Sunday, September 13, 2026

Wittgenstein - Tractatus Logico-Philosophicus

Tractatus Logico-Philosophicus

Luận thuyết Lôgic–Triết học

 

Ludwig Wittgenstein

 






Lời người dịch bản tiếng Viêt:

 

1.

Tôi tạm dịch Tractatus Logico-Philosophicus như một phụ đính cho phần viết về Wittgenstein. Vì trong phần đó có những nhận định trực tiếp về Wittgenstein, tôi muốn người đọc có dịp đọc thêm chính tác phẩm đang được bàn đến. Bản dịch này không nhằm đi sâu hay giải thích đầy đủ những vấn đề của Tractatus, mà chỉ giúp người đọc có một cái nhìn khái quát về nội dung tác phẩm và, ít nhất phần nào, đọc trực tiếp Wittgenstein trước khi đi vào những phân tích chi tiết hơn.

 

[Ở cuối Những Vấn đề của Triết học, Russell có một lời khuyên mà tôi thấy thích hợp với việc đọc Wittgenstein. Ông viết rằng sinh viên muốn có một kiến thức triết học căn bản sẽ thấy “dễ dàng hơn, và ích lợi hơn” nếu đọc thẳng một vài công trình của những triết gia lớn, thay vì cố rút ra một cái nhìn bao quát từ những sách loại sổ tay, hướng dẫn. Tôi tạm dịch Tractatus cũng theo lời khuyên ấy, để người đọc có thể đọc trực tiếp tác phẩm của Wittgenstein, thay vì chỉ đọc những gì người khác viết về ông.][1]

 

Về bản dịch: Bản dịch này dựa trên bản tiếng Anh Tractatus Logico-Philosophicus của F. P. Ramsey, do C. K. Ogden biên tập. Bản điện tử do Ludwig Wittgenstein Project phát hành và dựa trên bản Tractatus Logico-Philosophicus của Ludwig Wittgenstein do Project Gutenberg cung cấp. Tôi dùng bản tiếng Anh này cho bản dịch tiếng Việt.

 

2.

Về tựa đề luận văn nay in thành sách này: Tôi dịch Tractatus là “luận thuyết” vì từ này chỉ một công trình triết học được viết để khảo sát và trình bày có hệ thống một vấn đề. Trong Latin, tractatus mang nghĩa khảo luận, chuyên luận, luận thuyết; còn trong tựa đề tiếng Đức Logisch-philosophische Abhandlung, Wittgenstein dùng Abhandlung cũng theo nghĩa này.

 

“Luận văn” tuy có thể dịch treatise trong một số trường hợp, nhưng trong tiếng Việt hiện nay thường gợi đến một công trình học thuật được viết để trình bày và bảo vệ một luận đề, nhất là luận văn thạc sĩ hay luận án tiến sĩ. Cách dịch này vì thế dễ khiến người đọc hiểu Tractatus trước hết như một công trình học vị, trong khi bản thân tác phẩm là một luận thuyết triết học độc lập. Việc Wittgenstein dùng Tractatus làm luận án tiến sĩ tại Cambridge năm 1929 là một sự kiện về sau, không phải ý nghĩa của tựa đề.

Dịch “luận thuyết” cũng phù hợp với truyền thống triết học: Spinoza từng đặt tên Tractatus Theologico-PoliticusTractatus Politicus cho những công trình của ông. Vì vậy, Tractatus Logico-Philosophicus, ở đây tôi dịch là Luận thuyết Lôgic–Triết học, thay vì chính tôi – trước đây – khoảng 15 năm trước — đã dịch là Luận quyết về Triết học Lôgích! khi đó đã bị sự quả quyết trong những mệnh đề của tác giả thu hút!)

 

3.

Chép lại những gì tôi viết về tác phẩm này – 15 năm trước   [2]

 [ ….Mục tiêu của Wittgenstein là để giải quyết những vấn đề của triết học, và ông toan tính làm như vậy bằng cách trình bày ngôn ngữ hoạt động như thế nào. Những-gì là cơ bản của Tractatus là ý tưởng rằng ngôn ngữ có một cấu trúc thuận lý tiềm ẩn, nên một sự hiểu biết về nó sẽ cho thấy giới hạn về những-gì có thể nói được rõ ràng và có ý nghĩa. Sự quan trọng của điều này, trong quan điểm của Wittgenstein, là những-gì có thể nói cũng là một với những-gì có thể nghĩ, thế nên một khi người ta nắm được bản chất của ngôn ngữ, và do đó đồng nghĩa với biết được những-gì có thể suy nghĩ được cho rõ ràng và có nghĩa lý, người ấy đã cho thấy giới hạn mà vượt quá khỏi nó, ngôn ngữ và tư tưởng trở thành phi-nghĩa. Ông đặt điểm này ở câu đầu và kết thúc của Tractatus , giờ đây thành hai khẳng định nổi tiếng:

3. Hình ảnh hợp lôgích của những sự kiện là tư tưởng ….. 7. Chốn nào người ta không thể nói, chốn ấy người ta phải im lặng.

(đúng không? chắc không? nếu không – tất cả Tractatus đổ).

……

Những mệnh đề trong Tractatus giống những định lý, hệ luận toán học hơn là văn triết học thông thường — bảng lôgích đúng-sai mà chúng ta quen dùng trong khoa học máy tính hay toán rời rạc cũng bắt nguồn phần nào từ đây. (Đừng đọc hay dịch Tractatus như đọc Đạo Đức Kinh — đừng biến những mệnh đề của nó thành sấm truyền, kẻo chúng dễ hóa thành ảo ngôn, ẩn ngôn, hay dụ ngôn.) ……  Hiểu và thăm dò được những dạng thức ấy, chúng ta hy vọng hiểu được ý nghĩa triết học của bản chất ngôn ngữ, rồi từ đó hiểu chính tư tưởng con người.]

“đúng không? chắc không? nếu không – tất cả Tractatus đổ.” Tôi vẫn giữ kết luận này — nhưng nói cho khiêm tốn hơn: điều tôi thực sự muốn nói là những gì từng khiến người ta trầm trồ hồi đầu thế kỷ trước, ngày nay phần lớn đã bị vượt qua. Ngay cả thuyết hình ảnh của thực tại — trụ cột chính của Tractatus — về sau chính Wittgenstein cũng tự từ bỏ, trong Philosophical Investigations.

Tôi dịch bản văn này chủ yếu như một tư liệu để tham khảo — không hẳn vì giá trị nội dung của nó, khác với những bản dịch khác của tôi.

 

Lê Don Bàn

Sep/2025

 

LỜI GIỚI THIỆU

 

(của) Bertrand Russell

 

Tractatus Logico-Philosophicus của ông Wittgenstein, dù có đưa ra chân lý tối hậu về những vấn đề mà nó bàn đến hay không, chắc chắn vẫn đáng được xem là một biến cố quan trọng trong thế giới triết học, xét về bề rộng, phạm vi và chiều sâu của nó. Khởi đi từ những nguyên lý của phép ký hiệu và những quan hệ tất yếu giữa từ ngữ với sự vật trong bất kỳ ngôn ngữ nào, cuốn sách áp dụng kết quả của khảo sát này vào nhiều lĩnh vực khác nhau của triết học truyền thống, và trong mỗi trường hợp đều cho thấy triết học truyền thống cùng những lời giải truyền thống nảy sinh từ sự không hiểu biết về những nguyên lý của phép ký hiệu và từ việc sử dụng ngôn ngữ sai cách.

 

Trước hết, ông khảo sát cấu trúc lôgíc của những mệnh đề và bản chất của suy luận lôgíc. Từ đó, chúng ta lần lượt đi đến Nhận thức học, Những nguyên lý của Vật lý học, Đạo đức học, và cuối cùng là Cái thần bí.

 

Để hiểu cuốn sách của ông Wittgenstein, cần nhận ra vấn đề mà ông quan tâm là gì. Trong phần lý thuyết của mình liên quan đến phép ký hiệu, ông quan tâm đến những điều kiện mà một ngôn ngữ hoàn toàn lôgíc phải thỏa mãn. Có nhiều vấn đề liên quan đến ngôn ngữ. Trước hết là vấn đề về những gì thực sự diễn ra trong não thức của chúng ta khi chúng ta sử dụng ngôn ngữ với ý định nói một điều gì đó; vấn đề này thuộc về tâm lý học. Thứ hai là vấn đề về quan hệ giữa những tư tưởng, từ ngữ hoặc câu với những gì chúng quy chiếu đến hoặc biểu đạt; vấn đề này thuộc về nhận thức học. Thứ ba là vấn đề sử dụng câu sao cho chúng truyền đạt chân lý thay vì giả dối; vấn đề này thuộc về những ngành khoa học chuyên nghiên cứu đối tượng được nói đến trong những câu ấy. Thứ tư là câu hỏi: một sự kiện, chẳng hạn một câu, phải có quan hệ như thế nào với một sự kiện khác để có thể làm ký hiệu cho sự kiện kia? Đây là một câu hỏi lôgíc, và chính là câu hỏi mà ông Wittgenstein quan tâm.

 

Ông quan tâm đến những điều kiện của phép ký hiệu chính xác, tức phép ký hiệu trong đó một câu “có nghĩa” một nội dung hoàn toàn xác định. Trong thực tế, ngôn ngữ luôn ít nhiều mơ hồ, nên những gì chúng ta khẳng định không bao giờ hoàn toàn chính xác.

 

Vì vậy, lôgíc có hai vấn đề phải giải quyết liên quan đến phép ký hiệu: (1) những điều kiện để những tổ hợp ký hiệu có nghĩa chứ không phải vô nghĩa; (2) những điều kiện để ký hiệu hoặc tổ hợp ký hiệu có một nghĩa hay một quy chiếu duy nhất. Một ngôn ngữ hoàn toàn lôgíc có những quy tắc cú pháp ngăn không cho những câu vô nghĩa xuất hiện, và có những ký hiệu đơn lẻ luôn mang một nghĩa xác định và duy nhất.

 

Ông Wittgenstein quan tâm đến những điều kiện của một ngôn ngữ hoàn toàn lôgíc — không phải vì bất kỳ ngôn ngữ nào cũng hoàn toàn lôgíc, hay vì chúng ta tin rằng ngay lúc này chúng ta có khả năng xây dựng một ngôn ngữ hoàn toàn lôgíc, mà vì chức năng toàn diện của ngôn ngữ là có nghĩa, và ngôn ngữ chỉ thực hiện chức năng ấy theo mức độ nó tiến gần đến ngôn ngữ lý tưởng mà chúng ta giả định.

 

Công việc thiết yếu của ngôn ngữ là khẳng định hoặc phủ định những sự kiện. Khi đã có cú pháp của ngôn ngữ, nghĩa của một câu được xác định ngay khi chúng ta biết nghĩa của những từ cấu thành nó. Tuy nhiên, để một câu nhất định khẳng định một sự kiện nhất định, dù ngôn ngữ được cấu tạo theo cách nào, giữa cấu trúc của câu và cấu trúc của sự kiện phải có một yếu tố chung. Đây có lẽ là luận đề nền tảng nhất trong lý thuyết của ông Wittgenstein.

 

Ông cho rằng yếu tố phải chung giữa câu và sự kiện ấy lại không thể được nói ra bằng ngôn ngữ. Theo cách nói của ông, nó chỉ có thể được chỉ ra, chứ không thể được nói ra, bởi bất cứ gì chúng ta nói cũng vẫn phải có cùng cấu trúc ấy.

 

Điều kiện đầu tiên của một ngôn ngữ lý tưởng là phải có một tên cho mỗi cái đơn giản, và không bao giờ dùng cùng một tên cho hai cái đơn giản khác nhau. Một tên là một ký hiệu đơn giản theo nghĩa nó không có những bộ phận vốn tự chúng là những ký hiệu. Trong một ngôn ngữ hoàn toàn lôgíc, bất cứ gì không đơn giản đều không có một ký hiệu đơn giản. Ký hiệu cho một toàn thể sẽ là một “phức hợp”, chứa những ký hiệu cho những bộ phận của nó.

 

(Khi nói đến một “phức hợp”, như chúng ta sẽ thấy sau đây, chúng ta đã vi phạm những quy tắc của ngữ pháp triết học, nhưng lúc đầu không thể tránh được điều này. “Phần lớn những mệnh đề và câu hỏi đã được viết về những vấn đề triết học không phải là sai mà là vô nghĩa. Vì vậy, chúng ta không thể trả lời những câu hỏi thuộc loại này, mà chỉ có thể chỉ ra tính vô nghĩa của chúng. Phần lớn những câu hỏi và mệnh đề của các triết gia nảy sinh từ việc chúng ta không hiểu lôgíc của ngôn ngữ mình. Chúng cùng thuộc một loại với câu hỏi liệu Thiện có đồng nhất ít hay nhiều hơn Đẹp” (4.003).)

 

Những gì là phức hợp trong thế giới là những sự kiện. Những sự kiện không được cấu thành từ những sự kiện khác là những gì ông Wittgenstein gọi là Sachverhalte, trong khi một sự kiện có thể gồm hai hoặc nhiều sự kiện là một Tatsache: chẳng hạn, “Socrates khôn ngoan” vừa là một Sachverhalt, vừa là một Tatsache, trong khi “Socrates khôn ngoan và Plato là học trò của ông” là một Tatsache nhưng không phải là một Sachverhalt.

 

Ông so sánh biểu đạt ngôn ngữ với phép chiếu trong hình học. Một hình hình học có thể được chiếu theo nhiều cách: mỗi cách tương ứng với một ngôn ngữ khác nhau, nhưng những tính chất xạ ảnh của hình ban đầu vẫn không thay đổi, bất kể chúng ta chọn cách nào. Những tính chất xạ ảnh này tương ứng với yếu tố mà theo lý thuyết của ông, mệnh đề và sự kiện phải có chung với nhau nếu mệnh đề muốn khẳng định sự kiện.

 

Ở một số phương diện sơ đẳng, điều này dĩ nhiên là rõ ràng. Chẳng hạn, không thể phát biểu một mệnh đề về hai người (tạm thời giả định rằng những người này có thể được xem là những cái đơn giản) mà không sử dụng hai tên, và nếu muốn khẳng định một quan hệ giữa hai người thì câu trong đó chúng ta đưa ra khẳng định ấy phải thiết lập một quan hệ giữa hai tên.

 

Nếu chúng ta nói “Plato yêu Socrates”, từ “yêu”, nằm giữa từ “Plato” và từ “Socrates”, thiết lập một quan hệ nhất định giữa hai từ ấy, và chính nhờ sự kiện này mà câu của chúng ta có thể khẳng định một quan hệ giữa những người được những từ “Plato” và “Socrates” gọi tên.

 

“Chúng ta không được nói rằng ký hiệu phức hợp ‘aRb’ nói rằng ‘a đứng trong một quan hệ nhất định R với b’; mà phải nói rằng ‘a’ đứng trong một quan hệ nhất định với ‘b’ nói rằng aRb” (3.1432).

 

Ông Wittgenstein bắt đầu lý thuyết về phép ký hiệu của mình bằng câu (2.1): “Chúng ta tạo ra cho mình những hình ảnh của những sự kiện.” Theo ông, một hình ảnh là một mô hình của thực tại, và những đối tượng trong thực tại tương ứng với những yếu tố của hình ảnh: bản thân hình ảnh là một sự kiện. Việc những sự vật có một quan hệ nhất định với nhau được biểu hiện bằng việc trong hình ảnh, những yếu tố của hình ảnh có một quan hệ nhất định với nhau.

 

“Trong hình ảnh và trong cái được hình ảnh hóa phải có một cái gì đồng nhất để một bên có thể là hình ảnh của bên kia. Điều mà hình ảnh phải có chung với thực tại để có thể biểu hiện thực tại theo cách của nó — đúng hoặc sai — là hình thức biểu hiện của nó” (2.161, 2.17).

 

Chúng ta nói đến một hình ảnh lôgíc của một thực tại khi muốn chỉ nói đến mức độ giống nhau thiết yếu để nó là một hình ảnh theo bất kỳ nghĩa nào, tức chỉ muốn nói đến sự đồng nhất về hình thức lôgíc. Hình ảnh lôgíc của một sự kiện, theo ông, là một Gedanke. Một hình ảnh có thể tương ứng hoặc không tương ứng với sự kiện, và do đó có thể đúng hoặc sai, nhưng trong cả hai trường hợp nó vẫn có cùng hình thức lôgíc với sự kiện.

 

Ý nghĩa mà ông gán cho những hình ảnh được minh họa bằng phát biểu sau: “Đĩa hát, tư tưởng âm nhạc, bản nhạc, những sóng âm thanh, tất cả đều đứng với nhau trong cùng một quan hệ nội tại mang tính hình ảnh, quan hệ tồn tại giữa ngôn ngữ và thế giới. Cấu trúc lôgíc là chung cho tất cả chúng. (Giống như hai chàng trai, hai con ngựa và những đóa huệ trong câu chuyện. Theo một nghĩa nào đó, tất cả chúng là một)” (4.014).

 

Khả năng một mệnh đề biểu hiện một sự kiện dựa trên sự kiện rằng trong mệnh đề, những đối tượng được biểu hiện bằng những ký hiệu. Những “hằng số” lôgíc được gọi như vậy không được biểu hiện bằng ký hiệu, mà chính chúng hiện diện trong mệnh đề cũng như trong sự kiện. Mệnh đề và sự kiện phải cùng biểu hiện một “đa tạp” lôgíc, và bản thân đa tạp ấy không thể được biểu hiện, vì nó phải là yếu tố chung của sự kiện và hình ảnh.

 

Ông Wittgenstein cho rằng mọi gì thực sự thuộc về triết học đều thuộc về những gì chỉ có thể được chỉ ra, hay thuộc về những gì chung giữa một sự kiện và hình ảnh lôgíc của nó. Từ quan điểm này, không thể nói được gì đúng trong triết học. Mọi mệnh đề triết học đều là ngữ pháp tồi, và điều tốt nhất chúng ta có thể đạt được qua thảo luận triết học là dẫn người ta đến chỗ thấy rằng bản thân thảo luận triết học là một sai lầm.

 

“Triết học không phải là một trong những khoa học tự nhiên. (Từ ‘triết học’ phải có nghĩa một thứ gì đó đứng bên trên hoặc bên dưới, chứ không đứng bên cạnh, những khoa học tự nhiên.) Đối tượng của triết học là sự làm sáng tỏ lôgíc của tư tưởng. Triết học không phải là một lý thuyết mà là một hoạt động. Một công trình triết học về bản chất gồm những sự làm sáng tỏ. Kết quả của triết học không phải là một số ‘mệnh đề triết học’, mà là làm cho những mệnh đề trở nên rõ ràng.

 

Triết học phải làm rõ và xác định ranh giới thật rõ cho những tư tưởng vốn nếu không sẽ, có thể nói, mờ đục và lẫn lộn” (4.111 và 4.112).

 

Theo nguyên tắc này, những gì phải nói ra để dẫn người đọc đến chỗ hiểu lý thuyết của ông Wittgenstein đều là những gì chính lý thuyết ấy lên án là vô nghĩa. Với sự dè dặt đó, chúng ta sẽ cố gắng trình bày hình ảnh về thế giới dường như nằm bên dưới hệ thống của ông.

 

Thế giới gồm những sự kiện: nói một cách nghiêm ngặt, những sự kiện không thể được định nghĩa, nhưng chúng ta có thể giải thích mình muốn nói gì khi nói rằng những sự kiện là những gì làm cho mệnh đề đúng hoặc sai. Những sự kiện có thể chứa những bộ phận vốn là những sự kiện, hoặc có thể không chứa những bộ phận như vậy; chẳng hạn, “Socrates là một người Athen khôn ngoan” gồm hai sự kiện: “Socrates khôn ngoan” và “Socrates là người Athen”. Một sự kiện không có những bộ phận là những sự kiện được ông Wittgenstein gọi là một Sachverhalt. Đây cũng chính là thứ ông gọi là một sự kiện nguyên tử.

 

Một sự kiện nguyên tử, dù không chứa những sự kiện khác như những bộ phận, vẫn chứa những bộ phận. Nếu chúng ta có thể xem “Socrates khôn ngoan” là một sự kiện nguyên tử, chúng ta nhận thấy nó chứa những thành phần “Socrates” và “khôn ngoan”. Nếu một sự kiện nguyên tử được phân tích đầy đủ nhất có thể (ở đây nói đến khả năng về mặt lý thuyết, chứ không phải khả năng thực tế), những thành phần cuối cùng đạt đến có thể được gọi là “những cái đơn giản” hoặc “những đối tượng”. Đó là một tất yếu lôgíc mà lý thuyết đòi hỏi, giống như electron.

 

Cơ sở để ông khẳng định phải có những cái đơn giản là mọi phức hợp đều giả định một sự kiện. Không nhất thiết phải giả định rằng tính phức hợp của những sự kiện là hữu hạn; ngay cả nếu mỗi sự kiện gồm vô hạn sự kiện nguyên tử và mỗi sự kiện nguyên tử gồm vô hạn đối tượng, vẫn sẽ có những đối tượng và những sự kiện nguyên tử (4.2211).

 

Khẳng định rằng có một phức hợp nhất định quy về khẳng định rằng những thành phần của nó có quan hệ với nhau theo một cách nhất định, và đó chính là khẳng định về một sự kiện: vì vậy, nếu chúng ta đặt một tên cho phức hợp, tên ấy chỉ có nghĩa nhờ tính đúng của một mệnh đề nhất định, tức mệnh đề khẳng định rằng những thành phần của phức hợp có quan hệ với nhau. Do đó, việc đặt tên cho những phức hợp giả định trước những mệnh đề, trong khi những mệnh đề lại giả định trước việc đặt tên cho những cái đơn giản.

 

Vì vậy, về mặt lôgíc, việc đặt tên cho những cái đơn giản là có trước.

 

Thế giới được mô tả đầy đủ nếu chúng ta biết tất cả những sự kiện nguyên tử, cùng với việc đó là toàn bộ những sự kiện nguyên tử. Thế giới không được mô tả chỉ bằng cách đặt tên cho tất cả những đối tượng trong đó; còn cần biết những sự kiện nguyên tử mà những đối tượng ấy là thành phần. Khi đã có toàn bộ những sự kiện nguyên tử ấy, về mặt lý thuyết chúng ta có thể suy ra mọi mệnh đề đúng, dù chúng có phức tạp đến đâu.

 

Một mệnh đề (đúng hoặc sai) khẳng định một sự kiện nguyên tử được gọi là một mệnh đề nguyên tử.

 

Tất cả những mệnh đề nguyên tử đều độc lập về mặt lôgíc với nhau. Không một mệnh đề nguyên tử nào kéo theo mệnh đề nguyên tử khác hoặc mâu thuẫn với mệnh đề nguyên tử khác. Vì vậy, toàn bộ công việc của suy luận lôgíc liên quan đến những mệnh đề không phải là mệnh đề nguyên tử. Những mệnh đề như vậy có thể được gọi là những mệnh đề phân tử.

 

Lý thuyết của Wittgenstein về những mệnh đề phân tử xoay quanh lý thuyết về việc xây dựng những hàm lôgíc đúng-sai.[3]

 

Một hàm lôgíc đúng-sai của một mệnh đề p là một mệnh đề chứa p và có tính đúng hoặc sai chỉ phụ thuộc vào việc p đúng hay sai; tương tự, một hàm lôgíc đúng-sai của nhiều mệnh đề p, q, r,... là một mệnh đề chứa p, q, r,... và có tính đúng hoặc sai chỉ phụ thuộc vào việc p, q, r,... đúng hay sai.

 

Thoạt nhìn, dường như còn có những hàm khác của mệnh đề ngoài những hàm lôgíc đúng-sai; chẳng hạn, “A tin p”, bởi nhìn chung A sẽ tin một số mệnh đề đúng và một số mệnh đề sai: trừ khi A là một người có năng lực đặc biệt, chúng ta không thể suy ra p đúng từ sự kiện A tin p, cũng không thể suy ra p sai từ sự kiện A không tin p.

 

Những ngoại lệ bề ngoài khác có thể là “p là một mệnh đề rất phức tạp” hoặc “p là một mệnh đề về Socrates”. Tuy nhiên, ông Wittgenstein cho rằng, vì những lý do sẽ thấy ngay sau đây, những ngoại lệ như vậy chỉ là bề ngoài, và mọi hàm của một mệnh đề thực ra đều là một hàm lôgíc đúng-sai. Từ đó, nếu chúng ta có thể định nghĩa những hàm lôgíc đúng-sai nói chung, chúng ta có thể có được một định nghĩa tổng quát về tất cả những mệnh đề bằng cách quy chúng về tập hợp ban đầu gồm những mệnh đề nguyên tử. Ông Wittgenstein tiếp tục thực hiện điều này.

 

Tiến sĩ Sheffer đã chứng minh (Trans. Am. Math. Soc., tập XIV, tr. 481–488) rằng tất cả những hàm lôgíc đúng-sai của một tập hợp mệnh đề cho trước có thể được xây dựng từ một trong hai hàm: “không-p hoặc không-q”, hoặc “không-p và không-q”. Wittgenstein sử dụng hàm thứ hai, với giả định rằng người đọc biết công trình của Tiến sĩ Sheffer.[4]

 

Đặt q = p, ta được “không-p”; từ đó chúng ta có được một định nghĩa về phủ định bằng hàm nguyên thủy của mình. Sau đó, chúng ta có thể định nghĩa “p hoặc q”, vì đây là phủ định của “không-p và không-q”, tức là phủ định của hàm nguyên thủy của chúng ta.

 

Việc triển khai những hàm lôgíc đúng-sai khác từ “không-p” và “p hoặc q” được trình bày chi tiết ở phần đầu của Principia Mathematica. Như vậy, chúng ta có tất cả những gì cần thiết khi những mệnh đề làm đối số cho hàm lôgíc đúng-sai được cho bằng cách liệt kê.

 

Tuy nhiên, bằng một phân tích rất thú vị, ông Wittgenstein mở rộng quá trình này đến những mệnh đề tổng quát, tức những trường hợp trong đó những mệnh đề làm đối số cho hàm lôgíc đúng-sai không được cho bằng cách liệt kê, mà được cho như toàn bộ những mệnh đề thỏa mãn một điều kiện nào đó.

 

Chẳng hạn, hãy lấy fx làm một hàm mệnh đề, tức một hàm mà những giá trị của nó là những mệnh đề, như “x là người”; khi đó những giá trị khác nhau của fx tạo thành một tập hợp mệnh đề.

 

Chúng ta có thể mở rộng ý tưởng “không-p và không-q” để áp dụng vào việc phủ định đồng thời tất cả những mệnh đề là những giá trị của fx. Bằng cách này, chúng ta đi đến mệnh đề thường được biểu thị trong lôgíc toán học bằng câu “fx sai với mọi giá trị của x”.

 

Phủ định của mệnh đề này sẽ là mệnh đề “có ít nhất một xfx đúng”, được biểu thị bằng “(x).fx”.

 

Nếu chúng ta bắt đầu với không-fx thay vì fx, chúng ta sẽ đi đến mệnh đề “fx đúng với mọi giá trị của x”, được biểu thị bằng “(x).fx”.

 

Phương pháp của Wittgenstein trong việc xử lý những mệnh đề tổng quát [tức “(x).fx” và “(x).fx”] khác với những phương pháp trước đây ở chỗ tính tổng quát chỉ xuất hiện trong việc xác định tập hợp những mệnh đề liên quan; khi việc này đã được thực hiện, việc xây dựng những hàm lôgíc đúng-sai tiến hành đúng như trong trường hợp có một số hữu hạn đối số được liệt kê p, q, r,...

 

Phần giải thích của ông Wittgenstein về phép ký hiệu ở đây chưa được trình bày hoàn toàn đầy đủ trong văn bản. Ký hiệu ông sử dụng là

 

[p̄, ξ̄, N(ξ̄)]

 

Giải thích về ký hiệu này như sau:

 

đứng cho toàn bộ những mệnh đề nguyên tử.

 

ξ̄ đứng cho bất kỳ tập hợp mệnh đề nào.

 

N(ξ̄) đứng cho sự phủ định của tất cả những mệnh đề tạo thành ξ̄.

 

Toàn bộ ký hiệu [p̄, ξ̄, N(ξ̄)] có nghĩa là bất cứ gì có thể đạt được bằng cách chọn bất kỳ một số mệnh đề nguyên tử nào, phủ định tất cả chúng, rồi chọn bất kỳ một số mệnh đề nào trong tập hợp vừa thu được, cùng với bất kỳ mệnh đề nào trong số những mệnh đề ban đầu — và cứ thế tiếp tục vô hạn.

 

Đây, theo ông, là hàm lôgíc đúng-sai tổng quát, đồng thời cũng là hình thức tổng quát của mệnh đề. Ý muốn nói ở đây đơn giản hơn vẻ ngoài của cách diễn đạt.

 

Ký hiệu này nhằm mô tả một quá trình nhờ đó, khi đã có những mệnh đề nguyên tử, tất cả những mệnh đề khác có thể được tạo ra. Quá trình này dựa trên:

 

(a) chứng minh của Sheffer rằng tất cả những hàm lôgíc đúng-sai có thể được tạo ra từ phép phủ định đồng thời, tức từ “không-p và không-q”;

 

(b) lý thuyết của ông Wittgenstein về việc suy ra những mệnh đề tổng quát từ những phép hội và phép tuyển;

 

(c) khẳng định rằng một mệnh đề chỉ có thể xuất hiện trong một mệnh đề khác với tư cách là đối số của một hàm lôgíc đúng-sai.

 

Dựa trên ba nền tảng này, có thể suy ra rằng tất cả những mệnh đề không phải là mệnh đề nguyên tử đều có thể được suy ra từ những mệnh đề nguyên tử bằng một quá trình thống nhất, và chính quá trình này được ký hiệu của ông Wittgenstein chỉ ra.

 

Từ phương pháp xây dựng thống nhất này, chúng ta đi đến một sự đơn giản hóa đáng kinh ngạc trong lý thuyết suy luận, đồng thời có được một định nghĩa về loại mệnh đề thuộc về lôgíc. Phương pháp tạo lập vừa được mô tả cho phép Wittgenstein nói rằng tất cả những mệnh đề đều có thể được xây dựng theo cách trên từ những mệnh đề nguyên tử, và bằng cách đó toàn bộ những mệnh đề được xác định.

 

Những ngoại lệ bề ngoài mà chúng ta đã nói đến ở trên sẽ được xử lý theo cách mà chúng ta sẽ xem xét sau.

 

Wittgenstein có thể khẳng định rằng những mệnh đề là toàn bộ những gì được suy ra từ toàn bộ những mệnh đề nguyên tử (cùng với sự kiện rằng đó là toàn bộ những mệnh đề nguyên tử); rằng một mệnh đề luôn là một hàm lôgíc đúng-sai của những mệnh đề nguyên tử [5]; và rằng nếu p được suy ra từ q, thì nghĩa của p được chứa trong nghĩa của q, từ đó tất nhiên suy ra rằng không thể suy ra gì từ một mệnh đề nguyên tử.

 

Ông cho rằng tất cả những mệnh đề của lôgíc đều là những tautology [6], chẳng hạn “p hoặc không-p”.

 

Việc không thể suy ra gì từ một mệnh đề nguyên tử có những ứng dụng thú vị, chẳng hạn đối với quan hệ nhân quả. Theo lôgíc của Wittgenstein, không thể có mối liên hệ nhân quả. Ông nói: “Những sự kiện của tương lai không thể được suy ra từ những sự kiện của hiện tại. Mê tín là sự tin tưởng vào mối liên hệ nhân quả.”

 

Việc mặt trời sẽ mọc vào ngày mai là một giả thuyết. Thực ra chúng ta không biết liệu nó có mọc hay không, vì không có một sự cưỡng bách nào buộc một sự vật phải xảy ra vì một sự vật khác xảy ra.

 

Bây giờ chúng ta chuyển sang một chủ đề khác — vấn đề về tên. Trong ngôn ngữ lôgíc lý thuyết của Wittgenstein, tên chỉ được đặt cho những cái đơn giản. Chúng ta không đặt hai tên cho một sự vật, cũng không đặt một tên cho hai sự vật. Theo ông, hoàn toàn không có cách nào để chúng ta mô tả toàn bộ những sự vật có thể được gọi tên, nói cách khác, toàn bộ những gì có trong thế giới.

 

Người ta đã tìm cách tìm một thuộc tính như vậy trong tính đồng nhất với chính mình, nhưng quan niệm về đồng nhất bị Wittgenstein phê phán một cách triệt để, đến mức dường như không thể thoát khỏi sự phê phán ấy. Định nghĩa đồng nhất bằng nguyên lý đồng nhất của những cái không thể phân biệt bị bác bỏ, bởi nguyên lý này dường như không phải là một nguyên lý tất yếu về mặt lôgíc.

 

Theo nguyên lý này, x đồng nhất với y nếu mọi thuộc tính của x cũng là thuộc tính của y; nhưng xét cho cùng, về mặt lôgíc hoàn toàn có thể có hai sự vật có chính xác cùng những thuộc tính. Nếu trên thực tế điều này không xảy ra, thì đó là một đặc tính ngẫu nhiên của thế giới, chứ không phải một đặc tính tất yếu về mặt lôgíc; và những đặc tính ngẫu nhiên của thế giới tất nhiên không được đưa vào cấu trúc của lôgíc.

 

Theo đó, ông Wittgenstein loại bỏ đồng nhất và chấp nhận quy ước rằng những chữ cái khác nhau phải có nghĩa là những sự vật khác nhau. Trong thực tế, đồng nhất là cần thiết giữa một tên và một mô tả, hoặc giữa hai mô tả. Nó cần thiết cho những mệnh đề như “Socrates là nhà triết học đã uống thuốc độc”, hoặc “Số nguyên tố chẵn là số đứng sau 1”. Đối với những cách sử dụng đồng nhất như vậy, trong hệ thống của Wittgenstein rất dễ cung cấp một cách biểu đạt.

 

Việc bác bỏ đồng nhất loại bỏ một phương pháp nói về toàn bộ những sự vật, và chúng ta sẽ thấy rằng bất kỳ phương pháp nào khác có thể được đề xuất cũng đều sai lạc như vậy: ít nhất đó là điều Wittgenstein khẳng định, và theo tôi, ông đúng. Điều này tương đương với việc nói rằng “đối tượng” là một giả-khái niệm.[7] Nói “x là một đối tượng” là không nói gì cả. Từ đó, chúng ta không thể đưa ra những mệnh đề như “trong thế giới có hơn ba đối tượng”, hay “trong thế giới có vô hạn đối tượng”.

 

Những đối tượng chỉ có thể được nhắc đến cùng với một thuộc tính xác định nào đó. Chúng ta có thể nói “có hơn ba đối tượng là người”, hoặc “có hơn ba đối tượng màu đỏ”, vì trong những mệnh đề này, từ “đối tượng” có thể được thay bằng một biến trong ngôn ngữ của lôgíc, và biến ấy thỏa mãn, trong trường hợp thứ nhất, hàm “x là người”; trong trường hợp thứ hai, hàm “x màu đỏ”.

 

Nhưng khi chúng ta cố nói “có hơn ba đối tượng”, việc thay biến vào chỗ từ “đối tượng” trở nên không thể thực hiện, và do đó mệnh đề được nhận ra là vô nghĩa.

 

Ở đây chúng ta gặp một trường hợp của luận đề nền tảng của Wittgenstein: không thể nói bất cứ gì về thế giới như một toàn thể, và bất cứ gì có thể nói đều phải nói về những phần có giới hạn của thế giới. Có lẽ quan điểm này ban đầu được gợi ý bởi phép ký hiệu; nếu vậy, đó lại là một điểm rất có lợi cho nó, bởi một phép ký hiệu tốt có sự tinh tế và sức gợi ý đến mức đôi khi nó gần như một người thầy sống động.

 

Những bất thường trong phép ký hiệu thường là dấu hiệu đầu tiên của những sai lầm triết học, và một phép ký hiệu hoàn hảo sẽ là sự thay thế cho tư duy. Nhưng mặc dù phép ký hiệu có thể đã gợi ý cho ông Wittgenstein, ngay từ đầu, việc giới hạn lôgíc vào những sự vật bên trong thế giới, trái với thế giới như một toàn thể, một khi đã được gợi ý thì quan điểm ấy cho thấy còn có nhiều lý do khác để ủng hộ nó.

 

Cuối cùng nó có đúng hay không, về phần mình, tôi không dám nói rằng mình biết. Trong Lời giới thiệu này, tôi quan tâm đến việc trình bày quan điểm ấy, chứ không phán quyết về nó.

 

Theo quan điểm này, chúng ta chỉ có thể nói những gì về thế giới như một toàn thể nếu chúng ta có thể ra bên ngoài thế giới, nghĩa là nếu thế giới không còn là toàn bộ thế giới đối với chúng ta. Thế giới của chúng ta có thể có ranh giới đối với một hữu thể cao hơn, hữu thể có thể nhìn bao quát nó từ bên trên, nhưng đối với chúng ta, dù thế giới của chúng ta có hữu hạn đến đâu, nó cũng không thể có một ranh giới, vì không có gì ở bên ngoài nó.

 

Wittgenstein dùng trường nhìn làm phép tương tự. Đối với chúng ta, trường nhìn không có một ranh giới thị giác, đơn giản vì không có gì ở bên ngoài nó; tương tự như vậy, thế giới lôgíc của chúng ta không có ranh giới lôgíc, vì lôgíc của chúng ta không biết đến bất cứ gì ở bên ngoài nó.

 

Những suy xét này dẫn ông đến một cuộc bàn luận khá đặc biệt về thuyết duy ngã. Ông nói, lôgíc lấp đầy thế giới. Ranh giới của thế giới cũng là ranh giới của lôgíc.

 

Vì vậy, trong lôgíc, chúng ta không thể nói: có sự vật này và sự vật kia trong thế giới, nhưng không có sự vật nọ; bởi nói như vậy dường như giả định rằng chúng ta loại trừ một số khả năng, và điều này không thể xảy ra, vì nó đòi hỏi lôgíc phải vượt ra ngoài ranh giới của thế giới, như thể nó cũng có thể nhìn những ranh giới ấy từ phía bên kia. Chúng ta không thể nghĩ những gì chúng ta không thể nghĩ; vì vậy, chúng ta cũng không thể nói những gì chúng ta không thể nghĩ.

 

Ông nói, đây là chìa khóa của thuyết duy ngã. Điều mà thuyết duy ngã muốn nói là hoàn toàn đúng, nhưng không thể nói ra; nó chỉ có thể được chỉ ra. Việc thế giới là thế giới của tôi được thể hiện trong sự kiện rằng những ranh giới của ngôn ngữ (ngôn ngữ duy nhất mà tôi hiểu) cho thấy những ranh giới của thế giới của tôi. Chủ thể siêu hình không thuộc về thế giới, mà là một ranh giới của thế giới.

 

Tiếp theo, chúng ta phải xét vấn đề những mệnh đề phân tử thoạt nhìn không phải là những hàm lôgíc đúng-sai của những mệnh đề chứa trong chúng, chẳng hạn “A tin p”.

 

Wittgenstein đưa chủ đề này vào khi trình bày lập trường của mình, tức khẳng định rằng tất cả những hàm phân tử đều là những hàm lôgíc đúng-sai. Ông nói (5.54): “Trong hình thức mệnh đề tổng quát, những mệnh đề xuất hiện trong một mệnh đề chỉ với tư cách là những cơ sở của những phép toán đúng-sai.”

 

Thoạt nhìn, ông tiếp tục giải thích, dường như một mệnh đề cũng có thể xuất hiện theo những cách khác, chẳng hạn “A tin p”. Ở đây, bề ngoài dường như mệnh đề p đứng trong một loại quan hệ nào đó với đối tượng A.

 

“Nhưng rõ ràng rằng ‘A tin rằng p’, ‘A nghĩ p’, ‘A nói p’ có hình thức ‘p nói p’; và ở đây chúng ta không có sự phối hợp giữa một sự kiện và một đối tượng, mà là sự phối hợp giữa những sự kiện thông qua sự phối hợp giữa những đối tượng của chúng” (5.542).

 

Những gì ông Wittgenstein nói ở đây được nói quá ngắn, nên điểm của nó khó có thể rõ ràng đối với những người không biết những cuộc tranh luận mà ông đang quan tâm. Lý thuyết mà ông phản đối có thể được tìm thấy trong những bài viết của tôi về bản chất của chân lý và giả dối trong Philosophical EssaysProceedings of the Aristotelian Society, 1906–7.

 

Vấn đề đang được bàn đến là vấn đề về hình thức lôgíc của sự tin tưởng, tức sơ đồ biểu hiện những gì diễn ra khi một người tin. Dĩ nhiên, vấn đề không chỉ áp dụng cho sự tin tưởng, mà còn cho một loạt những hiện tượng tâm lý khác có thể được gọi là thái độ đối với một mệnh đề [8]: nghi ngờ, cân nhắc, mong muốn, v.v.

