Thursday, December 20, 2012

Daisetz T. Suzuki - Cơ bản của Triết học đạo Phật (02)


Cơ bản của Triết học đạo Phật

The Basis of Buddhist Philosophy
Daisetz Teitaro Suzuki








V
Trong liên quan này, tôi nghĩ đây là cơ hội để nói vài lời về những phát biểu tiêu cực đã dùng tùy tiện trong những văn bản trong và ngoài Phật học bàn luận về những vấn đề của thực tại tối hậu. Tôi cũng có thể chạm đến một chút vào tần số của những mệnh đề nghịch lý được dùng để diễn tả một kinh nghiệm chắc chắn đã được biết rộng rãi như thần bí.

Xem xét tất cả với cân nhắc, có hai nguồn của kiến ​​thức, hay hai loại của kinh nghiệm, hay hai sự sinh-thành của con người” như Eckhart có nói về nó, hoặc hai dạng thức của sự thật (satyā) theo như những người chủ trương học thuyết “Tính Không” (śūnyavāda). Trừ khi điều này được nhìn nhận, chúng ta không bao giờ có thể giải được vấn đề của mâu thuẫn lôgích vốn chúng biểu lộ trong những từ ngữ biểu thị đặc điểm tất cả những kinh nghiệm tôn giáo. Mâu thuẫn khó hiểu như thế với cách suy nghĩ thông thường đến từ sự kiện là chúng ta sử dụng ngôn ngữ để trao đổi kinh nghiệm nội tâm của chúng ta vốn chính trong bản chất của chúng là vượt khỏi ngôn ngữ học. Nhưng cho đến nay vì chúng ta không có phương tiện truyền thông nào khác, ngoại trừ một của những người theo Thiền tông đã dựa vào, những mâu thuẫn cứ tiếp tục giữa những người duy lý và điều-gọi là thần bí. Ngôn ngữ đã phát triển trước hết cho sự xử dụng của kiến ​​thức thuộc loại thứ nhất, vốn ở mức tiện dụng cao, và vì lý do này nó đã đi đến tự khẳng định khắp tất cả trên những công việc giao thiệp và kinh nghiệm của con người. Uy quyền chế ngự của nó bao trùm đến mức chúng ta đã hầu như đi đến chấp nhận tất cả những-gì ngôn ngữ đòi hỏi. Suy nghĩ của chúng ta bây giờ được đúc khuôn ứng theo những chỉ định của nó, hành vi của chúng ta bị quy định bởi những quy tắc đã hình thành vì hiệu quả riêng của hoạt động ngôn ngữ. Đây vẫn chưa phải là tất cả. Điều tồi tệ hơn là bây giờ ngôn ngữ đã thậm chí đi đến đè nén ngăn chận sự thật của những kinh nghiệm mới, và khi chúng thực sự xảy ra, ngôn ngữ sẽ lên án chúng là phi lôgích” hay “không tưởng” và do đó là sai lầm, và cuối cùng như thế, nó sẽ cố để gạt qua bên, bất cứ gì mới như không có giá trị con người.

Thursday, December 13, 2012

Daisetz T. Suzuki - Cơ bản của Triết học đạo Phật


Cơ bản của Triết học đạo Phật

The Basis of Buddhist Philosophy
Daisetz Teitaro Suzuki








I
Triết học đạo Phật đặt cơ bản trên chứng nghiệm đức Phật đã có khoảng hai mươi lăm thế kỷ trước. Thế nên, để hiểu triết học đạo Phật là gì, điều cần thiết là hiểu – sau sáu năm gồm suy nghĩ hết sức sâu xa, thực hành thiền định, và tu tập khổ hạnh – chứng nghiệm đó của Đức Phật là gì [1].

Nói chung, chúng ta thường nghĩ rằng triết lý là một nội dung của trí tuệ thuần túy, rằng triết lý bậc nhất đến từ một não thức giàu có nhất được phú bẩm với sự nhạy bén trí tuệ cùng những lý luận biện chứng tinh tế. Nhưng điều này không đúng trong thực tế. Quả thực rằng ai là người kém có trang bị sức mạnh trí tuệ không thể là những triết gia giỏi. Trí tuệ, tuy nhiên, không phải là tất cả toàn bộ. Phải có một sức mạnh sâu xa của trí tưởng tượng, phải có một ý chí vững chắc không lay chuyển, phải có một cái nhìn sắc bén chiếu sâu vào tận bản chất con người, và cuối cùng có phải có một thị lực thực sự nhìn xuyên thấu sự thật khi được tổng hợp trong toàn bộ bản thân của chính người ấy.

