(Of the
Immortality of the Soul)
David Hume
Về Sự Bất Tử Của Hồn Người
IS 8, Mil 592
II.
Bây giờ hãy xét đến
các lập luận đạo đức, đặc biệt là những lập luận được rút ra từ công lý của
Gót. Theo các lập luận này, người ta cho rằng công lý thần linh còn đòi hỏi phải
có sự trừng phạt tiếp theo đối với kẻ ác và phần thưởng tiếp theo đối với người
đức hạnh.
IS 9, Mil 592
Nhưng những lập luận ấy
được xây dựng trên giả định rằng Gót có những thuộc tính vượt quá những gì Ngài
đã biểu lộ trong vũ trụ này—lĩnh vực duy nhất mà chúng ta có kinh nghiệm và hiểu
biết. Vậy từ đâu chúng ta suy ra được sự hiện hữu của những thuộc tính ấy?
IS 10, Mil 592
Chúng ta hoàn toàn có
thể khẳng định một cách an toàn rằng bất cứ điều gì chúng ta biết Gót thực sự
đã làm đều là điều tốt nhất; nhưng sẽ rất nguy hiểm nếu khẳng định rằng Ngài nhất
thiết phải luôn làm điều mà đối với chúng ta có vẻ là tốt nhất. Biết bao lần lối
suy luận ấy sẽ dẫn chúng ta đến sai lầm ngay khi đối chiếu với thế giới hiện tại?
[1]
IS 11, Mil 592
Nhưng nếu có bất kỳ mục
đích nào của tự nhiên là rõ ràng, thì chúng ta có thể khẳng định rằng toàn bộ
phạm vi và ý hướng của việc tạo thành con người, theo như chúng ta có thể phán
đoán bằng lý trí tự nhiên, đều được giới hạn trong đời sống hiện tại. Từ chính
cấu trúc nguyên thủy và bẩm sinh của tâm trí cùng những dục vọng [2] của mình, con người đã từng hướng sự quan
tâm của mình vượt quá đời sống này với sức mạnh bao nhiêu? Có thể nào so sánh,
xét về độ vững chắc hay hiệu lực, một ý niệm mơ hồ và chập chờn [3]
như thế với ngay cả niềm xác tín yếu ớt nhất về bất kỳ sự kiện nào trong đời sống
thường nhật?
IS 12, Mil 593
Quả thật, trong một số
tâm trí vẫn nảy sinh những nỗi lo sợ khó giải thích về tương lai. Nhưng những nỗi
lo sợ ấy sẽ nhanh chóng tan biến nếu chúng không được nuôi dưỡng một cách nhân
tạo bởi giáo huấn và giáo dục. Và những người nuôi dưỡng chúng thì có động cơ
gì? Chỉ để kiếm kế sinh nhai, và để giành lấy quyền lực cùng sự giàu có trong
thế giới này. Vì thế, chính sự nhiệt thành và chuyên chú của họ lại trở thành một
bằng chứng chống lại họ.[4]
IS 13, Mil 593
Tự nhiên sẽ tàn nhẫn,
bất công và phi lý biết bao nếu nó giam hãm mọi mối quan tâm cũng như mọi tri
thức của chúng ta trong đời sống hiện tại, trong khi vẫn còn một cảnh giới khác
đang chờ đợi chúng ta, có tầm quan trọng lớn lao hơn vô hạn.[5] Có thể nào quy sự đánh lừa tàn nhẫn ấy [6]cho một đấng vừa nhân từ vừa khôn ngoan được chăng? [7]
IS 14, Mil 593
Hãy quan sát xem
trong toàn bộ giới tự nhiên, nhiệm vụ phải thực hiện và các năng lực thực hiện
luôn được phân bố theo một tỷ lệ chính xác như thế nào. Nếu lý trí của con người
đem lại cho con người một ưu thế lớn lao so với các loài động vật khác, thì đồng
thời các nhu cầu của con người cũng gia tăng tương ứng. Toàn bộ thời gian, năng
lực, hoạt động, lòng can đảm và đam mê của con người đều được sử dụng một cách
đầy đủ trong việc chống đỡ những khổ đau của hoàn cảnh hiện tại. Và rất thường
xuyên, thậm chí hầu như luôn luôn, các năng lực ấy còn tỏ ra quá ít ỏi so với
những nhiệm vụ mà tự nhiên đặt ra cho chúng.
IS 15, Mil 593
Một đôi giày, có lẽ,
chưa bao giờ được chế tác đến mức hoàn thiện tối đa mà bản thân nó có thể đạt tới.
Tuy nhiên, việc có tồn tại trong nhân loại những nhà chính trị và nhà luân lý,
thậm chí cả những nhà hình học, sử gia, thi sĩ và triết gia, là điều cần thiết,
hoặc ít nhất là rất hữu ích. [8]
IS 16, Mil 593
Nếu chỉ xét trong phạm
vi đời sống này, năng lực của con người không vượt quá nhu cầu của họ
nhiều hơn so với cách năng lực của cáo hay thỏ vượt quá nhu cầu và thời hạn
hiện hữu của họ. Do đó, kết luận rút ra từ phép loại suy là hiển nhiên.
IS 17, Mil 593
Theo quan điểm về
tính hữu tử của linh hồn, sự thấp kém về năng lực của phụ nữ có thể được giải
thích một cách trực tiếp và hợp lý: đời sống gia đình của họ không đòi hỏi những
năng lực cao hơn về trí tuệ hay thể chất. Tuy nhiên, chi tiết này hoàn toàn mất
đi ý nghĩa và trở nên không còn giá trị giải thích trong khung giả thuyết tôn
giáo: nếu cả hai giới đều có cùng một nhiệm vụ phải thực hiện trong một trật tự
mang tính hậu thế, thì về nguyên tắc, năng lực lý trí và nghị lực của họ cũng
phải tương ứng với nhau, [9] và
cả hai lẽ ra phải cao hơn nhiều so với tình trạng hiện tại.[10]
IS 18, Mil 594
Vì mọi hiệu quả đều
hàm ý một nguyên nhân, và chuỗi nguyên nhân lại tiếp nối đến khi ta đạt tới
nguyên nhân đầu tiên của mọi sự, tức là Gót; do đó, mọi sự kiện xảy ra đều được
quy định bởi Ngài, và không gì có thể trở thành đối tượng của hình phạt hay sự
báo thù từ phía Ngài.
IS 19, Mil 594
Hình phạt và phần thưởng
được phân phối theo quy tắc nào? Tiêu chuẩn của công trạng và lỗi lầm nơi Gót
là gì? Liệu chúng ta có nên giả định rằng những cảm thức của con người có chỗ đứng
trong Gót hay không? Dù giả thuyết ấy có táo bạo đến đâu, chúng ta cũng không
có bất kỳ quan niệm nào về những cảm thức khác ngoài những cảm thức của con người.
[11]
IS 20, Mil 594
Theo các cảm thức tự
nhiên của con người, cảm năng, dũng khí, phong thái, cần mẫn, thận trọng, thiên
tài, v.v. đều được xem là những thành phần thiết yếu của giá trị cá nhân. Vậy
thì liệu chúng ta có nên thiết lập một “cõi Elysium” dành riêng cho các thi sĩ
và anh hùng, như trong thần thoại cổ đại hay không? Tại sao lại giới hạn mọi phần
thưởng vào chỉ một loại đức hạnh duy nhất? [12]
IS 21, Mil 594
Hình Phạt, nếu không nhằm đến một mục đích hay cứu cánh thích hợp
nào, sẽ không tương thích với các ý niệm của chúng ta về thiện và công lý; và
không thể có bất kỳ mục đích nào được phục vụ bởi hình phạt, một khi toàn bộ kịch
cảnh của đời sống đã khép lại.
IS 22, Mil 594
Theo quan niệm thông
thường của chúng ta, Hình Phạt phải có một mức độ tương xứng nào
đó với hành vi phạm tội. Vậy tại sao lại có hình phạt vĩnh cửu dành cho những lỗi
lầm nhất thời của một sinh vật yếu đuối như con người? Có ai có thể chấp nhận
được cơn phẫn nộ của Alexander, [13] người từng dự định tiêu diệt cả một dân tộc
chỉ vì họ đã chiếm lấy con ngựa yêu quý của ông, Bucephalus? [14]
IS 23, Mil 594
Thiên đường và Hỏa ngục giả định hai loại người tách biệt:
người thiện và người ác. Nhưng phần lớn nhân loại lại nằm trong trạng thái
trung gian, dao động giữa đức hạnh và tội lỗi. [15]
IS 24, Mil 594-5
Nếu một người đi vòng
quanh thế giới với ý định ban một bữa tối thịnh soạn cho những người lương thiện
và giáng một trận đòn thích đáng cho những kẻ xấu xa, thì người ấy sẽ thường
xuyên lúng túng trong việc lựa chọn; và sẽ nhận ra rằng công trạng cũng như lỗi
lầm của phần lớn đàn ông và phụ nữ hiếm khi đạt tới mức xứng đáng để nhận lấy một
trong hai phần thưởng ấy. [16]
IS 25, Mil 595
Việc giả định rằng tồn
tại những tiêu chuẩn tán thành và khiển trách khác với tiêu chuẩn của con người
sẽ làm đảo lộn toàn bộ trật tự khái niệm của chúng ta. Chúng ta học được khái
niệm về phân biệt đạo đức từ đâu, nếu không phải từ chính những tình cảm của
chúng ta?
IS 26, Mil 595
Có người nào, nếu
chưa từng chịu kích động cá nhân (hoặc ngay cả một người có tính ôn hòa), lại
có thể áp đặt, chỉ dựa trên cảm giác khiển trách thuần túy, ngay cả những hình
phạt hợp pháp thông thường vốn đã nhẹ? Và điều gì khiến các thẩm phán và bồi thẩm
đoàn trở nên dửng dưng trước tình cảm nhân đạo, nếu không phải là những suy xét
về tính cần thiết và lợi ích công cộng?
IS 27, Mil 595
Theo luật La Mã, những
kẻ phạm tội giết cha mẹ và đã thú nhận tội lỗi bị nhét vào một bao cùng với một
con khỉ, một con chó và một con rắn, rồi bị ném xuống sông; cái chết đơn thuần
là hình phạt dành cho những kẻ phủ nhận tội lỗi của mình, dù tội trạng đã được
chứng minh đầy đủ. Một tội phạm từng bị xét xử trước Augustus và bị kết án sau
khi đã có đủ bằng chứng; nhưng vị hoàng đế nhân từ, khi đặt câu hỏi cuối cùng,
đã khéo léo dẫn dắt kẻ ấy vào sự phủ nhận tội lỗi. Ông nói: “Chắc hẳn ngươi
đã không giết cha ngươi.” [17]Sự khoan dung này phù hợp với những ý niệm tự nhiên của
chúng ta về công lý, ngay cả đối với tội ác nghiêm trọng nhất, và ngay cả khi
nó chỉ làm giảm một hình phạt rất nhỏ. [18]
Ngay cả một vị tư tế cực đoan cũng sẽ tự nhiên tán thành điều đó, miễn là tội
ác không liên quan đến dị giáo hay bất tín;
[19] vì
khi đó lợi ích trần thế của chính ông ta bị đe dọa, và ông ta sẽ không còn
khoan dung như trước. [20]
IS 28, Mil 595
Nguồn gốc chủ yếu của
các ý niệm đạo đức là sự suy xét về lợi ích của xã hội loài người. Những lợi
ích vốn ngắn ngủi và nhỏ bé ấy có nên được bảo vệ bằng những hình phạt vĩnh viễn
và vô hạn hay không? Sự trừng phạt đời đời của một con người là một tai hại vô
hạn trong toàn thể vũ trụ, còn lớn hơn sự sụp đổ của một nghìn triệu vương quốc.[21]
IS 29, Mil 595–596
Tự nhiên khiến tuổi
thơ của con người đặc biệt yếu ớt và dễ chết, như thể nhằm bác bỏ quan niệm về
một trạng thái đời sống như một “thời kỳ thử thách”. Một nửa nhân loại chết trước
khi họ đạt đến khả năng lý trí. [22]
Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ nhất
(Jun/2026
(Còn tiếp... →)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1] Đoạn văn này chứa đựng một trong những nguyên tắc phương
pháp luận quan trọng nhất trong phê phán tôn giáo của Hume. Ông phân biệt giữa
hai kiểu suy luận thường bị lẫn lộn trong gót học tự nhiên.
