Tuesday, June 16, 2026

Hume – Một Chuyên Luận Về Bản Chất Con Người (02)

 Một Chuyên Luận Về Bản Chất Con Người

(A Treatise of Human Nature)

David Hume

 

( ← ... tiếp theo )

 

 

 

 

  

Một Chuyên Luận Về Bản Chất Con Người

 

DẪN NHẬP

 

[Trong phần Dẫn nhập của A Treatise of Human Nature, Hume không bắt đầu bằng việc trình bày một học thuyết đã hoàn chỉnh, mà bằng cách phác họa lại toàn bộ hướng đi của triết học như một dự án cần được tái thiết. Có thể đọc toàn bộ lập luận của ông như một chuỗi bốn bước liên kết chặt chẽ với nhau, tạo thành khung nền cho toàn bộ công trình sau đó.

Trước hết, Hume khởi đi từ việc phê phán tình trạng bất định kéo dài của triết học truyền thống. Ông nhận thấy rằng những hệ thống triết học trước đó, dù phong phú về lý thuyết, lại thiếu sự ổn định và đồng thuận: những lập luận mâu thuẫn lẫn nhau, những tranh luận không có điểm dừng, và không có một nền tảng chung đủ vững để làm chuẩn mực cho tri thức. Triết học, vì vậy, không đạt được tính chắc chắn như những khoa học khác, mà rơi vào trạng thái dao động giữa giả thuyết và phản biện.


Từ sự phê phán này, Hume chuyển sang một bước quan trọng khác: thay vì tiếp tục tìm những nguyên lý nằm ngoài con người, ông đưa con người vào trung tâm của toàn bộ việc hiểu biết. Theo ông, mọi khoa học—dù nói về tự nhiên, đạo đức hay tôn giáo—cuối cùng đều đi qua khả năng của con người trong việc cảm nhận, suy nghĩ và đưa ra phán đoán. Vì vậy, trước khi bàn về thế giới, cần phải xem xét cách con người thực sự tiếp cận và nhận thức thế giới.

Con người, khi được nhìn như người đang nhận thức và suy nghĩ, trở thành điểm xuất phát không thể bỏ qua của mọi tri thức. Nói cách khác, thay vì coi con người như một phần của thế giới cần giải thích, Hume trước hết xem con người như nơi mọi sự giải thích bắt đầu. Chính từ những hoạt động đơn giản như cảm nhận, ghi nhớ, liên tưởng và tin tưởng, toàn bộ hệ thống tri thức của chúng ta được hình thành.

Từ đó, Hume thực hiện bước thứ ba: chuyển phương pháp triết học sang mô hình thực nghiệm, lấy cảm hứng từ thành công của khoa học tự nhiên, đặc biệt là Isaac Newton. Thay vì suy đoán về bản chất tối hậu của sự vật, ông đề xuất một cách tiếp cận dựa trên quan sát, kinh nghiệm và quy nạp. Giống như Newton đã tìm ra những định luật chi phối thế giới vật lý, triết học cũng cần tìm ra những quy luật chi phối hoạt động của tâm trí con người, dựa trên dữ liệu kinh nghiệm chứ không phải giả định siêu hình.

Cuối cùng, từ ba bước trên, Hume đi đến kết luận mang tính định hướng: thay vì tiếp tục truy tìm những bản thể siêu hình như “hồn người”, “bản chất tuyệt đối” hay “nguyên lý tối hậu của hiện hữu”, triết học nên tập trung xây dựng một khoa học về tâm trí con người. Đối tượng của triết học không còn là cái hiện hữu độc lập ngoài kinh nghiệm, mà là cách con người cảm nhận, liên tưởng, tin tưởng và suy luận trong kinh nghiệm. Chính sự chuyển hướng này biến triết học thành một “khoa học về con người”, trong đó việc hiểu cấu trúc của nhận thức trở thành điều kiện nền tảng cho mọi tri thức khác.

Nhìn toàn bộ bốn bước này như một chỉnh thể, có thể thấy Hume đang không chỉ đưa ra một học thuyết riêng lẻ, mà đang thiết kế lại toàn bộ bản đồ triết học: từ một ngành truy vấn bản thể sang một khoa học khảo sát chính chủ thể nhận thức.]

 

 

T 0.1, SBN xiii

Không có gì thường thấy và cũng không có gì tự nhiên hơn việc những người cho rằng mình đã khám phá ra một điều gì mới cho thế giới trong triết học và những khoa học lại tìm cách ca ngợi hệ thống của chính mình bằng cách hạ thấp tất cả những hệ thống mà người khác đã đưa ra trước đó. Thật vậy, nếu họ chỉ dừng lại ở việc than phiền về tình trạng thiếu hiểu biết mà chúng ta vẫn còn mắc phải trong những vấn đề quan trọng nhất từng được đặt ra trước sự phán đoán của lý trí con người, thì hầu như bất kỳ ai có hiểu biết về những khoa học cũng sẽ dễ dàng đồng ý với họ. Người có năng lực phán đoán và học vấn không khó nhận ra nền móng yếu ớt ngay cả của những hệ thống từng nhận được sự tín nhiệm lớn nhất và từng đẩy những tham vọng của mình lên mức cao nhất về sự chính xác và chiều sâu của lập luận. Những triết gia ấy tiếp nhận những nguyên lý chỉ vì tin tưởng; họ rút ra những hệ quả từ những nguyên lý ấy một cách vụng về; những phần trong hệ thống của họ thiếu sự gắn kết với nhau; còn toàn bộ hệ thống lại thiếu bằng chứng xác đáng. Chúng ta bắt gặp những khuyết điểm ấy ở khắp nơi trong những hệ thống của những triết gia lỗi lạc nhất, và chính chúng dường như đã làm cho triết học mang tiếng xấu.

