Wednesday, June 3, 2026

Hume - Một Luận Văn Về Những Đam Mê (02)

Một Luận Văn Về Những Đam Mê

(A Dissertation on the Passions)

 

David Hume

 

( ← ... tiếp theo )

 




 

MỘT LUẬN VĂN VỀ NHỮNG ĐAM MÊ

 

PHẦN II.

 

[ P 2.1, Bea 7 ]

1. Bên cạnh những cảm xúc (passions) đã nhắc đến ở trên, vốn nảy sinh từ việc theo đuổi trực tiếp tốt lành (good) và né tránh tai họa (evil), còn có những cảm xúc khác mang bản chất phức tạp hơn, hàm chứa nhiều hơn một góc nhìn hay sự cân nhắc. Do đó, Tự hào (Pride) là một sự hài lòng nhất định ở bản thân nhờ vào một thành tựu hay vật sở hữu nào đó mà chúng ta được hưởng; ngược lại, Tự ti (Humility) [1] là sự không hài lòng với bản thân do một khiếm khuyết hay sự yếu đuối nào đó.

 

[ P 2.2, Bea 7 ]

Tình yêu hay Tình bạn là sự mến chuộng đẹp lòng (complacency) [2] đối với người khác, xuất phát từ những thành tựu hoặc sự giúp ích của họ; còn Thù hận thì ngược lại.

 

[ P 2.3, Bea 7 ]

2. Trong hai cặp cảm xúc này, có một sự phân biệt rõ ràng cần phải được đưa ra giữa đối tượng (object) của cảm xúc và nguyên nhân (cause) của nó. Đối tượng của sự tự hào và sự tự ti là chính bản thân ta (self): Nguyên nhân của cảm xúc là một vài sự ưu tú (excellence) trong trường hợp trước; và một vài lỗi lầm (fault), trong trường hợp sau. Đối tượng của tình yêu và sự thù hận là một người nào đó khác: những nguyên nhân, theo cách tương tự, hoặc là những sự ưu tú hoặc là những lỗi lầm.

 

[ P 2.4, Bea 7 ]

Đối với tất cả những cảm xúc này, nguyên nhân là thứ kích thích xúc cảm (emotion); còn đối tượng là thứ mà não thức (mind) hướng cái nhìn của nó đến khi xúc cảm được kích thích. Phẩm giá (merit) của chúng ta, [3] chẳng hạn, làm dấy lên sự tự hào; và điều cốt yếu đối với sự tự hào là hướng cái nhìn của chúng ta vào chính bản thân mình với sự đẹp lòng và thỏa mãn.

 

[ P 2.5, Bea 7 ]

Giờ đây, vì những nguyên nhân của những cảm xúc này vô cùng nhiều và đa dạng, mặc dù đối tượng của chúng thì lại đồng nhất và đơn giản; cho nên, việc cân nhắc xem yếu tố nào là điểm chung mà tất cả những nguyên nhân đa dạng này đều đồng thuận, hay nói cách khác, đâu là nguyên nhân tác thành thực sự (real efficient cause) [4] của cảm xúc, sẽ là một đề tài gợi lên nhiều sự tò mò. Chúng ta sẽ bắt đầu với sự tự hào và sự tự ti.

 

[ P 2.6, Bea 7 ]

3. Để giải thích nguyên nhân của những cảm xúc (passions) này, chúng ta phải suy ngẫm về một số nguyên lý; mặc dù chúng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến mọi hoạt động của cả lý trí lẫn cảm xúc, nhưng lại không thường được những nhà triết học nhấn mạnh. Nguyên lý đầu tiên là sự liên tưởng giữa những ý niệm (association of ideas), hay nguyên lý mà nhờ đó chúng ta dễ dàng chuyển từ ý niệm này sang ý niệm khác. Dù suy nghĩ của chúng ta có thể bất định và biến đổi đến đâu, chúng vẫn không hoàn toàn vô quy luật và thiếu phương pháp trong những bước chuyển của mình. Chúng thường chuyển đổi một cách đều đặn từ đối tượng này sang đối tượng có tính tương đồng, kế cận, hoặc có quan hệ nhân quả với nó. Khi một ý niệm hiện diện trong trí tưởng tượng, bất kỳ ý niệm nào khác được kết nối bởi những tương quan này sẽ tự nhiên theo sau, và đi vào não thức một cách dễ dàng hơn nhờ sự dẫn dắt đó.

 

[ P 2.7, Bea 8 ]

Thuộc tính thứ hai mà tôi sẽ nhắc đến trong não thức con người là một sự liên tưởng tương tự giữa những ấn tượng hoặc cảm xúc. Tất cả những ấn tượng tương đồng đều được kết nối với nhau; và ngay khi một ấn tượng xuất hiện, những ấn tượng khác sẽ tự nhiên nối gót. Đau buồn và sự thất vọng dẫn đến tức giận, tức giận dẫn đến ghen tị, ghen tị dẫn đến ác ý, và ác ý lại quay về dẫn đến đau buồn. Tương tự như vậy, khi tâm trạng chúng ta được phấn chấn bởi niềm vui, nó sẽ tự nhiên hướng đến tình yêu thương, lòng hào phóng, lòng can đảm, niềm tự hào và những tình cảm liên đới (allied affections) khác.

 

[ P 2.8, Bea 8 ]

Thứ ba, có thể nhận thấy rằng hai loại liên tưởng này hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau rất nhiều, và sự chuyển đổi diễn ra dễ dàng hơn khi cả hai cùng hướng đến một mục tiêu. Ví dụ, một người bị tổn thương bởi người khác mà trở nên bối rối và cáu kỉnh, sẽ dễ nảy sinh hàng trăm lý do để căm ghét, bất mãn, thiếu kiên nhẫn, sợ hãi và những cảm xúc khó chịu khác; đặc biệt là nếu người này có thể tìm thấy những lý do này ở ngay trong hoặc gần đối tượng đã gây ra cảm xúc ban đầu của mình. Những nguyên lý thúc đẩy sự chuyển đổi ý niệm ở đây đồng thời tác động lên cảm xúc; và cả hai, khi phối hợp trong cùng một thao tác, sẽ giáng một thúc đẩy mạnh mẽ gấp đôi vào não thức (give a double impulse to the mind). [5]

[ P 2.9, Bea 8 ]

Nhân dịp này, tôi có thể trích dẫn một đoạn văn từ một nhà văn tao nhã, người đã diễn đạt theo cách sau: Cũng như trí tưởng tượng thích thú với mọi thứ vĩ đại, kỳ lạ hoặc đẹp đẽ, và càng thích thú hơn khi tìm thấy nhiều sự hoàn hảo này trong cùng một đối tượng, thì nó cũng có khả năng nhận được một sự thỏa mãn mới nhờ sự hỗ trợ của một giác quan khác. Do đó, bất kỳ âm thanh liên tục nào, như tiếng chim hót hoặc tiếng thác nước, đều khơi thức não thức của người thưởng ngoạn (beholder) trong từng khoảnh khắc và khiến họ chú ý hơn đến những vẻ đẹp khác nhau của phong cảnh trước mặt. Tương tự, nếu có mùi hương hoặc nước hoa, chúng sẽ làm tăng thêm niềm vui của trí tưởng tượng và làm cho ngay cả màu sắc và cây cỏ của phong cảnh cũng trở nên dễ chịu hơn; vì ý niệm của cả hai giác quan bổ sung cho nhau và dễ chịu hơn khi kết hợp với nhau so với khi chúng xuất hiện riêng lẻ trong não thức: Giống như những màu sắc khác nhau của một bức tranh, khi được sắp xếp khéo léo, sẽ làm nổi bật lẫn nhau và nhận được thêm vẻ đẹp nhờ lợi thế của vị trí. Trong những hiện tượng này, chúng ta có thể nhận thấy sự liên tưởng của cả ấn tượng lẫn ý niệm; cũng như sự hỗ trợ lẫn nhau mà những mối liên tưởng này dành cho nhau.

