Một Luận Văn Về Những Đam Mê
(A Dissertation on the Passions)
David Hume
MỘT LUẬN VĂN VỀ NHỮNG ĐAM MÊ
PHẦN IV
[ P 4.1, Bea 21 ]
1. Lý thuyết hiện nay về những đam mê (passions) ở
đây phụ thuộc hoàn toàn vào mối liên hệ hai chiều giữa cảm thức (sentiments) và
ý niệm (ideas), cũng như sự hỗ trợ qua lại mà các mối liên hệ này mang lại cho
nhau. Vì vậy, sẽ không sai nếu minh họa những nguyên lý này bằng thêm một vài
ví dụ.
[ P 4.2, Bea 21 ]
2. Đức hạnh, tài năng, thành tựu và tài sản của người
khác khiến chúng ta yêu mến và kính trọng họ: bởi vì những đối tượng này gợi
lên một cảm giác dễ chịu, vốn có liên hệ với tình yêu; đồng thời, chúng cũng có
một mối liên hệ hay kết nối với chính con người đó. Chính sự kết hợp giữa những
ý niệm này làm tăng cường sự kết hợp giữa những cảm thức, theo như lập luận đã
nêu ở trên
[ P 4.3, Bea 21 ]
Nhưng giả sử người mà chúng ta yêu mến cũng có liên hệ với
chúng ta qua huyết thống, quốc gia, hay tình bạn; thì rõ ràng một dạng tự hào
(pride) cũng sẽ được khơi dậy từ những thành tựu và tài sản của người đó. Lý do
là vì ở đây vẫn tồn tại cùng một mối liên hệ hai chiều mà chúng ta đã nhấn mạnh
từ trước đến nay. Người đó có liên hệ với chúng ta, hoặc có một sự chuyển tiếp
ý nghĩ dễ dàng từ người đó sang chúng ta; và những cảm xúc được khơi dậy bởi những
ưu điểm và đức hạnh của người đó vốn là dễ chịu, và vì thế cũng có liên hệ với
cảm giác tự hào. Do đó, chúng ta thấy rằng con người tự nhiên thường cảm thấy tự
hào về những phẩm chất tốt hoặc vận may cao của bạn bè và đồng hương của mình.
[ P 4.4, Bea 21 ]
3. Nhưng cần chú ý rằng nếu chúng ta đảo ngược thứ tự của
những cảm xúc, thì kết quả không còn giống như vậy. chúng ta có thể dễ dàng
chuyển từ tình yêu và sự gắn bó sang tự hào và tự mãn; nhưng chúng ta không
chuyển ngược lại được từ tự hào sang tình yêu, dù những mối liên hệ vẫn giống
nhau. Chúng ta không yêu những người có liên hệ với chúng ta chỉ vì công lao của
chính chúng ta; trong khi đó, họ lại tự nhiên cảm thấy tự hào về công lao của chúng
ta.
Vậy vì sao lại có sự khác biệt này?
Sự chuyển dịch của trí tưởng tượng về phía bản thân chúng
ta, từ những đối tượng có liên hệ với chúng ta, luôn diễn ra dễ dàng: một phần
vì chính mối liên hệ giúp cho sự chuyển dịch trở nên thuận lợi, và một phần vì chúng
ta đang đi từ những đối tượng xa hơn về phía cái gần gũi nhất là chính mình.
Nhưng khi đi theo hướng ngược lại, từ bản thân chúng ta sang những đối tượng có
liên hệ với chúng ta, thì dù yếu tố thứ nhất vẫn hỗ trợ sự chuyển dịch ý nghĩ,
yếu tố thứ hai lại chống lại nó; vì vậy, không có sự truyền cảm xúc dễ dàng từ
tự hào sang tình yêu như có từ tình yêu sang tự hào.
[ P 4.5, Bea 21 ]
4. Đức hạnh, sự giúp đỡ và vận may của một người có thể dễ
dàng gợi lên trong chúng ta lòng kính trọng và tình cảm đối với một đối tượng
khác có liên hệ với người đó. Con trai của bạn chúng ta tự nhiên được xem là
người xứng đáng với tình bạn của chúng ta; những người thân của một người rất
tài giỏi thường tự đánh giá cao mình, và cũng được người khác đánh giá cao, nhờ
vào chính mối liên hệ đó. Ở đây, sức mạnh của ràng buộc hai chiều được thể hiện
đầy đủ.
[ P 4.6, Bea 22 ]
5. Sau đây là những ví dụ thuộc một loại khác, nơi chúng
ta vẫn có thể nhận ra sự vận hành của những nguyên lý này. Sự đố kỵ phát sinh từ
sự vượt trội của người khác; nhưng điều đáng chú ý là không phải khoảng cách
quá lớn giữa chúng ta và những đối tượng đó gây ra cảm xúc này, mà ngược lại,
chính sự gần gũi về vị thế (proximity) mới khơi dậy nó. Khi khoảng cách quá lớn,
những ý niệm bị tách rời, và hoặc là ngăn chúng ta so sánh mình với những đối
tượng quá xa, hoặc là làm giảm tác động của phép so sánh đó.
[ P 4.7, Bea 22 ]
Một nhà thơ thường không đố kỵ với một nhà triết học,
cũng không đố kỵ với một nhà thơ thuộc loại khác, thuộc quốc gia khác, hay thuộc
thời đại khác. Tất cả những khác biệt này, nếu không ngăn cản hoàn toàn, thì ít
nhất cũng làm yếu đi sự so sánh, và do đó làm yếu đi cảm xúc đố kỵ.
[ P 4.8, Bea 22 ]
Đây cũng là lý do vì sao mọi đối tượng dường như lớn hay
nhỏ chỉ nhờ vào sự so sánh với những đối tượng cùng loại. Một ngọn núi không
làm cho con ngựa trông lớn hơn hay nhỏ đi trong mắt chúng ta. Nhưng khi đặt một
con ngựa Flemish và một con ngựa Welsh cạnh nhau, con này sẽ trông lớn hơn và
con kia sẽ trông nhỏ hơn so với khi chúng ta nhìn từng con riêng rẽ.
[ P 4.9, Bea 22 ]
Từ cùng một nguyên lý này, chúng ta có thể giải thích cho
nhận xét của những sử gia rằng: bất kỳ phe phái nào trong một cuộc nội chiến,
hay thậm chí trong một sự chia rẽ bè phái, luôn chọn cách gọi một kẻ thù ngoại
bang vào bất chấp mọi nguy cơ, hơn là chấp nhận khuất phục trước những người đồng
bào của mình. Guicciardini áp dụng nhận xét này vào những cuộc chiến ở Ý, nơi
mà những mối quan hệ giữa những quốc gia khác nhau, nói đúng hơn, chỉ tồn tại
trên danh nghĩa, ngôn ngữ và sự gần kề (contiguity). Tuy nhiên, ngay cả những mối
quan hệ này, khi đi kèm với sự vượt trội, bằng cách làm cho phép so sánh trở
nên tự nhiên hơn, cũng khiến nó trở nên nặng nề hơn, và khiến con người tìm kiếm
một dạng vượt trội khác — một thứ không đi kèm bất kỳ mối liên hệ nào, và do đó
ít tác động rõ rệt hơn lên trí tưởng tượng. Khi không thể phá vỡ sự liên tưởng,
con người lại cảm thấy một mong muốn mạnh hơn nhằm loại bỏ sự vượt trội đó. Đây
dường như là lý do vì sao những người đi du lịch, dù thường khen ngợi người
Trung Hoa và người Ba Tư, lại cẩn thận hạ thấp những quốc gia láng giềng — những
quốc gia có thể đứng ở vị thế cạnh tranh với chính đất nước của họ.
