Friday, June 29, 2012

Nietzsche - Về Lai lịch của Đạo đức (06)


Về Lai lịch của Đạo đức
(On the Genealogy of Morality
Zur Genealogie der Moral)

Friedrich Nietzsche






Luận văn thứ nhất: ‘Lành và Dữ’, ‘Tốt và Xấu’
(tiếp theo và hết)

16.
Chúng ta hãy cùng rút ra một kết luận. Hai giá trị đối lập “tốt và xấu”, “lành và ác” [1] đã chiến đấu một trận chiến khủng khiếp hàng ngàn năm trên mặt đất; mặc dù điều kể sau đã chiếm thắng thế trong một thời gian dài, nhưng vẫn còn không thiếu những nơi tại đó trận chiến vẫn chưa ngã ngũ. Bạn thậm chí có thể nói rằng, trong khi đó, nó đã từng đạt đến những đỉnh cao hơn, nhưng đồng thời đã từng trở thành sâu xa hơn và trí thức hơn: thế nên ngày nay có lẽ không còn nữa nét phân biệt nổi bật của “bản chất cao hơn”, bản chất trí thức, hơn là của tư thế bị phân chia trong ý hướng này, và thực và đúng một chiến trường của những đối lập này. Dấu hiệu của cuộc chiến này, được viết trong một dòng chữ cho đến nay vẫn còn đọc được rõ ràng qua suốt lịch sử loài người, là ‘Rome chống lại Judea, Judea chống lại Rome’: [2] - cho đến tận giờ, đã chưa từng có biến cố nào lớn hơn trận chiến này, câu hỏi này, mâu thuẫn này của những kẻ thù sống mái. Rome thấy người Dothái như là một-gì đó trái với tự nhiên, như thể người ấy đã là quái vật đối cực của nó (Monstrum); tại Rome, người Dothái bị nhìn như bị kết án có tội hận thù chống lại toàn bộ loài người: [3] đúng đấy, nếu người ta là đúng khi liên kết phúc lợi và tương lai của loài người với qui luật tuyệt đối của những giá trị quí tộc, những giá trị Lamã. Mặt khác, dân Dothái đã cảm thấy gì về Rome? Chúng ta có thể đoán từ một ngàn những dấu chỉ, nhưng là đủ để gọi về trí nhớ một lần nữa Sách Tận Thế của John, bản văn ngông cuồng nhất của tất cả những giận dữ bùng nổ đã từng được viết trong đó sự báo thù mặc áo lương tâm của nó [4]. (Nhân đây, chúng ta phải đừng lầm đánh giá thấp sự kiên định sâu xa, trước sau như một của bản năng Kitô khắc ghi trong quyển sách của sự thù ghét này, với những môn đồ của thương yêu, cũng chính thực cùng là một người nó đã gán cho phúc âm xuất thần mê mẩn đầy nhiệt tình đó - : có một vài sự thật trong đây, tuy nhiên, nhiều những giả mạo văn chương (thêm thắt, sửa đổi) có thể là cần thiết để phục vụ mục đích). Như thế, những người Lamã đã là người mạnh mẽ và cao thượng, mạnh mẽ hơn và cao thượng hơn so với bất cứ ai cho đến nay đã từng sống, hay đã từng mơ ước đến, trên trái đất; tất cả mỗi di tích của họ và ghi khắc của họ mang đến thích thú khoái cảm, miễn là nếu người ta có thể đoán được là điều gì đây vốn làm chuyện khắc ghi ở đó. Ngược lại, dân Dothái đã là một dân tộc thày tu của ressentiment tối thượng hảo hạng, sở hữu một thiên tài không ai sánh bằng về đạo đức phổ thông: so sánh những dân tộc với những tài năng tương tự, chẳng hạn như dân Tàu hay dân Đức, với