(Of
the Immortality of the Soul)
David Hume
Về Sự Bất Tử Của Hồn Người
IS 30, Mil 596
III.
Những lý lẽ dựa trên
việc quan sát tự nhiên [1] và dựa trên sự giống nhau giữa các hiện tượng
trong tự nhiên là những lý lẽ mạnh mẽ nhất ủng hộ quan điểm cho rằng hồn người
cũng có tính phải chết. Thực ra, đây là loại lý lẽ triết học duy nhất mà chúng
ta nên chấp nhận trong vấn đề này, cũng như trong mọi vấn đề liên quan đến những
gì thực sự diễn ra trong thế giới.
IS 31, Mil 596
Khi hai sự vật liên hệ
với nhau chặt chẽ đến mức mọi thay đổi mà kinh nghiệm cho chúng ta thấy ở một
bên đều kéo theo những thay đổi tương ứng ở bên kia, thì chúng ta có lý do để kết
luận rằng: nếu sự vật thứ nhất trải qua những biến đổi lớn hơn nữa và cuối cùng
bị tan rã hoàn toàn, thì sự vật thứ hai cũng sẽ đi đến sự tan rã hoàn toàn như
vậy.[2]
IS 32, Mil 596
Giấc ngủ, một thay đổi rất nhỏ nơi cơ thể, cũng đi kèm với sự
ngưng nghỉ tạm thời của đời sống tinh thần; hoặc ít nhất là với một trạng thái
lộn xộn đáng kể của tâm trí. [3]
IS 33, Mil 596
Cơ thể yếu ớt khi còn
nhỏ thì tâm trí cũng yếu ớt; cơ thể mạnh mẽ khi trưởng thành thì tâm trí cũng mạnh
mẽ; cơ thể đau ốm thì tâm trí cũng rối loạn; cơ thể già đi thì tâm trí cũng suy
giảm dần. Vì thế, bước tiếp theo dường như không thể tránh khỏi: khi cơ thể tan
rã trong cái chết, tâm trí cũng tan rã theo.
IS 34, Mil 596
Những biểu hiện cuối
cùng của tâm trí là sự rối loạn, suy yếu, mất cảm giác và đờ đẫn — những dấu hiệu
báo trước sự chấm dứt của nó. Khi các nguyên nhân ấy tiếp tục hoạt động mạnh
hơn và tạo ra những kết quả cùng loại nhưng ở mức độ lớn hơn, chúng sẽ làm cho
tâm trí tắt hẳn.[4]
IS 35, Mil 596
Dựa theo lối so sánh
quen thuộc của tự nhiên, không một dạng sống nào có thể tiếp tục tồn tại khi bị
đưa sang một điều kiện sống quá khác với nơi nó vốn được đặt vào. Cây cối sẽ chết
trong nước; cá sẽ chết trong không khí; động vật sẽ không sống được trong đất
theo cách tự nhiên của chúng. Ngay cả một khác biệt nhỏ như khí hậu cũng thường
đủ để gây chết. Vậy thì có lý do gì để nghĩ rằng một thay đổi rất lớn, như thay
đổi xảy ra đối với đời sống tinh thần khi cơ thể tan rã cùng toàn bộ cơ quan
suy nghĩ và cảm giác, lại có thể diễn ra mà không kéo theo sự chấm dứt của toàn
bộ đời sống ấy?
IS 36, Mil 596
Mọ sự vật việc giữa đời
sống tinh thần và cơ thể đều gắn chặt với nhau. Các cơ quan của cơ thể đều đồng
thời là những điều kiện cho đời sống tinh thần. Vì vậy, sự tồn tại của đời sống
tinh thần phụ thuộc vào sự tồn tại của cơ thể.
IS 37, Mil 597
Hồn của các loài động
vật được thừa nhận là có thể chết; và chúng lại có sự giống nhau rất gần với hồn
người của con người, đến mức sự so sánh tương đồng từ cái này sang cái kia tạo
thành một lập luận rất mạnh. Thân xác của chúng cũng không khác nhau hơn là
bao; vậy mà không ai bác bỏ các lập luận rút ra từ giải phẫu so sánh. Vì vậy,
chỉ có thuyết chuyển kiếp của hồn người (metempsychosis) [5] là hệ thống duy nhất thuộc loại này mà triết học còn có
thể ít nhiều lắng nghe [6].
IS 38, Mil 597
Không có điều gì
trong thế giới này là tồn tại mãi mãi. Mọi sự vật, dù có vẻ vững chắc đến đâu,
đều luôn ở trong trạng thái thay đổi không ngừng. Ngay cả bản thân thế giới
cũng cho thấy dấu hiệu của sự yếu đi và tan rã. Vì vậy, thật trái với quy luật
so sánh tự nhiên khi ta lại nghĩ rằng chỉ riêng một dạng tồn tại—vốn có vẻ mong
manh nhất trong mọi dạng, và dễ bị xáo trộn bởi những nguyên nhân rất nhỏ—lại
là bất tử và không thể bị phá hủy.
Đó là một giả thuyết
quá liều lĩnh. Và nó được chấp nhận một cách quá dễ dãi, nếu không muốn nói là
vội vàng.[7]
IS 39, Mil 597
Câu hỏi về cách sắp xếp
số lượng vô hạn những đời sống sau khi chết cũng gây khó khăn lớn cho quan điểm
tôn giáo.
Ta có thể tưởng tượng
rằng mỗi hành tinh trong mỗi hệ mặt trời đều có những sinh vật có trí tuệ nhưng
vẫn phải chết. Thực ra, chúng ta không có lý do nào chắc chắn để phủ nhận giả định
này.
Nếu vậy, đối với những
sinh vật này, hoặc là phải có một vũ trụ mới được tạo ra sau mỗi thế hệ, nằm
ngoài ranh giới của vũ trụ hiện tại; hoặc phải có một vũ trụ ngay từ đầu rộng đến
mức có thể chứa toàn bộ số sinh vật liên tục sinh ra như vậy.[8]
Liệu những giả định
táo bạo như vậy có nên được bất kỳ hệ thống triết học nào chấp nhận, chỉ dựa
trên cái cớ rằng đó chỉ là một khả năng thuần túy không có chứng cứ nào khác?
[9]
IS 40, Mil 597
Khi người ta hỏi rằng
Agamemnon, Thersites, Hannibal, Nero, cùng mọi kẻ ngu dốt đáng cười [10] từng
sống ở Ý, Scythia, Bactria hay Guinea, hiện nay có còn sống hay không, thì liệu
có ai nghĩ rằng việc khảo sát tự nhiên có thể đưa ra đủ lý lẽ để trả lời “có”
cho một câu hỏi kỳ lạ như vậy không?
Việc hoàn toàn không
có bất kỳ lý lẽ nào, nếu không có sự vén lên cho thấy bí nhiệm [11] mở
ra điều vượt ngoài kinh nghiệm, đã đủ để ta kết luận rằng câu trả lời là
“không”. [12]
IS 41, Mil 598
“Quanto facilius,
Pliny nói [3], certiusque sibi quemque credere, ac specimen securitatis ex
ante-genitali experimento sumere.” [13]
Con người dễ dàng hơn
và chắc chắn hơn khi tin vào chính mình, và có thể rút ra một mẫu về trạng thái
an toàn từ kinh nghiệm “trước khi sinh”.
Sự không cảm giác của
chúng ta, trước khi cơ thể được hình thành, dường như đối với lý trí tự nhiên
là một bằng chứng cho một trạng thái tương tự sau khi cơ thể tan rã.[14]
IS 42, Mil 598
Nếu nỗi kinh hoàng của
chúng ta trước sự tiêu diệt hoàn toàn là một đam mê nguyên thủy, [15]
chứ không phải là hệ quả của khuynh hướng phổ quát hướng tới hạnh phúc, thì nó
sẽ thà chứng minh rằng hồn người là phải chết. Vì, như tự nhiên không làm điều
gì vô ích, thì tự nhiên sẽ không bao giờ ban cho chúng ta một nỗi kinh hoàng hướng
về một sự kiện không thể xảy ra. Tự nhiên có thể ban cho chúng ta một nỗi kinh
hoàng đối với một sự kiện không thể tránh khỏi, với điều kiện rằng những nỗ lực
của chúng ta, như trong trường hợp hiện tại, có thể thường xuyên đẩy nó ra xa một
khoảng nào đó. Cái chết, xét đến cùng, là không thể tránh khỏi; tuy nhiên, loài
người sẽ không thể được duy trì, nếu tự nhiên không khơi dậy trong chúng ta một
sự ác cảm tránh né đối với nó.
IS 43, Mil 598
Tất cả các học thuyết
đều phải bị nghi ngờ khi chúng được các đam mê của chúng ta nâng đỡ. [16]
Và những hy vọng cùng nỗi sợ hãi đã làm nảy sinh học thuyết này thì hết sức hiển
nhiên. [17]
IS 44, Mil 598
Trong mọi tranh luận,
luôn có lợi thế rất lớn khi đứng về phía phủ định. Nếu vấn đề vượt ra ngoài
kinh nghiệm tự nhiên thông thường, thì lợi thế này gần như mang tính quyết định.
Bằng lý lẽ hay sự tương đồng nào ta có thể chứng minh một dạng tồn tại mà chưa
ai từng thấy, và cũng không giống bất kỳ điều gì từng được thấy? Ai có thể đặt
tin tưởng vào một thứ triết học như vậy đến mức chấp nhận, chỉ dựa trên lời nó
nói, rằng một cảnh tượng kỳ lạ như thế là có thật? Muốn làm điều đó, có lẽ cần một loại logic hoàn
toàn khác, và những năng lực mới của trí tuệ—những năng lực có thể giúp ta nắm
được thứ logic ấy.[18]
IS 45, Mil 598
Không gì có thể làm
sáng tỏ đầy đủ hơn sự lệ thuộc to lớn của con người đối với mặc khải từ Gót; bởi
vì chúng ta thấy rằng không có phương tiện nào khác có thể thiết lập một cách
chắc chắn chân lý lớn lao và hết sức quan trọng này. [19]
IS 42, Mil 598
Nếu nỗi khiếp sợ của
chúng ta đối với sự tiêu diệt là một đam mê nguyên sơ, [20] chứ không phải là kết quả từ lòng yêu thích hạnh phúc
chung của chúng ta, nó sẽ chứng minh tính phải chết của hồn người thì đúng hơn.
Vì khi tự nhiên không làm điều gì vô ích, tự nhiên sẽ không bao giờ trao cho
chúng ta một nỗi khiếp sợ chống lại một sự kiện không thể xảy ra. Tự nhiên có
thể trao cho chúng ta một nỗi khiếp sợ chống lại một sự kiện không thể tránh khỏi,
với điều kiện là những nỗ lực của chúng ta, như trong tình cảnh hiện tại, có thể
thường xuyên đẩy nó ra một khoảng cách nào đó. Cái chết xét đến cùng là không
thể tránh khỏi; tuy nhiên, người ta không thể bảo tồn loài người, nếu tự nhiên
không khơi dậy trong chúng ta một sự ghét bỏ đối với nó.
IS 43, Mil 598
Người ta phải nghi ngờ
tất cả những học thuyết, những học thuyết được những đam mê của chúng ta ủng hộ.
Và những hy vọng cùng những nỗi sợ hãi cái đã làm nảy sinh học thuyết này, thì
rất rõ ràng. [21]
IS 44, Mil 598
Đó là một lợi thế vô
hạn trong mỗi tranh luận, khi người ta bảo vệ phe phủ định. Nếu câu hỏi nằm
ngoài tiến trình tự nhiên mang tính kinh nghiệm thông thường, tình huống này gần
như, nếu không muốn nói là hoàn toàn, có tính quyết định. Bằng những lý lẽ hay
những sự so sánh tương đồng nào mà chúng ta có thể chứng minh bất kỳ trạng thái
tồn tại nào, cái mà chưa từng có một ai nhìn thấy, và cái mà không hề giống với
bất kỳ trạng thái nào từng được nhìn thấy? Ai sẽ đặt sự tin tưởng như vậy vào bất
kỳ triết học giả tạo nào, để mà thừa nhận dựa trên lời chứng của nó thực tế của
một cảnh tượng kỳ diệu đến thế? Người ta cần một vài kiểu logic mới cho mục
đích đó; và một vài năng lực mới của não thức, những năng lực có thể cho phép
chúng ta hiểu được logic đó.
IS 45, Mil 598
Không có điều gì có
thể đưa những nghĩa vụ vô hạn, cái mà nhân loại có đối với sự vén lên cho thấy
bí nhiệm thiêng liêng,[22] ra ngoài ánh sáng
đầy đủ hơn; vì chúng ta tìm ra rằng, không có phương tiện nào khác có thể bảo đảm
sự thật lớn lao và quan trọng này. [23]
Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ nhất
(Jun/2026
(Còn tiếp... →)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1] The physical arguments: Trong thế kỷ XVIII, từ physical
vẫn còn mang nghĩa gần với natural: thuộc về tự nhiên, dựa trên việc quan sát
thế giới tự nhiên. Nó bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp physis (tự nhiên). Hume
đang đối lập ba loại lập luận: Metaphysical arguments → lập luận siêu hình học
(bản thể hồn người, bản chất tinh thần, v.v.). Theological / religious
arguments → lập luận gót học, mặc khải, giáo lý. Physical arguments → lập luận
dựa trên những gì quan sát được trong tự nhiên.