[ P 4.10, Bea 22–23 ]
6. những nghệ thuật tinh tế cung cấp cho chúng ta những
ví dụ tương tự. Nếu một tác giả viết một công trình mà một phần nghiêm túc và
sâu sắc, còn phần khác nhẹ nhàng và hài hước, thì ai cũng sẽ chê trách sự pha
trộn kỳ lạ này và cho rằng ông chúng ta bỏ qua những quy tắc của nghệ thuật và
phê bình. Nhưng chúng ta lại không trách Prior vì đặt hai tác phẩm Alma và
Solomon của ông trong cùng một tập, dù ông đã thành công trọn vẹn trong sự vui
tươi của tác phẩm này cũng như sự buồn bã của tác phẩm kia [1]. Ngay cả nếu người đọc đọc hai tác phẩm này liên tiếp mà
không có khoảng nghỉ, họ cũng sẽ không gặp nhiều khó khăn trong việc chuyển đổi
cảm xúc. Vì sao? Chỉ vì họ xem hai tác phẩm này là hoàn toàn khác nhau; và nhờ
sự đứt đoạn trong những ý niệm, tiến trình của những cảm xúc bị cắt rời, khiến
cái này không tác động hay mâu thuẫn với cái kia.
[ P 4.11, Bea 23 ]
Một bức tranh kết hợp giữa phong cách anh hùng và phong
cách trào phúng sẽ trở nên quái dị; trong khi chúng ta có thể đặt hai bức tranh
có tính chất đối lập như vậy trong cùng một phòng, thậm chí đặt sát cạnh nhau,
mà không hề thấy khó chịu.
[ P 4.12, Bea 23 ]
7. Không có gì đáng ngạc nhiên khi sự chuyển dịch dễ dàng
của trí tưởng tượng lại có ảnh hưởng lớn đến tất cả những cảm xúc. Chính đặc điểm
này tạo nên mọi mối liên hệ giữa những đối tượng. Chúng ta không biết có mối
liên hệ thực sự nào giữa vật này và vật khác; chúng ta chỉ biết rằng ý niệm về
một vật thường đi kèm với ý niệm về một vật khác, và trí tưởng tượng có thể dễ
dàng chuyển từ cái này sang cái kia. Và vì sự chuyển dịch dễ dàng của ý niệm và
sự chuyển dịch dễ dàng của cảm thức hỗ trợ lẫn nhau, chúng ta có thể dự đoán
trước rằng nguyên lý này phải có ảnh hưởng mạnh mẽ đến mọi chuyển động bên
trong và những cảm xúc của chúng ta. Kinh nghiệm đã xác nhận đầy đủ lý thuyết
này.
[ P 4.13, Bea 23 ]
Bởi lẽ, để không phải lặp lại tất cả những ví dụ đã nêu
trước đó: giả sử tôi đang đi cùng một người bạn đồng hành qua một vùng đất mà cả
hai chúng tôi đều hoàn toàn xa lạ; rõ ràng là nếu cảnh quan đẹp, đường xá dễ
đi, và cánh đồng được canh tác tốt, điều đó có thể khiến tôi rơi vào một trạng
thái dễ chịu, cả đối với chính tôi lẫn người bạn đồng hành của tôi. Nhưng vì
vùng đất đó không có bất kỳ mối liên hệ nào với tôi hay với người bạn, nó không
thể trở thành nguyên nhân trực tiếp của sự tự đánh giá cao bản thân (tự hào)
hay sự quý trọng dành cho người kia. Vì vậy, nếu những cảm xúc này không được đặt
trên một đối tượng khác có mối liên hệ gần hơn với một trong hai chúng tôi, thì
những xúc cảm nảy sinh ở đây chỉ nên được xem là sự tràn ra của một tính khí rộng
rãi và nhân hậu, chứ không phải là một cảm xúc đã được hình thành rõ ràng.
Nhưng giả sử cảnh quan dễ chịu trước mắt chúng tôi được
nhìn từ chính ngôi nhà quê của người bạn đó, hoặc từ nhà tôi; thì mối liên hệ mới
này giữa những ý niệm sẽ tạo ra một hướng đi mới cho cảm giác dễ chịu phát sinh
từ cảnh quan ấy, và từ đó làm nảy sinh cảm giác quý trọng hoặc tự hào, tùy theo
loại mối liên hệ đó. Theo tôi, ở đây không còn nhiều chỗ cho nghi ngờ hay khó
khăn. [2]
PHẦN V
[ P 5.1, Bea 24 ]
Một điều dường như hiển nhiên là: lý trí (reason),
theo nghĩa nghiêm ngặt, tức là năng lực phán đoán về chân lý và sai lầm, tự
thân nó không bao giờ có thể là động cơ cho ý chí (will), và không thể
có ảnh hưởng nào ngoại trừ khi nó chạm đến một cảm xúc (passion) hay tình cảm
(affection). Những quan hệ trừu tượng giữa những ý niệm chỉ là đối tượng của sự
tò mò, chứ không phải đối tượng của hành động ý muốn (volition). Còn những
sự kiện thực tế (matters of fact), khi chúng không mang lại điều tốt hay điều xấu,
tức là khi chúng không khơi dậy ham muốn (desire) hay ác cảm (aversion), thì
hoàn toàn dửng dưng; và dù được biết hay không biết, dù bị hiểu sai hay hiểu
đúng, chúng cũng không thể trở thành động cơ cho hành động.
[ P 5.2, Bea 24 ]
2. Cái mà trong ngôn ngữ thông thường được gọi là lý trí,
và được ca ngợi trong những diễn ngôn đạo đức, thực chất chỉ là một cảm xúc
bình lặng (calm passion) — một cảm xúc có cái nhìn bao quát và xa hơn về đối tượng
của nó, và thúc đẩy ý chí mà không gây ra sự kích động rõ rệt nào. Chúng ta nói
rằng một người siêng năng trong nghề nghiệp là do lý trí; tức là do một ham muốn
bình lặng đối với sự giàu có và tài sản. Chúng ta nói rằng một người tuân thủ
công lý là do lý trí; tức là do một sự quan tâm bình lặng đối với lợi ích
chung, hoặc đối với danh dự của chính mình và của người khác.
