Thursday, June 18, 2026

Hume – Một Chuyên Luận Về Bản Chất Con Người (03)

Một Chuyên Luận Về Bản Chất Con Người

(A Treatise of Human Nature)

David Hume

 

( ← ... tiếp theo )

 

 

 



Một Chuyên Luận Về Bản Chất Con Người

 

 

PHẦN I.

Về Ý Niệm: Nguồn Gốc, Thành Phần, Sự Liên Kết, Sự Trừu Tượng Hóa, V.V.

[PART I. - Of Ideas, their Origin, Composition, Connexion, Abstraction, &c.

 

MỤC. I.

Về Nguồn Gốc Của Những Ý Niệm Của Chúng Ta.

[SECT. I.Of the Origin of our Ideas.]

 

T 1.1.1.1, SBN 1-2

TẤT CẢ những tri giác của tâm trí con người tự phân chia ra thành hai loại riêng biệt, mà tôi sẽ gọi là những ẤN TƯỢNG và những Ý NIỆM. Sự khác biệt giữa hai loại này nằm ở các mức độ sức mạnh và sự sinh động, mà chúng dùng để tác động lên tâm trí, rồi mở đường đi vào trong suy nghĩ hoặc nhận thức của chúng ta. Những tri giác nào đi vào với nhiều sức mạnh và sự mãnh liệt nhất, thì chúng ta có thể gọi chúng là những ấn tượng; và dưới cái tên này, tôi bao gồm tất cả những cảm giác, những đam mê và những cảm xúc của chúng ta, khi chúng xuất hiện lần đầu tiên trong tâm hồn. Bằng từ những ý niệm, tôi muốn nói đến những hình ảnh mờ nhạt của những ấn tượng này trong việc suy nghĩ và lập luận; ví dụ như, tất cả những tri giác mà bài trò chuyện hiện tại này khơi gợi lên, chỉ ngoại trừ những tri giác phát sinh từ thị giác và xúc giác, và ngoại trừ sự dễ chịu hoặc sự khó chịu ngay tức thì mà bài trò chuyện này có thể gây ra. Tôi tin rằng bản thân tôi sẽ không cần phải dùng quá nhiều lời lẽ để giải thích sự phân biệt này. Mỗi người sẽ tự mình nhận ra một cách dễ dàng sự khác biệt giữa việc cảm nhận và việc suy nghĩ. Người ta dễ dàng phân biệt được những mức độ thông thường của hai việc này; mặc dù không phải là không thể có chuyện trong những trường hợp đặc biệt, chúng có thể tiến lại rất gần nhau. Vì vậy, trong giấc ngủ, trong một cơn sốt, trong cơn điên, hoặc trong bất kỳ những cảm xúc rất mãnh liệt nào của tâm hồn, những ý niệm của chúng ta có thể tiến gần đến những ấn tượng của chúng ta: Giống như ở khía cạnh ngược lại, đôi khi chuyện xảy ra là, những ấn tượng của chúng ta quá mờ nhạt và thấp bé, đến mức chúng ta không thể phân biệt được chúng với những ý niệm của chúng ta. Nhưng bất chấp sự giống nhau gần gũi này trong một vài trường hợp, nhìn chung chúng vẫn rất khác nhau, đến mức không một ai có thể ngần ngại trong việc xếp chúng vào dưới những mục riêng biệt, và gán cho mỗi loại một cái tên riêng để đánh dấu sự khác biệt [2].

 

T 1.1.1.2, SBN 2

Có một sự phân chia khác về những tri giác của chúng ta, mà chúng ta nên lưu ý vì sự tiện lợi, và sự phân chia này mở rộng ra cho cả những ấn tượng lẫn những ý niệm của chúng ta. Sự phân chia này chia chúng thành ĐƠN GIẢN và PHỨC HỢP. Những tri giác hoặc những ấn tượng và những ý niệm đơn giản là những thứ không chấp nhận bất kỳ sự phân biệt hay sự chia tách nào. Những tri giác phức hợp thì ngược lại với những thứ này, và người ta có thể phân chia chúng ra thành nhiều phần. Mặc dù một màu sắc cụ thể, một mùi vị cụ thể, và một mùi hương cụ thể là những đặc tính cùng hòa quyện với nhau trong quả táo này, người ta vẫn dễ dàng nhận ra rằng chúng không phải là một, mà ít nhất chúng là những thứ có thể phân biệt được với nhau. [1]

 

T 1.1.1.3, SBN 2-3

Sau khi chúng ta đã tạo ra một trật tự và một sự sắp xếp cho những đối tượng của chúng ta bằng những sự phân chia này, bây giờ chúng ta có thể tập trung bản thân mình vào việc xem xét những đặc tính và những mối quan hệ của chúng một cách chính xác hơn. Chi tiết đầu tiên đập vào mắt tôi, chính là sự giống nhau rất lớn giữa những ấn tượng và những ý niệm của chúng ta trong mọi chi tiết khác, ngoại trừ mức độ sức mạnh và sự sinh động của chúng. Loại này dường như là sự phản chiếu của loại kia theo một cách thức nào đó; vì vậy mà tất cả những tri giác của tâm trí đều có đôi có cặp, và xuất hiện dưới cả dạng những ấn tượng lẫn những ý niệm. Khi tôi nhắm mắt lại và nghĩ về căn phòng của tôi, những ý niệm mà tôi hình thành là những sự biểu hiện chính xác của những ấn tượng mà tôi đã cảm nhận; và không có bất kỳ chi tiết nào của loại này lại không thể tìm thấy ở trong loại kia. Khi tôi rà soát qua những tri giác khác của tôi, tôi vẫn tìm thấy cùng một sự giống nhau và cùng một sự biểu hiện như thế. Những ý niệm và những ấn tượng dường như luôn luôn tương ứng với nhau. Chi tiết này đối với tôi có vẻ rất đáng chú ý, và nó thu hút sự chú ý của tôi trong một khoảnh khắc.