[2] Trong
đoạn này, Hume nêu ra một nguyên tắc rất đơn giản mà chúng ta vẫn sử dụng hằng
ngày khi hiểu thế giới. Nếu hai sự vật luôn đi cùng với nhau trong kinh nghiệm
của chúng ta, thì khi một sự vật thay đổi, chúng ta có lý do để chờ đợi rằng sự
vật kia cũng sẽ thay đổi theo.
Chẳng hạn, nếu
trong mọi trường hợp đã quan sát, một hiện tượng luôn gắn liền với một hiện tượng
khác, thì chúng ta tự nhiên cho rằng mối liên hệ ấy sẽ tiếp tục ngay cả trong
những trường hợp mạnh hơn hoặc lớn hơn. Đây là cách con người vẫn suy luận
trong đời sống thường ngày cũng như trong khoa học: dựa vào những gì đã nhiều lần
xảy ra để dự đoán điều sẽ xảy ra tiếp theo.
Hume áp dụng
nguyên tắc này vào mối liên hệ giữa tâm trí và cơ thể. Theo những gì kinh nghiệm
cho thấy, mọi thay đổi của tâm trí đều đi kèm với những thay đổi của thân thể.
Khi cơ thể còn khỏe mạnh, trí nhớ, cảm xúc và khả năng suy nghĩ hoạt động theo
một cách; khi cơ thể suy yếu vì bệnh tật, tuổi già, chấn thương hoặc thuốc men,
những hoạt động ấy cũng thay đổi theo.
Nói cách khác,
trong toàn bộ kinh nghiệm của chúng ta, tâm trí không bao giờ xuất hiện như một
cái gì hoàn toàn tách rời khỏi cơ thể. Chúng ta luôn thấy cả hai gắn bó với
nhau và tác động qua lại với nhau.
Từ đó Hume đặt
câu hỏi: nếu những thay đổi nhỏ trong cơ thể đã kéo theo những thay đổi tương ứng
trong tâm trí, thì tại sao khi cơ thể trải qua sự thay đổi lớn nhất có thể có—tức
là cái chết và sự tan rã hoàn toàn—chúng ta lại cho rằng tâm trí vẫn tiếp tục tồn
tại nguyên vẹn?
Theo cách suy
luận dựa trên kinh nghiệm, điều hợp lý hơn là cho rằng khi cơ thể chấm dứt hoàn
toàn, đời sống tinh thần cũng chấm dứt theo. Đây không phải là một sự chứng
minh tuyệt đối, nhưng là kết luận phù hợp nhất với những gì chúng ta thực sự
quan sát được trong tự nhiên.
Điểm quan trọng
là Hume không dựa vào những suy đoán về bản chất siêu nhiên của hồn người. Ông
chỉ dựa vào một nguyên tắc rất căn bản: khi hai sự vật luôn đi cùng nhau trong
kinh nghiệm, chúng ta có lý do để tin rằng chúng sẽ tiếp tục đi cùng nhau cho đến
tận biến đổi cuối cùng. Chính vì vậy, ông xem đây là loại lập luận mạnh nhất mà
triết học có thể đưa ra trong vấn đề hồn người bất tử, bởi nó xuất phát từ quan
sát thực tế chứ không từ đức tin hay suy đoán thuần túy.
[3] Giấc ngủ như một bằng chứng kinh nghiệm
cho sự lệ thuộc của tâm trí vào cơ thể: Hume mở đầu phần lập luận này bằng một hiện tượng hết sức quen thuộc:
giấc ngủ. Ông xem đây như một bằng chứng gần gũi và trực tiếp cho thấy đời sống
tinh thần luôn đi liền với tình trạng của cơ thể.
Khi ngủ, cơ thể không
ngừng tồn tại, nhưng những hoạt động của nó giảm xuống đáng kể. Cùng lúc đó, ý
thức cũng không còn vận hành như trong trạng thái thức. Khả năng suy nghĩ rõ
ràng bị gián đoạn; nhận thức về thế giới bên ngoài gần như biến mất; và nếu còn
hoạt động tinh thần nào, nó thường xuất hiện dưới dạng những giấc mơ rời rạc, lộn
xộn và thiếu sự kiểm soát của lý trí.
Điều Hume muốn nhấn mạnh
không phải là một mô tả về sinh học hay y học, mà là một điểm triết học đơn giản
hơn nhiều. Trong kinh nghiệm hằng ngày, chúng ta luôn thấy rằng khi cơ thể thay
đổi thì tâm trí cũng thay đổi theo. Giấc ngủ là một ví dụ rõ ràng: chỉ một thay
đổi tương đối nhỏ nơi cơ thể cũng đủ làm cho ý thức suy giảm hoặc gần như biến
mất trong một khoảng thời gian.
Tuy nhiên, dụng ý của
Hume không phải là chứng minh ngay lập tức rằng hồn người chết cùng cơ thể chỉ
từ hiện tượng giấc ngủ. Giấc ngủ chỉ là mắt xích đầu tiên trong một chuỗi quan
sát rộng hơn mà ông triển khai trong những đoạn IS 32–34. Ông lần lượt đi từ giấc
ngủ, đến bệnh tật, tuổi già và cuối cùng là cái chết. Ở mỗi giai đoạn, ông đều
chỉ ra cùng một quy luật: khi cơ thể suy yếu thì tâm trí cũng suy yếu; khi cơ
thể rối loạn thì tâm trí cũng rối loạn; khi cơ thể mất dần sức sống thì đời sống
tinh thần cũng mất dần sự sáng suốt và năng lực hoạt động.
Vì thế, giấc ngủ giữ
vai trò như một dạng “cái chết thu nhỏ” trong lập luận của Hume. Nó cung cấp ví
dụ đầu tiên cho nguyên tắc mà ông muốn thiết lập: tâm trí và cơ thể không vận
hành như hai thực thể độc lập, mà cùng biến đổi với nhau. Từ một sự suy giảm nhỏ
trong giấc ngủ, Hume chuyển sang những sự suy giảm lớn hơn trong bệnh tật và tuổi
già, rồi cuối cùng đặt câu hỏi về biến đổi lớn nhất trong tất cả: sự tan rã
hoàn toàn của cơ thể trong cái chết.
Từ đó, Hume đặt ra
câu hỏi: nếu một biến đổi nhỏ của cơ thể đã kéo theo một biến đổi lớn trong đời
sống tinh thần, thì tại sao khi cơ thể trải qua biến đổi triệt để nhất — tức
cái chết và sự tan rã hoàn toàn — chúng ta lại cho rằng tâm trí vẫn tiếp tục tồn
tại nguyên vẹn?
Toàn bộ IS
32–34 thực chất là một lập luận liên tục dựa trên sự cùng thay đổi, cùng suy yếu
và cuối cùng cùng chấm dứt của tâm trí và cơ thể. Hume không khẳng định điều
này bằng suy đoán siêu hình, mà bằng phương pháp quen thuộc của ông: bắt đầu từ
những gì kinh nghiệm cho thấy một cách nhất quán, rồi kéo dài cùng một quy luật
đến trường hợp cuối cùng trong chuỗi biến đổi ấy. Nếu thân thể và tâm trí luôn
đồng hành trong mọi giai đoạn của đời sống, thì theo cùng lối suy luận từ kinh
nghiệm, sự chấm dứt của thân thể cũng cho ta lý do mạnh để dự đoán sự chấm dứt
của đời sống tinh thần
[4] Sự cùng phát triển và cùng suy tàn của cơ thể và đời sống tinh thần: Trong những đoạn này, Hume mở rộng quan sát từ
hiện tượng giấc ngủ sang toàn bộ vòng đời con người. Ông chỉ ra rằng ở mọi giai
đoạn sống, tình trạng của cơ thể luôn đi kèm với tình trạng của năng lực suy
nghĩ, cảm nhận và ý thức. Trẻ nhỏ yếu ớt về thể chất thì khả năng nhận thức
cũng còn non nớt; khi trưởng thành, sức khỏe và năng lực trí tuệ cùng đạt đến mức
phát triển cao nhất; khi đau ốm hoặc tuổi già đến, cả cơ thể lẫn khả năng suy
nghĩ đều suy giảm.
Điều Hume muốn
nhấn mạnh không phải là một vài trường hợp riêng lẻ, mà là một quy luật nhất
quán của kinh nghiệm. Trong tất cả những gì chúng ta quan sát được, không có
trường hợp nào cho thấy suy nghĩ và ý thức tồn tại hoàn toàn độc lập với trạng
thái của cơ thể. Trái lại, mỗi khi cơ thể thay đổi, đời sống tinh thần cũng
thay đổi theo.
Từ đó, Hume đi
đến bước cuối cùng trong chuỗi lập luận của mình. Nếu giấc ngủ, bệnh tật và tuổi
già đều cho thấy cơ thể và những hoạt động tinh thần cùng suy yếu, thì cái chết
chỉ là giai đoạn cuối cùng của cùng một tiến trình. Những dấu hiệu như lú lẫn,
suy giảm trí nhớ, mất cảm giác, đờ đẫn hay mất khả năng nhận thức không phải là
những hiện tượng ngẫu nhiên, mà là những bước nối tiếp trong quá trình suy tàn
dần dần của cơ thể và những năng lực tinh thần gắn liền với nó.
Vì vậy, Hume
không xem cái chết như một khoảnh khắc đặc biệt, nơi một hồn người độc lập tách
khỏi cơ thể để tiếp tục tồn tại. Ông xem nó như sự hoàn tất tự nhiên của một
quá trình đã diễn ra từ trước. Nếu cơ thể và đời sống tinh thần luôn cùng phát
triển, cùng biến đổi và cùng suy giảm trong suốt cuộc đời, thì theo cùng một lối
suy luận từ kinh nghiệm, sự chấm dứt của cơ thể cũng cho ta lý do mạnh để dự
đoán sự chấm dứt của ý thức và hoạt động tinh thần.
[5] Metempsychosis” (μετεμψύχωσις) Metempsychosis là một thuật ngữ có nguồn gốc từ
tiếng Hy Lạp cổ đại: μετεμψύχωσις (metempsýchōsis), được cấu thành từ những yếu tố: meta-
(μετά): “chuyển qua”, “vượt qua”, “thay đổi” en (ἐν) (ẩn trong dạng ghép cổ): “vào trong” psyche (ψυχή): “hồn người”, “hơi thở sống”, “nguyên lý sống” -osis (-ωσις): hậu tố chỉ “quá trình” hoặc “trạng thái trở thành”
Theo nghĩa gốc, metempsychosis chỉ quá trình hồn người chuyển sang một
thân xác khác sau khi chết, tức học thuyết về sự chuyển kiếp của hồn người như
một thực thể cá nhân liên tục. Trong truyền thống triết học Hy Lạp, khái niệm
này gắn với những tư tưởng của Pythagoras và một số diễn giải trong Platonism,
nơi hồn người được xem như một thực thể có tính tồn tại tương đối độc lập với
cơ thể và có thể trải qua nhiều đời sống khác nhau. Cần phân biệt rõ với những
học thuyết “luân hồi” trong một số truyền thống phương Đông (ví dụ Phật giáo),
vì metempsychosis giả định một hồn người cá nhân đồng nhất tiếp tục di
chuyển, trong khi nhiều học thuyết khác không thừa nhận một “tự ngã” cố định
như vậy. Trong văn cảnh của Hume, thuật ngữ này được sử dụng như một khả thể lý
thuyết cuối cùng mà triết học kinh nghiệm còn có thể “nghe đến”, nhưng không được
ông chấp nhận như một kết luận có cơ sở kinh nghiệm vững chắc.
[6] Nguyên tắc phụ thuộc vào điều kiện sống
và phê phán tính độc lập của đời sống tinh thần: Ở đây Hume dựa vào một quan sát rất trực tiếp: mọi sự sống chỉ tồn tại
trong những điều kiện phù hợp với nó. Sinh vật không thể sống khi bị đặt ra
ngoài môi trường mà nó thích nghi. Cây không sống được trong nước sâu, cá không
sống được trong không khí, và ngay cả thay đổi nhỏ của khí hậu cũng có thể khiến
sinh vật suy yếu hoặc chết.
Từ đó, Hume đưa ra một
nguyên tắc chung: trong tự nhiên, không có شيء gì tồn tại tách khỏi những điều
kiện tạo nên sự tồn tại của nó.
Áp dụng vào đời sống
tinh thần, ông cho rằng mọi suy nghĩ, cảm giác và nhận biết luôn đi kèm với hoạt
động của cơ thể. Trong kinh nghiệm quan sát, không có trường hợp nào đời sống
tinh thần hoạt động tách rời khỏi não và những cơ quan cảm giác. Ngược lại, mọi
thay đổi của cơ thể đều kéo theo thay đổi tương ứng trong khả năng suy nghĩ và
ý thức.
Vì vậy, nếu đời sống
tinh thần luôn phụ thuộc vào cơ thể, thì khi cơ thể bị phá hủy hoàn toàn, điều
kiện để đời sống tinh thần tiếp tục cũng biến mất. Từ quan điểm kinh nghiệm,
không có cơ sở để giả định rằng nó vẫn tồn tại nguyên vẹn sau cái chết.
Trong những đoạn IS
31–35, Hume dùng lập luận này để phê phán hai cách hiểu lớn trong triết học cận
đại:
- Với Descartes, ông bác bỏ ý tưởng rằng có một phần
tinh thần hoàn toàn tách khỏi cơ thể và có thể tồn tại độc lập. Hume nhấn
mạnh rằng kinh nghiệm không cho thấy bất kỳ “thực thể tinh thần” nào như vậy;
tất cả những gì ta biết về đời sống tinh thần đều gắn với cơ thể sống.