[ P 5.3, Bea 24 ]
3. Cũng chính những đối tượng vốn được lý trí xem xét
theo nghĩa đó lại trở thành đối tượng của cái mà chúng ta gọi là cảm xúc (passion),
khi chúng được đưa lại gần chúng ta hơn, hoặc khi chúng mang thêm những lợi thế
khác — hoặc từ hoàn cảnh bên ngoài, hoặc từ sự tương hợp với tính cách bên
trong của chúng ta — và nhờ đó khơi dậy một sự khuấy động mạnh và có thể cảm nhận
được. Chúng ta nói rằng một chúng tai họa ở xa được tránh né nhờ lý trí; nhưng
một tai họa ở gần lập tức gây ra ác cảm, kinh sợ và sợ hãi, và trở thành đối tượng
của cảm xúc.
[ P 5.4, Bea 24–25 ]
4. Sai lầm phổ biến của những nhà siêu hình học nằm ở chỗ
họ quy toàn bộ sự điều khiển ý chí cho chỉ một trong hai nguyên lý này, và giả
định rằng nguyên lý còn lại không có ảnh hưởng. Con người thường hành động một
cách có ý thức chống lại lợi ích của chính mình; do đó không thể nói rằng cái
nhìn về lợi ích lớn nhất luôn luôn chi phối họ. Con người cũng thường cưỡng lại
một cảm xúc mãnh liệt để theo đuổi những lợi ích và dự định xa hơn; do đó cũng
không thể nói rằng chỉ nỗi khó chịu hiện tại quyết định hành vi của họ.
Nhìn chung, chúng ta thấy rằng cả hai nguyên lý này đều
tác động lên ý chí; và khi chúng đối lập nhau, thì cái nào thắng sẽ tùy thuộc
vào tính cách chung hoặc trạng thái hiện tại của cá nhân. Cái mà chúng ta gọi
là bản lĩnh tinh thần (strength of mind) chính là sự ưu thế của những cảm
xúc bình lặng đối với những cảm xúc mãnh liệt; tuy nhiên, chúng ta cũng dễ thấy
rằng không có ai sở hữu phẩm chất này một cách tuyệt đối đến mức không bao giờ,
trong bất kỳ hoàn cảnh nào, bị khuất phục trước những cảm xúc mạnh và ham muốn
dữ dội. Từ những biến đổi này của tính khí nảy sinh khó khăn lớn trong việc dự
đoán hành động và quyết định tương lai của con người, khi có sự xung đột giữa
những động cơ và cảm xúc.[3]
PHẦN VI
[ P 6.1, Bea 26 ]
1. Ở đây, chúng ta sẽ liệt kê một số hoàn cảnh (circumstances)
làm cho một cảm xúc trở nên bình lặng hay mãnh liệt, đồng thời làm tăng hoặc giảm
bất kỳ sự khuấy động tình cảm (emotion) nào.
[ P 6.2, Bea 26 ]
Một đặc điểm trong bản chất con người là: bất kỳ cảm xúc
nào đi kèm với một cảm xúc khác đều dễ dàng bị chuyển hóa thành chính cảm xúc
đó, dù về bản chất ban đầu chúng có thể khác nhau, thậm chí đối lập. Để tạo ra
một sự hợp nhất hoàn toàn giữa những cảm xúc và để cái này sinh ra cái kia,
theo lý thuyết đã trình bày trước đó, luôn cần một “liên hệ kép” (double
relation). Tuy nhiên, khi hai cảm xúc đã được sinh ra từ những nguyên nhân
riêng biệt và cùng hiện diện trong tâm trí, chúng sẽ dễ dàng hòa trộn và hợp nhất,
ngay cả khi giữa chúng chỉ có một liên hệ, hoặc đôi khi không cần liên hệ nào.
Cảm xúc chiếm ưu thế sẽ lấn át cảm xúc yếu hơn và chuyển hóa nó thành chính nó.
Khi đó, “luồng sinh lực tâm lý” (spirits) một khi
đã được kích hoạt sẽ dễ dàng đổi hướng; và tự nhiên chúng ta hình dung rằng sự
đổi hướng này đến từ cảm xúc đang chiếm ưu thế. Trong nhiều trường hợp, mối
liên hệ giữa hai cảm xúc mạnh hơn nhiều so với mối liên hệ giữa bất kỳ cảm xúc
nào với trạng thái thờ ơ (indifference).
[ P 6.3, Bea 26 ]
3. Khi một người đã thực sự yêu, những lỗi nhỏ và sự thất
thường của người mình yêu, cùng với những ghen tuông và tranh cãi vốn thường xảy
ra trong mối quan hệ đó, dù khó chịu và gần với giận dữ hay ghét bỏ, vẫn thường
được thấy là làm tăng thêm sức mạnh của tình cảm đang chiếm ưu thế.
Điều này cũng được phản ảnh trong thủ thuật của những chính
trị gia: khi họ muốn tác động mạnh đến một người bằng một sự kiện mà họ sắp tiết
lộ, họ thường kích thích sự tò mò trước, trì hoãn việc cung cấp thông tin càng
lâu càng tốt, và qua đó làm tăng mức độ lo âu và thiếu kiên nhẫn đến cực điểm
trước khi đưa ra sự thật. Họ hiểu rằng chính sự tò mò đó sẽ đẩy não thức người
kia rơi nhanh hơn vào cảm xúc mà họ muốn tạo ra, đồng thời hỗ trợ cho đối tượng
ấy trong việc tác động lên tâm trí.
Một người lính tiến ra chiến trận thường được khơi dậy
lòng can đảm và sự tự tin khi nghĩ đến đồng đội và bạn bè, nhưng lại bị lấn át
bởi sợ hãi khi nghĩ đến kẻ thù. Bất kỳ cảm xúc mới nào phát sinh từ hình ảnh đồng
đội đều làm tăng thêm lòng dũng cảm; cũng như cảm xúc phát sinh từ hình ảnh kẻ
thù sẽ làm tăng thêm nỗi sợ. Vì vậy, trong kỷ luật quân sự, sự đồng bộ, trật tự
và vẻ rực rỡ của quân phục, cùng sự uy nghi của chiến tranh, sẽ nâng cao tinh
thần của chúng ta và đồng minh; trong khi những yếu tố tương tự ở phía đối
phương lại gây ra sự sợ hãi, dù tự thân chúng có thể đẹp đẽ và hấp dẫn.
[ P 6.4, Bea 27 ]
4. Hy vọng, tự thân nó, là một cảm xúc dễ chịu và có quan
hệ gần với tình bạn và thiện chí; tuy nhiên, trong một số trường hợp, nó có thể
làm bùng lên sự giận dữ, khi sự giận dữ là cảm xúc đang chiếm ưu thế.
“Spes addita suscitat iras”
— Virgil:
Hy vọng được thêm vào có thể
làm bùng dậy cơn giận.
[ P 6.5, Bea 27 ]
2. Vì những cảm xúc, dù có độc lập đến đâu, vẫn tự nhiên
có xu hướng chuyển hóa vào nhau khi chúng cùng hiện diện trong tâm trí, nên khi
một đối tượng tốt hay xấu được đặt trong một hoàn cảnh có thể gây ra thêm một cảm
xúc khác ngoài cảm xúc trực tiếp là ham muốn (desire) hay ác cảm (aversion),
thì cảm xúc trực tiếp đó sẽ nhận thêm sức mạnh và trở nên mãnh liệt hơn.
