Thursday, May 28, 2009

Bertrand Russell - Tại Sao Tôi Không là người Kitô?

Tại Sao Tôi Không là người Kitô?
Why I Am Not a Christian

Bertrand Russell (1872-1970)
  








Lời Người Dịch


1.
Tại sao tôi Không là người Kitô (Why I am not a Christian) – được coi như bản văn triết học báng bổ Kitô nhất đã từng viết và phổ biến rộng rãi, điều sau đến từ sức lôi cuốn tự nhiên với những người đọc là những ai đã có kinh nghiệm về tôn giáo lớn và quan trọng này. Sau mở đầu bằng định nghĩa một người theo Kitô chủ yếu là phải có niềm tin vào hai đối tượng: tuyệt đối vào Gót và ít nhiều vào Christ. Russell lần lượt trình bày sự nghi ngờ và phủ nhận của ông, qua luận lý, dựa trên lý trí của khoa học và triết học. Ở phần đầu tiên, Russell phân tích một số những biện chứng luận lý về sự hiện hữu của Gót, trong đó có luận chứng vũ trụ, luận chứng luật thiên nhiên, luận chứng thiết kế và những luận chứng đạo đức. Sang phần thứ hai, ông đi vào phê phán một vài điểm quen thuộc của giáo điều Kitô, cho thấy những thiếu sót ngay từ những lời giảng và tư cách đạo đức của chính bản thân Christ – đặc biệt là sự xác quyết của vị này vào tính vĩnh cửu của trừng phạt và của hỏa ngục, hai vũ khí tinh thần khủng bố con người.

Russell cũng bày tỏ mối hoài nghi về một Jesus lịch sử, nhưng khi đặt câu hỏi để đánh giá lại tính chất đạo đức vẫn được gán cho tôn giáo này, ông dựa trên những thuật kể về nhân vật Jesus tự xưng là Christ trong Tân ước, vì nhân vật này, dù hư hay thực, những người Kitô đã lấy chân dung đó làm khuôn mẫu đạo đức tối cao cho họ. Sau cùng, từ thực tại xã hội, giới hạn trong lĩnh vực đạo đức, ông lên án tổ chức thế tục của tôn giáo này: “Tôi nói – với tất cả thận trọng rằng – đạo Kitô, như tổ chức giáo hội, đã từng và vẫn còn, là thù nghịch chính của các tiến bộ đạo đức trên toàn thế giới”.


2.
Chúng ta đều biết Bertrand Russell là một nhà lôgích và một triết gia lỗi lạc. Why I Am Not a Christian, cũng là tên gọi chung của một tuyển tập gồm những bài viết về tôn giáo của ông, Bài  luận văn này – Tại sao tôi không là người Kitô chủ yếu là một lý luận chứng minh bản chất lừa dối và độc hại của tin tưởng tôn giáo và của các hoạt động hội nhà thờ. Tính chất lừa dối và độc hại này được Russell trình bày với những lập luận và bằng chứng không thể chối cãi, không thể đưa ra lập luận hoài nghi, hay phản bác được. Bài văn có cấu trúc lôgích đơn giản, chặt chẽ:  Ông nêu hai tiền đềvà đưa ra kết luận thuận lý và vững chắc từ hai tiền đề đó:  

Tiền đề 1              Gót không có thực; những chứng minh Gót hiện hữu đều không đứng vững 
Tiền đề 2              Christ không là người khôn ngoan nhất, cũng không là người đạo đức nhất 
Kết luận               đạo Kitô là một sai lầm, lừa dối và tai hại – nên tôi không là người Kitô

Nếu có thể tóm tắt kết luận chính yếu Russell đem cho chúng ta, là như sau: con người có tín ngưỡng, theo tôn giáo, và đặc biệt tin tưởng vào Gót – hoàn toàn đến từ tình cảm hơn là lý trí. Tình cảm chủ yếu đó, Russell chỉ ra là sự sợ hãi. Thế nên, đoạn cuối, ông khuyến khích chúng ta hãy là những người tự do, đừng để đời sống và tư tưởng bị nô lệ vì sợ hãi, hãy nhìn thẳng vào thế giới quanh mình, sống với nó, vui với nó, cam chịu với nó, hay như vẫn nóichìm nổi với đời này, đừng nhìn đâu khác, đừng trông mong đời khác, thần linh khác, đừng vì những không chắc thực mà bỏ mất những gì chắc chắn thực:

Chúng ta muốn đứng thẳng, vững chãi trên chính hai chân mình, tự lập với tất cả những gì cần để sống, không phải nhờ bất cứ ai khác, nhìn thế giới với con mắt ngay thực và công bằng – những sự kiện tốt, những sự kiện xấu, những cái đẹp đẽ, và những cái không-đẹp-đẽ của nó; nhìn thế giới như nó-thực-là, và đừng sợ nó. Chinh phục thế giới bằng trí tuệ thông minh và đừng chỉ đơn thuần để sự khiếp hãi từ nó đến làm mình bị khuất phục nô lệ. Toàn thể khái niệm về Gót là một khái niệm bắt nguồn từ những thể chế chuyên quyền cổ hủ của vùng Cận Đông. Nó là một khái niệm hoàn toàn đáng khinh, không xứng với con người tự do”.

3.
Ra đời đã gần một trăm năm, thông điệp của bản văn vẫn không mất chút thời gian tính nào, và đang được làm sống lại mạnh mẽ, sôi động, hùng hồn, và được tiếp nhận sâu rộng hơn, với những khuôn mặt mới nhưng sớm quen thuộc với độc giả của thế giới văn hóa Anh ngữ hiện nay, tạm kể những giọng đang cao, tiếng đang lớn, và đang chuyển động dư luận: Richard Dawkins, Daniel Dennett, Sam Harris, và Christopher Hitchens. Tôn giáo, đặc biệt là ba tôn giáo tin-chỉ-một-gót ở phương Tây, vẫn là đề tài thời sự nỏng bỏng của ngày nay, vì chúng đã không  chìm vào bóng tối như đã tưởng, nhưng vẫn không ngừng là những động lực mạnh mẽ đi ngược, cản trở những tiến bộ là thành tựu của lý trí con người, đặc biệt tại Âu Mỹ, trong các lĩnh vực đạo đức, xã hội, giáo dục và khoa học, (và những tác hại trực tiếp của chúng vào xã hội những nước hậu thực dân ở Á Phi).  Vũ khí tinh thần của những người dẫn đầu vận động Tân Vô thần (New-Atheism) này đem xử dụng, vẫn có thể gặp thấy trong Why I am not a Christian của Russell.

Tại sao tôi Không là người Kitô là bạn gối đầu giường của rất nhiều người, nhiều thế hệ. Giọng văn có nhiều chỗ hóm hỉnh và pha chút bông đùa, nhưng trước sau là sự chân thành chia xẻ kinh nghiệm cá nhân, mong đánh thức người nghe; ông hướng chúng ta đến suy tưởng sâu xa, hơn là những xúc động phẫn khích nhất thời, dù người nghe có đồng ý hay không với dòng suy nghĩ của ông về đạo Kitô, điển hình của loại tôn giáo tin-chỉ-một Gót; nên bài nói chuyện này cũng là một bản văn triết học kinh điển cô đọng, nghiêm chỉnh đặt những vấn đề trọng đại, nêu những vấn nạn tri thức rất nổi tiếng. Russell thực sự chỉ tiếp tục một truyền thống không-tin-có-gót vốn có sẵn của triết học phương Tây, trước khi có tôn giáo loại như Kitô, từ cổ thời  Hylạp, trong Epicurus, Lucretius, đến những khuôn mặt lớn của hai thế kỷ vừa qua: David Hume, Friedrich Nietzsche, Emile Durkheim, Sigmund Freud, Karl Marx. Why I am not a Christian đã thách thức bản chất tôn giáo, nội dung tin tưởng và nền tảng thần học của đạo Kitô. Riêng Why I am not a Christian, rất ngắn, rất gọn, không dày đặc ngôn từ triết học, chỉ bằng điềm đạm lôgích của những người mà ông gọi chung là những nhà tự do tư tưởng (Freethinkers), nhưng sức công phá của nó vẫn mãnh liệt không ngừng từ đó.