 

[ P 2.10, Bea 8 ]

4. Theo tôi, cả hai loại tương quan này đều có vai trò trong việc tạo ra sự tự hào hay tự ti (humility), và là những nguyên nhân tác thành thực sự (real efficient causes) của cảm xúc.

 

[ P 2.11, Bea 8-9 ]

Về tương quan đầu tiên, tức là tương quan về ý niệm, thì không có gì phải bàn luận. Bất cứ điều gì chúng ta tự hào, theo một cách nào đó, đều phải thuộc về chúng ta. Đó luôn là kiến thức, trí tuệ, vẻ đẹp, tài sản, hay gia đình của chúng ta — những thứ mà dựa vào đó chúng ta định giá bản thân. Bản thân (Self), vốn là đối tượng của cảm xúc (passion), vẫn phải có liên hệ với phẩm chất hoặc hoàn cảnh gây ra cảm xúc đó. Phải có một sự kết nối giữa chúng; một sự chuyển đổi dễ dàng trong trí tưởng tượng; hoặc một sự thuận tiện trong nhận thức khi chuyển từ cái này sang cái kia. Khi thiếu đi sự kết nối này, không đối tượng nào có thể khơi gợi niềm tự hào hay sự tự ti (humility); và bạn càng làm suy yếu sự kết nối đó, cảm xúc càng suy giảm.

 

[ P 2.12, Bea 9 ]

5. Vấn đề duy nhất cần tìm hiểu là liệu có một tương quan tương tự về ấn tượng hay cảm thức (sentiments) ở bất cứ nơi nào mà niềm tự hào hoặc sự tự ti được cảm nhận hay không; liệu hoàn cảnh gây ra cảm xúc đó, trước đó có khơi gợi một cảm thức tương tự với chính cảm xúc ấy hay không; và liệu có một sự hòa quyện êm ái (easy transfusion) từ cái này sang cái kia hay không.

 

[ P 2.13, Bea 9 ]

Cảm giác hay cảm thức về sự tự hào là dễ chịu; còn về sự tự ti là đau đớn. Do đó, một cảm giác dễ chịu sẽ có tương quan với cái trước [tự hào]; một cảm giác đau đớn sẽ tương quan với cái sau [tự ti]. Và nếu sau khi xem xét, chúng ta thấy rằng mọi đối tượng tạo ra sự tự hào đều đồng thời tạo ra một niềm vui thú riêng biệt; và mọi đối tượng gây ra sự tự ti đều khơi dậy một sự khó chịu riêng biệt theo cách tương tự; thì trong trường hợp đó, chúng ta phải thừa nhận rằng lý thuyết hiện tại đã được chứng minh và xác lập đầy đủ. Ràng buộc hai chiều giữa ý niệm và cảm thức sẽ được thừa nhận là điều không thể tranh luận.

 

[ P 2.14, Bea 9 ]

6. Trước hết, xét về phẩm giá và khuyết điểm (personal merit and demerit) cá nhân, vốn là những nguyên nhân rõ ràng nhất của những cảm xúc này; việc xem xét nền tảng của những phân biệt đạo đức hoàn toàn không thuộc về mục đích hiện tại của chúng ta. Chỉ cần lưu ý rằng, lý thuyết nêu trên về nguồn gốc của những cảm xúc có thể được bảo vệ dựa trên bất kỳ giả thuyết nào. Hệ thống khả dĩ nhất được đưa ra để giải thích sự khác biệt giữa đức hạnh (virtue) và thói xấu (vice) là: hoặc từ cấu tạo nguyên thủy của tự nhiên, hoặc từ ý thức về lợi ích công cộng hay tư nhân, một số tính cách nhất định, ngay khi vừa được nhìn nhận và suy ngẫm, đã tạo ra sự khó chịu; trong khi những tính cách khác, theo cách tương tự, lại khơi dậy niềm vui thú. Sự khó chịu và sự thỏa mãn được tạo ra ở người quan sát là yếu tố thiết yếu của thói xấu và đức hạnh. Tán thành một tính cách nghĩa là cảm thấy thích thú khi nó xuất hiện. Không tán thành nó nghĩa là cảm nhận được một sự khó chịu. Do đó, niềm đau và sự dễ chịu, theo một cách nào đó, chính là nguồn gốc nguyên sơ của sự khiển trách hoặc khen ngợi, và cũng phải là nguyên nhân của tất cả những hệ quả từ chúng; do vậy, chúng chính là nguyên nhân của sự tự hào và tự ti, những hệ quả tất yếu đi kèm với sự phân biệt đạo đức đó.

 

[ P 2.15, Bea 9-10 ]

Nhưng giả sử lý thuyết đạo đức này không được chấp nhận; thì vẫn rõ ràng rằng khổ sở và dễ chịu (pain and pleasure), nếu không phải là nguồn gốc của những phân biệt đạo đức, thì ít nhất cũng không thể tách rời khỏi chúng. Một tính cách cao thượng và hào phóng mang lại một sự thỏa mãn ngay cả khi chúng ta chỉ mới quan sát sơ qua; và khi được hiển thị trước chúng ta, dù chỉ trong một bài thơ hay truyện ngụ ngôn, nó chưa bao giờ thất bại trong việc làm chúng ta say mê và thích thú. Mặt khác, sự tàn ác và phản bội gây ra sự khó chịu ngay từ chính bản chất của chúng; và chúng ta không bao giờ có thể dung hòa được với những phẩm chất này, dù là ở bản thân hay ở người khác. Do đó, đức hạnh luôn tạo ra một niềm vui thú biệt lập với niềm tự hào hay sự tự mãn đi kèm với nó; còn thói xấu (vice) luôn tạo ra một sự bất an biệt lập với sự tự ti hay niềm hối hận.[6]

 

[ P 2.16, Bea 10 ]

Nhưng niềm tự hào (pride) hay sự tự ti (humility) của chúng ta không chỉ xuất phát từ những phẩm chất của não thức vốn được những hệ thống đạo đức thông thường định nghĩa là một phần của nghĩa vụ luân lý; mà còn từ bất kỳ phẩm chất nào khác gắn liền với sự dễ chịu hay nỗi bất an. Không gì làm chúng ta tự mãn hơn là khả năng làm hài lòng người khác bằng sự dí dỏm, tính hài hước, hay bất kỳ tài năng nào khác; và không gì khiến chúng ta cảm thấy tủi hổ hơn là sự thất bại trong bất kỳ nỗ lực nào thuộc loại đó. Chưa ai từng có thể định nghĩa chính xác sự dí dỏm là gì, và chỉ ra tại sao một hệ thống tư tưởng này phải được chấp nhận dưới tên gọi đó, còn một hệ thống khác lại bị bác bỏ. Chỉ bằng gu thẩm mỹ (taste) mà chúng ta mới có thể quyết định về điều đó; và chúng ta cũng không có bất kỳ tiêu chuẩn nào khác để hình thành một phán đoán mang bản chất này. Vậy thì gu thẩm mỹ đó là gì, nếu không có nó thì không một tư tưởng nào có thể được xếp vào một trong hai tên gọi [dí dỏm chân chính hay giả tạo]? Rõ ràng đó chỉ là một cảm giác dễ chịu trước sự dí dỏm chân chính và một cảm giác khó chịu trước sự dí dỏm giả tạo, mà chúng ta không thể lý giải được nguyên nhân sâu xa của sự hài lòng hay bất an đó. Do đó, khả năng khơi gợi những cảm giác đối lập này chính là bản chất của sự dí dỏm chân chính hay giả tạo; và do đó, là nguyên nhân của sự tự hào hay tủi hổ nảy sinh từ cái này hay cái kia.