 

T 1.1.1.4, SBN 3

Khi xem xét một cách chính xác hơn, tôi nhận thấy bản thân tôi đã bị vẻ bề ngoài đầu tiên cuốn đi quá xa, và tôi phải sử dụng sự phân chia những tri giác thành đơn giảnphức hợp để giới hạn lại quyết định mang tính tổng quát này, đó là việc tất cả những ý niệm và những ấn tượng của chúng ta đều giống nhau. Tôi quan sát thấy rằng, nhiều ý niệm phức hợp của chúng ta chưa từng có những ấn tượng tương ứng với chúng, và nhiều ấn tượng phức hợp của chúng ta chưa từng được sao chép một cách chính xác vào trong những ý niệm. Bản thân tôi có thể tự hình dung ra một thành phố như thành phố Jerusalem Mới, nơi có đường đi lát bằng vàng và những bức tường bằng hồng ngọc, mặc dù tôi chưa từng nhìn thấy bất kỳ thành phố nào như vậy. Tôi đã nhìn thấy thành phố Paris; nhưng liệu tôi có thể khẳng định rằng tôi có thể hình dung ra một ý niệm về thành phố đó, một ý niệm sẽ biểu hiện một cách hoàn hảo tất cả những con đường và những ngôi nhà của nó theo đúng những tỷ lệ thực tế và chính xác của chúng hay không?

 

T 1.1.1.5, SBN 3-4

Vì vậy, tôi nhận ra rằng, mặc dù nhìn chung có một sự giống nhau rất lớn giữa những ấn tượng phức hợp và những ý niệm phức hợp của chúng ta, nhưng quy luật này không đúng cho mọi trường hợp, đó là việc chúng là những bản sao chính xác của nhau. Tiếp theo, chúng ta có thể xem xét tình hình diễn ra như thế nào đối với những tri giác đơn giản của chúng ta. Sau một sự kiểm tra chính xác nhất mà bản thân tôi có khả năng thực hiện, tôi mạo muội khẳng định rằng, quy luật ở đây giữ vững mà không có bất kỳ sự ngoại lệ nào, và mỗi ý niệm đơn giản đều có một ấn tượng đơn giản giống với nó; và mỗi ấn tượng đơn giản đều có một ý niệm tương ứng. Ý niệm về màu đỏ đó, thứ mà chúng ta hình thành trong bóng tối, và ấn tượng về màu đỏ đó, thứ đập vào mắt của chúng ta dưới ánh nắng mặt trời, chỉ khác nhau về mức độ, chứ không khác nhau về bản chất. Chuyện diễn ra tương tự đối với tất cả những ấn tượng đơn giản và những ý niệm đơn giản của chúng ta là điều mà người ta không thể chứng minh bằng cách liệt kê cụ thể từng thứ một trong số chúng. Mỗi người có thể tự làm cho bản thân mình thỏa mãn ở điểm này bằng cách rà soát qua bao nhiêu thứ tùy thích. Nhưng nếu có bất kỳ ai phủ nhận sự giống nhau mang tính phổ quát này, tôi không biết cách nào để thuyết phục người đó, ngoại trừ việc yêu cầu người đó chỉ ra một ấn tượng đơn giản mà không có một ý niệm tương ứng, hoặc một ý niệm đơn giản mà không có một ấn tượng tương ứng. Nếu người đó không trả lời lời thách thức này, và chắc chắn là người đó không thể làm được, chúng ta có thể dựa vào sự im lặng của người đó và sự quan sát của chính chúng ta để thiết lập nên kết luận của chúng ta.

 

T 1.1.1.6, SBN 4

Như vậy, chúng ta thấy rằng, tất cả những ý niệm đơn giản và những ấn tượng đơn giản đều giống nhau; và vì những tri giác phức hợp được hình thành từ chúng, chúng ta có thể khẳng định một cách tổng quát rằng, hai loại tri giác này tương ứng với nhau một cách chính xác. Sau khi đã phát hiện ra mối quan hệ này, một mối quan hệ không cần phải kiểm tra thêm nữa, tôi tò mò muốn tìm ra một vài đặc tính khác của chúng. Chúng ta hãy xem xét tình hình của chúng đối với sự tồn tại của chúng, và xem ấn tượng nào và ý niệm nào là những nguyên nhân, còn những thứ nào là những kết quả.

 

T 1.1.1.7, SBN 4

Sự kiểm tra đầy đủ về câu hỏi này chính là chủ đề của chuyên luận hiện tại này; và vì vậy, ở đây chúng ta sẽ tự làm cho bản thân mình hài lòng với việc thiết lập một mệnh đề tổng quát, Đó là tất cả những ý niệm đơn giản của chúng ta trong lần xuất hiện đầu tiên của chúng đều bắt nguồn từ những ấn tượng đơn giản, những ấn tượng tương ứng với chúng và là những thứ mà chúng biểu hiện một cách chính xác.

 

