Một Chuyên Luận Về Bản Chất Con Người
(A Treatise of Human Nature)
David Hume
QUYỂN I – PHẦN 1
Về những ý niệm, nguồn gốc, thành phần, kết hợp, trừu tượng hóa, v.v.
MỤC VII.
Về Những Ý Niệm Trừu Tượng.
T 1.1.7.1, SBN 17
Một vấn đề rất quan trọng đã được đặt ra liên quan đến những
ý niệm trừu tượng hoặc tổng quát, cụ thể là: trong cách chúng
được hình thành trong não thức, chúng là những ý niệm mang tính tổng quát hay
chỉ là những ý niệm mang tính cá thể?
Một nhà triết học lớn [4] đã tranh luận chống lại quan điểm
được thừa nhận trong vấn đề này, và khẳng định rằng tất cả những ý niệm tổng
quát không gì khác ngoài những ý niệm cá thể, được gắn với một thuật ngữ nhất định;
thuật ngữ này trao cho chúng một nghĩa rộng hơn và, khi có dịp, nó khiến chúng
gợi lại trong não thức những cá thể khác tương tự với chúng. [1]
Tôi xem đây là một trong những thành tựu quan trọng và có
giá trị nhất thực hiện trong những năm gần đây trong cộng đồng học thuật, và vì
vậy ở đây tôi sẽ cố gắng xác nhận nó bằng một số luận chứng, mà tôi hy vọng sẽ
đặt nó ra ngoài mọi nghi ngờ và tranh luận.
T 1.1.7.2, SBN 17–18
Rõ ràng là, trong việc hình thành phần lớn những ý niệm tổng
quát của chúng ta, nếu không phải là tất cả, chúng ta đều thực hiện sự trừu tượng
hóa khỏi mọi mức độ cụ thể của số lượng và phẩm chất, và một đối tượng không vì
những thay đổi nhỏ về độ mở rộng, thời khoảng tồn tại hay những thuộc tính khác
mà thôi không còn thuộc về một loài nhất định.
Do đó, có thể cho rằng ở đây xuất hiện một đi-lem-ma rõ
ràng, đủ để quyết định bản chất của những ý niệm trừu tượng vốn đã gây ra rất
nhiều suy đoán nơi những nhà triết học.
Ý niệm trừu tượng về một con người được cho là biểu hiện
những con người thuộc mọi kích thước và mọi phẩm chất; và người ta kết luận rằng
nó không thể làm được điều đó, trừ phi theo một trong hai cách: hoặc nó đồng thời
biểu hiện tất cả những kích thước có thể có và tất cả những phẩm chất có thể
có, hoặc nó không biểu hiện bất kỳ kích thước hay phẩm chất cụ thể nào cả.
Giờ đây, vì người ta cho rằng việc bảo vệ mệnh đề thứ nhất
là phi lý, do nó hàm ý một năng lực vô hạn nơi não thức, nên người ta thường
suy luận nghiêng về mệnh đề thứ hai; và vì thế những ý niệm trừu tượng của
chúng ta bị giả định là không biểu hiện bất kỳ mức độ xác định nào của số lượng
hay phẩm chất. [2]
Nhưng tôi sẽ cố gắng chứng minh rằng suy luận này là sai
lầm: thứ nhất, bằng cách chứng minh rằng hoàn toàn không thể hình dung bất kỳ số
lượng hay phẩm chất nào mà không hình thành một quan niệm chính xác về những mức
độ của nó; và thứ hai, qua việc cho thấy rằng, mặc dù năng lực của não thức
không phải là vô hạn, chúng ta vẫn có thể cùng một lúc hình thành một quan niệm
về tất cả những mức độ có thể có của số lượng và phẩm chất, theo một cách thức,
dù không hoàn hảo, vẫn có thể phục vụ cho mọi mục đích của sự tự suy ngẫm và
trò chuyện.
T 1.1.7.3, SBN 18–19
Trước hết, bắt đầu với mệnh đề thứ nhất rằng não thức
không thể hình thành bất kỳ khái niệm nào về số lượng hay chất lượng mà không
hình thành một khái niệm chính xác về những mức độ của mỗi loại; chúng ta
có thể chứng minh điều này bằng ba lập luận sau.
Thứ nhất, chúng ta đã quan sát rằng bất cứ đối tượng nào
khác nhau đều có thể phân biệt, và rằng bất cứ đối tượng nào có thể phân biệt đều
có thể tách rời bởi suy nghĩ và trí tưởng tượng. Và chúng ta cũng có thể thêm rằng
những mệnh đề này cũng đúng theo chiều ngược lại, tức là bất cứ đối tượng nào
có thể tách rời cũng có thể phân biệt, và bất cứ đối tượng nào có thể phân biệt
cũng là khác nhau.
Vì làm sao chúng ta có thể tách rời cái không thể phân biệt,
hay phân biệt cái không khác nhau?
Do đó, để biết liệu trừu tượng hóa có hàm ý sự tách rời
hay không, chúng ta chỉ cần xem xét nó theo cách này, và khảo sát xem tất cả những
hoàn cảnh mà chúng ta trừu tượng hóa khỏi trong những ý niệm chung có phải là
những hoàn cảnh có thể phân biệt và khác với những hoàn cảnh mà chúng ta giữ lại
như những phần thiết yếu của chúng hay không.
Nhưng rõ ràng ngay từ cái nhìn đầu tiên, độ dài chính xác
của một đường thẳng không khác biệt cũng không thể phân biệt với chính đường thẳng
đó; cũng như mức độ chính xác của bất kỳ chất lượng nào không khác biệt cũng
không thể phân biệt với chính chất lượng đó.
Do đó, những ý niệm này không cho phép sự tách rời nhiều
hơn mức chúng cho phép sự phân biệt và khác biệt.
