đè nặng lên chúng ta với cùng một sức nặng như trong thực tế; nó có vẻ kém vững chắc và kém thực hơn; và nó không có tác dụng nào khác ngoài tác dụng dễ chịu là kích thích những tinh lực và đánh thức sự chú ý.

Sự khác biệt trong những đam mê là một bằng chứng rõ ràng cho thấy có một sự khác biệt tương ứng trong những ý niệm mà từ đó những đam mê ấy phát sinh.

Ở nơi nào tính sống động bắt nguồn từ một sự kết hợp theo thói quen với một ấn tượng hiện tại, thì mặc dù trí tưởng tượng bề ngoài có thể không bị kích động nhiều như vậy, nhưng trong hoạt động của nó luôn có một điều gì đó mạnh mẽ và thực hơn những sự bùng cháy nhiệt thành của thi ca và tài hùng biện.

Trong trường hợp này cũng như trong mọi trường hợp khác, sức mạnh của những hoạt động trong não thức không thể được đo lường bằng mức độ dao động hay kích động bề ngoài của nó.

Một sự mô tả bằng thi ca có thể tạo ra một tác động rõ rệt hơn lên trí tưởng tượng so với một bản thuật lại mang tính lịch sử. Nó có thể tập hợp nhiều hoàn cảnh hơn để tạo thành một hình ảnh hay một bức tranh hoàn chỉnh. Nó có thể dường như đặt đối tượng trước mắt chúng ta với những màu sắc sống động hơn.

Nhưng dù vậy, những ý niệm mà nó trình bày vẫn khác về mặt cảm nhận với những ý niệm phát sinh từ trí nhớ và phán đoán.

Giữa tất cả vẻ mãnh liệt bề ngoài của tư tưởng và tình cảm đi kèm với những hư cấu của thi ca, vẫn luôn tồn tại một điều gì đó yếu ớt và không hoàn chỉnh.[9]

 

T 1.3.10.11, SBN 631–632

Sau này chúng ta sẽ có dịp xem xét cả những điểm tương đồng lẫn những điểm khác biệt giữa sự hứng khởi thi ca và một sự xác tín nghiêm túc. Trong lúc này, tôi không thể không nhận xét rằng sự khác biệt lớn lao trong cảm nhận của chúng phần nào xuất phát từ sự tự suy xét và những quy tắc tổng quát.

Chúng ta nhận thấy rằng sức mạnh của sự hình dung mà những hư cấu nhận được từ thi ca và tài hùng biện chỉ là một yếu tố hoàn toàn ngẫu nhiên, điều mà bất kỳ ý niệm nào cũng đều có thể đạt được; đồng thời chúng ta cũng nhận thấy rằng những hư cấu ấy không được nối kết với bất kỳ điều gì có thực.

Sự nhận thức này chỉ khiến chúng ta, có thể nói như vậy, tạm thời thuận theo hư cấu; nhưng đồng thời nó cũng khiến ý niệm ấy được cảm nhận một cách rất khác với những sự tin tưởng bền vững đã được thiết lập trên nền tảng của trí nhớ và thói quen.

Hai loại này có phần nào cùng một bản tính; nhưng một loại kém xa loại kia, cả về nguồn gốc tạo thành lẫn những tác động mà nó gây ra.

 

T 1.3.10.12, SBN 632

Một sự tự suy xét tương tự dựa trên những quy tắc tổng quát cũng ngăn cản chúng ta gia tăng mức độ tin tưởng của mình chỉ vì lực và tính sống động của những ý niệm được gia tăng.

Khi một quan điểm không còn chấp nhận bất kỳ sự nghi ngờ nào hay bất kỳ một xác suất đối nghịch nào, chúng ta dành cho nó một sự xác tín hoàn toàn; mặc dù sự thiếu vắng tính tương tự hoặc sự kề cận có thể khiến lực của nó thấp hơn so với lực của những quan điểm khác.

Đó cũng là cách mà phán đoán của chúng ta điều chỉnh những biểu hiện bề ngoài của giác quan, và khiến chúng ta hình dung rằng một vật thể ở khoảng cách hai mươi bộ, ngay cả đối với con mắt, dường như cũng lớn bằng một vật thể có cùng kích thước ở khoảng cách mười bộ.[10]

 

MỤC  XI.

Về Xác Suất Của Những Trường Hợp Ngẫu Nhiên

 

T 1.3.11.1, SBN 124

Nhưng để đem lại cho hệ thống này toàn bộ sức mạnh và tính hiển nhiên của nó, chúng ta phải tạm thời rời mắt khỏi chính nó để xem xét những hệ quả của nó, và từ chính những nguyên lý ấy giải thích một số loại suy luận khác, vốn cũng bắt nguồn từ cùng một nguồn gốc.

 

T 1.3.11.2, SBN 124

Những triết gia đã phân chia lý trí của con người thành tri thức và xác suất, đồng thời định nghĩa loại thứ nhất là loại bằng chứng phát sinh từ sự so sánh giữa những ý niệm, buộc phải gộp tất cả những lập luận của chúng ta từ nhân quả vào dưới thuật ngữ tổng quát là xác suất. Nhưng mặc dù ai cũng có quyền dùng thuật ngữ của mình theo nghĩa mà mình muốn; và vì thế, trong phần trước của chuyên luận này, tôi cũng đã theo cách diễn đạt ấy; tuy nhiên, điều chắc chắn là trong cách nói thông thường, chúng ta dễ dàng khẳng định rằng nhiều lập luận dựa trên nhân quả vượt quá xác suất, và có thể được chấp nhận như một loại bằng chứng cao hơn. Người nào nói rằng chỉ có xác suất là mặt trời sẽ mọc vào ngày mai, hoặc rằng mọi người đều phải chết, hẳn sẽ trở nên lố bịch; mặc dù rõ ràng chúng ta không có sự bảo đảm nào khác về những sự kiện ấy ngoài điều mà kinh nghiệm đem lại cho chúng ta. Vì lý do này, có lẽ sẽ thuận tiện hơn, vừa để giữ nguyên ý nghĩa thông thường của những từ ngữ, vừa để phân biệt những mức độ khác nhau của bằng chứng, nếu phân chia lý trí của con người thành ba loại, tức là: loại phát sinh từ tri thức, từ chứng minh, và từ xác suất. [11] Bằng tri thức, tôi muốn nói đến sự bảo đảm phát sinh từ sự so sánh giữa những ý niệm. Bằng chứng minh, tôi muốn nói đến những lập luận phát sinh từ quan hệ nhân quả, và hoàn toàn không còn nghi ngờ hay bất định. Bằng xác suất, tôi muốn nói đến loại bằng chứng vẫn còn đi kèm với sự bất định. Chính loại suy luận sau cùng này là điều tôi sẽ tiếp tục xem xét.

 

T 1.3.11.3, SBN 124–5

XÁC SUẤT, hay suy luận từ sự phỏng đoán, có thể được chia thành hai loại, đó là: loại đặt nền tảng trên những trường hợp ngẫu nhiên, và loại phát sinh từ những nguyên nhân. Chúng ta sẽ lần lượt xem xét từng loại.

 

T 1.3.11.4, SBN 125

Ý niệm về nhân quả bắt nguồn từ kinh nghiệm; kinh nghiệm, khi trình bày cho chúng ta thấy một số đối tượng luôn luôn kết hợp với nhau, tạo nên một thói quen khiến chúng ta nhìn những đối tượng ấy trong quan hệ đó đến mức chúng ta không thể, nếu không cảm thấy một sự gượng ép rõ rệt, nhìn chúng trong bất kỳ quan hệ nào khác. Ngược lại, vì ngẫu nhiên tự nó không phải là điều gì có thật, và nói cho đúng, chỉ đơn thuần là sự phủ định của một nguyên nhân, nên ảnh hưởng của nó đối với não thức trái ngược với ảnh hưởng của nhân quả; và bản chất của nó là để cho trí tưởng tượng hoàn toàn không thiên về phía nào, dù xem xét sự hiện hữu hay không hiện hữu của đối tượng được coi là ngẫu nhiên ấy. Một nguyên nhân vạch ra con đường cho tư tưởng của chúng ta, và theo một cách nào đó buộc chúng ta phải xem xét những đối tượng nhất định trong những quan hệ nhất định. Ngẫu nhiên chỉ có thể phá bỏ sự định hướng ấy của tư tưởng, và để não thức trở về trạng thái thờ ơ vốn có của nó; trạng thái mà, khi không có một nguyên nhân, nó lập tức quay trở lại.

 

T 1.3.11.5, SBN 125

Vì vậy, do sự thờ ơ hoàn toàn là điều cốt yếu của ngẫu nhiên, nên không một trường hợp ngẫu nhiên nào có thể vượt hơn một trường hợp ngẫu nhiên khác, ngoại trừ ở chỗ nó được cấu thành từ một số lượng lớn hơn những trường hợp ngẫu nhiên ngang nhau. Bởi nếu chúng ta khẳng định rằng một trường hợp ngẫu nhiên có thể vượt hơn một trường hợp ngẫu nhiên khác theo bất kỳ cách nào khác, thì đồng thời chúng ta cũng phải khẳng định rằng có một điều gì đó đem lại cho nó sự vượt trội ấy và khiến kết quả nghiêng về phía này hơn là phía kia. Nói cách khác, chúng ta phải thừa nhận có một nguyên nhân, và như thế là phá bỏ giả định về ngẫu nhiên mà trước đó chúng ta đã thiết lập. Một sự thờ ơ hoàn toàn và tuyệt đối là điều cốt yếu của ngẫu nhiên, và một sự thờ ơ tuyệt đối không bao giờ, tự nó, có thể vượt hơn hay kém hơn một sự thờ ơ tuyệt đối khác. Chân lý này không phải chỉ riêng hệ thống của tôi mới có, mà được mọi người thừa nhận, những người thực hiện những phép tính về xác suất của những trường hợp ngẫu nhiên.[12]

 

T 1.3.11.6, SBN 125–6

Và ở đây có một điều đáng chú ý: mặc dù ngẫu nhiên và nhân quả hoàn toàn trái ngược nhau, nhưng chúng ta không thể hình dung được sự kết hợp giữa những trường hợp ngẫu nhiên, vốn cần thiết để làm cho một khả năng xảy ra vượt hơn một khả năng khác, nếu không giả định rằng giữa những trường hợp ngẫu nhiên có sự pha trộn của những nguyên nhân, và trong một số phương diện có sự kết hợp của tính tất yếu với sự thờ ơ hoàn toàn trong những phương diện khác. Khi không có gì giới hạn những trường hợp ngẫu nhiên, thì mọi ý niệm mà trí tưởng tượng phóng túng nhất có thể tạo ra đều hoàn toàn ngang nhau; và không thể có bất kỳ hoàn cảnh nào đem lại ưu thế cho ý niệm này hơn ý niệm khác. Vì thế, nếu chúng ta không thừa nhận rằng có những nguyên nhân làm cho con xúc xắc rơi xuống, giữ nguyên hình dạng của nó trong lúc rơi, và khiến nó nằm trên một trong những mặt của nó, thì chúng ta không thể thực hiện bất kỳ phép tính nào về những quy luật của ngẫu nhiên. Nhưng nếu giả định rằng những nguyên nhân ấy tác động, đồng thời cũng giả định rằng mọi điều còn lại đều thờ ơ và hoàn toàn do ngẫu nhiên quyết định, thì chúng ta dễ dàng hình thành ý niệm về một sự kết hợp vượt trội của những trường hợp ngẫu nhiên. Một con xúc xắc có bốn mặt được đánh dấu bằng cùng một số chấm, và chỉ có hai mặt được đánh dấu bằng một số chấm khác, đem lại cho chúng ta một ví dụ rõ ràng và dễ hiểu về sự vượt trội ấy. Ở đây, não thức bị những nguyên nhân giới hạn vào một số lượng và một tính chất xác định của những kết quả; đồng thời, nó vẫn không bị định hướng về việc lựa chọn bất kỳ kết quả riêng biệt nào. [13]

 

T 1.3.11.7, SBN 126–7

Tiếp tục mạch suy luận mà chúng ta đã tiến qua ba bước: rằng ngẫu nhiên chỉ đơn thuần là sự phủ định của một nguyên nhân, và tạo ra một trạng thái thờ ơ hoàn toàn trong não thức; rằng một sự phủ định của nguyên nhân và một trạng thái thờ ơ hoàn toàn không bao giờ có thể vượt hơn hay kém hơn một sự phủ định hay một trạng thái thờ ơ khác; và rằng luôn luôn phải có sự pha trộn của những nguyên nhân giữa những trường hợp ngẫu nhiên để làm nền tảng cho bất kỳ suy luận nào; tiếp theo, chúng ta phải xem xét sự kết hợp vượt trội của những trường hợp ngẫu nhiên có thể tạo ra ảnh hưởng gì đối với não thức, và bằng cách nào nó tác động đến phán đoán và ý kiến của chúng ta. Ở đây, chúng ta có thể lập lại toàn bộ những lập luận đã dùng khi khảo sát sự tin tưởng phát sinh từ nhân quả, và bằng chính phương pháp ấy chứng minh rằng một số lượng lớn hơn những trường hợp ngẫu nhiên không tạo ra sự chấp thuận của chúng ta bằng chứng minh, cũng không bằng xác suất. Quả thật, hiển nhiên là chúng ta không bao giờ có thể, chỉ bằng sự so sánh thuần túy giữa những ý niệm, khám phá được điều gì có ý nghĩa đối với vấn đề này; và cũng không thể chứng minh một cách chắc chắn rằng bất kỳ kết quả nào nhất định sẽ rơi vào phía có số lượng trường hợp ngẫu nhiên lớn hơn. Giả sử có bất kỳ sự chắc chắn nào trong trường hợp này thì cũng có nghĩa là lật đổ điều chúng ta đã xác lập về sự đối lập giữa những trường hợp ngẫu nhiên, cũng như về sự bình đẳng và thờ ơ hoàn toàn của chúng.

 

T 1.3.11.8, SBN 127

Nếu có người nói rằng, mặc dù khi những trường hợp ngẫu nhiên đối lập nhau thì không thể xác định một cách chắc chắn kết quả sẽ rơi về phía nào, nhưng chúng ta vẫn có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng kết quả có nhiều khả năng và có xác suất cao hơn sẽ rơi vào phía có số lượng trường hợp ngẫu nhiên lớn hơn thay vì phía có số lượng ít hơn; nếu có người nói như vậy, tôi sẽ hỏi rằng ở đây người ấy muốn nói gì khi dùng những từ khả năng và xác suất? Khả năng và xác suất của những trường hợp ngẫu nhiên chính là số lượng lớn hơn của những trường hợp ngẫu nhiên ngang nhau; do đó, khi chúng ta nói rằng nhiều khả năng kết quả sẽ rơi vào phía vượt trội hơn thay vì phía kém hơn, thì chúng ta chẳng làm gì hơn ngoài việc khẳng định rằng ở nơi có số lượng trường hợp ngẫu nhiên lớn hơn thì quả thật có số lượng lớn hơn, và ở nơi có số lượng ít hơn thì quả thật có số lượng ít hơn; mà đó chỉ là những mệnh đề đồng nhất, hoàn toàn không đem lại điều gì đáng kể. Câu hỏi đặt ra là: bằng cách nào một số lượng lớn hơn những trường hợp ngẫu nhiên ngang nhau tác động lên não thức, và tạo ra sự tin tưởng hay sự chấp thuận, vì rõ ràng điều đó không diễn ra bằng những lập luận rút ra từ chứng minh, cũng không từ xác suất.

 

T 1.3.11.9, SBN 127–8

Để làm sáng tỏ khó khăn này, chúng ta hãy giả sử có một người cầm một con xúc xắc được chế tạo sao cho bốn mặt của nó mang cùng một hình vẽ, hoặc cùng một số chấm, còn hai mặt kia mang một hình vẽ khác; rồi người ấy bỏ con xúc xắc vào hộp với ý định gieo nó. Rõ ràng người ấy phải kết luận rằng hình vẽ thứ nhất có xác suất cao hơn hình vẽ thứ hai, và sẽ ưu tiên hình được ghi trên số lượng mặt nhiều hơn. Theo một nghĩa nào đó, người ấy tin rằng hình ấy sẽ ngửa lên trên; tuy vậy, sự tin tưởng ấy vẫn còn kèm theo do dự và nghi ngờ, tương ứng với số lượng trường hợp ngẫu nhiên đối lập với nó. Và khi số lượng những trường hợp ngẫu nhiên đối lập ấy giảm xuống, còn sự vượt trội của phía kia tăng lên, thì sự tin tưởng của người ấy cũng đạt đến những mức độ ổn định và chắc chắn mới. Sự tin tưởng này phát sinh từ một hoạt động của não thức trên một đối tượng đơn giản và hữu hạn trước mắt chúng ta; vì thế bản chất của nó sẽ càng dễ được khám phá và giải thích hơn. Chúng ta chỉ cần xem xét một con xúc xắc duy nhất để hiểu được một trong những hoạt động kỳ thú nhất của khả năng nhận thức.

 

T 1.3.11.10, SBN 128

Con xúc xắc vừa mô tả có ba đặc điểm đáng để chúng ta chú ý.

Thứ nhất, có những nguyên nhân nhất định, như trọng lực, tính rắn chắc, hình lập phương, v.v., khiến nó rơi xuống, giữ nguyên hình dạng của nó trong khi rơi, và làm cho một trong những mặt của nó ngửa lên.

Thứ hai, có một số lượng nhất định những mặt, vốn được giả định là hoàn toàn thờ ơ.

Thứ ba, có một hình vẽ nhất định được ghi trên mỗi mặt.

Ba đặc điểm này tạo thành toàn bộ bản chất của con xúc xắc, trong chừng mực liên quan đến mục đích hiện tại của chúng ta; vì thế, chúng cũng là những hoàn cảnh duy nhất mà não thức xét đến khi hình thành một phán đoán về kết quả của lần gieo ấy. Vậy nên, chúng ta hãy lần lượt và cẩn thận xem xét từng đặc điểm sẽ ảnh hưởng đến tư tưởng và trí tưởng tượng như thế nào. [14]

 

T 1.3.11.11, SBN 128

Thứ nhất, chúng ta đã nhận thấy rằng não thức, do tác động của tập quán, bị định hướng chuyển từ bất kỳ nguyên nhân nào sang kết quả của nó; và khi một bên xuất hiện, thì hầu như nó không thể không hình thành ý niệm về bên kia. Sự kết hợp thường xuyên của chúng trong những trường hợp trước đây đã tạo nên một thói quen trong não thức, khiến nó luôn liên kết chúng trong tư tưởng, và suy luận từ sự hiện hữu của cái này sang sự hiện hữu của cái thường đi kèm với nó. Khi não thức xem con xúc xắc không còn được hộp nâng đỡ nữa, thì nó không thể, nếu không cảm thấy gượng ép, xem con xúc xắc như đang lơ lửng trong không trung; trái lại, theo lẽ tự nhiên, nó đặt con xúc xắc xuống mặt bàn và hình dung rằng một trong những mặt của nó sẽ ngửa lên. Đó là kết quả của sự pha trộn giữa những nguyên nhân, vốn cần thiết để chúng ta có thể hình thành bất kỳ phép tính nào về những trường hợp ngẫu nhiên.

 

T 1.3.11.12, SBN 128–9

Thứ hai, chúng ta giả định rằng mặc dù con xúc xắc tất yếu phải rơi xuống và làm cho một trong những mặt của nó ngửa lên, nhưng không có gì quyết định mặt cụ thể nào sẽ ngửa lên; điều đó hoàn toàn do ngẫu nhiên quyết định. Chính bản chất và cốt lõi của ngẫu nhiên là sự phủ định những nguyên nhân, và để não thức ở trong trạng thái hoàn toàn thờ ơ giữa những kết quả được giả định là ngẫu nhiên. Vì vậy, khi tư tưởng được những nguyên nhân khiến phải xem con xúc xắc đang rơi xuống và một trong những mặt của nó sẽ ngửa lên, thì những trường hợp ngẫu nhiên trình bày tất cả những mặt ấy như hoàn toàn ngang nhau, và khiến chúng ta lần lượt xem từng mặt một đều có khả năng và xác suất như nhau. Trí tưởng tượng chuyển từ nguyên nhân, tức là hành động gieo con xúc xắc, sang kết quả, tức là việc một trong sáu mặt ngửa lên; và nó cảm thấy hầu như không thể vừa dừng lại giữa chừng trên con đường ấy, vừa hình thành bất kỳ ý niệm nào khác. Nhưng vì cả sáu mặt ấy loại trừ lẫn nhau, và con xúc xắc không thể đồng thời ngửa nhiều hơn một mặt, nên nguyên lý này không khiến chúng ta xem tất cả những mặt cùng lúc đều đang ngửa lên, bởi chúng ta xem điều đó là không thể. Tuy nhiên, nguyên lý ấy cũng không hướng toàn bộ sức mạnh của nó về bất kỳ mặt riêng biệt nào; vì nếu như vậy thì mặt ấy sẽ được xem là chắc chắn và tất yếu. Trái lại, nó hướng tới toàn bộ sáu mặt theo cách phân chia sức mạnh của nó một cách đồng đều giữa tất cả những mặt. Chúng ta kết luận một cách tổng quát rằng nhất định sẽ có một mặt xuất hiện sau lần gieo; chúng ta lần lượt lướt qua tất cả những mặt ấy trong não thức; sự định hướng của tư tưởng là chung cho tất cả; nhưng không mặt nào nhận được phần sức mạnh nhiều hơn phần tương ứng với tỷ lệ của nó so với những mặt còn lại. Chính theo cách ấy mà xung lực ban đầu, và do đó cả tính sinh động của tư tưởng phát sinh từ những nguyên nhân, bị những trường hợp ngẫu nhiên xen vào phân chia và tách thành nhiều phần.

 

T 1.3.11.13, SBN 129–30

Chúng ta đã thấy ảnh hưởng của hai đặc điểm đầu tiên của con xúc xắc, tức là những nguyên nhân, và số lượng cùng sự thờ ơ của những mặt; [15] đồng thời cũng đã biết chúng tạo ra một xung lực đối với tư tưởng như thế nào, và phân chia xung lực ấy thành nhiều phần tương ứng với số đơn vị trong tổng số những mặt ra sao. Bây giờ chúng ta phải xem xét ảnh hưởng của đặc điểm thứ ba, tức là những hình vẽ được ghi trên mỗi mặt.

Rõ ràng là khi nhiều mặt mang cùng một hình vẽ, thì chúng phải cùng phối hợp trong ảnh hưởng của chúng lên não thức, và phải hợp nhất tất cả những xung lực đã bị phân tán trên những mặt khác nhau mang hình ấy vào trong một hình ảnh hay một ý niệm duy nhất về hình đó. Nếu vấn đề chỉ là mặt nào sẽ ngửa lên, thì tất cả những mặt đều hoàn toàn ngang nhau, và không mặt nào có thể có ưu thế hơn mặt khác. Nhưng vì vấn đề ở đây là hình vẽ nào sẽ xuất hiện, và cùng một hình vẽ lại được trình bày trên nhiều hơn một mặt, nên hiển nhiên là những xung lực thuộc về tất cả những mặt ấy phải hợp lại nơi một hình vẽ duy nhất, và nhờ sự hợp nhất đó mà trở nên mạnh hơn, có lực hơn. Trong trường hợp hiện tại, chúng ta giả định có bốn mặt mang cùng một hình vẽ, và hai mặt mang một hình vẽ khác. Vì thế, những xung lực thuộc về nhóm bốn mặt vượt trội hơn những xung lực thuộc về nhóm hai mặt. Nhưng vì hai kết quả ấy đối lập nhau, và hai hình vẽ ấy không thể đồng thời cùng xuất hiện, nên những xung lực cũng trở thành đối lập; và xung lực yếu hơn triệt tiêu xung lực mạnh hơn trong chừng mực sức mạnh của nó có thể triệt tiêu được. Tính sinh động của ý niệm luôn tỷ lệ với mức độ của xung lực hay khuynh hướng chuyển dịch; và sự tin tưởng, theo học thuyết đã trình bày trước đây, chính là tính sinh động của ý niệm. [16]

 

MỤC XII.

Về Xác Suất Của Những Nguyên Nhân

 

T 1.3.12.1, SBN 130

Những điều tôi đã trình bày liên quan đến xác suất của những trường hợp ngẫu nhiên không thể phục vụ cho mục đích nào khác ngoài việc giúp chúng ta giải thích xác suất của những nguyên nhân; vì những triết gia nói chung đều thừa nhận rằng điều mà người thường gọi là ngẫu nhiên thực chất không gì khác hơn là một nguyên nhân bí mật và bị che giấu. Do đó, chính loại xác suất này là điều mà chúng ta cần khảo sát chủ yếu.

 

T 1.3.12.2, SBN 130–131

Những xác suất của những nguyên nhân có nhiều loại khác nhau; nhưng tất cả đều bắt nguồn từ cùng một nguồn gốc, đó là sự liên kết của những ý niệm với một ấn tượng hiện tại. Bởi vì thói quen tạo ra sự liên kết ấy phát sinh từ sự kết hợp thường xuyên của những đối tượng, nên nó phải dần dần đạt tới mức độ hoàn thiện và phải nhận thêm sức mạnh từ mỗi trường hợp rơi vào sự quan sát của chúng ta.

Trường hợp đầu tiên có rất ít hoặc hầu như không có sức mạnh. Trường hợp thứ hai làm tăng thêm phần nào sức mạnh ấy. Trường hợp thứ ba còn làm cho sức mạnh ấy trở nên rõ rệt hơn nữa. Và chính bằng những bước tiến chậm rãi ấy mà phán đoán của chúng ta đạt tới sự tin tưởng hoàn toàn.

Nhưng trước khi đạt tới mức độ hoàn thiện ấy, nó phải trải qua nhiều mức độ thấp hơn; và ở tất cả những mức độ ấy, nó chỉ được xem là một sự phỏng đoán hoặc một xác suất.

Vì vậy, trong nhiều trường hợp, sự chuyển tiếp dần dần từ những xác suất đến những chứng cứ hoàn chỉnh diễn ra gần như không thể nhận ra; và sự khác biệt giữa hai loại bằng chứng này dễ được nhận ra hơn ở những mức độ cách xa nhau, hơn là ở những mức độ gần nhau và liền kề.

 

T 1.3.12.3, SBN 131

Điều đáng lưu ý ở đây là, mặc dù loại xác suất vừa được giải thích là loại xuất hiện đầu tiên theo trình tự, và theo tự nhiên có trước khi bất kỳ chứng cứ hoàn chỉnh nào có thể tồn tại, nhưng không một ai, một khi đã đến tuổi trưởng thành, còn có thể trực tiếp quen thuộc với nó nữa.

Quả thật, không có gì phổ biến hơn việc ngay cả những người có tri thức uyên thâm nhất cũng chỉ mới tích lũy được một kinh nghiệm chưa hoàn chỉnh về nhiều sự kiện riêng biệt; và điều đó tự nhiên chỉ tạo ra một thói quen và một sự chuyển dịch chưa hoàn chỉnh.

Nhưng ở đây chúng ta phải xét rằng não thức, sau khi đã hình thành thêm một sự quan sát về mối liên hệ giữa những nguyên nhân và những kết quả, sẽ đem lại sức mạnh mới cho suy luận của nó  từ sự quan sát ấy; và nhờ đó có thể xây dựng một lập luận chỉ từ một kinh nghiệm đơn lẻ, khi kinh nghiệm ấy đã được chuẩn bị và xem xét một cách thích đáng.

Điều mà một lần chúng ta đã nhận ra là phát sinh theo sau từ bất kỳ đối tượng nào, chúng ta kết luận rằng nó sẽ mãi mãi phát sinh theo sau từ đối tượng ấy; và nếu châm ngôn này không phải lúc nào cũng được xây dựng như một điều chắc chắn, thì nguyên nhân không nằm ở việc thiếu một số lượng kinh nghiệm đủ lớn, mà ở chỗ chúng ta thường xuyên gặp những trường hợp trái ngược với nó. Điều này dẫn chúng ta đến loại xác suất thứ hai, nơi tồn tại một sự trái ngược trong kinh nghiệm và sự quan sát của chúng ta.[17]

 

T 1.3.12.4, SBN 131

Thật sẽ rất thuận lợi cho con người trong việc điều hành đời sống và hành động của mình nếu những đối tượng giống nhau luôn luôn được kết hợp với nhau, và chúng ta không có gì phải lo sợ ngoài những sai lầm trong phán đoán của chính chúng ta, mà không có bất kỳ lý do nào để lo ngại về sự bất định của tự nhiên.

Nhưng vì người ta thường nhận thấy rằng một sự quan sát này trái ngược với một sự quan sát khác, và rằng những nguyên nhân và những kết quả không luôn luôn diễn ra theo cùng một trật tự mà chúng ta đã từng có kinh nghiệm, nên chúng ta buộc phải thay đổi cách suy luận của chúng ta do sự bất định này, và phải xem xét sự trái ngược của những biến cố.

Câu hỏi đầu tiên xuất hiện trong vấn đề này là liên quan đến bản chất và những nguyên nhân của sự trái ngược ấy.

 

T 1.3.12.5, SBN 132

Những người bình thường, vốn tiếp nhận sự vật theo vẻ bề ngoài đầu tiên của chúng, quy sự bất định của những biến cố cho một sự bất định nào đó ngay trong chính những nguyên nhân; sự bất định ấy khiến những nguyên nhân này đôi khi không tạo ra tác động thông thường của chúng, mặc dù trong quá trình vận hành chúng không gặp bất kỳ vật cản hay sự ngăn trở nào.

Nhưng những nhà triết học, khi nhận thấy rằng hầu như trong mọi lĩnh vực của tự nhiên đều chứa đựng vô số cơ chế và nguyên lý, vốn bị che giấu do sự nhỏ bé hoặc sự xa xôi của chúng, nhận ra rằng ít nhất cũng có thể sự trái ngược của những biến cố không phát sinh từ bất kỳ tính ngẫu nhiên nào trong nguyên nhân, mà từ sự tác động bí mật của những nguyên nhân đối nghịch.

Khả năng này được chuyển thành sự chắc chắn nhờ những quan sát thêm nữa, khi họ nhận thấy rằng, sau một cuộc khảo sát chính xác, sự trái ngược của những kết quả luôn luôn bộc lộ sự trái ngược của những nguyên nhân, và phát sinh từ sự cản trở lẫn nhau cũng như sự đối lập giữa chúng.

Một người nông dân không thể đưa ra lời giải thích nào tốt hơn cho việc một chiếc đồng hồ hoặc đồng hồ bỏ túi ngừng chạy ngoài việc nói rằng thông thường nó vẫn không chạy đúng. Nhưng một người thợ dễ dàng nhận ra rằng cùng một lực trong dây cót hoặc quả lắc luôn luôn có cùng một tác động lên những bánh xe; chỉ là nó không đạt được kết quả thông thường của mình, có lẽ do một hạt bụi đã làm dừng toàn bộ chuyển động.

Từ việc quan sát nhiều trường hợp tương tự, những nhà triết học hình thành một nguyên tắc rằng mối liên hệ giữa mọi nguyên nhân và mọi kết quả đều tất yếu như nhau; và rằng sự bất định có vẻ như tồn tại trong một số trường hợp chỉ phát sinh từ sự đối kháng bí mật của những nguyên nhân trái ngược.

 

T 1.3.12.6, SBN 132–3

Nhưng dù những nhà triết học và những người bình thường có khác nhau trong sự giải thích của họ về sự trái ngược của những biến cố, thì những suy luận mà họ rút ra từ đó luôn luôn thuộc cùng một loại và được đặt trên cùng những nguyên lý. Sự trái ngược của những biến cố trong quá khứ có thể tạo cho chúng ta một loại sự tin tưởng do dự về tương lai theo hai cách khác nhau.

Thứ nhất, bằng cách tạo ra một thói quen không hoàn hảo và một sự chuyển dịch chưa hoàn chỉnh từ ấn tượng hiện tại sang ý niệm có liên hệ.

Khi sự kết hợp giữa bất kỳ hai đối tượng nào đó xảy ra thường xuyên nhưng không hoàn toàn luôn luôn, não thức được khiến phải chuyển từ đối tượng này sang đối tượng kia; nhưng không với một thói quen trọn vẹn như khi sự kết hợp ấy không bị gián đoạn, và tất cả những trường hợp mà chúng ta từng gặp đều đồng nhất và nhất quán.

Từ kinh nghiệm thông thường, cả trong những hành động lẫn trong những suy luận của mình, chúng ta nhận thấy rằng sự kiên trì liên tục trong bất kỳ lối sống nào tạo ra một khuynh hướng mạnh mẽ và một xu hướng tiếp tục nó trong tương lai; mặc dù cũng có những thói quen với những mức độ sức mạnh thấp hơn, tương ứng với những mức độ kém bền vững và kém đồng đều hơn trong cách hành xử của chúng ta.

 

T 1.3.12.7, SBN 133

Không còn nghi ngờ gì rằng nguyên lý này đôi khi có hiệu lực, và tạo ra những suy luận mà chúng ta rút ra từ những hiện tượng trái ngược; tuy nhiên, tôi tin chắc rằng khi khảo sát kỹ, chúng ta sẽ không thấy nó là nguyên lý thường xuyên nhất chi phối não thức trong loại suy luận này.

Khi chúng ta chỉ đi theo sự xác định theo thói quen của não thức, chúng ta thực hiện sự chuyển dịch mà không có bất kỳ sự tự suy ngẫm nào, và không đặt xen vào giữa việc nhìn thấy một đối tượng và sự tin tưởng vào đối tượng thường đi kèm với nó dù chỉ một khoảnh khắc trì hoãn.

Vì thói quen không phụ thuộc vào bất kỳ sự cân nhắc nào, nên nó tác động ngay lập tức, không cho phép bất kỳ khoảng thời gian nào dành cho sự tự suy ngẫm.

Nhưng cách tiến hành này chỉ xuất hiện trong rất ít trường hợp của những suy luận xác suất; và thậm chí còn ít hơn trong những suy luận phát sinh từ sự kết hợp không gián đoạn của những đối tượng.

Trong loại suy luận trước, chúng ta thường có ý thức đưa sự trái ngược của những biến cố trong quá khứ vào xem xét; chúng ta so sánh những mặt khác nhau của sự trái ngược ấy, và cẩn thận cân nhắc những kinh nghiệm mà chúng ta có ở mỗi phía.

Từ đó, chúng ta có thể kết luận rằng những suy luận thuộc loại này không phát sinh trực tiếp từ thói quen, mà theo một cách gián tiếp; và đây là điều mà chúng ta phải cố gắng giải thích.[18]

 

T 1.3.12.8, SBN 133–4

Rõ ràng rằng khi một đối tượng đi kèm với những kết quả trái ngược nhau, chúng ta chỉ đánh giá những kết quả ấy dựa trên kinh nghiệm quá khứ của mình, và luôn luôn xem những kết quả mà chúng ta đã quan sát thấy đi theo sau từ đối tượng ấy là những kết quả có thể xảy ra.

Và cũng như kinh nghiệm quá khứ điều chỉnh phán đoán của chúng ta về khả năng xảy ra của những kết quả này, nó cũng điều chỉnh phán đoán của chúng ta về xác suất của chúng; và kết quả nào đã xuất hiện thường xuyên nhất trong kinh nghiệm thì chúng ta luôn xem là có khả năng xảy ra nhất.

Vì vậy, ở đây có hai điều cần được xem xét, đó là: những lý do khiến chúng ta lấy quá khứ làm tiêu chuẩn cho tương lai, và cách thức mà chúng ta rút ra một phán đoán duy nhất từ sự trái ngược của những biến cố trong quá khứ.[19]

 

T 1.3.12.9, SBN 134

Trước hết, chúng ta có thể nhận thấy rằng giả định cho rằng tương lai sẽ giống với quá khứ không được xây dựng trên bất kỳ loại lập luận nào, mà hoàn toàn phát sinh từ thói quen. Chính nhờ thói quen này mà chúng ta được xác định để kỳ vọng trong tương lai cùng một chuỗi những đối tượng mà chúng ta đã quen thuộc trong kinh nghiệm.

Thói quen ấy, hay sự xác định của não thức trong việc chuyển cái đã qua sang cái sắp tới, tự nó là đầy đủ và hoàn chỉnh; và vì vậy, xung lực đầu tiên của tưởng tượng trong loại suy luận này cũng mang cùng những đặc tính ấy: nó có tính mạnh mẽ, ổn định và hướng trực tiếp đến cùng một kết luận.

 

T 1.3.12.10, SBN 134

Nhưng thứ hai, khi trong quá trình xem xét những thực nghiệm quá khứ, chúng ta nhận thấy chúng có tính chất trái ngược nhau, thì sự xác định này — dù tự thân nó vẫn đầy đủ và hoàn chỉnh — lại không còn trình bày cho chúng ta một đối tượng duy nhất và ổn định. Thay vào đó, nó đưa ra trước não thức một số lượng những hình ảnh khác nhau và không đồng nhất, xuất hiện theo một trật tự và một tỷ lệ nhất định.

Do đó, xung lực đầu tiên của tưởng tượng ở đây không còn hướng toàn bộ vào một đối tượng duy nhất, mà bị phân chia thành nhiều phần và lan tỏa trên tất cả những hình ảnh ấy; trong đó mỗi hình ảnh nhận được một phần ngang nhau của sức mạnh và tính sinh động vốn phát sinh từ xung lực ban đầu.

Mỗi một trong những biến cố quá khứ ấy đều có thể tái diễn; và chúng ta phán đoán rằng, khi chúng tái diễn, chúng sẽ xuất hiện theo cùng một tỷ lệ mà chúng đã từng xuất hiện trong kinh nghiệm quá khứ. [20]

 

T 1.3.12.11, SBN 134–5

Nếu mục đích của chúng ta là xem xét những tỷ lệ giữa những biến cố đối lập trong một số lượng lớn những trường hợp, thì những hình ảnh do kinh nghiệm quá khứ trình bày phải giữ nguyên hình thức ban đầu của chúng và duy trì những tỷ lệ ban đầu ấy.

Giả sử, chẳng hạn, qua một sự quan sát lâu dài, tôi nhận thấy rằng trong hai mươi con tàu ra khơi, chỉ có mười chín con trở về. Giả sử hiện tại tôi nhìn thấy hai mươi con tàu rời cảng: tôi chuyển kinh nghiệm quá khứ của mình sang tương lai, và hình dung rằng mười chín trong số những con tàu ấy sẽ trở về an toàn, còn một con sẽ bị mất.

Về điểm này không có gì khó khăn.

Nhưng vì chúng ta thường xuyên lần lượt xem xét những ý niệm khác nhau về những biến cố quá khứ, nhằm hình thành một phán đoán về một biến cố riêng lẻ vốn có vẻ không chắc chắn, nên sự xem xét này phải làm thay đổi hình thức ban đầu của những ý niệm ấy, và tập hợp lại những hình ảnh bị phân tán mà kinh nghiệm trình bày; bởi chính vào sự xem xét này mà chúng ta quy chiếu sự xác định của biến cố cụ thể mà chúng ta đang suy luận.

Một số lượng lớn những hình ảnh này được giả định là cùng hội tụ, và một số lượng lớn hơn nữa hội tụ về một phía. Những hình ảnh đồng thuận ấy hợp nhất lại với nhau, và làm cho ý niệm trở nên mạnh hơn và sinh động hơn, không chỉ so với một sự hư cấu đơn thuần của tưởng tượng, mà còn so với bất kỳ ý niệm nào được nâng đỡ bởi một số lượng thực nghiệm ít hơn.

Mỗi thực nghiệm mới giống như một nét cọ mới, đem lại thêm tính sinh động cho những màu sắc, nhưng không làm tăng thêm cũng không mở rộng hình thể.

Hoạt động này của não thức đã được giải thích đầy đủ khi bàn về xác suất của những trường hợp ngẫu nhiên, nên ở đây tôi không cần cố gắng làm cho nó trở nên dễ hiểu hơn nữa.

Mỗi thực nghiệm quá khứ có thể được xem như một loại ngẫu nhiên; bởi vì đối với chúng ta vẫn không chắc chắn rằng đối tượng sẽ tồn tại phù hợp với thực nghiệm này hay thực nghiệm khác. Và vì lý do này, mọi điều đã được nói về vấn đề trước cũng có thể áp dụng cho vấn đề hiện tại.

 

T 1.3.12.12, SBN 135

Như vậy, xét toàn bộ, những thực nghiệm đối lập tạo ra một sự tin tưởng không hoàn chỉnh, hoặc bằng cách làm suy yếu thói quen, hoặc bằng cách phân chia rồi sau đó kết hợp lại theo những phần khác nhau chính thói quen hoàn chỉnh ấy — thói quen khiến chúng ta nói chung kết luận rằng những trường hợp mà chúng ta chưa từng có kinh nghiệm phải tất yếu giống với những trường hợp mà chúng ta đã từng có kinh nghiệm. [21]

 

T 1.3.12.13, SBN 135

Để biện minh thêm cho cách giải thích này về loại xác suất thứ hai — loại xác suất trong đó chúng ta suy luận một cách có ý thức và có sự tự suy xét từ sự đối lập của những thực nghiệm quá khứ — tôi sẽ đưa ra những xem xét sau đây, mà không e ngại vẻ tinh tế của chúng có thể gây khó chịu.

Có lẽ, một sự suy luận đúng đắn vẫn nên giữ nguyên sức mạnh của nó, dù nó có tinh tế đến đâu; cũng giống như vật chất vẫn duy trì tính rắn chắc của nó trong không khí, trong lửa, và trong những tinh khí động vật, cũng như trong những hình thức thô sơ và dễ cảm nhận hơn.

 

T 1.3.12.14, SBN 135

Trước hết, chúng ta có thể nhận thấy rằng không có xác suất nào lớn đến mức không còn cho phép một khả năng đối lập; bởi nếu không, nó sẽ không còn là xác suất nữa mà sẽ trở thành sự chắc chắn.

Loại xác suất của những nguyên nhân mà chúng ta đang xét — loại có phạm vi rộng nhất — phụ thuộc vào sự đối lập của những thực nghiệm; và rõ ràng rằng một thực nghiệm trong quá khứ ít nhất chứng minh một khả năng cho tương lai.

 

T 1.3.12.15, SBN 136

Thứ hai, những phần cấu thành của khả năng và xác suất này có cùng một bản tính, và chỉ khác nhau về số lượng chứ không khác nhau về loại.

Chúng ta đã nhận thấy rằng mọi trường hợp ngẫu nhiên đơn lẻ đều hoàn toàn ngang nhau; và điều duy nhất có thể khiến một biến cố ngẫu nhiên vượt trội hơn một biến cố khác chính là số lượng trường hợp ngẫu nhiên lớn hơn.

Tương tự như vậy, sự không chắc chắn của những nguyên nhân được tìm thấy nhờ kinh nghiệm — kinh nghiệm trình bày cho chúng ta những biến cố đối lập — thì rõ ràng rằng khi chúng ta chuyển quá khứ sang tương lai, chuyển cái đã biết sang cái chưa biết, mỗi thực nghiệm quá khứ đều có cùng một trọng lượng; và chỉ có số lượng lớn hơn của chúng mới có thể làm cán cân nghiêng về một phía.

Do đó, khả năng tham gia vào mọi suy luận thuộc loại này được cấu thành từ những phần có cùng bản tính, cả giữa chính chúng với nhau, lẫn với những phần cấu thành nên xác suất đối lập.

 

T 1.3.12.16, SBN 136

Thứ ba, chúng ta có thể xác lập như một nguyên tắc chắc chắn rằng trong mọi hiện tượng thuộc lĩnh vực đạo đức cũng như tự nhiên, bất cứ khi nào một nguyên nhân bao gồm nhiều phần, và kết quả tăng lên hoặc giảm xuống tùy theo sự thay đổi về số lượng của những phần ấy, thì kết quả, nói đúng hơn, là một kết quả hợp thành; nó phát sinh từ sự kết hợp của nhiều kết quả riêng biệt xuất phát từ từng phần của nguyên nhân.

Chẳng hạn, vì trọng lực của một vật tăng lên hoặc giảm xuống theo sự tăng lên hoặc giảm xuống của những phần cấu thành nó, chúng ta kết luận rằng mỗi phần đều chứa phẩm tính này và góp phần tạo nên trọng lực của toàn thể.

Sự vắng mặt hay hiện diện của một phần của nguyên nhân đi kèm với sự vắng mặt hay hiện diện của một phần tương ứng của kết quả.

Mối liên hệ hay sự kết hợp thường xuyên này đủ để chứng minh rằng một phần ấy là nguyên nhân của phần kia.

Vì sự tin tưởng mà chúng ta có đối với một biến cố nào đó tăng lên hoặc giảm xuống tùy theo số lượng những trường hợp ngẫu nhiên hoặc những thực nghiệm quá khứ, nên nó phải được xem như một kết quả hợp thành; trong đó mỗi phần của kết quả phát sinh tương ứng từ một số lượng nhất định những trường hợp ngẫu nhiên hoặc những thực nghiệm. [22]

 

T 1.3.12.17, SBN 136–7

Bây giờ chúng ta hãy kết hợp ba quan sát này lại với nhau, và xem chúng ta có thể rút ra kết luận nào từ chúng.

Đối với mọi xác suất đều tồn tại một khả thể đối lập. Khả thể này được cấu thành từ những phần hoàn toàn cùng bản tính với những phần cấu thành nên xác suất; và vì vậy, nó cũng có cùng ảnh hưởng lên não thức và khả năng nhận thức.

Sự tin tưởng đi kèm với xác suất là một kết quả hợp thành; nó được hình thành bởi sự hội tụ của nhiều tác động riêng biệt, trong đó mỗi tác động phát sinh từ một phần của xác suất.

Vì mỗi phần của xác suất đều góp phần tạo ra sự tin tưởng, nên mỗi phần của khả thể cũng phải có cùng một ảnh hưởng ở phía đối lập; bởi vì bản tính của những phần ấy hoàn toàn giống nhau.

Sự tin tưởng đối lập đi kèm với khả thể cũng bao hàm một cái nhìn về một đối tượng nhất định, giống như xác suất bao hàm một cái nhìn đối lập về chính đối tượng ấy. Xét ở điểm này, hai mức độ tin tưởng là hoàn toàn giống nhau.

Vì vậy, cách duy nhất để số lượng lớn hơn của những phần cấu thành tương tự ở một phía có thể phát huy ảnh hưởng và vượt lên trên số lượng nhỏ hơn ở phía kia, là bằng cách tạo ra một cái nhìn mạnh hơn và sinh động hơn về đối tượng của nó.

Mỗi phần riêng biệt trình bày một cái nhìn riêng về đối tượng; và khi tất cả những cái nhìn ấy hợp nhất lại, chúng tạo thành một cái nhìn chung duy nhất. Cái nhìn chung này trở nên đầy đủ hơn và rõ ràng hơn nhờ số lượng lớn hơn của những nguyên nhân hay nguyên lý mà từ đó nó được hình thành.

 

T 1.3.12.18, SBN 137

Những phần cấu thành của xác suất và khả thể, vì giống nhau về bản tính, tất yếu phải tạo ra những tác động giống nhau. Sự giống nhau trong tác động của chúng nằm ở điểm này: mỗi phần đều trình bày một cái nhìn về một đối tượng riêng biệt.

Tuy nhiên, mặc dù những phần này giống nhau về bản tính, chúng lại khác biệt rất lớn về số lượng và số lượng đếm được; và sự khác biệt ấy cũng phải biểu hiện trong kết quả, cũng như sự giống nhau của chúng.

Bởi vì cái nhìn mà những phần này trình bày trong cả hai trường hợp đều là một cái nhìn đầy đủ và hoàn chỉnh, bao hàm toàn bộ đối tượng trong tất cả những phương diện của nó, nên không thể có bất kỳ sự khác biệt nào giữa chúng ở điểm này.

Do đó, không có gì khác ngoài mức độ sinh động cao hơn của xác suất — phát sinh từ sự hội tụ của một số lượng lớn hơn những cái nhìn — có thể tạo nên sự khác biệt giữa hai kết quả này.

 

T 1.3.12.19, SBN 137–8

Đây gần như là cùng một lập luận, nhưng được trình bày dưới một góc nhìn khác.

Tất cả những suy luận của chúng ta về xác suất của những nguyên nhân đều dựa trên việc chuyển cái đã qua sang cái tương lai.

Việc chuyển bất kỳ một thực nghiệm quá khứ nào sang tương lai cũng đủ để cho chúng ta một cái nhìn về đối tượng; bất kể thực nghiệm ấy là một trường hợp đơn lẻ, hay được kết hợp với những thực nghiệm khác cùng loại; bất kể nó tự thân hoàn chỉnh, hay bị những thực nghiệm thuộc loại đối lập chống lại.

Giả sử một thực nghiệm vừa có được hai đặc tính này: vừa được kết hợp với những thực nghiệm khác, vừa bị đối lập bởi những thực nghiệm trái ngược. Khi đó, nó không vì thế mà mất đi sức mạnh ban đầu trong việc trình bày một cái nhìn về đối tượng; nó chỉ đồng thời kết hợp với và đối lập với những thực nghiệm khác vốn có cùng ảnh hưởng.

Do đó, một câu hỏi có thể được đặt ra: sự kết hợp và sự đối lập này diễn ra theo cách nào?

Đối với sự kết hợp, chỉ còn hai giả thuyết có thể được lựa chọn.

Thứ nhất, rằng cái nhìn về đối tượng do việc chuyển dịch mỗi thực nghiệm quá khứ tạo ra vẫn giữ nguyên toàn bộ, và chỉ làm tăng thêm số lượng những cái nhìn.

Thứ hai, rằng cái nhìn ấy hòa nhập vào những cái nhìn tương tự và tương ứng khác, rồi trao cho chúng một mức độ cao hơn về sức mạnh và tính sinh động.

Nhưng kinh nghiệm cho thấy giả thuyết thứ nhất là sai. Bởi kinh nghiệm cho chúng ta biết rằng sự tin tưởng đi kèm với bất kỳ một suy luận nào chỉ bao gồm một kết luận duy nhất, chứ không phải một số lượng lớn những kết luận tương tự nhau. Những kết luận như vậy không những chỉ làm rối loạn não thức, mà trong nhiều trường hợp còn quá nhiều đến mức một năng lực hữu hạn không thể nắm bắt chúng một cách phân biệt.

Vì vậy, quan điểm hợp lý duy nhất còn lại là: những cái nhìn tương tự ấy hòa nhập vào nhau và hợp nhất sức mạnh của chúng, để tạo ra một cái nhìn mạnh hơn và rõ ràng hơn so với cái nhìn phát sinh từ bất kỳ một cái nhìn riêng lẻ nào.

Đây chính là cách mà những thực nghiệm quá khứ kết hợp với nhau khi chúng được chuyển sang một biến cố tương lai.

Còn về cách thức chúng đối lập nhau, điều này cũng rõ ràng: bởi vì những cái nhìn đối lập không thể cùng tồn tại với nhau, và đối tượng không thể đồng thời tồn tại phù hợp với cả hai cái nhìn, nên ảnh hưởng của chúng trở nên triệt tiêu lẫn nhau.

Kết quả là, não thức chỉ bị xác định theo phía có ưu thế hơn, với một mức độ sức mạnh còn lại sau khi đã trừ đi ảnh hưởng của phía yếu hơn.[23]

 

T 1.3.12.20, SBN 138–9

Tôi nhận thức rằng toàn bộ lập luận này hẳn sẽ có vẻ rất khó nắm bắt đối với phần lớn độc giả, những người không quen với những suy tư sâu xa như vậy về những năng lực nhận thức của não thức; và vì không quen thuộc với những suy tư này, họ sẽ có khuynh hướng bác bỏ như là viển vông bất cứ điều gì không phù hợp với những quan niệm thông thường được thừa nhận, cũng như với những nguyên lý dễ dàng và hiển nhiên nhất của triết học.

Không nghi ngờ gì rằng cần phải có một số nỗ lực để đi vào những lập luận này; mặc dù có lẽ chỉ cần rất ít nỗ lực để nhận ra sự không hoàn thiện của mọi giả thuyết thông thường về vấn đề này, cũng như sự ít ỏi của ánh sáng mà triết học hiện nay có thể cung cấp cho chúng ta trong những suy tư vừa cao siêu vừa kỳ thú như vậy.

Một khi con người đã hoàn toàn bị thuyết phục bởi hai nguyên lý sau đây: rằng trong bất kỳ đối tượng nào, khi được xét tự thân nó, không có gì có thể cung cấp cho chúng ta một lý do để rút ra một kết luận vượt ra ngoài chính đối tượng ấy; và rằng ngay cả sau khi quan sát sự kết hợp thường xuyên hoặc liên tục giữa những đối tượng, chúng ta cũng không có lý do để rút ra bất kỳ suy luận nào về bất kỳ đối tượng nào nằm ngoài những đối tượng mà chúng ta đã từng có kinh nghiệm;

tôi nói rằng, một khi con người đã hoàn toàn bị thuyết phục bởi hai nguyên lý này, thì chúng sẽ khiến họ thoát khỏi sự ràng buộc của mọi hệ thống thông thường đến mức họ sẽ không còn khó khăn trong việc chấp nhận bất kỳ hệ thống nào, dù nó có vẻ kỳ lạ đến đâu.

Chúng ta đã thấy rằng những nguyên lý này đủ sức thuyết phục ngay cả đối với những suy luận chắc chắn nhất của chúng ta dựa trên quan hệ nhân quả; nhưng tôi dám khẳng định rằng, đối với những suy luận phỏng đoán hay xác suất này, chúng còn đạt được một mức độ minh chứng mới.

 

T 1.3.12.21, SBN 139

Trước hết, rõ ràng rằng trong loại suy luận này, không phải đối tượng được trình hiện cho chúng ta, khi được xét tự thân nó, cung cấp bất kỳ lý do nào để chúng ta rút ra một kết luận về một đối tượng hay biến cố khác.

Bởi vì đối tượng sau đó được giả định là không chắc chắn; và bởi vì sự không chắc chắn này phát sinh từ một sự đối lập kín đáo của những nguyên nhân nằm trong đối tượng ban đầu, nên nếu bất kỳ nguyên nhân nào trong số đó đã được bao hàm trong những phẩm tính đã biết của đối tượng ấy, thì chúng sẽ không còn bị che giấu nữa, và kết luận của chúng ta cũng sẽ không còn mang tính không chắc chắn.

 

T 1.3.12.22, SBN 139–40

Nhưng thứ hai, cũng rõ ràng không kém rằng trong loại suy luận này, nếu sự chuyển dịch từ quá khứ sang tương lai chỉ được đặt nền trên một kết luận của năng lực nhận thức, thì nó sẽ không bao giờ có thể tạo ra bất kỳ sự tin tưởng hay sự bảo đảm nào.

Khi chúng ta chuyển những thực nghiệm trái ngược sang tương lai, chúng ta chỉ có thể lập lại những thực nghiệm trái ngược ấy cùng với những tỷ lệ riêng của chúng; nhưng điều đó không thể tạo ra sự bảo đảm đối với bất kỳ biến cố đơn lẻ nào mà chúng ta đang suy luận về, trừ khi trí tưởng tượng hòa nhập tất cả những hình ảnh cùng hội tụ ấy, và rút ra từ chúng một ý niệm hay hình ảnh duy nhất, vốn có mức độ mạnh mẽ và sinh động tương ứng với số lượng những thực nghiệm mà từ đó nó được hình thành, cũng như với sự vượt trội của chúng so với những thực nghiệm đối nghịch.

Kinh nghiệm quá khứ của chúng ta không trình hiện một đối tượng xác định; và bởi vì sự tin tưởng của chúng ta, dù yếu đến đâu, vẫn luôn cố định vào một đối tượng xác định, nên rõ ràng rằng sự tin tưởng không phát sinh chỉ từ sự chuyển dịch từ quá khứ sang tương lai, mà còn từ một hoạt động nào đó của trí tưởng tượng kết hợp với sự chuyển dịch ấy.

Điều này có thể giúp chúng ta hình dung được cách thức mà năng lực này tham dự vào tất cả những suy luận của chúng ta.[24]

 

T 1.3.12.23, SBN 140–1

Tôi sẽ kết thúc đề tài này bằng hai suy tư có thể đáng được chúng ta chú ý.

Suy tư thứ nhất có thể được giải thích như sau. Khi não thức hình thành một suy luận về một vấn đề sự kiện chỉ mang tính xác suất, nó hướng nhìn trở lại kinh nghiệm quá khứ; và khi chuyển kinh nghiệm ấy sang tương lai, nó được trình hiện với rất nhiều cái nhìn đối lập về đối tượng của mình. Trong số đó, những cái nhìn cùng loại sẽ hợp nhất với nhau và nhập vào một hoạt động duy nhất của não thức, nhờ đó củng cố và làm cho nó trở nên sinh động hơn.

Nhưng giả sử rằng sự đa dạng của những cái nhìn hay những thoáng thấy về một đối tượng này không phát sinh từ kinh nghiệm, mà từ một hành vi tự nguyện của trí tưởng tượng, thì hiệu quả ấy sẽ không xảy ra, hoặc ít nhất sẽ không xảy ra với cùng mức độ.

Bởi mặc dù thói quen và sự giáo dục có thể tạo ra sự tin tưởng thông qua một sự lập lại không bắt nguồn từ kinh nghiệm, thì điều này vẫn đòi hỏi một khoảng thời gian dài, cùng với một sự lập lại rất thường xuyên và không có chủ ý.

Nói chung, chúng ta có thể khẳng định rằng một người nếu tự nguyện lập lại một ý niệm nào đó trong não thức của mình, dù ý niệm ấy được nâng đỡ bởi một kinh nghiệm quá khứ duy nhất, thì cũng sẽ không có khuynh hướng tin vào sự tồn tại của đối tượng tương ứng hơn là nếu người ấy chỉ hài lòng với một lần quan sát duy nhất.

Ngoài ảnh hưởng của chủ ý, mỗi hoạt động của não thức, vì tách biệt và độc lập, đều có một ảnh hưởng riêng biệt, và không hợp nhất lực của mình với những hoạt động khác. Vì không được liên kết bởi một đối tượng chung sản sinh ra chúng, những hoạt động ấy không có quan hệ với nhau; và do đó không tạo ra sự chuyển tiếp hay sự hợp nhất của những lực.

Hiện tượng này chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về sau.

 

T 1.3.12.24, SBN 141–2

Suy tư thứ hai của tôi dựa trên những xác suất lớn mà não thức có thể phán đoán, cũng như những khác biệt rất nhỏ mà nó có thể nhận ra giữa chúng.

Khi những cơ may hoặc những thực nghiệm ở một phía lên đến mười nghìn, còn ở phía kia là mười nghìn lẻ một, sự phán đoán dành sự ưu tiên cho phía sau do sự vượt trội về số lượng ấy; mặc dù rõ ràng rằng não thức không thể lần lượt đi qua từng cái nhìn riêng biệt, và phân biệt được tính sinh động vượt trội của hình ảnh phát sinh từ số lượng lớn hơn, khi sự khác biệt nhỏ bé đến như vậy.

Chúng ta có một trường hợp tương tự trong những tình cảm.

Rõ ràng, theo những nguyên lý đã nêu ở trên, rằng khi một đối tượng tạo ra trong chúng ta một đam mê nào đó, và đam mê này thay đổi theo sự khác biệt về lượng của đối tượng; thì đam mê ấy, nói đúng hơn, không phải là một cảm xúc đơn giản, mà là một cảm xúc hợp thành từ một số lượng lớn những đam mê yếu hơn, phát sinh từ việc hình dung từng phần riêng biệt của đối tượng.

Nếu không như vậy, thì không thể giải thích được tại sao đam mê lại tăng lên cùng với sự gia tăng của những phần cấu thành ấy.

Vì vậy, một người mong muốn một nghìn bảng thực ra có một nghìn hoặc nhiều hơn những mong muốn riêng biệt, những mong muốn này khi hợp nhất lại dường như chỉ tạo thành một đam mê duy nhất; mặc dù tính chất hợp thành của nó bộc lộ rõ ràng mỗi khi đối tượng thay đổi, qua sự ưu tiên mà người ấy dành cho số lượng lớn hơn, ngay cả khi sự vượt trội ấy chỉ hơn đúng một đơn vị.

Tuy nhiên, không có gì chắc chắn hơn rằng một khác biệt nhỏ bé như vậy sẽ không thể được nhận ra trong những đam mê, và cũng không thể khiến những đam mê ấy trở nên khác biệt với nhau.

Do đó, sự khác biệt trong hành vi của chúng ta khi ưu tiên số lượng lớn hơn không phụ thuộc vào những đam mê, mà phụ thuộc vào thói quen và những quy tắc tổng quát.

Chúng ta đã nhận thấy trong vô số trường hợp rằng việc gia tăng số lượng của một tổng thể sẽ làm gia tăng đam mê, khi những con số là xác định và sự khác biệt là rõ ràng.

Não thức có thể nhận ra từ cảm giác trực tiếp của nó rằng ba đồng guinea tạo ra một đam mê lớn hơn hai đồng; và do sự tương tự, nó chuyển nguyên tắc này sang những số lượng lớn hơn, rồi bằng một quy tắc tổng quát gán cho một nghìn guinea một đam mê mạnh hơn chín trăm chín mươi chín guinea.

Những quy tắc tổng quát này chúng ta sẽ giải thích ngay sau đây.

 

T 1.3.12.25, SBN 142

Nhưng ngoài hai loại xác suất này — một loại phát sinh từ kinh nghiệm không hoàn hảo, và một loại phát sinh từ những nguyên nhân đối lập — còn có một loại thứ ba phát sinh từ loại suy (Analogy), loại này khác với hai loại kia ở một số phương diện quan trọng.

Theo giả thuyết đã được giải thích ở trên, mọi loại suy luận từ nguyên nhân hoặc kết quả đều được đặt nền trên hai điều: thứ nhất, sự kết hợp thường xuyên của hai đối tượng trong toàn bộ kinh nghiệm quá khứ; và thứ hai, sự giống nhau của một đối tượng hiện tại với một trong những đối tượng ấy.

Tác động của hai điều này là: đối tượng hiện tại làm mạnh thêm và làm sinh động trí tưởng tượng; còn sự giống nhau, cùng với sự kết hợp thường xuyên, truyền sức mạnh và tính sinh động ấy sang ý niệm có liên hệ; và vì thế chúng ta nói rằng mình tin vào, hay đồng ý với, ý niệm ấy.

Nếu làm suy yếu một trong hai yếu tố — hoặc sự kết hợp, hoặc sự giống nhau — thì chúng ta cũng làm suy yếu nguyên lý chuyển tiếp, và do đó làm suy yếu sự tin tưởng phát sinh từ nó.

Tính sinh động của ấn tượng ban đầu không thể được truyền hoàn toàn sang ý niệm có liên hệ, hoặc khi sự kết hợp giữa những đối tượng ấy không mang tính thường xuyên, hoặc khi ấn tượng hiện tại không hoàn toàn giống với bất kỳ ấn tượng nào trong số những ấn tượng mà sự kết hợp của chúng ta đã quen quan sát.

Trong những xác suất về cơ may và nguyên nhân đã được giải thích ở trên, chính tính thường xuyên của sự kết hợp bị suy giảm; còn trong xác suất phát sinh từ loại suy, thì chỉ có sự giống nhau bị suy giảm.

Không có một mức độ giống nhau nào đó cũng như không có sự kết hợp nào đó thì không thể có bất kỳ suy luận nào; nhưng vì sự giống nhau có thể có nhiều mức độ khác nhau, nên suy luận cũng trở nên mạnh hay yếu tương ứng.

Một thực nghiệm mất đi sức mạnh của nó khi được chuyển sang những trường hợp không hoàn toàn giống nhau; tuy nhiên rõ ràng rằng nó vẫn có thể giữ lại đủ sức mạnh để làm nền tảng cho xác suất, miễn là vẫn còn tồn tại một mức độ giống nhau nào đó. [25]

_______________________________________________________

 

T 1.3.12.23n23, SBN 140

[23] Trang 9, 10. [T 0.10, SBN xviii–ix]

 

 

Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ hai

(Jun/2026)

(Còn tiếp...  )

 

http://chuyendaudau.blogspot.com/

http://chuyendaudau.wordpress.com

 



[1] belief

[2] custom and habit

[3] Đoạn này đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong lập luận của Hume: từ việc phân tích bản chất của sự tin tưởng (belief) sang việc giải thích động lực của hành động. Ông mở đầu bằng tiền đề rằng đau đớn và khoái cảm là nguồn động lực căn bản của mọi hành động con người, nhưng ngay sau đó phân biệt hai cách chúng có thể xuất hiện trong não thức: hoặc như ấn tượng đang được cảm nhận trực tiếp, hoặc chỉ như ý niệm được hình dung. Hai hình thức này không có cùng sức mạnh tâm lý. Ấn tượng luôn tác động mạnh mẽ đến ý chí, còn ý niệm thì không phải lúc nào cũng đủ sức thúc đẩy hành động.

Từ đó, Hume cho rằng tự nhiên đã tránh cả hai thái cực. Nếu chỉ những ấn tượng hiện tại mới có thể chi phối hành động, con người sẽ không thể chuẩn bị để tránh những đau khổ hay nguy hiểm mà mình thấy trước. Ngược lại, nếu mọi ý niệm đều có sức mạnh như nhau, thì vô số ý nghĩ và hình ảnh thoáng qua sẽ liên tục lôi kéo ý chí, khiến đời sống tinh thần không bao giờ đạt được sự ổn định và yên tĩnh.

Đây chính là tiền đề trực tiếp cho học thuyết về belief. Hume sắp lập luận rằng không phải mọi ý niệm đều có khả năng thúc đẩy hành động, mà chỉ những ý niệm được não thức nắm giữ với sức mạnh và tính sống động đặc biệt — tức những ý niệm cấu thành sự tin tưởng. Vì vậy, belief không phải là một loại ý niệm mới, mà là một phương thức tồn tại đặc biệt của ý niệm, nhờ đó nó đạt đến mức độ gần với một ấn tượng, đủ sức tác động đến ý chí, đam mê và hành động. Chính từ đây, Hume bắt đầu nối kết học thuyết nhận thức của mình với học thuyết về đam mê và ý chí trong những phần tiếp theo của Treatise.

[4] Đây là đoạn Hume phát biểu gần như đầy đủ định nghĩa nổi tiếng của mình về sự tin tưởng (belief): "Belief… is nothing but a more vivid and intense conception of any idea." (Tin tưởng không gì khác hơn là một sự hình dung sinh động và mãnh liệt hơn của một ý niệm.)

Lập luận của ông diễn ra theo một trình tự rất chặt chẽ. Trước hết, Hume cho rằng tự nhiên đã chọn một con đường trung dung giữa hai thái cực: nếu chỉ những ấn tượng đang hiện diện mới có thể thúc đẩy hành động, con người sẽ không thể chuẩn bị cho tương lai; ngược lại, nếu mọi ý niệm đều có sức mạnh như nhau, thì vô số ý nghĩ và hình ảnh thoáng qua sẽ liên tục chi phối ý chí. Vì vậy, chỉ một số ý niệm đặc biệt mới có khả năng tác động đến ý chí và những đam mê.

Điều khiến những ý niệm ấy khác với những ý niệm thông thường không phải là chúng chứa thêm một nội dung mới, mà là chúng được não thức nắm giữ với sức mạnh (force) và tính sống động (vivacity) lớn hơn, nhờ đó tiến gần đến một ấn tượng trong ảnh hưởng tâm lý của mình. Khi chúng ta tin rằng một sự vật đang hiện hữu hoặc sẽ hiện hữu, ý niệm về sự vật ấy không còn là một hình ảnh mờ nhạt của trí tưởng tượng, mà trở nên đủ mạnh để khơi dậy cảm xúc và thúc đẩy hành động, gần giống như một ấn tượng đang trực tiếp hiện diện.

Đây là một trong những luận điểm nền tảng của toàn bộ Treatise. Hume bác bỏ quan niệm cho rằng belief là một hành vi riêng biệt của lý trí. Theo ông, sự khác biệt giữa một ý niệm đơn thuần và một ý niệm được tin tưởng không nằm ở nội dung của chúng, mà ở cách não thức tri giác cùng một ý niệm. Chính sự thay đổi về mức độ lực và tính sống động ấy giải thích vì sao những suy luận từ quan hệ nhân quả, tuy không phải là những chứng minh logic, vẫn có thể tạo ra tin tưởng và chi phối hành động. Nhờ đó, Hume nối kết học thuyết nhận thức của mình với học thuyết về ý chí và đam mê: belief chính là chiếc cầu nối giữa ý niệm và hành động.

[5] Hai đoạn này đánh dấu một bước phát triển rất quan trọng trong tâm lý học của Hume. Nếu trước đó ông chủ yếu giải thích sự tin tưởng (belief) như kết quả của kinh nghiệm và thói quen, thì ở đây ông cho thấy quan hệ ấy không chỉ diễn ra theo một chiều. Sự tin tưởng làm cho những đam mê trở nên mạnh mẽ hơn; nhưng chính những đam mê cũng làm cho một ý niệm trở nên sống động hơn và vì thế dễ được tin tưởng hơn. Đồng thời, một ý niệm được tin tưởng cũng có sức hấp dẫn lớn hơn đối với trí tưởng tượng, khiến nó gây ấn tượng sâu sắc và đem lại nhiều thích thú hơn cả trong thơ ca, hùng biện hay nghệ thuật.

Qua đó, Hume dần quy nhiều hiện tượng tưởng như rất khác nhau — từ suy luận, tin tưởng, cảm xúc, ý chí cho đến kinh nghiệm thẩm mỹ — về cùng một nguyên lý tâm lý học: mức độ sức mạnh (force) và tính sống động (vivacity) mà một ý niệm đạt được trong não thức. Một ý niệm càng tiến gần đến một ấn tượng về sức mạnh và tính sống động, nó càng có khả năng được tin là thật, khơi dậy cảm xúc và chi phối hành động. Đây cũng là chiếc cầu nối giữa học thuyết nhận thức ở Quyển I với học thuyết về đam mê và thẩm mỹ mà Hume sẽ phát triển trong những phần tiếp theo của Luận thuyết.

[6] Hai đoạn này tiếp tục mở rộng học thuyết về belief sang lĩnh vực nghệ thuật và thẩm mỹ. Điểm tinh tế của Hume là ông không nói rằng nghệ thuật cần sự thật theo nghĩa tác phẩm phải mô tả đúng thực tại. Một bi kịch về thần thoại Hy Lạp, dù không ai tin Mars hay Jupiter thật sự tồn tại, vẫn có thể gây xúc động. Điều cần thiết không phải là tin tưởng vào toàn bộ câu chuyện, mà là một mức độ quen thuộc, liên hệ và sống động đủ để những ý niệm đi vào não thức một cách tự nhiên.

Vì vậy, trong nghệ thuật, những yếu tố có liên hệ với ký ức, lịch sử hoặc những ý niệm đã quen thuộc sẽ đóng vai trò giống như một “điểm tựa” cho trí tưởng tượng. Một yếu tố được tin tưởng hoặc quen thuộc có thể truyền lực và tính sống động sang những yếu tố hư cấu liên kết với nó.

Đây chính là sự nối tiếp trực tiếp với phân tích trước đó về belief: tin tưởng không chỉ ảnh hưởng đến hành động và đam mê; nó còn là nguồn sức mạnh khiến những ý niệm trở nên hấp dẫn đối với trí tưởng tượng.

[7] blood and spirits

[8] Trong hai đoạn này, Hume làm rõ quan hệ hai chiều giữa sự tin tưởng và trí tưởng tượng. Một mặt, sự tin tưởng làm cho những ý niệm trở nên mạnh mẽ và sống động hơn, nhờ đó chúng có khả năng tác động đến cảm xúc và hành động. Mặt khác, chính một trí tưởng tượng mạnh mẽ, khi trình bày những ý niệm với sức thuyết phục và sự sinh động cao, lại có thể tạo ra sự tin tưởng nơi người tiếp nhận.

Tuy nhiên, cơ chế này cũng cho thấy giới hạn của nó: tính sống động của một ý niệm không tự nó bảo đảm tính đúng đắn của ý niệm ấy. Khi sức sống động của ý niệm bắt nguồn từ kinh nghiệm, thói quen và những mối liên hệ ổn định giữa những sự kiện, nó tạo nên những tin tưởng hợp lý trong đời sống thường ngày. Nhưng khi nó chỉ xuất phát từ sự kích động quá mức của trí tưởng tượng mà không còn được kiểm soát bởi kinh nghiệm, nó có thể dẫn đến mê tín, ảo tưởng hoặc những phán đoán sai lầm.Vì vậy, điều quan trọng đối với Hume không phải chỉ là một ý niệm mạnh hay yếu, mà là nguồn gốc của sức mạnh ấy. Cùng một cơ chế tâm lý có thể làm nền tảng cho cả tri thức và sai lầm; sự khác biệt nằm ở chỗ tính sống động của ý niệm được hình thành từ một trật tự kinh nghiệm ổn định hay chỉ từ sự vận động tự do của trí tưởng tượng.

[9] Đoạn này là một bước rất tinh tế trong phân tích của Hume về sự khác biệt giữa tưởng tượng nghệ thuật và sự tin tưởng. Ông thừa nhận rằng thi ca có thể tạo ra những ý niệm vô cùng sống động và khơi dậy mọi loại đam mê: sợ hãi, thương cảm, kinh ngạc, đau buồn hay hân hoan. Tuy nhiên, sự sống động ấy vẫn khác căn bản với sự sống động của những ý niệm được hình thành từ ký ức, kinh nghiệm và suy luận nhân quả.

Đối với Hume, vấn đề không nằm ở mức độ kích thích bề ngoài của cảm xúc. Một cảnh trong bi kịch có thể khiến ta xúc động mạnh hơn một sự kiện lịch sử được thuật lại khô khan; nhưng cảm xúc ấy vẫn thiếu “sức nặng của thực tại”, bởi nó không đi kèm với sự tin tưởng rằng đối tượng thực sự đang hiện hữu hoặc đã xảy ra.

Vì vậy, thi ca cho thấy một điểm quan trọng trong học thuyết của Hume: tính sống động của ý niệm có thể được tạo ra bằng nhiều con đường khác nhau, nhưng chỉ tính sống động bắt nguồn từ kinh nghiệm và thói quen mới tạo nên belief theo nghĩa đầy đủ. Nghệ thuật có thể mô phỏng sức mạnh của tin tưởng đối với trí tưởng tượng và cảm xúc, nhưng không thể hoàn toàn thay thế cảm giác về thực tại mà tin tưởng đem lại.

[10] Ảnh hưởng của sự tin tưởng: từ nhận thức đến cảm xúc và trí tưởng tượng: Trong phần này, Hume không chỉ giải thích tin tưởng (belief) là gì, mà còn khảo sát cách thức nó vận hành trong toàn bộ đời sống tinh thần của con người. Sau khi chứng minh rằng tin tưởng không phải là một ý niệm mới được thêm vào não thức, mà chỉ là một ý niệm được hình dung với sức mạnh (force) và tính sống động (vivacity) lớn hơn, Hume đặt ra câu hỏi quan trọng hơn: vì sao một ý niệm có được sức mạnh ấy lại có khả năng chi phối cảm xúc, ý chí và hành động?

Điểm xuất phát của ông là nhận xét rằng đau đớn và khoái cảm là những động lực căn bản của hành động con người. Tuy nhiên, chúng có thể xuất hiện trong não thức theo hai cách khác nhau: hoặc như những ấn tượng đang được cảm nhận trực tiếp, hoặc như những ý niệm về những điều không hiện diện. Hai hình thức này không có cùng sức mạnh. Một ấn tượng hiện tại luôn tác động mạnh mẽ đến não thức; trong khi một ý niệm đơn thuần thường chỉ là một hình ảnh yếu hơn, không đủ sức thúc đẩy hành động.

Theo Hume, tự nhiên đã lựa chọn một vị trí trung gian giữa hai thái cực. Nếu chỉ những ấn tượng trực tiếp mới có khả năng tác động đến ý chí, con người sẽ không thể hành động dựa trên những điều chưa xảy ra: chúng ta có thể nhận thấy một nguy hiểm đang đến nhưng không có động lực để chuẩn bị hay tránh né nó. Nhưng nếu mọi ý niệm trong não thức đều có sức mạnh ngang nhau, đời sống tinh thần sẽ trở nên hỗn loạn, bởi vô số hình ảnh, khả năng và tưởng tượng thoáng qua sẽ liên tục lôi kéo chúng ta theo những hướng khác nhau.

Vì vậy, không phải mọi ý niệm đều có khả năng chi phối hành động. Chỉ những ý niệm đạt được một mức độ đặc biệt về sức mạnh và tính sống động mới có thể tác động lên ý chí gần giống như những ấn tượng trực tiếp. Trạng thái ấy chính là tin tưởng.

Đây là điểm cốt lõi trong định nghĩa nổi tiếng của Hume:

Belief is nothing but a more vivid and intense conception of any idea. / Tin tưởng không gì khác hơn là một sự hình dung sinh động và mãnh liệt hơn của một ý niệm.

Theo đó, sự khác biệt giữa một ý niệm thông thường và một tin tưởng không phải là sự khác biệt về bản chất, mà chỉ là sự khác biệt về mức độ. Tin tưởng không bổ sung một nội dung mới vào ý niệm; nó chỉ thay đổi cách não thức nắm giữ ý niệm ấy, khiến nó trở nên gần với một ấn tượng hơn và do đó có sức tác động mạnh hơn.

Từ nguyên lý này, Hume tiếp tục phân tích quan hệ qua lại giữa tin tưởng, đam mê và trí tưởng tượng. Một mặt, tin tưởng làm cho những ý niệm có khả năng khơi dậy cảm xúc mạnh mẽ hơn; mặt khác, chính những đam mê mạnh mẽ cũng có thể làm tăng sức sống của những ý niệm và khiến chúng dễ được tiếp nhận như những điều đáng tin hơn. Một người vốn sợ hãi sẽ dễ tin vào những câu chuyện về nguy hiểm; một người có tâm trạng u buồn sẽ dễ tiếp nhận những điều củng cố nỗi buồn của mình. Ở đây, Hume cho thấy sự tin tưởng không hoạt động như một phán đoán thuần lý tách biệt khỏi đời sống cảm xúc, mà luôn nằm trong sự vận động qua lại giữa nhận thức và tình cảm.

Cơ chế ấy cũng giải thích vì sao thi ca, hùng biện và nghệ thuật có thể tác động mạnh đến con người. Một câu chuyện hư cấu không thể hấp dẫn nếu nó hoàn toàn xa lạ với mọi kinh nghiệm và không tạo ra bất kỳ cảm giác chân thực nào. Vì vậy, những nhà thơ và tác giả bi kịch thường mượn những nhân vật, địa danh hoặc sự kiện quen thuộc từ lịch sử hay truyền thống, không phải để đánh lừa người đọc, mà để làm cho trí tưởng tượng dễ dàng tiếp nhận câu chuyện hơn. Những yếu tố đã quen thuộc mang theo một phần sức mạnh của những ý niệm vốn đã được thiết lập trong ký ức và kinh nghiệm, rồi truyền sức sống ấy sang những phần còn lại của tác phẩm.

Tuy nhiên, Hume nhấn mạnh rằng sự sinh động do thi ca hay tài hùng biện tạo ra không bao giờ hoàn toàn giống với sự sinh động của một tin tưởng thực sự. Một bài thơ có thể khiến chúng ta kinh sợ, thương cảm hoặc xúc động sâu sắc; nhưng những cảm xúc ấy khác với những cảm xúc phát sinh khi chúng ta tin rằng một sự việc thực sự đang xảy ra. Nỗi đau trong một bi kịch có thể đem lại khoái cảm thẩm mỹ, bởi nó không đè nặng lên chúng ta với toàn bộ sức nặng của thực tại. Nó kích thích tinh thần và trí tưởng tượng, nhưng không có cùng mức độ vững chắc và sức ép như một kinh nghiệm được tin là có thật.

Điểm phân biệt quan trọng ở đây là: tính sinh động của ý niệm tự nó chưa đủ để tạo thành tri thức hay sự thật. Một ý niệm có thể trở nên mạnh mẽ nhờ nghệ thuật, cảm xúc hoặc sự kích động của trí tưởng tượng; nhưng chỉ những ý niệm được củng cố bởi trí nhớ, kinh nghiệm và những mối liên hệ ổn định của thói quen mới tạo thành những tin tưởng có nền tảng trong đời sống thực tiễn.

Chính vì vậy, Hume cho rằng con người không bị chi phối bởi mọi sự gia tăng của sức mạnh và tính sinh động trong ý niệm. Sự tự suy ngẫm và những quy tắc tổng quát hình thành từ kinh nghiệm giúp chúng ta điều chỉnh những ấn tượng ban đầu, phân biệt giữa sự hứng khởi của thi ca và sự tin tưởng dựa trên thực tại. Nhờ cơ chế điều chỉnh ấy, chúng ta có thể hoàn toàn bị cuốn hút bởi một câu chuyện hư cấu mà vẫn biết rằng nó không phải là hiện thực.

Toàn bộ phân tích này cho thấy một nguyên lý nền tảng trong triết học Hume: sự tin tưởng không phải là kết quả của một năng lực lý trí đặc biệt đứng ngoài kinh nghiệm, mà là một trạng thái đặc biệt của não thức, trong đó một ý niệm đạt đến mức độ sức mạnh và tính sống động đủ để tác động lên cảm xúc, ý chí và hành động. Chính từ cơ chế tâm lý ấy, Hume giải thích vì sao những suy luận về quan hệ nhân quả — dù không mang tính tất yếu logic — vẫn có khả năng điều hướng phần lớn đời sống thực tiễn của con người.

[11] Hume về sự khác biệt giữa “xác suất” theo nghĩa kỹ thuật và sự chắc chắn trong đời sống thường ngày

Trong đoạn này, Hume đang giải quyết một vấn đề về thuật ngữ và sự phân loại những hình thức suy luận của lý trí con người. Một số nhà triết học trước ông chia toàn bộ nhận thức thành hai loại: tri thức (knowledge) và xác suất (probability). Theo cách phân chia này, chỉ những gì nảy sinh từ sự so sánh giữa những ý niệm — chẳng hạn những mệnh đề toán học hay những quan hệ logic tất yếu — mới đạt đến mức độ tri thức; còn mọi suy luận dựa trên kinh nghiệm về nguyên nhân và kết quả đều phải được xếp vào phạm vi xác suất, bởi chúng không mang tính tất yếu logic.

Hume thừa nhận rằng nếu dùng thuật ngữ theo nghĩa chặt chẽ ấy, mọi suy luận nhân quả quả thực đều thuộc về xác suất, bởi kinh nghiệm không bao giờ đem lại một sự chắc chắn tuyệt đối giống như sự chứng minh trong toán học. Tuy nhiên, ông cho rằng cách phân loại này không phản ánh đầy đủ cách con người thực sự dùng khái niệm “xác suất” trong đời sống. Trong ngôn ngữ thông thường, chúng ta không xem những tin tưởng được củng cố mạnh mẽ bởi kinh nghiệm lâu dài — chẳng hạn tin tưởng rằng mặt trời sẽ mọc vào ngày mai hay rằng con người đều phải chết — chỉ là những phỏng đoán có mức độ khả năng ngang với những trường hợp chưa rõ ràng.

Điểm tế nhị trong lập luận của Hume nằm ở chỗ ông không phủ nhận rằng những tin tưởng nhân quả thiếu sự tất yếu lý tính. Ông chỉ cho rằng cần phân biệt giữa sự thiếu chắc chắn tuyệt đối và mức độ hiển nhiên đủ mạnh để hướng dẫn đời sống thực tiễn. Một suy luận có thể không đạt đến tính tất yếu của tri thức toán học, nhưng vẫn có một mức độ vững chắc vượt xa những xác suất thông thường.

Vì vậy, Hume đề nghị một sự phân chia tế nhị hơn thành ba mức độ:

  1. Tri thức (knowledge): sự chắc chắn phát sinh từ quan hệ giữa những ý niệm, không phụ thuộc vào kinh nghiệm.
  2. Minh chứng (proofs): những suy luận dựa trên quan hệ nhân quả đã được kinh nghiệm củng cố đến mức không còn chỗ cho hoài nghi trong thực hành.
  3. Xác suất (probabilities): những suy luận vẫn còn chứa yếu tố bất định, trong đó mức độ tin tưởng phụ thuộc vào bằng chứng, kinh nghiệm và sự cân nhắc những khả năng đối nghịch.

Qua sự phân biệt này, Hume chuẩn bị nền tảng cho phân tích nổi tiếng của ông về tin tưởng (belief): con người không hành động chỉ dựa trên những gì được chứng minh một cách tuyệt đối, mà chủ yếu dựa trên những phán đoán có mức độ tin tưởng khác nhau được hình thành từ kinh nghiệm.

[12] Hume về ba mức độ của bằng chứng:Trong đoạn này, Hume bàn về cách mà nhiều triết gia trước ông phân chia lý trí con người thành hai loại suy luận: tri thức (knowledge) và xác suất (probability). Theo cách phân chia này, chỉ những kết luận phát sinh từ sự so sánh giữa những ý niệm mới đạt đến tính chắc chắn tuyệt đối; còn mọi suy luận về những sự kiện thực tế dựa trên quan hệ nhân quả đều được xếp vào phạm vi xác suất, vì chúng chỉ dựa trên kinh nghiệm chứ không có tính tất yếu logic.

Hume thừa nhận rằng, xét theo nghĩa chặt chẽ của thuật ngữ, cách phân loại này là hợp lý. Bởi lẽ, ngay cả những kết luận mà chúng ta tin chắc nhất về thế giới bên ngoài cũng không có nền tảng nào khác ngoài kinh nghiệm. Tuy nhiên, ông cho rằng cách dùng ấy không phù hợp với ngôn ngữ thông thường. Trong đời sống hằng ngày, chúng ta không nói rằng việc mặt trời sẽ mọc vào ngày mai hay mọi người đều phải chết chỉ là những điều "có xác suất", mặc dù chúng cũng chỉ được biết đến nhờ kinh nghiệm. Điều này cho thấy cần phải phân biệt giữa sự thiếu chắc chắn tuyệt đối về mặt logic và mức độ xác tín rất cao mà kinh nghiệm có thể tạo ra.

Vì vậy, Hume đề nghị phân chia những hình thức bằng chứng thành ba mức độ. Thứ nhất là tri thức (knowledge), tức sự chắc chắn phát sinh từ sự so sánh giữa những ý niệm và không phụ thuộc vào kinh nghiệm. Thứ hai là chứng minh (proofs), tức những suy luận từ quan hệ nhân quả đã được kinh nghiệm xác nhận một cách đồng nhất và liên tục đến mức không còn chỗ cho sự nghi ngờ trong thực hành, mặc dù vẫn không đạt đến tính tất yếu của tri thức. Thứ ba là xác suất (probability), tức những suy luận mà bằng chứng còn chưa đầy đủ hoặc còn xung đột, nên mức độ tin tưởng vẫn đi kèm với sự bất định.

Điều đáng chú ý là Hume không phủ nhận rằng mọi suy luận nhân quả đều dựa trên kinh nghiệm. Điều ông muốn nhấn mạnh chỉ là không phải mọi suy luận dựa trên kinh nghiệm đều có cùng một mức độ xác tín. Có những trường hợp kinh nghiệm nhất quán đến mức tạo ra một sự tin tưởng gần như không thể lay chuyển trong thực hành; cũng có những trường hợp bằng chứng còn phân tán hoặc đối nghịch, nên chỉ tạo ra một mức độ tin tưởng yếu hơn. Việc tách proofs khỏi probabilities vì thế chủ yếu nhằm giữ đúng cách dùng thông thường của từ ngữ đồng thời phân biệt rõ những mức độ khác nhau của bằng chứng.

Sự phân loại này cũng mở đường cho lập luận của Hume trong những mục tiếp theo. Sau khi phân biệt những mức độ của bằng chứng, ông chuyển sang giải thích bằng cơ chế nào mà não thức hình thành những mức độ sự tin tưởng (belief) khác nhau từ kinh nghiệm. Theo Hume, điều thay đổi không phải là bản chất của sự tin tưởng, mà là mức độ sinh động của ý niệm do kinh nghiệm và tập quán tạo ra. Đây là nền tảng cho phân tích tiếp theo của ông về xác suất của những trường hợp ngẫu nhiên và xác suất phát sinh từ những nguyên nhân.

[13] Hume về “trường hợp ngẫu nhiên” (chance): Trong đoạn này, Hume muốn làm rõ một điểm quan trọng: trường hợp ngẫu nhiên không phải là một sức mạnh hay nguyên lý riêng biệt tồn tại bên cạnh nguyên nhân. Ngẫu nhiên chỉ xuất hiện khi chúng ta không tìm thấy, hoặc không nhận biết được, một nguyên nhân nào đủ để xác định kết quả.

Lập luận của Hume có thể tóm tắt như sau:Thứ nhất, nguyên nhân tạo ra sự định hướng cho tư tưởng.

Khi kinh nghiệm cho chúng ta thấy hai sự kiện thường xuyên đi cùng nhau — chẳng hạn một hiện tượng luôn xuất hiện sau một hiện tượng khác — não thức hình thành một thói quen liên kết chúng lại. Từ đó, khi gặp sự kiện thứ nhất, chúng ta tự nhiên chờ đợi sự kiện thứ hai xảy ra. Nguyên nhân vì vậy không chỉ là một quan hệ giữa những sự vật, mà còn là điều định hướng cách não thức chúng ta suy nghĩ về chúng.

Thứ hai, trường hợp ngẫu nhiên là sự thiếu vắng một sự xác định như vậy.Khi không có nguyên nhân nào cho phép chúng ta ưu tiên một khả năng hơn những khả năng khác, não thức không có cơ sở để lựa chọn. Nó rơi vào trạng thái “thờ ơ” (indifference): mọi khả năng đều có vị trí ngang nhau trong trí tưởng tượng.Ví dụ, nếu không biết gì về một con xúc xắc, ta không có lý do nào để nghĩ rằng một mặt sẽ xuất hiện nhiều hơn một mặt khác. Mỗi kết quả đều có vẻ có khả năng ngang nhau.

Thứ ba, nhưng xác suất không bao giờ xuất phát từ một sự ngẫu nhiên hoàn toàn. Hume chỉ ra rằng trong thực tế, khi tính toán xác suất, chúng ta luôn dựa trên một số điều kiện đã được xác định trước. Trường hợp con xúc xắc cho thấy điều này rõ ràng: ta chỉ có thể nói một mặt có khả năng xuất hiện nhiều hơn mặt khác vì con xúc xắc có hình dạng nhất định, có số lượng mặt nhất định, và những mặt được phân bố theo một cách nhất định.

Những yếu tố này thuộc về nguyên nhân: chúng tạo ra khuôn khổ và giới hạn cho những khả năng. Còn trường hợp ngẫu nhiên chỉ quyết định kết quả cụ thể xảy ra bên trong khuôn khổ đó.

Vì vậy, đối với Hume, xác suất không phải là sự đối lập đơn giản giữa nhân quả và ngẫu nhiên. Xác suất hình thành từ sự kết hợp của hai yếu tố: (a) một cấu trúc được xác định bởi những điều kiện và nguyên nhân; (b) một kết quả cụ thể vẫn chưa được xác định trước trong từng trường hợp riêng lẻ.

Nói cách khác, Hume cho thấy rằng ngẫu nhiên không có nghĩa là hoàn toàn không có trật tự. Một sự kiện riêng lẻ có thể không thể dự đoán chắc chắn, nhưng toàn bộ hệ thống mà trong đó sự kiện ấy xảy ra vẫn có thể chịu sự chi phối của những điều kiện xác định.

Đây chính là điểm nền tảng trong cách hiểu hiện đại về xác suất: chúng ta không nhất thiết biết trước kết quả của từng lần xảy ra, nhưng chúng ta có thể biết được sự phân bố khả năng của những kết quả dựa trên những điều kiện nền tảng.

[14] Hume giải thích vì sao xác suất tạo ra sự tin tưởng trong não thức:Trong những đoạn này, Hume chuyển từ câu hỏi xác suất là gì sang một vấn đề sâu hơn: bằng cách nào xác suất tạo ra sự tin tưởng (belief) trong não thức. Nếu một con xúc xắc có bốn mặt mang cùng một dấu hiệu và hai mặt mang một dấu hiệu khác, tại sao chúng ta lại tin rằng dấu hiệu xuất hiện trên bốn mặt có khả năng xảy ra cao hơn? Điều gì khiến não thức nghiêng về một khả năng thay vì giữ nguyên trạng thái thờ ơ giữa tất cả những khả năng?

Hume trước hết loại bỏ những cách giải thích không thể trả lời câu hỏi này.

Sự ưu tiên của chúng ta đối với khả năng có số lượng trường hợp ngẫu nhiên lớn hơn không thể xuất phát từ chứng minh (demonstration). Không có mâu thuẫn logic nào nếu con xúc xắc rơi vào mặt ít khả năng hơn; kết quả ấy có thể gây bất ngờ, nhưng không phải là điều bất khả. Vì vậy, lý trí không thể chứng minh rằng một kết quả nhất định tất yếu phải xảy ra.

Nó cũng không thể được giải thích bằng cách đơn giản nói rằng "khả năng lớn hơn thì có xác suất lớn hơn", bởi đó chỉ là lập lại kết luận mà chưa giải thích nguyên nhân. Câu hỏi thực sự của Hume là: bằng cách nào một số lượng lớn hơn của những trường hợp ngẫu nhiên ngang nhau lại tác động lên não thức và tạo ra một mức độ tin tưởng mạnh hơn?

Mặt khác, sự ưu tiên ấy cũng không thể xuất phát từ một nguyên nhân quyết định hoàn toàn kết quả. Nếu có một nguyên nhân khiến con xúc xắc nhất định phải rơi vào một mặt nào đó, thì kết quả ấy không còn thuộc về phạm vi ngẫu nhiên nữa. Khi đó, chúng ta không còn bàn về xác suất, mà về một quan hệ nhân quả xác định.

Vì vậy, Hume cho rằng lời giải thích phải được tìm thấy trong chính hoạt động của não thức. Khi những nguyên nhân khiến chúng ta dự đoán rằng con xúc xắc sẽ rơi xuống và xuất hiện một trong những mặt, trí tưởng tượng tiếp nhận tất cả những mặt ấy như những khả năng ngang nhau. Mỗi mặt nhận được một phần của xung lực ban đầu do nguyên nhân tạo ra. Nhưng khi nhiều mặt cùng mang một dấu hiệu, những xung lực vốn phân tán trên từng mặt sẽ hợp nhất vào cùng một ý niệm về dấu hiệu đó. Vì thế, dấu hiệu xuất hiện trên nhiều mặt hơn sẽ có một ý niệm sinh động hơn, và mức độ sinh động ấy chính là mức độ của sự tin tưởng.

Ví dụ về con xúc xắc cho thấy sự kết hợp giữa hai yếu tố. Một mặt, có những nguyên nhân như trọng lực, tính rắn chắc và hình dạng của con xúc xắc, vốn quyết định rằng nó sẽ rơi xuống và nằm trên một trong những mặt. Mặt khác, giữa những mặt vẫn tồn tại sự không xác định, vì không có nguyên nhân nào quyết định trước mặt cụ thể sẽ xuất hiện. Chính trong khoảng không gian giữa cái đã được xác định và cái chưa được xác định ấy mà xác suất hình thành.

Do đó, điều Hume muốn giải thích không phải là tại sao một sự kiện chắc chắn xảy ra, mà là tại sao não thức lại dành cho những khả năng khác nhau những mức độ tin tưởng khác nhau. Xác suất không tạo ra một loại tri thức mới; nó là cách mà não thức phân phối mức độ sinh động của những ý niệm dựa trên cấu trúc của những trường hợp ngẫu nhiên. Một khả năng có nhiều cơ sở hơn sẽ tạo ra một khuynh hướng mạnh hơn trong tư tưởng, và từ đó tạo ra một mức độ tin tưởng cao hơn.

Qua phân tích này, Hume củng cố luận điểm trung tâm của mình: phần lớn những phán đoán của con người trong đời sống không dựa trên sự chứng minh tuyệt đối, mà dựa trên những mức độ tin tưởng khác nhau được hình thành từ kinh nghiệm, tập quán và cách não thức vận hành khi đối diện với những khả năng chưa được xác định.

[15] Ý nghĩa của indifference trong phân tích xác suất của Hume: Trong phân tích về xác suất của những trường hợp ngẫu nhiên (probability of chances), khái niệm sự thờ ơ (indifference) giữ một vai trò trung tâm trong cách Hume giải thích bản chất của ngẫu nhiên và sự hình thành của sự tin tưởng. Tuy nhiên, thuật ngữ này cần được hiểu chính xác, bởi nếu dịch đơn giản là "sự thờ ơ", người đọc dễ liên tưởng đến một thái độ tâm lý như lãnh đạm hay thiếu quan tâm, trong khi Hume muốn nói đến một trạng thái hoàn toàn khác.

Ở đây, indifference không chỉ một cảm xúc hay thái độ, mà chỉ tình trạng trong đó không có nguyên nhân nào tạo ra sự ưu tiên giữa những khả năng. Khi không có một nguyên nhân quyết định hoặc định hướng kết quả về phía nào, não thức không có cơ sở để nghiêng về một khả năng cụ thể hơn những khả năng khác. Vì vậy, sự "thờ ơ" ở đây trước hết có nghĩa là sự không thiên lệch của tư tưởng trước những khả năng ngang nhau.

Trong ví dụ về con xúc xắc, sáu mặt ban đầu đều có vị trí ngang nhau. Không có mặt nào tự thân có một ưu thế hơn những mặt khác, bởi không có nguyên nhân nào quyết định trước rằng một mặt cụ thể phải xuất hiện. Nếu chỉ xét từng mặt riêng lẻ, mỗi mặt đều nhận được một phần bằng nhau của sự chú ý và xung lực mà não thức dành cho những khả năng.

Tuy nhiên, Hume chỉ ra rằng chính từ sự ngang bằng này mà xác suất trở nên có thể hiểu được. những khả năng riêng lẻ vẫn ngang nhau, nhưng chúng có thể được xem xét theo kết quả chung mà chúng cùng hướng đến. Trong trường hợp một con xúc xắc có bốn mặt mang ký hiệu A và hai mặt mang ký hiệu B, mỗi mặt vẫn có khả năng ngang nhau; nhưng bốn khả năng riêng biệt cùng hướng đến A sẽ hợp nhất những xung lực của chúng vào cùng một ý niệm, trong khi chỉ có hai khả năng hướng đến B. Vì vậy, ý niệm về A nhận được một mức độ sinh động lớn hơn ý niệm về B.

Điểm quan trọng ở đây là sự khác biệt không nằm trong bản thân từng mặt xúc xắc. Mỗi mặt vẫn hoàn toàn ngang nhau. Sự khác biệt chỉ xuất hiện khi não thức xem xét những mặt ấy dưới phương diện kết quả mà chúng tạo thành. Những xung lực ban đầu vốn được phân chia đều giữa những khả năng nay được hợp nhất theo những ý niệm chung mà chúng cùng góp phần tạo ra. Chính sự hợp nhất này làm tăng mức độ sinh động của một ý niệm, và theo học thuyết của Hume, mức độ sinh động ấy chính là mức độ của sự tin tưởng (belief).

Vì vậy, trong phân tích của Hume có thể phân biệt ba bước liên tiếp:

Thứ nhất, những nguyên nhân tạo ra khuôn khổ chung của sự kiện: con xúc xắc phải rơi xuống, giữ nguyên hình dạng và xuất hiện một trong sáu mặt.

Thứ hai, ngẫu nhiên xuất hiện ở điểm mà không có nguyên nhân nào quyết định mặt cụ thể sẽ xuất hiện. Chính sự thiếu vắng nguyên nhân này tạo ra trạng thái indifference: những khả năng riêng lẻ được não thức xem như ngang nhau.

Thứ ba, xác suất xuất hiện khi những khả năng ngang nhau ấy được quy về những kết quả chung khác nhau. Một kết quả được nhiều khả năng riêng lẻ cùng ủng hộ sẽ tập hợp được nhiều xung lực hơn, làm cho ý niệm tương ứng trở nên sinh động hơn và tạo ra một mức độ tin tưởng cao hơn.

Do đó, indifference không phải là đối lập với xác suất, mà chính là điểm xuất phát của xác suất. Xác suất không phá bỏ sự ngang bằng ban đầu của những khả năng; nó phát sinh từ việc những khả năng ngang bằng ấy được kết hợp lại theo những kết quả khác nhau và tác động lên hoạt động của não thức.

[16] Cấu trúc lập luận của Hume về xác suất của những trường hợp ngẫu nhiên (probability of chances): Sau khi đã giải thích bản chất của sự tin tưởng (belief) như là một ý niệm được hình dung với mức độ sinh động lớn hơn nhờ sự chuyển dịch của não thức từ nguyên nhân sang kết quả, Hume mở rộng học thuyết ấy sang một trường hợp tưởng như hoàn toàn khác: xác suất của những trường hợp ngẫu nhiên. Mục tiêu của ông là chứng minh rằng ngay cả khi chúng ta phán đoán trong những tình huống không thể biết chắc kết quả sẽ xảy ra thế nào, sự tin tưởng vẫn không phát sinh từ bất kỳ suy luận logic hay toán học nào, mà từ chính những nguyên lý tâm lý đã được trình bày trước đó.

Hume trước hết phân biệt ba mức độ của bằng chứng. Khác với nhiều triết gia chỉ chia lý trí thành hai loại là tri thức (knowledge) và xác suất (probability), ông cho rằng cách nói thông thường đòi hỏi phải thêm một mức độ trung gian là chứng minh (proofs). Tri thức là sự chắc chắn phát sinh từ việc so sánh những ý niệm; chứng minh là sự chắc chắn của những suy luận từ nhân quả khi kinh nghiệm hoàn toàn đồng nhất và không để lại nghi ngờ; còn xác suất là mọi trường hợp mà bằng chứng vẫn còn kèm theo một mức độ bất định. Chính loại suy luận cuối cùng này là đối tượng của toàn bộ mục XI.

Từ đó, Hume chia xác suất thành hai nguồn gốc khác nhau. Một loại phát sinh từ những trường hợp ngẫu nhiên (chance); loại còn lại phát sinh từ những nguyên nhân (causes). Trong mục này ông chỉ khảo sát loại thứ nhất.

Điểm xuất phát của lập luận là định nghĩa của chính khái niệm "ngẫu nhiên". Theo Hume, ngẫu nhiên không phải là một sức mạnh hay một nguyên lý tồn tại trong tự nhiên. Nói một cách chính xác, nó chỉ là sự phủ định của nguyên nhân. Khi nguyên nhân khiến não thức chuyển dịch theo một hướng xác định, thì ngẫu nhiên chỉ đơn giản là sự thiếu vắng mọi nguyên nhân có khả năng ưu tiên một kết quả hơn kết quả khác. Vì vậy, bản chất của ngẫu nhiên là để trí tưởng tượng ở trong trạng thái hoàn toàn thờ ơ giữa tất cả những khả năng.

Từ định nghĩa ấy, Hume rút ra hệ quả quan trọng đầu tiên: nếu hoàn toàn không có nguyên nhân nào làm cho một kết quả được ưu tiên hơn kết quả khác, thì mọi khả năng đều hoàn toàn ngang nhau. Không có một "trường hợp ngẫu nhiên" nào tự nó mạnh hơn hay yếu hơn một trường hợp khác. Nếu giả định một khả năng vốn đã có ưu thế tự thân, thì chính điều đó đã ngầm thừa nhận sự tồn tại của một nguyên nhân; khi ấy khái niệm ngẫu nhiên sẽ tự mâu thuẫn và không còn ý nghĩa nữa.

Tuy nhiên, Hume lập tức lưu ý rằng mọi phép tính xác suất trong thực tế đều không dựa trên ngẫu nhiên thuần túy. Muốn có xác suất, luôn phải tồn tại một sự kết hợp giữa tất yếu và ngẫu nhiên. những nguyên nhân vật lý quyết định rằng con xúc xắc sẽ rơi xuống, giữ nguyên hình dạng của nó và cuối cùng sẽ nằm trên một trong sáu mặt. Nhưng không có nguyên nhân nào được biết để quyết định chính xác mặt nào sẽ ngửa lên. Chính sự pha trộn giữa những yếu tố tất yếu và những yếu tố chưa được quyết định ấy mới tạo thành nền tảng của mọi suy luận về xác suất.

Sau khi xác lập điều đó, Hume đặt ra câu hỏi trung tâm: nếu số lượng những khả năng thuận lợi nhiều hơn, thì vì sao não thức lại tin rằng kết quả ấy có nhiều khả năng xảy ra hơn? Ông bác bỏ hai cách giải thích quen thuộc. Trước hết, điều này không thể được chứng minh bằng tri thức, vì chỉ từ việc so sánh những ý niệm chúng ta không thể suy ra bất kỳ sự kiện thực nghiệm nào. Đồng thời, nó cũng không thể được giải thích bằng chính khái niệm xác suất, bởi nói rằng "kết quả có xác suất cao hơn vì có nhiều khả năng hơn" chỉ là một mệnh đề lập lại chính điều cần giải thích. Vấn đề thực sự là phải giải thích bằng cơ chế nào mà số lượng lớn hơn những khả năng ngang nhau lại tạo ra sự tin tưởng trong não thức.

Để trả lời câu hỏi ấy, Hume dùng ví dụ về con xúc xắc có bốn mặt mang cùng một ký hiệu và hai mặt mang ký hiệu khác. Trước hết, do tập quán hình thành từ kinh nghiệm, khi nhìn thấy hành động gieo xúc xắc, não thức tất yếu chuyển sang ý niệm về việc một trong những mặt sẽ ngửa lên. Đây là ảnh hưởng của quan hệ nhân quả đã được xác lập từ trước.

Tiếp đó, vì sáu mặt đều được giả định là ngang nhau, nên xung lực ban đầu của tư tưởng không tập trung vào bất kỳ mặt riêng lẻ nào mà được phân chia đồng đều giữa tất cả những khả năng. Mỗi mặt nhận được một phần bằng nhau của khuynh hướng chuyển dịch do nguyên nhân khởi đầu.

Sau cùng, khi nhiều mặt cùng mang một ký hiệu, những xung lực vốn phân tán trên từng mặt lại hợp nhất vào cùng một ý niệm. Vì bốn mặt cùng hướng đến một ký hiệu, còn chỉ hai mặt hướng đến ký hiệu kia, nên ý niệm thứ nhất nhận được tổng lượng xung lực lớn hơn. Hai nhóm xung lực đối lập nhau một phần triệt tiêu lẫn nhau, nhưng nhóm lớn hơn vẫn giữ lại một phần sức mạnh còn dư. Chính phần sức mạnh còn dư ấy làm cho ý niệm tương ứng trở nên sinh động hơn. Theo học thuyết đã trình bày trong những mục trước, sự tin tưởng không phải là gì khác ngoài mức độ sinh động đặc biệt của một ý niệm; vì thế, ký hiệu xuất hiện trên nhiều mặt hơn cũng là ký hiệu được tin tưởng nhiều hơn.

Qua toàn bộ mục này, Hume muốn chứng minh rằng xác suất của những trường hợp ngẫu nhiên không hề tạo ra một loại suy luận mới. Nó vẫn tuân theo đúng cơ chế chung của não thức: nguyên nhân khởi phát sự chuyển dịch của tư tưởng; ngẫu nhiên phân chia xung lực ấy giữa những khả năng; số lượng những khả năng giống nhau lại hợp nhất những xung lực phân tán; và chính tổng cường độ của xung lực hợp nhất ấy quyết định mức độ sinh động của ý niệm, tức mức độ của sự tin tưởng. Như vậy, ngay cả trong lĩnh vực xác suất, điều quyết định sự đồng thuận của não thức không phải là một lập luận logic, mà là cách thức những khuynh hướng của trí tưởng tượng được phân phối, kết hợp và tăng cường theo những quy luật tâm lý phổ quát mà Hume đã xây dựng trong toàn bộ Phần III của A Treatise of Human Nature.

[17] Sự hình thành dần dần của sự tin tưởng từ kinh nghiệm theo Hume: Điểm quan trọng trong lập luận của Hume ở đây là sự tin tưởng không xuất hiện ngay lập tức, mà được hình thành từng bước thông qua quá trình tích lũy kinh nghiệm. Một kinh nghiệm đơn lẻ thường chỉ tạo ra rất ít, hoặc hầu như không tạo ra, một thói quen đủ mạnh trong não thức. Khi một sự kiện mới chỉ xảy ra một lần, chúng ta chưa có đủ cơ sở để chuyển từ đối tượng hiện tại sang kỳ vọng rằng cùng một kết quả sẽ tiếp tục theo sau nó.

Khi cùng một sự kết hợp giữa những đối tượng được lập lại nhiều lần, não thức dần dần hình thành một thói quen liên kết. Mỗi trường hợp mới không chỉ bổ sung thêm một ví dụ riêng lẻ, mà còn làm tăng sức mạnh của thói quen ấy. Nhờ đó, sự chuyển dịch của tư tưởng từ một ý niệm sang ý niệm khác ngày càng trở nên dễ dàng hơn, và sự tin tưởng vào mối liên hệ giữa chúng cũng ngày càng mạnh hơn.

Vì vậy, theo Hume, phán đoán của con người không chuyển đột ngột từ hoàn toàn không chắc chắn sang hoàn toàn chắc chắn, mà đi qua nhiều mức độ trung gian. Ban đầu, nó chỉ là một sự phỏng đoán hoặc một xác suất; khi kinh nghiệm tiếp tục được tích lũy và thói quen ngày càng được củng cố, xác suất ấy dần dần tiến tới chứng cứ hoàn chỉnh (proof). Bởi vậy, giữa xác suất (probability) và chứng cứ hoàn chỉnh (proof) không tồn tại một ranh giới tuyệt đối, mà là một sự chuyển tiếp gần như không thể nhận ra.