T 1.1.1.8, SBN 4-5

Trong việc tìm kiếm những hiện tượng để chứng minh mệnh đề này, tôi chỉ tìm thấy những hiện tượng thuộc hai loại; nhưng ở mỗi loại, những hiện tượng này đều rõ ràng, nhiều vô kể, và mang tính thuyết phục. Trước hết, bằng một sự xem xét lại mới, tôi làm cho bản thân mình chắc chắn về điều mà tôi đã khẳng định, đó là mỗi ấn tượng đơn giản đều đi kèm với một ý niệm tương ứng, và mỗi ý niệm đơn giản đều đi kèm với một ấn tượng tương ứng. Từ sự kết hợp liên tục này của những tri giác giống nhau, tôi lập tức kết luận rằng, có một sự kết nối lớn giữa những ấn tượng và những ý niệm tương ứng của chúng ta, và sự tồn tại của loại này có một ảnh hưởng đáng kể lên sự tồn tại của loại kia. Một sự kết hợp liên tục như thế, trong một số lượng trường hợp nhiều vô hạn như thế, không bao giờ có thể nảy sinh từ sự ngẫu nhiên; mà nó chứng minh một cách rõ ràng sự phụ thuộc của những ấn tượng vào những ý niệm, hoặc của những ý niệm vào những ấn tượng. Để bản thân tôi có thể biết sự phụ thuộc này nằm ở phía bên nào, tôi xem xét trật tự trong lần xuất hiện đầu tiên của chúng; và tôi nhận thấy bằng kinh nghiệm liên tục rằng, những ấn tượng đơn giản luôn luôn giành quyền đi trước những ý niệm tương ứng của chúng, chứ không bao giờ xuất hiện theo trật tự ngược lại. Để cho một đứa trẻ một ý niệm về màu đỏ tươi hoặc màu cam, về vị ngọt hoặc vị đắng, tôi đưa ra những đối tượng đó, hoặc nói cách khác, tôi truyền tải đến đứa trẻ những ấn tượng này; chứ tôi không tiến hành một cách vô lý bằng cách cố gắng tạo ra những ấn tượng bằng việc khơi gợi những ý niệm. Những ý niệm của chúng ta khi xuất hiện không tạo ra những ấn tượng tương ứng của chúng, và chúng ta cũng không nhận thấy bất kỳ màu sắc nào, hoặc cảm thấy bất kỳ cảm giác nào chỉ bằng việc suy nghĩ về chúng. Ở khía cạnh ngược lại, chúng ta thấy rằng, bất kỳ ấn tượng nào của tâm trí hoặc của cơ thể đều được theo sau một cách liên tục bởi một ý niệm, một ý niệm giống với nó, và chỉ khác biệt ở những mức độ của sức mạnh và sự sinh động. Sự kết hợp liên tục của những tri giác giống nhau của chúng ta là một minh chứng đầy thuyết phục rằng, loại này là những nguyên nhân của loại kia; và sự ưu tiên có trước này của những ấn tượng là một minh chứng tương đương rằng, những ấn tượng của chúng ta là những nguyên nhân của những ý niệm của chúng ta, chứ không phải những ý niệm của chúng ta là những nguyên nhân của những ấn tượng của chúng ta.

 

T 1.1.1.9, SBN 5

Để xác nhận điều này, tôi xem xét một hiện tượng rõ ràng và mang tính thuyết phục khác; đó là việc, ở bất kỳ nơi nào mà do bất kỳ tai nạn nào, những năng lực vốn khơi gợi lên những ấn tượng bất kỳ bị cản trở trong những hoạt động của chúng, ví dụ như khi một người sinh ra đã bị mù hoặc bị điếc; thì không chỉ những ấn tượng bị mất đi, mà những ý niệm tương ứng của chúng cũng bị mất đi; vì vậy mà không bao giờ xuất hiện trong tâm trí những dấu vết nhỏ nhất của bất kỳ loại nào trong hai loại đó. Và điều này không chỉ đúng ở những nơi mà những cơ quan cảm giác bị phá hủy hoàn toàn, mà cũng đúng ở những nơi mà người ta chưa từng đưa những cơ quan đó vào hành động để tạo ra một ấn tượng cụ thể. Chúng ta không thể tự hình thành cho bản thân mình một ý niệm chính xác về mùi vị của một quả dứa, nếu chúng ta chưa từng thực sự nếm thử quả dứa đó.

 

T 1.1.1.10, SBN 5-6

Tuy nhiên, có một hiện tượng mâu thuẫn, một hiện tượng có thể chứng minh rằng, việc những ý niệm đi trước những ấn tượng tương ứng của chúng hoàn toàn không phải là điều bất khả thi. Tôi tin rằng người ta sẽ sẵn lòng thừa nhận điều này, đó là vài ý niệm riêng biệt về những màu sắc, những ý niệm đi vào bằng đôi mắt, hoặc những ý niệm về những âm thanh, những ý niệm được truyền tải bằng thính giác, thì thực sự khác biệt với nhau, mặc dù cùng lúc đó chúng vẫn giống nhau. Bây giờ, nếu điều này đúng đối với những màu sắc khác nhau, thì điều đó chắc chắn cũng phải đúng không kém đối với những sắc thái khác nhau của cùng một màu sắc, đó là việc mỗi sắc thái trong số chúng tạo ra một ý niệm riêng biệt, độc lập với những sắc thái còn lại. Vì nếu người ta phủ nhận điều này, thì bằng sự chuyển đổi cấp độ liên tục của những sắc thái, người ta có thể làm cho một màu sắc chạy một cách không thể nhận biết được vào trong cái màu sắc xa xôi nhất với nó; và nếu bạn không thừa nhận bất kỳ sắc thái ở giữa nào là khác nhau, bạn không thể tránh khỏi sự vô lý khi phủ nhận hai đầu cực cực đoan là giống nhau. Vì vậy, hãy giả định một người đã được tận hưởng thị giác của người đó trong ba mươi năm, và đã trở nên quen thuộc hoàn toàn một cách tốt đẹp với những màu sắc của tất cả các loại, ngoại trừ một sắc thái cụ thể của màu xanh da trời, ví dụ vậy, một sắc thái mà người đó chưa từng có vận may để gặp phải. Hãy đặt tất cả những sắc thái khác nhau của màu sắc đó, ngoại trừ một sắc thái đơn lẻ kia, ở trước mặt người đó, giảm dần một cách từ từ từ sắc thái đậm nhất đến sắc thái nhạt nhất; rõ ràng là, người đó sẽ nhận thấy một khoảng trống ở nơi mà sắc thái đó bị thiếu, và người đó sẽ cảm nhận được rằng, có một khoảng cách lớn hơn ở vị trí đó giữa những màu sắc liền kề nhau, so với ở bất kỳ vị trí nào khác. Bây giờ tôi hỏi, liệu việc người đó, từ trí tưởng tượng của chính mình, bù đắp cho sự thiếu hụt này, và tự khơi dậy cho bản thân mình ý niệm về sắc thái cụ thể đó, mặc dù những giác quan của người đó chưa từng truyền tải sắc thái đó đến cho người đó, có phải là điều khả thi hay không? Tôi tin rằng có rất ít người lại không có ý kiến rằng người đó có thể làm được; và điều này có thể phục vụ như một minh chứng rằng, những ý niệm đơn giản không phải lúc nào cũng bắt nguồn từ những ấn tượng tương ứng; mặc dù trường hợp ví dụ này quá cụ thể và đơn độc, đến mức nó hiếm khi đáng để chúng ta lưu ý, và nó không xứng đáng để chỉ vì một mình nó mà chúng ta phải thay đổi phương châm tổng quát của chúng ta.