Kiểu thứ nhất là suy
luận từ những gì thực sự hiện hữu đến nguyên nhân của nó. Theo nghĩa này, nếu
người ta tin rằng thế giới là công trình của Gót, thì có thể khởi đi từ những
gì thực sự quan sát được trong thế giới để suy luận một cách dè dặt về những
thuộc tính nào đó của Ngài. Đây là hướng suy luận đi từ kinh nghiệm đến nguyên
nhân, từ cái đã xảy ra đến điều có thể giải thích cho nó.
Kiểu thứ hai, và cũng
là đối tượng phê phán của Hume, là suy luận theo chiều ngược lại: xuất phát từ
những quan niệm của con người về điều thiện, điều công bằng hay điều hợp lý, rồi
kết luận rằng Gót nhất thiết phải hành động phù hợp với những tiêu chuẩn ấy.
Theo Hume, đây là một bước chuyển không được biện minh. Nó giả định rằng trí tuệ
hữu hạn của con người có thể biết trước những mục đích mà Gót phải theo đuổi và
những phương thức mà Ngài phải sử dụng để thực hiện chúng.
Hume cho rằng kinh
nghiệm về thế giới hiện tại đã đủ để làm lung lay giả định này. Nếu công lý và
thiện hảo thần linh vận hành đúng theo những gì con người cho là công bằng nhất,
thì nhiều đặc điểm của thế giới sẽ trở nên khó hiểu. Trong thực tế, người đức hạnh
không phải lúc nào cũng được tưởng thưởng, kẻ ác không phải lúc nào cũng bị trừng
phạt, đau khổ thường giáng xuống cả người vô tội lẫn người có tội, và trật tự tự
nhiên dường như không được tổ chức theo những tiêu chuẩn đạo đức mà con người
mong đợi. Điều đó cho thấy có một khoảng cách đáng kể giữa những gì con người
cho là tốt nhất và những gì thực sự diễn ra trong tự nhiên.
Từ đây, Hume đặt ra một
câu hỏi mang tính nhận thức luận hơn là gót học: nếu ngay trong thế giới hiện hữu,
chúng ta đã không thể xác định một cách chắc chắn Gót sẽ hành động như thế nào,
thì bằng cơ sở nào chúng ta có thể khẳng định rằng Ngài nhất thiết phải thiết lập
một đời sống tương lai để hoàn tất công lý? Việc chuyển từ mệnh đề “Gót là công
chính” sang mệnh đề “Gót phải thưởng người thiện và phạt kẻ ác trong một đời sống
khác” đòi hỏi một tri thức về ý định và kế hoạch của Gót mà con người không hề
sở hữu.
Vì vậy, Hume không trực
tiếp phủ nhận công lý của Gót, mà phủ nhận khả năng của con người trong việc
suy diễn từ khái niệm công lý của mình sang những quyết định mà Gót được cho là
phải thực hiện. Mục tiêu của ông là chỉ ra rằng toàn bộ lập luận đạo đức cho sự
bất tử của linh hồn dựa trên một hành vi “phóng chiếu” (projection): con người
lấy những lý tưởng đạo đức của chính mình rồi gán chúng cho Gót như những nghĩa
vụ mà Ngài phải tuân theo. Một khi bước phóng chiếu này bị bác bỏ, thì lập luận
từ công lý thần linh đến thưởng phạt đời sau cũng mất đi nền tảng chứng minh của
nó.
Theo nghĩa đó, đây
không chỉ là một phê phán đối với học thuyết linh hồn bất tử, mà còn là một phê
phán rộng hơn đối với tham vọng của lý trí con người trong việc suy đoán những
mục đích tối hậu của Gót vượt quá những gì kinh nghiệm cho phép.
Trong đoạn này, Hume
chuyển từ việc phê phán những lập luận siêu hình học về sự bất tử của linh hồn
sang phê phán một nhóm lập luận khác vốn có ảnh hưởng rất lớn trong gót học đạo
Kitô, đó là những lập luận đạo đức (moral arguments). Trọng tâm của những lập
luận này là ý niệm về công lý của Gót. Theo truyền thống gót học, thế giới hiện
tại dường như không phản ánh đầy đủ công lý đạo đức: người thiện nhiều khi phải
chịu đau khổ, trong khi kẻ ác không phải lúc nào cũng bị trừng phạt tương xứng.
Từ đó, người ta cho rằng phải hiện hữu một đời sống tương lai, nơi công lý thần
linh được hoàn tất bằng sự tưởng thưởng dành cho người đức hạnh và sự trừng phạt
dành cho kẻ tội lỗi. Chính nhu cầu hoàn tất công lý này thường được xem là một
trong những bằng chứng quan trọng nhất cho sự bất tử của linh hồn.
Tuy nhiên, Hume không
trực tiếp phủ nhận công lý của Gót. Điều ông chất vấn là bước suy luận dẫn từ
niềm tin vào công lý thần linh đến kết luận rằng nhất thiết phải có một đời sống
sau khi chết. Theo ông, toàn bộ lập luận này dựa trên một giả định chưa được chứng
minh: rằng Gót sở hữu những thuộc tính và những mục đích vượt quá những gì Ngài
đã biểu lộ trong thế giới mà con người có thể kinh nghiệm. Hume nhắc rằng mọi
hiểu biết của chúng ta về Gót, nếu có, đều phải được rút ra từ những gì được
quan sát trong vũ trụ hiện hữu. Do đó, khi người ta khẳng định rằng Gót chắc chắn
sẽ thiết lập một đời sống tương lai để hoàn tất công lý, họ đang vượt quá giới
hạn của những gì kinh nghiệm có thể bảo đảm.
Chính trong bối cảnh
đó mà Hume đưa ra nhận xét nổi tiếng: “Chúng ta hoàn toàn có thể khẳng định
một cách an toàn rằng bất cứ điều gì chúng ta biết Gót thực sự đã làm đều là điều
tốt nhất; nhưng sẽ rất nguy hiểm nếu khẳng định rằng Ngài nhất thiết phải luôn
làm điều mà đối với chúng ta có vẻ là tốt nhất.” Ở đây, Hume phân biệt hai
kiểu suy luận hoàn toàn khác nhau. Một mặt, con người có thể quan sát thế giới
như nó đang hiện hữu và, nếu muốn, diễn giải rằng những gì Gót đã thực sự thực
hiện đều nằm trong một trật tự tốt đẹp nào đó. Mặt khác, con người không có quyền
suy từ quan niệm riêng của mình về điều thiện, điều công bằng hay điều hợp lý để
kết luận rằng Gót bắt buộc phải hành động theo đúng những tiêu chuẩn ấy.
Theo Hume, đây chính
là điểm yếu căn bản của những lập luận đạo đức về đời sau. Chúng xuất phát từ một
hình ảnh lý tưởng về công lý, rồi giả định rằng Gót phải thực hiện công lý theo
đúng hình ảnh mà con người hình dung. Nhưng kinh nghiệm về thế giới hiện tại lại
cho thấy điều ngược lại. Trong đời sống thực tế, vô số hiện tượng dường như
không phù hợp với những kỳ vọng đạo đức thông thường của con người: người thiện
phải chịu đau khổ, kẻ ác nhiều khi sống thịnh vượng, tai họa xảy đến với người
vô tội, bệnh tật và thiên tai phân bố mà không hề phản ánh công trạng đạo đức của
những cá nhân. Nếu chỉ dựa trên quan niệm thông thường của con người về điều gì
là công bằng và tốt đẹp, thì rất nhiều khía cạnh của thế giới hiện tại sẽ trở
nên khó giải thích.
Chính vì vậy, Hume đặt
ra một câu hỏi có tính chất phương pháp luận: nếu ngay trong thế giới đang hiện
hữu, con người đã không thể tiên đoán hoặc xác định một cách chắc chắn Gót sẽ
hành động như thế nào, thì dựa vào đâu họ có thể quả quyết rằng Gót nhất thiết
phải thiết lập một đời sống tương lai nhằm hoàn tất công lý? Nói cách khác, khoảng
cách giữa điều Gót thực sự đã làm và điều con người cho rằng Ngài phải làm là
quá lớn để có thể được lấp đầy bằng suy đoán siêu hình.
Xét về cấu trúc
logic, Hume đang công kích tiền đề trung tâm của lập luận gót học truyền thống.
Lập luận ấy thường diễn ra theo hình thức: Gót là công chính; công lý hoàn hảo
đòi hỏi người thiện phải được thưởng và kẻ ác phải bị phạt; điều đó không diễn
ra đầy đủ trong đời sống hiện tại; do đó phải hiện hữu một đời sống tương lai
nơi công lý được hoàn tất. Hume không nhất thiết phủ nhận tiền đề thứ nhất hay
quan sát ở tiền đề thứ ba. Điều ông chất vấn là tiền đề thứ hai: làm thế nào
con người có thể biết được rằng công lý của Gót phải được thực hiện theo đúng
mô hình công lý mà con người đang hình dung? Theo ông, đây là một bước suy diễn
vượt quá mọi bằng chứng kinh nghiệm có thể có.
Do đó, mục tiêu của
Hume không phải là chứng minh rằng không có đời sau hay không có công lý thần
linh. Điều ông muốn chỉ ra là từ những gì con người thực sự biết về thế giới và
về Gót, không thể rút ra một cách hợp lệ kết luận rằng phải có sự thưởng phạt
sau khi chết. Cũng như trong những phần trước của tiểu luận, Hume không thay thế
học thuyết linh hồn bất tử bằng một học thuyết đối lập, mà tìm cách cho thấy rằng
những lập luận được dùng để chứng minh học thuyết ấy đều vượt quá những gì lý
trí và kinh nghiệm có thể biện minh.
[2]
passions → dục vọng, tình cảm hoặc những đam mê. Trong
Hume, passions là một phạm trù tâm lý học rất rộng, không chỉ mang nghĩa
tiêu cực.
[3]
floating an idea → một ý niệm mơ hồ, chập chờn, trôi nổi
[4] Hume
về động cơ xã hội của niềm tin vào đời sau:
Trong đoạn
này, Hume tạm thời rời khỏi bình diện siêu hình học và gót học để chuyển sang một
hướng phê phán mang tính tâm lý học và xã hội học. Sau khi nhận xét rằng những
nỗi lo sợ về tương lai và đời sau không phải là những khuynh hướng tự nhiên đặc
biệt mạnh mẽ của tâm trí con người, ông cho rằng những nỗi sợ ấy thường được
duy trì và khuếch đại bởi giáo huấn tôn giáo. Từ đó, Hume đặt ra một câu hỏi
không còn liên quan trực tiếp đến chân lý của học thuyết linh hồn bất tử, mà
liên quan đến những động cơ thúc đẩy việc phổ biến và duy trì học thuyết ấy
trong xã hội.