Điểm này phản ánh một luận đề nền tảng trong nhận thức luận của Hume. Điều phân biệt một phán đoán có tính xác suất với một phán đoán đạt tới chứng cứ hoàn chỉnh không phải là sự khác biệt về bản chất, mà là sự khác biệt về mức độ mạnh yếu của thói quen do kinh nghiệm tạo ra trong não thức. Hai loại phán đoán này cùng vận hành theo một nguyên lý, chỉ khác nhau ở mức độ mà kinh nghiệm đã củng cố sự liên kết giữa những ý niệm.

Qua đó, Hume muốn cho thấy rằng ngay cả những sự tin tưởng vững chắc nhất của chúng ta về thế giới cũng không được thiết lập từ một suy luận diễn dịch tất yếu, mà từ sự lập lại của kinh nghiệm. Chính sự lập lại ấy làm hình thành thói quen, và chính thói quen làm cho não thức chuyển từ đối tượng hiện tại sang việc chờ đợi kết quả thường đi kèm với nó trong quá khứ.

[18] Hume phân biệt hai cách thức khác nhau mà thói quen tác động đến sự hình thành của sự tin tưởng, tùy theo mức độ đồng nhất của kinh nghiệm quá khứ.

Trong trường hợp thứ nhất, khi sự kết hợp giữa những đối tượng xảy ra đều đặn và không bị gián đoạn trong kinh nghiệm, thói quen tác động trực tiếp lên não thức. Sự lập lại liên tục của cùng một mối liên hệ khiến não thức tự nhiên chuyển dịch từ ấn tượng hiện tại sang ý niệm liên hệ mà không cần có sự tự suy ngẫm hay cân nhắc có ý thức nào xen vào. Chẳng hạn, một người từ trước đến nay luôn nhận thấy rằng khi đưa tay gần ngọn lửa thì sẽ cảm thấy nóng, và chưa từng gặp một ngoại lệ nào; do đó, khi nhìn thấy ngọn lửa, người ấy lập tức chờ đợi cảm giác nóng. Sự chuyển dịch từ ý niệm về lửa sang ý niệm về nhiệt diễn ra gần như ngay tức khắc, bởi vì sự liên kết giữa hai đối tượng đã trở nên vững chắc nhờ sự lập lại thường xuyên của kinh nghiệm. Đây là trường hợp thói quen tạo ra sự tin tưởng một cách trực tiếp.

Tuy nhiên, trong trường hợp xác suất phát sinh từ những biến cố trái ngược, cơ chế này không còn hoạt động theo cùng một cách. Khi kinh nghiệm quá khứ chứa đựng những trường hợp không đồng nhất, trong đó cùng một nguyên nhân đôi khi dẫn đến những kết quả khác nhau, não thức không thể chuyển dịch từ một đối tượng sang đối tượng kia với một thói quen hoàn toàn ổn định. Chẳng hạn, nếu một người nhận thấy một loại thuốc thường chữa khỏi một căn bệnh nhưng đôi khi không có tác dụng, thì khi gặp một người bệnh mới, họ không thể lập tức kết luận rằng thuốc chắc chắn sẽ chữa khỏi bệnh. Kinh nghiệm quá khứ của họ bao gồm cả những trường hợp ủng hộ lẫn những trường hợp trái ngược.

Trong tình huống này, não thức phải đưa những trường hợp khác nhau vào xem xét, so sánh những phía đối lập của kinh nghiệm và cân nhắc tỉ lệ giữa chúng. Nếu trong một trăm lần dùng thuốc có tám mươi lần người bệnh hồi phục và hai mươi lần không hồi phục, người ấy sẽ xem khả năng hồi phục là cao hơn, nhưng vẫn không đạt đến sự chắc chắn tuyệt đối. Sự tin tưởng lúc này không phát sinh từ một sự chuyển dịch tự động của thói quen, mà từ một tiến trình gián tiếp trong đó thói quen cung cấp khuynh hướng chuyển quá khứ sang tương lai, còn sự tự suy ngẫm và việc cân nhắc những kinh nghiệm đối lập quyết định mức độ mạnh yếu của phán đoán.

Vì vậy, điểm Hume muốn làm rõ là: trong cả hai trường hợp, nền tảng cuối cùng của sự tin tưởng vẫn là thói quen được hình thành từ kinh nghiệm. Nhưng khi kinh nghiệm hoàn toàn đồng nhất, thói quen hoạt động trực tiếp và tạo ra một sự chuyển dịch mạnh mẽ, gần như chắc chắn. Ngược lại, khi kinh nghiệm chứa đựng những trường hợp trái ngược, thói quen không tự mình quyết định kết luận, mà chỉ tạo ra khuynh hướng ban đầu; sự tin tưởng phải được hình thành thông qua việc xem xét, so sánh và cân nhắc những trường hợp khác nhau. Đây chính là lý do Hume nói rằng trong loại xác suất phát sinh từ sự trái ngược của những biến cố, sự tin tưởng không phát sinh trực tiếp từ thói quen, mà theo một cách gián tiếp.

[19] Ở đây Hume xác định hai vấn đề trung tâm trong loại xác suất thứ hai. Thứ nhất, cần giải thích vì sao con người có xu hướng chuyển kinh nghiệm quá khứ sang tương lai, tức xem những gì đã xảy ra trước đây như một căn cứ để dự đoán những gì sẽ xảy ra sau này. Thứ hai, khi kinh nghiệm quá khứ không đồng nhất mà chứa đựng những trường hợp trái ngược, cần giải thích bằng cách nào não thức có thể rút ra một phán đoán duy nhất thay vì chỉ giữ lại một tập hợp những khả năng đối lập. Hume cho rằng câu trả lời nằm ở việc so sánh tần suất của những trường hợp khác nhau: kết quả nào xuất hiện thường xuyên hơn sẽ tạo ra một mức độ tin tưởng mạnh hơn.

[20] Hume ở đây giải thích vì sao xác suất không tạo ra một sự tin tưởng mạnh mẽ như minh chứng. Khi kinh nghiệm quá khứ hoàn toàn đồng nhất, thói quen tạo ra một sự chuyển dịch trực tiếp: từ một đối tượng hiện tại, não thức lập tức kỳ vọng đối tượng thường đi kèm với nó. Nhưng khi kinh nghiệm chứa những trường hợp trái ngược, thói quen vẫn hoạt động nhưng không thể tập trung vào một kết quả duy nhất. Xung lực của tưởng tượng bị phân chia giữa nhiều khả năng khác nhau, và mỗi khả năng chỉ nhận một phần sức mạnh của sự tin tưởng. Vì vậy, kết quả có tần suất xuất hiện cao hơn sẽ có mức độ tin tưởng lớn hơn, nhưng không bao giờ đạt đến sự chắc chắn tuyệt đối.

[21] Sự hình thành xác suất như một trạng thái của não thức: Ở đoạn này, Hume thực hiện một bước chuyển quan trọng trong cách hiểu về xác suất. Xác suất không chỉ là một phép tính về số lượng hay tỷ lệ giữa những trường hợp, mà trước hết là một trạng thái tâm lý của não thức khi nó phải xử lý những kinh nghiệm không hoàn toàn đồng nhất.

Khi kinh nghiệm quá khứ luôn luôn giống nhau, thói quen khiến não thức chuyển trực tiếp từ một đối tượng sang đối tượng thường đi kèm với nó. Nhưng khi kinh nghiệm chứa đựng những biến cố đối lập — khi cùng một nguyên nhân đôi khi dẫn đến những kết quả khác nhau — thì não thức không thể hướng toàn bộ sức mạnh của mình vào một khả năng duy nhất. Những hình ảnh do kinh nghiệm quá khứ cung cấp được phân chia thành nhiều khả năng khác nhau.

[22] Ở đoạn này, Hume củng cố lập luận rằng xác suất không khác về bản chất với khả năng đối lập, mà chỉ khác về số lượng những kinh nghiệm hỗ trợ. Mỗi thực nghiệm quá khứ tự nó có cùng một giá trị: nó chỉ cung cấp một khả năng cho tương lai. Không có một thực nghiệm riêng lẻ nào tự nó mạnh hơn những thực nghiệm khác. Sự vượt trội của một kết luận chỉ xuất hiện khi nhiều thực nghiệm cùng hướng về một phía và kết hợp sức mạnh của chúng lại.

Do đó, sự tin tưởng của chúng ta cũng là một kết quả hợp thành. Nó không phải là một hành vi đơn giản của lý trí rút ra từ một nguyên tắc trừu tượng, mà là kết quả của sự cộng hợp nhiều tác động nhỏ của kinh nghiệm. Cũng như trọng lực của một vật là kết quả của nhiều phần cấu thành, mức độ tin tưởng đối với một biến cố là kết quả của sự hội tụ của nhiều kinh nghiệm riêng lẻ. Xác suất, vì thế, là sự khác biệt về mức độ của sự tin tưởng được tạo ra bởi số lượng và tỷ lệ của những kinh nghiệm, chứ không phải là một khác biệt về bản chất giữa "không chắc chắn" và "chắc chắn".

[23] Cơ chế hợp nhất và triệt tiêu trong xác suất của Hume: Đây là đoạn Hume trình bày rõ nhất rằng xác suất không phải là một phép tính bên ngoài đối với não thức, mà là một quá trình trong đó nhiều kinh nghiệm tác động lên nhau để tạo ra một mức độ tin tưởng nhất định.

Mỗi kinh nghiệm quá khứ tự nó chỉ cung cấp một khả năng. Khi nhiều kinh nghiệm cùng hướng về một kết quả, chúng không tạo ra nhiều niềm tin riêng biệt, mà hòa nhập thành một cái nhìn chung mạnh hơn và sinh động hơn. Ngược lại, những kinh nghiệm đối lập không biến mất; chúng làm giảm sức mạnh của phía đối diện bằng cách chống lại nó.

Vì vậy, xác suất được hình thành bởi hai cơ chế song song: sự cộng hợp của những kinh nghiệm đồng thuận và sự triệt tiêu lẫn nhau của những kinh nghiệm đối nghịch. Mức độ tin tưởng cuối cùng của chúng ta chính là phần sức mạnh còn lại sau quá trình hợp nhất và đối kháng này. Đây là lý do Hume xem xác suất như một trạng thái của não thức được tạo thành bởi cấu trúc của kinh nghiệm, chứ không đơn thuần là một kết luận của lý trí.

[24] Bước chuyển từ xác suất như tỷ lệ sang xác suất như một trạng thái của não thức: Đoạn này đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong lập luận của Hume. Ông không xem xác suất chỉ là một phép tính về số lượng trường hợp thuận lợi và bất lợi, mà muốn giải thích cách thức mà sự khác biệt về tỷ lệ ấy tác động lên chính não thức và tạo ra những mức độ tin tưởng khác nhau. Những kinh nghiệm quá khứ, dù riêng lẻ và trái ngược nhau, không tồn tại trong não thức như một danh sách những dữ kiện được cộng lại một cách cơ học; thay vào đó, trí tưởng tượng (fancy) làm cho những hình ảnh tương tự hội tụ, kết hợp và hợp nhất thành một hình ảnh chung có mức độ mạnh mẽ và sinh động tương ứng với số lượng cũng như ưu thế của những kinh nghiệm nâng đỡ nó.

Cần lưu ý rằng Hume không trình bày sự đối lập giữa "lý trí" và "trí tưởng tượng". Trong lập luận này, ông phân biệt giữa understanding — năng lực nhận thức, phán đoán và xem xét những quan hệ giữa những sự kiện — với fancy — năng lực hình dung, liên kết và làm sinh động những ý niệm trong não thức. Xác suất không phải là sản phẩm của một phép suy luận thuần túy của understanding, bởi nếu chỉ có sự chuyển dịch lý luận từ quá khứ sang tương lai, chúng ta chỉ có thể lập lại những kinh nghiệm trái ngược cùng với tỷ lệ của chúng mà không thể hình thành một sự tin tưởng cụ thể. Chính hoạt động của fancy, bằng cách hợp nhất những hình ảnh tương đồng và tạo ra một mức độ sinh động nhất định cho ý niệm, mới giải thích tại sao một bên của sự đối lập lại có thể trở thành đối tượng của sự tin tưởng mạnh hơn bên kia.

[25] Trong mục này, Hume phân biệt ba loại xác suất khác nhau, tương ứng với ba cách thức mà kinh nghiệm quá khứ tạo ra những mức độ tin tưởng khác nhau trong não thức.

Loại xác suất thứ nhất phát sinh từ kinh nghiệm không hoàn hảo (imperfect experience). Trong trường hợp này, sự kết hợp giữa những đối tượng chưa được quan sát đủ nhiều hoặc chưa đạt đến mức đều đặn và ổn định hoàn toàn. Não thức vẫn hình thành một thói quen chuyển từ đối tượng này sang đối tượng kia, nhưng thói quen ấy chưa có đủ sức mạnh của một sự liên kết hoàn toàn vững chắc. Vì vậy, sự tin tưởng phát sinh yếu hơn so với những trường hợp mà kinh nghiệm luôn luôn đồng nhất. Mức độ tin tưởng ở đây phụ thuộc vào độ thường xuyên mà một sự kiện đã được quan sát xảy ra, nhưng vẫn còn khả năng sửa đổi khi xuất hiện thêm kinh nghiệm mới.

Loại xác suất thứ hai phát sinh từ những biến cố trái ngược hoặc những nguyên nhân đối lập (contrary events / contrary causes). Đây là trường hợp phức tạp nhất mà Hume đang phân tích trong phần này. Khi cùng một đối tượng trong quá khứ từng dẫn đến những kết quả khác nhau, não thức không thể chuyển dịch trực tiếp từ một sự kiện sang một sự kiện khác theo một thói quen hoàn toàn ổn định. Thay vào đó, nó phải xem xét những kinh nghiệm đối lập, so sánh số lượng và tỷ lệ của chúng. Những hình ảnh cùng loại trong kinh nghiệm sẽ hợp nhất và làm tăng mức độ sinh động của một phía; còn những hình ảnh đối lập sẽ làm suy yếu hoặc triệt tiêu lẫn nhau. Do đó, xác suất ở đây không chỉ là một tỷ lệ khách quan giữa những trường hợp thuận lợi và bất lợi, mà là cách thức mà não thức tổ chức những kinh nghiệm trái ngược ấy thành một mức độ tin tưởng nhất định.

Loại xác suất thứ ba phát sinh từ loại suy (analogy). Khác với hai loại trên, ở đây vấn đề không nằm ở việc sự kết hợp giữa nguyên nhân và kết quả đã biết có thường xuyên hay không, mà nằm ở mức độ giống nhau giữa trường hợp hiện tại và những trường hợp quá khứ. Mọi suy luận từ loại suy đều dựa trên hai yếu tố: sự kết hợp thường xuyên đã được quan sát trong kinh nghiệm, và sự giống nhau của đối tượng hiện tại với những đối tượng trước đây. Khi sự giống nhau càng lớn, sự chuyển giao sức mạnh và tính sinh động từ kinh nghiệm cũ sang trường hợp mới càng mạnh; khi sự giống nhau giảm đi, mức độ tin tưởng cũng giảm theo.

Như vậy, ba loại xác suất của Hume cho thấy ba cách khác nhau mà sự tin tưởng có thể bị giới hạn hoặc suy giảm: trong loại thứ nhất, giới hạn đến từ sự thiếu đầy đủ của kinh nghiệm; trong loại thứ hai, đến từ sự xung đột giữa những kinh nghiệm trái ngược; và trong loại thứ ba, đến từ sự không hoàn toàn giống nhau giữa trường hợp đã biết và trường hợp mới. Tuy nhiên, cả ba loại đều có cùng nền tảng: sự chuyển dịch của não thức từ quá khứ sang tương lai không dựa trên một suy luận thuần lý, mà dựa trên hoạt động của thói quen, kinh nghiệm và trí tưởng tượng trong việc tạo ra những mức độ tin tưởng khác nhau.