[ P 6.6, Bea 27 ]
3. Điều này thường xảy ra khi một đối tượng đồng thời
khơi dậy những cảm xúc trái ngược nhau. Có thể thấy rằng sự đối lập giữa những cảm
xúc thường tạo ra một sự khuấy động mới trong não thức (spirits), và gây ra nhiều
xáo động hơn cả khi hai cảm xúc có cường độ tương đương cùng tồn tại hài hòa. Sự
khuấy động mới này dễ dàng bị hấp thụ vào cảm xúc đang chiếm ưu thế, và trong
nhiều trường hợp, nó làm tăng cường độ của cảm xúc đó vượt xa mức mà nó lẽ ra đạt
được nếu không có sự đối lập.
Do đó, con người thường có xu hướng mong muốn điều bị cấm,
và đôi khi cảm thấy thích thú khi thực hiện hành động chỉ vì chúng bị ngăn cấm.
Ý niệm về nghĩa vụ, khi đối lập với cảm xúc, không phải lúc nào cũng đủ mạnh để
chế ngự chúng; và khi nó thất bại, nó thường làm gia tăng và kích động cảm xúc,
bằng cách tạo ra sự xung đột giữa những động cơ và nguyên lý bên trong chúng
ta.
[ P 6.7, Bea 27 ]
4. Hiệu ứng này cũng xảy ra bất kể sự đối lập đến từ động
cơ nội tâm hay từ trở ngại bên ngoài. Trong cả hai trường hợp, cảm xúc đều có
xu hướng trở nên mạnh hơn. Những nỗ lực của não thức nhằm vượt qua trở ngại làm
kích hoạt tinh thần và làm sống động cảm xúc.
[ P 6.8, Bea 27 ]
5. Sự không chắc chắn cũng tạo ra hiệu ứng tương tự như sự
đối lập. Sự dao động của tư tưởng, những chuyển hướng nhanh từ một cách nhìn
sang cách nhìn khác, và sự thay đổi liên tục của những cảm xúc tùy theo từng
góc nhìn khác nhau — tất cả những điều này tạo ra một sự khuấy động trong tâm
trí; và sự khuấy động ấy lại tự truyền vào cảm xúc đang chiếm ưu thế, làm tăng
cường độ của nó.
P 6.9, Bea 27 ]
Ngược lại, trạng thái an toàn, chắc chắn (security) làm
suy giảm những cảm xúc. Khi não thức bị bỏ mặc cho chính nó, nó nhanh chóng trở
nên nguội lạnh; vì vậy, để giữ được sự hăng hái, nó cần liên tục được tiếp thêm
bởi một dòng cảm xúc mới. Vì lý do tương tự, sự tuyệt vọng (despair), dù đối lập
với an toàn chắc chắn, cũng tạo ra một hiệu ứng giống như vậy, tức là làm giảm
sức sống của cảm xúc.
[ P 6.10, Bea 27 ]
Không gì làm một cảm xúc mạnh hơn bằng cách che bớt một
phần của đối tượng, đặt nó trong một dạng “bóng mờ” (shade), vừa đủ để tạo thiện
cảm ban đầu, nhưng vẫn để lại chỗ trống cho trí tưởng tượng hoạt động.
Ngoài việc sự mơ hồ luôn đi kèm một mức độ bất định,
chính nỗ lực của trí tưởng tượng để hoàn tất hình ảnh thiếu hụt đó sẽ kích động
“tinh thần” (spirits), và từ đó tăng thêm sức mạnh cho cảm xúc đang chi phối.
[ P 6.11, Bea 27–28 ]
Cũng như tuyệt vọng và an toàn chắc chắn, dù đối lập, lại
dẫn đến hiệu ứng tương tự, thì sự vắng mặt (absence) lại có thể tạo ra
hai hiệu ứng trái ngược, tùy hoàn cảnh: hoặc làm giảm, hoặc làm tăng tình cảm.
Rochefoucauld nhận xét rất đúng rằng: vắng mặt làm yếu những
tình cảm yếu, nhưng làm mạnh những tình cảm mạnh; giống như gió có thể dập tắt
một ngọn nến, nhưng lại làm bùng lên một đám lửa.
Sự vắng mặt kéo dài tự nhiên làm suy yếu hình ảnh của đối
tượng trong tâm trí, từ đó làm giảm cảm xúc. Nhưng nếu tình cảm vốn đã mạnh và
sống động, thì sự bất an do vắng mặt tạo ra lại trở thành một yếu tố tăng cường,
khiến cảm xúc trở nên mãnh liệt hơn.
[ P 6.12, Bea 28 ]
Khi não thức hướng đến một hành động hoặc một đối tượng
mà nó chưa quen thuộc, những năng lực của nó trở nên “không linh hoạt”, và dòng
vận động của “tinh thần” gặp khó khăn khi phải chuyển hướng.
Chính khó khăn này kích thích “tinh thần”, và là nguồn gốc
của ngạc nhiên (wonder), kinh ngạc (surprise) và những cảm xúc
phát sinh từ sự mới lạ. Bản thân trạng thái này dễ chịu ở mức độ vừa phải, vì
nó làm não thức trở nên sống động.
Tuy nhiên, dù ngạc nhiên tự nó là dễ chịu, nhưng vì nó đặt
tinh thần vào trạng thái dao động, nó không chỉ làm tăng những cảm xúc dễ chịu
mà còn làm tăng cả những cảm xúc đau buồn, tùy theo nguyên lý đã nêu trước đó.
Do đó, mọi điều mới mẻ đều có tác động mạnh hơn thực tế
thông thường của nó: hoặc mang lại nhiều khoái cảm hơn, hoặc nhiều khó chịu
hơn. Khi sự mới lạ lặp lại nhiều lần, nó mất dần hiệu lực; cảm xúc dịu xuống; sự
kích động của tinh thần biến mất; và chúng ta nhìn đối tượng với trạng thái
bình ổn hơn
.2. Vì những cảm xúc, dù có độc lập đến đâu, cũng tự
nhiên hòa quyện vào nhau (transfused into each other) nếu chúng cùng hiện
diện tại một thời điểm; do đó hệ quả là: khi điều tốt lành hay tai họa được đặt
vào một hoàn cảnh có thể gây ra bất kỳ sự khuấy động cụ thể nào bên cạnh cảm
xúc trực tiếp là ham muốn hay ác cảm, thì cảm xúc trực tiếp này chắc chắn sẽ thủ
đắc một sức mạnh và sự mãnh liệt mới.