Đối tượng phê
phán của Hume ở đây không phải là những tín đồ bình thường, mà chủ yếu là giới
giáo sĩ và những thiết chế tôn giáo có tổ chức. Theo ông, niềm tin vào thưởng
phạt đời sau tạo ra một công cụ đặc biệt hữu hiệu để định hướng hành vi và duy
trì quyền uy tinh thần. Khi con người tin rằng số phận vĩnh cửu của mình phụ
thuộc vào việc tuân thủ những giáo huấn nhất định, thì những người nắm quyền giải
thích và quản lý những giáo huấn ấy đồng thời cũng nắm giữ một hình thức quyền
lực xã hội đáng kể. Vì vậy, Hume ngờ vực rằng việc liên tục nhấn mạnh đến địa
ngục, sự phán xét và phần thưởng đời sau không phải lúc nào cũng xuất phát từ mối
quan tâm thuần túy đối với chân lý tôn giáo, mà nhiều khi còn gắn liền với những
lợi ích rất trần thế như địa vị, ảnh hưởng, quyền lực và nguồn sinh kế.
Điểm sắc bén
nhất trong lập luận của Hume nằm ở nhận xét rằng chính sự nhiệt thành của những
người rao giảng về đời sau lại có thể trở thành bằng chứng chống lại họ. Nếu quả
thật đời sống tương lai có tầm quan trọng vô hạn so với đời sống hiện tại, thì
về nguyên tắc, những lợi ích vật chất và quyền lực trong thế giới này phải trở
nên tương đối không đáng kể. Thế nhưng trên thực tế, nhiều người chuyên giảng dạy
về sự phù du của đời sống trần thế lại tích cực theo đuổi địa vị, ảnh hưởng và
của cải ngay trong đời sống ấy. Đối với Hume, sự bất nhất này làm suy yếu giá
trị chứng minh của chính lời giảng dạy của họ. Hành vi thực tế của họ dường như
cho thấy rằng ngay cả những người thường xuyên nói về đời sau cũng hành động
như thể đời sống hiện tại mới là mối quan tâm cấp thiết nhất.
Lập luận này
báo trước một chủ đề sẽ trở nên quen thuộc trong tư tưởng hiện đại: những niềm
tin tôn giáo không chỉ có thể được khảo sát dưới góc độ chân lý hay sai lầm, mà
còn có thể được nghiên cứu như những hiện tượng xã hội gắn liền với những cấu
trúc quyền lực, lợi ích và chức năng cộng đồng. Dĩ nhiên, Hume không chứng minh
từ đó rằng học thuyết linh hồn bất tử là sai. Điều ông muốn chỉ ra là việc một
niềm tin được duy trì rộng rãi và được nhiệt tình bảo vệ bởi những thiết chế
tôn giáo không thể tự nó được xem là bằng chứng cho tính chân thực của niềm tin
ấy. Trái lại, trong một số trường hợp, chính những lợi ích xã hội mà niềm tin
đó tạo ra có thể là một phần nguyên nhân giải thích cho sự tồn tại và sức sống
của nó.
[5] Hume
và lập luận từ sự bất cân xứng giữa tri thức tự nhiên với mục đích tối hậu của
con người: Trong câu văn này, Hume đẩy lập luận ở đoạn trước đến hệ quả cuối
cùng của nó. Nếu giả định rằng con người thực sự được tạo dựng để hướng tới một
đời sống tương lai có ý nghĩa lớn lao hơn vô hạn so với toàn bộ đời sống hiện tại,
thì sẽ xuất hiện một vấn đề nghiêm trọng liên quan đến sự khôn ngoan và thiện hảo
của trật tự tự nhiên. Theo Hume, trong mọi lĩnh vực của đời sống, tự nhiên thường
cung cấp cho sinh vật những năng lực và khuynh hướng cần thiết để theo đuổi những
mục đích quan trọng đối với sự tồn tại của chúng. Nhu cầu ăn uống đi kèm với cảm
giác đói; nhu cầu tự vệ đi kèm với nỗi sợ hãi; nhu cầu sinh sản đi kèm với dục
vọng; nhu cầu xã hội đi kèm với những tình cảm gắn bó và đồng cảm. Nói cách
khác, giữa mục đích và năng lực thường tồn tại một sự tương ứng tương đối rõ
ràng trong cấu trúc của tự nhiên.
Từ nguyên tắc
đó, Hume đặt ra một câu hỏi mang tính phản chứng. Nếu đời sống mai sau thực sự
là mục đích quan trọng nhất của con người, thậm chí quan trọng hơn vô hạn so với
toàn bộ đời sống trần thế, thì tại sao tự nhiên lại không trang bị cho con người
một tri thức rõ ràng hơn về đời sống ấy và một sự quan tâm mạnh mẽ hơn đối với
số phận hậu thế của mình? Thực tế cho thấy điều ngược lại: con người chỉ có những
ý niệm mơ hồ, bất định và đầy tranh cãi về đời sau, trong khi phần lớn những năng
lực nhận thức, tình cảm và hành động của họ đều được định hướng vào những nhu cầu
và mục tiêu của đời sống hiện tại. Điều này tạo nên một sự bất cân xứng sâu sắc
giữa cái được giả định là mục đích tối hậu của con người và những phương tiện
nhận thức mà tự nhiên thực sự cung cấp cho họ.
Chính trong bối
cảnh đó mà Hume sử dụng ngôn ngữ mạnh mẽ như “tàn nhẫn”, “bất công” và “phi
lý”. Ông không thực sự khẳng định rằng tự nhiên là tàn nhẫn hay Thiên Chúa là bất
công; trái lại, ông đang vận dụng một lập luận phản chứng (reductio ad
absurdum). Nếu người ta đồng thời tin rằng có một đời sống tương lai mang ý
nghĩa vô hạn và rằng tự nhiên là sản phẩm của một đấng khôn ngoan, nhân từ, thì
họ phải giải thích vì sao con người lại bị đặt vào tình trạng gần như không có
tri thức chắc chắn nào về điều được cho là quan trọng nhất đối với số phận của
mình. Nếu không thể đưa ra lời giải thích thỏa đáng, thì chính giả định về đời
sống tương lai mới là điều cần bị đặt lại thành vấn đề.
Do đó, trọng
tâm của lập luận không nằm ở việc phủ nhận trực tiếp đời sau, mà ở việc chỉ ra
một sự căng thẳng nội tại trong hệ thống gót học truyền thống. Theo Hume, sẽ
khó hòa giải hình ảnh về một đấng sáng tạo hoàn toàn khôn ngoan và nhân từ với
giả thuyết rằng Ngài đã khiến con người gần như chỉ quan tâm đến đời sống hiện
tại, trong khi số phận thực sự của họ lại nằm ở một thế giới khác có tầm quan
trọng vô hạn. Chính sự bất tương xứng giữa mục đích được giả định và những năng
lực tự nhiên được ban cho con người là điều mà Hume muốn làm nổi bật trong câu
văn này.
[6]
barbarous deceit → sự đánh lừa tàn nhẫn, sự lừa dối dã man.
[7] Trong
đoạn này, Hume đưa ra một trong những lập luận độc đáo nhất của toàn bộ tiểu luận,
có thể được mô tả như một dạng “lập luận từ mục đích hiển nhiên của tự nhiên” (argument
from the apparent design of nature) hay, theo cách diễn đạt hiện đại, một
“lập luận thiết kế ngược” (reverse design argument). Thay vì suy luận từ
trật tự của tự nhiên đến sự hiện hữu của một đời sống tương lai, Hume đảo ngược
hướng suy luận và đặt câu hỏi: nếu đời sống tương lai thực sự là mục đích tối hậu
của con người, thì tại sao toàn bộ cấu trúc tâm lý tự nhiên của con người lại
không được tổ chức để hướng chủ yếu đến mục đích ấy?
Lập luận của
ông xuất phát từ một nguyên tắc đơn giản: trong tự nhiên, những năng lực và
khuynh hướng của sinh vật thường được điều chỉnh phù hợp với những mục đích có
ý nghĩa thiết yếu đối với sự hiện hữu của chúng. Con người được ban cho những bản
năng, dục vọng, tình cảm và khả năng nhận thức chủ yếu để đối phó với những nhu
cầu của đời sống hiện tại. Những mối quan tâm tự nhiên mạnh mẽ nhất của con người
đều xoay quanh việc sinh tồn, an toàn, gia đình, danh dự, quyền lợi, khoái lạc,
đau khổ và những quan hệ xã hội trong thế giới này. Ngược lại, ý niệm về đời sống
mai sau thường xuất hiện một cách mơ hồ, không ổn định và không có sức mạnh tâm
lý tương đương với những niềm tin hay mối quan tâm liên quan đến đời sống thường
nhật.
Chính từ sự
tương phản này mà Hume xây dựng lập luận của mình. Nếu quả thực con người được
tạo dựng chủ yếu để chuẩn bị cho một đời sống tương lai có ý nghĩa lớn lao hơn
vô hạn so với đời sống hiện tại, thì có vẻ hợp lý khi kỳ vọng rằng tự nhiên phải
cấy vào bản tính con người một sự quan tâm bẩm sinh, mạnh mẽ và phổ quát đối với
đời sống ấy. Nhưng kinh nghiệm lại cho thấy điều ngược lại: phần lớn năng lượng
tâm lý của con người được hướng về hiện tại, còn niềm tin vào đời sau thường yếu
ớt, bất định và phụ thuộc nhiều vào truyền thống tôn giáo, giáo dục hay tập
quán văn hóa hơn là vào những khuynh hướng tự nhiên của tâm trí.
Từ đó, Hume
đưa ra một hệ quả mang tính phản chứng. Nếu thực sự hiện hữu một đời sống tương
lai có tầm quan trọng vô hạn, nhưng tự nhiên lại khiến con người gần như hoàn
toàn tập trung vào đời sống hiện tại và chỉ có hiểu biết hết sức mờ nhạt về đời
sống kia, thì điều đó sẽ khiến toàn bộ thiết kế của tự nhiên trở nên khó hiểu
và dường như không phù hợp với sự khôn ngoan và thiện hảo của Đấng Tạo hóa.
Chính vì vậy, Hume đặt câu hỏi đầy tính tu từ: liệu có thể quy cho một đấng
nhân từ và khôn ngoan việc dẫn dắt con người sống trong tình trạng gần như
không biết gì về mục đích quan trọng nhất của chính mình hay không?
Ở tầng sâu
hơn, lập luận này phản ánh một nguyên tắc nhất quán trong triết học Hume: mọi
suy luận về mục đích của tự nhiên phải được rút ra từ những gì kinh nghiệm thực
sự cho thấy, chứ không phải từ những giả định gót học có trước. Nếu quan sát đời
sống con người bằng lý trí tự nhiên, điều hiển hiện nhất là sự định hướng của
con người đối với thế giới hiện tại. Do đó, theo Hume, bằng chứng của tự nhiên
dường như ủng hộ kết luận rằng đời sống hiện tại là phạm vi chủ yếu mà tự nhiên
nhắm đến, hơn là giả thuyết cho rằng toàn bộ đời sống trần thế chỉ là một giai
đoạn chuẩn bị cho một hiện hữu hậu thế vô hạn. Đây là một nỗ lực chuyển gánh nặng
chứng minh từ người hoài nghi sang người bảo vệ học thuyết linh hồn bất tử:
không phải người hoài nghi phải giải thích vì sao con người ít quan tâm đến đời
sau, mà chính người khẳng định đời sau phải giải thích vì sao tự nhiên lại
không chuẩn bị con người rõ ràng hơn cho mục đích được cho là quan trọng nhất ấy.