- Với Locke, Hume phản đối ý tưởng rằng cái tôi được
duy trì bởi dòng ký ức liên tục. Ông cho rằng dòng ý thức này thực tế luôn
bị gián đoạn bởi ngủ, bệnh, mất ý thức và suy giảm trí nhớ, nên không thể
dùng nó làm nền tảng chắc chắn cho sự tồn tại liên tục sau cái chết.
Từ đó, Hume kết luận:
cả mô hình “tinh thần tách khỏi cơ thể” lẫn mô hình “cái tôi như dòng ý thức
liên tục” đều không đủ để chứng minh sự bất tử. Điều quan sát được nhất quán
hơn trong tự nhiên là: đời sống tinh thần luôn thay đổi theo cơ thể, và khi cơ
thể tan rã hoàn toàn, đời sống tinh thần cũng chấm dứt theo.
[7] Có thể hiểu tranh luận về “hồn người bất tử” trong truyền
thống phương Tây như một quá trình chuyển đổi qua ba mô hình lớn: từ Plato,
sang đạo Kitô Trung cổ, và cuối cùng là sự phê phán dựa trên kinh nghiệm của
Hume. Ba mô hình này khác nhau không chỉ ở kết luận, mà ở chính cách họ hiểu
con người, cái chết, và mức độ ta có thể dựa vào quan sát tự nhiên để nói về đời
sau.
Trong triết học
Plato, hồn người được xem như một phần có tính độc lập tương đối với thân xác.
Nó không đơn thuần được tạo ra cùng thân xác, mà có một dạng tồn tại riêng, có
thể tồn tại trước khi nhập vào thân xác và tiếp tục tồn tại sau khi thân xác chấm
dứt. Thân xác vì thế mang tính tạm thời và dễ hư hỏng, còn hồn người được xem
là phần bền vững hơn, gắn với khả năng nhận thức những chân lý vượt lên trên thế
giới vật chất. Cái chết, trong khung này, không phải là sự chấm dứt toàn bộ con
người, mà là sự tách rời giữa hai phần: phần thân xác tan rã, phần hồn người tiếp
tục tồn tại trong một trật tự khác.
Trong đạo Kitô Trung
cổ, đặc biệt trong truyền thống Latin chịu ảnh hưởng của triết học Hy Lạp, mô
hình này được tiếp nhận nhưng được tái cấu trúc theo hướng gót học. Hồn người
được hiểu rõ hơn như phần trung tâm của con người, có thể tiếp tục tồn tại sau
khi thân xác tan rã, nhưng sự tồn tại đó không còn trung tính hay mang tính chu
kỳ như ở Plato. Thay vào đó, nó được đặt trong một trật tự đạo đức tuyệt đối do
Gót thiết lập. Sau cái chết là phán xét cuối cùng, dẫn đến hai kết cục cố định:
Thiên Đàng như trạng thái hạnh phúc vĩnh viễn, và Hỏa Ngục như trạng thái đau
khổ vĩnh viễn. Trong cấu trúc này, đời sống trần gian được hiểu như một giai đoạn
chuẩn bị và thử thách, nơi con người được đánh giá để quyết định số phận không
thể thay đổi sau đó. Vì vậy, giả định về hồn người bất tử trở thành nền tảng
cho toàn bộ hệ thống thưởng–phạt vĩnh cửu.
Hume tách mình khỏi
toàn bộ khung này và chuyển sang một điểm xuất phát khác: kinh nghiệm quan sát
được về con người trong tự nhiên. Ông không bắt đầu từ giả định rằng có một thực
thể tinh thần tách biệt, mà từ thực tế rằng mọi hoạt động của đời sống tinh thần
đều đi kèm với trạng thái của cơ thể. Trong quan sát thường ngày, không có trường
hợp nào cho thấy suy nghĩ, cảm giác hay ý thức tồn tại độc lập khỏi những điều
kiện sinh học. Ngược lại, chúng luôn thay đổi theo giấc ngủ, bệnh tật, tuổi
tác, và mức độ suy giảm của cơ thể.
Từ những quan sát
này, Hume cho rằng không có cơ sở kinh nghiệm đủ mạnh để kết luận rằng đời sống
tinh thần có thể tiếp tục sau khi toàn bộ điều kiện sinh học bị phá hủy. Do đó,
cả hai mô hình trước đều bị đặt lại vấn đề: Plato dựa trên giả định về một thực
thể tinh thần tự tồn, còn đạo Kitô Trung cổ xây dựng một hệ thống đạo đức vĩnh
cửu dựa trên giả định đó. Hume cho rằng cả hai đều đi vượt quá những gì kinh
nghiệm cho phép xác nhận.
Nếu Plato nhấn mạnh
tính độc lập của hồn người, đạo Kitô nhấn mạnh sự bất tử gắn với phán xét đạo đức,
thì Hume nhấn mạnh sự phụ thuộc toàn diện của đời sống tinh thần vào cơ thể sống.
Từ đó, ông đi đến một thái độ hoài nghi đối với toàn bộ ý tưởng về đời sau: đây
không phải là kết luận rút ra từ quan sát tự nhiên, mà là một giả định siêu
hình được duy trì bởi truyền thống tôn giáo và hệ thống diễn giải gót học. Và
theo cách nhìn này, như ông nhận xét một cách dứt khoát, đó là một giả thuyết
quá liều lĩnh, và nó được chấp nhận một cách quá dễ dãi, nếu không muốn nói là
vội vàng.
[8] Vấn đề “số lượng vô hạn những đời sống sau cái chết” và
phê bình của Hume về giả định vũ trụ mang mục đích thưởng–phạt: Đoạn này của
Hume mở rộng lập luận từ vấn đề hồn người cá nhân sang một câu hỏi có tính vũ
trụ học: nếu chấp nhận giả định rằng có vô số sinh vật có trí tuệ trên khắp những
hành tinh và trong nhiều hệ mặt trời, và tất cả đều phải trải qua cái chết, thì
hệ thống “đời sau” của tôn giáo sẽ phải đối mặt với một vấn đề tổ chức gần như
không thể hình dung.
Hume không bắt đầu bằng
việc phủ nhận khả năng có sự sống ngoài Trái Đất, mà chỉ coi đó là một giả định
hợp lý nếu ta nhìn vào quy mô rộng lớn của vũ trụ. Chính từ điểm mở rộng này,
ông đẩy cấu trúc gót học về đời sau đến giới hạn của nó.
Nếu mỗi sinh vật có ý
thức đều có một “đời sau” riêng, thì hệ thống gót học buộc phải trả lời câu hỏi:
toàn bộ những tồn tại sau cái chết ấy sẽ được “sắp xếp” như thế nào trong trật
tự vũ trụ. Hume chỉ ra hai khả năng: hoặc vũ trụ phải liên tục được mở rộng hay
tái tạo để chứa thêm những thế hệ sinh linh mới, hoặc ngay từ đầu nó phải được
tạo ra với quy mô khổng lồ đến mức bao gồm toàn bộ chuỗi sinh–tử không ngừng của
mọi thế giới có thể có.
Cả hai cách trả lời đều
dẫn tới một mức giả định rất lớn, vượt ra ngoài những gì con người có thể quan
sát hay kiểm chứng. Điểm Hume nhấn mạnh không phải là bác bỏ trực tiếp ý tưởng
về đời sau, mà là cho thấy nó ngày càng phụ thuộc vào những giả định mang tính
tưởng tượng khi vũ trụ được mở rộng về quy mô.
Ở đây có một điểm
quan trọng: trong gót học đạo Kitô truyền thống, cách nghĩ về “đời sau” thường
dựa trên một giả định ngầm rằng con người là trung tâm của toàn bộ trật tự vũ
trụ. Điều này gắn chặt với ý niệm về sự quan phòng của Gót (divine providence):
thế giới không vận hành một cách ngẫu nhiên, mà được Gót sắp đặt và hướng dẫn
theo một kế hoạch có mục đích, trong đó lịch sử tự nhiên và lịch sử con người đều
quy về việc hoàn tất ý định của Ngài.
Chính trong khung đó,
con người được hiểu như đối tượng chính của trật tự đạo đức vũ trụ: mọi biến cố
lớn nhỏ, kể cả cái chết và đời sau, đều có thể được diễn giải như nằm trong một
kế hoạch liên quan trực tiếp đến số phận cứu rỗi của con người. Đây là một dạng
nhìn “lấy con người làm trung tâm” (anthropocentrism), nhưng không chỉ theo
nghĩa triết học chung, mà theo nghĩa gót học: toàn bộ cấu trúc vũ trụ được đọc
như có mục đích hướng về phán xét, cứu rỗi hoặc trừng phạt con người.
Từ đó, lập luận của
Hume tạo ra một sự căng thẳng rõ rệt: càng mở rộng quy mô vũ trụ, càng khó duy
trì hình ảnh một trật tự được thiết kế xoay quanh số phận đạo đức của con người.
Con người dần mất vị trí trung tâm trong cách giải thích thế giới, và theo đó,
giả định về một hệ thống “đời sau” mang tính toàn vũ trụ trở nên ngày càng khó
dựa vào kinh nghiệm hay quan sát.
Do đó, đoạn này không
chỉ là một bài toán về “cách chứa” vô số sinh linh sau cái chết, mà là một bước
trong phê bình rộng hơn của Hume: làm lộ ra tính phụ thuộc của toàn bộ mô hình
đời sau vào một cách nhìn lấy con người làm trung tâm, vốn trở nên khó đứng vững
khi đặt trong một vũ trụ rộng lớn và không cho thấy dấu hiệu rõ ràng của một mục
đích đạo đức thống nhất.
[9] Ngay cả khi ta đẩy trí tưởng tượng của mình đến tận cùng
của vũ trụ học hiện đại, vấn đề mà Hume đặt ra vẫn không bị giải quyết.
Ta có thể nói: giả sử
không chỉ có một vũ trụ duy nhất, mà có vô số lần “khởi sinh” của vũ trụ, những
dạng Big Bang khác nhau diễn ra nối tiếp nhau, mỗi lần lại mở ra một không gian
mới để chứa thêm sự sống. Hoặc ta có thể nghĩ theo hướng khác: vũ trụ ngay từ đầu
đã không có biên giới thật sự, nó giãn nở vô hạn nhờ những cơ chế như năng lượng
tối, hay tồn tại như một cấu trúc rộng lớn hơn rất nhiều so với những gì ta
quan sát được, nơi có thể chứa vô số thiên hà, vô số hành tinh, và theo đó là
vô số sinh vật có ý thức.
Những hình dung như vậy,
về mặt vật lý giả thuyết, không phải là hoàn toàn vô nghĩa. Vũ trụ học hiện đại
cũng từng mở ra những khả năng về giãn nở vô hạn, về nhiều miền vũ trụ, thậm
chí về những cấu trúc vượt ngoài quan sát trực tiếp của con người.
Nhưng điều Hume muốn
nhấn mạnh không nằm ở chỗ vũ trụ lớn hay nhỏ, hữu hạn hay vô hạn. Vấn đề nằm ở
một điểm khác, rất căn bản: dù vũ trụ có mở rộng đến đâu, dù có bao nhiêu “Big
Bang” đi nữa, thì điều đó vẫn không cung cấp cho ta bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy
ý thức con người có thể tồn tại tách khỏi thân thể.
Nói cách khác, mọi mô
hình vũ trụ học—dù phong phú đến đâu—vẫn chỉ nói về cách vật chất hình thành, vận
động và biến đổi. Chúng không đưa ra mắt xích nào nối từ cấu trúc vật lý của vũ
trụ sang một giả thuyết hoàn toàn khác: rằng mỗi cá nhân vẫn tiếp tục tồn tại
như một “bản ngã” sau khi cơ thể tan rã.
Và đó chính là điểm
then chốt: giả thuyết về “đời sau” không chỉ cần một vũ trụ đủ lớn để chứa những
hồn người. Nó cần một điều hoàn toàn khác về bản chất—một dạng tồn tại phi vật
chất, mang tính cá nhân, giữ nguyên ký ức và bản sắc, nhưng không còn phụ thuộc
vào bất kỳ cơ chế sinh học nào mà ta biết.
Không có bước chuyển
nào trong những lý thuyết về Big Bang, về năng lượng tối hay về cấu trúc vũ trụ
có thể tự động tạo ra được điều đó.
Vì vậy, trong tinh thần
Hume, lập luận đi đến một điểm rất rõ: ta có thể mở rộng vũ trụ đến mức nào tùy
ý, nhưng việc mở rộng đó vẫn chỉ thay đổi quy mô của thế giới vật lý, chứ không
làm xuất hiện thêm lý do để tin rằng ý thức con người tồn tại độc lập sau cái
chết.