[ P 6.6, Bea 27 ]
3. Điều này thường xảy ra khi một đối tượng khơi dậy những
cảm xúc trái ngược nhau. Bởi vì có một điều đáng chú ý là, một sự xung đột giữa
những cảm xúc thông thường sẽ gây ra một sự khuấy động mới trong tinh thần (the
spirits), và sản sinh ra nhiều sự hỗn loạn hơn là sự đồng quy của hai tình cảm
có cùng lực đẩy. Sự khuấy động mới này dễ dàng được chuyển hóa thành cảm xúc
chiếm ưu thế, và trong nhiều trường hợp, được quan sát là làm gia tăng sự mãnh
liệt của nó vượt xa cái ngưỡng mà nó lẽ ra đã chạm tới nếu không gặp phải sự
xung đột nào.
Chính vì thế, chúng ta một cách tự nhiên thường khát khao
những gì bị cấm đoán, và thường tìm thấy sự dễ chịu khi thực hiện những hành động
chỉ đơn thuần vì chúng là bất hợp pháp. Khái niệm về nghĩa vụ, khi đối lập với
những cảm xúc, không phải lúc nào cũng có thể chiến thắng được chúng; và khi nó
thất bại trong hệ quả đó, nó có khuynh hướng làm gia tăng và kích động những cảm
xúc hơn nữa, bằng việc sản sinh ra một sự xung đột trong những động cơ và
nguyên lý của chúng ta.
[ P 6.7, Bea 27 ]
4. Hệ quả tương tự cũng theo sau, bất kể sự xung đột nảy
sinh từ những động cơ nội tại hay những trở ngại ngoại tại. Cảm xúc thông thường
sẽ thủ đắc sức mạnh mới trong cả hai trường hợp. Những nỗ lực mà não thức thực
hiện để vượt qua trở ngại sẽ khởi động tinh thần và làm sống động cảm xúc.
[ P 6.8, Bea 27 ]
5. Sự bất định (uncertainty) cũng có hệ quả tương
tự như sự xung đột. Sự chao đảo của tư tưởng, những bước ngoặt nhanh chóng mà
nó thực hiện từ góc nhìn này sang góc nhìn khác, sự đa dạng của những cảm xúc nối
tiếp nhau theo những góc nhìn dị biệt: Tất cả những điều này sản sinh ra một sự
khuấy động trong não thức; và sự khuấy động này tự hòa quyện (transfuses
itself) vào cảm xúc chiếm ưu thế.ta.
[ P 6.7, Bea 27 ]
4. Hiệu ứng này cũng xảy ra bất kể sự đối lập đến từ động
cơ nội tâm hay từ trở ngại bên ngoài. Trong cả hai trường hợp, cảm xúc đều có
xu hướng trở nên mạnh hơn. Những nỗ lực của não thức nhằm vượt qua trở ngại làm
kích hoạt tinh thần và làm sống động cảm xúc.
[ P 6.8, Bea 27 ]
5. Sự không chắc chắn cũng tạo ra hiệu ứng tương tự như sự
đối lập. Sự dao động của tư tưởng, những chuyển hướng nhanh từ một cách nhìn
sang cách nhìn khác, và sự thay đổi liên tục của những cảm xúc tùy theo từng
góc nhìn khác nhau — tất cả những điều này tạo ra một sự khuấy động trong tâm
trí; và sự khuấy động ấy lại tự truyền vào cảm xúc đang chiếm ưu thế, làm tăng
cường độ của nó.
[ P 6.9, Bea 27 ]
Ngược lại, sự an định chắc chắn (security) làm giảm thiểu
những cảm xúc. Não thức, khi bị để mặc cho chính nó, sẽ lập tức héo úa; và để
duy trì ngọn lửa nhiệt huyết của mình, nó phải được tiếp sức trong mọi khoảnh
khắc bởi một dòng chảy cảm xúc mới mẻ. Vì cùng một lý do đó, sự tuyệt vọng
(despair), dù trái ngược với sự an định chắc chắn, cũng có một ảnh hưởng tương
tự [làm héo úa cảm xúc].[4]
[ P 6.10, Bea 27 ]
6. Không có gì khởi động một tình cảm mạnh mẽ hơn là việc
che giấu một phần đối tượng của nó, bằng cách thảy đối tượng đó vào một vùng
bóng tối mờ ảo; thứ này vừa hiển lộ vừa đủ để khiến chúng ta có định kiến thiên
vị dành cho đối tượng, lại vừa để lại một khoảng trống cho trí tưởng tượng làm
việc. Bên cạnh việc sự mơ hồ mờ ảo (obscurity) luôn đi kèm với một dạng bất định;
thì nỗ lực mà trí tưởng tượng (fancy) thực hiện để hoàn chỉnh ý niệm đó sẽ đánh
thức tinh thần (the spirits) và tiếp thêm một sức mạnh bổ sung cho cảm xúc.
[ P 6.11, Bea 27-8 ]
7. Vì sự tuyệt vọng và sự an định chắc chắn, dù trái ngược
nhau, lại sản sinh ra những hệ quả tương tự;
[ P 6.1, Bea 26 ]
1. Ở đây, chúng ta sẽ liệt kê một số hoàn cảnh
(circumstances) biến một cảm xúc (passion) thành bình lặng hay mãnh liệt, thứ
làm gia tăng hoặc giảm thiểu bất kỳ sự khuấy động xúc cảm (emotion) nào.
[ P 6.2, Bea 26 ]
Đó là một thuộc tính trong bản chất con người, rằng bất kỳ
sự khuấy động nào đi kèm với một cảm xúc, đều dễ dàng được chuyển hóa thành
chính cảm xúc đó; mặc dù về bản chất, ban đầu chúng khác biệt, thậm chí trái
ngược nhau. Đúng là để tạo ra một sự hợp nhất hoàn hảo giữa những cảm xúc và
làm cho cái này sản sinh ra cái kia, luôn luôn đòi hỏi một Ràng buộc hai chiều,
theo như lý thuyết đã đưa ra ở phần trước. Nhưng khi hai cảm xúc đã được sản
sinh bởi những nguyên nhân riêng biệt của chúng và cùng hiện diện trong não thức,
chúng sẽ sẵn sàng hòa trộn và hợp nhất; mặc dù chúng chỉ có một tương quan, và
đôi khi chẳng cần tương quan nào. Cảm xúc chiếm ưu thế sẽ nuốt chửng cảm xúc cấp
thấp hơn và chuyển hóa nó thành chính mình.
Tinh thần (the spirits), một khi đã bị khởi động, sẽ dễ
dàng tiếp nhận một sự thay đổi trong hướng đi của nó; và thật tự nhiên khi hình
dung rằng sự thay đổi này sẽ đến từ tình cảm (affection) đang áp đảo. Trong nhiều
trường hợp, mối kết nối giữa hai cảm xúc bất kỳ luôn chặt chẽ hơn mối kết nối
giữa bất kỳ cảm xúc nào với trạng thái bình tâm dửng dưng (indifference).
[ P 6.9, Bea 27 ]
Ngược lại, trạng thái an toàn, chắc chắn (security) làm
suy giảm những cảm xúc. Khi não thức bị bỏ mặc cho chính nó, nó nhanh chóng trở
nên nguội lạnh; vì vậy, để giữ được sự hăng hái, nó cần liên tục được tiếp thêm
bởi một dòng cảm xúc mới. Vì lý do tương tự, sự tuyệt vọng (despair), dù đối lập
với an toàn chắc chắn, cũng tạo ra một hiệu ứng giống như vậy, tức là làm giảm
sức sống của cảm xúc.