[8] Hume như một phản-Plato về chuẩn tắc đạo đức
và “tính đủ dùng chức năng” (functional sufficiency) trong phê phán thiết kế tự
nhiên: Trong IS 15, lập luận về “đôi giày” không chỉ minh họa một quan sát kinh
nghiệm đơn lẻ, mà còn tham gia vào một chiến lược triết học rộng hơn của Hume
nhằm giải cấu trúc những mô hình chuẩn tắc dựa trên ý niệm “hoàn thiện tuyệt đối”.
Nếu đặt trong bối cảnh lịch sử triết học, lập luận này có thể được hiểu như một
hình thức phản ứng ngầm đối với truyền thống Plato, đặc biệt là Thuyết về những
Thể Dạng (Theory of Forms), trong đó những chuẩn mực (cái Thiện, cái Đẹp,
cái Công chính, v.v.) được quy chiếu về những thực thể lý tưởng, bất biến và
hoàn hảo, còn thế giới kinh nghiệm chỉ là sự tham dự không trọn vẹn vào những mẫu
hình này.
Hume, ngược lại, từ
chối giả định về một tầng chuẩn tắc siêu hình như vậy. Trong toàn bộ lập luận của
ông về “tính đủ dùng chức năng” (functional sufficiency), những cấu trúc
tự nhiên và xã hội không được hiểu như sự suy giảm của một lý tưởng hoàn hảo,
mà như những hệ thống vận hành theo điều kiện thực tế của sinh tồn và tương
tác. Ví dụ về đôi giày cho thấy rằng một vật thể hay thiết chế không cần đạt đến
“mức hoàn thiện tối đa” theo nghĩa siêu hình để có giá trị; nó chỉ cần đáp ứng
hiệu quả một chức năng nhất định trong đời sống con người. Từ đó, Hume thay thế
mô hình “perfectionist ontology” bằng một mô hình “pragmatic-functional
ontology”, trong đó giá trị được đo bằng mức độ thích ứng với nhu cầu thực tế,
không phải bằng sự tiệm cận một chuẩn mực lý tưởng.
Sự chuyển dịch này có
hệ quả trực tiếp đối với những lập luận về “thiết kế tự nhiên” (design
argument) và, rộng hơn, đối với gót học tự nhiên. Nếu tự nhiên không vận
hành theo nguyên lý tối ưu hóa tuyệt đối, thì không có cơ sở để suy luận rằng
nó phải phản ánh một trí tuệ thiết kế hoàn hảo. Thay vào đó, sự phân bố năng lực,
nghề nghiệp và thiết chế trong thế giới con người có thể được giải thích đầy đủ
bằng tính thích ứng cục bộ, chứ không cần viện đến một mô hình chuẩn tắc siêu
hình về “thiết kế hoàn hảo”.
Theo nghĩa này, Hume
có thể được xem như một “phản-Plato về chuẩn tắc đạo đức và tự nhiên”: ông bác
bỏ sự tồn tại hoặc tính cần thiết của những chuẩn mực hoàn hảo tuyệt đối làm nền
tảng cho giải thích triết học. Thay vì một vũ trụ được đo bằng mức độ tham dự
vào những Form lý tưởng, Hume đề xuất một vũ trụ được cấu thành bởi những mức độ
thích nghi chức năng khác nhau, trong đó “tốt” không đồng nghĩa với “hoàn hảo”,
mà đồng nghĩa với “đủ để vận hành”.
Do đó, lập luận “đôi
giày” không chỉ là một ví dụ minh họa về sản xuất hay kỹ nghệ, mà là một điểm tựa
trong một cuộc tái cấu trúc sâu hơn: từ một siêu hình học của “chuẩn mực lý tưởng”
sang một triết học của “hiệu quả chức năng”, từ mô hình Plato của hoàn thiện
tuyệt đối sang mô hình Humean của tính đủ dùng trong điều kiện kinh nghiệm.
[9] Hume
và lập luận từ bất đối xứng giới tính trong mô hình giải thích về con người:
Trong đoạn này, Hume sử dụng một bất đối xứng xã hội–nhân học giữa nam và nữ
như một “trường hợp kiểm nghiệm” nhằm đánh giá tính nhất quán của hai mô hình
giải thích về bản tính con người: mô hình tự nhiên–chức năng và mô hình gót học
về linh hồn bất tử. Điểm xuất phát của ông là một quan sát mang tính kinh nghiệm
trong bối cảnh xã hội đương thời, theo đó sự phân công lao động truyền thống
khiến đời sống của phụ nữ chủ yếu gắn với phạm vi gia đình và những chức năng
sinh hoạt thường nhật, thay vì những lĩnh vực trí tuệ chuyên biệt như triết học,
khoa học hay chính trị.
Trong khung giải
thích “tự nhiên” mà Hume đang giả định tạm thời, sự phân bố không đồng đều về
năng lực trí tuệ giữa những nhóm giới có thể được hiểu như một hệ quả của
nguyên tắc tương xứng giữa năng lực và chức năng: mỗi cấu trúc tự nhiên chỉ
trao cho sinh vật những khả năng cần thiết để đáp ứng những nhiệm vụ thực tế mà
nó phải thực hiện trong đời sống hiện tại. Theo cách nhìn này, sự khác biệt về
năng lực không đòi hỏi một giải thích siêu hình, mà có thể được quy về sự khác
biệt trong điều kiện sống và chức năng xã hội.
Tuy nhiên,
Hume cho rằng cấu trúc giải thích này trở nên khó duy trì nếu chấp nhận giả
thuyết gót học về linh hồn bất tử. Trong mô hình này, cả nam và nữ đều được giả
định có cùng một bản chất tinh thần và cùng một đích đến tối hậu trong một đời
sống hậu thế có tầm quan trọng vô hạn. Do đó, về nguyên tắc, không có lý do nội
tại nào để biện minh cho sự chênh lệch có hệ thống về năng lực lý trí và nghị lực
giữa hai giới, bởi cả hai đều phải “chuẩn bị” cho cùng một loại nhiệm vụ siêu
việt. Sự tồn tại thực tế của bất đối xứng này vì vậy trở thành một điểm căng thẳng
trong hệ thống giải thích gót học.
Điểm quan trọng
trong lập luận của Hume không nằm ở việc đánh giá giá trị xã hội của sự khác biệt
giới tính, mà nằm ở chức năng phản chứng của nó đối với những giả thuyết siêu
hình. Bằng cách đặt cùng một dữ kiện kinh nghiệm vào hai khung giải thích đối lập,
Hume cho thấy rằng mô hình tự nhiên–chức năng có khả năng bao quát và làm rõ hiện
tượng một cách kinh tế hơn, trong khi mô hình gót học về linh hồn bất tử làm
phát sinh một bất cân xứng khó giải thích giữa cấu trúc năng lực và mục đích được
giả định của con người. Do đó, đoạn văn này tiếp tục phục vụ chiến lược chung của
Hume trong Of the Immortality of the Soul: sử dụng những quan sát nhân học
cụ thể để làm suy yếu tính tất yếu và tính giải thích của những luận chứng gót
học truyền thống về bản chất và số phận của linh hồn con người.
[10] Trong đoạn
này, Hume triển khai một trong những trực giác nền tảng của ông về cấu trúc của
tự nhiên: mối tương quan chặt chẽ giữa năng lực của sinh vật và những nhiệm vụ
mà chúng phải thực hiện. Khi quan sát giới tự nhiên một cách không thiên kiến,
ta nhận thấy một nguyên tắc lặp đi lặp lại: không có năng lực nào được trao một
cách dư thừa, cũng không có nhiệm vụ nào được đặt ra mà hoàn toàn vượt ngoài khả
năng thực hiện. Tự nhiên, theo cách nói của Hume, dường như vận hành như một hệ
thống cân bằng chức năng, trong đó mỗi gia tăng về năng lực đều đi kèm với sự
gia tăng tương ứng về nhu cầu, áp lực hoặc phạm vi hoạt động. Con người, mặc dù
được trang bị lý trí vượt trội so với những loài động vật khác, không vì thế mà
được miễn trừ khỏi tình trạng thiếu thốn hay bất định; trái lại, chính năng lực
lý trí mở rộng khiến đời sống của họ trở nên phức tạp hơn, kéo theo vô số nhu cầu
mới, lo âu mới và nhiệm vụ mới. Toàn bộ đời sống tinh thần của con người—bao gồm
trí tuệ, đam mê, ý chí và cảm xúc—được huy động liên tục trong nỗ lực duy trì
và bảo vệ sự tồn tại trong hiện tại, và ngay cả như vậy, những năng lực ấy thường
xuyên tỏ ra không đủ để đáp ứng trọn vẹn những đòi hỏi của hoàn cảnh.
Từ quan sát
này, Hume mở rộng lập luận theo phép loại suy giữa những loài sinh vật. Nếu
trong trường hợp con người, năng lực và nhu cầu tồn tại trong một quan hệ cân xứng
tương đối, thì điều tương tự cũng có thể được thấy ở những loài khác như cáo
hay thỏ, nơi những năng lực tự nhiên vừa đủ để đáp ứng chu kỳ sinh tồn ngắn ngủi
của chúng. Do đó, không có cơ sở kinh nghiệm nào để giả định rằng con người,
xét riêng trong phạm vi đời sống hiện tại, được ban cho những năng lực vượt xa
mục đích sinh tồn thực tế. Thay vào đó, tất cả đều cho thấy một cấu trúc tự
nhiên mang tính chức năng: năng lực được điều chỉnh theo nhu cầu, và nhu cầu định
hình phạm vi của năng lực.
Trên nền tảng
đó, Hume bổ sung một quan sát có tính xã hội: ngay cả trong phạm vi đời sống
con người, sự phân hóa nghề nghiệp và trí tuệ—từ chính trị, đạo đức học, hình học,
sử học cho đến thi ca và triết học—cũng không đòi hỏi một mức độ hoàn thiện tuyệt
đối trong từng cá nhân, mà chỉ cần sự phân bố hợp lý của năng lực trong toàn bộ
cộng đồng. Điều này cho thấy rằng tự nhiên không hướng đến một mô hình “hoàn hảo
hóa cá nhân”, mà hướng đến sự đủ dùng và chức năng trong một hệ thống sống động
và đa dạng. Ngay cả những kỹ năng tưởng như đơn giản nhất, như chế tác một đôi
giày, cũng không cần đạt đến mức hoàn thiện tối đa tuyệt đối, miễn là chúng đáp
ứng được mục đích thực tế của chúng.
Chính trong
khung lý luận này, Hume đưa ra một ứng dụng mang tính phản biện quan trọng đối
với vấn đề bất đối xứng giới tính. Trong mô hình giải thích tự nhiên–chức năng
mà ông đang trình bày, sự khác biệt về năng lực giữa nam và nữ không gây ra khó
khăn lý thuyết, bởi nó có thể được hiểu như hệ quả của sự phân công chức năng
trong đời sống xã hội: những vai trò khác nhau dẫn đến những yêu cầu khác nhau
về năng lực, và do đó không đòi hỏi một sự đồng nhất tuyệt đối giữa hai giới.
Ngược lại, khi đặt trong khung giả thuyết gót học về linh hồn bất tử, nơi cả
hai giới đều được giả định có cùng một đích đến tối hậu và cùng một nhiệm vụ
siêu hình trong đời sống hậu thế, thì sự bất đối xứng thực nghiệm này trở nên
khó giải thích một cách mạch lạc. Nếu mục đích tối hậu là như nhau và mang tính
vô hạn, thì về nguyên tắc, không có lý do nội tại nào để biện minh cho sự chênh
lệch có hệ thống về năng lực lý trí và nghị lực giữa nam và nữ trong đời sống
hiện tại.