 

T 0.2, SBN xiii–xiv

Người ta cũng không cần đến một tri thức quá sâu xa mới nhận ra tình trạng chưa hoàn thiện hiện nay của những khoa học. Ngay cả đám đông bên ngoài cũng có thể phán đoán từ những tiếng ồn ào và những tranh luận mà họ nghe thấy rằng bên trong đang có điều gì đó không ổn. Không có vấn đề nào lại không trở thành đối tượng tranh luận, và không có lĩnh vực nào mà những người có học lại không bất đồng ý kiến với nhau. Ngay cả những câu hỏi tầm thường nhất cũng không thoát khỏi những tranh luận của chúng ta; còn trong những vấn đề hệ trọng nhất, chúng ta lại không thể đưa ra bất kỳ quyết định chắc chắn nào. Những tranh luận ngày càng chồng chất như thể mọi thứ đều không chắc chắn; nhưng người ta lại tiến hành những tranh luận ấy với sự hăng hái lớn nhất như thể mọi thứ đều chắc chắn. Giữa toàn bộ cảnh náo động ấy, lý trí không giành được chiến thắng; tài hùng biện mới là kẻ chiến thắng. Không ai cần tuyệt vọng về việc lôi kéo người khác theo một giả thuyết kỳ quặc nhất, nếu người ấy có đủ tài để trình bày giả thuyết đó dưới những màu sắc thuận lợi. Những người cầm giáo và cầm kiếm không mang lại chiến thắng; những người thổi kèn, đánh trống và chơi nhạc trong đội quân mới mang lại chiến thắng ấy.

 

T 0.3, SBN xiv–xv

Theo tôi, chính từ đó nảy sinh thành kiến phổ biến chống lại mọi kiểu lập luận siêu hình học, ngay cả trong số những người tự xem mình là học giả và biết đánh giá đúng giá trị của mọi ngành học khác. Khi nói đến những lập luận siêu hình học, họ không chỉ muốn nói đến những lập luận thuộc một ngành khoa học riêng biệt nào đó, mà muốn nói đến mọi kiểu lý luận khó hiểu và đòi hỏi sự chú ý mới có thể lĩnh hội được. Chúng ta đã quá nhiều lần uổng công trong những cuộc tìm tòi như thế nên thường bác bỏ chúng ngay lập tức và quyết định rằng nếu chúng ta mãi mãi vẫn phải trở thành nạn nhân của những sai lầm và những ảo tưởng thì ít nhất những sai lầm và những ảo tưởng ấy cũng nên tự nhiên và thú vị. Thật vậy, chỉ có một thái độ hoài nghi cực đoan đi cùng với một mức độ lười biếng đáng kể mới có thể biện minh cho sự ác cảm ấy đối với siêu hình học [1]. Bởi nếu chân lý thực sự nằm trong tầm với của khả năng con người thì chắc chắn nó phải nằm rất sâu và rất khó thấy; và việc hy vọng đạt đến chân lý ấy mà không phải bỏ công sức, trong khi những thiên tài vĩ đại nhất đã thất bại dù đã bỏ ra công sức lớn nhất, rõ ràng là một sự tự phụ và kiêu ngạo quá mức. Tôi không hề nhận cho triết học mà tôi sắp trình bày một lợi thế như thế; trái lại, nếu triết học ấy quá dễ dàng và quá hiển nhiên thì chính điều đó sẽ tạo nên một lý do mạnh để nghi ngờ nó.

 

T 0.4, SBN xv

Rõ ràng mọi khoa học đều có mối liên hệ, nhiều hay ít, với bản tính con người; và dù bất kỳ ngành nào có vẻ đi xa khỏi bản tính con người đến đâu thì cuối cùng nó cũng quay trở lại với bản tính con người bằng con đường này hay con đường khác. Ngay cả toán học, triết học tự nhiên [2] và tôn giáo tự nhiên [3] cũng phần nào phụ thuộc vào khoa học về con người; [4] bởi chính con người nhận biết chúng và chính con người dùng những năng lực cùng những khả năng của mình để phán đoán chúng. Chúng ta không thể biết mình có thể tạo ra những thay đổi và những cải tiến nào trong những khoa học ấy nếu chúng ta hiểu thật tường tận phạm vi và sức mạnh của khả năng nhận thức của con người, đồng thời giải thích được bản tính của những ý niệm mà chúng ta sử dụng và những hoạt động mà chúng ta thực hiện trong quá trình suy luận. Chúng ta càng có nhiều lý do để hy vọng vào những cải tiến ấy trong tôn giáo tự nhiên, vì ngành học này không chỉ dạy chúng ta về bản tính của những quyền năng cao hơn mà còn mở rộng sự quan tâm của mình đến thái độ của những quyền năng ấy đối với chúng ta và đến những bổn phận của chúng ta đối với chúng. Vì thế, chính chúng ta không chỉ là những hữu thể đang suy luận mà còn là một trong những đối tượng mà chúng ta suy luận về.

 

T 0.5, SBN xv–xvi

Nếu toán học, triết học tự nhiên và tôn giáo tự nhiên phụ thuộc nhiều đến thế vào tri thức về con người, thì chúng ta còn có thể mong đợi điều gì ở những khoa học khác vốn gắn bó với bản tính con người một cách gần gũi hơn nữa? Lôgíc chỉ có một mục đích duy nhất: giải thích những nguyên lý và những hoạt động của năng lực suy luận của chúng ta cùng bản tính của những ý niệm của chúng ta. Đạo đức học và phê bình học [5] xem xét những thị hiếu và những cảm thức của chúng ta. Chính trị học xem xét con người trong sự liên kết xã hội và trong sự phụ thuộc lẫn nhau. Bốn khoa học này — lôgíc, đạo đức học, phê bình học và chính trị học — bao gồm gần như mọi điều mà chúng ta cần biết hoặc mọi điều có thể góp phần làm phong phú và hoàn thiện tâm trí con người.

 

T 0.6, SBN xvi

Vì thế, đây là phương cách duy nhất cho phép chúng ta hy vọng thành công trong những nghiên cứu triết học của mình. Chúng ta phải từ bỏ lối tiến hành chậm chạp và kéo dài mà chúng ta đã theo đuổi cho đến nay. Thay vì thỉnh thoảng chiếm lấy một lâu đài hay một ngôi làng ở vùng biên giới, chúng ta phải tiến thẳng đến thủ đô, tức trung tâm của những khoa học ấy: chính bản tính con người. [6] Một khi chúng ta làm chủ được lĩnh vực đó, chúng ta có thể hy vọng giành được chiến thắng dễ dàng ở mọi nơi khác. Từ vị trí ấy, chúng ta có thể mở rộng những chinh phục của mình sang tất cả những khoa học liên quan trực tiếp hơn đến đời sống con người; sau đó chúng ta có thể thong thả khám phá đầy đủ hơn những ngành học chỉ là đối tượng của tính hiếu kỳ thuần túy. Không có vấn đề quan trọng nào mà khoa học về con người không chứa đựng lời giải của nó; và cũng không có vấn đề nào mà chúng ta có thể giải quyết một cách chắc chắn trước khi hiểu được khoa học ấy. Vì vậy, khi cố gắng giải thích những nguyên lý của bản tính con người, trên thực tế chúng tôi đang đề xuất một hệ thống hoàn chỉnh của những khoa học, được xây dựng trên một nền móng gần như hoàn toàn mới và cũng là nền móng duy nhất có thể đem lại sự vững chắc cho chúng.