dân Dothái, và bạn sẽ nhận ra ai là bậc nhất và ai là bậc thứ năm. Ai trong đám họ đã thắng thế tạm thời, Rome hay Judea? Nhưng không có dấu vết ngờ vực nào: hãy chỉ thử ngẫm nghĩ xem - ai là người bạn sẽ cúi đầu trước họ trong chính Rome ngày nay, như thể trước sự hiện thân của những giá trị cao nhất - và không chỉ ở Rome, nhưng trên gần quá nửa trái đất, khắp mọi chốn, nơi mà con người đã trở thành thuần hóa hoặc muốn trở thành thuần hóa, với ba người Dothái, như chúng ta biết, và một người đàn bà Dothái (với Jesus người thành Nazareth, Peter Người-đánh-cá, Paul Người-thợ-dệt-thảm, và mẹ của Jesus, người đã nhắc đến trước tiên, có tên là Mary) [5]. Điều này rất đáng chú ý: Rome đã bị đánh bại, chẳng còn phải ngờ gì. Tuy nhiên, trong thời Phục hưng đã có một sự tái-thức-tỉnh kỳ lạ, rực rỡ chói sáng của lý tưởng cổ điển, của phương pháp quý tộc về định giá tất cả mọi giá trị: Rome tự nó đã tỉnh giấc, như thể từ sống động trước đã bị đình chỉ, dưới áp lực của Rome-bị Dothái-hóa mới, đã xây trùm trên nó, trông giống như một synagogue [6] cho toàn thế giới, và đã được gọi là hội ‘Nhà thờ’: nhưng ngay lập tức Judea lại chiến thắng lần nữa, đó là nhờ vào vận động-ressentiment, cơ bản là giới vô sản (dân Đức và Anh), vốn người ta gọi nó là phong trào Cải cách [7], gồm cả hậu quả không thể tránh khỏi của nó, là sự khôi phục lại hội nhà thờ, cũng như khôi phục lại sự im lặng như trong lăng-mộ cổ, của cổ điển Rome. Trong một ý nghĩa sâu sắc và thậm chí còn quyết định hơn hơn sau đó, Judea đã chiến thắng một lần nữa trên lý tưởng cổ điển với cuộc Cách mạng Pháp: giới quí tộc chính trị cuối cùng ở châu Âu, đó là của Pháp những thế kỷ mười bảy và mười tám, bị sụp đổ dưới những bản năng-ressentiment của lớp bình dân, - thế giới đã chưa từng  bao giờ nghe tiếng sấm nhiệt tình vui mừng lớn hơn và vang động hơn! Đúng, điều chết khiếp nhất và bất ngờ nhất đã xảy ra ở đoạn giữa: lý tưởng cổ điển chính nó đã hiện ra bằng xương thịt với huy hoàng chưa từng được nghe, trước mắt nhìn và ý thức của loài người, và một lần nữa, mạnh hơn, đơn giản hơn và thấm nhuần sâu hơn, hơn bao giờ hết, trong trả lời cho những khẩu hiệu ressentiment gian dối cũ kỹ của ưu tiên cho đa số, của ý chí của con người với sự đê tiện hèn hạ, sự hạ phẩm giá nhục nhã, sự đánh bằng ngang nhau, sự suy đồi và phân rã, ở đó vang lên phản-khẩu hiệu khủng khiếp và thích thú mê đắm: ưu tiên cho thiểu số! Giống như một dấu chỉ đường cuối cùng về con đường khác, Napoleon đã xuất hiện như một con người nhiều độc nhất vô nhị hơn và ra đời muộn hơn với thời đại của ông, hơn bất cứ người nào đã từng có trước, và trong ông ta, vấn đề của lý tưởng quí phái tự nó đã làm thành xương thịt - chỉ hãy nghĩ đó là một vấn đề gì: Napoleon, hợp đề này của Unmensch (có thú tính không con người) và Übermensch (con người trên người) . . .


Tuesday, June 26, 2012

Nietzsche - Về Lai lịch của Đạo đức (05)


Về Lai lịch của Đạo đức
(On the Genealogy of Morality
Zur Genealogie der Moral)
Friedrich Nietzsche








Luận văn thứ nhất: ‘Lành và Dữ’, ‘Tốt và Xấu’

11.
Ngược lại y như thế là đúng với người quí tộc, người tự hình thành ý niệm cơ bản về ‘tốt’ cho chính mình, từ sớm trước và tự phát, và chỉ sau đó mới tạo một ý niệm về ‘xấu’! “Xấu” này từ nguồn gốc quí tộc và ‘ác’ đó từ vạc lớn của hận thù không vơi – cái trước là một suy nghĩ đến sau hành động, một điều phụ cạnh, một màu sắc thêm thắt, trong khi cái sau là nguyên gốc, là khởi đầu, là hành vi tác động thực trong khái niệm nhận thức của đạo đức nô lệ - hai từ ‘xấu’ và ‘ác’ khác nhau biết chừng nào, mặc dù cả hai đều dường như đối nghịch của cùng một khái niệm, “tốt”! Thế nhưng nó không phải là cùng một khái niệm “tốt”; ngược lại, người ta nên hỏi ai là ác thực sự trong ý nghĩa của đạo đức của ressentiment. Lời đáp nghiêm nghị là: đích xác là cá nhân “tốt” của thứ đạo đức kia, thứ đạo đức của người thống trị, hùng mạnh, cao quí, nhưng bị tô vẽ lại, diễn dịch lại, và xem lại qua mắt nhìn ngấm thuốc độc của ressentimentỞ đây có một điểm mà chúng ta sẽ là những người cuối cùng (nếu phải) phủ nhận: bất cứ ai là người đi đến biết những ‘con người tốt’ này như những kẻ thù, đã đi đến không biết gì ngoài hơn, nhưng chỉ “những kẻ thù xấu ác”, và cũng những người này, những con người bị bị kềm giữ bởi tập quán, sự tôn kính, lòng biết ơn và thậm chí còn hơn nữa qua sự dọ thám lẫn nhau, và qua sự ganh tị giữa đồng-bạn-cùng-nhóm, về mặt khác, lại là những người cho thấy họ đối xử với nhau thật hết sức uyển chuyển linh động tháo vát trong sự quan tâm, tự kiểm soát, tinh tế, trung thành, tự hào, và tình bằng hữu, - họ chẳng phải là nhiều tốt đẹp gì hơn so với những loài thú săn mồi không bị nhốt giữ trong thế giới bên ngoài, nơi bắt đầu cái lạ lẫm, cái không quen. Ở đó, họ được tự do thỏa thích, thoát khỏi tất cả mọi ràng buộc xã hội, trong sự hoang dã,  họ đền bù cho căng thẳng vốn là hậu quả của tư thế sát nhau cận kề, và bị nhốt kỹ và rào chặt trong hòa bình của cộng đồng đã từ lâu, họ quay trở lại với lương tâm vô tư của con thú hoang, như những con quái vật hả hê đắc chí, những kẻ có lẽ đi nhúng tay vào một liên tục ghê tởm gớm guốc của giết người, đốt phá, hãm hiếp và tra tấn, trong một tính khí hào sảng và cân bằng tinh thần, như thể họ đơn giản chỉ chơi khăm một trò đùa nhả nhớt của học trò, tin chắc rằng bây giờ sẽ có một-gì-đó để những nhà thơ ca ngợi, và tán dương trong một thời gian khá lâu dài. Ở trung tâm của tất cả những những sắc dân quý phái này, chúng ta không thể không nhìn thấy con thú đi săn mồi, con thú lông vàng [1] cừ chiến lộng lẫy say sưa đi lùng kiếm mồi và chiến thắng; thỉnh thoảng những nhu cầu trung tâm ẩn dấu này cần được buông thả, con thú lại phải thoát tung, phải quay về với tự nhiên hoang dã: - quí tộc Lamã, Ảrập, Đức, Nhật, những anh hùng trong thơ Homer, những Viking (gan dạ vượt biển cướp bóc) dân Scandinavia - họ tất cả đều giống nhau trong đòi hỏi này.

Friday, June 1, 2012

Thơ Lê Thạch Thất




5 July 2007






chiều mưa tan mây xuống thấp như đời
những mảng xám bồng bềnh lan trong lũng
tôi ngang qua – chùng lòng – dừng xe lại
trong mịt mờ – quên mình định về đâu.

mưa đầu xuân rất êm xuống quanh đây
chút vui ẩn thầm kín giữa cây cỏ
gió thổi nghiêng đám hoa dại bên đường
và thanh thản vài giọt nhòa trên kính.

nước đọng thành vũng – nổi những lá xanh
dật dờ nhánh cây tươi vừa rơi gãy
mây – bất ngờ – như đám khói – thật dịu dàng
tôi vào gần –  tự loãng ra – nhường lối. 

nghìn xưa từ đâu bỗng dạt về đây
quanh co bên tôi chiều nay – nơi lũng tối
đất trời vừa mới lại dưới mưa xuân
tôi vừa cũ lại – cùng đám mây không tuổi.




(Xuân 2012 – đọc lại một bài thơ cũ)

Friday, May 11, 2012

Nietzsche - Về Lai lịch của Đạo đức (04)

Về Lai lịch của Đạo đức
(On the Genealogy of Morality
Zur Genealogie der Moral)
Friedrich Nietzsche






Luận văn thứ nhất: ‘Lành và Dữ’, ‘Tốt và Xấu’

8.
Nhưng bạn không hiểu điều ấy phải không? Bạn không có mắt riêng chú ý vào một-gì đó đã cần hai nghìn năm để đạt chiến thắng phải không? . . . Chẳng có gì ngạc nhiên về việc ấy: tất cả những-gì dài lâu thì khó nhìn, khó thấy cho trọn đầu đuôi. Nhưng thế đó là những gì đã xảy ra: từ thân mình của cái cây thù hằn và căm ghét, căm ghét lối Dothái - căm ghét sâu xa nhất và siêu phàm nhất, quả thực một căm ghét đã tạo ra những lý tưởng và đã thay đổi những giá trị, điều giống như nó chưa từng bao giờ nhìn thấy trên mặt đất - ở đó đã lớn dậy một-gì-đó đúng là không thể so sánh được, một thương yêu mới, loại thương yêu sâu xa nhất và siêu phàm nhất: - và còn thân cây khác nào nữa nó có thể đã mọc lớn dậy? . . . Nhưng đừng vướng sai lầm nếu nghĩ rằng nó đã trỗi lớn như một sự từ chối với sự thèm khát báo thù, như sự đối nghịch với căm ghét lối Dothái! Không, ngược lại mới là đúng! Thương yêu này đã lớn dậy từ sự căm ghét, vì vương miện của nó, vì vương miện khải hoàn luôn luôn liên tục phát triển lớn rộng hơn dưới mặt trời rạng ngời tinh khiết nhất và chói lòa nhất, vương miện, như nó đã là thế, nó ở trong cõi của ánh sáng và cao rộng, đã đương theo đuổi những mục tiêu của căm ghét đó, chiến thắng, chiến lợi phẩm, cám dỗ đó với cùng một sự cấp bách của những gốc rễ của căm ghét đó đã đương đào sâu chôn dấu lại càng hết mực trước sau kỹ lưỡng và tham lam hơn vào trong tất cả mọi thứ vốn là sâu tối và tà ác. Jesus người thành Nazareth này, như hiện thân của rao giảng tin mừng [1] của thương yêu, “kẻ cứu chuộc” này khi đem cứu rỗi và chiến thắng đến với kẻ nghèo, kẻ bệnh, kẻ tội lỗi – chẳng phải ông đã là sự quyến rũ trong hình thức nham hiểm nhất và không thể cưỡng lại nhất, sự quyến rũ và con đường xoay vòng đi quanh để đến với đúng chỉ những những giá trị và những lý tưởng sáng tạo rất Dothái đó – hay sao? Không phải là Israel đã đạt được đỉnh cao tột cùng của sự báo thù siêu phàm của nó đúng qua lối chính “kẻ cứu thế” này hay sao? kẻ đối thủ rành rành này của Israel và kẻ phân tán này của Israel hay sao? Không phải đó là phần của một ma thuật bí mật của một chính trị thực sự lớn lao của sự báo  thù, một sự báo thù nhìn xa thấy trước, ngấm ngầm ẩn sâu, chậm mới thấu hiểu nổi và đầy tính toán, rằng Israel đã phải vạch mặt tố cáo khí cụ thực sự của sự báo thù của nó trước toàn thế giới, như một kẻ thù sinh tử, và đóng đinh hắn lên giá gỗ chữ thập, như thế để “tất cả thế giới”, cụ thể là tất cả những kẻ thù địch của Israel, có thể an toàn nhấm nhằn táp rỉa cái mồi bẫy này? Và về mặt khác, có thể có bất kỳ một ai, bằng cách sử dụng tất cả tài khéo của trí tuệ của mình, lại dựng lập lên được một mồi bẫy nguy hiểm hơn thế nữa? Một gì đó ngang bằng với sức mạnh hư hỏng đồi bại, hấp dẫn lôi cuốn, dậy men say sưa, tê cóng mụ mẫm trí óc của cái biểu tượng đó của “giá gỗ chữ thập thần thánh”, ngang bằng với nghịch lý kinh hoàng đó của một “Gót trên Thập giá”, ngang bằng với bí ẩn đó của một hành động cuối cùng không thể tưởng tượng nổi của sự cực kỳ tàn ác, và sự tự chịu đóng đinh trên giá gỗ chữ thập của Gót cho sự cứu rỗi của loài người? . . . Ít nhất có một điều chắc chắn, rằng Israel sub hoc signo [2], với sự báo thù của nó và sự đánh giá lại tất cả những những giá trị đã có trước đây của nó, nó đã chiến thắng lần lượt không ngừng trên tất cả những lý tưởng khác, tất cả những lý tưởng cao thượng hơn. - - [3]