Từ đó, lập luận
của Hume đạt đến một điểm quan trọng hơn: ông không chỉ mô tả một trật tự tự
nhiên, mà sử dụng chính trật tự ấy như một công cụ để đánh giá những mô hình
siêu hình cạnh tranh. Nếu mô hình tự nhiên–chức năng có thể giải thích một cách
nhất quán sự phân bố năng lực trong toàn bộ giới sinh vật, thì mô hình gót học
về linh hồn bất tử lại làm phát sinh những bất cân xứng khó dung hòa với kinh
nghiệm. Điều này dẫn đến một hệ quả phương pháp luận rộng hơn: thay vì sử dụng
giả định về đời sống hậu thế để diễn giải cấu trúc của đời sống hiện tại, Hume
yêu cầu ta phải làm ngược lại—chỉ chấp nhận những giả thuyết siêu hình nào có
thể được neo vững trong những quan sát kinh nghiệm về tự nhiên.
Do đó, toàn bộ
đoạn văn không đơn thuần là một quan sát về năng lực con người, mà là một bước
trong chiến lược triết học tổng thể của Hume: tái định hướng việc giải thích
con người từ những giả định gót học sang những nguyên lý quan sát được của tự
nhiên. Trong quá trình đó, khái niệm về linh hồn bất tử không bị bác bỏ trực tiếp,
nhưng bị làm suy yếu dần về mặt giải thích, khi nó không còn đóng vai trò cần
thiết để lý giải sự phân bố năng lực trong đời sống con người và những loài
sinh vật khác.
[11] Từ tất định luận nhân quả đến sự sụp đổ của khái niệm
công lý thần linh trong Hume: Trong đoạn IS 18–19, Hume triển khai một lập luận
có tính chất triệt để nhằm làm suy yếu khái niệm “công lý thần linh” bằng cách
khai thác hệ quả của một chuỗi suy luận tất định luận nhân quả (causal
determinism). Xuất phát từ nguyên lý quen thuộc trong triết học tự nhiên—rằng
mọi hiệu quả đều tất yếu hàm ý một nguyên nhân—Hume mở rộng chuỗi nhân quả này
đến điểm tận cùng là một “nguyên nhân đầu tiên”, tức Gót. Trong khung này, toàn
bộ chuỗi sự kiện của thế giới được quy chiếu như một hệ thống tất yếu phát sinh
từ nguyên nhân tối hậu.
Tuy nhiên, Hume lập tức
khai thác một hệ quả mang tính phá cấu trúc: nếu mọi sự kiện đều là kết quả tất
yếu của ý chí hoặc quy định từ nguyên nhân đầu tiên, thì khái niệm “hành vi sai
trái” theo nghĩa đạo đức trở nên khó áp dụng cho chính nguyên nhân đó. Trừng phạt
và báo ứng—vốn giả định một chủ thể có khả năng lựa chọn giữa nhiều khả thể và
có thể được đánh giá theo tiêu chuẩn đúng–sai—sẽ mất đi cơ sở áp dụng nếu mọi
hành động của Gót đều tất yếu và không thể khác đi. Nói cách khác, điều kiện
tiên quyết của moral agency (tác nhân tính đạo đức), tức khả năng chịu
trách nhiệm trong một không gian lựa chọn, không còn được thỏa mãn ở cấp độ thần
linh.
Từ đây, Hume đặt ra một
câu hỏi mang tính giải cấu trúc: nếu không thể quy gán cho Gót những “cảm thức”
hay động cơ tương tự con người, thì tiêu chuẩn nào có thể làm cơ sở cho việc
phân phối phần thưởng và hình phạt? Bất kỳ mô hình nào cố gắng mô tả công lý thần
linh đều rơi vào một trong hai khả năng: либо nó nhân hóa Gót bằng cách gán cho
Ngài những cảm thức đạo đức của con người (như công lý, phẫn nộ, báo thù), либо
nó loại bỏ hoàn toàn những khái niệm cảm thức, khiến cho chính ý niệm “công lý”
trở nên vô nghĩa vì không còn chủ thể đạo đức để mang nó.
Hume nhấn mạnh tính
lưỡng nan này khi ông đặt vấn đề rằng chúng ta không có bất kỳ khái niệm nào về
“cảm thức khác” ngoài cảm thức của con người. Do đó, hoặc ta phải chấp nhận một
dạng nhân hóa mang tính giả định (anthropomorphic projection), hoặc phải thừa
nhận rằng ngôn ngữ đạo đức khi áp dụng vào Gót mất đi nội dung xác định. Trong
cả hai trường hợp, khái niệm “công lý thần linh” không còn đứng vững như một
chuẩn mực độc lập, mà hoặc bị đồng nhất hóa với tâm lý con người, hoặc bị giải
thể thành một ẩn dụ không kiểm chứng.
Hệ quả triết học quan
trọng của lập luận này là sự chuyển dịch từ mô hình công lý mang tính tác nhân
đạo đức sang mô hình công lý thuần nhân quả. Nếu thế giới được hiểu như một chuỗi
tất yếu của nguyên nhân–hiệu quả, thì những khái niệm như thưởng và phạt không
còn phản ánh sự đánh giá đạo đức theo nghĩa truyền thống, mà chỉ còn là những
mô tả về kết quả nội tại của cấu trúc tự nhiên. Trong khung này, “công lý thần
linh” không bị bác bỏ trực tiếp, nhưng bị làm rỗng nội dung đạo đức, vì nền tảng
của nó—tác nhân tính đạo đức và tính lựa chọn—đã bị chính tất định luận nhân quả
làm suy yếu.
Do đó, lập luận của
Hume ở đây có thể được hiểu như một bước chuyển từ phê phán nội dung (God’s
justice) sang phê phán điều kiện khả thể của chính khái niệm ấy: một khi mọi sự
kiện được đặt trong chuỗi tất yếu nhân quả tuyệt đối, thì không còn chỗ đứng lý
thuyết cho một tác nhân đạo đức có thể thực hiện công lý theo nghĩa thưởng–phạt.
[12] “cõi Elysium” (Elysium) là một hình tượng trong thần thoại
Hy Lạp–La Mã, chỉ nơi cư ngụ của những anh hùng và những linh hồn ưu tú sau khi
chết. Khi Hume gợi nhắc đến khả năng thiết lập một “Elysium cho những thi sĩ và
anh hùng”, ông đang sử dụng một phép loại suy châm biếm nhằm chỉ ra tính tùy tiện
của việc giới hạn phần thưởng hậu thế vào một loại đức hạnh duy nhất. Nếu trong
đời sống con người, giá trị đạo đức và tài năng được phân bố đa dạng—bao gồm
trí tuệ, dũng khí, nghệ thuật, thực hành xã hội và nhiều phẩm chất khác—thì việc
giả định rằng phần thưởng tối hậu chỉ dành riêng cho một nhóm đức hạnh (thường
là đạo đức theo nghĩa hẹp trong gót học) sẽ trở nên thiếu cơ sở cân xứng. Hình ảnh
Elysium vì vậy không nhằm đề xuất một mô hình thay thế, mà nhằm phơi bày tính lựa
chọn tùy ý trong những hệ thống phần thưởng mang tính siêu hình.
[13] Alexander Đại đế và Bucephalus đóng vai trò như một trường
hợp điển hình của bất cân xứng giữa nguyên nhân và hình phạt. Việc Alexander được
mô tả là sẵn sàng tiêu diệt cả một dân tộc chỉ vì một hành vi xúc phạm liên
quan đến con ngựa yêu quý của ông nhằm minh họa cho một kiểu phẫn nộ vượt quá mọi
chuẩn mực tương xứng. Trong cấu trúc lập luận của Hume, ví dụ này có chức năng
tu từ rõ rệt: nó cho thấy rằng ngay trong kinh nghiệm lịch sử và tâm lý con người,
chúng ta đều xem những phản ứng trừng phạt quá mức là phi lý và không thể chấp
nhận. Do đó, nếu chuyển sang bình diện gót học, ý niệm về hình phạt vĩnh cửu đối
với những lỗi lầm hữu hạn của con người sẽ trở nên tương tự như một dạng “cơn
thịnh nộ phóng đại” (amplified passion) không còn phù hợp với tiêu chuẩn công
lý mà chính con người thừa nhận.
Kết hợp với Elysium
trên, Hume không chỉ phản biện trực tiếp học thuyết hình phạt vĩnh cửu, mà còn
tái cấu trúc tiêu chuẩn đánh giá công lý theo hướng kinh nghiệm: mọi hệ thống
phần thưởng và trừng phạt, nếu muốn có tính hợp lý, phải duy trì một mức độ
tương xứng giữa hành vi và hệ quả, vốn được rút ra từ chính trực giác đạo đức
phổ quát trong đời sống con người.
[14] Nguyên lý
tương xứng hình phạt và phê phán hình phạt vĩnh cửu trong Hume: Trong những đoạn
IS 21–22, Hume triển khai một lập luận có cấu trúc chặt chẽ dựa trên nguyên lý
tương xứng giữa tội lỗi và hình phạt (proportionality of punishment), một
chuẩn mực mà ông cho là được thiết lập từ chính những trực giác đạo đức thông
thường của con người. Theo nguyên lý này, hình phạt chỉ có thể được xem là hợp
lý khi nó duy trì một quan hệ cân xứng với mức độ và tính chất của hành vi phạm
tội; nếu thiếu đi sự cân xứng này, hình phạt sẽ bị đánh giá là phi công lý hoặc
mang tính bạo lực thuần túy, thay vì là một biểu hiện của trật tự đạo đức.
Từ tiền đề đó,
Hume đặt ra một vấn đề mang tính phản chứng đối với học thuyết hình phạt vĩnh cửu
trong gót học. Nếu hình phạt phải tương xứng với tội lỗi, thì việc gán một hình
phạt vô hạn (eternal punishment) cho những hành vi hữu hạn (temporary offences)
của con người trở nên khó có thể biện minh trong khuôn khổ những chuẩn mực công
lý mà chính con người thừa nhận. Sự bất cân xứng giữa tính hữu hạn của hành vi
và tính vô hạn của trừng phạt tạo ra một đứt gãy trong cấu trúc lý luận: nó đẩy
khái niệm công lý vượt ra khỏi phạm vi mà kinh nghiệm đạo đức con người có thể
xác nhận hoặc làm nền tảng.
Điểm then chốt
trong lập luận của Hume không nằm ở việc phủ nhận trực tiếp khả thể gót học của
hình phạt đời sau, mà ở việc chỉ ra rằng khái niệm “công lý tuyệt đối” được sử
dụng để biện minh cho hình phạt vĩnh cửu không còn tương thích với cách mà con
người thực sự hiểu về công lý trong đời sống. Trong kinh nghiệm đạo đức thông
thường, công lý luôn được hình dung như một quan hệ điều chỉnh giữa hành vi và
hậu quả, trong đó mức độ nghiêm trọng của hình phạt phải phản ánh mức độ nghiêm
trọng của lỗi lầm. Khi nguyên tắc này bị phá vỡ ở mức vô hạn—tức khi một lỗi lầm
hữu hạn bị quy chiếu vào một trừng phạt vô tận—thì chính khái niệm công lý trở
nên khó nhận diện theo nghĩa thông thường.