Ông phá mở những cánh cửa mà sau đó không thể nào đóng lại để tiếp tục che dấu, như trước nữa. Nhờ đó, rất nhiều người đã bỏ đi ra, và ắt phải đã có đông đảo hơn nhiều, những người có dịp bước ngang qua, nhưng đã không đi vào.

Không tìm thấy một bản Việt ngữ; tôi tạm dịch bài này – gửi những người lặng lẽ đi ra và những người vô danh không-đi-vào đó.

Những người Việt, những nạn nhân sống sót của thực dân tín ngưỡng, và xâm lăng văn hóa đến từ phương Tây.

Lê Dọn Bàn
(Jun/2009)

Friday, May 22, 2009

Bertrand Russell - Có Gót Hay Không?

Có Gót Hay Không?
Is there a God?
Bertrand Russell (1872-1970)







Lời Người Dịch

Russell là tên tuổi lừng lẫy của triết học phương Tây, từ thế kỷ vừa qua cho đến nay, tiếng nói của ông được nhiều người trên thế giới, nhiều thế hệ liên tục đông đảo đón nhận và lắng nghe. Riêng ở ngoài giới học thuật, ông rất nổi tiếng qua những bài viết ngắn trình bày quan điểm của mình về xã hội, chính trị và nhất là về tôn giáo – phê bình Kitô giáo độc thần, thuộc loại tín ngưỡng tin-chỉ-một-gót. Đây là một quan tâm đặc biệt từ thuở còn nhỏ tuổi. Sau khi đọc tự truyện của John Stuart Mill, ông mất lòng tin vào Gót. Trước đó, ông cho luận chứng về Nguyên Nhân Đầu Tiên đủ chứng minh sự hiện hữu của một Gót, nhưng Mill viết, có thân phụ dạy rằng nếu bảo Gót là nguyên nhân vũ trụ thì liền lập tức có câu hỏi – thế cái gì là nguyên nhân của Gót ? – nổi lên ngay. Bởi vì nếu tất cả mọi vật đều có nguyên nhân sao Gót lại không? Chuyếnh choáng vì “khám phá” này, lúc 18 tuổi ông vào Cambridge, và sung sướng làm sao, ông kể lại – khi biết rằng đa số mọi người quanh ông đều nghĩ như thế.

Monday, April 20, 2009

Đạo Phật Chân Tông (phần 3)

Đạo Phật Chân Tông (3)
The Shin Sect of Buddhism
Daisetz Teitaro Suzuki (1870 –1966)


VI

Còn một điều nữa và là điều nhận xét cuối cùng, tôi muốn trình bày về ChânTông liên quan đến sinh hoạt đời sống của tín đồ. Nói chính xác, ChânTông không có một tầng lớp tu sĩ chuyên nghiệp nào tương ứng với những gì chúng ta thấy trong các trường phái khác của Đạo Phật. Các tu sĩ đạo Phật, được quan niệm chung là thực hành khổ hạnh, có đời sống không giống các người thường. Họ sống riêng biệt trong những kiến trúc xây dựng đặc biệt và tuân thủ những qui luật có nội dung nhằm trợ giúp sự thăng tiến đạo đức và tinh thần. Chuyên tâm nghiên cứu những văn bản đạo Phật, Họ đọc, tụng thuộc lòng kinh Phật, tán kệ, điều khiển những nghi lễ khác nhau trong những trường hợp khác biệt. Họ thuyết giáo, thực hiện những nghi lễ tang ma, chôn cất, Họ được mời rời chùa, đến nhà thường dân để làm các nghi lễ tôn giáo cổ truyền trong các đám cúng giỗ. Vắn tắt, họ sống đời tách biệt với của những người thế tục. Đó là quan niệm cho giai tầng tu sĩ là những Phật tử tự dành trọn đời vào sự nghiên cứu và truyền bá tôn giáo của mình. Là nhà tu chuyên nghiệp, cuộc sống hàng ngày của họ phải là gương soi và là mẫu mực cho giới thế tục. Họ có lý do của họ về lối sống như thế khi những người của thế giới ngoài này cứ đắm chìm trong các cuộc chiến tranh của tham lam, giận dữ, và điên rồ (tham, sân, si); thật là khoan khoái và hứng khởi khi nhìn thấy một tập thể những tâm hồn bỏ hết tất cả để chuyên dành vào sự vun trồng các đức hạnh khác nhau của đạo Phật. Dẫu cho có những câu hỏi về mặt kinh tế liên quan từ cách sống của họ. Trong nhiều phương diện, họ mang cho xã hội rất nhiều tốt lành ngoài cả sự nhận bíết của họ, và chúng ta không nên đối xử với họ bằng thái độ lãnh đạm, lại càng thực sự không nên và phải giảm đi sự khinh miệt hay ác cảm.