Vì vậy, chúng được kết hợp với nhau trong sự hình thành của
khái niệm; và ý niệm chung về một đường thẳng, bất chấp mọi trừu tượng hóa và
những tinh chỉnh của chúng ta, trong sự xuất hiện của nó trong não thức vẫn
mang một mức độ xác định về số lượng và chất lượng; mặc dù nó có thể được dùng
để đại diện cho những cái khác, vốn có những mức độ khác nhau của cả hai.
T 1.1.7.4, SBN 19
Thứ hai, người ta thừa nhận rằng không một đối tượng nào
có thể xuất hiện trước những giác quan; hay nói cách khác, không một ấn tượng
nào có thể hiện diện trong não thức mà không được xác định trong những mức độ của
cả số lượng và chất lượng.
Sự mơ hồ mà đôi khi những ấn tượng rơi vào chỉ phát sinh
từ sự mờ nhạt và thiếu ổn định của chúng, chứ không phải từ bất kỳ năng lực nào
trong não thức có thể tiếp nhận một ấn tượng, mà trong sự hiện hữu thực của nó
lại không có một mức độ hay tỷ lệ xác định nào.
Đó là một mâu thuẫn trong thuật ngữ; và thậm chí còn hàm
ý mâu thuẫn hiển nhiên nhất trong tất cả những mâu thuẫn, tức là: cùng một sự vật
vừa có thể hiện hữu vừa không thể hiện hữu
T 1.1.7.5, SBN 19
Giờ đây, vì tất cả những ý niệm đều bắt nguồn từ những ấn
tượng, và đều là những bản sao và những sự biểu hiện của chúng, nên bất cứ điều
gì đúng đối với cái này cũng phải được thừa nhận đối với cái kia.
Những ấn tượng và những ý niệm chỉ khác nhau ở sức mạnh
và mức độ sinh động của chúng.
Kết luận trên không được xây dựng trên bất kỳ mức độ sinh
động cụ thể nào; vì vậy nó không thể bị ảnh hưởng bởi bất kỳ biến đổi nào trong
phương diện đó.
Một ý niệm là một ấn tượng yếu hơn; và vì một ấn tượng mạnh
tất yếu phải có một số lượng và chất lượng xác định, nên trường hợp cũng phải
giống như vậy đối với bản sao hay những gì đại diện của nó.
T 1.1.7.6, SBN 19–20
Thứ ba, có một nguyên lý được thừa nhận rộng rãi trong
triết học rằng mọi sự vật trong tự nhiên đều mang tính cá thể; và việc giả định
một hình tam giác thực sự hiện hữu mà lại không có một tỷ lệ xác định giữa những
cạnh và những góc là điều hoàn toàn vô lý. Vì vậy, nếu điều ấy là vô lý trong
thực tại, thì nó cũng phải vô lý trong ý niệm; bởi không điều gì mà chúng ta có
thể hình thành một ý niệm rõ ràng và phân biệt được về nó lại có thể là điều vô
lý hay bất khả hữu.
Nhưng việc hình thành ý niệm về một đối tượng và việc
hình thành một ý niệm đơn thuần thực ra là một và cùng một việc; bởi sự quy chiếu
của ý niệm đến một đối tượng chỉ là một sự quy định từ bên ngoài, điều mà bản
thân ý niệm không mang theo bất kỳ dấu hiệu hay đặc tính nào.
Nay, vì không thể hình thành ý niệm về một đối tượng có số
lượng và phẩm chất mà lại không có một mức độ xác định nào của cả hai; nên cũng
không thể hình thành một ý niệm mà không bị giới hạn và quy định bởi hai phương
diện ấy.
Vì vậy, tự thân những ý niệm trừu tượng đều mang tính cá
thể, mặc dù chúng có thể trở thành tổng quát trong sự biểu thị của mình. Hình ảnh
hiện diện trong não thức luôn chỉ là hình ảnh của một đối tượng cá thể; mặc dù
việc dùng nó trong suy luận cũng giống như thể nó là phổ quát.
T 1.1.7.7, SBN 20–21
Việc những ý niệm này được dùng vượt ra ngoài bản chất
riêng của chúng xuất phát từ chỗ chúng ta tập hợp mọi mức độ khả hữu của số lượng
và phẩm chất theo một cách thức tuy không hoàn hảo nhưng đủ để phục vụ những
nhu cầu của đời sống. Đây chính là mệnh đề thứ hai mà tôi đã hứa sẽ giải thích.
Khi nhận thấy một sự giống nhau [5] giữa nhiều đối tượng
thường xuyên xuất hiện trước chúng ta, chúng ta gán cùng một tên gọi cho tất cả
chúng, bất kể những khác biệt có thể có về mức độ số lượng, phẩm chất hay bất kỳ
phương diện nào khác.
Sau khi đã hình thành một thói quen như vậy, việc nghe thấy
tên gọi ấy sẽ gợi lại ý niệm về một trong những đối tượng đó, và khiến trí tưởng
tượng hình dung nó cùng với mọi hoàn cảnh và tỷ lệ riêng biệt của nó.
Nhưng vì cùng một từ ấy được giả định là đã nhiều lần được
áp dụng cho những cá thể khác, vốn khác với ý niệm đang trực tiếp hiện diện
trong não thức về nhiều phương diện, nên từ đó không thể gợi lại ý niệm của tất
cả những cá thể ấy. Nếu được phép nói như vậy, nó chỉ khẽ chạm đến não thức và
làm sống lại thói quen mà chúng ta đã có được qua việc quan sát chúng.
Những cá thể ấy không thực sự hiện diện trong não thức,
mà chỉ hiện diện trong tiềm năng; chúng ta cũng không lần lượt hình dung tất cả
chúng một cách rõ ràng trong trí tưởng tượng, mà chỉ giữ mình ở trạng thái sẵn
sàng xem xét bất kỳ cá thể nào trong số đó khi một mục đích hay nhu cầu hiện tại
đòi hỏi.
Từ ngữ làm xuất hiện một ý niệm cá thể cùng với một thói
quen nhất định; và chính thói quen ấy lại làm xuất hiện bất kỳ ý niệm cá thể
nào khác mà chúng ta có thể cần đến.
Nhưng vì trong phần lớn trường hợp việc làm xuất hiện
toàn bộ những ý niệm mà tên gọi ấy có thể được áp dụng là điều không thể được,
nên chúng ta rút gọn công việc ấy bằng một sự xem xét có tính giới hạn hơn; và
từ sự rút gọn đó chỉ phát sinh rất ít bất tiện trong tiến trình suy luận của
chúng ta.
T 1.1.7.8, SBN 21
Vì đây là một trong những hoàn cảnh đặc biệt nhất trong vấn
đề hiện tại, rằng sau khi não thức đã tạo ra một ý niệm cá thể mà trên đó chúng
ta suy luận, thì thói quen đi kèm, được làm sống lại bởi thuật ngữ tổng quát
hay thuật ngữ trừu tượng, sẽ dễ dàng gợi lên bất kỳ cá thể nào khác, nếu tình cờ
chúng ta xây dựng một suy luận không phù hợp với nó.
Vì vậy, khi chúng ta nhắc đến từ “tam giác”, và hình
thành ý niệm về một tam giác đều cụ thể để tương ứng với nó, thì nếu sau đó
chúng ta khẳng định rằng ba góc của một tam giác đều bằng nhau, những cá
thể khác như tam giác thường và tam giác cân—những cái mà chúng ta đã bỏ qua
lúc đầu—ngay lập tức ùa vào trong suy nghĩ, và khiến chúng ta nhận ra sự sai lầm
của mệnh đề đó, dù nó đúng đối với ý niệm mà chúng ta đã hình thành.
Nếu não thức không phải lúc nào cũng gợi lên những ý niệm
này khi có dịp, thì điều đó xuất phát từ một sự khiếm khuyết nào đó trong những
năng lực của nó; và đây là một khiếm khuyết thường là nguồn gốc của suy luận
sai lầm và ngụy biện.
Nhưng điều này chủ yếu xảy ra đối với những ý niệm trừu
tượng và phức hợp. Trong những trường hợp khác, thói quen đầy đủ hơn, và hiếm
khi chúng ta rơi vào những sai lầm như vậy.
T 1.1.7.9, SBN 21–22
Thậm chí thói quen còn đầy đủ đến mức cùng một ý niệm có
thể được gắn với nhiều từ khác nhau, và được dùng trong nhiều lập luận khác
nhau mà không gây ra nhầm lẫn.
Chẳng hạn, ý niệm về một tam giác đều có cạnh dài một inch
có thể được dùng khi chúng ta nói về “hình”, “hình phẳng”, “hình đều”, “tam
giác”, hoặc “tam giác đều”. Tất cả những thuật ngữ này trong trường hợp đó đều
đi kèm cùng một ý niệm; nhưng vì chúng thường được dùng trong những phạm vi rộng
hẹp khác nhau, nên chúng khơi dậy những thói quen riêng biệt trong não thức, và
nhờ đó giữ cho não thức luôn sẵn sàng nhận ra rằng không được rút ra kết luận
nào trái với những ý niệm thường được bao hàm dưới những thuật ngữ ấy.[3]
T 1.1.7.10, SBN 22
Trước khi những thói quen đó trở nên hoàn toàn hoàn thiện,
có lẽ não thức sẽ không hài lòng với việc chỉ hình thành ý niệm về một cá thể
duy nhất, mà có thể đi qua nhiều cá thể khác nhau, nhằm tự mình nắm bắt ý nghĩa
của chính nó, và phạm vi của tập hợp mà nó dự định biểu hiện bằng thuật ngữ
chung.
Để xác định nghĩa của từ “hình”, chúng ta có thể xoay
quanh trong não thức những ý niệm về hình tròn, hình vuông, hình bình hành,
hình tam giác với những kích thước và tỷ lệ khác nhau, và có thể không dừng lại
ở một hình ảnh hay ý niệm duy nhất.
Tuy nhiên, điều chắc chắn là chúng ta hình thành ý niệm về
những cá thể bất cứ khi nào chúng ta dùng bất kỳ thuật ngữ chung nào; rằng
chúng ta hiếm khi hoặc không bao giờ có thể bao quát hết những cá thể này; và rằng
những cá thể còn lại chỉ được biểu hiện bằng thói quen mà chúng ta gợi lại
chúng bất cứ khi nào có dịp cần đến.
Đây chính là bản chất của những ý niệm trừu tượng và những
thuật ngữ chung của chúng ta; và chính theo cách này chúng ta giải thích nghịch
lý nêu trên, rằng một số ý niệm là cá thể trong bản chất của chúng, nhưng là
tổng quát trong sự biểu hiện của chúng.[4]
Một ý niệm cá thể trở nên tổng quát bằng cách được gắn liền
với một thuật ngữ chung; tức là một thuật ngữ, mà từ một sự kết hợp theo thói
quen, có quan hệ với nhiều ý niệm cá thể khác, và dễ dàng gợi nhớ chúng trong
trí tưởng tượng.
T 1.1.7.11–14, SBN 22–23
Khó khăn duy nhất còn lại trong vấn đề này có lẽ nằm ở việc
giải thích thói quen ấy: thói quen có thể dễ dàng gợi lại bất kỳ ý niệm cá thể
nào mà chúng ta cần đến, và được khơi dậy bởi bất kỳ từ ngữ hay âm thanh nào vốn
thường đi kèm với nó.
Theo tôi, cách thích hợp nhất để giải thích hoạt động này
của não thức là chỉ ra những trường hợp tương tự và những nguyên lý khác giúp
làm sáng tỏ cách thức nó vận hành. Giải thích những nguyên nhân tối hậu của những
hoạt động tinh thần là điều không thể được; điều đủ cho chúng ta là có thể giải
thích chúng một cách thỏa đáng dựa trên kinh nghiệm và phép loại suy.
T 1.1.7.12, SBN 22-3
Trước hết, tôi nhận thấy rằng khi chúng ta nhắc đến một
con số lớn, chẳng hạn như một nghìn, não thức thường không có một ý niệm tương
xứng đầy đủ về nó, mà chỉ có khả năng tạo ra ý niệm ấy qua những ý niệm đầy đủ
hơn về những đơn vị thập phân mà con số đó được cấu thành. Tuy nhiên, sự bất
toàn này của ý niệm không hề gây trở ngại cho tiến trình suy luận; và đây dường
như là một trường hợp tương tự với những ý niệm tổng quát.
T 1.1.7.13, SBN 23
Thứ hai, có nhiều trường hợp trong đó một thói quen có thể
được làm sống lại chỉ bởi một từ duy nhất. Chẳng hạn, một người đã học thuộc
lòng một bài diễn văn hoặc nhiều câu thơ có thể nhớ lại toàn bộ phần còn lại chỉ
nhờ nghe từ hoặc cụm từ mở đầu, ngay cả khi trước đó người ấy không thể nhớ ra.
T 1.1.7.14, SBN 23
Thứ ba, tôi tin rằng bất kỳ ai quan sát hoạt động của não
thức của chúng ta khi suy luận cũng sẽ đồng ý rằng chúng ta không gắn những ý
niệm rõ ràng và đầy đủ với mọi thuật ngữ chúng ta dùng. Khi nói về chính quyền,
giáo hội, thương lượng hay chinh phục, chúng ta hiếm khi triển khai trong não
thức toàn bộ những ý niệm đơn giản cấu thành nên những ý niệm phức hợp ấy.
Tuy nhiên, điều đáng chú ý là dù có sự bất toàn này,
chúng ta vẫn tránh được việc nói những điều vô nghĩa và vẫn nhận ra được mọi sự
không phù hợp giữa những ý niệm, gần như cũng tốt như khi hiểu chúng một cách đầy
đủ.
Vì vậy, nếu thay vì nói rằng trong chiến tranh bên yếu
thường tìm đến thương lượng, chúng ta lại nói rằng họ luôn tìm đến chinh phục,
thì thói quen mà chúng ta đã có được trong việc gắn những quan hệ nhất định với
những ý niệm vẫn đi theo những từ ngữ ấy, và khiến chúng ta lập tức nhận ra sự
vô lý của mệnh đề đó. Điều này diễn ra theo cùng một cách mà một ý niệm cá thể
có thể phục vụ chúng ta trong việc suy luận về những ý niệm khác, dù chúng khác
với nó ở nhiều phương diện.
T 1.1.7.15, SBN 23–24
Thứ tư, vì những cá thể được tập hợp lại với nhau, và được
đặt dưới một thuật ngữ tổng quát nhằm xét đến sự tương đồng mà chúng mang với
nhau, thì mối quan hệ này hẳn phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc chúng đi
vào trí tưởng tượng, và khiến chúng được gợi lên một cách sẵn sàng hơn khi có dịp.
Và thực vậy, nếu chúng ta xem xét tiến trình thông thường
của tư duy, dù trong suy ngẫm hay trong đàm thoại, chúng ta sẽ thấy có lý do lớn
để hài lòng về điểm này.
Không có gì đáng ngưỡng mộ hơn sự sẵn sàng mà trí tưởng
tượng gợi lên những ý niệm của nó, và trình bày chúng ngay tại chính khoảnh khắc
mà chúng trở nên cần thiết hoặc hữu ích.
Trí tưởng tượng chạy từ đầu này đến đầu kia của toàn bộ
vũ trụ để thu thập những ý niệm thuộc về bất kỳ đề tài nào. Người ta sẽ nghĩ rằng
toàn bộ thế giới trí tuệ của những ý niệm được đặt đồng thời dưới tầm nhìn của
chúng ta, và rằng chúng ta chỉ làm việc nhặt ra những ý niệm phù hợp nhất cho mục
đích của mình.
Tuy nhiên, có thể không có gì hiện diện ngoài chính những
ý niệm được thu thập theo cách đó bởi một loại năng lực gần như kỳ diệu trong
tâm hồn; năng lực mà, dù luôn hoàn hảo nhất ở những thiên tài kiệt xuất nhất,
và chính là điều chúng ta gọi là thiên tài, vẫn không thể được giải thích bằng
những nỗ lực cao nhất của sự hiểu biết con người.
T 1.1.7.16, SBN 24
Có lẽ bốn sự tự suy ngẫm này có thể giúp xóa bỏ mọi khó
khăn cho giả thuyết mà tôi đã đưa ra liên quan đến những ý niệm trừu tượng, một
giả thuyết vốn rất trái ngược với giả thuyết từ trước đến nay đang chiếm ưu thế
trong triết học. Nhưng để nói sự thật, tôi đặt niềm tin tưởng chính yếu của
mình vào những gì tôi đã chứng minh trước đây liên quan đến việc những ý niệm tổng
quát là không thể có được nếu giải thích chúng theo phương pháp thông thường.
Chúng ta chắc chắn phải tìm kiếm một hệ thống mới nào đó về vấn đề này, và rõ
ràng là không có hệ thống nào khác bên cạnh hệ thống mà tôi đã đưa ra [5]. Nếu
những ý niệm có tính chất riêng biệt trong bản chất của chúng, và đồng thời có
giới hạn về mặt số lượng của chúng, thì chỉ bằng thói quen, chúng mới có thể trở
nên tổng quát trong sự đại diện của chúng, và chứa đựng một số lượng vô hạn những
ý niệm khác bên dưới chúng.