Hume củng cố lập
luận này bằng một phép loại suy tâm lý–đạo đức: nếu trong đời sống con người,
những hành vi phẫn nộ hoặc trừng phạt vượt quá tỷ lệ với lỗi lầm (như ví dụ
Alexander và Bucephalus) bị xem là biểu hiện của sự mất kiểm soát và bất công,
thì một hệ thống trừng phạt mang tính vô hạn đối với những sai lầm hữu hạn cũng
rơi vào tình trạng tương tự ở bình diện siêu hình. Như vậy, hình phạt vĩnh cửu
không chỉ là một giả thuyết tôn giáo, mà còn là một trường hợp cực hạn làm lộ
rõ giới hạn của việc mở rộng những chuẩn mực đạo đức kinh nghiệm sang lĩnh vực
siêu hình học.
Do đó, lập luận
của Hume trong đoạn này có thể được hiểu như một nỗ lực “giải siêu hình hóa”
khái niệm công lý: ông rút công lý trở lại nền tảng kinh nghiệm đạo đức của con
người và từ đó chỉ ra rằng mọi hệ thống trừng phạt hợp lý phải duy trì một mức
độ tương xứng nội tại, nếu không sẽ đánh mất ý nghĩa đạo đức mà nó tuyên bố thực
hiện.
[15] Thiên Đường và Hỏa Ngục trong Đạo Kitô và
phê bình của Hume về tính thiếu nền tảng duy lý – kinh nghiệm của hệ thống thưởng
phạt đời sau
Trong những đoạn Hume
bàn về đời sau, “Thiên Đường” (Heaven) và “Hỏa Ngục” (Hell) không nên được hiểu
như những hình ảnh tôn giáo chung chung về “nơi tốt” và “nơi xấu”. Trong Đạo
Kitô cổ điển, đặc biệt trong truyền thống Latin và Trung cổ mà Hume đang ngầm đối
thoại, đây là hai trụ cột trung tâm của học thuyết về phán xét cuối cùng: toàn
bộ đời sống con người được Gót đánh giá một lần duy nhất sau khi chết, và kết
quả đánh giá đó quyết định số phận vĩnh viễn của linh hồn.
Điểm then chốt là: cả
hai trạng thái này đều mang tính chung cuộc (final) và không thể đảo ngược
(irreversible). Không có tái sinh, không có quá trình sửa sai sau phán xét, và
không có khả năng thay đổi số phận một khi đã được xác định.
Từ cấu trúc này, Hume
tập trung vào một vấn đề không phải niềm tin tôn giáo nói chung, mà là logic
bên trong của hệ thống thưởng – phạt vĩnh viễn.
(a) Thiên Đường: hạnh
phúc vĩnh viễn và tính khó hình dung cụ thể:
Trong Đạo Kitô, Thiên
Đường không đơn giản là “phần thưởng” hay “nơi hạnh phúc”, mà là trạng thái tồn
tại vĩnh viễn trong sự hiệp thông hoàn toàn với Gót. Đây được mô tả như một dạng
hạnh phúc tuyệt đối: không còn đau khổ, không còn sai lầm, không còn thiếu thốn,
không còn giới hạn của thời gian, và không còn biến đổi.
Tuy nhiên, điều quan
trọng là: nội dung cụ thể của “hạnh phúc vĩnh viễn” này rất khó được hình dung
bằng kinh nghiệm đời thường. Nó không được mô tả như một trạng thái mà con người
có thể kiểm chứng, đo lường hoặc so sánh trong đời sống hiện tại, mà chủ yếu được
trình bày như một trạng thái vượt khỏi mọi kinh nghiệm quen thuộc.
Ở đây, Hume ngầm chỉ
ra một điểm then chốt: khái niệm Thiên Đường hoạt động chủ yếu dựa trên ngôn ngữ
tôn giáo và niềm tin mặc khải, hơn là trên một nội dung có thể quy chiếu về
kinh nghiệm hay lý giải bằng những tiêu chuẩn duy lý thông thường.
(b) Đức tin và cấu
trúc phần thưởng:
Trong nhiều hệ thống gót
học Đạo Kitô, việc đạt tới Thiên Đường không chỉ phụ thuộc vào hành vi đạo đức,
mà còn phụ thuộc vào đức tin (faith), tức sự chấp nhận chân lý về Gót, tội lỗi
và cứu rỗi.
Điều này dẫn đến một
cấu trúc mà Hume xem là đáng chú ý về mặt triết học: một hành vi tinh thần hữu
hạn—việc “tin” trong đời sống trần thế—có thể dẫn đến một kết quả vô hạn và
vĩnh viễn, tức hạnh phúc đời đời.
Từ góc nhìn của Hume,
cấu trúc này tạo ra một độ lệch đáng suy nghĩ giữa:
- một trạng thái tâm lý hữu hạn, chịu ảnh hưởng của
giáo dục, môi trường, thói quen và truyền thống;
- và một kết quả mang tính tuyệt đối, không giới hạn
và không thể đảo ngược.
(c) Hỏa Ngục: hình phạt
vĩnh viễn và hình ảnh “lửa đời đời”
“Hỏa Ngục” trong Đạo
Kitô không chỉ là một “nơi xấu” hay một tầng thấp của tồn tại, mà là trạng thái
bị tách khỏi Gót và chịu đau khổ vĩnh viễn.
Một điểm đặc biệt
quan trọng là hình ảnh “lửa đời đời” (eternal fire). Hình ảnh này không nên hiểu
theo nghĩa vật lý đơn giản, mà là một cách diễn đạt mang tính cực đoan hóa kinh
nghiệm đau khổ: nó nhấn mạnh hai yếu tố cùng lúc:
- mức độ đau khổ cực đại,
- và quan trọng hơn, tính không bao giờ chấm dứt.
Khác với nhiều truyền
thống tôn giáo khác, nơi “địa ngục” có thể mang tính tạm thời, có chu kỳ, hoặc
có khả năng chuyển hóa, Hỏa Ngục trong Đạo Kitô cổ điển là trạng thái cố định
vĩnh viễn: không tái sinh, không chuyển đổi, không thoát ra, và không có cơ hội
sửa sai.
Chính yếu tố “không
bao giờ kết thúc” này làm cho Hỏa Ngục trở thành một trong những khái niệm mang
sức nặng tâm lý mạnh nhất trong lịch sử Đạo Kitô phương Tây.
(d) Ý nghĩa trong phê
bình của Hume: công bằng và tính tương xứng
Hume sử dụng trực tiếp
cấu trúc “vĩnh viễn” này để đặt vấn đề về công bằng: nếu phần thưởng và hình phạt
mang tính vô hạn, thì chúng cần được biện minh bởi những hành vi cũng mang tính
đặc biệt nghiêm trọng và tương xứng.
Nhưng theo quan sát
kinh nghiệm, hành vi con người luôn có những đặc điểm:
- xảy
ra trong thời gian hữu hạn,
- bị
giới hạn bởi tri thức, hoàn cảnh và cảm xúc,
- và
hiếm khi mang tính tuyệt đối thuần nhất (hoàn toàn tốt hoặc hoàn toàn xấu).
Do đó, việc gán một hậu quả vĩnh viễn không giới hạn
cho những hành vi hữu hạn và pha trộn như vậy tạo ra một căng thẳng đối với trực
giác thông thường về công bằng, vốn thường dựa trên nguyên tắc tương xứng giữa
mức độ lỗi và mức độ hậu quả.
(e) Kết luận: thiếu nền
tảng duy lý – kinh nghiệm của hệ thống thưởng phạt đời sau
Điểm quan trọng nhất
trong phê bình của Hume không nằm ở việc phủ nhận hay khẳng định đời sau, mà nằm
ở việc chất vấn nền tảng nhận thức của toàn bộ hệ thống “Thiên Đường – Hỏa Ngục”.
Theo ông, hệ thống
này không được xây dựng trên:
- bằng chứng kinh nghiệm trực tiếp,
- cũng không phải là kết luận của suy luận duy lý có
thể kiểm chứng,
mà chủ yếu dựa trên
niềm tin tôn giáo, diễn giải mặc khải và truyền thống giáo lý.
Quan trọng hơn, ngay
cả những nội dung trung tâm của nó—hạnh phúc vĩnh viễn và hình phạt vĩnh viễn—cũng
mang tính không rõ ràng về mặt kinh nghiệm. Chúng không được trình bày như những
trạng thái có thể mô tả bằng kinh nghiệm đời sống, mà như những khái niệm vượt
khỏi khả năng hình dung cụ thể của con người.
Do đó, trong cách tiếp
cận của Hume, toàn bộ cấu trúc thưởng – phạt đời sau không thể được xem là một
kết luận duy lý hay kinh nghiệm chắc chắn. Nó vận hành chủ yếu như một thiết chế
niềm tin tôn giáo, được duy trì bởi giáo lý, truyền thống và thẩm quyền tôn
giáo, hơn là bởi những tiêu chuẩn kiểm chứng của lý trí hay kinh nghiệm.
Chính từ đây, Hume
không chỉ phê bình từng yếu tố riêng lẻ của học thuyết, mà đi xa hơn: ông đặt vấn
đề về tính hợp lệ của toàn bộ việc suy luận từ đạo đức con người hữu hạn sang một
hệ thống phần thưởng và hình phạt mang tính vĩnh viễn tuyệt đối.
[16] Phê phán mô hình đạo đức nhị nguyên và hệ quả đối với học
thuyết thưởng–phạt vĩnh cửu
Đoạn văn này minh họa
rõ cách Hume sử dụng một tình huống giả tưởng mang tính đời thường để làm suy yếu
mô hình đạo đức nhị phân (tốt/xấu tuyệt đối), vốn là nền tảng ẩn phía sau nhiều
lập luận về Thiên Đường và Hỏa Ngục trong gót học Đạo Kitô.
Về mặt lịch sử tư tưởng,
mô hình đạo đức nhị nguyên không xuất hiện nguyên vẹn trong Đạo Kitô. Dạng cổ
điển nhất của nhị nguyên vũ trụ thường được gắn với Zoroastrianism, nơi thiện
và ác được hình dung như hai nguyên lý đối kháng tương đối độc lập trong cấu
trúc thế giới. Tuy nhiên, trong quá trình Đạo Kitô phát triển, mô hình này được
chuyển hóa đáng kể: thay vì hai nguyên lý ngang hàng, nó trở thành một trật tự
lệ thuộc vào một Thiên Chúa duy nhất.
Trong cấu trúc Đạo
Kitô trưởng thành, đặc biệt trong gót học Latin Trung cổ, mô hình nhị nguyên được
tái định hình theo dạng:
- Thiên
Chúa = thiện tuyệt đối
- tội
lỗi / Satan = nguyên lý đối nghịch và phản loạn chống lại Thiên Chúa
- con
người = đối tượng bị phán xét theo hai kết cục cuối cùng: Thiên Đường và Hỏa Ngục
Trong khung này, đạo đức không còn là sự cân bằng giữa
hai nguyên lý vũ trụ, mà trở thành một hệ thống phán xét tuyệt đối: con người
hoặc thuộc về ơn cứu rỗi, hoặc thuộc về trừng phạt đời đời. Chính học thuyết
Phán xét Cuối cùng (Last Judgment) đã cố định hóa cấu trúc này thành một sơ đồ
đạo đức rõ ràng: người “công chính” được cứu rỗi, người “tội lỗi” bị loại trừ
vĩnh viễn.
Đây chính là nền cấu trúc mà Hume gián tiếp phản biện.