Saturday, May 5, 2012

Nietzsche - Về Lai lịch của Đạo đức (03)

Về Lai lịch của Đạo đức
(On the Genealogy of Morality
Zur Genealogie der Moral)
Friedrich Nietzsche
(tiếp theo)




Luận văn thứ nhất: ‘Lành và Dữ’, ‘Tốt và Xấu’


1  

- Những nhà tâm lý học lối Anh [1] này, phải cảm ơn họ vì là những người duy nhất cho đến nay đã làm những nỗ lực để viết một lịch sử về sự xuất hiện của đạo đức [2], - cung cấp cho chúng ta một câu đố nhỏ dưới hình thức là chính bản thân họ; trong thực tế, tôi thú nhận rằng, như những câu đố sống, họ có một lợi thế ý nghĩa hơn những quyển sách của họ - họ thì thật sự thú vị đáng chú ý! Những nhà tâm lý người Anh này – đúng là họ muốn gì?  Bạn luôn luôn tìm thấy họ, dù họ muốn thế hay không, trong cùng một công việc đẩy cái phần đáng xấu hổ [3] của thế giới bên trong chúng ta ra mặt trước, và tìm kiếm những gì thực sự hiệu quả, hướng dẫn và quyết định cho sự phát triển của chúng ta ở chỗ vốn sự tự hào trí thức của con người sẽ ít muốn tìm thấy nó nhất (lấy thí dụ, trong sức kéo trì trệ  [4] của thói quen, hay trong sự quên lãng, hay trong một ghép hợp mù lòa và ngẫu nhiên, và cơ chế máy móc của những ý tưởng, hoặc trong một-gì đó thuần túy thụ động, tự động, phản xạ, đơn lẻ cục bộ và ngu ngốc suốt từ đầu đến cuối) – điều thực sự thúc đẩy những nhà tâm lý này lúc nào cũng theo đúng hướng này là gì đây? Có phải nó là một bản năng bí mật, độc hại, tồi tàn để giảm giá trị loài người đi, vốn nó chắc có lẽ không thú nhận với chính nó? Hoặc có lẽ một sự nghi ngờ bi quan, sự mất tin cậy của những người theo thuyết duy ý  [5] đã vỡ mộng, cáu kỉnh, là những người đã quay sang thành có nọc độc, và xanh chát thiếu chín chắn? Hoặc là một ác cảm và hận thù [6] ngấm ngầm nhất định nào đó hướng về đạo Kitô (và Plato), vốn có lẽ ngay cả đã còn chưa vượt qua ngưỡng cửa của ý thức? Hoặc thậm chí là một khẩu vị không biết xấu hổ với cái lạ, với nghịch lý đau đớn, với sự đáng ngờ và vô nghĩa trong đời sống? Hoặc cuối cùng - một chút của tất cả mọi thứ, một chút của hèn hạ bần tiện, một chút của âu sầu ảm đạm, một chút của chống-đạo-Kitô, một chút của một phập phồng hồi hộp và cần đến tiêu cay? . . . Nhưng người ta bảo tôi rằng họ chỉ là những con ếch già, lạnh, nhàm chán, bò quanh đám người và nhảy chỗm vào trong những người này như thể họ đã ở trong môi trường quen thuộc của họ, cụ thể là một đầm lầy. Tôi cự lại với nghe điều này, và thực vậy, tôi không tin nó, và nếu như được cho phép để mong ước ở chỗ vốn không thể nào có thể biết, tôi thành thực hy vọng rằng điều ngược lại là đúng, - rằng những nhà phân tích này soi một kính hiển vi vào linh hồn [7] là những động vật thực sự tự hào, hào sảng, và dũng cảm, những người biết làm thế nào để kiểm soát thú vui và đau đớn của họ, và đã được dạy để biết hy sinh sự thèm muốn cho sự thật, tất cả mọi sự thật, thậm chí một sự thật phi-đạo đức, phi-đạo-kitô, thô lỗ, xấu xí, đắng cay, xuông đuột sống sượng,. . . Bởi vì có những sự thật loại như vậy. –