 

[ P 2.17, Bea 10 ]

7. Vẻ đẹp ở mọi khía cạnh đều mang lại cho chúng ta một niềm vui thú và sự thỏa mãn đặc biệt; trong khi sự xấu xí lại gây ra nỗi đau, bất kể nó hiện diện ở đối tượng nào, và dù được xem xét ở vật thể sống hay vật vô tri. Nếu vẻ đẹp hay sự xấu xí đó thuộc về khuôn mặt, hình dáng hay con người của chính chúng ta, thì niềm vui hay sự khó chịu này sẽ được chuyển hóa thành niềm tự hào hay sự tự ti (humility); vì trong trường hợp này, nó hội tụ đầy đủ những điều kiện cần thiết để tạo ra một sự chuyển dịch hoàn hảo, theo lý thuyết hiện tại.

 

[ P 2.18, Bea 10 ]

Dường như bản chất của cái đẹp nằm ở chính khả năng tạo ra khoái cảm. Do đó, mọi tác động của nó đều phải xuất phát từ điều này: Và nếu cái đẹp là đối tượng của lòng hư vinh (vanity) một cách phổ quát, thì đó chỉ là vì nó là nguyên nhân tạo ra khoái cảm.

 

[ P 2.19, Bea 10 ]

Về mọi thành tựu khác của cơ thể, nhìn chung ta có thể nhận thấy rằng bất cứ điều gì ở bản thân chúng ta mang tính hữu ích, đẹp đẽ hoặc đáng ngạc nhiên đều là đối tượng của sự tự hào; và trái ngược với sự tự ti (humility). Những phẩm chất này cùng tạo ra một niềm vui thú riêng biệt; và không tạo ra bất cứ điều gì khác ngoài nó.

 

[ P 2.20, Bea 10-1 ]

Chúng ta thường tự hào về những cuộc phiêu lưu kỳ thú mà mình đã trải qua, những lần thoát hiểm, những hiểm nguy mà mình đã phải đối mặt; cũng như về những kỳ tích đáng kinh ngạc về sức mạnh và sự dẻo dai nhanh nhẹn (activity) của bản thân. Từ đó mà nảy sinh thói hám hư danh (vanity) tầm thường; nơi mà con người, không vì lợi ích gì, mà chỉ vì lòng hư vinh, bịa đặt ra một loạt những sự kiện phi thường, hoặc là do trí tưởng tượng của họ tự nhào nặn ra; hoặc, nếu có thật, thì chẳng liên quan gì đến bản thân họ. Khả năng tưởng tượng phong phú cung cấp cho họ nhiều cuộc phiêu lưu khác nhau; và khi thiếu tài năng đó, họ chiếm đoạt những cuộc phiêu lưu của người khác để thỏa mãn lòng hư vinh của mình: Bởi vì giữa cảm xúc (passion) đó và cảm giác khoái lạc luôn có một mối liên hệ mật thiết.

 

[ P 2.21, Bea 11 ]

8. Nhưng mặc dù tự hào và tự ti có những phẩm chất thuộc về não thức (mind) và thể xác của chúng ta, hay nói cách khác là thuộc về bản thân ta (the self), làm nguyên nhân tự nhiên và trực tiếp hơn của chúng; chúng ta vẫn thấy qua kinh nghiệm rằng nhiều đối tượng bên ngoài khác cũng tạo ra những cảm xúc này. Chúng ta thấy lòng hư vinh nảy sinh từ nhà cửa, vườn tược, phương tiện đi lại và những vật thể ngoại tại khác, cũng như từ công trạng và thành tựu cá nhân. Điều này xảy ra khi những vật thể bên ngoài có một tương quan đặc biệt với chính chúng ta, và được liên kết hoặc kết nối với chúng ta. Một con cá đẹp trong đại dương, một con vật cân đối trong rừng, và thực tế là bất cứ thứ gì không thuộc về hoặc không liên quan đến chúng ta, đều không mảy may ảnh hưởng đến lòng hư vinh của ta; cho dù nó có những phẩm chất phi thường nào đi chăng nữa, và cho dù nó có gây ra sự ngạc nhiên và ngưỡng mộ tự nhiên đến mức nào. Nó phải được liên kết bằng cách nào đó với chúng ta để có thể chạm đến lòng tự hào của ta. Ý niệm về nó phải dựa trên ý niệm về chính bản thân chúng ta; và sự chuyển đổi từ cái này sang cái kia phải dễ dàng và tự nhiên. [7]

 

[ P 2.22, Bea 11 ]

Người ta thường tự hào về vẻ đẹp của đất nước, quận huyện, hay thậm chí cả làng xã quê hương (parish) của mình. Ở đây, ý niệm về cái đẹp rõ ràng tạo ra một sự dễ chịu. Sự dễ chịu này có tương quan với niềm tự hào. Đối tượng hoặc nguyên nhân của sự dễ chịu này, theo giả định, có tương quan với bản thân — vốn là đối tượng của niềm tự hào. Thông qua Ràng buộc hai chiều giữa tình cảm và ý niệm này, một sự chuyển dịch được thực hiện từ cái này sang cái kia.

 

[ P 2.23, Bea 11 ]

Người ta cũng tự hào về nhiệt độ ôn hòa dễ chịu của khí hậu nơi họ sinh ra; về độ màu mỡ của đất đai quê hương; về chất lượng của rượu vang, trái cây hoặc thực phẩm do nơi đó sản xuất; về sự dịu dàng hay mạnh mẽ trong ngôn ngữ của họ, cùng những chi tiết khác tương tự. Những điều này rõ ràng liên quan đến những khoái cảm của giác quan, và ban đầu được coi là dễ chịu đối với xúc giác, vị giác hoặc thính giác. Làm sao chúng có thể trở thành nguyên nhân của sự tự hào, nếu không phải thông qua sự chuyển dịch [của Ràng buộc hai chiều] đã được giải thích ở trên?

 

[ P 2.24, Bea 11-2 ]

Có một số người lại biểu lộ một lòng hư vinh trái ngược (contrary vanity), và họ có khuynh hướng coi thường đất nước mình khi so sánh với những quốc gia mà họ đã từng du ngoạn. Những người này nhận thấy, khi ở nhà và được bao quanh bởi đồng bào mình, rằng mối liên hệ bền chặt giữa họ và dân tộc mình bị chia sẻ với quá nhiều người khác, đến mức nó dường như bị loãng đi đối với họ; trong khi đó, mối liên hệ xa xôi với một quốc gia nước ngoài, được hình thành bởi việc họ đã từng chiêm ngưỡng và sinh sống ở đó, lại được củng cố bởi việc họ nhận ra có rất ít người làm được điều tương tự. Vì lý do này, họ luôn ngưỡng mộ vẻ đẹp, sự hữu ích và tính quý hiếm của những gì họ gặp ở nước ngoài hơn là những gì họ tìm thấy ở trong nước.

 

[ P 2.25, Bea 12 ]

Vì chúng ta có thể tự hào về một quốc gia, khí hậu, hay bất kỳ vật vô tri vô giác nào có liên quan đến mình; nên không có gì lạ khi chúng ta tự hào về phẩm chất của những người có quan hệ huyết thống hoặc bạn bè với mình. Do đó, chúng ta thấy rằng bất kỳ phẩm chất nào, khi thuộc về chính bản thân chúng ta thì gây ra sự tự hào, thì khi được phát hiện ở những người có mối liên hệ với ta, cũng gây ra một sự đẹp lòng (complacency) tương tự ở mức độ thấp hơn. Vẻ đẹp, cách cư xử, phẩm giá (merit), danh tiếng và vinh dự của người thân được những người tự hào phô trương một cách cẩn thận, và đó là nguồn gốc đáng kể cho sự tự mãn của họ.