[ P 6.10, Bea 27 ]
Không gì làm một cảm xúc mạnh hơn bằng cách che bớt một
phần của đối tượng, đặt nó trong một dạng “bóng mờ” (shade), vừa đủ để tạo thiện
cảm ban đầu, nhưng vẫn để lại chỗ trống cho trí tưởng tượng hoạt động.
Ngoài việc sự mơ hồ luôn đi kèm một mức độ bất định,
chính nỗ lực của trí tưởng tượng để hoàn tất hình ảnh thiếu hụt đó sẽ kích động
“tinh thần” (spirits), và từ đó tăng thêm sức mạnh cho cảm xúc đang chi phối.
[ P 6.11, Bea 27–28 ]
Cũng như tuyệt vọng và an toàn chắc chắn, dù đối lập, lại
dẫn đến hiệu ứng tương tự, thì sự vắng mặt (absence) lại có thể tạo ra hai hiệu
ứng trái ngược, tùy hoàn cảnh: hoặc làm giảm, hoặc làm tăng tình cảm.
Rochefoucauld nhận xét rất đúng rằng: vắng mặt làm yếu những
tình cảm yếu, nhưng làm mạnh những tình cảm mạnh; giống như gió có thể dập tắt
một ngọn nến, nhưng lại làm bùng lên một đám lửa.
Sự vắng mặt kéo dài tự nhiên làm suy yếu hình ảnh của đối
tượng trong tâm trí, từ đó làm giảm cảm xúc. Nhưng nếu tình cảm vốn đã mạnh và
sống động, thì sự bất an do vắng mặt tạo ra lại trở thành một yếu tố tăng cường,
khiến cảm xúc trở nên mãnh liệt hơn.
[ P 6.12, Bea 28 ]
Khi não thức hướng đến một hành động hoặc một đối tượng
mà nó chưa quen thuộc, những năng lực của nó trở nên “không linh hoạt”, và dòng
vận động của “tinh thần” gặp khó khăn khi phải chuyển hướng.
Chính khó khăn này kích thích “tinh thần”, và là nguồn gốc
của ngạc nhiên (wonder), kinh ngạc (surprise) và những cảm xúc phát sinh từ sự
mới lạ. Bản thân trạng thái này dễ chịu ở mức độ vừa phải, vì nó làm não thức trở
nên sống động.
Tuy nhiên, dù ngạc nhiên tự nó là dễ chịu, nhưng vì nó đặt
tinh thần vào trạng thái dao động, nó không chỉ làm tăng những cảm xúc dễ chịu
mà còn làm tăng cả những cảm xúc đau buồn, tùy theo nguyên lý đã nêu trước đó.
Do đó, mọi điều mới mẻ đều có tác động mạnh hơn thực tế
thông thường của nó: hoặc mang lại nhiều khoái cảm hơn, hoặc nhiều khó chịu
hơn. Khi sự mới lạ lặp lại nhiều lần, nó mất dần hiệu lực; cảm xúc dịu xuống; sự
kích động của tinh thần biến mất; và chúng ta nhìn đối tượng với trạng thái
bình ổn hơn.
[ P 6.13, Bea 28 ]
Trí tưởng tượng và những tình cảm (affections) có mối
liên hệ rất chặt chẽ. Độ sống động của trí tưởng tượng truyền sức mạnh cho tình
cảm.
Vì vậy, viễn cảnh về một lạc thú mà chúng ta đã từng trải
nghiệm sẽ tác động mạnh hơn nhiều so với một lạc thú khác mà chúng ta có thể thừa
nhận là vượt trội hơn, nhưng chúng ta lại không hề biết rõ bản chất của nó.
Trong trường hợp thứ nhất, chúng ta có thể hình thành một
ý niệm rõ ràng và xác định; trong trường hợp thứ hai, chúng ta chỉ có một khái
niệm chung chung về “lạc thú”.
[ P 6.14, Bea 28 ]
Bất kỳ lạc thú nào vừa mới xảy ra gần đây, và còn lưu lại
trong ký ức sống động, sẽ tác động lên ý chí mạnh hơn nhiều so với một lạc thú
khác mà dấu vết đã phai nhạt hoặc gần như bị xóa bỏ.
[ P 6.15, Bea 28 ]
Một lạc thú phù hợp với lối sống mà chúng ta đang theo đuổi
sẽ kích thích ham muốn và nhu cầu mạnh hơn so với một lạc thú xa lạ với lối sống
đó. [5]
[ P 6.16, Bea 28 ]
Không gì có thể truyền một tình cảm vào não thức mạnh hơn
nghệ thuật hùng biện (eloquence), nhờ đó đối tượng được trình bày bằng
những hình ảnh sống động và mạnh mẽ nhất.
Ý kiến của người khác, đặc biệt khi được trình bày với cảm
xúc, có thể khiến một ý niệm tác động lên ta, dù trong điều kiện bình thường chúng
ta có thể hoàn toàn bỏ qua nó.
[ P 6.17, Bea 28 ]
Một điều đáng chú ý là: những tình cảm mạnh thường đi kèm
với một trí tưởng tượng sống động.
Về điểm này cũng như nhiều điểm khác, sức mạnh của tình cảm
phụ thuộc không chỉ vào đối tượng và hoàn cảnh của nó, mà còn vào tâm tính
(temper) của từng người.
[ P 6.18, Bea 29 ]
Những gì xa xôi, dù trong không gian hay thời gian, đều
không có ảnh hưởng mạnh bằng những gì gần gũi và và kề cận.
[ P 6.19, Bea 29 ]
Tôi không cho rằng mình đã trình bày đầy đủ toàn bộ chủ đề
này.
Mục đích của tôi đã đạt được nếu tôi làm rõ được rằng:
trong việc hình thành và vận hành những tình cảm (passions), tồn tại một cơ chế
có quy luật và trật tự rõ ràng, và cơ chế này có thể được nghiên cứu chính xác
như những quy luật trong vật lý — chẳng hạn như cơ học, quang học, thủy tĩnh học,
hay bất kỳ ngành khoa học tự nhiên nào khác.
Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ nhất
(May/2026
(Còn tiếp... →)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1] Ở ví dụ này, Hume nhắc đến hai tác phẩm của Matthew Prior (1664–1721),
một nhà thơ Anh cuối thế kỷ 17 – đầu thế kỷ 18. Hai tác phẩm là Alma; or,
The Progress of the Mind (1718), mang tính châm biếm và vui tươi, mô tả
hành trình của não thức theo lối hài hước, và Solomon on the Vanity of the
World (1718), một bài thơ nghiêm túc, dựa trên hình tượng Vua Solomon trong
Kinh Thánh để suy tư về sự phù du và vô nghĩa của đời sống trần thế.