Sunday, April 19, 2009

Đạo Phật Chân Tông (phần 2)

Đạo Phật Chân Tông (2)
The Shin Sect of Buddhism
Daisetz Teitaro Suzuki (1870 –1966)




V

So sánh với đạo Kitô, có thể giúp chúng ta hiểu đặc tính của giáo pháp ChânTông là một phát triển của chủ thuyết TịnhĐộ và cũng như là một môn phái của đạo Phật ĐạiThừa, dù cho mới thoạt nhìn thấy hiện ra thật lạ lẫm đến ra sao đi nữa. Những điểm sau đây có thể xem là khác biệt giữa đạo Phật Chân tông và đạo Kitô:

1. ADiĐà, qua tất cả các tuớng dạng chúng ta biết, có thể được xem như tương đương với ý niệm về Chúa Trời (God) trong đạo Kitô. Tuy nhiên ADiĐà không phải là vị sáng lập vũ trụ, nên cũng không bị nêu tên là tác giả của cái Ác (evil) trong thế giới này, vốn là ý niệm không tránh được, luôn nối theo với ý niệm sáng lập.

Những cái ác dù có mang dạng thể nào trong thế giới này, chúng đều hết thảy là từ hành động của chính chúng ta, vì tất cả những gì các cá nhân bị nghiệp chướng mà có làm được, rồi nhất thiết là xấu ác và không có giá trị nào xứng đáng để họ đến được truớc ADiĐà. Sự phân hai giữa ADiĐà và chúng sinh (sarvasattva) [1] là một trong những tính chất đặc biệt của tư tưởng ChânTông. Trong cái nhìn này, tín đồ phái này có thể nói là duy siêu nghiệm[2] hay duy nhị nguyên[3]. ADiĐà là tình thương thuần khiết thành hiện thực. Hễ ai tin ngài là cứu tinh thì chắc chắn được ADiĐà nâng dậy và tiếp dẫn vào TịnhĐộ. Lòng từ của ADiĐà không phân biệt kẻ ác nguời thiện, vì như Shinran nói, không có cái ác nào mạnh đến có thể cản được tình thương vô hạn của ADiĐà ôm lấy một con nguời dẫu dẫu thế nào, mà cũng không có sự tốt lành nào từ thế giới này toàn thiện và tinh thuần đến có thể đưa tác nhân của chúng vào đất Tịnh mà không cần nhờ đến Bản Nguyện. Chúng ta, những nguời thuộc về thế giới tương đối này, luôn luôn ý thức về những gì mình làm, vì chúng ta được tạo nên như thế nên đanh chịu không sao khác được. Khi chúng ta làm được điều gì tốt, chúng ta trở nên ý thức về nó, và chính cái ý thức này phá mất hết phuớc điền có được từ sự tốt đẹp. Ý thức có về một điều gì từ ý niệm về Tự Ngã mà ra, và không có gì hiệu nghiệm hon là ý thức tự ngã, nó làm mỗi chúng ta sẽ bị loại ngay khi xin xếp hàng truớc cửa TịnhĐộ của ADiĐà. Tha lực chấp nhận bất kể phẩm chất dẫn đến sự có mặt của một lòng từ vô luợng. Do lý do này, chừng nào chúng ta, những sinh vật sống trong cái thế giới có ý thức về các giá trị tương đối của nó, chúng ta roi mất quyền được về bên ADiĐà và các khách của cõi ngài. Nguời tốt hết là tốt liền một khi họ có ý thức về sự tốt lành và muốn dùng sự phúc hiện ấy của họ; còn kẻ làm ác lại được xóa sạch tội, thành xứng đáng ngay với TịnhĐộ liền một khi khi ánh sáng ADiĐà chiếu đến họ. ADiĐà như là cái nồi nấu chảy cả tốt lẫn xấu, trong đó chỉ mỗi lòng tin giữ được giá trị tuyệt đối của nó. Không là vị sáng lập vũ trụ, ADiĐà tuyệt không có chuyện kỷ luật, thuởng phạt con nguời. Ngài là Ánh Sáng của Từ Bi chiếu sáng đồng đều khắp sinh linh. Dù chúng sinh xấu xa ra sao đi nữa, ADiĐà biết rằng ấy là do họ bị nghiệp buộc và điều này không bao giờ làm cản trở sự vãng sinh TịnhĐộ của họ. Cái mà ngài đòi hỏi ở họ là Lòng Tin. Điều này giữ ADiĐà khỏi các trách nhiệm và khỏi những giới hạn tương đối của thế giới nhị nguyên này, đánh dấu ChânTông như một giáo thuyết độc đáo.


Friday, April 17, 2009

Đạo Phật Chân Tông

Đạo Phật Chân Tông (1)

The Shin Sect of Buddhism

Daisetz Teitaro Suzuki (1870 –1966)





Lời người dịch.

Teitaro Daisetz Suzuki (1870 – 1966) là học giả Nhật nổi tiếng. Ông được xem như người đem tư tưởng Zen (Thiền tông) sang giới thiệu với phương Tây. Ông viết rất nhiều sách về Thiền và tư tưởng Nhật bản, trong đó Essays in Zen – Buddhism (Các bài luận về Thiền tông) được biết đến nhiều nhất. Người đọc Việt ở miền Nam trước 1975 cũng quen ông qua bản dịch bộ sách này[1]


Ít phổ thông hơn, Suzuki còn nghiên cứu, phiên dịch và viết nhiều về môn phái TịnhĐộ đặc biệt của Nhật bản là Chântông (Jōdo Shinshū) do Shinran (1173 – 1262) sáng lập.


Trình bày giáo phái này   gọi tắt là Shin [2] –  với người Mỹ. Năm bài nói chuyện của ông tại American Buddhist Academy ở New York mùa xuân năm 1958, được vị sư trụ trì của New York Buddhist Church là Hozen Seki ghi lại, viết thêm tựa và năm 1970 cho xuất bản – lúc này Suzuki đã mất –với tựa đề Shin Buddhism [3]. Gần đây, Giáo sư Taitetsu Unno hiệu đính, in lại với tên mới Buddha of Infinite Light [4].


Lúc diễn thuyết, Suzuki đã 88 tuổi, không hoa mỹ, ông nói về Chântông với giọng chân thực, rất đơn giản, trong sáng và thật sâu sắc. Tôi dùng bản trong Web để dịch trước, nó ngắn gọn và tiện khi muốn tham cứu bản gốc. So với bản in thành sách, bản này bớt chi tiết, nội dung được trình bày hơi khác, nhưng vẫn là một và vì thu ngắn   từ bản văn nói sang bản văn đọc   nên cô đọng thu hút hơn. Trong bản tôi dịch, tác giả dùng nhiều so sánh với đạo Kitô để trình bày Chântông, tôi đoán thính giả là người Mỹ, hoặc chẳng biết hay không biết gì nhiều về Chântông [5]. Điều này giúp chúng ta, tuy đến từ châu Á, nhưng quen thuộc với các phạm trù văn hóa phương Tây, dễ tiếp nhận và có thêm cái nhìn mới về Chântông.