Một Chuyên Luận Về Bản Chất Con Người
(A Treatise of Human Nature)
David Hume
QUYỂN I – PHẦN 2
Về Những Ý Niệm Không Gian Và Thời
Gian
MỤC I.
Về Tính Khả Phân Vô Tận Của Những
Ý Niệm Về Không Gian Và Thời Gian
T 1.2.1.1, SBN 26
Bất cứ điều gì mang dáng vẻ của một nghịch lý, và trái với
những quan niệm đầu tiên cũng như ít thiên kiến nhất của loài người, thường được
những triết gia hăm hở đón nhận, vì điều đó cho thấy sự ưu việt của học thuyết
của họ, một học thuyết có thể tìm ra những quan điểm xa lạ đến thế đối với cách
hiểu thông thường của con người. Mặt khác, bất cứ điều gì được trình bày cho
chúng ta mà gây nên sự ngạc nhiên và thán phục đều đem lại cho não thức một sự
thỏa mãn đến mức nó mặc sức đắm mình trong những cảm xúc dễ chịu ấy, và sẽ
không bao giờ chịu tin rằng niềm vui của mình hoàn toàn không có cơ sở.
Từ những khuynh hướng ấy nơi những triết gia và những học
trò của họ nảy sinh một sự dễ dãi giữa họ lẫn nhau: trong khi những người trước
cung cấp vô số quan điểm kỳ lạ và khó giải thích, thì những người sau lại hết sức
sẵn lòng tin theo chúng. Tôi không thể đưa ra một ví dụ nào rõ ràng hơn về sự dễ
dãi lẫn nhau ấy cho bằng học thuyết về tính khả phân vô tận; [1] và chính bằng việc
khảo sát học thuyết này mà tôi sẽ bắt đầu phần bàn về những ý niệm về không
gian và thời gian.
T 1.2.1.2, SBN 26–7
Người ta nhìn chung đều thừa nhận rằng những năng lực của
não thức đều có giới hạn, và rằng chúng không bao giờ có thể đạt tới một quan
niệm đầy đủ và thích đáng về một gì vô hạn; và ngay cả nếu điều này không được
thừa nhận, thì những quan sát và kinh nghiệm hiển nhiên nhất cũng đủ làm cho nó
trở nên rõ ràng. Cũng hiển nhiên rằng bất cứ gì có thể bị phân chia đến vô hạn
đều phải gồm một số phần vô hạn; và không thể đặt ra bất kỳ giới hạn nào
cho số lượng những phần ấy mà lại không đồng thời đặt ra giới hạn cho sự phân
chia.
Vì thế, gần như không cần đến một phép suy luận nào,
chúng ta cũng có thể kết luận rằng ý niệm mà chúng ta hình thành về bất
kỳ lượng hữu hạn nào đều không thể phân chia đến vô hạn; trái lại, bằng những sự
phân biệt và tách biệt thích hợp, chúng ta có thể đưa ý niệm ấy tới những ý niệm
thấp nhất, những ý niệm hoàn toàn đơn giản và không thể phân chia được. Khi bác
bỏ khả năng vô hạn của não thức, chúng ta mặc nhiên thừa nhận rằng não thức có
thể đi tới một điểm cuối trong việc phân chia những ý niệm của mình; và không
có cách nào tránh được bằng chứng của kết luận này.
T 1.2.1.3, SBN 27
Vì thế, chắc chắn rằng trí tưởng tượng đạt tới một cực
tiểu (minimum), và có thể hình thành cho mình một ý niệm mà nó không thể
quan niệm bất kỳ sự phân chia nhỏ hơn nào; cũng không thể làm cho ý niệm ấy nhỏ
hơn nữa mà không làm cho nó hoàn toàn biến mất.
Khi người ta nói với tôi về phần một phần nghìn hay phần
một phần mười nghìn của một hạt cát, tôi có một ý niệm rõ ràng về những con số ấy
và về những tỷ lệ khác nhau giữa chúng; nhưng những hình ảnh mà tôi hình thành
trong não thức để biểu hiện chính những đối tượng ấy thì không khác nhau chút
nào, cũng không nhỏ hơn hình ảnh mà tôi dùng để biểu hiện chính hạt cát, vốn được
giả định là lớn hơn chúng vô cùng.
Bất cứ gì gồm những phần thì đều có thể phân biệt được
thành chính những phần ấy; và bất cứ gì có thể phân biệt được thì cũng có thể
tách rời được. Thế nhưng, dù chúng ta có tưởng tượng về sự vật đó như thế nào
đi nữa, ý niệm về một hạt cát cũng không thể phân biệt được thành hai mươi ý niệm
khác nhau, và cũng không thể tách rời được thành hai mươi ý niệm khác nhau; huống
hồ là thành một nghìn, mười nghìn, hay một số lượng vô hạn những ý niệm khác
nhau.
T 1.2.1.4, SBN 27–8
Điều này cũng giống như trường hợp những ấn tượng của những
giác quan với những ý niệm của trí tưởng tượng.
Hãy đặt một chấm mực lên giấy, cố định ánh mắt vào chấm
đó, rồi lùi ra xa cho đến khi cuối cùng người ta không còn nhìn thấy nó nữa; rõ
ràng là ngay trước khi nó biến mất, hình ảnh hay ấn tượng ấy hoàn toàn không thể
phân chia được nữa.
Không phải vì thiếu những tia sáng chiếu vào mắt chúng ta
mà những phần cực nhỏ của những vật ở xa không truyền đến bất kỳ ấn tượng khả
giác nào; mà là vì chúng bị đưa ra ngoài khoảng cách tại đó những ấn tượng của
chúng đã bị thu giảm xuống một cực tiểu (a minimum) và không còn khả năng bị thu giảm thêm nữa.
Một kính hiển vi hay kính viễn vọng, vốn làm cho chúng trở
nên nhìn thấy được, không tạo ra bất kỳ tia sáng mới nào, nhưng chỉ khuếch tán
những tia sáng vốn luôn phát ra từ chúng, và bằng phương cách đó, chúng đem
cho, vừa cả những phần cho những ấn tượng – vốn
hiện ra đơn giản và không phức hợp với mắt thường –, lại vừa đưa một gì thứ
mà trước đó vốn không thể nhận biết được tiến tới một một cực tiểu vốn trước
đó không thể tri giác được
T 1.2.1.5, SBN 28
Từ đây chúng ta có thể nhận ra sai lầm của quan niệm
thông thường rằng năng lực của não thức bị giới hạn ở cả hai phía, và rằng trí
tưởng tượng không thể nào hình thành được một ý niệm thích đáng về một gì vượt
quá một mức độ nhất định của quá nhỏ bé cũng như quá lớn lao.
Không gì có thể nhỏ bé hơn một số ý niệm mà chúng ta hình
thành trong trí tưởng tượng; cũng như những hình ảnh xuất hiện trước những giác
quan; bởi vì có những ý niệm và những hình ảnh hoàn toàn đơn giản và không thể
phân chia được.
Khuyết điểm duy nhất của những giác quan chúng ta là
chúng cung cấp cho chúng ta những hình ảnh không tương xứng của sự vật, và biểu
hiện như nhỏ bé và không hợp thành một gì thực ra là lớn lao và bao gồm vô số bộ
phận.
Chúng ta không nhận thức được sai lầm này; nhưng trái lại,
chúng ta coi những ấn tượng của những đối tượng nhỏ bé xuất hiện trước giác
quan là bằng hoặc gần bằng với chính những đối tượng ấy; và khi chúng ta nhận
thấy bằng lý trí rằng có những đối tượng khác còn nhỏ bé hơn rất nhiều, chúng
ta vội vàng kết luận rằng những đối tượng ấy thấp kém hơn bất kỳ ý niệm nào của
trí tưởng tượng hay bất kỳ ấn tượng nào của những giác quan.
Tuy nhiên, điều chắc chắn là chúng ta có thể hình thành
những ý niệm không lớn hơn nguyên tử nhỏ nhất của “vi thể vật chát cực vị trong
hệ thần kinh” [2]
trong một con côn trùng nhỏ hơn con mạt một nghìn lần.
Và chúng ta nên kết luận rằng khó khăn nằm ở việc mở rộng
các quan niệm của chúng ta đủ rộng để hình thành một ý niệm xác thực về một con
mạt, hoặc thậm chí về một con côn trùng nhỏ hơn con mạt một nghìn lần.
Vì để hình thành một ý niệm xác thực về những sinh vật
này, chúng ta phải có một ý niệm phân biệt đại diện cho mọi bộ phận của chúng;
điều này, theo hệ thống tính phân chia vô tận, là hoàn toàn không thể; còn theo
hệ thống những bộ phận hay nguyên tử không thể phân chia, về thì cực kỳ khó
khăn do số lượng và tính đa dạng khổng lồ của những bộ phận ấy.
Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản
nháp thứ hai
(Jun/2026)
(Còn tiếp... →)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1] Học thuyết về tính khả phân vô tận (trong triết học cận
đại, đặc biệt thế kỷ XVII–XVIII) cho rằng không gian, thời gian và tính chiếm hữu
không gian (extension) không được cấu thành từ những phần tử tối hậu không thể
chia nhỏ. Thay vào đó, bất kỳ phần nào của chúng cũng có thể tiếp tục bị phân
chia mãi mãi, không bao giờ đạt tới một đơn vị đơn giản và bất khả phân tuyệt đối. Trong Hume, học thuyết này được tiếp nhận như một quan
điểm được chấp nhận rộng rãi trong giới triết học đương thời. Ông sau đó tiến hành
phân tích và phê phán lại nền tảng của nó dựa trên các nguyên tắc về tri giác
(perceptions) và kinh nghiệm (experience).
[2] animal spirits: Trong Hume và trong truyền thống
sinh lý học – triết học thế kỷ XVII–XVIII không phải là “tinh thần” theo nghĩa
linh hồn hay yếu tố siêu hình, mà là một giả thuyết cơ học về những dòng vật chất
cực vi trong cơ thể, được cho là đóng vai trò trung gian truyền dẫn các hoạt động
thần kinh, cảm giác và vận động