 

Trong tất cả những trường hợp này, việc diễn đạt hiện tượng dưới hình thức “A nghi ngờ p”, “A cân nhắc p”, “A mong muốn p”, v.v. dường như là tự nhiên, và điều đó khiến chúng ta tưởng như đang xét một quan hệ giữa một con người và một mệnh đề.

 

Dĩ nhiên, đây không thể là phân tích cuối cùng, vì con người là những hư cấu và mệnh đề cũng vậy, ngoại trừ theo nghĩa chúng là những sự kiện tự thân. Một mệnh đề, khi được xem như một sự kiện tự thân, có thể là một tập hợp từ ngữ mà một người tự nói với mình, hoặc một hình ảnh phức hợp, hoặc một chuỗi những hình ảnh đi qua não thức của người ấy, hoặc một tập hợp những vận động cơ thể đang hình thành. Nó có thể là bất kỳ một trong vô số sự vật khác nhau.

 

Mệnh đề, khi được xem như một sự kiện tự thân, chẳng hạn tập hợp những từ ngữ thực tế mà người ấy tự nói với mình, không liên quan đến lôgíc. Điều liên quan đến lôgíc là yếu tố chung giữa tất cả những sự kiện này, yếu tố cho phép người ấy, như chúng ta nói, có nghĩa là sự kiện mà mệnh đề khẳng định.

 

Dĩ nhiên, đối với tâm lý học, còn nhiều thứ khác có liên quan; bởi một ký hiệu không có nghĩa là những gì nó ký hiệu chỉ nhờ một quan hệ lôgíc, mà còn nhờ một quan hệ tâm lý về ý hướng, liên tưởng, hay bất cứ gì tương tự.

 

Tuy nhiên, phần tâm lý của nghĩa không liên quan đến nhà lôgíc học. Điều liên quan đến ông trong vấn đề sự tin tưởng này là sơ đồ lôgíc. Rõ ràng rằng khi một người tin một mệnh đề, không cần phải giả định người ấy, nếu xem người ấy như một chủ thể siêu hình, để giải thích những gì đang xảy ra.

 

Những gì cần được giải thích là quan hệ giữa tập hợp những từ ngữ tạo thành mệnh đề, khi mệnh đề được xem như một sự kiện tự thân, với sự kiện “khách quan” làm cho mệnh đề đúng hoặc sai. Điều này cuối cùng quy về câu hỏi về nghĩa của mệnh đề; nói cách khác, nghĩa của mệnh đề là phần duy nhất không thuộc tâm lý học trong vấn đề liên quan đến việc phân tích sự tin tưởng.

 

Vấn đề này đơn giản là vấn đề về một quan hệ giữa hai sự kiện, tức quan hệ giữa chuỗi từ ngữ được người tin sử dụng với sự kiện làm cho những từ ngữ ấy đúng hoặc sai. Chuỗi từ ngữ cũng là một sự kiện, cũng như sự kiện làm cho nó đúng hoặc sai là một sự kiện. Quan hệ giữa hai sự kiện này có thể được phân tích, vì nghĩa của một mệnh đề xuất phát từ nghĩa của những từ cấu thành nó.

 

Nghĩa của chuỗi từ ngữ tạo thành một mệnh đề là một hàm của nghĩa của những từ riêng lẻ. Vì vậy, toàn bộ mệnh đề thực ra không đi vào phần cần được giải thích khi chúng ta giải thích nghĩa của một mệnh đề.

 

Có lẽ sẽ giúp làm rõ quan điểm mà tôi đang cố trình bày nếu nói rằng trong những trường hợp vừa xét, mệnh đề xuất hiện với tư cách một sự kiện, chứ không phải với tư cách một mệnh đề. Tuy nhiên, không nên hiểu phát biểu này quá sát chữ.

 

Điểm thực sự quan trọng là trong việc tin, mong muốn, v.v., về mặt lôgíc, nền tảng là quan hệ giữa một mệnh đề được xem như một sự kiện với sự kiện làm cho nó đúng hoặc sai, và quan hệ giữa hai sự kiện này có thể quy về quan hệ giữa những thành phần của chúng. Vì vậy, mệnh đề không xuất hiện theo cùng một nghĩa với nghĩa mà nó xuất hiện trong một hàm lôgíc đúng-sai.

 

Có một số phương diện mà theo tôi, lý thuyết của ông Wittgenstein cần được phát triển thêm về mặt kỹ thuật. Điều này đặc biệt áp dụng cho lý thuyết về số của ông (6.02 và tiếp theo), vì trong hình thức hiện tại, lý thuyết ấy chỉ có khả năng xử lý những số hữu hạn. Không thể xem một lôgíc là đầy đủ cho đến khi chứng minh được rằng nó có khả năng xử lý những số siêu hạn. Tôi không nghĩ rằng trong hệ thống của ông Wittgenstein có bất cứ gì khiến ông không thể lấp đầy khoảng trống này.

 

Thú vị hơn những vấn đề về chi tiết như vậy là thái độ của ông Wittgenstein đối với cái thần bí. Thái độ của ông về vấn đề này phát triển một cách tự nhiên từ học thuyết của ông trong lôgíc thuần túy, theo đó mệnh đề lôgíc là một hình ảnh (đúng hoặc sai) của sự kiện, và có chung với sự kiện một cấu trúc nhất định.

 

Chính cấu trúc chung này làm cho mệnh đề có khả năng là hình ảnh của sự kiện, nhưng bản thân cấu trúc ấy không thể được diễn đạt bằng từ ngữ, vì nó vừa là cấu trúc của những từ ngữ, vừa là cấu trúc của sự kiện mà những từ ngữ ấy quy chiếu đến. Vì vậy, tất cả những gì được bao hàm ngay trong ý niệm về khả năng biểu đạt bằng ngôn ngữ đều phải vẫn không thể được biểu đạt bằng ngôn ngữ, và do đó không thể diễn đạt được theo một nghĩa hoàn toàn chính xác.

 

Theo ông Wittgenstein, những gì không thể diễn đạt này chứa đựng toàn bộ lôgíc và triết học. Ông nói rằng phương pháp đúng để dạy triết học là chỉ giới hạn mình vào những mệnh đề của khoa học, được phát biểu với tất cả sự rõ ràng và chính xác có thể có, để người học tự đưa ra những khẳng định triết học; và bất cứ khi nào người học đưa ra một khẳng định như vậy, phải chứng minh cho họ thấy rằng khẳng định ấy vô nghĩa.

 

Đúng là số phận của Socrates có thể xảy đến với người thử phương pháp dạy học này, nhưng nếu đó là phương pháp đúng duy nhất thì chúng ta không được để nỗi sợ ấy ngăn cản mình.

 

Đây không phải là lý do khiến tôi do dự phần nào trong việc chấp nhận lập trường của ông Wittgenstein, mặc dù ông đưa ra những lập luận hết sức mạnh mẽ để ủng hộ nó. Điều khiến tôi do dự là sự kiện rằng, rốt cuộc, ông Wittgenstein vẫn có thể nói khá nhiều về những gì không thể nói, qua đó gợi cho người đọc hoài nghi rằng có lẽ vẫn có một lối thoát nào đó thông qua một thứ bậc của những ngôn ngữ, hoặc bằng một lối thoát khác.

 

Chẳng hạn, toàn bộ vấn đề đạo đức được ông Wittgenstein đặt vào vùng của cái thần bí, vùng không thể diễn đạt. Tuy nhiên, ông vẫn có khả năng truyền đạt những quan điểm đạo đức của mình. Lời biện hộ của ông sẽ là: những gì ông gọi là cái thần bí có thể được chỉ ra, mặc dù không thể được nói ra. Có thể lời biện hộ này đầy đủ, nhưng về phần mình, tôi thú nhận rằng nó để lại cho tôi một cảm giác khó chịu nào đó về mặt trí tuệ.

 

Có một vấn đề thuần túy lôgíc mà liên quan đến nó, những khó khăn này trở nên đặc biệt gay gắt. Tôi muốn nói đến vấn đề về tính tổng quát. Trong lý thuyết về tính tổng quát, cần xem xét tất cả những mệnh đề có dạng fx, trong đó fx là một hàm mệnh đề cho trước.

 

Phần này của lôgíc có thể được diễn đạt theo hệ thống của ông Wittgenstein. Nhưng toàn bộ những giá trị khả dĩ của x, vốn dường như được bao hàm trong toàn bộ những mệnh đề có dạng fx, lại không được ông Wittgenstein thừa nhận là những gì có thể nói đến, bởi đó chẳng khác nào toàn bộ những sự vật trong thế giới, và như vậy bao hàm nỗ lực hình dung thế giới như một toàn thể.

 

“Cảm thức về thế giới như một toàn thể bị giới hạn là cái thần bí”; do đó, toàn bộ những giá trị của x là thần bí (6.45). Điều này được lập luận một cách rõ ràng khi ông Wittgenstein phủ nhận rằng chúng ta có thể đưa ra những mệnh đề về việc có bao nhiêu sự vật trong thế giới, chẳng hạn mệnh đề rằng có hơn ba sự vật.

 

Những khó khăn này gợi cho tôi một khả năng như sau: mỗi ngôn ngữ đều có, như ông Wittgenstein nói, một cấu trúc mà trong chính ngôn ngữ ấy không thể nói gì về cấu trúc đó; nhưng có thể có một ngôn ngữ khác nói về cấu trúc của ngôn ngữ thứ nhất, và bản thân nó lại có một cấu trúc mới, và có thể không có giới hạn nào cho thứ bậc những ngôn ngữ này.

 

Dĩ nhiên, ông Wittgenstein sẽ trả lời rằng toàn bộ lý thuyết của ông vẫn áp dụng không thay đổi cho toàn thể những ngôn ngữ như vậy.

 

Cách đáp lại duy nhất là phủ nhận rằng có một toàn thể như vậy. Những toàn thể mà ông Wittgenstein cho rằng về mặt lôgíc không thể nói đến, ông vẫn cho rằng chúng hiện hữu, và chúng là đối tượng của chủ nghĩa thần bí của ông. Những toàn thể nảy sinh từ hệ thứ bậc của chúng ta sẽ không chỉ không thể diễn đạt về mặt lôgíc, mà còn là một hư cấu, một ảo tưởng thuần túy; và bằng cách đó, lĩnh vực được cho là của cái thần bí sẽ bị xóa bỏ.

 

Một giả thuyết như vậy hết sức khó khăn, và tôi có thể thấy những phản đối đối với nó mà hiện giờ tôi chưa biết phải trả lời thế nào. Tuy vậy, tôi không thấy một giả thuyết nào dễ hơn có thể thoát khỏi những kết luận của ông Wittgenstein. Ngay cả nếu giả thuyết rất khó khăn này có thể chứng minh được là đứng vững, nó vẫn không ảnh hưởng đến một phần rất lớn trong lý thuyết của ông Wittgenstein, mặc dù có thể không phải là phần mà chính ông muốn nhấn mạnh nhất.

 

Là người có nhiều kinh nghiệm về những khó khăn của lôgíc và về tính đánh lừa của những lý thuyết dường như không thể bác bỏ, tôi không thể chắc chắn rằng một lý thuyết là đúng chỉ vì tôi không nhìn thấy bất kỳ điểm nào trong đó là sai.

 

Nhưng xây dựng được một lý thuyết về lôgíc mà không có điểm nào rõ ràng là sai là một thành tựu hết sức khó khăn và có tầm quan trọng lớn lao. Theo tôi, công lao ấy thuộc về cuốn sách của ông Wittgenstein, và khiến nó trở thành một cuốn sách mà không một triết gia nghiêm túc nào có thể cho phép mình bỏ qua.[9]

 

Bertrand Russell

Tháng 5 năm 1922.

 


 

Luận thuyết Lôgic–Triết học

 

Lời Tựa

 

Có lẽ cuốn sách này chỉ có thể được hiểu bởi những ai đã tự mình suy nghĩ về những tư tưởng được trình bày trong đó — hoặc về những tư tưởng tương tự. Vì vậy, đây không phải là một sách giáo khoa. Mục đích của cuốn sách sẽ được xem là đạt được nếu có một người đọc nó, hiểu được nó và thấy thích thú khi đọc.

 

Cuốn sách bàn về những vấn đề của triết học và cho thấy, theo tôi, rằng cách thức đặt ra những vấn đề này dựa trên sự hiểu lầm về lôgic của ngôn ngữ chúng ta. Toàn bộ ý nghĩa của cuốn sách có thể được tóm lại phần nào như sau: Điều gì có thể nói được thì có thể nói một cách rõ ràng; còn về điều gì chúng ta không thể nói được thì chúng ta phải im lặng.

 

Vì vậy, cuốn sách sẽ đặt ra một giới hạn cho suy nghĩ, hay đúng hơn — không phải cho suy nghĩ, mà cho sự biểu đạt của những suy nghĩ; bởi để đặt ra một giới hạn cho suy nghĩ, chúng ta sẽ phải có khả năng nghĩ về cả hai phía của giới hạn ấy (do đó, chúng ta sẽ phải có khả năng nghĩ về những gì không thể nghĩ).

 

Do đó, giới hạn chỉ có thể được vạch ra trong ngôn ngữ; còn những gì nằm ở phía bên kia giới hạn ấy sẽ đơn giản là vô nghĩa.

 

Tôi sẽ không xét xem những nỗ lực của tôi gần với những nỗ lực của những triết gia khác đến mức nào. Thực ra, những gì tôi viết ở đây không cho rằng mình có gì mới mẻ trong từng chi tiết; vì vậy, tôi không nêu nguồn, bởi đối với tôi, việc những gì tôi đã suy nghĩ đã từng được một người khác suy nghĩ trước tôi hay chưa không có gì khác biệt.

Tôi chỉ muốn nói rằng phần lớn những suy nghĩ của tôi được khơi gợi từ những công trình lớn của Frege và những bài viết của người bạn tôi, Bertrand Russell.

 

Nếu công trình này có giá trị, thì giá trị của nó nằm ở hai điểm. Trước hết, những suy nghĩ được diễn đạt trong đó; và giá trị này sẽ càng lớn khi những suy nghĩ ấy được diễn đạt càng tốt. Nói cách khác, càng “đóng đúng vào đầu đinh”.

Ở đây, tôi ý thức rằng mình còn rất xa mới đạt được mức có thể đạt tới. Đơn giản là vì khả năng của tôi không đủ để đảm đương công việc này. Mong rằng những người khác sẽ đến và làm tốt hơn.

 

Mặt khác, sự thật của những suy nghĩ được trình bày ở đây đối với tôi dường như không thể bác bỏ và dứt khoát. Vì vậy, tôi cho rằng về thực chất, những vấn đề này cuối cùng đã được giải quyết.

 

Và nếu tôi không nhầm về điểm này, thì giá trị thứ hai của công trình này nằm ở chỗ nó cho thấy còn lại rất ít việc phải làm, một khi những vấn đề này đã được giải quyết.

 

L. W.

Vienna, 1918

 


 

LUẬN THUYẾT LÔ GICH TRIẾT HỌC

 

1. The world is everything that is the case.

Thế giới là tất cả những gì là như vậy.

[Ở đây, that is the case không có nghĩa là “là sự việc”. Wittgenstein nói đến tất cả những gì đang là như vậy, tức tất cả những gì thực sự xảy ra hoặc đúng như vậy. Vì thế, thế giới không chỉ gồm những vật thể như cái bàn, cái ghế hay con mèo, mà gồm cả những sự việc trong đó những vật thể ấy đứng trong những quan hệ xác định. Chẳng hạn, không chỉ có “con mèo”, mà có “con mèo đang nằm trên ghế”.]

 

1.1 The world is the totality of facts, not of things.

Thế giới là toàn thể những sự kiện, không phải toàn thể những sự vật.

[Chỉ liệt kê những sự vật trong một căn phòng — cái bàn, ngọn đèn, quyển sách — vẫn chưa cho chúng ta biết căn phòng là như thế nào. Muốn mô tả thế giới của căn phòng ấy, phải nói những sự việc đang là như vậy: chẳng hạn, “quyển sách nằm trên bàn”, “ngọn đèn đang tắt”. Chính những sự kiện ấy, chứ không phải chỉ những sự vật riêng lẻ, làm thành thế giới.]

 

1.11 The world is determined by the facts, and by these being all the facts.

Thế giới được xác định bởi những sự kiện, và bởi việc những sự kiện ấy là toàn bộ những sự kiện.

[Biết một sự kiện thôi chưa đủ để xác định thế giới; chúng ta còn phải biết rằng đó là toàn bộ những sự kiện, không có sự kiện nào khác.

Thí dụ: Nếu chúng ta biết “trời đang mưa ở Hà Nội”, chúng ta mới biết một sự kiện. Từ đó chưa thể biết toàn bộ thế giới. Thí dụ này chỉ nhằm làm rõ sự khác nhau giữa một sự kiện và toàn thể những sự kiện, chứ không có nghĩa rằng chúng ta có thể thực tế lập một danh sách đầy đủ tất cả những sự kiện.]

 

1.12 For the totality of facts determines both what is the case, and also all that is not the case.

Vì toàn thể những sự kiện xác định cả những gì là như vậy, lẫn tất cả những gì không là như vậy.

[Toàn thể những sự kiện xác định cả những gì là như vậy lẫn những gì không là như vậy.

Thí dụ: Nếu trong một căn phòng, sự kiện là “cửa sổ đang mở”, thì trong cùng trường hợp ấy, “cửa sổ đang đóng” không là như vậy. Thí dụ này chỉ nhằm làm rõ rằng khi một khả năng là như vậy, khả năng trái với nó không là như vậy; không nên hiểu đây như một quy luật nhân quả.]

 

1.13 The facts in logical space are the world.

Những sự kiện trong không gian lôgích là thế giới.

[“Không gian lôgích” là toàn bộ những khả năng lôgích trong đó những sự kiện có thể xảy ra hoặc không xảy ra. Thế giới là những sự kiện thực sự là như vậy trong không gian của những khả năng ấy.

Thí dụ: Một quân cờ có thể, theo luật của trò chơi, đứng ở nhiều vị trí khác nhau. Vị trí hiện tại của nó là một trong những khả năng ấy. Thí dụ này chỉ nhằm minh họa sự phân biệt giữa khả năng và những gì thực sự là như vậy, chứ không đồng nhất không gian lôgích với không gian của một bàn cờ vật lý.]

 

1.2 The world divides into facts.

Thế giới phân chia thành những sự kiện.

[Thế giới có thể được phân chia thành những sự kiện khác nhau.

Thí dụ: Trong một căn phòng, chúng ta có thể nói: “quyển sách nằm trên bàn”, “cửa sổ đang mở”, “đèn đang sáng”. Những câu này giúp chúng ta hình dung những sự kiện khác nhau. Thí dụ chỉ nhằm minh họa rằng thế giới phân chia thành những sự kiện, chứ không có nghĩa rằng thế giới đơn giản là một danh sách những câu do chúng ta đặt ra.]

 

1.21 Any one can either be the case or not be the case, and everything else remain the same.

Bất kỳ sự kiện nào cũng có thể là như vậy hoặc không là như vậy, trong khi tất cả những gì khác vẫn giữ nguyên.

[Ở đây Wittgenstein nói về khả năng lôgích của một sự kiện: một sự kiện có thể là như vậy hoặc không là như vậy, trong khi những sự kiện khác được giữ nguyên.

Thí dụ: Có thể hình dung một trường hợp trong đó “đèn đang sáng” là như vậy và “cửa sổ đang mở” cũng là như vậy; cũng có thể hình dung một trường hợp khác trong đó “đèn đang tắt” nhưng “cửa sổ đang mở” vẫn là như vậy. Thí dụ này chỉ nhằm minh họa việc thay đổi một sự kiện trong khi giữ những sự kiện khác không đổi trong mô tả lôgích, chứ không khẳng định rằng trong thực tế một sự kiện luôn có thể thay đổi mà không gây ra bất kỳ thay đổi nhân quả nào khác.]

 

Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ nhất

(Sep/2026)

(Còn tiếp. . . →)

http://chuyendaudau. blogspot. com/

http://chuyendaudau. wordpress. com

 

 



[1] Bertrand Russell - Những Vấn đề của Triết học - bản tôi tạm dịch trên blog này:

https://chuyendaudau.blogspot.com/2010/04/nhung-van-e-cua-triet-hoc-het.html

[2] Xem thêm > [ Lugwig Wittgenstein - Tractatus Logico-Philosophicus (trích)/ Tuesday, August 31, 2010] bản tôi tam dịch trên blog này : https://chuyendaudau.blogspot.com/2010/08/lugwig-wittgenstein-tractatus-logico.html#more

& [ Daniel Dennett. “Ludwig Wittgenstein: Philosopher” ((Times - Monday, Mar. 29, 1999) bản tôi tam dịch trên blog này:https://chuyendaudau.blogspot.com/2010/10/ludwig-wittgenstein-philosopher.html

[3] truth function

[4] Henry M. Sheffer (1882–1964) là nhà lôgíc học người Mỹ. Năm 1913, ông chứng minh rằng toàn bộ những hàm lôgíc đúng-sai của một tập hợp mệnh đề có thể được xây dựng từ một phép toán lôgíc duy nhất. Wittgenstein sử dụng kết quả này trong Tractatus để xây dựng những mệnh đề phức tạp từ những mệnh đề nguyên tử.

[5] atomic proposition

[6] một công thức, biểu thức hoặc mệnh đề luôn luôn đúng, chỉ vì cấu trúc lôgíc của nó.

[7] pseudo-concept

[8] Propositional attitude (thái độ đối với mệnh đề) là thái độ của một chủ thể đối với một mệnh đề mà chủ thể ấy tin, nghĩ, biết, hy vọng, sợ hoặc nói; mệnh đề ấy có thể đúng hoặc sai..

[9] Có một điểm đáng chú ý trong quan hệ giữa Russell và Wittgenstein. Russell viết lời giới thiệu cho Tractatus để giải thích những tư tưởng chính của Wittgenstein về lôgíc, ngôn ngữ và thế giới. Ông đọc cuốn sách như một công trình đưa ra những luận điểm có thể giải thích được: thế giới gồm những sự kiện, mệnh đề mô tả những sự kiện ấy, và lôgíc cho thấy giới hạn của những gì có thể nói.

Nhưng Wittgenstein lại muốn người đọc hiểu cuốn sách theo một cách khác. Theo ông, những mệnh đề của Tractatus không phải là một học thuyết về thế giới mà chúng ta có thể giữ lại sau khi đọc sách. Chúng giống như những bậc thang giúp chúng ta đi đến chỗ nhận ra giới hạn của ngôn ngữ. Khi đã đạt đến đó, chúng ta phải bỏ những bậc thang ấy đi.

Vì vậy mới có nghịch lý: Russell dùng những mệnh đề của Tractatus để giải thích Wittgenstein, trong khi Wittgenstein cho rằng những gì cuốn sách muốn đưa chúng ta đến thì không thể được nói ra bằng những mệnh đề có nghĩa. Nói cách khác, Russell cố gắng nói về những gì Wittgenstein cho rằng chỉ có thể được chỉ ra.

Điều này không có nghĩa lời giới thiệu của Russell không có giá trị. Russell hiểu rất sâu phần lôgíc của Tractatus và đã góp phần quan trọng vào việc đưa cuốn sách đến với giới triết học Anh ngữ. Nhưng ông đọc những luận điểm của Wittgenstein như một học thuyết có thể trình bày, trong khi Wittgenstein xem chúng như những bước giúp người đọc tự nhận ra điều mà cuối cùng không thể nói thành lời.

Tuy nhiên, đây cũng chưa phải là quan điểm cuối cùng của Wittgenstein. Về sau, ông thay đổi sâu sắc cách nhìn của mình về ngôn ngữ và lôgíc, và không còn giữ nguyên nhiều luận điểm của Tractatus. Đặc biệt, trong Philosophical Investigations, ông từ bỏ quan niệm về một cấu trúc lôgíc duy nhất nằm bên dưới ngôn ngữ và không còn xem ngôn ngữ chủ yếu như một phương tiện dùng để mô tả những sự kiện.

Vì thế, việc Wittgenstein phản ứng với cách Russell đọc và diễn giải Tractatus cũng cần được đặt trong quá trình phát triển tư tưởng của chính Wittgenstein, nhưng không nên tách riêng Tractatus khỏi những thay đổi trong tư tưởng của ông về sau. Đồng thời, điều này không có nghĩa rằng lời giới thiệu của Russell không có giá trị. Trái lại, đọc Russell có thể giúp chúng ta nhận ra rõ hơn nhiều vấn đề trong Tractatus, kể cả những điểm mà Wittgenstein muốn người đọc hiểu theo một hướng khác. Nói cách khác, Russell có thể không đọc Tractatus hoàn toàn theo cách Wittgenstein muốn, nhưng lời giới thiệu của Russell lại có thể giúp chúng ta hiểu Wittgenstein rõ hơn.