Hume
chọn ví dụ này vì hai tác phẩm vừa cùng tác giả, vừa được xuất bản trong cùng một
tập, nhưng lại đối lập mạnh về sắc thái cảm xúc. Tuy vậy, người đọc không cảm
thấy khó chịu khi chuyển từ tác phẩm này sang tác phẩm kia, ngay cả khi đọc
liên tiếp không ngắt quãng. Điều này cho thấy rằng, theo Hume, cảm xúc không va
chạm hay xung đột chỉ vì nội dung khác nhau, mà phụ thuộc vào cách trí tưởng tượng
nối (hoặc ngắt) những ý niệm. Ở đây, sự phân tách rõ ràng giữa hai tác phẩm tạo
ra một “đứt đoạn” trong chuỗi liên tưởng, khiến cảm xúc không lan truyền sang
nhau, và vì thế hai trạng thái cảm xúc đối lập có thể cùng tồn tại mà không gây
xung đột nội tâm.
[2] Cảm xúc giữa người với người không phát sinh trực tiếp từ bản thân đối tượng
như một cái gì tự nó đã mang sẵn giá trị tình cảm, mà được hình thành thông qua
một mạng lưới những mối liên hệ trong não thức, bao gồm sự liên kết giữa những ý
niệm và cách trí tưởng tượng chuyển từ ý niệm này sang ý niệm khác. Chính sự
chuyển dịch này làm cho một đối tượng không chỉ được nhìn như chính nó, mà còn
được đặt vào quan hệ với ta hoặc với những người khác, từ đó mang lại những sắc
thái như yêu mến, kính trọng, khinh miệt hay ganh tị. những ví dụ trong Phần 4
cho thấy điều này qua hiện tượng “liên hệ kép”, vai trò của sự gần gũi, so sánh
tương đối, và sự đứt đoạn ý niệm, nơi chỉ cần thay đổi quan hệ liên tưởng là cảm
xúc đã đổi hướng.
Trong
cấu trúc này, trí tưởng tượng đóng vai trò trung gian: nó không chỉ tiếp nhận đối
tượng một cách thụ động, mà tự động nối kết, so sánh và di chuyển giữa những ý
niệm dựa trên mức độ gần gũi, tương đồng hoặc thói quen. Khi những ý niệm được
nối với nhau theo một trật tự “thuận dòng”, cảm xúc cũng sẽ trôi theo cùng hướng;
ngược lại, khi mối liên hệ bị gián đoạn hoặc quá xa, cảm xúc sẽ yếu đi hoặc
không hình thành. Điều này được minh họa qua những trường hợp không ganh tị với
đối tượng xa, nhưng ganh tị với đối tượng gần, hoặc việc hai tác phẩm khác thể
loại không làm cảm xúc xung đột.
Do đó, cái quyết định cảm xúc không phải là bản thân sự vật hay con người được xét riêng lẻ, mà là toàn bộ cấu trúc quan hệ mà trí tưởng tượng thiết lập xung quanh họ. Chính mạng lưới liên hệ này điều khiển hướng đi, cường độ và sự biến đổi của mọi tình cảm trong đời sống con người
[3] Phần 5 trong Hume đóng vai trò như một kết luận nền tảng về quan hệ giữa lý
trí, cảm xúc và ý chí. Ông bắt đầu bằng việc xác định rằng lý trí, hiểu theo
nghĩa nghiêm ngặt là năng lực phân biệt đúng sai và xác định quan hệ giữa những
ý niệm hay sự kiện, tự thân nó không thể tạo ra động cơ cho hành động. Lý trí
có thể cho ta biết một điều là gì, hoặc nó liên hệ với cái gì, nhưng nếu bản
thân sự việc đó không mang theo yếu tố tốt hay xấu, không gợi ra ham muốn hay
ác cảm, thì nó hoàn toàn không có sức thúc đẩy ý chí. Vì thế, lý trí chỉ đóng
vai trò nhận thức, chứ không phải nguyên nhân của hành động.
Từ
đó, Hume chuyển sang làm rõ rằng cái mà người ta thường gọi là “hành động theo
lý trí” thực chất không phải là sự chi phối của lý trí thuần túy, mà là sự vận
hành của những cảm xúc bình lặng—những ham muốn ổn định, có tính dài hạn và ít
dao động. Khi nói một người hành động vì lý trí, như trong trường hợp siêng
năng vì sự giàu có hay tuân thủ công lý vì lợi ích chung, thực chất ta đang nói
đến những mong muốn đã được làm dịu và ổn định, chứ không phải một năng lực phi
cảm xúc nào đó.
Hume
tiếp tục chỉ ra rằng cùng một đối tượng có thể được kinh nghiệm theo hai cách
khác nhau: khi còn xa xôi và trừu tượng, nó được lý trí xem xét một cách bình
thản; nhưng khi trở nên gần gũi, sống động và gắn với hoàn cảnh cụ thể, nó lập
tức biến thành nguồn gốc của những cảm xúc mạnh như sợ hãi, ham muốn hay ác cảm.
Điều này cho thấy không có ranh giới cố định giữa “lý trí” và “cảm xúc” trong
nghĩa thông thường, mà chỉ có sự thay đổi về mức độ sống động của ý niệm trong
trí tưởng tượng.
Từ
những phân tích đó, Hume kết luận rằng ý chí không bao giờ chỉ chịu sự điều khiển
của một nguyên lý duy nhất. Nó luôn là nơi giao thoa giữa những cảm xúc bình lặng
và những cảm xúc mãnh liệt. Khi hai loại cảm xúc này xung đột, cái nào chiếm ưu
thế sẽ quyết định hành động, tùy theo tính cách và trạng thái tâm lý của từng
người trong từng hoàn cảnh cụ thể. Cái gọi là “bản lĩnh tinh thần” chính là khả
năng để những cảm xúc bình lặng giữ ưu thế trước những xung động mạnh, nhưng
ngay cả điều đó cũng không bao giờ tuyệt đối.
Như
vậy, toàn bộ phần này thiết lập một luận điểm trung tâm: lý trí không phải động
cơ của hành động; động cơ thực sự luôn là cảm xúc, còn ý chí chỉ là kết quả của
sự cạnh tranh giữa những khuynh hướng cảm xúc khác nhau, được điều phối bởi mức
độ sống động mà trí tưởng tượng gán cho chúng.
[4] Ngược lại, khi mọi sự đã hoàn toàn chắc chắn và không còn gì phải chờ đợi
hay suy đoán, não thức mất đi trạng thái vận động đó. Nó dần trở nên lắng xuống,
và cảm xúc cũng suy yếu theo. Hume cho rằng não thức cần một dòng kích thích
liên tục để duy trì sự hăng hái của mình; khi dòng kích thích ấy chấm dứt, cảm
xúc sẽ nguội dần.Điều đáng chú ý là sự tuyệt vọng (despair) cũng tạo ra kết quả
tương tự như sự chắc chắn (security), mặc dù hai trạng thái này đối lập nhau.