T 1.1.7.17, SBN 24–25
Trước khi rời khỏi đề tài này, tôi sẽ dùng chính những
nguyên lý ấy để giải thích điều mà những trường phái kinh viện thường gọi là sự
phân biệt bằng lý trí (distinction of reason), một điều được nhắc đến rất
nhiều nhưng lại ít được hiểu rõ.
Thuộc loại này là sự phân biệt giữa hình dạng và vật thể
có hình dạng; giữa chuyển động và vật thể đang chuyển động.
Khó khăn trong việc giải thích sự phân biệt ấy phát sinh
từ nguyên lý đã trình bày ở trên: mọi ý niệm khác nhau đều có thể được tách rời.
Bởi từ đó suy ra rằng, nếu hình dạng khác với vật thể, thì những ý niệm về
chúng phải vừa có thể phân biệt vừa có thể tách rời; còn nếu chúng không khác
nhau, thì những ý niệm ấy không thể phân biệt cũng không thể tách rời.[6]
Vậy thì, người ta muốn ám chỉ điều gì qua cụm từ “một sự
phân biệt của lý trí”, khi sự phân biệt này không hàm chứa một sự khác biệt
nào, mà cũng không hàm chứa một sự tách rời nào? [7]
T 1.1.7.18, SBN 25
Để giải quyết khó khăn này, chúng ta phải quay lại với
cách giải thích trước đó về những ý niệm trừu tượng.
Chắc chắn rằng não thức sẽ không bao giờ nghĩ đến việc
tách hình dạng khỏi vật thể có hình dạng, bởi trong thực tế chúng không thể
phân biệt, không khác nhau và cũng không thể tách rời; nếu như nó không nhận thấy
rằng ngay trong sự đơn nhất ấy vẫn có thể chứa đựng nhiều điểm tương đồng và
nhiều quan hệ khác nhau.
Vì vậy, khi một quả cầu bằng đá cẩm thạch trắng hiện ra
trước chúng ta, ta chỉ nhận được một ấn tượng về màu trắng được sắp xếp theo một
hình dạng nhất định; và ta không thể tách màu sắc ấy ra khỏi hình dạng ấy.
Nhưng khi sau đó quan sát một quả cầu bằng đá cẩm thạch
đen và một khối lập phương màu trắng, rồi đem chúng so sánh với đối tượng ban đầu,
ta phát hiện ra hai sự tương đồng riêng biệt ngay trong cái mà trước đó dường
như, và thực sự là, hoàn toàn không thể tách rời.
Sau một thời gian quen với cách so sánh này, chúng ta bắt
đầu phân biệt hình dạng với màu sắc bằng một sự phân biệt bằng lý trí; nghĩa là
chúng ta vẫn xét hình dạng và màu sắc cùng nhau, vì trên thực tế chúng là một
và không thể phân biệt được, nhưng đồng thời lại nhìn chúng dưới những khía cạnh
khác nhau tùy theo những điểm tương đồng mà chúng có thể tham dự vào.
Khi muốn chỉ xét hình dạng của quả cầu đá cẩm thạch trắng,
trên thực tế chúng ta vẫn hình thành ý niệm về cả hình dạng lẫn màu sắc; nhưng
một cách ngầm ẩn, chúng ta hướng sự chú ý đến điểm tương đồng giữa nó và quả cầu
đá cẩm thạch đen.
Tương tự như vậy, khi muốn chỉ xét màu sắc của nó, chúng
ta hướng sự chú ý đến điểm tương đồng giữa nó và khối lập phương màu trắng.
Bằng cách ấy, những ý niệm của chúng ta luôn đi kèm với một
dạng tự suy ngẫm mà do thói quen, phần lớn thời gian chúng ta không nhận ra.
Người nào yêu cầu chúng ta xét hình dạng của một quả cầu
đá cẩm thạch trắng mà không nghĩ đến màu sắc của nó thì đang đòi hỏi một điều không
thể được. Nhưng điều người ấy thực sự muốn nói là: hãy xét màu sắc và hình dạng
cùng nhau, đồng thời giữ sự chú ý hướng đến điểm tương đồng của nó với quả cầu
đá cẩm thạch đen, hoặc với bất kỳ quả cầu nào khác, bất kể màu sắc hay chất liệu
của nó là gì.
T 1.1.7.1n4, SBN 17
[4.] Tiến sĩ Berkeley. [8]
T 1.1.7.7n5, SBN 637
[5.] Rõ ràng là ngay cả những ý niệm đơn giản khác nhau
cũng có thể có sự tương đồng hay giống nhau với nhau; và không nhất thiết điểm
hay phương diện mà chúng giống nhau phải là một điều có thể phân biệt hoặc tách
rời khỏi phương diện mà trong đó chúng khác nhau.
Màu xanh lam và màu xanh lục là hai ý niệm đơn giản khác
nhau, nhưng chúng giống nhau nhiều hơn màu xanh lam và màu đỏ tươi; mặc dù tính
đơn giản hoàn toàn của chúng loại trừ mọi khả năng phân biệt hoặc tách rời.
Điều tương tự cũng đúng đối với những âm thanh riêng biệt,
những mùi vị riêng biệt và những mùi hương riêng biệt. Chúng cho phép có vô số
sự tương đồng xét theo diện mạo tổng quát và sự so sánh, mà không cần phải có bất
kỳ phương diện chung nào giống hệt nhau.[9]
Và chúng ta có thể chắc chắn về điều này ngay từ chính
thuật ngữ “ý niệm đơn giản”. Thuật ngữ ấy bao gồm tất cả những ý niệm đơn giản
dưới nó. Chúng giống nhau ở tính đơn giản của mình. Thế nhưng, chính vì bản chất
của chúng loại trừ mọi sự cấu hợp, nên phương diện mà trong đó chúng giống nhau
lại không thể được phân biệt hay tách rời khỏi phần còn lại.