 

[ P 2.26, Bea 12 ]

Vì chúng ta tự hào về sự giàu có của bản thân, nên để thỏa mãn lòng hư vinh, chúng ta mong muốn mọi người có quan hệ với mình cũng đều sở hữu sự giàu có đó, và chúng ta cảm thấy tự ti (humility) về những người nghèo khó, keo kiệt trong số bạn bè và người thân của mình. Tổ tiên được coi là những người thân cận nhất; vì vậy, ai cũng tự nhiên muốn mình thuộc về một gia đình danh giá, và có dòng dõi lâu đời gồm những tổ tiên giàu có và đáng kính.

 

[ P 2.27, Bea 12 ]

Những người tự hào về dòng dõi lâu đời của gia đình mình thường vui mừng khi có thể kể thêm chi tiết rằng tổ tiên họ, qua nhiều thế hệ, đã liên tục sở hữu cùng một mảnh đất, và gia đình họ chưa bao giờ thay đổi quyền sở hữu hay chuyển đến bất kỳ quận huyện hoặc tỉnh nào khác. Họ càng tự hào hơn khi có thể khoe khoang rằng những tài sản này được truyền lại qua một dòng dõi hoàn toàn là nam giới, và danh vọng cũng như gia sản chưa bao giờ bị cắt ngang hay truyền qua bất kỳ người phụ nữ nào. Chúng ta hãy cố gắng giải thích những hiện tượng này dựa trên lý thuyết nêu trên.

 

[ P 2.28, Bea 12 ]

Khi ai đó tự hào về dòng dõi lâu đời của gia đình mình, thì đối tượng của sự tự hào không chỉ là sự trường tồn và số lượng tổ tiên (vì về điểm này thì tất cả mọi người đều giống nhau), mà còn là những yếu tố này, khi kết hợp với sự giàu có và danh tiếng của tổ tiên, được cho là phản chiếu hào quang lên chính bản thân người đó, nhờ mối liên hệ với họ. Vì vậy, bởi vì cảm xúc (passion) phụ thuộc vào tương quan, nên bất cứ điều gì củng cố tương quan cũng sẽ làm tăng cảm xúc, và bất cứ điều gì làm suy yếu tương quan cũng sẽ làm giảm cảm xúc. Nhưng rõ ràng, sự bất biến về tài sản [đất đai không đổi qua nhiều đời] sẽ củng cố tương quan về ý niệm nảy sinh từ huyết thống và họ hàng, và dẫn dắt trí tưởng tượng dễ dàng hơn từ thế hệ này sang thế hệ khác; từ tổ tiên xa xưa nhất đến con cháu của họ, những người vừa là người thừa kế vừa là hậu duệ của họ. Nhờ sự dễ dàng này, dòng chảy cảm xúc được lan tỏa trọn vẹn hơn (transfuses itself more fully), và khơi dậy mức độ tự hào và tự phụ cao hơn.[8]

 

[ P 2.29, Bea 13 ]

Trường hợp tương tự cũng xảy ra với việc truyền thừa danh dự và gia sản thông qua nhiều đời nam giới mà không cần qua bất kỳ người nữ nào. Đó là một đặc điểm hiển nhiên của bản chất con người, rằng trí tưởng tượng tự nhiên luôn hướng đến những gì quan trọng và đáng kể; và khi có hai đối tượng, một nhỏ và một lớn, nó thường bỏ qua cái nhỏ để tập trung hoàn toàn vào cái lớn. Đây là lý do tại sao con cái thường mang họ của cha và được coi là có xuất thân cao quý hay thấp kém tùy thuộc vào gia đình của người cha. Và mặc dù người mẹ có thể sở hữu những phẩm chất vượt trội hơn người cha — như vẫn thường xảy ra — quy tắc chung vẫn được áp dụng bất chấp ngoại lệ, theo luận thuyết (doctrine) sẽ được giải thích ở phần sau. Thậm chí, ngay cả khi sự vượt trội nào đó là quá lớn, hoặc khi bất kỳ lý do nào khác có tác động khiến con cái giống gia đình mẹ hơn gia đình cha, quy tắc chung vẫn giữ nguyên hiệu lực của nó, đủ để làm suy yếu tương quan và tạo ra một sự đứt đoạn trong dòng dõi tổ tiên. Trí tưởng tượng không thể dễ dàng dõi theo những điều đó, cũng không thể truyền tải vinh dự và sự ưu tú (merit) của tổ tiên cho con cháu cùng họ một cách dễ dàng như khi bước chuyển dịch của não thức (transition) tuân theo quy luật chung và diễn ra theo dòng nam, từ cha sang con trai, hoặc từ anh em sang anh em.

 

[ P 2.30, Bea 13 ]

9. Nhưng quyền sở hữu (property), vì nó mang lại cho chúng ta quyền lực và thẩm quyền tối đa đối với một vật thể, là tương quan có ảnh hưởng lớn nhất đến những cảm xúc (passions) này.

 

[ P 2.31, Bea 13-4 ]

Đối với một kẻ hám hư danh (a vain man), mọi thứ y có đều là thứ tốt nhất mà người ta có thể tìm thấy ở bất cứ đâu. Nhà cửa, xe cộ, đồ đạc, quần áo, ngựa, hay chó săn của y đều vượt trội hơn tất cả những thứ khác theo ý kiến của chính y; và dễ dàng nhận thấy rằng, từ một lợi thế nhỏ nhất trong bất kỳ thứ nào trong số đó, y lại tìm ra một chủ đề mới để tự hào và nuôi dưỡng lòng hư vinh. Rượu của y, nếu bạn tin lời y, có hương vị ngon hơn bất kỳ loại nào khác; tài nấu nướng của gia đình y tinh tế hơn; bàn ăn sắp xếp ngăn nắp hơn; người hầu giỏi giang hơn; không khí nơi y sống trong lành hơn; đất đai y canh tác màu mỡ hơn; trái cây chín sớm và hoàn hảo hơn. Thứ này đáng chú ý vì tính mới lạ của nó; thứ khác lại đáng chú ý vì tính cổ xưa; đây là tác phẩm của một nghệ sĩ nổi tiếng; thứ kia từng thuộc về một vị hoàng tử hoặc một vĩ nhân nào đó. Nói tóm lại, tất cả những vật thể hữu ích, đẹp đẽ, hoặc đáng ngạc nhiên, hoặc có liên quan đến những điều đó, đều có thể thông qua quyền sở hữu mà tạo ra cảm xúc này. Tất cả chúng đều đồng nhất ở một điểm là mang lại sự dễ chịu (pleasure). Chỉ có điều này là điểm chung của chúng; và do đó, đó phải là phẩm chất tạo ra cảm xúc, vốn là hệ quả chung (common effect) của chúng. Vì mỗi trường hợp mới là một minh chứng mới, và vì những trường hợp ở đây là vô số, dường như lý thuyết này đã được kinh nghiệm chứng minh một cách đầy đủ.

 

[ P 2.32, Bea 14 ]

Sự giàu có hàm ý quyền lực để có được bất cứ thứ gì mình muốn; và vì nó bao hàm nhiều đối tượng kích thích lòng hư vinh (vanity), nên tất yếu trở thành một trong những nguyên nhân chính gây ra xúc cảm đó.

 

[ P 2.33, Bea 14 ]

10. Mọi loại quan điểm của chúng ta đều bị tác động mạnh mẽ bởi xã hội và sự đồng điệu tâm cảm (sympathy); và hầu như chúng ta không thể bảo vệ bất kỳ nguyên lý hay cảm thức (sentiment) nào đi ngược lại với sự đồng thuận phổ quát của tất cả những người mà chúng ta có mối quan hệ bạn bè hoặc thư từ giao hảo. Nhưng trong tất cả những quan điểm, những quan điểm mà chúng ta hình thành để tự huyễn hoặc bản thân — dù có cao đạo hay tự phụ đến đâu — thì xét đến cùng, lại là những quan điểm mong manh nhất (the frailest) và dễ bị lung lay nhất bởi sự phản bác và đối nghịch từ người khác. Mối quan tâm lớn lao của chúng ta trong trường hợp này khiến chúng ta nhanh chóng bất an và luôn giữ cho những cảm xúc (passions) ở thế phòng bị: Ý thức về sự thiên vị của chính mình vẫn khiến chúng ta phấp phỏng sợ mắc sai lầm: Và chính sự khó khăn trong việc đánh giá một đối tượng không bao giờ được đặt ở một khoảng cách khách quan thích hợp, cũng như không được nhìn nhận từ một góc độ chuẩn xác [chính là bản thân ta], khiến chúng ta phải lo lắng lắng nghe ý kiến của những người khác — những người có đủ tư cách khách quan hơn để đưa ra những phán đoán công bằng về ta.