 

T 1.1.1.11, SBN 6-7

Nhưng bên cạnh sự ngoại lệ này, thiết nghĩ cũng không thừa khi nhận xét về mục này rằng, người ta phải hiểu nguyên lý về sự ưu tiên đi trước của những ấn tượng đối với những ý niệm cùng với một sự giới hạn khác, cụ thể là: giống như việc những ý niệm của chúng ta là những hình ảnh của những ấn tượng của chúng ta, thì chúng ta cũng có thể hình thành những ý niệm thứ cấp, những ý niệm là những hình ảnh của những ý niệm sơ cấp; như điều đó xuất hiện từ chính lập luận này liên quan đến chúng. Nói một cách chính xác, đây không phải là một sự ngoại lệ đối với quy luật cho bằng là một sự giải thích về quy luật đó. Những ý niệm tạo ra những hình ảnh của chính chúng trong những ý niệm mới; nhưng vì người ta giả định rằng những ý niệm đầu tiên bắt nguồn từ những ấn tượng, nên điều vẫn đúng là, tất cả những ý niệm đơn giản của chúng ta đều diễn ra theo cách gián tiếp hoặc trực tiếp, từ những ấn tượng tương ứng của chúng.

 

T 1.1.1.12, SBN 7

Vậy thì đây chính là nguyên lý đầu tiên tôi thiết lập trong ngành khoa học về bản chất con người; và chúng ta không nên xem thường nó bởi vì vẻ bề ngoài đơn giản của nó. Vì một điều đáng chú ý là, câu hỏi hiện tại liên quan đến sự đi trước của những ấn tượng hoặc những ý niệm của chúng ta, thì chính là câu hỏi đã tạo ra rất nhiều tiếng vang dưới những thuật ngữ khác, khi người ta tranh luận xem liệu có tồn tại bất kỳ những ý niệm bẩm sinh nào hay không, hoặc liệu tất cả những ý niệm đều bắt nguồn từ cảm giác và sự suy ngẫm hay không. Chúng ta có thể quan sát thấy rằng, để chứng minh những ý niệm về sự mở rộng và màu sắc không phải là bẩm sinh, những nhà triết học không làm gì khác ngoài việc chỉ ra rằng, những giác quan của chúng ta truyền tải chúng. Để chứng minh những ý niệm về đam mê và ham muốn không phải là bẩm sinh, họ quan sát thấy rằng chúng ta có một kinh nghiệm đi trước về những cảm xúc này ở trong chính chúng ta. Bây giờ, nếu chúng ta kiểm tra một cách cẩn thận những lập luận này, chúng ta sẽ thấy rằng chúng không chứng minh điều gì khác ngoài việc những ý niệm được đi trước bởi những tri giác khác sinh động hơn, những tri giác mà từ đó những ý niệm được bắt nguồn, và là những tri giác mà những ý niệm biểu hiện. Tôi hy vọng việc nêu rõ ràng câu hỏi này sẽ loại bỏ tất cả những sự tranh chấp liên quan đến nó, và sẽ làm cho nguyên lý này có nhiều công dụng hơn trong những lập luận của chúng ta, so với việc nó dường như từ trước đến nay đã từng có.[2]

 

T 1.1.1.1n2, SBN 2

[2.]

Ở đây tôi sử dụng những thuật ngữ này, ấn tượng và ý niệm, theo một nghĩa khác với những gì thông thường, và tôi hy vọng người ta sẽ cho phép tôi có được sự tự do này. Có lẽ tôi đúng hơn là đang khôi phục từ ngữ đó, ý niệm, về lại nghĩa gốc của nó, cái nghĩa mà Ông Locke đã làm cho sai lệch, khi ông làm cho nó đại diện cho tất cả những tri giác của chúng ta. Bằng thuật ngữ ấn tượng, tôi không muốn người ta hiểu rằng tôi đang biểu đạt cách thức mà những tri giác sinh động của chúng ta được tạo ra trong tâm hồn, mà chỉ đơn thuần là chính những tri giác đó; những tri giác mà không có một cái tên cụ thể nào trong cả tiếng Anh lẫn bất kỳ ngôn ngữ nào khác mà tôi biết. [3]

 

 


Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ hai

(Jun/2026)

(Còn tiếp...  )

 

http://chuyendaudau.blogspot.com/

http://chuyendaudau.wordpress.com

 



[1] Theo Hume, mọi nội dung xuất hiện trong tâm trí đều là những tri giác (perceptions), và có thể được phân thành hai loại căn bản: ấn tượng và ý niệm.

Ấn tượng là những tri giác đến với tâm trí một cách trực tiếp, mạnh mẽ và sinh động nhất. Chúng bao gồm tất cả những gì ta đang thực sự cảm nhận hoặc trải nghiệm: màu sắc ta đang nhìn thấy, âm thanh ta đang nghe, cơn đau ta đang chịu đựng, niềm vui ta đang cảm thấy, hay sự tức giận đang bùng lên trong lòng. Khi chạm tay vào ngọn lửa và cảm thấy nóng rát, cảm giác nóng rát ấy là một ấn tượng. Khi nhìn một quả táo đỏ, sắc đỏ hiện ra trước mắt cũng là một ấn tượng.