Điều tương tự cũng đúng đối với mọi mức độ của bất kỳ phẩm
chất nào. Tất cả chúng đều giống nhau; tuy nhiên, trong bất kỳ trường hợp cá thể
nào, phẩm chất không tách biệt với mức độ của chính nó.
Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản
nháp thứ hai
(Jun/2026)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1]
“Nhà
triết học lớn” mà Hume nhắc tới ở đây là George Berkeley (1685–1753), triết gia
kinh nghiệm luận người Ireland thuộc truyền thống triết học Anh–Ireland thế kỷ
XVIII. Quan điểm được đề cập chủ yếu được trình bày trong An Essay Towards a
New Theory of Vision (1709), phần “Introduction” của A Treatise
Concerning the Principles of Human Knowledge (1710), và Three Dialogues
between Hylas and Philonous (1713). Berkeley phản đối trực tiếp học thuyết
về “ý niệm trừu tượng” của John Locke, được triển khai trong An Essay
Concerning Human Understanding (1690), đặc biệt là Quyển II, Chương XI (“Of
Abstraction”), nơi Locke cho rằng não thức có thể hình thành những ý niệm tổng
quát bằng cách tách bỏ những đặc điểm cá biệt của những kinh nghiệm cảm giác cụ
thể.
Berkeley
bác bỏ khả năng này và lập luận rằng não thức không thể hình thành một ý niệm vừa
mang tính tổng quát vừa phi-cá-thể; mọi ý niệm đều luôn là cá thể và cụ thể
trong nội dung của nó. Tính “tổng quát” không nằm trong bản thân ý niệm, mà
phát sinh từ việc một ý niệm cá thể được gắn với một thuật ngữ ngôn ngữ; và thuật
ngữ này, qua thói quen dùng, khi có dịp sẽ làm gợi lại trong não thức những cá
thể khác tương tự trong quá trình suy luận và giao tiếp. Hume xem lập trường
này là một bước điều chỉnh quan trọng đối với lý thuyết ý niệm trừu tượng truyền
thống trong triết học hậu–Locke của cộng đồng học thuật châu Âu thời Khai sáng.
[2] Ở
đây Hume nêu một luận điểm nền tảng để bác bỏ học thuyết cho rằng não thức có
thể hình thành những ý niệm trừu tượng hoàn toàn không mang bất kỳ mức độ xác định
nào của số lượng hay phẩm chất. Theo ông, mỗi khi chúng ta hình thành một ý niệm
về một đối tượng, đối tượng ấy luôn xuất hiện với một độ lớn, một hình dạng, một
màu sắc hay một mức độ xác định nào đó. Không thể có một ý niệm về số lượng mà
lại không có một lượng xác định, cũng như không thể có một ý niệm về phẩm chất
mà lại không có một mức độ xác định của phẩm chất ấy.
Chẳng hạn, khi
hình dung một đường thẳng, chúng ta luôn hình dung nó với một độ dài nhất định;
khi nghĩ đến màu đỏ, chúng ta luôn nghĩ đến một sắc đỏ xác định nào đó. Não thức
không thể tạo ra một ý niệm về “độ dài nói chung” hay “màu đỏ nói chung” hoàn
toàn tách khỏi mọi mức độ cụ thể.
Lập luận này dựa
trên nguyên tắc đã được Hume thiết lập trước đó: những gì thực sự khác biệt mới
có thể được phân biệt và tách rời trong suy tưởng. Nhưng độ dài xác định không
phải là một yếu tố tách biệt khỏi chính đường thẳng, cũng như mức độ của một phẩm
chất không tách biệt khỏi chính phẩm chất ấy. Vì vậy, khi hình thành ý niệm về
đường thẳng hay màu sắc, não thức không thể giữ lại cái này mà loại bỏ cái kia.
Từ đó Hume kết
luận rằng mọi ý niệm tự bản chất đều là những ý niệm cá thể. Điều mà người ta
thường gọi là “ý niệm tổng quát” không phải là một ý niệm mơ hồ hay phi xác định,
mà chỉ là một ý niệm cá thể được dùng để biểu hiện cho nhiều trường hợp tương tự
khác. Đây là bước chuẩn bị quan trọng cho học thuyết Berkeley–Hume về những ý
niệm tổng quát: tính tổng quát không nằm trong bản thân ý niệm, mà nằm trong
cách một ý niệm cá thể được liên kết với từ ngữ, thói quen và khả năng liên tưởng
của não thức.
[3] Theo Berkeley và Hume, trong não thức
không tồn tại những “ý niệm tổng quát” hay “ý niệm trừu tượng” tách rời mọi đặc
điểm cụ thể. Khi nghe một từ tổng quát như “con người”, chúng ta không đồng thời
hình dung tất cả mọi con người, cũng không hình dung một “con người nói chung”
không có chiều cao, hình dáng hay phẩm chất xác định nào. Thay vào đó, từ ấy chỉ
gợi lên một hình ảnh cá thể cụ thể; đồng thời, do thói quen đã hình thành từ
kinh nghiệm, não thức luôn ở trong trạng thái sẵn sàng chuyển sang những cá thể
tương tự khác khi cần. Nhờ cơ chế này, một ý niệm cá thể vẫn có thể được dùng
như một ý niệm tổng quát trong suy nghĩ và suy luận. Đây là cơ sở để Hume bác bỏ
quan điểm cho rằng có những ý niệm trừu tượng thuần túy hoàn toàn không mang bất
kỳ mức độ xác định nào của số lượng hay phẩm chất.
[4] Ở
đây Hume muốn làm rõ một điểm then chốt trong lý thuyết về ý niệm trừu tượng.