 

T 0.7, SBN xvi–xvii

Khoa học về con người là nền móng vững chắc duy nhất của những khoa học khác; vì thế, nếu chúng ta muốn đặt một nền móng vững chắc cho chính khoa học ấy, chúng ta cũng chỉ có thể dựa vào kinh nghiệm và quan sát. Khi suy ngẫm về vấn đề này, tôi không thấy có gì đáng ngạc nhiên khi triết học thực nghiệm được áp dụng vào những đối tượng đạo đức muộn hơn việc áp dụng nó vào tự nhiên hơn cả một thế kỷ. Thực tế cho thấy giữa sự ra đời của hai ngành học ấy cũng hiện hữu gần như cùng một khoảng cách thời gian. Nếu tính từ Thales đến Socrates, chúng ta sẽ thấy khoảng thời gian ấy gần tương đương với khoảng thời gian từ Bacon đến một số triết gia gần đây ở Anh. Những triết gia này đã bắt đầu đặt khoa học về con người trên một nền móng mới; họ đã thu hút sự chú ý của công chúng và khơi dậy sự tò mò của công chúng đối với lĩnh vực ấy. Điều đó cho thấy một điều rất đúng: những dân tộc khác có thể cạnh tranh với chúng ta trong thi ca và vượt chúng ta trong một số nghệ thuật dễ chịu khác, nhưng những tiến bộ trong lý trí và triết học chỉ có thể nảy sinh từ một vùng đất có lòng khoan dung và tự do.[7]

 

T 0.8, SBN xvii

Chúng ta cũng không nên nghĩ rằng sự cải tiến này trong khoa học về con người sẽ đem lại ít vinh dự hơn cho quê hương mình so với cuộc cải tiến trước đó trong triết học tự nhiên. Trái lại, chúng ta nên xem đó là một vinh quang lớn hơn, vì khoa học này quan trọng hơn và vì nó cần đến một cuộc cải tổ như thế hơn nhiều. Đối với tôi, điều này dường như hết sức rõ ràng: chúng ta không biết gì về bản thể của tâm trí, cũng như chúng ta không biết gì về bản thể của những vật thể bên ngoài. Vì thế, chúng ta không thể hình thành bất kỳ quan niệm nào về những năng lực và những phẩm tính của tâm trí ngoài việc dựa vào những thực nghiệm cẩn thận và chính xác cùng việc quan sát những hiệu quả riêng biệt nảy sinh từ những hoàn cảnh và những trạng thái khác nhau của nó. Dù chúng ta phải cố gắng làm cho mọi nguyên lý của mình mang tính phổ quát đến mức có thể bằng cách truy nguyên những thực nghiệm đến tận cùng, đồng thời giải thích mọi hiện tượng từ những nguyên nhân đơn giản nhất và ít nhất, chúng ta vẫn không thể vượt ra ngoài kinh nghiệm. Vì vậy, chúng ta phải bác bỏ ngay từ đầu mọi giả thuyết tự nhận đã khám phá được những phẩm tính nguyên thủy tối hậu của bản tính con người, bởi những giả thuyết như thế chỉ là những điều viển vông và ngạo mạn.

 

T 0.9, SBN xvii–xviii

Tôi không nghĩ rằng một triết gia dốc toàn bộ nỗ lực của mình vào việc giải thích những nguyên lý tối hậu của hồn người sẽ cho thấy mình là một bậc thầy lớn trong chính khoa học về con người mà ông ta muốn giải thích. Tôi cũng không nghĩ rằng ông ta hiểu rõ điều gì thực sự làm cho tâm trí con người thỏa mãn. Không có gì chắc chắn hơn việc sự tuyệt vọng tác động lên chúng ta gần giống như sự thỏa mãn; và ngay khi chúng ta nhận ra rằng mình không thể thỏa mãn một ham muốn nào đó, chính ham muốn ấy cũng biến mất. Khi nhận ra mình đã đi đến giới hạn cuối cùng của lý trí con người, chúng ta bằng lòng dừng lại ở đó. Chúng ta ý thức rất rõ về sự thiếu hiểu biết của mình và nhận thấy rằng chúng ta không thể đưa ra bất kỳ lý do nào cho những nguyên lý phổ quát nhất và tinh tế nhất ngoài kinh nghiệm về tính hiện thực của chúng. Đó cũng chính là kiểu lý do mà người bình thường sử dụng; người ta không cần học hành mới có thể nhận ra nó, ngay cả khi đối diện với những hiện tượng đặc biệt và phi thường nhất. Sự bất khả của việc tiến xa hơn đủ để làm người đọc thỏa mãn; đồng thời, người viết cũng có thể tìm thấy một sự thỏa mãn tinh tế hơn khi thẳng thắn thừa nhận sự thiếu hiểu biết của mình và thận trọng tránh sai lầm mà rất nhiều người đã mắc phải: họ áp đặt những phỏng đoán và những giả thuyết của mình lên thế giới như thể đó là những nguyên lý chắc chắn nhất. Khi người dạy và người học cùng đạt được sự bằng lòng và sự thỏa mãn như thế, tôi không biết triết học còn có thể đòi hỏi điều gì hơn nữa.

 

T 0.10, SBN xviii–xix

Nhưng nếu ai đó xem việc chúng ta không thể giải thích những nguyên lý tối hậu là một khuyết điểm của khoa học về con người, thì tôi dám khẳng định rằng khuyết điểm ấy cũng xuất hiện trong mọi khoa học và mọi nghệ thuật mà con người theo đuổi. Điều đó đúng bất kể chúng ta nói đến những ngành học được giảng dạy trong những trường phái triết học hay những nghề nghiệp được thực hành trong những xưởng thủ công bình thường nhất. Không một ngành nào có thể vượt ra ngoài kinh nghiệm; cũng không một ngành nào có thể thiết lập những nguyên lý không dựa trên thẩm quyền của kinh nghiệm.