Từ đó nảy sinh tình yêu mãnh liệt đối với danh tiếng vốn chiếm ngự trong toàn nhân loại. Con người tìm kiếm sự tán thưởng của người khác là để định hình và củng cố quan điểm tốt đẹp về chính mình, chứ không phải xuất phát từ bất kỳ cảm xúc nguyên thủy nào. Và khi một người khao khát được ngợi ca, đó cũng là vì lý do tương tự như khi một bậc giai nhân (a beauty) thích thú ngắm nghía mình trong một chiếc gương thuận mắt và nhìn thấy hình ảnh phản chiếu những nét quyến rũ của chính mình. [9]

 

 

[ P 2.34, Bea 14 ]

Mặc dù trong mọi khía cạnh của suy tưởng lý thuyết (speculation), rất khó để phân biệt một nguyên nhân làm gia tăng hệ quả (effect) với một nguyên nhân duy nhất tạo ra nó; tuy nhiên, trong trường hợp này, những hiện tượng thực tế tỏ ra khá mạnh mẽ và thỏa đáng trong việc xác nhận luận điểm nêu trên.

 

[ P 2.35, Bea 14 ]

Chúng ta nhận được một sự thỏa mãn lớn hơn nhiều từ sự tán thành của những người mà chính chúng ta kính trọng và nể phục, so với sự tán thành từ những kẻ mà chúng ta khinh miệt và coi thường.

 

[ P 2.36, Bea 14 ]

Khi sự kính trọng có được sau một thời gian dài quen biết và thân thiết, nó sẽ vuốt ve lòng hư vinh (vanity) của chúng ta theo một cách thức đặc biệt.

 

[ P 2.37, Bea 14 ]

Lời tán đồng (suffrage) của những người vốn dè dặt và khắt khe trong việc ban phát lời khen sẽ đi kèm với một dư vị (relish) và sự tận hưởng đậm đà hơn, nếu chúng ta có thể giành được sự tán đồng đó về phía mình.

 

[ P 2.38, Bea 15 ]

Khi một vĩ nhân tỏ ra tinh tế và khắt khe trong việc lựa chọn những người thân tín được sủng ái, mọi người sẽ lại càng tha thiết tìm kiếm sự đoái hoài (countenance) và che chở của ông ta với sự nghiêm túc cao độ hơn.

 

[ P 2.39, Bea 15 ] (Bổ sung)

Lời khen ngợi không bao giờ mang lại cho chúng ta nhiều sự dễ chịu, trừ khi nó đồng điệu với quan điểm của chính chúng ta, và tán dương chúng ta ở chính những phẩm chất mà chúng ta vốn dĩ vượt trội hơn cả.

 

[ P 2.40, Bea 15 ] (Bổ sung)

Những hiện tượng này dường như chứng minh rằng: những lời tán đồng thuận lợi từ thế gian chỉ được xem như những thẩm quyền, hoặc như những lời tái khẳng định cho chính quan điểm của chúng ta. Và nếu ý kiến của người khác có sức ảnh hưởng đến chủ đề này [chính bản thân ta] lớn hơn bất kỳ chủ đề nào khác, thì điều đó hoàn toàn có thể dễ dàng lý giải từ chính bản chất của đối tượng được xem xét.

 

[ P 2.40, Bea 15 ]

Những hiện tượng này dường như chứng minh rằng: những lời tán đồng (suffrages) thuận lợi từ thế gian chỉ được xem như những thẩm quyền (authorities), hoặc như những lời tái khẳng định cho chính quan điểm của chúng ta. Và nếu ý kiến của người khác có sức ảnh hưởng đến chủ đề này lớn hơn bất kỳ chủ đề nào khác, thì điều đó hoàn toàn có thể dễ dàng lý giải từ chính bản chất của đối tượng được xem xét.

 

[ P 2.41, Bea 15 ]

11. Do đó, có rất ít đối tượng, dù có liên thuộc với chúng ta đến mấy và mang lại sự dễ chịu (pleasure) lớn đến đâu, có thể khơi dậy một mức độ tự hào hay thỏa mãn tự thân cao độ (a great degree of pride); trừ khi chúng hiển nhiên trước mắt người khác và giành được sự tán đồng từ những người thưởng ngoạn. Tính khí (disposition) nào của não thức đáng ao ước hơn sự bình yên, cam chịu và mãn nguyện; vốn sẵn sàng khuất phục trước mọi sự an bài của tạo hóa, và giữ được sự thanh thản bất biến giữa những tai họa (misfortunes) và thất vọng lớn nhất? Thế nhưng, tính khí này, dù được thừa nhận là một đức hạnh hay sự ưu tú, lại hiếm khi là nền tảng của lòng hư vinh (vanity) hay sự tự tán thưởng (self-applause) lớn lao; bởi lẽ nó không có nét rực rỡ hay hào quang bên ngoài, nó sưởi ấm cõi lòng (heart) nhiều hơn là làm sống động hành vi và cuộc trò chuyện. Trường hợp này cũng tương tự đối với nhiều phẩm chất khác của não thức (mind), thể xác hay gia sản; và hoàn cảnh (circumstance) này, cũng như những Ràng buộc hai chiều nêu trên, phải được thừa nhận là có tầm ảnh hưởng đến việc sản sinh ra những cảm xúc (passions) này.

 

[ P 2.42, Bea 15 ]

Hoàn cảnh (circumstance) thứ hai có tầm ảnh hưởng trong vấn đề này là tính bất biến và lâu bền của đối tượng. Thứ gì quá ngẫu nhiên và phù du, vượt ra ngoài tiến trình thông thường của những sự vụ nhân sinh, sẽ mang lại ít niềm vui sướng và càng ít niềm tự hào hơn. chúng ta không mấy thỏa mãn với chính vật thể đó; và càng ít có khuynh hướng cảm thấy bất kỳ mức độ thỏa mãn tự thân mới mẻ nào vì nó. chúng ta tiên liệu và dự đoán trước sự thay đổi của nó, điều này khiến chúng ta chẳng mấy hài lòng với bản thân vật đó; chúng ta so sánh nó với chính mình, một thực thể có sự tồn tại lâu bền hơn; và bằng phương tiện ấy, tính phù du của nó hiện lên càng lớn hơn. Thật nực cười khi biến chính mình thành đối tượng của một cảm xúc, chỉ vì một phẩm chất hay vật sở hữu có thời hạn ngắn ngủi hơn nhiều, và chỉ đi theo chúng ta trong một phần quá nhỏ bé của sự tồn tại của ta.

 

[ P 2.43, Bea 15 ]

Hoàn cảnh (circumstance) thứ ba không thể bỏ qua là: những đối tượng, để sản sinh ra niềm tự hào hay sự tự định giá, phải mang tính đặc hữu (peculiar) của riêng ta, hoặc ít nhất là điểm chung của chúng ta với một số ít người khác. Những lợi thế của ánh nắng mặt trời, thời tiết tốt, khí hậu hạnh phúc, v.v., không phân định chúng ta với bất kỳ người bạn đồng hành nào, và không mang lại cho chúng ta sự ưu tiên hay ưu thế nào. Phép so sánh mà chúng ta có khuynh hướng thực hiện trong mọi khoảnh khắc không đưa ra suy luận nào có lợi cho ta; và bất chấp những sự tận hưởng này, chúng ta vẫn đứng ngang hàng với tất cả bạn bè và những người quen biết của mình.