Ý niệm là những hình ảnh mờ nhạt hơn của những ấn tượng khi chúng được tái hiện trong suy nghĩ. Sau khi rời mắt khỏi quả táo, ta vẫn có thể nhớ lại màu đỏ của nó; sau khi cơn đau đã qua, ta vẫn có thể nghĩ về cảm giác đau ấy. Những nội dung này không còn sống động như lúc được trải nghiệm trực tiếp mà chỉ còn tồn tại như những dấu vết trong tâm trí. Chính những dấu vết ấy là ý niệm. Vì vậy, đối với Hume, ý niệm không phải là cái xuất hiện đầu tiên trong nhận thức; nó là bản sao suy yếu của một ấn tượng có trước.

Ngoài sự phân biệt giữa ấn tượng và ý niệm, Hume còn chia mọi tri giác thành đơn giản và phức hợp.

Một tri giác đơn giản là tri giác không thể phân tích thành những thành phần nhỏ hơn. Chẳng hạn, một sắc đỏ riêng biệt, một vị ngọt riêng biệt, hay một mùi hương riêng biệt là những tri giác đơn giản. Ta có thể nhận biết chúng, nhưng không thể tách sắc đỏ ấy thành những sắc đỏ nhỏ hơn, hay vị ngọt ấy thành những vị ngọt đơn giản hơn nữa.

Ngược lại, một tri giác phức hợp là tri giác được cấu thành từ nhiều yếu tố đơn giản kết hợp lại. Chẳng hạn, tri giác về một quả táo không chỉ bao gồm màu đỏ, mà còn có hình dạng tròn, mùi thơm, vị ngọt hoặc chua, cảm giác nhẵn của lớp vỏ. Mỗi yếu tố riêng lẻ là một tri giác đơn giản, nhưng khi chúng được kết hợp trong kinh nghiệm, ta có được tri giác phức hợp về "quả táo".

Từ đó, Hume cho rằng cả ấn tượng lẫn ý niệm đều có thể là đơn giản hoặc phức hợp. Ta có thể có một ấn tượng đơn giản, chẳng hạn như cảm nhận một sắc đỏ riêng biệt; cũng có thể có một ấn tượng phức hợp, chẳng hạn như nhìn thấy toàn bộ một quả táo. Tương tự, ta có thể nhớ lại sắc đỏ ấy dưới dạng một ý niệm đơn giản, hoặc nhớ lại toàn bộ quả táo dưới dạng một ý niệm phức hợp.

Toàn bộ học thuyết nhận thức của Hume khởi đi từ nguyên tắc rằng ý niệm phát sinh từ ấn tượng. Nói cách khác, điều gì chưa từng được trải nghiệm dưới dạng ấn tượng thì cũng không thể xuất hiện trong tâm trí dưới dạng một ý niệm thực sự. Người chưa từng ăn một quả dứa không thể có một ý niệm chính xác về vị của quả dứa; người sinh ra đã mù không thể có ý niệm về màu sắc. Do đó, ấn tượng là nguồn gốc của ý niệm, còn ý niệm là sự sao chép yếu hơn của những gì trước hết đã được cho trong kinh nghiệm.

 

[2] (a)

Trong hệ thống triết học của David Hume về cách con người nhận thức và hiểu thế giới, hai khái niệm trung tâm là ấn tượng và ý niệm. Đây không phải chỉ là hai nhãn gọi khác nhau cho những “nội dung tinh thần”, mà có thể hiểu như hai cấp độ vận hành khác nhau của cùng một đời sống kinh nghiệm trong tâm trí. Trong khuôn khổ thuyết nghiệm, Hume cho rằng mọi nội dung mà con người có trong hoạt động suy nghĩ—từ cảm giác trực tiếp, ký ức, tưởng tượng, cho đến suy luận và những hệ thống triết học trừu tượng—đều có thể truy ngược về một trong hai dạng này. Dù lập trường này về sau được tranh luận lại trong triết học hiện đại, nó vẫn là một trong những cách tiếp cận có ảnh hưởng lớn nhất trong việc giải thích nguồn gốc của nội dung hoạt động suy nghĩ..

Hume không phân biệt ấn tượng và ý niệm bằng việc chúng là những “thực thể” khác nhau trong tâm trí, mà chủ yếu dựa trên cách chúng xuất hiện trong kinh nghiệm. Điểm khác biệt cơ bản nằm ở mức độ mạnh yếu và mức độ rõ ràng của chúng trong hoạt động suy nghĩ. Ấn tượng là những gì con người kinh nghiệm một cách trực tiếp và tức thời. Chúng có tính hiện diện mạnh, rõ, và thường xuất hiện như một cái gì đó áp đặt lên tâm trí mà ta không thể lựa chọn hay kiểm soát trong khoảnh khắc nó xảy ra. Khi ta chạm vào lửa và cảm thấy nóng rát, hay khi nhìn ánh sáng mạnh làm chói mắt, những kinh nghiệm đó không phải là kết quả của suy luận, mà là những nội dung xuất hiện trực tiếp trong kinh nghiệm sống.

Có thể phân biệt trong ấn tượng hai nguồn chính. Một loại phát sinh từ thế giới bên ngoài qua giác quan, như màu sắc, âm thanh, mùi vị, nhiệt độ và hình dạng của sự vật. Loại còn lại phát sinh từ đời sống nội tâm, khi tâm trí phản ứng lại chính những trạng thái của nó, như sợ hãi, hy vọng, tức giận hay ham muốn. Dù có nguồn khác nhau, chúng đều chia sẻ đặc điểm chung là xuất hiện trước, mạnh hơn, và mang tính trực tiếp trong kinh nghiệm.