Hume hình dung một người đi khắp thế giới với một “hệ
thống công lý trực giác” rất đơn giản: người lương thiện được thưởng một bữa ăn
ngon, kẻ xấu bị trừng phạt bằng một trận đòn. Đây là một mô hình thưởng–phạt
mang tính trực quan, gần như cơ học, dựa trên giả định rằng có thể phân loại
con người một cách rõ ràng thành hai nhóm đạo đức đối lập.
Tuy nhiên, khi áp dụng mô hình này vào thực tế đời sống
con người, hệ thống lập tức trở nên bất khả thi. Người thực thi sẽ liên tục gặp
khó khăn trong việc xác định ai là “người tốt” và ai là “kẻ xấu”, bởi tiêu chuẩn
phân loại không bao giờ rõ ràng và dứt khoát.
Theo Hume, nguyên nhân của sự lúng túng này nằm ở cấu
trúc thực tế của đời sống đạo đức: con người không tồn tại như những thực thể đạo
đức thuần nhất. Trái lại, mỗi cá nhân là một tổng hợp phức hợp của nhiều xu hướng
đối lập—vừa có hành vi đáng khen, vừa có sai lầm; vừa có thiện chí, vừa có
thiên lệch; vừa hành động theo đức hạnh, vừa bị chi phối bởi hoàn cảnh và cảm
xúc. Do đó, đa số con người không thể được xếp vào những cực tuyệt đối “thiện”
hay “ác” mà không làm méo mó thực tế.
Ẩn dụ “bữa ăn cho người tốt” và “trận đòn cho kẻ xấu”
vì vậy không chỉ mang tính minh họa sinh động, mà còn có chức năng triết học rõ
ràng: nó phơi bày sự bất khả thi của việc áp dụng một hệ thống thưởng–phạt tuyệt
đối lên một đời sống đạo đức vốn mang tính pha trộn và liên tục thay đổi.
Từ điểm này, Hume chuyển sang hàm ý phê phán sâu hơn đối
với học thuyết Thiên Đường và Hỏa Ngục. Nếu ngay trong kinh nghiệm thường nhật,
việc phân loại con người thành “hoàn toàn tốt” hoặc “hoàn toàn xấu” đã là điều
không khả thi, thì một hệ thống gót học dựa trên sự phân đôi tuyệt đối này—và
gán cho nó những hậu quả vĩnh viễn như Thiên Đường và Hỏa Ngục—trở nên đáng
nghi vấn về mặt công lý.
Như vậy, lập luận của Hume không chỉ nhằm phản đối một
chi tiết đạo lý, mà nhằm làm suy yếu toàn bộ nền tảng phân loại đạo đức tuyệt đối
đã được Đạo Kitô tái cấu trúc từ mô hình nhị nguyên cổ đại. Chính trên nền phân
loại này mà ý tưởng về thưởng và trừng phạt đời đời mới có thể đứng vững—và
cũng chính nền tảng ấy trở nên lung lay khi đối chiếu với kinh nghiệm đạo đức
thực tế của con người.
[17] Đoạn Hume viện dẫn trường hợp Augustus nhằm minh họa một
điểm rất cụ thể trong lý thuyết đạo đức của ông: cảm thức công bằng tự nhiên của
con người (natural sentiment of justice) luôn có giới hạn khoan dung, ngay cả đối
với tội ác nghiêm trọng nhất, và điều này mâu thuẫn với ý niệm trừng phạt tuyệt
đối trong gót học.
Trong câu chuyện được
Hume kể lại, một phạm nhân bị đưa ra xét xử trước Augustus (tức hoàng đế
Augustus). Sau khi quá trình xét xử đã xác lập rõ tội lỗi, Augustus thực hiện một
cử chỉ bất thường: thay vì ép buộc sự thú tội cuối cùng theo cách cứng rắn, ông
đặt một câu hỏi mang tính “gợi ý” hoặc “dẫn dắt” — kiểu như: “Chắc chắn
ngươi không giết cha mình, phải không?” Cách đặt câu hỏi này mở ra một khả
năng để bị cáo có thể phủ nhận hoặc giảm nhẹ mức độ tội lỗi, thay vì bị dồn vào
một lời thú nhận tuyệt đối.
Điểm Hume muốn nhấn mạnh
không nằm ở chi tiết lịch sử, mà ở ý nghĩa đạo đức của hành vi khoan dung này.
Ngay cả khi đối diện với một tội ác nghiêm trọng (giết cha), Augustus vẫn thể
hiện một mức độ nhân nhượng nhất định trong thủ tục xét xử. Theo Hume, điều này
phản ánh một trực giác đạo đức phổ quát: con người, khi không bị chi phối bởi
đam mê trả thù hay định kiến, vẫn có xu hướng cảm thấy rằng sự trừng phạt không
nên bị đẩy đến mức tuyệt đối cứng nhắc.
Từ đó, Hume rút ra kết
luận rộng hơn: nếu ngay cả trong những trường hợp cực đoan nhất, con người vẫn
có khuynh hướng khoan dung và tránh sự nghiêm khắc tuyệt đối, thì ý niệm về một
hệ thống công lý thần linh áp dụng trừng phạt vĩnh viễn, tuyệt đối và không có
khả năng giảm nhẹ trở nên khó hòa hợp với chính “cảm thức công bằng tự nhiên”
mà con người sở hữu.
Nói cách khác,
Augustus được Hume sử dụng như một ví dụ đối lập với mô hình công lý tuyệt đối:
một người cầm quyền trần thế, dù có quyền lực tối cao trong việc trừng phạt, vẫn
hành xử theo một logic khoan dung nhất định. Điều này củng cố luận điểm lớn hơn
của Hume rằng công lý, trong kinh nghiệm con người, luôn mang tính điều tiết và
tương đối, chứ không phải một cơ chế trừng phạt vô hạn và tuyệt đối như trong một
số diễn giải gót học về Hỏa Ngục
[18] Hume ở đây viện
dẫn một hình thức trừng phạt trong luật La Mã cổ đại (Roman law) nhằm làm nổi bật
vấn đề về cách con người hình dung công lý hình sự và mức độ “tương xứng” của
trừng phạt. Theo mô tả, trong một số trường hợp đặc biệt nghiêm trọng—cụ thể là
tội giết cha mẹ (parricide, tức giết cha hoặc mẹ)—luật La Mã quy định một hình
phạt cực kỳ nặng: người phạm tội (đặc biệt trong trường hợp đã thú nhận) bị
nhét vào một cái bao cùng với những loài vật như khỉ, chó và rắn, rồi bị ném xuống
sông. Đây là một hình thức xử tử mang tính nghi lễ và biểu tượng cao, nhằm nhấn
mạnh sự loại bỏ hoàn toàn khỏi trật tự tự nhiên và trật tự xã hội của con người.vĐiểm
Hume muốn nhấn mạnh không nằm ở tính chính xác lịch sử của chi tiết pháp luật,
mà nằm ở cấu trúc biến đổi của hình phạt tùy theo cách đánh giá về tội lỗi. Ông
lưu ý rằng: nếu người phạm tội thú nhận, hình phạt có thể được giảm xuống mức
“cái chết đơn thuần”; nhưng nếu người đó phủ nhận tội lỗi, thì ngay cả khi tội
trạng đã được chứng minh đầy đủ, họ vẫn có thể bị áp dụng một hình phạt nghiêm
khắc hơn, mang tính nghi lễ và gia tăng mức độ tàn khốc. Từ đó, Hume rút ra một
quan sát quan trọng về tâm lý đạo đức và thực hành công lý của con người: mức độ
trừng phạt không chỉ phụ thuộc vào hành vi phạm tội như một dữ kiện thuần túy,
mà còn chịu ảnh hưởng bởi thái độ của người phạm tội đối với sự thật, đối với cộng
đồng xét xử, và đối với quá trình thừa nhận lỗi lầm. Việc phủ nhận tội lỗi,
trong bối cảnh này, bị diễn giải như một yếu tố làm gia tăng mức độ đáng trách,
thậm chí đôi khi còn bị xem là nghiêm trọng hơn hành vi phạm tội ban đầu.
Trong mạch lập
luận rộng hơn của Hume, ví dụ này phục vụ hai mục đích chính: Thứ nhất, nó cho
thấy tính biến thiên và không tuyệt đối của công lý nhân loại. Ngay trong một hệ
thống pháp luật có cấu trúc chặt chẽ như luật La Mã, hình phạt không vận hành
theo một phép tính cố định giữa tội và phạt, mà luôn chịu tác động của những yếu
tố ngữ cảnh, tâm lý và biểu tượng.Thứ hai, nó gián tiếp hỗ trợ phê phán của
Hume đối với ý niệm về hình phạt vĩnh viễn trong gót học đạo Kitô. Nếu trong thực
hành công lý của con người, ngay cả những tội nghiêm trọng cũng được xử lý linh
hoạt tùy theo hoàn cảnh và thái độ, thì ý tưởng về một hình phạt tuyệt đối, bất
biến và kéo dài vô hạn trong Hỏa Ngục trở nên khó dung hòa với trực giác phổ biến
về công bằng.
Như vậy, luật
La Mã trong ví dụ này không được Hume sử dụng như một chuẩn mực để ca ngợi, mà
như một minh chứng lịch sử nhằm cho thấy rằng: ngay cả trong những hệ thống
pháp lý nghiêm khắc nhất, công lý vẫn mang tính điều chỉnh theo ngữ cảnh, chứ
không vận hành như một cơ chế trừng phạt tuyệt đối và cố định.
[19] heresy hay infidelity - Đoạn này là một chỗ Hume chuyển từ lập luận đạo đức trừu tượng sang
phê phán tâm lý–xã hội đối với tôn giáo và tính thiên lệch của phán xét đạo đức.
Có thể hiểu như sau: Hume nói rằng ngay cả một vị tư tế (clergyman) cực kỳ cuồng
tín, nếu xét trong những trường hợp bình thường, cũng sẽ dễ dàng chấp nhận ý tưởng
rằng con người không thể được chia rạch ròi thành “tốt tuyệt đối” và “xấu tuyệt
đối”. Trong đời sống thường nhật, khi không bị chi phối bởi lợi ích hay xung đột
tôn giáo, ngay cả người có khuynh hướng nghiêm khắc nhất cũng sẽ thừa nhận một
mức độ khoan dung tự nhiên đối với sự pha trộn giữa đức hạnh và sai lầm nơi con
người.
Tuy nhiên, Hume lập tức
thêm một điều kiện mang tính phê phán: ngoại trừ trường hợp “dị giáo” (heresy)
hoặc “vô tín ngưỡng” (infidelity). Khi vấn đề không còn là đạo đức chung
chung, mà chạm đến tin tưởng tôn giáo tôn giáo và quyền lực của Giáo hội, thì
cùng một con người đó có thể thay đổi thái độ một cách rõ rệt.
Ý của Hume là: sự
khoan dung mà người ta thể hiện trong đời sống thường nhật không phải là một
nguyên tắc tuyệt đối của lý trí đạo đức, mà thường bị giới hạn bởi lợi ích, quyền
lực và vị trí xã hội. Khi những “tội ác” (ở đây là dị giáo hoặc không tin) bắt
đầu đe dọa đến uy tín, quyền lợi hoặc quyền lực của chính người phán xét, thì
thái độ khoan dung sẽ suy giảm mạnh hoặc biến mất. Nói cách khác, Hume đang chỉ
ra một dạng thiên lệch lợi ích (bias of interest) trong phán xét đạo đức tôn
giáo: con người không đánh giá “thiện–ác” một cách thuần lý, mà thường điều chỉnh
mức độ nghiêm khắc tùy theo việc hành vi đó có đụng chạm đến lợi ích hay quyền
lực của mình hay không.