Trong cả hai trường hợp, sự bất định đều đã kết thúc: một bên là chắc chắn sẽ đạt
được điều mong muốn, bên kia là chắc chắn không thể đạt được nó. Vì không còn sự
dao động giữa những khả năng nữa, não thức mất đi nguồn kích động từng nuôi dưỡng
cảm xúc, và cường độ của cảm xúc theo đó cũng giảm xuống. Hume muốn chỉ ra rằng
cảm xúc thường được nuôi dưỡng bởi trạng thái chờ đợi, dao động và chưa ngã
ngũ; còn khi mọi khả năng đã được quyết định dứt khoát, dù theo hướng tốt hay xấu,
cảm xúc có xu hướng suy giảm vì não thức không còn gì để tiếp tục vận động
quanh đối tượng ấy nữa.
[5] Hume muốn cho thấy rằng cường độ của cảm xúc không chỉ phụ thuộc vào giá trị
của đối tượng, mà còn phụ thuộc vào mức độ phù hợp của đối tượng ấy với những
khuynh hướng, thói quen và hoạt động đang chi phối đời sống của chúng ta. Một
niềm vui gắn liền với cách sống hiện tại sẽ dễ dàng đi vào dòng vận động sẵn có
của não thức, nên kích thích ham muốn mạnh hơn. Ngược lại, một niềm vui tuy có
thể lớn hơn về mặt khách quan nhưng nếu xa lạ với những mối quan tâm và sinh hoạt
thường ngày của ta thì thường gây tác động yếu hơn. Hume vì thế nhấn mạnh rằng
cảm xúc không phản ứng trước sự vật một cách thuần túy, mà luôn phản ứng trước
sự vật trong tương quan với toàn bộ nếp sống và khuynh hướng đã hình thành nơi
mỗi cá nhân
[6] Phần VI có thể được đọc như một chuỗi dẫn giải về những điều kiện quyết định
cường độ của cảm xúc, và nếu cô đọng lại, có thể quy về sáu nguyên lý cơ bản.
Trước
hết, Hume cho rằng những cảm xúc không tồn tại tách biệt mà có xu hướng lan
truyền và hòa trộn khi cùng hiện diện trong não thức. Khi đó, cảm xúc mạnh hơn
sẽ chi phối và biến đổi cảm xúc yếu hơn, khiến toàn bộ trạng thái tâm lý
nghiêng về một hướng chủ đạo.
Thứ
hai, ông nhấn mạnh rằng sự xung đột giữa những cảm xúc không làm chúng triệt
tiêu nhau một cách đơn giản, mà ngược lại thường tạo ra một trạng thái kích động
mới trong não thức. Chính sự kích động này làm tăng năng lượng chung, khiến cảm
xúc chiếm ưu thế trở nên mạnh hơn so với trường hợp không có đối lập.
Thứ
ba, cường độ cảm xúc phụ thuộc trực tiếp vào mức độ sống động của trí tưởng tượng.
Một ý niệm càng rõ ràng, cụ thể và dễ hình dung thì càng có khả năng tác động mạnh
lên não thức; ngược lại, những ý niệm trừu tượng, mơ hồ hoặc chỉ được nắm bắt một
cách chung chung sẽ tạo ra cảm xúc yếu hơn.
Thứ
tư, khoảng cách về không gian và thời gian có vai trò quyết định: những gì gần
gũi, trực tiếp hoặc vừa mới xảy ra luôn tác động mạnh hơn những gì xa xôi hoặc
chỉ được hình dung gián tiếp. Sự “gần” ở đây không chỉ là vật lý, mà còn là mức
độ hiện diện trong ý thức.
Thứ
năm, cảm xúc được tăng cường khi đối tượng phù hợp với thói quen sống hoặc
khuôn khổ hành vi hiện tại của cá nhân. Cái quen thuộc không làm giảm tác động,
mà ngược lại, làm cho khoái cảm hoặc ác cảm trở nên dễ đi vào dòng vận động tự
nhiên của não thức
Toàn
bộ Phần IV–V–VI trong có thể được hiểu
như một chú thích thống nhất về “cơ chế vận hành của những cảm xúc” (passions)
trong não thức con người. Ở tầng nền, Hume cho rằng cảm xúc không hình thành
như những thực thể độc lập, mà được tạo ra qua những liên hệ giữa ý niệm và cảm
giác: khi một đối tượng mang lại cảm giác dễ chịu hoặc khó chịu, và đồng thời
có một mối liên hệ nào đó với một người hay với bản thân ta, thì trí tưởng tượng
sẽ nối hai yếu tố này lại, làm phát sinh những cảm xúc như yêu mến, kính trọng,
khinh miệt hay ác cảm. Cảm xúc vì thế không nằm trong bản thân sự vật, mà nằm
trong cấu trúc liên hệ mà não thức thiết lập quanh sự vật đó.
Trên
nền cấu trúc ấy, Hume chuyển sang vấn đề động lực của hành động. Lý trí, theo
ông, chỉ có chức năng nhận biết quan hệ giữa những ý niệm hoặc sự kiện, nhưng
không tự nó tạo ra động cơ hành động. Mọi hành động đều phải bắt nguồn từ cảm
xúc, trong đó cái gọi là “lý trí” trong đời sống thường ngày thực chất chỉ là một
dạng cảm xúc trầm lắng, ổn định và có tính hướng đích dài hạn. Do đó, hành vi
con người luôn là kết quả của sự tương tác giữa những cảm xúc mạnh, trực tiếp
và gần gũi với những khuynh hướng ổn định nhưng yếu hơn; tùy hoàn cảnh, cái nào
mạnh hơn tại thời điểm đó sẽ chi phối ý chí.
Trên
phương diện cường độ, Hume nhấn mạnh rằng những cảm xúc không vận hành theo mức
độ cố định, mà thay đổi theo điều kiện của trí tưởng tượng và hoàn cảnh trình
hiện của đối tượng. Cảm xúc mạnh lên khi đối tượng được hình dung rõ ràng, gần
gũi về không gian hoặc thời gian, phù hợp với thói quen sống, hoặc được đặt
trong trạng thái che mờ vừa đủ để kích thích trí tưởng tượng. Ngược lại, cảm
xúc suy yếu khi đối tượng trở nên xa xôi, trừu tượng, hoặc bị hòa tan vào sự
quen thuộc và an toàn. Đặc biệt, sự xung đột giữa những cảm xúc không làm chúng
triệt tiêu nhau, mà thường tạo ra một trạng thái kích động mới, qua đó làm tăng
cường độ của cảm xúc chiếm ưu thế.
Như
vậy, toàn bộ hệ thống của Hume có thể được tóm lược như một mô hình thống nhất:
cảm xúc hình thành qua những liên hệ của ý niệm, chi phối ý chí như động cơ thực
sự của hành động, và biến đổi cường độ theo những điều kiện của trí tưởng tượng,
khoảng cách, thói quen và xung đột nội tâm. Não thức con người, trong cách nhìn
này, không vận hành theo những nguyên lý thuần lý trí, mà theo một “cơ chế tự
nhiên” có quy luật, trong đó những cảm xúc liên tục tương tác, lan truyền và điều
chỉnh lẫn nhau như những lực động trong một hệ thống.