Tuy nhiên, triết học đạo đức phải chịu một bất lợi riêng mà triết học tự nhiên không gặp phải. Khi thu thập những thực nghiệm trong triết học đạo đức, chúng ta không thể chủ động tạo ra chúng từ trước theo ý muốn của mình để giải quyết từng khó khăn cụ thể. Khi tôi muốn biết tác động của một vật lên một vật khác trong một hoàn cảnh nhất định, tôi chỉ cần đặt chúng vào hoàn cảnh ấy rồi quan sát kết quả. Nhưng nếu tôi muốn làm sáng tỏ một nghi vấn trong triết học đạo đức bằng cách tự đặt mình vào chính hoàn cảnh mà tôi đang xem xét, thì sự suy tính và chuẩn bị trước ấy sẽ làm xáo trộn hoạt động tự nhiên của những nguyên lý trong tôi đến mức tôi không thể rút ra một kết luận đúng đắn nào từ hiện tượng đó.[8]

Vì vậy, trong khoa học này, chúng ta phải nhặt nhạnh những thực nghiệm của mình từ việc quan sát cẩn thận đời sống con người. Chúng ta phải tiếp nhận những thực nghiệm ấy như chúng xuất hiện trong dòng chảy thông thường của thế giới: trong cách con người ứng xử với nhau, trong công việc của họ và trong những thú vui của họ. Khi chúng ta thu thập và so sánh những thực nghiệm như thế một cách sáng suốt, chúng ta có thể hy vọng xây dựng trên nền tảng ấy một khoa học không kém phần chắc chắn hơn bất kỳ khoa học nào khác, nhưng lại vượt xa tất cả những khoa học khác về mặt hữu ích đối với sự hiểu biết của con người.

 

T 0.7n1, SBN xvii

Chú thích

  1. Locke, Shaftesbury, Mandeville, Hutcheson, Butler, v.v. là những tác giả mà Hume xem như những người đã góp phần đặt nền móng mới cho khoa học về con người.

 

 

 

 

Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ hai

(Jun/2026)

(Còn tiếp...  )

 

http://chuyendaudau.blogspot.com/

http://chuyendaudau.wordpress.com

 



[1] Siêu hình học (metaphysics) trong đoạn này không nên được hiểu đơn thuần theo nghĩa phổ biến mà Hume đang phê bình. Theo ông, nhiều người đương thời dùng từ này để chỉ mọi kiểu lập luận quá trừu tượng, khó hiểu và đòi hỏi nhiều chú ý mới có thể theo dõi được. Tuy nhiên, bản thân Hume không xem siêu hình học chỉ là những suy luận mơ hồ hay vô ích. Đối với ông, siêu hình học thực sự là sự khảo sát những vấn đề nền tảng nhất liên quan đến nhận thức và thực tại, chẳng hạn như bản tính của nguyên nhân, của bản thân, của hồn người, của vật chất, của Gót, cũng như giới hạn của tri thức con người. Điều Hume phản đối không phải là bản thân siêu hình học, mà là lối siêu hình học chỉ dựa vào suy đoán và giả thuyết. Mục tiêu của ông là cải tổ lĩnh vực này bằng cách đặt nó trên nền tảng của kinh nghiệm và quan sát. Nói cách khác, thay vì cố gắng khám phá trực tiếp bản chất tối hậu của thế giới hay của hồn người, Hume cho rằng trước hết chúng ta phải khảo sát cách não thức con người thực sự vận hành, bởi mọi tri thức về thế giới cuối cùng đều phải đi qua những hoạt động nhận thức của con người. Theo nghĩa đó, toàn bộ dự án của Chuyên Luận Về Bản Chất Con Người có thể được xem như một nỗ lực biến siêu hình học thành một khoa học thực nghiệm về não thức con người

[2] Triết học tự nhiên (natural philosophy) là từ ngữ mà Hume và những người cùng thời ông dùng để chỉ lĩnh vực ngày nay chúng ta gọi là khoa học tự nhiên, đặc biệt là vật lý học theo nghĩa rộng. Vào thế kỷ XVIII, ranh giới giữa “triết học” và “khoa học” vẫn chưa được phân định rõ như hiện nay; vì thế những nhân vật như Isaac Newton vẫn được gọi là “nhà triết học tự nhiên” (natural philosopher), chứ chưa phải là “nhà khoa học” theo nghĩa hiện đại của từ này. Triết học tự nhiên nghiên cứu thế giới tự nhiên và những quy luật chi phối nó, bao gồm những hiện tượng như chuyển động, lực, ánh sáng, thiên văn, vật chất và trật tự của vũ trụ nói chung. Khi nhắc đến triết học tự nhiên trong phần Dẫn nhập, Hume chủ yếu nghĩ đến mô hình khoa học của Newton, tức một phương pháp dựa trên quan sát, thực nghiệm và việc tìm kiếm những quy luật phổ quát giải thích những hiện tượng tự nhiên. Vì vậy, trong ngữ cảnh của Hume, “triết học tự nhiên” có thể được hiểu gần tương đương với vật lý học và những khoa học tự nhiên hiện đại, dù phạm vi của nó rộng hơn và vẫn mang nhiều đặc điểm của truyền thống triết học cổ điển.

[3] Trong bối cảnh triết học thế kỷ XVIII, “tôn giáo tự nhiên” (natural religion) được hiểu là nỗ lực sử dụng thuần lý trí tự nhiên để suy luận về Gót và trật tự tối hậu của thế giới, mà không dựa vào sự vén lên cho thấy bí nhiệm, kinh điển hay bất kỳ hình thức uy tín tôn giáo lịch sử nào. Đây là một hình thức “tôn giáo của lý trí”, trong đó những mệnh đề về gót học không được tiếp nhận như chân lý được ban truyền, mà phải được chứng minh hoặc ít nhất biện minh bằng những nguyên tắc suy luận phổ quát mà mọi con người có thể tiếp cận.

Trong phạm vi này, những câu hỏi trung tâm thường xoay quanh khả năng hiện hữu của Gót, bản chất của Ngài, cũng như việc liệu thế giới có thể được hiểu như kết quả của một thiết kế có chủ đích hay không. Nói cách khác, tôn giáo tự nhiên cố gắng chuyển toàn bộ nội dung gót học sang bình diện của suy luận triết học: từ “đức tin được sự vén lên cho thấy bí nhiệm” sang “kết luận được lý trí chứng minh”. những lập luận điển hình bao gồm suy luận từ trật tự của tự nhiên đến một trí tuệ thiết kế, hoặc từ tính phức tạp của thế giới đến sự hiện hữu của một nguyên nhân tối hậu có ý hướng.

Điểm quan trọng trong cách hiểu của Hume là phạm vi loại trừ mà tôn giáo tự nhiên tự đặt ra: nó không dựa vào Kinh Thánh như một nguồn thẩm quyền, không viện dẫn những phép lạ như bằng chứng xác thực, và cũng không dựa trên truyền thống tôn giáo như một cơ sở hợp thức hóa chân lý. Tất cả những yếu tố này bị loại ra khỏi phạm vi lập luận, bởi chúng thuộc về sự vén lên cho thấy bí nhiệm hoặc lịch sử tôn giáo, chứ không thuộc về lý trí tự nhiên thuần túy. Chính vì vậy, tôn giáo tự nhiên trở thành một dạng “gót học duy lý thuần túy”, nơi mọi khẳng định về Gót phải đứng vững mà không cần đến bất kỳ nền tảng siêu nhiên nào.

Tuy nhiên, trong hệ thống của Hume, chính dự án này trở thành đối tượng khảo sát và chất vấn nghiêm ngặt. Trong Dialogues Concerning Natural Religion, ông không trực tiếp phủ nhận hay khẳng định Gót theo cách giáo điều, mà phân tích cấu trúc lập luận của tôn giáo tự nhiên để xem xét mức độ hợp lệ của nó. Trọng tâm của ông không phải là bác bỏ tôn giáo như một hiện tượng tâm lý hay xã hội, mà là kiểm tra xem liệu lý trí con người, khi bị giới hạn trong kinh nghiệm, có thực sự có khả năng đi từ trật tự của thế giới đến kết luận về một thiết kế siêu việt hay không.

Do đó, “tôn giáo tự nhiên” trong Hume vừa là một đối tượng lịch sử của gót học duy lý thời ông, vừa là một vấn đề nhận thức luận sâu hơn: nó đặt ra câu hỏi về giới hạn của suy luận con người khi vượt khỏi kinh nghiệm, và về việc liệu khái niệm “Gót” có thực sự là một kết quả hợp lệ của lý trí thuần túy hay không.

Từ đó, ý nghĩa triết học sâu hơn của khái niệm này nằm ở việc nó đảo ngược trật tự truyền thống: thay vì bắt đầu từ thế giới khách quan rồi mới nói đến con người, Hume đặt con người—với tư cách chủ thể nhận thức—làm trung tâm tuyệt đối của toàn bộ cấu trúc tri thức.

[4] Science of Man (Khoa học về con người) :Trong Hume, “khoa học về con người” (science of man) hay “bản tính con người” (human nature) được hiểu như nền tảng chung của toàn bộ tri thức. Đây không phải là một ngành chuyên biệt nằm cạnh những khoa học khác, mà là lớp nền sâu hơn, nơi mọi hoạt động nhận thức đều phải quy chiếu về. Đối tượng của nó là những nguyên lý vận hành của não thức con người, tức cách con người thực sự biết, cảm, suy nghĩ và phán đoán.

Nội dung của lĩnh vực này bao gồm toàn bộ đời sống tinh thần: từ nhận thức (cognition), tức cách ta hình thành và tổ chức kinh nghiệm; đến cảm xúc (passions), tức những động lực và trạng thái tình cảm chi phối hành vi; đến ý niệm (ideas), tức những hình ảnh tinh thần được tạo ra từ kinh nghiệm; và cuối cùng là hành vi cùng những phán đoán, tức cách những cấu trúc não thức đó biểu hiện thành lựa chọn và đánh giá trong đời sống thực tế.Về mặt hệ thống, Hume coi khoa học về con người là “nền móng duy nhất” của mọi khoa học khác, bởi không có lĩnh vực tri thức nào có thể hiện hữu mà không dựa trên chủ thể nhận thức là con người. Dù là toán học, vật lý hay tôn giáo, tất cả đều được hình thành qua những năng lực tinh thần giống nhau. Vì vậy, nghiên cứu con người không phải là một ngành bên lề, mà là điều kiện tiên quyết để hiểu bất kỳ tri thức nào về thế giới.

[5] Trong bối cảnh triết học thế kỷ XVIII, “phê bình học” (criticism) không được hiểu đơn giản như hoạt động đánh giá đúng–sai hay khen–chê tác phẩm như cách dùng hiện đại, mà là một ngành nghiên cứu có tính hệ thống về thị hiếu thẩm mỹ và cảm thức (sentiment) của con người. Nó tìm cách khảo sát những cơ chế tinh vi bên trong đời sống tinh thần khiến con người kinh nghiệm một đối tượng như “đẹp”, “xấu”, “cao nhã” hay “thô kệch”, thay vì chỉ mô tả hay phân loại tác phẩm nghệ thuật.

Đối tượng của phê bình học, vì vậy, bao trùm toàn bộ lĩnh vực nghệ thuật và biểu hiện thẩm mỹ: cái đẹp và cái xấu như những phán đoán cảm thức; thơ ca như hình thức tổ chức ngôn ngữ giàu nhạc tính và gợi cảm; hội họa như sự biểu đạt trực quan của hình ảnh và bố cục; văn chương như nghệ thuật kể và cấu trúc ý nghĩa; và rộng hơn là mọi hình thức nghệ thuật có khả năng kích thích khoái cảm thẩm mỹ. Điểm chung của tất cả những đối tượng này không nằm ở nội dung tri thức mà ở khả năng tác động lên cảm giác và phản ứng tinh thần của con người.

Câu hỏi trung tâm của phê bình học, trong truyền thống này, không phải là “tác phẩm này đúng hay sai về mặt logic”, mà là: vì sao con người lại cảm thấy một điều gì đó là đẹp? Nói cách khác, trọng tâm của nó nằm ở việc giải thích nguồn gốc và cơ chế của phán đoán thẩm mỹ, chứ không phải thiết lập tiêu chuẩn khách quan tuyệt đối về nghệ thuật. Cái đẹp, theo cách tiếp cận này, không phải là một thuộc tính nằm sẵn trong sự vật, mà là một hiện tượng phát sinh từ tương tác giữa đối tượng và năng lực cảm thụ của chủ thể.