Và khi đặt câu
hỏi theo cách đó, giả thuyết về hồn người bất tử và đời sau vẫn đứng nguyên ở vị
trí ban đầu của nó: một ý tưởng có sức hấp dẫn về mặt tưởng tượng, nhưng không
được nâng đỡ bởi quan sát tự nhiên hay bất kỳ cấu trúc vũ trụ học nào mà ta có
thể kiểm chứng
[10] stupid clown
= người hoàn toàn thiếu năng lực nhận thức, kiểu “kẻ ngu đần đáng cười” theo
nghĩa triết học. mở rộng toàn bộ nhân loại, không bỏ sót cấp độ trí tuệ nào
[11] revelation : vần dịch là “mặc khải” là
thuật ngữ tôn giáo (gót hoc) và triết học, chỉ hành động Thần linh hé lộ những
chân lý bí ẩn cho con người. Tôi dịch “nôm na” ở đây và tất cả những bản dịch
khác của tôi là “Sự vén lên cho thấy bí nhiệm” >
Vén màn bí nhiệm (Revelation / Apokalupsis) là hành vi của Gót (God) tự
mở ra để lộ cho con người thấy thực tại huyền nhiệm (mystery / sacramentum).
[ từ gốc Hy Lạp Apokalupsis (Apo = kéo ra, Kalypto = tấm màn) và
Latinh Revelatio (kéo ngược tấm vải che)]
(Revelation / Apokalupsis) là hành vi Gót
(God) tự vén mở và tỏ lộ về chính Ngài cũng như về thực tại siêu việt của Ngài,
qua đó làm xuất hiện những huyền nhiệm (mystery / sacramentum) vốn nằm ngoài khả
năng tiếp cận của lý trí tự nhiên. Đây là những chân lý không thể được con người
tự suy diễn hay khám phá bằng kinh nghiệm và tư duy thuần túy, mà chỉ có thể được
tiếp nhận một cách thụ động như kết quả của việc Đấng Tối Cao tự bày tỏ chính
mình.
Sự vén lên cho thấy
bí nhiệm (Revelation / ἀποκάλυψις – apokálypsis) là một khái niệm trung tâm trong gót học đạo Kitô,
chỉ hành vi Gót tự mình làm cho con người biết đến những thực tại vốn vượt
ngoài khả năng nhận thức tự nhiên của họ. Những thực tại này thường được hiểu
là liên quan đến bản tính Gót, ý nghĩa cứu rỗi, và trật tự tối hậu của thế giới.
1. Ngữ nguyên học
(etymology) (a) Hy Lạp: ἀποκάλυψις (apokálypsis): Từ này được cấu thành bởi hai
thành phần: apo (ἀπό): mang nghĩa “từ”, “ra khỏi”, hoặc “tách ra” kalypto
(καλύπτω): nghĩa là “che phủ”, “phủ kín”, “làm cho không thấy
được” Kết hợp lại, apokálypsis nghĩa đen là “hành vi tháo bỏ sự che phủ” hoặc
“vén tấm màn che”, tức làm cho cái vốn bị ẩn giấu trở nên có thể được nhìn thấy.
Trong ngữ cảnh tôn giáo, nó không chỉ là “tiết lộ thông tin”, mà là hành vi làm
lộ ra một thực tại vốn tự thân vượt khỏi tầm nhìn thông thường của con người. (b) Latinh: revelatio (re-velare): Từ Latinh tương ứng
là revelatio, bắt nguồn từ: re-: “trở lại”, “ngược lại” velare: “che phủ”, “phủ
màn”, “trùm lại” Do đó revelatio mang nghĩa là “kéo ngược tấm màn che” hoặc “mở
lại điều đã bị che kín”. So với tiếng Hy Lạp, sắc thái Latinh nhấn mạnh hành động
đảo ngược trạng thái che giấu: cái đã bị che nay được mở ra để nhìn thấy.
2. Ý nghĩa gót học
(theological meaning): Trong gót học đạo Kitô, “mặc khải” không được hiểu đơn
thuần như việc con người khám phá ra một chân lý bằng suy luận hay quan sát.
Thay vào đó, nó mang ba đặc điểm nền tảng: Tính chủ động từ Gót: Con người
không phải chủ thể tự khám phá, mà là đối tượng tiếp nhận. Gót là người “mở ra”
thực tại. Tính siêu việt của nội dung được mặc khải: Những gì được bộc lộ không
thuộc phạm vi có thể suy ra từ thế giới tự nhiên một cách tất yếu. Đó là những chân
lý về bản tính Gót, cứu rỗi, và số phận tối hậu của con người. Tính bất cân xứng
nhận thức: Lý trí và giác quan con người, trong trạng thái tự nhiên, bị xem là
không đủ để tiếp cận trực tiếp thực tại tối hậu. Vì vậy, nhận thức về Gót và cứu
rỗi phụ thuộc vào hành vi “vén màn” từ phía Gót.
3. Điểm cốt lõi về mặt
khái niệm: Về phương diện triết học tôn giáo, khái niệm này thiết lập một luận
điểm mạnh: Con người không thể tự mình đạt tới tri thức về thực tại siêu việt bằng
lý trí hay kinh nghiệm thông thường; tri thức ấy chỉ có thể có nếu được Gót chủ
động bộc lộ. Điều này tạo ra một cấu trúc nhận thức đặc thù trong đạo Kitô:
thay vì tri thức đi từ con người lên Gót, thì tri thức đi từ Gót xuống con người.
4. Trong toàn bộ cấu
trúc gót học đạo Kitô, “Sự vén lên cho thấy bí nhiệm ” không chỉ là một khái niệm
về cách con người biết Gót, mà còn là điều kiện nền tảng để khẳng định những học
thuyết không thể kiểm chứng bằng kinh nghiệm, đặc biệt là hai trụ cột: hồn người
bất tử và đời sống sau cái chết.
Lý do là vì cả hai khẳng
định này đều vượt khỏi phạm vi quan sát tự nhiên. Trong kinh nghiệm thông thường,
ta chỉ thấy một chuỗi hiện tượng rất rõ: ý thức luôn gắn với hoạt động của cơ
thể sống; những trạng thái tinh thần thay đổi theo giấc ngủ, bệnh tật, tuổi
già; và khi cơ thể tan rã hoàn toàn, mọi hoạt động có thể quan sát được của đời
sống tinh thần cũng chấm dứt. Không có hiện tượng kinh nghiệm nào trực tiếp cho
thấy một “phần ý thức” tách khỏi cơ thể và tiếp tục tồn tại như một thực thể độc
lập.
Chính vì vậy, trong
gót học truyền thống, nếu không có “Sự vén lên cho thấy bí nhiệm ”, thì không
có cách nào đi từ kinh nghiệm tự nhiên để suy ra rằng ý thức cá nhân vẫn tồn tại
sau cái chết, rằng có một trạng thái đời sau, và rằng đời sống hiện tại chỉ là
giai đoạn chuẩn bị cho phán xét cuối cùng. Nói cách khác, “Sự vén lên cho thấy
bí nhiệm ” đóng vai trò như cầu nối duy nhất đưa con người từ thế giới quan sát
được sang thế giới đời sau không quan sát được.
Tuy nhiên, khi đặt
vào khung phê phán của Hume, chính cấu trúc này trở thành điểm gây vấn đề.
Hume không phủ nhận rằng
con người có thể tin vào Sự vén lên cho thấy bí nhiệm , nhưng ông đặt câu hỏi về
tư cách nhận thức của nó: làm thế nào để phân biệt một “Sự vén lên cho thấy bí
nhiệm thật sự” với trải nghiệm chủ quan, tưởng tượng, cảm xúc mạnh, hoặc diễn
giải văn hóa–tôn giáo? Nếu không có tiêu chuẩn kinh nghiệm độc lập để kiểm chứng,
thì Sự vén lên cho thấy bí nhiệm không thể đóng vai trò như một nền tảng tri thức
chắc chắn. Và nếu nó không đủ vững như một tiêu chuẩn nhận thức, thì toàn bộ những
kết luận dựa trên nó—đặc biệt là hồn người bất tử và đời sau—trở nên không còn
cơ sở tri thức mang tính tất yếu.
Từ đây, Hume chuyển
trọng tâm lập luận: thay vì hỏi “Sự vén lên cho thấy bí nhiệm có đúng hay
không”, ông đặt vấn đề rộng hơn về phương pháp—liệu có hợp lý hay không khi
nâng một chuỗi giả định không thể kiểm chứng lên thành tri thức về cấu trúc tối
hậu của thế giới.
Trong cách nhìn đó,
những học thuyết như hồn người bất tử, phán xét sau cái chết, hay thưởng–phạt
vĩnh viễn không bị bác bỏ bằng một phản chứng trực tiếp, mà bị đẩy về đúng vị
trí của chúng: những giả định siêu hình phụ thuộc vào một nguồn tri thức không
thể xác minh bằng kinh nghiệm tự nhiên.
Do đó, liên hệ giữa Sự
vén lên cho thấy bí nhiệm và phê bình của Hume có thể tóm lại như sau:
- Gót học: Sự vén lên cho thấy bí nhiệm là con đường
duy nhất để biết về đời sau và hồn người bất tử.
- Hume: con đường này không có tiêu chuẩn kiểm chứng
kinh nghiệm đủ vững để được xem là tri thức chắc chắn.
Vì vậy, toàn bộ cấu
trúc “Sự vén lên cho thấy bí nhiệm → hồn người bất tử → đời sau” bị đẩy về phía
một dạng giả định mang tính niềm tin hơn là kết luận có cơ sở từ quan sát tự
nhiên.
[12] Đoạn này Hume triển khai một phản biện dựa trên tính bất
cân xứng của trực giác về tồn tại, nhằm bác bỏ giả định rằng lý trí tự nhiên có
thể cung cấp chứng cứ cho sự sống tiếp tục của cá nhân sau cái chết.
Trước hết, ông đưa
vào một loạt nhân vật lịch sử và bán huyền thoại như Agamemnon, Thersites,
Hannibal và Nero để tạo ra một phổ nhân loại toàn diện: từ anh hùng, kẻ hèn mọn,
nhà chinh phạt cho đến bạo chúa và kẻ tầm thường. Việc đặt họ cạnh nhau có mục
đích triết học rõ ràng: xóa bỏ mọi phân biệt đạo đức mang tính bản thể khi xét
đến tình trạng sau cái chết.
Từ đó, Hume đặt ra
câu hỏi trung tâm: nếu ta hỏi liệu tất cả những cá nhân này hiện nay còn “tồn tại”
như những chủ thể có ý thức hay không, thì liệu có bất kỳ suy luận nào từ kinh
nghiệm, quan sát hay quy luật tự nhiên có thể buộc ta phải trả lời khẳng định rằng
họ vẫn tiếp tục sống theo nghĩa cá nhân, có kinh nghiệm và ý thức riêng biệt?
Theo Hume, câu trả lời
hiển nhiên là không. Toàn bộ quan sát tự nhiên chỉ dẫn đến hai điểm:
- các cá nhân đã chết không còn tồn tại như những chủ
thể có ý thức,
- không có bất kỳ dấu hiệu kinh nghiệm nào về sự tiếp
tục của đời sống cá nhân sau cái chết.
Do đó, ông kết luận rằng
chính sự vắng mặt tuyệt đối của bằng chứng kinh nghiệm đã đủ để thiết lập một kết
luận phủ định về sự tồn tại tiếp tục của những cá nhân này, trừ khi người ta viện
dẫn đến sự vén lên cho thấy bí nhiệm tôn giáo.
Ẩn ý triết học ở đây
là một nguyên tắc giới hạn của lý trí kinh nghiệm: nếu không có dữ liệu kinh
nghiệm nào chỉ ra sự tồn tại của một hiện tượng (trong trường hợp này là sự tồn
tại cá nhân sau khi chết), thì lý trí không có cơ sở để khẳng định nó. Vì vậy,
mệnh đề “các cá nhân đã chết vẫn còn sống” không phải là một kết luận yếu, mà
là một kết luận không có nền tảng kinh nghiệm để khởi phát.
Từ đó, Hume mở rộng lập
luận sang vấn đề bất tử: nếu ngay cả với những cá nhân cụ thể trong lịch sử, lý
trí tự nhiên cũng không cung cấp bất kỳ cơ sở nào để tin rằng họ tiếp tục tồn tại,
thì toàn bộ học thuyết về bất tử cá nhân—khi chỉ dựa trên tự nhiên học—trở nên
không có chỗ đứng. Chỉ có một nguồn khác, mà Hume ngầm chỉ đến là sự vén lên
cho thấy bí nhiệm tôn giáo, mới có thể đưa ra khẳng định ngược lại.
Điểm then chốt của
toàn bộ đoạn lập luận là việc Hume thiết lập một ranh giới nghiêm ngặt cho lý
trí kinh nghiệm (empirical reason): nó chỉ có thẩm quyền trong phạm vi những gì
có thể quan sát, suy ra từ kinh nghiệm lặp lại hoặc kiểm chứng qua quy luật tự
nhiên. Ngược lại, những mệnh đề về “bất tử cá nhân”—tức sự tồn tại liên tục của
một chủ thể ý thức sau cái chết của cơ thể—nằm ngoài phạm vi đó, vì không có bất
kỳ dữ liệu kinh nghiệm trực tiếp hay gián tiếp nào làm nền tảng.
Do vậy, khi Hume đặt
câu hỏi về việc những người đã chết còn “sống” hay không, ông không tìm một mô
tả lịch sử, mà đang chỉ ra một giới hạn phương pháp luận: mọi suy luận tự nhiên
đều dừng lại ở kết luận phủ định, vì không tồn tại cầu nối kinh nghiệm từ cái
chết sang sự tiếp tục của ý thức cá nhân.
Từ đây, lập luận được
nâng thành một nguyên tắc tổng quát: nếu một mệnh đề không thể được hỗ trợ bởi
kinh nghiệm, thì lý trí tự nhiên không có quyền xác lập nó như tri thức. Điều
này không trực tiếp phủ nhận khả năng của nó trong gót học, nhưng loại bỏ việc
coi nó là kết luận hợp pháp của triết học tự nhiên.
Như vậy, Hume không
chỉ phản đối một tin tưởng tôn giáo cụ thể, mà đang thực hiện một thao tác nền
tảng hơn: thu hẹp phạm vi hợp pháp của suy luận triết học khi nó vượt ra ngoài
kinh nghiệm khả hữu, đặc biệt trong những vấn đề liên quan đến hồn người, cái
chết và bất tử cá nhân.
[13] “certiusque sibi quemque credere” = mỗi người dễ tin chắc vào chính mình hơn bất kỳ điều gì khác - “ante-genitali
experimento” Đoạn này Hume viện dẫn Pliny để xây dựng một lập luận dựa trên
sự tương đồng theo thời gian: nếu con người hoàn toàn không có kinh nghiệm về
trạng thái “trước khi sinh”, thì cũng không có cơ sở lý trí nào để hình dung
“sau khi chết” như một trạng thái có ý thức tiếp tục tồn tại, càng không có cơ
sở để sợ nó như một điều đặc biệt đáng kinh hoàng.
[14] Đoạn này Hume viện dẫn Pliny để xây dựng một lập luận dựa
trên sự tương đồng theo thời gian: nếu con người hoàn toàn không có kinh nghiệm
về trạng thái “trước khi sinh”, thì cũng không có cơ sở lý trí nào để hình dung
“sau khi chết” như một trạng thái có ý thức tiếp tục tồn tại, càng không có cơ
sở để sợ nó như một điều đặc biệt đáng kinh hoàng.
Câu Latin của Pliny
có thể hiểu theo nghĩa: con người dễ tin chắc vào những gì phù hợp với chính
kinh nghiệm của họ, và từ chính trạng thái “trước khi tồn tại” họ có thể rút ra
một cảm thức về sự an toàn. Nói gọn hơn, Pliny xem trạng thái trước khi sinh
như một kiểu “mẫu kinh nghiệm” về sự không tồn tại: một trạng thái không có ý
thức, không có sợ hãi, và do đó không mang tính đe dọa đối với con người khi được
nhìn lại bằng lý trí.
Trên nền đó, Hume triển
khai một điểm quan trọng trong kinh nghiệm luận của mình: trạng thái “không có
cảm giác” trước khi sinh có thể được dùng như một mô hình tự nhiên để suy nghĩ
về trạng thái sau khi chết.
Lập luận được triển
khai theo những bước rất đơn giản:
- Trước khi sinh, con người không có ý thức, không ký ức
và không trải nghiệm.
- Trạng thái đó là một trạng thái hoàn toàn không có cảm
giác.
- Không có bất kỳ dữ liệu kinh nghiệm nào cho thấy trạng
thái đó là đáng sợ hay có ý nghĩa tiêu cực đối với người trải nghiệm nó
(vì không có “người trải nghiệm” nào tồn tại trong đó).
Từ những tiền đề này,
Hume đưa ra một suy luận then chốt: nếu trạng thái trước khi sinh là một trạng
thái hoàn toàn không có ý thức và không gây lo âu, thì nếu trạng thái sau khi
chết được giả định là tương tự, ta không có lý do hợp lý nào để coi nó là đáng
sợ.
Điểm triết học quan
trọng nằm ở thao tác “đối xứng hóa” thời gian của ý thức: Hume đặt hai cực của
đời sống con người—trước sinh và sau tử—vào cùng một cấu trúc so sánh.
- Không có kinh nghiệm trước sinh → không có lý do
kinh nghiệm để sợ trước sinh
- Không có kinh nghiệm sau chết → cũng không có lý do
kinh nghiệm để sợ sau chết
Hume không trực tiếp
khẳng định rằng hồn người không tồn tại sau khi chết trong đoạn này. Ông làm một
việc tinh tế hơn: ông giải cấu trúc nỗi sợ siêu hình về cái chết bằng cách đặt
nó vào đối xứng với trạng thái tiền sinh, qua đó làm suy yếu cảm giác rằng cái
chết là một biến cố đặc biệt mang tính đe dọa đối với chủ thể.
Do đó, lập luận này
phục vụ đồng thời hai mục tiêu:
- Triết học: phá vỡ giả định rằng cái chết có tính đặc
biệt đáng sợ nếu xét từ góc độ lý trí thuần kinh nghiệm.
- Tâm lý học: chỉ ra rằng nỗi sợ về hư vô hoặc đời sau
thường xuất phát từ tưởng tượng và diễn giải văn hóa–tôn giáo, chứ không dựa
trên kinh nghiệm thực tế.
Tóm lại, Hume dùng
Pliny như một điểm tựa cổ điển để củng cố một kết luận rộng hơn: lý trí dựa
trên kinh nghiệm không cung cấp bất kỳ cơ sở nào để phân biệt trạng thái trước
sinh và sau tử như hai trạng thái có ý nghĩa đạo đức hay siêu hình khác nhau.
Vì vậy, những ý niệm như hồn người bất tử hay đời sống sau cái chết không thể
được suy ra từ kinh nghiệm tự nhiên về sợ hãi hay an toàn, mà luôn phải dựa vào
những giả định vượt ngoài phạm vi quan sát.
[15] đam mê nguyên
thủy (original passion): là những cảm xúc nền tảng, xuất hiện trực tiếp từ cấu
trúc tự nhiên của não thức con người, không được hình thành từ suy luận, tin tưởng
tôn giáo hay tưởng tượng. Chúng không “phái sinh” từ ý thức phản tỉnh, mà là những
phản ứng trực tiếp của bản tính sinh học–tâm lý.
Trong hệ thống
của Hume, đam mê nguyên thủy nguyên thủy bao gồm những khuynh hướng cơ bản như:
sợ đau, ghét hủy diệt, ham sống, ham khoái lạc, và những phản ứng tự bảo tồn.
Chúng đóng vai trò như động lực gốc của hành vi, trước khi lý trí can thiệp hoặc
diễn giải.
Trong đoạn
trên, Hume dùng khái niệm này để phản bác lập luận gót học: nếu nỗi sợ cái chết
là một đam mê nguyên sơ, thì nó không thể được dùng như bằng chứng cho tính bất
tử của hồn người, mà chỉ nên được hiểu như một cơ chế tự nhiên giúp duy trì sự
sống của loài người.
[16] Trong câu này, Hume không đưa ra một lưu ý về đạo đức rằng
“cảm xúc là xấu”, mà đang thiết lập một nguyên tắc nhận thức luận: bất kỳ học
thuyết nào được hình thành và duy trì chủ yếu bởi đam mê (passions)—như sợ hãi,
hy vọng, lo âu, khao khát—đều cần được xem xét với mức độ hoài nghi cao hơn.
Lý do nằm ở cách Hume
phân biệt hai nguồn gốc của niềm tin: lý trí (reason) và cảm xúc (passion). Lý
trí, theo ông, hoạt động bằng việc đối chiếu kinh nghiệm, quan sát quan hệ
nhân–quả và so sánh tương đồng trong thế giới đã biết. Ngược lại, cảm xúc không
vận hành theo tiêu chí đúng–sai của thực tại, mà theo tiêu chí có lợi–có hại, dễ
chịu–khó chịu, an toàn–đe dọa đối với chủ thể.
Chính vì vậy, khi một
học thuyết được “nuôi dưỡng” bởi cảm xúc, nó thường không xuất phát từ việc khảo
sát thế giới một cách trung lập, mà từ nhu cầu tâm lý của con người: muốn được
an ủi trước cái chết, muốn tránh nỗi sợ hư vô, hoặc muốn tin rằng có một sự
công bằng tối hậu trong vũ trụ. Những nhu cầu này có thể rất mạnh, nhưng chúng
không tự động cung cấp thông tin về cấu trúc thực tại.
Hume cho rằng vấn đề
không phải là cảm xúc “sai”, mà là cảm xúc không có thẩm quyền xác lập chân lý.
Một niềm tin có thể hoàn toàn hợp lý về mặt tâm lý—giúp con người sống dễ chịu
hơn, bớt lo âu hơn—nhưng vẫn không có giá trị chứng minh về mặt tri thức. Vì thế,
khi một học thuyết có nguồn gốc rõ ràng từ hy vọng và sợ hãi, ta cần đặc biệt cảnh
giác, vì rất có thể nó phản ánh cấu trúc nội tâm của con người hơn là cấu trúc
của thế giới.
Trong bối cảnh những đoạn
IS 42–43, điều này đặc biệt nhắm tới học thuyết về hồn người bất tử và đời sau:
Hume gợi ý rằng niềm tin này không xuất phát từ quan sát tự nhiên hay suy luận
loại suy, mà từ hai động lực mạnh nhất của tâm lý người—mong muốn tiếp tục tồn
tại và sợ bị hủy diệt. Do đó, việc “nghi ngờ” ở đây không phải là phủ định vội
vàng, mà là một bước kiểm tra phương pháp: tách cái gì thuộc về cấu trúc của thế
giới ra khỏi cái gì thuộc về cấu trúc của cảm xúc con người.
[17] Câu này của Hume có ý khá đơn giản: ông cho rằng niềm
tin về hồn người bất tử và “đời sau” không tự nhiên xuất hiện từ lý trí hay
quan sát thế giới, mà chủ yếu sinh ra từ hai cảm xúc rất quen thuộc của con người:
hy vọng và sợ hãi.
“Hy vọng” là mong muốn
rằng con người không biến mất hoàn toàn sau khi chết, rằng vẫn còn một dạng tồn
tại nào đó tiếp tục. “Nỗi sợ hãi” là cảm giác bất an trước ý nghĩ rằng cái chết
là sự kết thúc tuyệt đối. Hai cảm xúc này rất mạnh, và gần như ai cũng có.
Khi Hume nói điều này
là “rất hiển nhiên”, ông muốn nói rằng: nếu ta quan sát cách con người suy nghĩ
về cái chết, ta dễ dàng thấy rằng niềm tin vào đời sau thường đi cùng với mong
muốn được an toàn và nỗi sợ mất mát, chứ không phải đi cùng với bằng chứng từ tự
nhiên hay kinh nghiệm.
Điểm quan trọng trong
lập luận của ông là: chỉ vì một niềm tin xuất phát từ hy vọng hoặc sợ hãi thì
không có nghĩa nó sai, nhưng nó cũng chưa đủ để được xem là “chân lý chắc chắn”.
Nó phản ánh tâm lý con người nhiều hơn là phản ánh thực tế khách quan.
Vì vậy, Hume đang nhắc
ta thận trọng: khi một học thuyết được nuôi dưỡng mạnh bởi cảm xúc, đặc biệt là
sợ chết và mong muốn bất tử, thì cần tự hỏi liệu nó đến từ bằng chứng hay chỉ từ
nhu cầu tinh thần của con người.
[18] Hume đang đẩy lập luận đến một điểm rất quan trọng trong
triết học kinh nghiệm của ông: giới hạn của lý trí con người khi đi ra ngoài
kinh nghiệm. Khi ông nói rằng để chấp nhận một “dạng tồn tại chưa từng được thấy
và cũng không giống bất cứ điều gì từng được thấy”, ta sẽ cần “một loại logic
hoàn toàn khác” và “những năng lực mới của trí tuệ”, ông đang làm hai việc cùng
lúc.
Thứ nhất, ông nhấn mạnh
rằng mọi lập luận thông thường của con người đều dựa trên kinh nghiệm: ta hiểu
thế giới bằng cách so sánh, đối chiếu, và suy ra từ những gì đã từng quan sát.
Ngay cả khi suy luận trừu tượng, ta vẫn phải dựa vào một nền kinh nghiệm nào đó
để những khái niệm có ý nghĩa. Vì vậy, nếu một học thuyết nói về một “trạng
thái tồn tại” hoàn toàn không giống bất kỳ điều gì trong kinh nghiệm sống, thì
ta không còn điểm tựa để so sánh hay kiểm chứng.
Thứ hai, Hume đang chỉ
ra một hệ quả mang tính phê phán: nếu muốn chấp nhận những khẳng định như vậy—chẳng
hạn về đời sau, hồn người bất tử, hay những cảnh giới siêu nhiên—thì không chỉ
cần thêm bằng chứng, mà còn cần một kiểu tư duy khác hẳn với tư duy con người
hiện có. Ông gọi đó một cách dè dặt là “một loại logic khác” và “những năng lực
mới của trí tuệ”.
Nhưng chính ở đây có
một ý phê phán ngầm: nếu phải giả định rằng con người cần một “năng lực đặc biệt”
mới có thể hiểu được điều đó, thì điều đó cũng đồng nghĩa với việc những khẳng
định ấy đã vượt ra ngoài phạm vi của tri thức thông thường. Nói cách khác,
chúng không còn là những kết luận mà lý trí kinh nghiệm có thể đạt tới.
Vì vậy, câu này không
phải là một lời mở cửa cho một loại nhận thức cao hơn, mà là một cách Hume đẩy
vấn đề về giới hạn: nếu một học thuyết chỉ có thể đứng vững khi giả định một
“logic khác” vượt ngoài kinh nghiệm, thì ta không còn lý do để coi nó là tri thức
chắc chắn nữa.