Tôi muốn nhấn mạnh ý tưởng này về nhìn thấy. Biết là chưa đủ, như thuật ngữ này thường được hiểu. Kiến thức, trừ khi nó đi kèm bằng một kinh nghiệm cá nhân, thì chỉ giả tạo bên ngoài, và không có loại triết học nào có thể dựng được trên một nền tảng lung lay như vậy. Tuy nhiên, tôi thừa nhận có nhiều hệ thống tư tưởng không được hỗ trợ bằng kinh nghiệm thực tại, nhưng như thế chúng không bao giờ truyền hứng khởi. Đem chúng ra ngắm thì được, nhưng năng lực chuyển động người đọc của chúng là con số không. Dẫu kiến ​​thức loại nào triết gia có thể có đi nữa, nó phải từ kinh nghiệm của ông đi ra, và kinh nghiệm này là sự nhìn thấy. Đức Phật đã luôn luôn đã nhấn mạnh điều này. Ngài ghép hiểu-biết (ñāa, jñāna) [2] và nhìn-thấy (passa, paśya) [3] thành một đôi, vì nếu không nhìn-thấy, hiểu-biết không có chiều sâu, không thể hiểu được những thực tại của đời sống. Vì vậy, mục đầu tiên của Bát Chánh Đạo là sammādassana – chánh kiến, và sammāsankappa – chánh tư duy, tiếp liền theo. Nhìn thấy là trải nghiệm, nhìn thấy sự vật trong trạng thái của chân-như (tathatā) của chúng, hay như-như [4] của chúng. Toàn bộ triết lý của Đức Phật đến từ sự nhìn thấy này, sự trải nghiệm này.

Kinh nghiệm làm cơ sở triết học của đạo Phật được gọi là kinh nghiệm giác ngộ, vì nó là kinh nghiệm này của giác ngộ vốn đức Phật có sau sáu năm suy nghĩ gian khổ và chiêm nghiệm sâu xa, và tất cả những gì ngài giảng dạy về sau là sự khai triển của nhận thức bên trong này của ngài đã có khi đó.

Vậy khi đó, kinh nghiệm giác ngộ này là gì?

Saturday, December 1, 2012

Nietzsche - Về Lai lịch của Đạo đức (16)


Về Lai lịch của Đạo đức
(On the Genealogy of Morality
Zur Genealogie der Moral)
Friedrich Nietzsche






Luận văn Thứ Ba
Những lý tưởng khổ hạnh có nghĩa là gì?


8.
Như bạn thấy, họ khó là những nhân chứng hay quan tòa mà lại không bị mua chuộc về giá trị của những lý tưởng khổ hạnh, những triết gia này! Họ nghĩ về chính họ, – họ chẳng đoái hoài gì đến “thánh vị” cả!  Đồng thời, họ nghĩ về những gì, với họ, tuyệt đối là không thể thiếu: tự do được thoát khỏi gò bó, nhiễu loạn, tiếng ồn, công việc, nhiệm vụ, lo lắng; đầu óc trong sáng; những ý tưởng bay đi bật lại như múa; không khí khô ráo, tốt, mỏng, sáng sủa, thoáng đãng, giống như không khí trong những vùng núi, ở đó tất cả hiện hữu động vật trở nên tinh thần hơn và thành mọc cánh, bình yên trong tầng hầm mọi nhà; mọi con chó trong dây ràng gọn ghẽ, không sủa bậy thù địch và xù lông hằn học, không có những con sâu gặm nhấm tham vọng bị thương, việc đi-cầu là điều hòa và nhuận trường bình thường, bận rộn như một guồng máy xay lúa nhưng (ở nơi) hẻo lánh; trái tim xa lạ, siêu vượt, mong chờ, sau cái chết, – Nhìn chung trong tất cả, họ nghĩ về lý tưởng khổ hạnh như sự khổ hạnh tĩnh lặng của một sinh vật đã hóa thánh, đã bay khỏi tổ, và có nhiều phần thong dong hơn bên trên đời sống của đám còn lại.