Ý niệm, ngược lại, là những gì xuất hiện khi ấn tượng không còn hiện diện trực tiếp nữa mà được tái hiện trong ký ức, tưởng tượng hoặc suy luận. Khi ta nhớ lại màu đỏ của một bông hoa đã từng nhìn thấy, hay hình dung lại một cảm giác đã qua, nội dung trong tâm trí không còn giữ nguyên mức độ sống động như lúc kinh nghiệm ban đầu. Nó trở nên mờ nhạt hơn, nhẹ hơn, và ít có sức áp đặt hơn. Theo Hume, ý niệm về cơ bản vẫn tương ứng với ấn tượng về nội dung, nhưng chỉ là một dạng tái hiện suy yếu của nó trong hoạt động suy nghĩ. Chính vì tính chất này, ý niệm có độ linh hoạt cao hơn, nhưng đồng thời cũng dễ bị biến đổi khi được kết hợp trong tưởng tượng, từ đó có thể hình thành những cấu trúc không tồn tại trong kinh nghiệm trực tiếp.

Từ sự phân biệt này, Hume đưa ra một nguyên tắc quan trọng về nguồn gốc của ý niệm: mọi ý niệm đơn giản đều bắt nguồn từ một ấn tượng tương ứng trong kinh nghiệm. Ấn tượng đóng vai trò như nguồn gốc trực tiếp, còn ý niệm là sự tái hiện hoặc sao chép của nguồn đó trong hoạt động suy nghĩ. Nguyên tắc này mang tính phương pháp luận, vì nó đặt ra một cách để kiểm tra nội dung của những khái niệm: nếu không thể truy ngược một ý niệm về một ấn tượng trong kinh nghiệm, thì cần xem xét lại tính rõ ràng hoặc tính có nghĩa của nó.

Hume củng cố nguyên tắc này bằng những quan sát đơn giản về trường hợp thiếu hụt kinh nghiệm. Người mù bẩm sinh không hình thành được ý niệm về màu sắc, và người điếc bẩm sinh không hình thành được ý niệm về âm thanh. Những trường hợp này cho thấy rằng khi không có ấn tượng gốc trong kinh nghiệm, hoạt động suy nghĩ không có dữ liệu để tạo ra ý niệm tương ứng.

Ông cũng thừa nhận một trường hợp đặc biệt, thường được gọi là sắc độ màu xanh bị thiếu. Nếu một người đã quen với nhiều sắc độ liên tục của một màu, nhưng thiếu một sắc độ nằm giữa, thì trong một số điều kiện, người đó có thể tự hình dung ra sắc độ còn thiếu đó khi quan sát toàn bộ dải màu. Tuy nhiên, Hume xem đây là một ngoại lệ rất hiếm, không đủ để làm lung lay nguyên tắc chung, mà chỉ cho thấy rằng trong một số chuỗi kinh nghiệm liên tục, hoạt động suy nghĩ có thể nội suy giữa những điểm đã có sẵn.

Hume tiếp tục phân tích rằng cả ấn tượng và ý niệm đều có thể được chia thành đơn giản và phức hợp. Những yếu tố đơn giản là những nội dung không thể phân tách thêm trong kinh nghiệm, trong khi những yếu tố phức hợp được tạo thành từ sự kết hợp của nhiều yếu tố đơn giản. Hoạt động suy nghĩ của con người có khả năng tự do kết hợp những yếu tố này theo nhiều cách khác nhau, từ đó tạo ra những hình ảnh không tồn tại trong kinh nghiệm trực tiếp, như sinh vật tưởng tượng, những hình ảnh thần thoại, hay những cấu trúc giả định trong hoạt động suy nghĩ trừu tượng. Tuy nhiên, theo Hume, ngay cả những hình ảnh này cũng không hoàn toàn tránh khỏi kinh nghiệm, vì mọi thành phần cấu tạo của chúng đều phải bắt nguồn từ một ấn tượng đã từng xuất hiện. Do đó, tưởng tượng không tạo ra chất liệu hoàn toàn mới, mà chủ yếu là sự tái tổ chức của những gì đã được kinh nghiệm cung cấp.

Từ những phân tích này, Hume đưa ra một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá giá trị của các khái niệm trong triết học. Theo ông, khi gặp một ý niệm mang tính trừu tượng, chúng ta cần thực hiện một quá trình truy nguyên, tức là lần ngược lại để xác định xem ý niệm đó bắt nguồn từ ấn tượng nào trong kinh nghiệm. Nếu không thể chỉ ra được một ấn tượng tương ứng, thì có cơ sở để nghi ngờ rằng ý niệm đó không có nội dung kinh nghiệm rõ ràng, mà chỉ là sự kết hợp thuần túy của các từ ngữ trong ngôn ngữ, không gắn với một kinh nghiệm cụ thể rõ ràng nào.

Từ lập trường đó, Hume tiến hành phê phán một số khái niệm siêu hình truyền thống. Chẳng hạn, khái niệm “thực thể” được cho là nền tảng vô hình đứng sau những thuộc tính của sự vật. Tuy nhiên, khi quay về kinh nghiệm, ta chỉ gặp những thuộc tính riêng lẻ như màu sắc, hình dạng, độ nặng hay mùi vị, mà không có bất kỳ ấn tượng nào về một “nền tảng” tách biệt. Vì vậy, “thực thể” không phải là một đối tượng được kinh nghiệm trực tiếp, mà là cách tâm trí gom những thuộc tính lại thành một đơn vị khái niệm trong hoạt động suy nghĩ.

Tương tự, khi quan sát nội tâm, Hume cho rằng ta không tìm thấy một “cái tôi” cố định nào. Thay vào đó, ta chỉ thấy những trạng thái tâm lý nối tiếp nhau như cảm giác, cảm xúc và ý muốn. Những trạng thái này thay đổi liên tục, không có một thực thể bất biến đứng sau chúng. Từ đó, ông cho rằng cái gọi là bản ngã có thể được hiểu như một chuỗi hoặc tập hợp những trạng thái kinh nghiệm liên tục biến đổi.

