Wednesday, January 30, 2013

Nietzsche - Về Lai lịch của Đạo đức (19)

Về Lai lịch của Đạo đức

(On the Genealogy of Morality
Zur Genealogie der Moral)
Friedrich Nietzsche
(tiếp theo ...)






Luận văn Thứ Ba
Những lý tưởng khổ hạnh có nghĩa là gì?


19.
Những phương pháp của nhà tu khổ hạnh đem xử dụng mà chúng ta đã vừa biết – làm cùn nhụt toàn bộ sự tỉnh thức của đời sống, hoạt động máy móc, niềm vui nhỏ nhặt, trên tất cả là niềm vui của “hãy thương yêu hàng xóm của ngươi”, tổ chức bầy đoàn, sự tỉnh thức về tình cảm về quyền lực của cộng đồng, theo đến hậu quả là sự bất mãn của cá nhân với chính nó thì bị dìm chìm bởi thích thú của người ấy trước sự thịnh vượng của cộng đồng, – những điều này, đem đo với những điều kiện hiện đại, là những phương tiện ngây thơ của hắn ta trong cuộc chiến chống lại sự bất mãn: bây giờ chúng ta hãy quay sang điều thú vị hơn, những phương tiện (của sự) “có tội”. Chúng tất cả đều liên hệ với một điều: dăm loại nào đó của một sự quá độ của tình cảm, – chúng được dùng như thuốc gây mê công hiệu nhất cho đau đớn-kéo-dài, tê liệt đến tật nguyền, buồn nản đến tàn lụi; đó là lý do tại sao tài khéo thần kỳ của những thày chăn chiên đã thực tế không cạn kiệt trong suy nghĩ ra những ẩn ý của một câu hỏi này: “cách nào người ta có thể tạo được sự quá độ của tình cảm?”. . .

Friday, January 4, 2013

Nietzsche - Về Lai lịch của Đạo đức (18)


Về Lai lịch của Đạo đức

(On the Genealogy of Morality
Zur Genealogie der Moral)
Friedrich Nietzsche



Luận văn Thứ Ba
Những lý tưởng khổ hạnh có nghĩa là gì?

15.
Nếu bạn đã hiểu thấu trọn vẹn – và ngay ở chỗ này, tôi đòi hỏi sự lĩnh hội sâu xa, sự nhận thức sâu xa –rằng tại sao tuyệt đối không thể là công việc của kẻ khỏe mạnh để trông nom người bệnh hoạn, để làm người bệnh hoạn thành khỏe mạnh, vậy cũng đã thấu hiểu được một cần thiết khác sau đó, – sự cẩn thiết của những y sĩ và y tá, những người bản thân họ là bệnh hoạn: và bây giờ chúng ta có được, và nắm bằng cả hai tay, ý nghĩa của nhà tu khổ hạnh.

Nhà tu khổ hạnh, trong mắt chúng ta, phải được kể như người cứu tinh tiền định, người chăn bầy cừu và người bảo vệ đàn gia súc bệnh hoạn: chỉ như thế, sau đó chúng ta mới thực hiểu được sứ mệnh lịch sử lớn lao vô cùng của ông ta. Thống trị trên khổ đau là lĩnh vực của ông, bản năng của ông hướng ông đến đó, và kỹ năng đặc biệt của ông, đứng làm chủ, và cái lá nhãn của hạnh phúc, đã có trong đó. Ông phải chính mình bị bệnh, ông thực sự phải là một người bà con gần gũi của người bệnh và người nghèo tàn tật, ngõ hầu hiểu họ, – ngõ hầu đi đến một sự hiểu biết với họ; nhưng ông cũng phải mạnh mẽ nữa, làm chủ chính mình nhiều hơn so với những người khác, ý dục quyền lực của ông thực sự không bị tổn thương, như thế để ông có được tin cậy và sợ hãi của những người bệnh, và có thể là người chống đỡ, bảo vệ, nương tựa, cưỡng bách, áp dụng kỷ luật, bạo chúa, Gót, tất cả cho họ. Ông phải bảo vệ bầy gia súc của ông, chống ai? Chống lại kẻ lành mạnh, không phải nghi ngờ gì, nhưng cũng còn chống lại sự ghen tị của người lành mạnh; ông phải là đối thủ tự nhiên, và kẻ khinh miệt của tất cả sự khỏe mạnh thô sống, bão táp, không kiềm chế, cứng khó, dữ dội của kẻ săn mồi, và sự hùng mạnh. Thày chăn chiên là hình thức đầu tiên của con thú  thanh cảnh hơn vốn nó khinh thường dễ dàng hơn hơn nó ghét. Ông sẽ không tránh khỏi chiến tranh với những con thú săn mồi, một chiến tranh của xảo quyệt tinh ranh (của ‘tinh thần’) đúng hơn là của vũ lực, là điều đồng ý không còn phải bàn, – thêm nữa, nếu cần thiết, ông sẽ thực tế phải làm chính mình thành một loài thú săn mồi mới, hoặc ít nhất là biểu hiện nó – một sự tàn bạo thú vật mới, trong đó con gấu bắc cực, uyển chuyển nhanh nhẹn, con báo đương rình mồi lạnh lẽo, và không phải là ít từ con cáo, xem dường được kết hợp trong một thống nhất cũng hấp dẫn như đáng sợ. Nếu nhu cầu ép buộc, thậm chí ông sẽ có thể trên bước trong số chính những loại con thú săn mồi khác, về tất cả những khả năng với sự chịu đựng nghiêm trọng, tôn kính, khôn ngoan, lạnh lẽo, dối trá cao đẳng, như sứ giả và kẻ phát ngôn của những quyền năng huyền bí hơn, đã nhất định để gieo đau khổ, chia rẽ và tự mâu thuẫn trên nền đất này ở bất cứ nơi nào ông có thể làm được, và chỉ quá chắc chắn về tài khéo của ông với tư cách là chủ nhân của khổ đau bất cứ lúc nào. Ông mang theo những loại dầu thơm để xức và những món thuốc mỡ để xoa với ông [1], dĩ nhiên, nhưng trước tiên ông phải gây ra vết thương để ông có thể là thày thuốc; và trong khi ông làm dịu cơn đau do vết thương gây ra, đồng thời ông tẩm thuốc độc vào vết thương  – vì đó là những gì ông được huấn luyện để làm khéo nhất, nhà ảo thuật này và kẻ dạy cho thuần phục những con thú săn mồi, người mà chỉ sự hiện diện không thôi cũng đủ nhất thiết làm bệnh hoạn tất cả mọi thứ khỏe mạnh, và làm thuần hóa tất cả mọi thứ bệnh hoạn.

Friday, December 28, 2012

Nietzsche - Về Lai lịch của Đạo đức (17)

Về Lai lịch của Đạo đức
(On the Genealogy of Morality
Zur Genealogie der Moral)
Friedrich Nietzsche







Luận văn Thứ Ba
Những lý tưởng khổ hạnh có nghĩa là gì?

13.
Nhưng hãy quay trở lại vấn đề của chúng ta. Một tự mâu thuẫn loại như thế xem dường để xảy ra trong khổ hạnh, “đời sống chống lại sự sống”, – quá rõ ràng như thế – nhìn từ quan điểm sinh lý học, không chỉ quan điểm tâm lý học, thì chỉ đơn thuần vô nghĩa. Nó chỉ có thể là mặt ngoài, nó phải là một kiểu của sự biểu hiện tạm thời, một giải thích, công thức, điều chỉnh, một sự hiểu lầm tâm lý của một-gì đó, bản chất thực sự của nó đã quá xa để có thể nhận hiểu được, đã quá xa với tư cách có khả năng để được mệnh danh như nó là trong tự thân, – chỉ là một từ không hơn không kém, đã chêm vào lỗ hổng xưa cũ trong  kiến thức con người. Trong tương phản với điều này, hãy cho phép tôi trình bày thực trạng của sự việc: lý tưởng khổ hạnh nảy ra từ những bản năng bảo vệ và chữa trị của một đời sống thoái hóa, nó dùng mọi phương tiện để duy trì chính nó, và tranh đấu cho hiện hữu của nó; nó trỏ cho thấy một phần của ngăn cấm sinh lý và sự kiệt sức, chống lại chúng là những bản năng sâu xa nhất của sự sống, vốn vẫn còn nguyên vẹn, tiếp tục tranh đấu với những phương pháp mới và những phát minh mới. Lý tưởng khổ hạnh là một phương pháp loại như thế: do đó tình trạng thì đối ngược đúng với những gì những người tôn thờ lý tưởng này đã tưởng tượng, – trong nó và qua nó, sự sống vật lộn với cái chết và chống lại cái chết, lý tưởng khổ hạnh là một trò dối gạt cho sự bảo tồn sự sống.