[19] (a)
Câu kết luận này thường
được những nhà nghiên cứu đọc như một lời nhận xét mang sắc thái mỉa mai rất đặc
trưng của Hume. Sau nhiều trang lập luận nhằm chỉ ra rằng kinh nghiệm không
cung cấp bằng chứng nào cho sự bất tử của hồn người, rằng những suy luận từ tự
nhiên đều dẫn về phía tính hữu hạn hơn là tính bất tử, rằng niềm tin vào đời
sau phần lớn được nuôi dưỡng bởi hy vọng và sợ hãi của con người, và rằng không
có cơ sở nhận thức nào để xác nhận một trạng thái tồn tại chưa từng được quan
sát, Hume đi đến nhận xét rằng chỉ còn lại một con đường duy nhất: sự vén lên
cho thấy bí nhiệmmặc khải từ Gót.
Tuy nhiên, ý nghĩa
sâu hơn của câu này không phải là một sự đầu hàng trước gót học. Trái lại, Hume
đang chỉ ra giới hạn của mọi nỗ lực triết học nhằm chứng minh hồn người bất tử.
Nếu một học thuyết không thể được xác lập bằng lý trí, không thể được hỗ trợ bởi
kinh nghiệm, không thể được chứng minh bằng quan sát hay suy luận từ tự nhiên,
thì người ta chỉ còn có thể viện đến sự vén lên cho thấy bí nhiệmmặc khải . Nói
cách khác, chính việc phải dựa hoàn toàn vào sự vén lên cho thấy bí nhiệmmặc khải
đã cho thấy học thuyết ấy không có nền tảng trong triết học tự nhiên.
Đặt trong toàn bộ mạch
lập luận của tiểu luận, câu nói này mang một ý nghĩa kép. Ở bề mặt, nó dường
như đề cao vai trò của sự vén lên cho thấy bí nhiệmmặc khải . Nhưng ở tầng sâu
hơn, nó đồng thời thừa nhận rằng mọi con đường nhận thức thông thường của con
người đã đi đến giới hạn của chúng. Nếu hồn người bất tử là một chân lý, thì đó
không phải là chân lý mà lý trí tự mình khám phá được, cũng không phải là chân
lý mà kinh nghiệm tự nhiên có thể xác nhận được. Nó chỉ có thể được tin vì đã
được sự vén lên cho thấy bí nhiệmmặc khải .
Chính ở đây Hume hoàn
tất chiến lược phê bình của mình. Ông không tuyên bố rằng hồn người bất tử là
sai, cũng không khẳng định rằng đời sau không tồn tại. Điều ông làm là đặt toàn
bộ học thuyết ấy ra ngoài phạm vi của tri thức triết học. Theo cách nhìn của
ông, niềm tin này không thể đứng vững trên nền tảng duy lý, vì không có lập luận
logic nào đủ sức chứng minh nó; đồng thời cũng không thể đứng vững trên nền tảng
duy nghiệm, vì không có kinh nghiệm nào cho thấy một ý thức vẫn tiếp tục tồn tại
sau khi những điều kiện vật chất của nó đã tan rã.
Từ đó, Hume dẫn người
đọc đến một kết luận sâu xa hơn. Nếu cả lý trí lẫn kinh nghiệm đều không cung cấp
được điểm tựa, thì nguồn gốc thực sự của niềm tin vào hồn người bất tử phải được
tìm ở nơi khác. Trong nhiều đoạn trước đó, ông đã chỉ ra nơi xuất phát ấy: những
cảm xúc tự nhiên của con người. Con người sợ cái chết, sợ sự chấm dứt hoàn toàn
của bản thân; đồng thời họ cũng hy vọng rằng đời sống không kết thúc ở nấm mồ,
rằng công bằng cuối cùng sẽ được thực hiện, và rằng những mất mát của đời này sẽ
được bù đắp ở một đời khác. Chính những hy vọng và nỗi sợ ấy tạo nên mảnh đất
tâm lý thuận lợi cho sự hình thành của học thuyết về đời sau.
Điều này phản ánh rất
rõ khuynh hướng duy cảm trong tư tưởng Hume. Đối với ông, nhiều niềm tin mà con
người thường xem là sản phẩm của lý trí thực ra lại bắt nguồn từ những động lực
sâu kín của tình cảm. Chúng ta thường tin không phải vì đã chứng minh được một
điều gì, mà vì chúng ta mong điều ấy là thật hoặc sợ điều ngược lại. Vì vậy,
khi khảo sát học thuyết về hồn người bất tử, Hume không chỉ đặt câu hỏi: “Có bằng
chứng nào cho điều đó không?”, mà còn hỏi: “Điều gì trong tâm lý con người khiến
chúng ta muốn tin như vậy?”
Trong bối cảnh gót học
đạo Kitô, khoảng trống do lý trí và kinh nghiệm để lại được lấp đầy bằng khái
niệm sự vén lên cho thấy bí nhiệmmặc khải . Sự vén lên cho thấy bí nhiệmmặc khải
trở thành con đường duy nhất để biết những điều vượt ngoài thế giới có thể quan
sát: sự bất tử của hồn người, sự phán xét sau cái chết, thiên đàng, hỏa ngục,
và đời sống mai sau. Nhưng chính điều này cũng làm nổi bật điểm mà Hume muốn nhấn
mạnh: toàn bộ cấu trúc ấy không còn dựa trên những tiêu chuẩn nhận thức thông
thường của triết học nữa. Nó dựa trên việc chấp nhận một nguồn tri thức đặc biệt,
nằm ngoài kiểm chứng của kinh nghiệm.
Vì vậy, câu kết này
không chỉ khép lại cuộc tranh luận về hồn người bất tử, mà còn đánh dấu ranh giới
giữa triết học và gót học trong tư tưởng Hume. Triết học có thể khảo sát kinh
nghiệm, phân tích lý lẽ và chỉ ra giới hạn của nhận thức con người. Nhưng khi
nói đến hồn người bất tử và đời sau, theo Hume, người ta đã bước sang một lãnh
vực khác: lãnh vực của đức tin và sự vén lên cho thấy bí nhiệmmặc khải . Trong
lãnh vực đó, niềm tin vẫn có thể được duy trì; nhưng nó không còn có thể được
trình bày như một kết luận được thiết lập bởi lý trí hay được xác nhận bởi kinh
nghiệm.
Do đó, kết luận cuối
cùng của Hume không phải là phủ nhận hồn người bất tử, mà là định vị lại địa vị
nhận thức của học thuyết này. Nó không thuộc về tri thức được chứng minh bằng
triết học, mà thuộc về niềm tin tôn giáo. Và chính việc phải viện đến sự vén
lên cho thấy bí nhiệmmặc khải như con đường duy nhất đã cho thấy rằng học thuyết
về hồn người bất tử và đời sau không đứng trên nền tảng của lý trí, cũng không
đứng trên nền tảng của kinh nghiệm, mà chủ yếu được nâng đỡ bởi đức tin, bởi
truyền thống tôn giáo, và bởi những hy vọng cùng nỗi sợ rất tự nhiên của con
người trước cái chết.
(b)
Điểm đáng chú ý trong
kết luận của Hume là ông không chỉ đặt lại vấn đề về tính bất tử của hồn người,
mà còn đặt lại chính nguồn gốc của học thuyết ấy. Sau khi lần lượt khảo sát những
lập luận dựa trên kinh nghiệm, những suy luận từ tự nhiên, những phép loại suy
về ý thức và cơ thể, cũng như những động cơ tâm lý đứng phía sau niềm tin về đời
sau, Hume đi đến nhận xét rằng không có con đường triết học nào đủ sức đưa con
người tới kết luận chắc chắn rằng hồn người là bất tử.
Điều này có một hệ quả
quan trọng. Nếu học thuyết về hồn người bất tử không thể được xác lập bằng lý
trí, cũng không thể được xác lập bằng kinh nghiệm, thì nguồn gốc thực sự của nó
phải được tìm ở nơi khác. Và nơi đó, theo truyền thống phương Tây mà Hume đang
đối thoại, chính là gót học đạo Kitô.
Trong nhiều thế kỷ, ý
niệm về hồn người bất tử không chỉ là một học thuyết triết học riêng lẻ, mà là
một bộ phận của toàn bộ cấu trúc gót học đạo Kitô. Nó gắn liền với những khái
niệm về sự vén lên cho thấy bí nhiệmmặc khải , cứu rỗi, phán xét cuối cùng,
thiên đàng, hỏa ngục và đời sống mai sau. Hồn người bất tử không tồn tại như một
ý tưởng độc lập; nó là một mắt xích trong một hệ thống tôn giáo rộng lớn hơn.
Khi một người tin rằng hồn người tiếp tục tồn tại sau khi thân xác tan rã, niềm
tin ấy thường kéo theo cả một thế giới quan gót học về mục đích của đời người,
công lý của Gót và số phận tối hậu của nhân loại.
Từ góc nhìn của Hume,
khó khăn xuất hiện khi người ta cố gắng tách học thuyết này ra khỏi bối cảnh
gót học của nó và trình bày nó như một chân lý có thể được chứng minh bằng triết
học. Chính điều đó là mục tiêu phê bình của ông. Ông không tranh luận trực tiếp
với đức tin tôn giáo, mà tranh luận với tham vọng biến một tín điều tôn giáo
thành một kết luận của lý trí hay của kinh nghiệm.
Vì vậy, khi Hume kết
luận rằng chỉ có sự vén lên cho thấy bí nhiệmmặc khải mới có thể xác lập học
thuyết này, ông thực chất đang đưa nó trở về đúng môi trường nguyên thủy của
nó. Nếu hồn người bất tử là một chân lý, thì nó phải được tin vì Gót đã sự vén
lên cho thấy bí nhiệmmặc khải nó; chứ không phải vì con người đã chứng minh được
nó từ việc quan sát thế giới tự nhiên. Một khi mọi con đường triết học đều thất
bại, học thuyết ấy được trả lại cho gót học, nơi nó vốn thuộc về từ đầu.
Theo nghĩa này, toàn
bộ tiểu luận không phải là một cuộc tấn công trực tiếp vào đức tin đạo Kitô, mà
là một nỗ lực phân định ranh giới giữa triết học và gót học. Triết học có thể
khảo sát những gì xuất hiện trong kinh nghiệm và xây dựng những suy luận từ đó.
Nhưng học thuyết về hồn người bất tử, theo Hume, không nảy sinh từ kinh nghiệm
như vậy. Nó phát sinh từ một truyền thống tôn giáo cụ thể, được nuôi dưỡng bởi
sự vén lên cho thấy bí nhiệmmặc khải và được duy trì bởi những hy vọng cùng nỗi
sợ sâu xa nhất của con người.
Do đó, kết luận cuối
cùng của Hume có thể được hiểu như một động tác “trả lại đúng chỗ” cho vấn đề hồn
người bất tử. Ông không chứng minh rằng nó sai. Ông cũng không chứng minh rằng
nó đúng. Ông chỉ cho rằng triết học không có đủ công cụ để xác lập nó. Khi mọi
lý lẽ duy lý và mọi bằng chứng từ kinh nghiệm đều không đủ sức nâng đỡ học thuyết
ấy, thì nó không còn thuộc về lãnh vực của tri thức triết học nữa, mà trở về với
nguồn gốc thực sự của nó: đức tin, sự vén lên cho thấy bí nhiệmmặc khải và gót
học đạo Kitô.
©
Nhìn từ lịch sử tư tưởng
phương Tây, ý nghĩa sâu xa nhất của tiểu luận này không nằm ở việc Hume phủ nhận
hồn người bất tử, mà ở việc ông thay đổi địa vị tri thức của học thuyết ấy.
Trong suốt nhiều thế kỷ, đặc biệt từ thời Trung cổ trở đi, sự bất tử của hồn
người thường được trình bày như một chân lý vừa được sự vén lên cho thấy bí nhiệmmặc
khải bởi Gót, vừa có thể được lý trí chứng minh. Nói cách khác, gót học và triết
học được xem là cùng hướng về một kết luận chung.
Hume phá vỡ sự đồng
thuận lâu đời đó. Ông cho rằng khi được xét bằng những tiêu chuẩn của triết học
kinh nghiệm, học thuyết về hồn người bất tử không có đủ bằng chứng để được xem
là tri thức. Những gì kinh nghiệm cho thấy là sự gắn bó thường xuyên giữa đời sống
tinh thần và đời sống cơ thể; những gì tự nhiên cho thấy là quy luật biến đổi,
suy tàn và chấm dứt; những gì tâm lý học con người cho thấy là vai trò rất lớn
của hy vọng và sợ hãi trong việc hình thành những niềm tin về đời sau. Không có
yếu tố nào trong số đó dẫn tất yếu đến kết luận rằng một phần của con người sẽ
tiếp tục tồn tại mãi mãi sau khi thân xác tan rã.
Bởi vậy, nếu người ta
vẫn tiếp tục khẳng định hồn người bất tử, thì cơ sở cuối cùng của sự khẳng định
ấy không còn là triết học mà là gót học; không còn là kinh nghiệm mà là sự vén
lên cho thấy bí nhiệmmặc khải ; không còn là điều được chứng minh mà là điều được
tin. Hume không bác bỏ đức tin đó. Ông chỉ từ chối việc gọi nó là tri thức theo
nghĩa mà triết học và khoa học vẫn sử dụng.
Theo nghĩa này, toàn
bộ IS 31–45 có thể được đọc như một nỗ lực đưa học thuyết về hồn người bất tử
trở lại đúng nguồn gốc lịch sử và tôn giáo của nó. Điều mà nhiều thế hệ gót học
gia xem như một chân lý phổ quát của lý trí, Hume xem như một tín điều tôn giáo
được nâng đỡ bởi sự vén lên cho thấy bí nhiệmmặc khải và bởi những nhu cầu tinh
thần rất tự nhiên của con người. Và đó cũng là điểm kết thúc của dự án phản–siêu
hình học của ông: không chứng minh rằng đời sau là không thể có, mà chứng minh
rằng triết học không có đủ cơ sở để khẳng định rằng nó có thật.
[20] đam mê nguyên
thủy (original passion): là những cảm xúc nền tảng, xuất hiện trực tiếp từ cấu
trúc tự nhiên của não thức con người, không được hình thành từ suy luận, tin tưởng
tôn giáo hay tưởng tượng. Chúng không “phái sinh” từ ý thức phản tỉnh, mà là những
phản ứng trực tiếp của bản tính sinh học–tâm lý.
Trong hệ thống
của Hume, đam mê nguyên sơ bao gồm những khuynh hướng cơ bản như: sợ đau, ghét
hủy diệt, ham sống, ham khoái lạc, và những phản ứng tự bảo tồn. Chúng đóng vai
trò như động lực gốc của hành vi, trước khi lý trí can thiệp hoặc diễn giải.
Trong đoạn
trên, Hume dùng khái niệm này để phản bác lập luận gót học: nếu nỗi sợ cái chết
là một đam mê nguyên sơ, thì nó không thể được dùng như bằng chứng cho tính bất
tử của hồn người, mà chỉ nên được hiểu như một cơ chế tự nhiên giúp duy trì sự
sống của loài người
[21] Phải nghi ngờ tất cả những học thuyết được những đam mê
của chúng ta ủng hộ”: đây là một nguyên tắc hoài nghi phương pháp luận của
Hume, nhấn mạnh rằng sự ủng hộ của cảm xúc không thể được xem là bằng chứng cho
tính chân lý của một học thuyết.
“Đam mê” (passions) ở
đây chỉ những trạng thái tâm lý như sợ hãi, hy vọng, ham muốn hay ác cảm—những
lực thúc đẩy hành vi mang tính tự nhiên, xuất hiện trước hoặc độc lập với suy
luận lý trí. Khi một học thuyết được “đam mê ủng hộ”, điều đó có nghĩa là nó được
con người chấp nhận chủ yếu vì nó thỏa mãn một nhu cầu cảm xúc nào đó (ví dụ:
hy vọng vào phần thưởng sau khi chết hoặc sợ hãi hình phạt vĩnh cửu), chứ không
phải vì nó được chứng minh bằng kinh nghiệm hay lập luận chặt chẽ.
Hume cho rằng những
tin tưởng tôn giáo như vậy cần được đặt trong trạng thái nghi vấn, vì đam mê có
khuynh hướng làm sai lệch phán đoán: nó có thể phóng đại mức độ chắc chắn của
tin tưởng tôn giáo, khiến điều mong muốn trở nên “có vẻ đúng”, hoặc khiến điều
đáng sợ trở nên “có vẻ tất yếu”. Do đó, một học thuyết càng gắn chặt với những
động lực cảm xúc mạnh mẽ thì càng cần được kiểm tra kỹ lưỡng về cơ sở lý trí của
nó.
Ý nghĩa sâu hơn của
nhận định này là sự phân biệt giữa hai nguồn hình thành tin tưởng tôn giáo: lý
trí (reason) và đam mê (passion). Hume không phủ nhận vai trò của đam mê trong
đời sống con người, nhưng ông nhấn mạnh rằng trong lĩnh vực tri thức, chỉ những
gì có thể được bảo chứng bởi kinh nghiệm và suy luận mới có giá trị xác lập. Những
học thuyết được cảm xúc nâng đỡ, vì vậy, không thể tự động được coi là chân lý.
[22] revelation : vẫn dịch là “mặc khải” là
thuật ngữ tôn giáo (gót hoc) và triết học, chỉ hành động Thần linh hé lộ những
chân lý bí ẩn cho con người. Tôi dịch “nôm na” ở đây và tất cả những bản dịch
khác của tôi là “Sự vén lên cho thấy bí nhiệm” >
Vén màn bí nhiệm (Revelation / Apokalupsis) là hành vi của Gót (God) tự
mở ra để lộ cho con người thấy thực tại huyền nhiệm (mystery / sacramentum).
[ từ gốc Hy Lạp Apokalupsis (Apo = kéo ra, Kalypto = tấm màn) và
Latinh Revelatio (kéo ngược tấm vải che)]
(Revelation / Apokalupsis) là hành vi
Gót (God) tự vén mở và tỏ lộ về chính Ngài cũng như về thực tại siêu việt
của Ngài, qua đó làm xuất hiện những huyền nhiệm (mystery / sacramentum) vốn nằm
ngoài khả năng tiếp cận của lý trí tự nhiên. Đây là những chân lý không thể được
con người tự suy diễn hay khám phá bằng kinh nghiệm và tư duy thuần túy, mà chỉ
có thể được tiếp nhận một cách thụ động như kết quả của việc Đấng Tối Cao tự
bày tỏ chính mình.
Sự vén lên cho thấy
bí nhiệm (Revelation / ἀποκάλυψις – apokálypsis) là một khái niệm trung tâm trong gót học đạo Kitô,
chỉ hành vi Gót tự mình làm cho con người biết đến những thực tại vốn vượt
ngoài khả năng nhận thức tự nhiên của họ. Những thực tại này thường được hiểu
là liên quan đến bản tính Gót, ý nghĩa cứu rỗi, và trật tự tối hậu của thế giới.
1. Ngữ nguyên học
(etymology) (a) Hy Lạp: ἀποκάλυψις (apokálypsis): Từ này được cấu thành bởi hai
thành phần: apo (ἀπό): mang nghĩa “từ”, “ra khỏi”, hoặc “tách ra” kalypto
(καλύπτω): nghĩa là “che phủ”, “phủ kín”, “làm cho không thấy
được” Kết hợp lại, apokálypsis nghĩa đen là “hành vi tháo bỏ sự che phủ” hoặc
“vén tấm màn che”, tức làm cho cái vốn bị ẩn giấu trở nên có thể được nhìn thấy.
Trong ngữ cảnh tôn giáo, nó không chỉ là “tiết lộ thông tin”, mà là hành vi làm
lộ ra một thực tại vốn tự thân vượt khỏi tầm nhìn thông thường của con người. (b) Latinh: revelatio (re-velare): Từ Latinh tương ứng
là revelatio, bắt nguồn từ: re-: “trở lại”, “ngược lại” velare: “che phủ”, “phủ
màn”, “trùm lại” Do đó revelatio mang nghĩa là “kéo ngược tấm màn che” hoặc “mở
lại điều đã bị che kín”. So với tiếng Hy Lạp, sắc thái Latinh nhấn mạnh hành động
đảo ngược trạng thái che giấu: cái đã bị che nay được mở ra để nhìn thấy.
2. Ý nghĩa gót học
(theological meaning): Trong gót học đạo Kitô, “mặc khải” không được hiểu đơn
thuần như việc con người khám phá ra một chân lý bằng suy luận hay quan sát.
Thay vào đó, nó mang ba đặc điểm nền tảng: Tính chủ động từ Gót: Con người
không phải chủ thể tự khám phá, mà là đối tượng tiếp nhận. Gót là người “mở ra”
thực tại. Tính siêu việt của nội dung được mặc khải: Những gì được bộc lộ không
thuộc phạm vi có thể suy ra từ thế giới tự nhiên một cách tất yếu. Đó là những chân
lý về bản tính Gót, cứu rỗi, và số phận tối hậu của con người. Tính bất cân xứng
nhận thức: Lý trí và giác quan con người, trong trạng thái tự nhiên, bị xem là
không đủ để tiếp cận trực tiếp thực tại tối hậu. Vì vậy, nhận thức về Gót và cứu
rỗi phụ thuộc vào hành vi “vén màn” từ phía Gót.
3. Điểm cốt lõi về mặt
khái niệm: Về phương diện triết học tôn giáo, khái niệm này thiết lập một luận
điểm mạnh: Con người không thể tự mình đạt tới tri thức về thực tại siêu việt bằng
lý trí hay kinh nghiệm thông thường; tri thức ấy chỉ có thể có nếu được Gót chủ
động bộc lộ. Điều này tạo ra một cấu trúc nhận thức đặc thù trong đạo Kitô:
thay vì tri thức đi từ con người lên Gót, thì tri thức đi từ Gót xuống con người.
4. Trong toàn bộ cấu
trúc gót học đạo Kitô, “Sự vén lên cho thấy bí nhiệm ” không chỉ là một khái niệm
về cách con người biết Gót, mà còn là điều kiện nền tảng để khẳng định những học
thuyết không thể kiểm chứng bằng kinh nghiệm, đặc biệt là hai trụ cột: hồn người
bất tử và đời sống sau cái chết.
Lý do là vì cả hai khẳng
định này đều vượt khỏi phạm vi quan sát tự nhiên. Trong kinh nghiệm thông thường,
ta chỉ thấy một chuỗi hiện tượng rất rõ: ý thức luôn gắn với hoạt động của cơ
thể sống; những trạng thái tinh thần thay đổi theo giấc ngủ, bệnh tật, tuổi
già; và khi cơ thể tan rã hoàn toàn, mọi hoạt động có thể quan sát được của đời
sống tinh thần cũng chấm dứt. Không có hiện tượng kinh nghiệm nào trực tiếp cho
thấy một “phần ý thức” tách khỏi cơ thể và tiếp tục tồn tại như một thực thể độc
lập.
Chính vì vậy, trong
gót học truyền thống, nếu không có “Sự vén lên cho thấy bí nhiệm ”, thì không
có cách nào đi từ kinh nghiệm tự nhiên để suy ra rằng ý thức cá nhân vẫn tồn tại
sau cái chết, rằng có một trạng thái đời sau, và rằng đời sống hiện tại chỉ là
giai đoạn chuẩn bị cho phán xét cuối cùng. Nói cách khác, “Sự vén lên cho thấy
bí nhiệm ” đóng vai trò như cầu nối duy nhất đưa con người từ thế giới quan sát
được sang thế giới đời sau không quan sát được.
Tuy nhiên, khi đặt
vào khung phê phán của Hume, chính cấu trúc này trở thành điểm gây vấn đề.
Hume không phủ nhận rằng
con người có thể tin vào Sự vén lên cho thấy bí nhiệm , nhưng ông đặt câu hỏi về
tư cách nhận thức của nó: làm thế nào để phân biệt một “Sự vén lên cho thấy bí
nhiệm thật sự” với trải nghiệm chủ quan, tưởng tượng, cảm xúc mạnh, hoặc diễn
giải văn hóa–tôn giáo? Nếu không có tiêu chuẩn kinh nghiệm độc lập để kiểm chứng,
thì Sự vén lên cho thấy bí nhiệm không thể đóng vai trò như một nền tảng tri thức
chắc chắn. Và nếu nó không đủ vững như một tiêu chuẩn nhận thức, thì toàn bộ những
kết luận dựa trên nó—đặc biệt là hồn người bất tử và đời sau—trở nên không còn
cơ sở tri thức mang tính tất yếu.
Từ đây, Hume chuyển
trọng tâm lập luận: thay vì hỏi “Sự vén lên cho thấy bí nhiệm có đúng hay
không”, ông đặt vấn đề rộng hơn về phương pháp—liệu có hợp lý hay không khi
nâng một chuỗi giả định không thể kiểm chứng lên thành tri thức về cấu trúc tối
hậu của thế giới.
Trong cách nhìn đó,
những học thuyết như hồn người bất tử, phán xét sau cái chết, hay thưởng–phạt
vĩnh viễn không bị bác bỏ bằng một phản chứng trực tiếp, mà bị đẩy về đúng vị
trí của chúng: những giả định siêu hình phụ thuộc vào một nguồn tri thức không
thể xác minh bằng kinh nghiệm tự nhiên.
Do đó, liên hệ giữa Sự
vén lên cho thấy bí nhiệm và phê bình của Hume có thể tóm lại như sau:
- Gót học: Sự vén lên cho thấy bí nhiệm là con đường
duy nhất để biết về đời sau và hồn người bất tử.
- Hume: con đường này không có tiêu chuẩn kiểm chứng
kinh nghiệm đủ vững để được xem là tri thức chắc chắn.
Vì vậy, toàn bộ cấu
trúc “Sự vén lên cho thấy bí nhiệm → hồn người bất tử → đời sau” bị đẩy về phía
một dạng giả định mang tính niềm tin hơn là kết luận có cơ sở từ quan sát tự
nhiên.
[23] (a)
Câu kết luận này thường
được những nhà nghiên cứu đọc như một lời nhận xét mang sắc thái mỉa mai rất đặc
trưng của Hume. Sau nhiều trang lập luận nhằm chỉ ra rằng kinh nghiệm không
cung cấp bằng chứng nào cho sự bất tử của hồn người, rằng những suy luận từ tự
nhiên đều dẫn về phía tính hữu hạn hơn là tính bất tử, rằng niềm tin vào đời
sau phần lớn được nuôi dưỡng bởi hy vọng và sợ hãi của con người, và rằng không
có cơ sở nhận thức nào để xác nhận một trạng thái tồn tại chưa từng được quan
sát, Hume đi đến nhận xét rằng chỉ còn lại một con đường duy nhất: sự vén lên
cho thấy bí nhiệmmặc khải từ Gót.