Nhìn tổng thể, trong hệ thống của Hume, ấn tượng là nền tảng trực tiếp của kinh nghiệm, mang tính mạnh và rõ ràng, còn ý niệm là sự tái hiện của ấn tượng trong hoạt động suy nghĩ, mang tính yếu hơn nhưng linh hoạt hơn. Toàn bộ cấu trúc này hướng đến một cách hiểu trong đó mọi nội dung hoạt động suy nghĩ. đều phải có thể truy nguyên về kinh nghiệm, qua đó giới hạn phạm vi của những khái niệm trừu tượng không có nền tảng rõ ràng.

(b)

Quan hệ giữa Hume và những quan điểm duy nghiệm đương thời có thể hiểu rõ nhất nếu đặt ông vào đúng “trục tranh luận” của thế kỷ XVII–XVIII, nơi thuyết duy nghiệm (empiricism) đang đối thoại căng thẳng với thuyết duy lý (rationalism). Hume không xuất hiện như một người đứng riêng lẻ, mà là người đẩy lập trường duy nghiệm đến giới hạn cực đoan và nhất quán nhất của nó.

Trước hết, nếu so với John Locke, Hume có thể được xem là người kế thừa trực tiếp nhưng đồng thời cũng là người siết chặt và làm triệt để hóa lập trường của Locke. Locke đã khẳng định rằng tâm trí con người lúc đầu giống như một “tấm bảng trống”, và toàn bộ nội dung của nó đến từ kinh nghiệm. Tuy nhiên, Locke vẫn còn giữ một số yếu tố mang tính trung gian, đặc biệt là tin tưởng rằng trí năng có thể “kết hợp”, “trừu tượng hóa” và hình thành những ý niệm tổng quát khá ổn định. Hume chấp nhận điểm xuất phát này nhưng đi xa hơn: ông cố gắng chỉ ra rằng ngay cả những ý niệm trừu tượng cũng phải được truy ngược về một ấn tượng cụ thể trong kinh nghiệm. Nếu không làm được điều này, ý niệm đó sẽ trở nên đáng nghi ngờ về mặt nội dung.

Nói cách khác, nếu Locke đặt nền móng cho kinh nghiệm luận, thì Hume biến nền móng đó thành một hệ thống kiểm tra nghiêm ngặt hơn về giới hạn của suy nghĩ.

Nếu so với George Berkeley, một nhà duy nghiệm khác cùng thời, sự khác biệt lại nằm ở hướng phát triển của kinh nghiệm. Berkeley đồng ý rằng mọi nội dung nhận thức đều xuất phát từ kinh nghiệm, nhưng ông đi theo hướng duy tâm: thế giới vật chất, theo ông, không tồn tại độc lập ngoài những ý niệm và tâm trí. Hume không đi theo bước này. Ông giữ thái độ thận trọng hơn: thay vì khẳng định bản thể của thế giới là tinh thần, ông chủ yếu dừng lại ở phân tích cách nội dung xuất hiện trong kinh nghiệm. Có thể nói, Berkeley “siêu hình hóa” kinh nghiệm, còn Hume “giải cấu trúc” kinh nghiệm thành những đơn vị nhỏ hơn mà không gán thêm một nền tảng bản thể học nào vượt quá điều có thể quan sát.

So với Thomas Hobbes, người thường được xem là tiền thân của duy nghiệm cơ giới, Hume cũng có điểm nối tiếp nhưng khác hướng. Hobbes đã cố gắng giải thích hoạt động suy nghĩ. như một dạng vận động cơ học của vật chất, trong đó ý niệm là kết quả của chuyển động trong não bộ. Hume không đi theo hướng vật lý hóa này. Ông gần như loại bỏ câu hỏi “cơ chế vật chất” và thay vào đó tập trung hoàn toàn vào cấp độ kinh nghiệm chủ quan: cái gì xuất hiện trong tâm trí, và nó xuất hiện theo quan hệ nào. Vì vậy, nếu Hobbes là duy nghiệm mang màu sắc cơ học, thì Hume là duy nghiệm mang màu sắc phân tích hiện tượng.

Một điểm quan trọng hơn là quan hệ giữa Hume và truyền thống Newton trong triết học tự nhiên. Trong khi Newton tìm cách mô tả những quy luật của thế giới vật lý dựa trên quan sát và quy nạp, Hume áp dụng một tinh thần tương tự vào chính hoạt động hoạt động suy nghĩ.: ông tìm cách xác định “quy luật vận hành” của ý niệm dựa trên kinh nghiệm. Tuy nhiên, ông cũng đi xa hơn Newton ở chỗ đặt câu hỏi về chính cơ sở của suy luận quy nạp—tức là liệu từ kinh nghiệm quá khứ có thể hợp lý hóa việc dự đoán tương lai hay không. Đây là nơi Hume bắt đầu vượt ra khỏi khuôn khổ duy nghiệm đơn thuần và mở ra vấn đề hoài nghi luận hiện đại.

Nếu nhìn tổng thể, có thể nói Hume đứng ở điểm kết tinh của truyền thống duy nghiệm trước đó. Ông:

  • kế thừa từ Locke ý tưởng rằng mọi nội dung tinh thần đều xuất phát từ kinh nghiệm,
  • đồng thời từ chối việc mở rộng kinh nghiệm thành những cấu trúc siêu hình như Berkeley,
  • và tách mình khỏi cách giải thích cơ học thuần vật lý của Hobbes.