 

[ P 2.44, Bea 16 ]

Vì sức khỏe và bệnh tật luôn biến đổi không ngừng đối với mỗi người, và không có ai hoàn toàn hoặc chắc chắn bị cố định vào một trong hai trạng thái đó; những phước lành và tai họa ngẫu nhiên này, theo một cách nào đó, bị tách rời khỏi chúng ta, và không được coi là nền tảng cho sự tự hào hay sự tự ti (humiliation). Nhưng bất cứ khi nào một loại bệnh tật nào đó bén rễ sâu vào thể trạng (constitution) đến mức chúng ta không còn nuôi hy vọng hồi phục, thì từ khoảnh khắc đó, nó sẽ dập tắt lòng tự phụ của ta; điều này thấy rõ ở người già, những người bị tổn thương lòng tự tôn (mortifies) sâu sắc nhất khi suy ngẫm về tuổi tác và sự yếu đuối của mình. Họ cố gắng che giấu sự mù lòa và nghễnh ngãng, chứng thấp khớp và bệnh gút của mình càng lâu càng tốt; và họ không bao giờ thừa nhận chúng nếu không có sự miễn cưỡng và nỗi bất an. Và mặc dù những người trẻ tuổi không cảm thấy hổ thẹn về mỗi cơn đau đầu hay cảm mạo mà họ mắc phải; thế nhưng, không có chủ đề nào thích hợp hơn để làm tổn thương niềm tự hào của con người, và khiến chúng ta ôm giữ một cái nhìn thấp kém về bản chất của mình, hơn là việc chúng ta luôn phải chịu đựng những sự yếu đuối như vậy trong suốt cuộc đời. Điều này chứng tỏ rằng đau đớn về thể xác và bệnh tật tự bản thân chúng là những nguyên nhân đích thực của sự tự ti (humility); tuy nhiên, thói quen đánh giá mọi thứ bằng phép so sánh, nhiều hơn là bằng giá trị nội tại của nó, khiến chúng ta bỏ qua những tai họa vốn là điều hiển nhiên xảy đến với mọi người, và khiến chúng ta hình thành một ý niệm về phẩm giá (merit) và tính cách của bản thân một cách hoàn toàn độc lập với những tai họa đó.

 

[ P 2.45, Bea 16 ]

Ta hổ thẹn về những căn bệnh làm ảnh hưởng đến người khác, và là những thứ hoặc nguy hiểm hoặc gây khó chịu đối với họ. Về bệnh động kinh; bởi vì nó gây kinh hãi cho tất cả những người có mặt; về bệnh ghẻ (the itch); bởi vì nó có tính lây nhiễm; về bệnh lao hạch (the king's evil); bởi vì nó thường truyền sang thế hệ sau. Con người luôn cân nhắc những cảm thức (sentiments) của người khác khi phán đoán về chính mình.

 

[ P 2.46, Bea 16 ]

Hoàn cảnh (circumstance) thứ tư, có ảnh hưởng đến những cảm xúc này, là những quy tắc chung (general rules); nhờ đó chúng ta hình thành một khái niệm về những thứ bậc khác nhau [trong xã hội], phù hợp với quyền lực hoặc của cải mà một người sở hữu; và khái niệm này không bị thay đổi bởi bất kỳ đặc điểm dị biệt nào về sức khỏe hay tính khí của cá nhân, những điều có thể tước đoạt của họ mọi sự hưởng thụ đối với những gì họ có. Thói quen (custom) dễ dàng đưa chúng ta vượt quá những ranh giới chuẩn xác trong cả cảm xúc lẫn lập luận của mình.

 

[ P 2.47, Bea 16-7 ]

Nhân dịp này, thiết nghĩ cũng không sai khi nhận xét rằng, ảnh hưởng của những quy tắc và châm ngôn chung lên những cảm xúc góp phần rất lớn vào việc tạo thuận lợi cho những hệ quả (effects) của tất cả những nguyên lý hoặc cơ chế nội tại mà chúng ta giải thích ở đây. Bởi vì có một điều dường như hiển nhiên là, nếu một người trưởng thành đầy đủ, và có cùng bản chất với chúng ta, đột nhiên được đưa đến thế giới này, người này sẽ vô cùng bối rối trước mọi đối tượng, và không thể dễ dàng xác định được mức độ yêu thương hay thù hận, tự hào hay tự ti, hoặc bất kỳ cảm xúc nào khác nên được khơi dậy bởi đối tượng đó. Cảm xúc thường bị biến đổi bởi những nguyên lý rất nhỏ nhặt; và những nguyên lý này không phải lúc nào cũng vận hành một cách hoàn toàn đều đặn, đặc biệt là trong lần thử đầu tiên. Nhưng khi thói quen (custom) hay việc thực hành đã làm sáng tỏ tất cả những nguyên lý này, và đã thiết lập giá trị chuẩn xác của mọi thứ; điều này chắc chắn sẽ đóng góp vào việc sản sinh một cách dễ dàng những cảm xúc, và hướng dẫn chúng ta, bằng những quy tắc chung đã được thiết lập, về những tỷ lệ mà chúng ta nên tuân thủ khi ưu tiên đối tượng này hơn đối tượng khác. Nhận xét này có lẽ sẽ giúp hóa giải những khó khăn có thể phát sinh liên quan đến một số nguyên nhân mà chúng ta ở đây quy cho những cảm xúc cụ thể, và những nguyên nhân này có thể bị coi là quá tinh tế để có thể tác động một cách phổ quát và chắc chắn như cách mà người ta tìm thấy chúng trong thực tế. [10]

 

--------------------------------------------------

 

P 2.6n1, Bea 7

1.

Xem An Enquiry concerning Human Understanding, Sect. III.

P 2.9n2, Bea 8

2.

Addison, Spectator, No. 412.

P 2.30n3

3.

Xem NOTE [R].

P 2.30n3.1, Bea 13


[ P 2.30n3.1, Bea 13 ]

Rõ ràng Quyền sở hữu (property) là một loại tương quan tạo ra sự kết nối giữa con người và vật thể: Trí tưởng tượng sẽ chuyển dịch một cách tự nhiên và dễ dàng từ việc xem xét một cánh đồng (a field) sang việc nghĩ về người mà cánh đồng đó thuộc về. Người ta có thể chỉ hỏi rằng, làm thế nào tương quan này có thể phân giải được thành bất kỳ một trong ba tương quan kia — cụ thể là: quan hệ nhân quả (causation), sự kế cận (contiguity), và tính tương đồng (resemblance) — những thứ mà chúng ta đã khẳng định là những nguyên lý kết nối duy nhất giữa những ý niệm.