Chúng ta biết ba từ ngữ phổ thông tóm thu khéo léo (như khẩu hiệu) cho lý tưởng khổ hạnh là gì: nghèo khó, khiêm nhường, giản khiết: bây giờ hãy một lần, chúng ta cùng nhìn lại đời của tất cả những tinh thần lớn, phong phú, sáng tạo, – lần nào, cũng sẽ thấy trong họ cả ba điều, đến một mức độ nhất định nào đó. Dĩ nhiên, không cần phải nói, chúng chắc chắn sẽ không là những ‘đức hạnh’ – loại con người này không thể bị bận lòng với những đức hạnh! – nhưng như những điều kiện tiên quyết tự nhiên và thích hợp nhất cho sự hiện hữu tốt nhất và thành tựu cao đẹp nhất của họ. Để làm điều này, điều hầu như có thể là trí tuệ chủ thắng mạnh mẽ của họ đầu tiên đã phải ghìm cương sự phóng túng và tự hào dễ bực mình, hay nhục dục bừa bãi của họ, hoặc rằng họ đã phải vật lộn với cả xác ngoài lẫn hồn trong để duy trì ý chí của họ với ‘sa mạc’, có lẽ, khi đối mặt với một khuynh hướng sang trọng và lộng lẫy hoặc tương tự như vậy, hay đối mặt với tính rộng rãi quá đáng của họ. Nhưng trí tuệ, trong khả năng của nó, đã làm điều này đúng trong chính bản năng chủ thắng, vốn đã áp đặt những đòi hỏi của nó trên tất cả những bản năng khác, – nó vẫn thực hiện điều này, nếu không thế, nó đã không là trội vượt chủ thắng. Như thế không có gì là “đức hạnh” về nó.

Tuesday, November 6, 2012

Daisetz T. Suzuki - Luân Hồi


Luân Hồi

Daisetsu Teitaro Suzuki










“Lang thang bao kiếp sống
Ta tìm nhưng chẳng gặp, 
Người xây dựng nhà này,
Khổ thay, phải tái sanh.

Ôi! Người làm nhà kia
Nay ta đã thấy ngươi! 
Ngươi không làm nhà nữa.
Ðòn tay ngươi bị gẫy,
Kèo cột ngươi bị tan
Tâm ta đạt tịch diệt,
Tham ái thảy tiêu vong.”

(Kinh Pháp Cú,  bản HT Thích Minh Châu)


Luân Hồi

Đạo Phật có dạy về luân hồi không? Nếu có, nó hoạt động như thế nào? Hồn của người chết có thực sự luân hồi hay không?

Thường có những câu hỏi loại giống như vậy, và tôi sẽ cố gắng trả lời chúng ngắn gọn ở đây [1].

I.
Khái niệm luân hồi là thế này: Sau khi chết, hồn của người chết di chuyển từ một cơ thể này sang một cơ thể khác, của trời, người, động vật, hoặc thực vật.

Saturday, November 3, 2012

Daisetz T. Suzuki - Đóng đinh trên Giá chữ thập và Giác ngộ dưới gốc Bồđề


Đóng đinh trên Giá chữ thập và Giác ngộ dưới gốc Bồđề


(Crucifixion and Enlightenment)
Daisetsu Teitaro Suzuki [1]






I.
Bất cứ khi nào tôi nhìn thấy một hình tượng Chúa Kitô bị đóng đinh, tôi không thể không nghĩ về khoảng cách nằm sâu giữa đạo Kitô và đạo Phật. Khoảng cách này là biểu tượng của sự phân chia tâm lý tách biệt phương Đông và phương Tây.

Ego [2] cá nhân tự khẳng định mạnh mẽ ở phương Tây. Ở phương Đông không có ego. Cái-ta thì không-hiện hữu, Vì vậy, không có cái-ta bị đóng đinh trên giá gỗ chữ thập.

Chúng ta có thể phân biệt hai chặng(phát triển) của ý tưởng-cái-ta. