Một Chuyên Luận Về Bản Chất Con Người
(A Treatise of Human Nature)
David Hume
QUYỂN I – PHẦN 1
Về những ý niệm, nguồn gốc, thành phần, kết hợp, trừu tượng
hóa, v.v.
(A
Treatise of Human Nature, Book 1, Part 1, 1739)
TIẾT III.
Về Những Ý Niệm Của Trí Nhớ Và Trí Tưởng Tượng
T 1.1.3.1, SBN 8–9
Chúng ta nhận thấy qua kinh nghiệm rằng khi bất kỳ ấn tượng
nào đã hiện diện với não thức, nó lại xuất hiện trong đó dưới dạng ý niệm; và
điều này có thể xảy ra theo hai cách khác nhau: hoặc khi trong lần xuất hiện mới
nó giữ lại một mức độ đáng kể của sự sống động đầu tiên, và là một gì đó trung
gian giữa ấn tượng và ý niệm; hoặc khi nó hoàn toàn mất đi sự sống động đó và
là một ý niệm hoàn hảo. Năng lực mà nhờ đó chúng ta lặp lại những ấn tượng của
mình theo cách đầu được gọi là TRÍ NHỚ, và cái kia là TRÍ TƯỞNG TƯỢNG. [1] Rõ
ràng ngay từ đầu rằng những ý niệm của trí nhớ sống động và mạnh mẽ hơn nhiều
so với những ý niệm của trí tưởng tượng, và rằng năng lực trước vẽ những đối tượng
của nó với những màu sắc rõ nét hơn bất kỳ cái nào được dùng bởi năng lực sau.
Khi chúng ta nhớ lại một sự kiện trong quá khứ, ý niệm về nó đổ vào não thức
theo cách mạnh mẽ; trong khi trong trí tưởng tượng, tri giác thì yếu ớt và mờ
nhạt, và không thể nếu không khó khăn mà não thức giữ nó vững và đồng đều trong
bất kỳ khoảng thời gian đáng kể nào. Như vậy đây là sự khác biệt có thể cảm nhận
được giữa một loại ý niệm và một loại khác. Nhưng về điều này sẽ đầy đủ hơn về
sau.2
T
1.1.3.2, SBN 9
Còn
có một sự khác biệt khác giữa hai loại ý niệm này, không kém rõ ràng — đó là,
dù cả những ý niệm của trí nhớ lẫn trí tưởng tượng, dù cả những ý niệm sống động
lẫn mờ nhạt đều không thể xuất hiện trong não thức trừ khi những ấn tượng tương
ứng đã đi trước để dọn đường cho chúng, trí tưởng tượng không bị giới hạn trong
cùng thứ tự và hình thức với những ấn tượng ban đầu; trong khi trí nhớ theo một
nghĩa nào đó bị ràng buộc về điều đó, không có quyền năng thay đổi.
T
1.1.3.3, SBN 9
Rõ
ràng là trí nhớ bảo tồn hình thức ban đầu mà những đối tượng của nó được trình
bày, và bất cứ khi nào chúng ta đi lệch khỏi nó trong việc hồi tưởng bất cứ điều
gì, điều đó nảy sinh từ một số khiếm khuyết hay không hoàn hảo trong năng lực
đó. Một nhà sử học có thể, vì lý do tiện lợi cho việc kể chuyện của mình, kể một
sự kiện trước một sự kiện khác mà thực ra là xảy ra sau; nhưng thì anh ta chú ý
đến sự rối loạn này, nếu anh ta chính xác; và bằng cách đó đặt lại ý niệm vào
đúng vị trí của nó. Đây cũng là trường hợp trong việc hồi tưởng những địa điểm
và người mà chúng ta trước đây quen biết. Chức năng chủ yếu của trí nhớ không
phải là bảo tồn những ý niệm đơn giản, mà là thứ tự và vị trí của chúng. Tóm lại,
nguyên tắc này được hỗ trợ bởi nhiều hiện tượng thông thường và phổ biến đến mức
chúng ta có thể miễn cho mình khỏi việc nhấn mạnh thêm về nó.
T
1.1.3.4, SBN 10
Bằng
chứng tương tự theo chúng ta trong nguyên tắc thứ hai của chúng ta — về sự tự
do của trí tưởng tượng trong việc chuyển vị và thay đổi những ý niệm của nó.[2] Những
câu chuyện chúng ta gặp trong thơ ca và tiểu thuyết đặt điều này hoàn toàn ra
ngoài câu hỏi. Ở đó tự nhiên hoàn toàn bị đảo lộn, và không có gì được nhắc đến
ngoài những con ngựa có cánh, những con rồng lửa và những người khổng lồ quái dị. [3]
Cũng không phải sự tự do này của trí tưởng tượng sẽ có vẻ lạ, khi chúng ta xét
rằng tất cả những ý niệm của chúng ta được sao chép từ những ấn tượng của chúng
ta, và rằng không có hai ấn tượng nào hoàn toàn không thể tách rời. Chưa kể đây
là hệ quả rõ ràng của sự phân chia những ý niệm thành đơn giản và phức hợp. Bất
cứ khi nào trí tưởng tượng nhận ra sự khác biệt giữa những ý niệm, nó có thể dễ
dàng tạo ra sự tách rời. [4]
Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản
nháp thứ hai
(Jun/2026)
(Còn tiếp... →)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1] Đối
với Hume, trí nhớ (memory) và trí tưởng tượng (imagination) không phải là hai
nguồn gốc khác nhau của ý niệm, mà đều là những năng lực của não thức dùng để
tái hiện những ấn tượng đã từng được kinh nghiệm. Khi một ấn tượng không còn hiện
diện trực tiếp, nó có thể xuất hiện trở lại dưới hình thức một ý niệm. Nếu ý niệm
ấy vẫn còn giữ được một phần đáng kể sự sống động (vivacity) vốn có của ấn
tượng ban đầu, thì đó là hoạt động của trí nhớ; còn khi sự sống động ấy đã suy
giảm và ý niệm chỉ còn tồn tại như một hình ảnh mờ nhạt hơn, thì đó là hoạt động
của trí tưởng tượng. Vì vậy, những ý niệm của trí nhớ luôn sinh động, mạnh mẽ
và rõ nét hơn những ý niệm của trí tưởng tượng.
Tuy nhiên, sự khác biệt giữa trí nhớ và trí tưởng tượng
không chỉ nằm ở mức độ sinh động (vivacity) mà còn ở cách những ý niệm được sắp
xếp và liên kết (order and position) trong mỗi năng lực. Trí nhớ có xu hướng bảo
tồn tương đối trung thành hình thức và trật tự mà những ấn tượng đã từng xuất
hiện trong kinh nghiệm; nhiệm vụ chủ yếu của nó không phải là gìn giữ những ý
niệm đơn lẻ, mà là duy trì trật tự và vị trí của chúng. Trái lại, trí tưởng tượng
không bị ràng buộc bởi trật tự nguyên thủy ấy. Nó có thể phân tách, kết hợp,
chuyển vị và tái tổ hợp những ý niệm theo nhiều cách khác nhau. Chính nhờ sự tự
do này mà não thức có thể hình thành những đối tượng hư cấu như ngựa có cánh, rồng
phun lửa hay những hình tượng chưa từng xuất hiện trong kinh nghiệm trực tiếp. Do
đó, theo Hume, trí nhớ là năng lực tái hiện những ấn tượng quá khứ dưới hình thức
những ý niệm còn giữ được mức độ sinh động đáng kể và tương đối bảo tồn trật tự
nguyên thủy của kinh nghiệm; còn trí tưởng tượng là năng lực tái hiện những ý
niệm mờ nhạt hơn, đồng thời tự do phân tách, kết hợp và sắp xếp lại chúng vượt
ra ngoài trật tự ban đầu của những ấn tượng.
[2] “Nguyên tắc thứ hai” mà Hume nhắc đến ở đây là luận điểm
cho rằng trí tưởng tượng không bị ràng buộc bởi trật tự và sự kết hợp nguyên thủy
của những ấn tượng trong kinh nghiệm. Khác với trí nhớ, vốn có xu hướng bảo tồn
tương đối trung thành cách những đối tượng đã xuất hiện trong quá khứ, trí tưởng
tượng có khả năng tách rời những ý niệm khỏi những liên kết ban đầu của chúng rồi
sắp xếp, kết hợp hoặc chuyển vị chúng theo những cách mới. Chính nhờ sự tự do
này mà não thức có thể tạo ra vô số hình tượng và ý niệm phức hợp chưa từng được
kinh nghiệm trực tiếp. Tuy nhiên, sự tự do ấy không có nghĩa là trí tưởng tượng
sáng tạo ra những yếu tố hoàn toàn mới; nó chỉ biến đổi và tái tổ hợp những ý
niệm đơn giản vốn đã được sao chép từ những ấn tượng của kinh nghiệm.
[3] Khi
viện dẫn những hình ảnh như ngựa có cánh, rồng phun lửa hay người khổng lồ quái
dị, Hume không nhằm chứng minh rằng trí tưởng tượng có thể sáng tạo ra những nội
dung hoàn toàn mới độc lập với kinh nghiệm. Trái lại, những ví dụ này được dùng
để củng cố Nguyên lý Sao chép (Copy Principle), theo đó mọi ý niệm đơn
giản đều phải bắt nguồn từ một ấn tượng tương ứng. Những hình tượng tưởng như
thuần túy hư cấu ấy thực chất chỉ là kết quả của việc trí tưởng tượng tách rời,
hoán đổi và kết hợp lại những ý niệm đơn giản đã có nguồn gốc trong kinh nghiệm
cảm giác. Ý niệm về một con ngựa có cánh, chẳng hạn, được tạo thành từ ý niệm về
một con ngựa và ý niệm về đôi cánh; còn ý niệm về rồng phun lửa kết hợp những đặc
điểm vốn đã được kinh nghiệm cung cấp từ những loài vật khác nhau cùng với ý niệm
về lửa. Vì vậy, ngay cả những sản phẩm kỳ ảo nhất của trí tưởng tượng cũng
không vượt ra ngoài những vật liệu mà kinh nghiệm đã cung cấp trước đó cho não
thức.
[4] Hệ
thống những nguyên tắc nền tảng của Hume
về ý niệm:
(a) Nguyên tắc thứ nhất: Nguyên lý Sao chép (Copy
Principle): Nguyên tắc này khẳng định rằng mọi ý niệm đơn giản (simple ideas) đều
bắt nguồn từ một ấn tượng tương ứng (impression).. Ấn tượng là những tri giác mạnh
mẽ, sống động (do cảm giác hoặc cảm xúc đem lại), trong khi ý niệm chỉ là bản
sao mờ nhạt của những ấn tượng đó trong
tư duy và hồi tưởng. Do đó, không có ý niệm đơn giản nào mang nội dung nguyên
thủy hoàn toàn độc lập với kinh nghiệm.
(b) Nguyên tắc thứ hai: Nguyên tắc liên tưởng của những ý niệm (Association of Ideas): những ý niệm không xuất hiện một những h rời rạc mà
có xu hướng tự nhiên liên kết với nhau trong tư duy theo ba quan hệ cơ bản: Tương
đồng (Resemblance). Kề cận trong
không gian hoặc thời gian (Contiguity). Nhân quả (Cause and Effect). Nguyên tắc này giải thích vì sao tâm trí
không vận hành hỗn loạn, mà có tính liên tục: một ý niệm tự nhiên dẫn sang ý niệm
khác.
(c) Nguyên tắc thứ ba (liên quan chức năng): Tự do của
trí tưởng tượng: Trí tưởng tượng có khả năng tách rời, hoán đổi và tái tổ hợp
những ý niệm đơn giản đã có nguồn gốc từ
kinh nghiệm. Khác với trí nhớ (bị ràng buộc bởi trật tự nguyên thủy của ấn tượng),
trí tưởng tượng không bị cố định bởi cấu trúc ban đầu, và do đó có thể tạo ra
những hình tượng phức hợp như “ngựa có
cánh” hay “rồng phun lửa”. Điểm quan trọng: sự tự do này không phủ nhận Nguyên
lý Sao chép, vì mọi yếu tố cấu thành vẫn phải bắt nguồn từ ấn tượng.
Quan hệ logic giữa ba nguyên tắc (1) Copy Principle → cung cấp nguồn gốc vật liệu (impressions → ideas). (2) Association of Ideas → cung cấp cơ chế tổ chức tự nhiên của tư duy. (3) Imagination (tự do tái tổ hợp) → cung cấp cơ chế biến đổi và sáng tạo hình thức, nhưng không tạo vật liệu mới.