Trong hệ thống của Hume, điều này dẫn đến một lập trường đặc trưng: phê bình học thuộc về bình diện cảm thức (sentiment) chứ không phải lý trí (reason). những phán đoán thẩm mỹ không được quyết định bởi suy luận logic hay chứng minh khách quan, mà bởi những phản ứng tinh tế của cảm giác và tâm lý con người trước cấu trúc của đối tượng nghệ thuật. Vì vậy, thay vì tìm kiếm những định nghĩa cứng nhắc về cái đẹp, Hume hướng đến việc mô tả những quy luật tâm lý phổ quát chi phối thị hiếu.

Do đó, phê bình học trong nghĩa Hume cũng có mối liên hệ gần gũi với đạo đức học, không phải về nội dung quy phạm, mà về phương diện tâm lý học. Giống như phán đoán thẩm mỹ, phán đoán đạo đức cũng không chủ yếu dựa trên suy luận thuần lý, mà dựa trên cảm xúc, sự đồng cảm và những phản ứng tinh thần tự nhiên của con người. Cả hai lĩnh vực đều thuộc về một nền tảng chung: khoa học về cảm thức con người, nơi triết học không còn truy tìm bản chất siêu hình, mà khảo sát cách con người thực sự cảm nhận, đánh giá và trải nghiệm thế giới.

[6] Trong hệ thống của Hume, “nguyên lý trung tâm con người” (principle of human-centered science) không chỉ là một nhận định mang tính phương pháp luận, mà là một chuyển dịch nền tảng trong toàn bộ cấu trúc triết học: nó tái định vị đối tượng của tri thức từ thế giới “như nó tự thân” sang thế giới “như nó xuất hiện đối với con người”. Đây là một điểm xoay mang tính kiến trúc, vì nó làm thay đổi cả hướng đi của triết học: từ truy vấn bản thể học (ontology) sang phân tích điều kiện của tri thức học (epistemology).

Luận đề cốt lõi của Hume có thể được diễn đạt một cách chính xác hơn như sau: mọi khoa học, dù là tự nhiên hay tinh thần, đều chỉ có thể được hiểu qua việc quy chiếu về con người như chủ thể nhận thức. Điều này không có nghĩa là phủ nhận thế giới khách quan, mà là nhấn mạnh một giới hạn mang tính cấu trúc: mọi hình thức tri thức về thế giới đều phải đi qua những năng lực của não thức con người—cảm giác, ký ức, tưởng tượng, thói quen và suy luận. Vì vậy, con người không chỉ là một đối tượng trong thế giới, mà là điều kiện trung gian bắt buộc của mọi khả thể tri thức về thế giới.

Từ nguyên lý này, Hume rút ra một hệ quả quan trọng: không thể hiểu thế giới nếu không hiểu cách con người hiểu thế giới. Nói cách khác, trước khi đặt câu hỏi “thế giới là gì”, triết học phải trả lời câu hỏi “chúng ta đang biết thế giới bằng cách nào”. Điều này làm thay đổi hoàn toàn cấu trúc truyền thống của triết học: thay vì bắt đầu từ bản thể học —tức là nghiên cứu về cái “có thật” như nó hiện hữu độc lập—Hume buộc triết học phải đi qua tri thức học, tức nghiên cứu về điều kiện, giới hạn và cơ chế của tri thức.

Điểm đặc biệt trong lập trường này là nó không chỉ mang tính ưu tiên phương pháp, mà mang tính điều kiện tiên quyết: mọi khẳng định về thế giới, dù là vật lý, đạo đức hay tôn giáo, đều chỉ có ý nghĩa nếu ta hiểu cách chúng được hình thành trong não thức con người. Ví dụ, khái niệm nhân quả không phải là một cấu trúc được quan sát trực tiếp trong thế giới, mà là một nguyên lý được hình thành từ sự lặp lại của kinh nghiệm và thói quen tâm lý. Tương tự, những phán đoán đạo đức không bắt nguồn từ tính chất khách quan của hành vi, mà từ phản ứng cảm thức (sentiment) của chủ thể.

Trong bối cảnh triết học đương thời, lập trường này tạo ra một sự đảo chiều đáng kể. Trong truyền thống học thuật kinh viện, tri thức thường được hiểu như sự phản ánh trật tự bản thể có sẵn trong thế giới, và nhiệm vụ của triết học là khám phá cấu trúc “thực tại tự thân”. Trong chủ nghĩa duy lý của Descartes, dù chủ thể tư duy được đặt ở trung tâm, mục tiêu cuối cùng vẫn là đạt đến những chân lý chắc chắn về bản chất của hiện hữu. Hume phá vỡ cả hai hướng đi này bằng cách khẳng định rằng mọi sự chắc chắn mà ta có được đều chỉ có ý nghĩa trong phạm vi kinh nghiệm của con người, chứ không vượt ra ngoài cấu trúc của nhận thức.

Điều này khiến triết học của Hume mang tính “giới hạn luận” (limitation-based philosophy): triết học không còn là khoa học về cái tuyệt đối, mà trở thành khoa học về cái có thể biết được bởi con người hữu hạn. Do đó, thay vì hỏi “thế giới có cấu trúc gì?”, Hume buộc triết học phải hỏi “não thức con người cấu trúc kinh nghiệm như thế nào để có thể tạo ra khái niệm về thế giới?”.

Chính ở đây, ý nghĩa sâu nhất của nguyên lý trung tâm con người được bộc lộ: nó chuyển toàn bộ trọng tâm triết học từ ontology sang epistemology, từ việc nghiên cứu “cái hiện hữu” sang việc nghiên cứu “cách cái hiện hữu được biết đến”. Đây không chỉ là một thay đổi về đối tượng, mà là một thay đổi về cấp độ nền tảng: tri thức không còn được xây dựng trên giả định về thế giới độc lập, mà trên phân tích những điều kiện tâm lý và kinh nghiệm của chủ thể nhận thức.Từ đó, toàn bộ dự án của Hume—từ lý thuyết ấn tượng và ý niệm, cho đến phân tích nhân quả, đạo đức và tôn giáo—đều có thể được hiểu như những triển khai cụ thể của nguyên lý này. Ông không xây dựng một siêu hình học về thế giới, mà xây dựng một “giải phẫu học của não thức con người”, trong đó mọi khái niệm triết học đều được truy nguyên về cách chúng phát sinh trong kinh nghiệm. Đây chính là lý do vì sao triết học của Hume có thể được xem như một trong những bước ngoặt quyết định đưa triết học phương Tây từ thời kỳ bản thể luận sang thời kỳ phê phán nhận thức.