Wednesday, December 26, 2012

Daisetz T. Suzuki - Cơ bản của Triết học đạo Phật (04)


Cơ bản của Triết học đạo Phật

The Basis of Buddhist Philosophy
Daisetz Teitaro Suzuki





VII
Sau những bàn luận dài dòng này, giờ là lúc quay lại chủ đề ban đầu, và xem chúng ta liệu một lần nữa có thể đưa vào phương pháp tiếp cận chủ quan về kinh nghiệm giác ngộ của đức Phật. Kinh nghiệm không thể chỉ đơn thuần được gán định như một loại cảm xúc và như vậy làm nó mất đi, nếu khi sự gán định này cạn kiệt hết tất cả những nội dung của giác ngộ. Vì, như tôi hiểu nó, giác ngộ không thể nói là hoàn toàn thiếu vắng bất kỳ một yếu tố nào của trí lực, chúng đem cho một khai mở chắc chắn với một thảo luận về ngôn ngữ và trí thức. Cảm xúc của giác ngộ có một gì đó sâu xa nền tảng và đem cho một người một cảm giác của chắc chắn tuyệt đối và cuối cùng, vốn thiếu vắng trong loại cảm xúc thông thường chúng ta nói chung vẫn có. Một cảm xúc thỉnh thoảng có thể đem cho một người một cảm thức về sự phấn khởi và lòng tự tin, nhưng điều này, sau một thời gian không lâu, sẽ mất, và có thể không để lại tác động lâu dài nào trên bản thân người kinh nghiệm. Cảm xúc giác ngộ, về mặt khác, tác động đến toàn bộ nhân cách, ảnh hưởng tới thái độ của người ấy với đời sống và thế giới, không chỉ về mặt đạo đức và tinh thần, nhưng trong diễn giải siêu hình của người ấy về hiện sinh như một toàn thể. Kinh nghiệm của đức Phật đã không phải chỉ là một vấn đề của cảm xúc di chuyển trên ngoại vi của ý thức, nhưng là một gì đó đã thức tỉnh trong những vực sâu nhất của một con người. Chỉ trong ý hướng này là lời phát biểu của ngài đã ghi trong Luật tạngKinh Trung Bộ [1] và những nơi khác mới nhận hiểu được. Trong bài kệ đã trích dẫn ở trên từ Kinh Pháp Cú (câu 153, 154), một gì đó đáng ghi nhận, tương tự như gāthā  dưới đây, nhưng khía cạnh tích cực và năng động đưa ra mạnh mẽ và rõ ràng hơn trong phần sau đây: [2]


Ta đã chinh phục và ta biết tất cả,  (p. 68)
Ta đã hoàn toàn giác ngộ bởi chính ta và không có ai là thày.
Không có một ai là tương tự như ta trong toàn thế giới nơi đâu có nhiều thần linh.
Ta là một người thực sự có giá trị,
Ta là vị thày tối cao nhất.
Ta là người duy nhất hoàn toàn giác ngộ.
Ta đã an tĩnh.
Ta bây giờ trong Nirvana. [3]

Monday, December 24, 2012

Daisetz T. Suzuki - Cơ bản của Triết học đạo Phật (03)



Cơ bản của Triết học đạo Phật

The Basis of Buddhist Philosophy
Daisetz Teitaro Suzuki






VI
Trước khi tôi đi đến một lời nói khác đã được cho là của đức Phật ở thời điểm có kinh nghiệm giác ngộ của ngài, tôi không thể kiềm chế, không xem xét vấn đề thời gian. Điều này cũng liên hệ chặt chẽ với ngôn ngữ học, và lối luận giải theo Eckhart về huyền thoại sáng-thế. Như Augustine thú nhận, chúng ta cũng có thể nói rằng Gót “chế nhạo con người” khi chúng ta chạm trán với câu hỏi về thời gian. Nó là một trong những đối tượng của ngôn từ chúng ta phải “quen thuộc và rành rẽ” cầm lấy đem dùng. Và chúng ta hiểu khi chúng ta nói về nó, chúng ta cũng hiểu khi chúng ta nghe người khác nói đến nó”.

Vậy thế, thời gian là gì? Nếu không ai hỏi tôi, tôi biết; nếu tôi mong giải thích nó cho người hỏi, tôi không biết; thế nhưng tôi mạnh dạn nói rằng nếu không có gì đã qua đi, thời gian quá khứ đã không có, và nếu như đã không có gì sắp đến, thời gian sắp đến đã là không; và nếu không-gì đã có, thời gian hiện tại tất là không. Vậy sau đó, hai thời gian này, quá khứ và sắp đến, làm thế nào chúng nhìn thấy quá khứ bây giờ thì mất, và sắp đến thì vẫn chưa? Nhưng hiện tại, phải chăng nó sẽ luôn luôn hiện tại, và không bao giờ lui về trong thời quá khứ, quả thật nó sẽ không là thời gian, nhưng vĩnh cửu. Nếu thời gian hiện tại, (nếu nó không là thời gian) chỉ đến thành hiện hữu, vì nó đã (trôi) qua về trong thời quá khứ, làm sao chúng ta có thể nói rằng – hoặc đây là, vốn nguyên nhân hiện hữu của nó là, mà nó sẽ không là; vậy thế, nói cụ thể, rằng chúng ta không thể thật sự nói rằng thời gian là (gì), trừ ra vì nó thì nghiêng sang là không-là ? [1]