Ẩn ý sâu hơn của đoạn
này là một phê phán đối với chính cơ chế đạo đức trong xã hội đạo Kitô châu Âu
thời Hume: những khái niệm như “tội lỗi”, “dị giáo” hay “vô tín ngưỡng” không
chỉ mang ý nghĩa đạo đức thuần túy, mà còn gắn chặt với cấu trúc quyền lực tôn
giáo. Vì vậy, sự phân biệt giữa “người tốt” và “người xấu” trong thực tế không
hề trung lập, mà thường bị điều kiện hóa bởi lợi ích và vị thế của người đánh
giá.
[20] Đoạn này là một mũi nhọn châm biếm rất điển hình của
Hume nhằm vào tính “không thuần lý” của những phán đoán đạo đức trong giới tôn
giáo. Ý chính của ông có thể tách thành
ba lớp: (1) Khoan dung có điều kiện,
không tuyệt đối Hume nói rằng ngay cả một “vị tư tế cực đoan” (tức người rất
nghiêm khắc về niềm tin tôn giáo) vẫn có thể tỏ ra khoan dung trong nhiều trường
hợp phạm tội thông thường. Điều này cho thấy: sự khoan dung đạo đức không biến
mất chỉ vì quan điểm tôn giáo nghiêm khắc—con người vẫn phản ứng theo cảm thức
tự nhiên về mức độ nghiêm trọng của tội lỗi.
(2) Ngoại lệ quan trọng: dị giáo và bất tín Nhưng khi tội ác liên quan đến
“heresy” (dị giáo) hoặc “infidelity” (không tin/không trung thành với đức tin),
thái độ lập tức thay đổi. Đây là điểm then chốt: trong những vấn đề trực tiếp
đe dọa hệ thống niềm tin tôn giáo, sự khoan dung biến mất. (3) Lợi ích tự thân và cấu trúc quyền lực
Hume giải thích sự thay đổi này bằng một nguyên nhân mang tính xã hội–chính trị:
những tội liên quan đến đức tin không chỉ là “lỗi đạo đức”, mà còn đe dọa vị
trí, quyền lực và lợi ích vật chất của giới tư tế trong cấu trúc xã hội. Vì vậy,
phản ứng trở nên nghiêm khắc hơn không phải vì một nguyên tắc đạo đức thuần
túy, mà vì lợi ích tự thân bị động chạm.
Kết luận của Hume trong đoạn này Ông muốn cho thấy rằng cái gọi là “công
lý tôn giáo” không vận hành theo một tiêu chuẩn đạo đức tuyệt đối và nhất quán.
Ngay cả những người đại diện cho đạo đức tôn giáo cũng bị chi phối bởi lợi ích,
hoàn cảnh và quyền lực xã hội. Do đó, những phán đoán về trừng phạt—đặc biệt
trong những vấn đề liên quan đến Thiên Đàng và Hỏa Ngục—không thể được xem là
xuất phát từ một chuẩn mực siêu việt thuần túy, mà vẫn mang tính nhân sinh và
thực dụng.
[21] Ý câu này của Hume là một kiểu phóng đại có chủ ý
(rhetorical exaggeration) để làm lộ ra mâu thuẫn nội tại trong học thuyết “hình
phạt vĩnh cửu”. Có thể hiểu theo ba bước: (1) So sánh không tương xứng giữa tội hữu hạn
và hậu quả vô hạn. Hume giả định: một con người phạm tội trong đời sống hữu hạn
(trong thời gian, trong hoàn cảnh giới hạn). Nhưng nếu bị kết án “địa ngục đời
đời”, thì hậu quả không còn nằm trong cùng cấp độ với hành vi nữa—nó trở thành
vô hạn về thời gian và mức độ đau khổ.
(2) Đảo ngược thang đo giá trị đạo đức thông thường Trong đạo đức thông
thường, việc sụp đổ của một vương quốc đã là thảm họa rất lớn. Nhưng Hume nói:
nếu ta chấp nhận khái niệm “trừng phạt đời đời”, thì việc một cá nhân bị đày đọa
vô tận còn “lớn hơn” về mặt thiệt hại vũ trụ học (cosmic scale) so với bất kỳ
biến cố lịch sử nào, kể cả sự hủy diệt của “một nghìn triệu vương quốc”. Ý ở đây không phải là một phép tính thực, mà
là: khi đưa “vô hạn” vào đạo đức, mọi so sánh hữu hạn trở nên vô nghĩa. (3) Phê phán nền tảng công lý gót học Hume muốn
đẩy lập luận đến điểm cực đoan để hỏi ngược lại: Nếu một hệ thống công lý cho
phép một hậu quả “vô hạn” (damnation eternal), thì nó phải có một nền tảng biện
minh tương xứng—nhưng trong kinh nghiệm đạo đức của con người, không có hành vi
hữu hạn nào được xem là đủ để kéo theo một hậu quả vô hạn. Tóm lại
Câu này không phải là một mệnh đề “tính toán đạo đức” theo nghĩa nghiêm
ngặt, mà là một đòn phản biện triết học: Hume dùng sự “vô hạn hóa” của hình phạt
đời đời để cho thấy rằng hệ thống Thiên Đàng–Hỏa Ngục phá vỡ nguyên tắc tương xứng
cơ bản của công lý mà con người có thể hiểu được từ kinh nghiệm.
[22] “Một nửa nhân loại chết trước khi họ trở thành sinh vật
có lý trí” – Hume, phê bình ý niệm đời sống như một “bài thử đạo đức” và lập luận
phản cứu cánh luận (anti-teleological argument)
Trong đạo Kitô, đặc
biệt trong truyền thống gót học Latin–Trung cổ mà Hume đang ngầm đối thoại, ý
niệm rằng đời sống hiện tại là một “thời kỳ thử thách” (probationary life
hay probationary state) giữ một vị trí rất quan trọng. Theo quan niệm
này, cuộc sống trên trần gian không phải là mục đích cuối cùng của con người,
mà là giai đoạn chuẩn bị cho đời sống vĩnh cửu. Con người được đặt vào thế giới
để lựa chọn giữa điều thiện và điều ác, giữa đức tin và sự bất tín; sau đó sẽ bị
phán xét, và số phận đời đời của họ sẽ được quyết định trong Thiên Đàng hoặc Hỏa
Ngục.
Đằng sau quan niệm ấy
là một cách nhìn mang tính cứu cánh luận (teleology hay teleological
view). Theo cách nhìn này, thế giới không tồn tại một cách ngẫu nhiên mà được
tạo dựng vì một mục đích. Thiên Chúa tạo dựng thế giới có mục đích; tạo dựng
con người có mục đích; lịch sử có mục đích; và ngay cả đời sống cá nhân của mỗi
người cũng có mục đích. Trong viễn tượng đó, cuộc đời hiện tại được hiểu như một
phương tiện phục vụ cho một cứu cánh cao hơn: sự phán xét cuối cùng và số phận
vĩnh cửu của linh hồn.
Chính giả định nền tảng
này là điều Hume muốn chất vấn.
Điều đáng chú ý là
Hume không trực tiếp tìm cách chứng minh rằng thế giới hoàn toàn không có mục
đích. Ông chọn một con đường khác. Thay vì bắt đầu từ giáo lý rồi giải thích thế
giới theo giáo lý ấy, ông bắt đầu từ những gì chúng ta thực sự quan sát được
trong đời sống, rồi hỏi ngược lại liệu những dữ kiện ấy có phù hợp với mục đích
mà gót học gán cho thế giới hay không.
Trong đoạn văn này, dữ
kiện mà ông nêu ra rất đơn giản nhưng có sức công phá lớn: một tỷ lệ rất lớn
con người chết khi còn thơ ấu, trước khi họ đạt đến khả năng lý trí và tự ý thức
đạo đức.
Nếu đời sống thực sự
là một kỳ thử thách đạo đức được thiết kế để đánh giá con người, thì dường như
mọi người phải có cơ hội tương đối ngang nhau để tham gia vào kỳ thử thách ấy.
Ít nhất, họ phải có đủ thời gian để hiểu điều gì là đúng hay sai, để lựa chọn,
để hành động, và để chịu trách nhiệm về những lựa chọn của mình.
Nhưng thực tế không
diễn ra như vậy.
Nhiều người chết khi
còn là trẻ sơ sinh. Nhiều người khác chết trước khi trưởng thành. Họ chưa bao
giờ có cơ hội thực sự bước vào cái mà gót học gọi là “đời sống đạo đức” theo
nghĩa đầy đủ. Nếu vậy, câu hỏi xuất hiện là: họ được thử thách ở điểm nào? Và bằng
cách nào?
Đối với Hume, đây
không phải là một chi tiết bên lề, mà là một phản chứng nghiêm trọng đối với
toàn bộ mô hình “đời sống như một kỳ thi đạo đức”. Một hệ thống thi cử mà rất
nhiều người không bao giờ có cơ hội làm bài khó có thể được xem là một hệ thống
được thiết kế nhằm đánh giá công bằng tất cả mọi người.
Từ đây, lập luận của
Hume mở rộng thành một phê bình sâu hơn đối với cách giải thích thế giới bằng mục
đích. Nếu thế giới thật sự được xây dựng như một môi trường để thử thách đạo đức
con người, thì chúng ta kỳ vọng sẽ nhìn thấy những đặc điểm phù hợp với mục
đích ấy. Nhưng điều mà kinh nghiệm cho thấy lại là điều ngược lại.
Trẻ em yếu ớt và dễ
chết.
Bệnh tật xuất hiện
không phân biệt người tốt hay người xấu.
Thiên tai không lựa
chọn nạn nhân dựa trên phẩm hạnh đạo đức.
Người thiện có thể chịu
đau khổ, còn người ác có thể sống sung túc.
Nhìn từ kinh nghiệm,
tự nhiên dường như vận hành theo những quy luật nhân quả của riêng nó, chứ
không giống một hệ thống được thiết kế đặc biệt để đánh giá đạo đức con người.
Đây chính là điểm khiến
những học giả thường xem đoạn văn này như một ví dụ điển hình của lập luận phản
cứu cánh luận (anti-teleological argument). Hume không nói rằng chắc chắn
không có mục đích nào trong thế giới. Ông chỉ cho rằng chúng ta không có đủ cơ
sở để khẳng định rằng mục đích của thế giới là thử thách đạo đức con người, bởi
những dữ kiện quan sát được không hỗ trợ cho giả thuyết đó.
Vì vậy, câu nói nổi
tiếng của ông rằng “một nửa nhân loại chết trước khi họ trở thành sinh vật có
lý trí” không đơn thuần là một nhận xét về tỷ lệ tử vong trẻ em. Nó là một đòn
phản biện nhắm vào một trong những giả định căn bản của gót học đạo Kitô truyền
thống: rằng cuộc đời hiện tại là một giai đoạn được thiết kế có chủ đích để chuẩn
bị cho sự phán xét đời sau.
Nói ngắn gọn, Hume
đang lập luận rằng: nếu cuộc đời thực sự là một bài thi đạo đức do Thiên Chúa
thiết kế, thì cấu trúc của bài thi ấy không cho thấy những dấu hiệu của một sự
sắp đặt công bằng và có mục đích. Thế giới mà chúng ta quan sát được giống một
tiến trình tự nhiên vận hành theo những quy luật riêng của nó hơn là một trường
thi được xây dựng nhằm phân loại linh hồn để chuẩn bị cho Thiên Đàng và Hỏa Ngục.
Chính từ sự không tương hợp giữa giáo lý và kinh nghiệm ấy mà toàn bộ sức mạnh
phê phán của Hume xuất hiện.