Là chủ sở hữu của bất cứ thứ gì nghĩa là người duy nhất, theo luật pháp xã hội, có quyền định đoạt nó và hưởng lợi từ nó. Quyền này ít nhất có khuynh hướng đảm bảo cho người đó việc thực thi quyền ấy; và trên thực tế, thường mang lại cho người này lợi thế đó. Bởi vì những quyền lợi vốn không có sức ảnh hưởng và không bao giờ được hiện thực hóa (never took place) thì tuyệt nhiên không phải là quyền lợi. Giờ đây, một người định đoạt một vật thể và thu hoạch lợi ích từ nó, thì vừa tạo ra, hoặc có thể tạo ra những hệ quả (effects) lên vật thể đó, lại vừa bị biến đổi bởi nó. Do đó, Quyền sở hữu chính là một loại quan hệ nhân quả (Property therefore is a species of causation). Nó cho phép cá nhân tạo ra những thay đổi trên vật thể, và nó giả định rằng tình trạng của người đó được cải thiện và biến đổi bởi vật thể đó. Thật vậy, đây là tương quan gắn liền với lợi ích thiết thân nhất (the most interesting) trong số những tương quan, và xuất hiện với tần suất thường xuyên nhất trong não thức (mind).[11]

 

 

 

Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ nhất

(May/2026

(Còn tiếp... →)

 

http://chuyendaudau.blogspot.com/

http://chuyendaudau.wordpress.com

 

 



[1] Humility ở ngay vế sau: “a dissatisfaction with ourselves, on account of some defect or infirmity” (sự không hài lòng với bản thân do khiếm khuyết hay yếu đuối). Đối với Hume, Humility là cảm xúc đối ngẫu, trái ngược hoàn toàn với Pride (Tự hào/Tự mãn). Nó mang sắc thái tiêu cực, tự ti, cảm giác thấp kém khi thấy mình thua kém người khác. Trong những bản dịch triết học Hume chuẩn xác, thuật ngữ này phải được dịch là “Tự ti” hoặc “Hạ mình”

[2] complacency ở thế kỷ 18 mang sắc thái “sự đẹp lòng”, “sự quý mến” hoặc “sự hân hoan khi nhìn vào ai đó”.

[3] merit ở đây gắn liền với cái tạo ra niềm tự hào cá nhân, tức là “sự xứng đáng”, “giá trị tự thân” hoặc “phẩm giá” của chúng ta.

[4] Efficient cause là một thuật ngữ triết học bắt nguồn từ Aristotle (Bốn nguyên nhân: Material, Formal, Efficient, Final cause). Trong tiếng Việt triết học, Efficient cause. Có thể dịch là: “Nguyên nhân tác thành” hoặc “Nguyên nhân sinh thành” (tức là động lực trực tiếp tạo ra hay khởi động kết quả, ở đây là thứ trực tiếp làm nảy sinh cảm xúc).

[5] Hume giải thích đời sống tâm lý con người như sự vận hành đồng thời của hai dòng liên tưởng. Dòng thứ nhất là dòng ý niệm: tư tưởng chuyển từ đối tượng này sang đối tượng khác theo những quan hệ như kế cận, tương tự hay nhân quả; chẳng hạn nghĩ đến ngôi nhà rồi nghĩ đến chiếc xe đậu trước nhà. Dòng thứ hai là dòng ấn tượng hay cảm xúc: những cảm xúc có khuynh hướng lôi kéo và tăng cường lẫn nhau; chẳng hạn một tâm trạng bực bội sẵn có dễ chuyển thành sự nóng nảy với những người gần gũi. Trong phần lớn trường hợp, hai dòng vận động này diễn ra song song trong não thức. Điều quan trọng là đôi khi chúng cùng hội tụ về một hướng. Chẳng hạn khi một người nhìn vào cuốn sách do chính mình viết ra, ở bình diện ý niệm, cuốn sách được liên kết trực tiếp với bản thân người ấy thông qua quan hệ sở hữu hay nguyên nhân; còn ở bình diện cảm xúc, giá trị của cuốn sách tạo nên một cảm giác vui sướng, và cảm giác vui sướng ấy tự nhiên dẫn sang đam mê kiêu hãnh. Khi sự liên hệ của ý niệm hướng về bản ngã đồng thời với sự liên hệ của cảm xúc hướng về niềm tự hào, hai quá trình ấy cộng hưởng và tăng cường lẫn nhau, khiến cảm xúc kiêu hãnh xuất hiện với cường độ đặc biệt mạnh. Đây chính là điều Hume gọi là Double Relation of Impressions and Ideas. Đó là nguyên lý nền tảng của học thuyết về những đam mê, chỉ sự phối hợp giữa hai trật tự liên hệ cùng diễn ra trong não thức: một bên là những liên hệ giữa những ý niệm, bên kia là những liên hệ giữa những ấn tượng hay cảm xúc. Khi hai trật tự này tương ứng và hỗ trợ lẫn nhau, sự chuyển dịch của tư tưởng từ đối tượng sang bản ngã hoặc sang người khác sẽ đi đôi với sự chuyển dịch của cảm xúc sang những đam mê tương ứng. Nhờ đó, những đối tượng bên ngoài không chỉ được nhận thức mà còn có thể trở thành nguồn phát sinh của những đam mê như kiêu hãnh, khiêm nhường, yêu thương hay thù ghét.

[6] Hume vừa đưa ra một bằng chứng thực nghiệm quan trọng: Đạo đức học thực chất được xây dựng trên chất liệu của Cảm xúc. Khi chúng ta thấy một người có đức hạnh (hào phóng, dũng cảm), chúng ta thấy vui thích trước hành vi đó. Niềm vui thích này (về mặt ấn tượng) kết hợp với việc người đó chính là chúng ta (về mặt ý niệm), lập tức khởi động Tự hào.

[7] Đoạn P 2.21 là một bản lề cực kỳ quan trọng. Hume vừa mở rộng lý thuyết của mình từ Nội tại (tính cách, cơ thể) ra Ngoại tại (tài sản, nhà cửa).

Ông chứng minh rằng: Một chiếc xe Ferrari rất đẹp tự bản thân nó tạo ra khoái cảm cho bất kỳ ai nhìn vào. Nhưng chiếc xe đó sẽ không bao giờ khởi động cảm xúc Tự hào của bạn, trừ khi nó có mối quan hệ Sở hữu (Nó là của bạn). Mối liên kết ý niệm này (Ferrari , Bản thân ta) chính là chiếc cầu nối bắt buộc để dòng năng lượng khoái cảm chạy thẳng vào và nhuộm đỏ não thức thành sự Tự hào.

[8] Hume vận dụng học thuyết liên tưởng để giải thích một hiện tượng tâm lý đặc trưng của xã hội quý tộc đương thời: vì sao một dòng họ thường cảm thấy niềm kiêu hãnh lớn hơn khi đất đai và tước vị được duy trì liên tục qua nhiều thế hệ, đặc biệt là khi chúng được truyền thừa theo dòng nam. Theo ông, niềm kiêu hãnh không chỉ phát sinh từ giá trị khách quan của tài sản, mà còn từ cách trí tưởng tượng thiết lập và duy trì những chuỗi liên hệ giữa hiện tại với quá khứ. Khi một điền sản được giữ nguyên trong cùng một gia tộc qua nhiều đời, quan hệ kế cận (contiguity) giữa những thế hệ được bảo toàn. Trí tưởng tượng có thể dễ dàng lần theo cùng một không gian, cùng một nơi chốn và cùng một đối tượng vật chất để nối kết người sở hữu hiện tại với một dòng tổ tiên kéo dài trong quá khứ. Chính sự liên tục ấy làm tăng sức sống của những ý niệm liên hệ và, qua đó, làm gia tăng cảm xúc kiêu hãnh gắn với dòng dõi. Ngược lại, nếu điền sản bị bán đi hoặc gia đình chuyển sang nơi khác, chuỗi liên hệ dựa trên kế cận bị suy yếu. Trí tưởng tượng không còn một điểm tựa vật chất ổn định để kết nối những thế hệ với nhau, khiến sự chuyển tiếp của những ý niệm trở nên kém tự nhiên hơn và cảm xúc kiêu hãnh vì thế cũng giảm bớt cường độ. Hume áp dụng cùng một nguyên tắc đối với việc truyền thừa qua dòng nam. Trong xã hội ông đang mô tả, họ tên được xem như dấu hiệu quan trọng của tính liên tục gia tộc. Khi tài sản được truyền qua con gái, việc đổi họ sau hôn nhân làm gián đoạn quan hệ tương đồng (resemblance) vốn giúp trí tưởng tượng nhận ra sự đồng nhất của dòng dõi qua những thế hệ. Sự đứt đoạn ấy không phá hủy hoàn toàn niềm kiêu hãnh, nhưng làm suy giảm khả năng của trí tưởng tượng trong việc truyền tải và tăng cường cảm xúc từ tổ tiên đến hậu duệ hiện tại. Vì vậy, theo logic tâm lý học của Hume, một chuỗi truyền thừa liên tục về đất đai, nơi chốn và danh tính sẽ tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự hình thành và duy trì niềm kiêu hãnh gia tộc.

[9] Trong phân tích của Hume, lòng ham danh tiếng (love of fame) không đơn thuần là một khát vọng đối với sự chú ý hay sự tán dương của người khác. Đằng sau nó là một đặc điểm sâu xa hơn của bản tính con người: chúng ta khó có thể đạt được một sự đánh giá hoàn toàn khách quan về chính mình. Khi hướng sự chú ý vào bản thân, não thức luôn có nguy cơ bị chi phối bởi sự thiên vị (partiality), khiến những phán đoán về giá trị của mình trở nên đáng ngờ ngay cả đối với chính mình.

Chính vì thế, sự đánh giá của người khác giữ một vai trò đặc biệt quan trọng. Nó cung cấp cho cá nhân một điểm nhìn bên ngoài, giúp xác nhận hoặc củng cố những nhận định mà người ấy đang có về bản thân. Theo nghĩa này, lời tán thưởng của tha nhân hoạt động như một “tấm gương phản chiếu thuận lợi” (a favourable looking-glass), qua đó con người nhìn thấy hình ảnh của chính mình được phản ánh từ một vị trí tưởng như khách quan hơn. Niềm vui do danh tiếng mang lại không chỉ xuất phát từ việc được ca ngợi, mà còn từ cảm giác rằng giá trị của bản thân đã được một ý thức khác xác nhận.

Từ đây cũng có thể hiểu vì sao không phải mọi lời khen đều có giá trị như nhau. Đối với Hume, sự tán thành của những người được kính trọng, có năng lực phán đoán hoặc nổi tiếng là nghiêm khắc thường tạo ra niềm thỏa mãn mạnh mẽ hơn. Nguyên nhân không nằm ở nội dung lời khen đơn thuần, mà ở chỗ những người ấy được xem là những người đánh giá đáng tin cậy hơn. Sự xác nhận đến từ họ có trọng lượng lớn hơn trong trí tưởng tượng, bởi nó dường như mang lại một bảo chứng khách quan hơn cho giá trị của bản thân. Danh tiếng, theo đó, không chỉ là nhu cầu được ngưỡng mộ mà còn là nhu cầu được xác tín; nó phản ánh sự lệ thuộc của con người vào ánh nhìn của người khác trong việc hình thành và duy trì ý thức về chính mình.

[10] Đoạn P 2.47 có thể được xem như một bản tóm lược cô đọng cho toàn bộ phương pháp tâm lý học của Hume. Sau khi phân tích hàng loạt cơ chế tinh vi đứng đằng sau sự hình thành những đam mê — từ những chuỗi liên tưởng giữa ý niệm và ấn tượng, những hiệu ứng của so sánh, cho đến những cảm thức về quyền sở hữu và tính độc quyền — Hume ý thức rất rõ rằng những phân tích ấy có thể bị xem là quá trừu tượng và quá xa rời kinh nghiệm thường nhật. Dường như không ai, trong đời sống thực tế, phải thực hiện những phép tính tâm lý phức tạp như vậy trước khi cảm thấy tự hào, yêu mến hay khinh miệt. Câu trả lời của Hume là những cơ chế ấy không vận hành dưới hình thức suy luận có ý thức. Chúng được trung giới bởi thói quen (custom) và những quy tắc chung (general rules), tức những khuôn mẫu liên tưởng đã được hình thành, củng cố và ổn định qua kinh nghiệm tập thể của đời sống xã hội. Trải qua nhiều thế hệ, những liên hệ vốn ban đầu chỉ là những khuynh hướng tâm lý riêng lẻ dần được lặp lại đến mức trở thành những quy tắc mặc nhiên chi phối sự đánh giá và cảm xúc của con người. Vì thế, khi trưởng thành, cá nhân không cần phải tái diễn toàn bộ quá trình tâm lý đã được Hume phân tích. Những con đường liên tưởng ấy đã được thói quen mở sẵn và được xã hội xác nhận như những chuẩn mực đánh giá ổn định. Não thức chỉ việc vận hành theo những lối mòn đã được thiết lập từ trước, một cách nhanh chóng, tự nhiên và phần lớn vô thức. Theo nghĩa đó, công việc của nhà triết học là phơi bày những nguyên lý tâm lý ẩn phía sau những phán đoán và cảm xúc thường ngày, trong khi bản thân những người đang suy nghĩ và cảm nhận lại không hề ý thức về sự vận hành của những nguyên lý ấy. Giống như người lái xe thành thạo không cần hiểu cơ chế hoạt động của động cơ để điều khiển chiếc xe, con người cũng không cần nhận biết những quy luật liên tưởng đang chi phối mình để cảm thấy kiêu hãnh, yêu thương hay căm ghét.

[11] Trong đoạn này, Hume đang giải quyết một khó khăn lý thuyết phát sinh từ chính hệ thống triết học của mình. Ở Phần I của Treatise, ông khẳng định rằng mọi sự liên kết giữa những ý niệm cuối cùng đều quy về ba nguyên lý liên tưởng cơ bản: tương đồng (resemblance), kế cận (contiguity) và nhân quả (causation). Tuy nhiên, khi chuyển sang phân tích những đam mê ở Phần II, ông lại nhiều lần nhấn mạnh rằng quan hệ sở hữu (property) là một trong những nguồn gốc mạnh mẽ nhất của niềm kiêu hãnh và lòng tự trọng. Điều này đặt ra một câu hỏi tự nhiên: nếu quyền sở hữu có sức mạnh tâm lý đặc biệt như vậy, liệu nó có phải là một nguyên lý liên tưởng độc lập, bên cạnh ba nguyên lý đã được xác lập trước đó?

Câu trả lời của Hume là không. Quyền sở hữu không cấu thành một nguyên lý mới, mà chỉ là một hình thức đặc biệt của quan hệ nhân quả. Ông phân tích sở hữu không như một khái niệm pháp lý trừu tượng, mà như một quan hệ thực tiễn giữa con người và sự vật. Một vật được gọi là thuộc về tôi bởi vì tôi có quyền sử dụng nó, thay đổi nó, định đoạt nó và hưởng lợi từ nó. Trong mỗi trường hợp ấy đều tồn tại một mạng lưới tác động nhân quả: chủ sở hữu trở thành nguyên nhân của những biến đổi xảy ra nơi vật thể, trong khi vật thể lại trở thành nguyên nhân của những lợi ích, tiện nghi hoặc khoái cảm mà chủ sở hữu nhận được.

Chính vì thế, quan hệ sở hữu tạo nên một liên hệ nhân quả đặc biệt chặt chẽ giữa bản ngã và đối tượng. Đối với trí tưởng tượng, tài sản không xuất hiện như một vật bên ngoài đơn thuần, mà như một phần kéo dài của năng lực hành động và phạm vi ảnh hưởng của chủ thể. Do đó, khi đối tượng sở hữu có giá trị hoặc mang lại khoái cảm, cảm xúc tích cực ấy rất dễ được chuyển sang bản ngã và phát triển thành niềm kiêu hãnh. Theo cách giải thích này, Hume vừa bảo toàn học thuyết ba nguyên lý liên tưởng của mình, vừa lý giải được vì sao quyền sở hữu lại có hiệu lực tâm lý đặc biệt mạnh mẽ trong đời sống con người. Nó không phải một nguyên lý thứ tư, mà là một trong những biểu hiện sống động và thường xuyên nhất của quan hệ nhân quả trong kinh nghiệm xã hội.

Top of Form

Bottom of Form