Theo ông, trong não thức không tồn tại những “ý niệm tổng quát” theo nghĩa có một
hình ảnh chung trừu tượng tách rời khỏi mọi cá thể cụ thể. Mỗi ý niệm mà chúng
ta thực sự có luôn là một ý niệm cá thể, tức là có nội dung xác định, mang một
hình ảnh hoặc cấu trúc cụ thể trong trí tưởng tượng.
Tuy nhiên, khi ý niệm này được gắn với một thuật ngữ
chung (ví dụ như “tam giác”, “hình”, “con người”), nó không còn bị dùng chỉ để
chỉ riêng một cá thể nữa. Nhờ thói quen liên tưởng, thuật ngữ đó có khả năng
kích hoạt nhiều ý niệm cá thể tương tự khác trong trí tưởng tượng, và vì vậy nó
hoạt động như thể là “tổng quát”.
Do đó, tính “tổng quát” không nằm trong bản thân ý niệm,
mà nằm trong cách nó được dùng và trong thói quen của não thức khi vận hành
ngôn ngữ. Nói cách khác, ý niệm vẫn là cá thể trong bản chất, nhưng trở nên tổng
quát trong chức năng biểu hiện của nó.
[5] Trong đoạn
này, Hume tiếp tục phát triển học thuyết về những ý niệm tổng quát mà ông tiếp
nhận từ Berkeley. Mục đích của ông là giải thích bằng cách nào một ý niệm vốn
luôn mang tính cá thể lại có thể được dùng như một ý niệm tổng quát.
Theo Hume, khi
nghe một thuật ngữ tổng quát như “tam giác”, não thức không đồng thời hình dung
tất cả những tam giác khả hữu. Thông thường, chỉ một ý niệm cá thể nhất định được
làm sống lại trong trí tưởng tượng, chẳng hạn hình ảnh một tam giác đều cụ thể.
Tuy nhiên, vì thuật ngữ ấy đã được dùng nhiều lần cho những trường hợp tương tự
khác, nên nó đồng thời khơi dậy một thói quen khiến não thức luôn sẵn sàng chuyển
sang những trường hợp khác khi việc suy xét đòi hỏi.
Để làm rõ cơ chế
này, Hume đưa ra nhiều ví dụ quen thuộc. Một con số lớn như “một ngàn” thường
không hiện diện trong não thức bằng một ý niệm đầy đủ tương xứng với nó, nhưng
chúng ta vẫn dùng nó một cách chính xác trong suy luận. Tương tự, một từ ngữ
đơn lẻ có thể gợi lại cả một bài thơ đã học thuộc lòng; hoặc khi nói về những
khái niệm phức hợp như “chính quyền”, “giáo hội” hay “thương lượng”, chúng ta
không triển khai toàn bộ những ý niệm cấu thành chúng mà vẫn hiểu và dùng chúng
đúng đắn.
Từ những quan
sát này, Hume kết luận rằng tính tổng quát không nằm trong bản thân ý niệm. Mọi
ý niệm tự thân đều là những ý niệm cá thể. Một ý niệm chỉ trở nên tổng quát khi
được gắn với một thuật ngữ có khả năng, nhờ thói quen và sự liên tưởng, gợi lên
nhiều ý niệm cá thể tương tự khác. Do đó, điều mà triết học truyền thống gọi là
“ý niệm trừu tượng” thực chất không phải là một loại ý niệm riêng biệt, mà chỉ
là một cách vận hành đặc biệt của những ý niệm cá thể trong não thức.
[6] Hume đang giải
quyết ở đây một vấn đề quen thuộc trong triết học kinh viện, thường được gọi là
“sự phân biệt của lý trí” (distinction of reason). Người ta thường nói
có sự phân biệt giữa hình và vật thể có hình, giữa chuyển động và vật thể chuyển
động; nhưng nếu phân tích theo những nguyên lý đã thiết lập trước đó, sự phân
biệt này dường như rất khó giải thích.
Khó khăn phát
sinh từ nguyên tắc của Hume rằng mọi ý niệm khác nhau đều có thể phân biệt được,
và mọi ý niệm có thể phân biệt được đều có thể được tách rời trong suy tưởng và
trí tưởng tượng. Nếu hình và vật thể có hình thực sự là hai ý niệm khác nhau,
thì chúng phải có thể được tách rời khỏi nhau trong tư duy. Nhưng điều đó dường
như không thể xảy ra: ta không thể hình dung một hình mà hoàn toàn không phải
là hình của một vật nào đó, cũng như không thể hình dung một chuyển động mà
không có một vật đang chuyển động. Ngược lại, nếu chúng không thể tách rời, thì
theo nguyên tắc trên, chúng cũng không thực sự khác nhau. Vì vậy, cần phải giải
thích ý nghĩa của cái mà những triết gia gọi là “sự phân biệt của lý trí”.
Câu trả lời của
Hume dựa trên học thuyết về ý niệm trừu tượng đã trình bày trước đó. Theo ông,
trong nhiều trường hợp, một đối tượng duy nhất có thể mang nhiều quan hệ giống
nhau khác nhau. Chính điều này cho phép não thức xem xét cùng một ý niệm dưới
những phương diện khác nhau mà không cần tách nó thành nhiều ý niệm riêng biệt.
Ví dụ, khi nhìn
một quả cầu bằng cẩm thạch trắng, ta chỉ có một ấn tượng duy nhất về màu trắng
được sắp đặt trong một hình dạng nhất định. Màu sắc và hình dạng không phải là
hai ý niệm có thể tách rời. Tuy nhiên, khi đem quả cầu ấy so sánh với một quả cầu
bằng cẩm thạch đen và một khối lập phương màu trắng, ta nhận ra hai quan hệ giống
nhau khác nhau: quả cầu trắng giống quả cầu đen về hình dạng, và giống khối lập
phương trắng về màu sắc. Nhờ những sự giống nhau này, não thức có thể hướng sự
chú ý nhiều hơn đến hình dạng hoặc đến màu sắc, mặc dù trong bản thân ý niệm
chúng vẫn không thể tách rời.
Vì thế, “sự
phân biệt của lý trí” không phải là sự phân biệt giữa hai ý niệm khác nhau,
cũng không phải sự tách rời giữa hai thành phần độc lập. Nó chỉ là việc não thức
xem xét cùng một ý niệm dưới những quan hệ hay phương diện khác nhau. Khi suy
nghĩ về hình dạng của quả cầu trắng, ta vẫn có ý niệm về cả hình dạng lẫn màu sắc;
chỉ có điều sự chú ý được dẫn dắt bởi quan hệ giống nhau giữa nó với những quả
cầu khác. Tương tự, khi suy nghĩ về màu sắc, ta vẫn giữ nguyên cùng một ý niệm,
nhưng hướng sự chú ý đến quan hệ giống nhau giữa nó với những vật thể khác cùng
màu.
Do đó, theo
Hume, sự phân biệt của lý trí không phản ánh một sự phân chia có thực trong đối
tượng hay trong ý niệm, mà chỉ phản ánh một cách thức khác nhau mà não thức có
thể xem xét cùng một nội dung kinh nghiệm. Đây là một hệ quả trực tiếp của học
thuyết về ý niệm trừu tượng và cho thấy rằng nhiều sự phân biệt mà triết học
truyền thống thừa nhận thực chất chỉ là những khác biệt trong cách quan niệm của
não thức.
[7] Trong phần
này, Hume mở rộng học thuyết về ý niệm tổng quát để giải thích điều mà triết học
kinh viện gọi là “phân biệt của lý trí” (distinction of reason). Mối liên hệ giữa
hai vấn đề nằm ở nguyên lý mà ông đã xác lập trước đó: bất cứ những gì thực sự
khác biệt đều có thể được phân biệt và tách rời trong tư tưởng; ngược lại, những
gì không thể tách rời trong tư tưởng thì không phải là những ý niệm thực sự
khác biệt.
Từ học thuyết về
ý niệm tổng quát, Hume đã kết luận rằng cái gọi là tính tổng quát không phát
sinh từ một ý niệm trừu tượng tồn tại độc lập, mà từ một ý niệm cá thể được gắn
với một thuật ngữ tổng quát và được mở rộng phạm vi áp dụng nhờ thói quen liên
tưởng. Nay ông áp dụng cùng nguyên lý ấy vào trường hợp sự phân biệt giữa hình
và vật thể có hình, hoặc giữa chuyển động và vật thể chuyển động.
Nếu hình và vật
thể có hình thực sự là hai nội dung khác biệt, thì theo nguyên lý trên, chúng
phải có thể được tách rời trong tư tưởng. Nhưng kinh nghiệm nội tâm cho thấy điều
đó không xảy ra. Khi hình dung một vật thể có hình dạng nhất định, chúng ta
không thể tạo ra một ý niệm về hình hoàn toàn tách khỏi vật thể mang hình ấy.
Điều tương tự cũng đúng đối với chuyển động và vật thể chuyển động.
Theo Hume, cái
mà người ta gọi là “phân biệt của lý trí” không phải là một sự tách biệt thực sự
giữa hai ý niệm, mà chỉ là việc cùng một ý niệm được xem xét dưới những quan hệ
giống nhau khác nhau. Nhờ sự so sánh giữa nhiều đối tượng tương tự, trí tưởng
tượng học được cách hướng sự chú ý của mình tới một phương diện nhất định của
cùng một đối tượng, trong khi vẫn giữ nguyên toàn bộ nội dung của ý niệm ấy.
Vì vậy, “phân
biệt của lý trí” không phải là sự phân chia trong chính đối tượng hay trong
chính ý niệm, mà chỉ là một cách xem xét khác nhau đối với cùng một ý niệm phức
hợp. Theo Hume, đây chính là một trường hợp khác cho thấy nhiều hiện tượng mà
triết học truyền thống quy về những thực thể hoặc ý niệm riêng biệt thực ra có
thể được giải thích đầy đủ bằng những hoạt động của trí tưởng tượng, sự liên tưởng
và thói quen của tâm trí.
[8] George Berkeley là nhà triết học mà
Hume nhắc đến ở đây. Hume đặc biệt tán thành luận điểm nổi tiếng của Berkeley rằng
không tồn tại những ý niệm trừu tượng thuần túy; mọi ý niệm trong não thức đều
là những ý niệm cá thể. Điều khiến một ý niệm trở nên tổng quát không phải bản
thân ý niệm ấy, mà là việc nó được gắn với một từ ngữ có khả năng được dùng cho
nhiều trường hợp tương tự khác.
[9] Ở đây Hume bổ sung một điểm quan trọng cho
học thuyết về sự tương đồng. Ông cho rằng hai ý niệm đơn giản vẫn có thể giống
nhau ở một mức độ nào đó dù không hề chia sẻ một thành phần chung có thể tách
riêng được. Chẳng hạn, màu xanh lam và màu xanh lục giống nhau hơn màu xanh lam
và màu đỏ, mặc dù mỗi màu là một ý niệm đơn giản và không thể phân tích thành
những yếu tố nhỏ hơn. Từ đó Hume kết luận rằng sự tương đồng không nhất thiết
phải dựa trên một bộ phận chung tách biệt, mà có thể được nhận ra trực tiếp qua
sự so sánh tổng thể giữa những ý niệm. Điều tương tự cũng đúng với những mức độ
khác nhau của cùng một phẩm chất: chúng giống nhau, nhưng mức độ ấy không thể
tách rời khỏi chính phẩm chất mà nó là mức độ của nó.