[7] Trong hệ thống của Hume, “triết học thực nghiệm” (experimental philosophy) không chỉ là một phương pháp nghiên cứu, mà là một tuyên bố mang tính cải cách toàn bộ bản chất của triết học. Nó đánh dấu sự chuyển dịch từ kiểu triết học suy đoán (speculative philosophy) – vốn dựa trên những nguyên lý tiên nghiệm, bản thể học và lập luận thuần lý – sang một kiểu triết học coi kinh nghiệm và quan sát là nền tảng duy nhất hợp thức của tri thức. Vì vậy, đây không đơn thuần là một “phương pháp”, mà là một sự tái định nghĩa triết học như một khoa học theo mô hình tự nhiên học.

Về mặt nội dung, triết học thực nghiệm vận hành theo một chu trình tương đối rõ: bắt đầu từ quan sát những hiện tượng cụ thể, tiếp theo là thu thập và so sánh những dữ kiện kinh nghiệm, và cuối cùng là quy nạp để tìm ra những quy luật phổ quát chi phối những hiện tượng đó. Điểm then chốt ở đây là sự từ chối mọi giả thuyết không thể truy nguyên về kinh nghiệm. Những gì không thể được quan sát, kiểm chứng hoặc quy về dữ liệu kinh nghiệm thì không được xem là đối tượng hợp pháp của triết học. Điều này tạo ra một ranh giới rất rõ giữa triết học thực nghiệm và siêu hình học trong truyền thống học thuật kinh viện.

Trong bối cảnh trí thức đương thời, lập trường này mang tính phá vỡ sâu xa. những hệ thống duy lý như Descartes vẫn tin rằng có thể xây dựng tri thức từ những nguyên lý tiên nghiệm chắc chắn, qua suy luận thuần lý. Trong khi đó, nhiều truyền thống học thuật kinh viện trước đó lại dựa vào những khái niệm bản thể học cố định, coi tri thức như sự khai triển logic của những chân lý đã được giả định từ trước. Hume từ chối toàn bộ cách tiếp cận này: đối với ông, không có “chân lý nền tảng” nào được ban sẵn ngoài kinh nghiệm, và mọi khái niệm đều phải được truy nguyên về những ấn tượng cảm tính cụ thể.

Tuy nhiên, điều làm cho Hume đặc biệt không chỉ là việc ông đứng về phía lập trường duy nghiệm, mà là cách ông nâng lập trường duy nghiệm lên thành một chương trình khoa học có cấu trúc tương tự vật lý học Newton. Ở đây, ảnh hưởng của Isaac Newton mang tính quyết định. Newton không bắt đầu từ giả thuyết siêu hình về bản chất của lực hay không gian, mà từ quan sát hiện tượng và xây dựng những định luật toán học mô tả chúng. Hume tiếp nhận trực tiếp tinh thần này và chuyển nó sang lĩnh vực não thức: nếu Newton có thể khám phá những định luật của tự nhiên bên ngoài, thì triết học cũng có thể khám phá những định luật của “tự nhiên bên trong” – tức não thức con người.

Ở tầng sâu hơn, Francis Bacon cung cấp cho Hume nền tảng phương pháp luận: chống lại “ngẫu tượng” (idols) của tư duy, tức những thiên kiến và giả định sai lầm khiến con người đi chệch khỏi quan sát thuần túy. Từ Bacon, Hume kế thừa ý tưởng rằng tri thức phải được xây dựng trên việc loại bỏ mọi thành kiến siêu hình và quay về với kinh nghiệm trực tiếp.

Điểm đặc biệt nhất trong triết học thực nghiệm của Hume là tham vọng biến nghiên cứu não thức thành một khoa học có tính quy luật, chứ không chỉ là mô tả. Ông không chỉ muốn nói rằng con người “thường” suy nghĩ như thế này hay như thế kia, mà muốn phát hiện những nguyên lý phổ quát chi phối toàn bộ hoạt động tinh thần—tương tự như cách định luật hấp dẫn chi phối chuyển động của những vật thể. Vì vậy, mục tiêu của ông thường được tóm tắt như một tuyên ngôn mang tính biểu tượng: xây dựng một “Newton của thế giới tinh thần”.

So với những học thuyết duy lý đương thời, sự khác biệt ở đây là mang tính cấu trúc. Chủ nghĩa duy lý (rationalism) đặt nền tảng tri thức vào những nguyên lý tất yếu của lý trí và coi sự chắc chắn đến từ tính tiên nghiệm của tư duy. Ngược lại, Hume đặt toàn bộ nền tảng vào tính thường nghiệm (empirical regularity), nơi “tất yếu” không còn là thuộc tính của thế giới, mà trở thành kết quả của thói quen hình thành từ lặp lại kinh nghiệm. Điều này khiến triết học của ông vừa mang tính giải cấu trúc đối với siêu hình học truyền thống, vừa mang tính xây dựng một mô hình khoa học mới cho nghiên cứu về con người.

Trong tổng thể hệ thống, triết học thực nghiệm vì vậy không chỉ là một phương pháp, mà là trục xoay định hình toàn bộ dự án của Hume: từ việc tái định nghĩa triết học như khoa học về con người (science of man), cho đến việc thay thế những câu hỏi về “bản thể” bằng những câu hỏi về “cơ chế vận hành”. Chính trên nền tảng này, Hume mới có thể đặt con người vào vị trí trung tâm của tri thức, đồng thời đồng nhất triết học với một dạng khoa học tự nhiên mở rộng sang lĩnh vực tinh thần.