Tuy nhiên, ý nghĩa
sâu hơn của câu này không phải là một sự đầu hàng trước gót học. Trái lại, Hume
đang chỉ ra giới hạn của mọi nỗ lực triết học nhằm chứng minh hồn người bất tử.
Nếu một học thuyết không thể được xác lập bằng lý trí, không thể được hỗ trợ bởi
kinh nghiệm, không thể được chứng minh bằng quan sát hay suy luận từ tự nhiên,
thì người ta chỉ còn có thể viện đến sự vén lên cho thấy bí nhiệmmặc khải . Nói
cách khác, chính việc phải dựa hoàn toàn vào sự vén lên cho thấy bí nhiệmmặc khải
đã cho thấy học thuyết ấy không có nền tảng trong triết học tự nhiên.
Đặt trong toàn bộ mạch
lập luận của tiểu luận, câu nói này mang một ý nghĩa kép. Ở bề mặt, nó dường
như đề cao vai trò của sự vén lên cho thấy bí nhiệmmặc khải . Nhưng ở tầng sâu
hơn, nó đồng thời thừa nhận rằng mọi con đường nhận thức thông thường của con
người đã đi đến giới hạn của chúng. Nếu hồn người bất tử là một chân lý, thì đó
không phải là chân lý mà lý trí tự mình khám phá được, cũng không phải là chân
lý mà kinh nghiệm tự nhiên có thể xác nhận được. Nó chỉ có thể được tin vì đã
được sự vén lên cho thấy bí nhiệmmặc khải .
Chính ở đây Hume hoàn
tất chiến lược phê bình của mình. Ông không tuyên bố rằng hồn người bất tử là
sai, cũng không khẳng định rằng đời sau không tồn tại. Điều ông làm là đặt toàn
bộ học thuyết ấy ra ngoài phạm vi của tri thức triết học. Theo cách nhìn của
ông, niềm tin này không thể đứng vững trên nền tảng duy lý, vì không có lập luận
logic nào đủ sức chứng minh nó; đồng thời cũng không thể đứng vững trên nền tảng
duy nghiệm, vì không có kinh nghiệm nào cho thấy một ý thức vẫn tiếp tục tồn tại
sau khi những điều kiện vật chất của nó đã tan rã.
Từ đó, Hume dẫn người
đọc đến một kết luận sâu xa hơn. Nếu cả lý trí lẫn kinh nghiệm đều không cung cấp
được điểm tựa, thì nguồn gốc thực sự của niềm tin vào hồn người bất tử phải được
tìm ở nơi khác. Trong nhiều đoạn trước đó, ông đã chỉ ra nơi xuất phát ấy: những
cảm xúc tự nhiên của con người. Con người sợ cái chết, sợ sự chấm dứt hoàn toàn
của bản thân; đồng thời họ cũng hy vọng rằng đời sống không kết thúc ở nấm mồ,
rằng công bằng cuối cùng sẽ được thực hiện, và rằng những mất mát của đời này sẽ
được bù đắp ở một đời khác. Chính những hy vọng và nỗi sợ ấy tạo nên mảnh đất
tâm lý thuận lợi cho sự hình thành của học thuyết về đời sau.
Điều này phản ánh rất
rõ khuynh hướng duy cảm trong tư tưởng Hume. Đối với ông, nhiều niềm tin mà con
người thường xem là sản phẩm của lý trí thực ra lại bắt nguồn từ những động lực
sâu kín của tình cảm. Chúng ta thường tin không phải vì đã chứng minh được một
điều gì, mà vì chúng ta mong điều ấy là thật hoặc sợ điều ngược lại. Vì vậy,
khi khảo sát học thuyết về hồn người bất tử, Hume không chỉ đặt câu hỏi: “Có bằng
chứng nào cho điều đó không?”, mà còn hỏi: “Điều gì trong tâm lý con người khiến
chúng ta muốn tin như vậy?”
Trong bối cảnh gót học
đạo Kitô, khoảng trống do lý trí và kinh nghiệm để lại được lấp đầy bằng khái
niệm sự vén lên cho thấy bí nhiệmmặc khải . Sự vén lên cho thấy bí nhiệmmặc khải
trở thành con đường duy nhất để biết những điều vượt ngoài thế giới có thể quan
sát: sự bất tử của hồn người, sự phán xét sau cái chết, thiên đàng, hỏa ngục,
và đời sống mai sau. Nhưng chính điều này cũng làm nổi bật điểm mà Hume muốn nhấn
mạnh: toàn bộ cấu trúc ấy không còn dựa trên những tiêu chuẩn nhận thức thông
thường của triết học nữa. Nó dựa trên việc chấp nhận một nguồn tri thức đặc biệt,
nằm ngoài kiểm chứng của kinh nghiệm.
Vì vậy, câu kết này
không chỉ khép lại cuộc tranh luận về hồn người bất tử, mà còn đánh dấu ranh giới
giữa triết học và gót học trong tư tưởng Hume. Triết học có thể khảo sát kinh
nghiệm, phân tích lý lẽ và chỉ ra giới hạn của nhận thức con người. Nhưng khi
nói đến hồn người bất tử và đời sau, theo Hume, người ta đã bước sang một lãnh
vực khác: lãnh vực của đức tin và sự vén lên cho thấy bí nhiệmmặc khải . Trong
lãnh vực đó, niềm tin vẫn có thể được duy trì; nhưng nó không còn có thể được
trình bày như một kết luận được thiết lập bởi lý trí hay được xác nhận bởi kinh
nghiệm.
Do đó, kết luận cuối
cùng của Hume không phải là phủ nhận hồn người bất tử, mà là định vị lại địa vị
nhận thức của học thuyết này. Nó không thuộc về tri thức được chứng minh bằng
triết học, mà thuộc về niềm tin tôn giáo. Và chính việc phải viện đến sự vén
lên cho thấy bí nhiệmmặc khải như con đường duy nhất đã cho thấy rằng học thuyết
về hồn người bất tử và đời sau không đứng trên nền tảng của lý trí, cũng không
đứng trên nền tảng của kinh nghiệm, mà chủ yếu được nâng đỡ bởi đức tin, bởi
truyền thống tôn giáo, và bởi những hy vọng cùng nỗi sợ rất tự nhiên của con
người trước cái chết.
(b)
Điểm đáng chú ý trong
kết luận của Hume là ông không chỉ đặt lại vấn đề về tính bất tử của hồn người,
mà còn đặt lại chính nguồn gốc của học thuyết ấy. Sau khi lần lượt khảo sát những
lập luận dựa trên kinh nghiệm, những suy luận từ tự nhiên, những phép loại suy
về ý thức và cơ thể, cũng như những động cơ tâm lý đứng phía sau niềm tin về đời
sau, Hume đi đến nhận xét rằng không có con đường triết học nào đủ sức đưa con
người tới kết luận chắc chắn rằng hồn người là bất tử.
Điều này có một hệ quả
quan trọng. Nếu học thuyết về hồn người bất tử không thể được xác lập bằng lý
trí, cũng không thể được xác lập bằng kinh nghiệm, thì nguồn gốc thực sự của nó
phải được tìm ở nơi khác. Và nơi đó, theo truyền thống phương Tây mà Hume đang
đối thoại, chính là gót học đạo Kitô.
Trong nhiều thế kỷ, ý
niệm về hồn người bất tử không chỉ là một học thuyết triết học riêng lẻ, mà là
một bộ phận của toàn bộ cấu trúc gót học đạo Kitô. Nó gắn liền với những khái
niệm về sự vén lên cho thấy bí nhiệmmặc khải , cứu rỗi, phán xét cuối cùng,
thiên đàng, hỏa ngục và đời sống mai sau. Hồn người bất tử không tồn tại như một
ý tưởng độc lập; nó là một mắt xích trong một hệ thống tôn giáo rộng lớn hơn.
Khi một người tin rằng hồn người tiếp tục tồn tại sau khi thân xác tan rã, niềm
tin ấy thường kéo theo cả một thế giới quan gót học về mục đích của đời người,
công lý của Gót và số phận tối hậu của nhân loại.
Từ góc nhìn của Hume,
khó khăn xuất hiện khi người ta cố gắng tách học thuyết này ra khỏi bối cảnh
gót học của nó và trình bày nó như một chân lý có thể được chứng minh bằng triết
học. Chính điều đó là mục tiêu phê bình của ông. Ông không tranh luận trực tiếp
với đức tin tôn giáo, mà tranh luận với tham vọng biến một tín điều tôn giáo
thành một kết luận của lý trí hay của kinh nghiệm.
Vì vậy, khi Hume kết
luận rằng chỉ có sự vén lên cho thấy bí nhiệmmặc khải mới có thể xác lập học
thuyết này, ông thực chất đang đưa nó trở về đúng môi trường nguyên thủy của
nó. Nếu hồn người bất tử là một chân lý, thì nó phải được tin vì Gót đã sự vén
lên cho thấy bí nhiệmmặc khải nó; chứ không phải vì con người đã chứng minh được
nó từ việc quan sát thế giới tự nhiên. Một khi mọi con đường triết học đều thất
bại, học thuyết ấy được trả lại cho gót học, nơi nó vốn thuộc về từ đầu.
Theo nghĩa này, toàn
bộ tiểu luận không phải là một cuộc tấn công trực tiếp vào đức tin đạo Kitô, mà
là một nỗ lực phân định ranh giới giữa triết học và gót học. Triết học có thể
khảo sát những gì xuất hiện trong kinh nghiệm và xây dựng những suy luận từ đó.
Nhưng học thuyết về hồn người bất tử, theo Hume, không nảy sinh từ kinh nghiệm
như vậy. Nó phát sinh từ một truyền thống tôn giáo cụ thể, được nuôi dưỡng bởi
sự vén lên cho thấy bí nhiệmmặc khải và được duy trì bởi những hy vọng cùng nỗi
sợ sâu xa nhất của con người.
Do đó, kết luận cuối
cùng của Hume có thể được hiểu như một động tác “trả lại đúng chỗ” cho vấn đề hồn
người bất tử. Ông không chứng minh rằng nó sai. Ông cũng không chứng minh rằng
nó đúng. Ông chỉ cho rằng triết học không có đủ công cụ để xác lập nó. Khi mọi
lý lẽ duy lý và mọi bằng chứng từ kinh nghiệm đều không đủ sức nâng đỡ học thuyết
ấy, thì nó không còn thuộc về lãnh vực của tri thức triết học nữa, mà trở về với
nguồn gốc thực sự của nó: đức tin, sự vén lên cho thấy bí nhiệmmặc khải và gót
học đạo Kitô.
(c )
Nhìn từ lịch sử tư tưởng
phương Tây, ý nghĩa sâu xa nhất của tiểu luận này không nằm ở việc Hume phủ nhận
hồn người bất tử, mà ở việc ông thay đổi địa vị tri thức của học thuyết ấy.
Trong suốt nhiều thế kỷ, đặc biệt từ thời Trung cổ trở đi, sự bất tử của hồn
người thường được trình bày như một chân lý vừa được sự vén lên cho thấy bí nhiệmmặc
khải bởi Gót, vừa có thể được lý trí chứng minh. Nói cách khác, gót học và triết
học được xem là cùng hướng về một kết luận chung.
Hume phá vỡ sự đồng
thuận lâu đời đó. Ông cho rằng khi được xét bằng những tiêu chuẩn của triết học
kinh nghiệm, học thuyết về hồn người bất tử không có đủ bằng chứng để được xem
là tri thức. Những gì kinh nghiệm cho thấy là sự gắn bó thường xuyên giữa đời sống
tinh thần và đời sống cơ thể; những gì tự nhiên cho thấy là quy luật biến đổi,
suy tàn và chấm dứt; những gì tâm lý học con người cho thấy là vai trò rất lớn
của hy vọng và sợ hãi trong việc hình thành những niềm tin về đời sau. Không có
yếu tố nào trong số đó dẫn tất yếu đến kết luận rằng một phần của con người sẽ
tiếp tục tồn tại mãi mãi sau khi thân xác tan rã.
Bởi vậy, nếu người ta
vẫn tiếp tục khẳng định hồn người bất tử, thì cơ sở cuối cùng của sự khẳng định
ấy không còn là triết học mà là gót học; không còn là kinh nghiệm mà là sự vén
lên cho thấy bí nhiệmmặc khải ; không còn là điều được chứng minh mà là điều được
tin. Hume không bác bỏ đức tin đó. Ông chỉ từ chối việc gọi nó là tri thức theo
nghĩa mà triết học và khoa học vẫn sử dụng.
Theo nghĩa này, toàn
bộ IS 31–45 có thể được đọc như một nỗ lực đưa học thuyết về hồn người bất tử
trở lại đúng nguồn gốc lịch sử và tôn giáo của nó. Điều mà nhiều thế hệ gót học
gia xem như một chân lý phổ quát của lý trí, Hume xem như một tín điều tôn giáo
được nâng đỡ bởi sự vén lên cho thấy bí nhiệmmặc khải và bởi những nhu cầu tinh
thần rất tự nhiên của con người. Và đó cũng là điểm kết thúc của dự án phản–siêu
hình học của ông: không chứng minh rằng đời sau là không thể có, mà chứng minh
rằng triết học không có đủ cơ sở để khẳng định rằng nó có thật.