Nhưng quan trọng hơn cả, Hume không chỉ lặp lại những lập trường này. Ông biến thuyết duy nghiệm thành một hệ thống có khả năng tự xem xét lại chính mình, trong đó trọng tâm không còn dừng ở việc truy vấn thế giới như một thực tại bên ngoài, mà chuyển dần sang việc khảo sát đời sống nội tâm của con người. Thay vì chỉ đặt câu hỏi “chúng ta biết gì từ kinh nghiệm?”, vấn đề được đẩy sâu hơn thành “việc biết này diễn ra như thế nào trong tâm trí, và nó bị giới hạn ra sao bởi cấu trúc của kinh nghiệm”. Theo hướng này, cái gọi là “thế giới bên ngoài” không còn được tiếp cận như một thực tại độc lập cần giải thích theo nghĩa bản thể, mà được quy về những gì xuất hiện trong nội tâm thông qua kinh nghiệm cảm giác và kinh nghiệm cảm xúc. Như vậy, triết học của Hume có thể được hiểu như một sự chuyển dịch từ việc giải thích thế giới như một cái gì tồn tại tự nó, sang việc phân tích cách thế giới được hình thành như một chuỗi hiện tượng trong tâm trí con người. Chính bước chuyển này vừa khiến ông trở thành điểm kết thúc của truyền thống kinh nghiệm luận cổ điển, vừa mở ra nền tảng cho những phản ứng triết học sau đó, đặc biệt là Kant, người tìm cách trả lời những giới hạn mà Hume đã đặt ra cho chính hoạt động nhận thức

[3] Trong chú thích cuối chương đầu (T 1.1.1.1n2, SBN 2), David Hume trực tiếp làm rõ một điểm khác biệt quan trọng với John Locke liên quan đến cách dùng thuật ngữ “ý niệm”. Hume cho rằng ông đang sử dụng lại từ “ý niệm” theo một nghĩa chính xác hơn, hoặc nói đúng hơn là đưa nó trở về nghĩa gốc, thay vì để nó bị mở rộng và trở nên mơ hồ như trong cách dùng của Locke. Theo Hume, Locke đã sử dụng “ý niệm” như một thuật ngữ bao trùm toàn bộ mọi trạng thái xuất hiện trong tâm trí con người, từ cảm giác trực tiếp như đau đớn, màu sắc, âm thanh, cho đến ký ức, suy nghĩ hay tưởng tượng. Cách dùng này, theo Hume, làm mất đi sự phân biệt quan trọng giữa những gì xuất hiện một cách trực tiếp, sống động trong kinh nghiệm, và những gì chỉ là hình ảnh suy yếu của các kinh nghiệm đó trong hoạt động suy nghĩ.

Để khắc phục sự mơ hồ này, Hume đề xuất một sự chỉnh lý thuật ngữ mang tính quyết định. Ông không còn dùng “ý niệm” như một khái niệm chung cho mọi nội dung tinh thần, mà thay vào đó đưa ra thuật ngữ rộng hơn là “tri giác”, rồi chia toàn bộ đời sống tinh thần thành hai loại rõ ràng: một bên là “ấn tượng”, tức những gì xuất hiện trực tiếp, mạnh mẽ và sống động trong kinh nghiệm; và một bên là “ý niệm”, tức những hình ảnh yếu hơn, mờ hơn, được hình thành khi tâm trí hồi tưởng hoặc suy nghĩ lại về các ấn tượng đó. Như vậy, trong khi Locke gom tất cả vào một phạm trù chung, Hume cố gắng thiết lập một ranh giới phân tích rõ ràng hơn giữa kinh nghiệm trực tiếp và sự tái hiện trong suy nghĩ.

Từ sự chỉnh lý này, Hume cũng tái định nghĩa lại toàn bộ cuộc tranh luận về “ý niệm bẩm sinh”, vốn là một vấn đề trung tâm trong truyền thống duy lý trước đó. Các triết gia như Descartes hay Leibniz cho rằng có những ý niệm tồn tại sẵn trong tâm trí con người từ trước kinh nghiệm, chẳng hạn như ý niệm về Thượng đế, về chân lý toán học hay các nguyên lý đạo đức. Locke đã phản bác quan điểm này bằng cách nhấn mạnh rằng tâm trí con người ban đầu như một “tờ giấy trắng” và mọi nội dung đều đến từ kinh nghiệm. Tuy nhiên, Hume cho rằng toàn bộ tranh luận này trở nên rối rắm một phần vì cách dùng thuật ngữ chưa rõ ràng.

Dựa trên phân biệt giữa ấn tượng và ý niệm, Hume tái cấu trúc vấn đề theo hướng đơn giản hơn. Nếu “bẩm sinh” được hiểu là cái gì đó không được sao chép từ kinh nghiệm trước đó, thì ý niệm không thể được xem là bẩm sinh, vì mọi ý niệm đều là bản sao hoặc sự tái hiện của một ấn tượng tương ứng. Ngược lại, những gì xuất hiện trực tiếp trong kinh nghiệm—tức các ấn tượng—có thể được xem là cái “nguyên sơ” trong đời sống tâm trí, theo nghĩa chúng không phải là kết quả của sự sao chép từ một nội dung tinh thần khác. Theo cách này, Hume không cần giả định sự tồn tại của các ý niệm bẩm sinh, cũng không cần mở rộng khái niệm như Locke, mà chỉ cần phân tích cấu trúc kinh nghiệm là đủ để làm rõ vấn đề.

Từ đó, Hume cho rằng nhiều tranh luận kéo dài trong triết học thực chất bắt nguồn từ sự nhập nhằng trong ngôn ngữ. Nếu phân biệt rõ giữa ấn tượng và ý niệm, và hiểu rằng mọi ý niệm đều phải có nguồn gốc từ một ấn tượng trong kinh nghiệm, thì toàn bộ vấn đề về ý niệm bẩm sinh trở nên không còn cần thiết. Nói cách khác, thay vì tranh luận về việc con người có sẵn ý niệm hay không, ta chỉ cần quan sát cách các nội dung tinh thần thực sự xuất hiện trong kinh nghiệm: cái gì đến trực tiếp thì là ấn tượng, cái gì là sự tái hiện thì là ý niệm. Chính sự phân đôi này giúp Hume vừa chỉnh lại cách dùng thuật ngữ của Locke, vừa tái định hình toàn bộ vấn đề tri thức luận theo hướng chặt chẽ và gắn với kinh nghiệm hơn.