[8] Trong hệ thống của Hume, “triết học đạo đức” (moral philosophy) tuyệt đối không được hiểu theo nghĩa hiện đại là “đạo đức học” (ethics) hay một ngành chuyên nghiên cứu những quy tắc đúng–sai trong hành vi cá nhân. Nếu hiểu theo nghĩa hẹp đó, toàn bộ kiến trúc tư tưởng của Hume sẽ bị thu nhỏ sai lệch, bởi vì điều ông gọi là “triết học đạo đức” không phải là một nhánh trong đạo đức học, mà là toàn bộ khoa học về con người với tư cách chủ thể nhận thức và hành động.

Trong thế kỷ XVIII, “moral philosophy” vẫn còn mang nghĩa cổ điển: nó bao trùm toàn bộ lĩnh vực nghiên cứu về đời sống tinh thần, hành vi và xã hội của con người. Điều này có nghĩa là đối tượng của nó không phải là “các quy tắc đạo đức” hay “chuẩn mực luân lý” theo nghĩa quy phạm, mà là cơ chế phát sinh của toàn bộ đời sống con người: con người biết như thế nào, cảm như thế nào, tin như thế nào, và hành động như thế nào. Vì vậy, nếu nói chính xác, đây là một dạng “khoa học nhân văn tổng quát”, trong đó đạo đức học chỉ là một biểu hiện cục bộ của một cấu trúc rộng hơn nhiều.

Chính ở điểm này, ta thấy bước chuyển mang tính nền tảng của Hume: ông không bắt đầu từ câu hỏi “con người nên làm gì”, mà bắt đầu từ câu hỏi “con người thực sự hoạt động như thế nào”. Do đó, trong phạm vi “triết học đạo đức”, Hume tích hợp một loạt lĩnh vực mà ngày nay đã tách thành những ngành độc lập. Tâm lý học trở thành phần cốt lõi, vì nó nghiên cứu cách ấn tượng, ý niệm, ký ức và thói quen hình thành và liên kết trong não thức. Đạo đức học theo nghĩa hẹp chỉ còn là một trường hợp đặc thù của tâm lý học cảm thức, nơi những phán đoán thiện–ác được giải thích bằng cảm xúc, đồng cảm và sự ưa ghét tự nhiên, chứ không phải bằng lý trí thuần túy.

Tương tự, chính trị học không còn là lý thuyết về nhà nước theo nghĩa pháp lý–chuẩn tắc, mà trở thành phân tích thực nghiệm về quyền lực, lợi ích, ổn định xã hội và cơ chế vận hành của những thiết chế. Xa hơn nữa, một dạng xã hội học sơ khai xuất hiện khi Hume khảo sát phong tục, tập quán, và những quy luật ngầm chi phối hành vi tập thể. Tất cả những thành phần này không hiện hữu như những ngành riêng biệt, mà được Hume đặt chung dưới một đơn vị duy nhất: khoa học về bản tính con người.

Điểm quan trọng là sự thống nhất này không chỉ mang tính phân loại, mà mang tính phương pháp luận. “Triết học đạo đức” trong Hume là nơi áp dụng phương pháp thực nghiệm lên chính con người, tương tự như cách “triết học tự nhiên” áp dụng cho thế giới vật lý. Nếu triết học tự nhiên (natural philosophy) nghiên cứu vật chất, chuyển động, lực và những quy luật của tự nhiên bên ngoài, thì triết học đạo đức nghiên cứu toàn bộ “tự nhiên bên trong” của con người—tức đời sống não thức và xã hội như một hệ thống có thể quan sát và mô tả bằng quy luật.

Chính vì vậy, hai lĩnh vực này không phải phụ thuộc lẫn nhau, mà là hai trụ cột song song của toàn bộ kiến trúc tri thức. Một bên giải thích thế giới vật lý, bên kia giải thích chủ thể đang biết thế giới đó. Và điểm then chốt trong lập trường của Hume là: mọi tri thức về thế giới vật lý cuối cùng đều phải đi qua tri thức về con người, vì mọi quan sát, suy luận và kiểm chứng đều do con người thực hiện.

So với những truyền thống đương thời, đây là một sự tái cấu trúc triệt để. Đạo đức học kinh viện trước đó thường đặt nền tảng luân lý vào trật tự gót học và luật tự nhiên được định sẵn. René Descartes, theo hướng duy lý, lại cố gắng xây dựng toàn bộ hệ thống tri thức—bao gồm cả những định hướng đạo đức cơ bản—trên nền tảng của lý trí thuần túy và những nguyên tắc tiên nghiệm chắc chắn, nơi chủ thể tư duy (cogito) đóng vai trò điểm xuất phát tuyệt đối. Hume phá vỡ cả hai hướng tiếp cận này bằng cách đưa toàn bộ vấn đề trở về kinh nghiệm: con người không hành động vì suy luận lý trí, mà vì cảm xúc, thói quen và sự đồng cảm. Lý trí, trong hệ thống của ông, không phải là động cơ của hành động mà chỉ là công cụ tính toán phương tiện.

Ở chiều ngược lại, Immanuel Kant sẽ tiếp nhận chính cú sốc từ Hume để xây dựng một phản ứng triết học mang tính phê phán. Nếu Hume giải thể tính tất yếu của nhân quả thành thói quen tâm lý, Kant cho rằng điều đó làm sụp đổ khả thể của khoa học. Vì vậy, ông đảo ngược vấn đề: không phải tri thức đi từ thế giới vào não thức, mà chính những cấu trúc tiên nghiệm của khả năng hiểu biết (categories of understanding) mới làm cho kinh nghiệm có thể khả hữu ngay từ đầu. Như vậy, nếu Descartes đặt nền tảng ở lý trí thuần túy, Hume giải cấu trúc nó bằng kinh nghiệm, thì Kant tìm cách tái thiết lại tính tất yếu bằng một kiến trúc tiên nghiệm của chủ thể. Do đó, cần nhấn mạnh một cách dứt khoát: “triết học đạo đức” trong Hume không phải là “đạo đức học”, cũng không phải là một nhánh của đạo đức học, mà là toàn bộ khoa học thực nghiệm về con người, trong đó đạo đức chỉ là một hiện tượng phát sinh từ những cơ chế tâm lý sâu hơn. Chính từ cách hiểu mở rộng này, Hume mới có thể xây dựng toàn bộ dự án triết học của mình như một “Newton của thế giới tinh thần”, nơi con người không còn là chủ đề phụ trợ, mà trở thành nền tảng giải thích cho toàn bộ hệ thống tri thức.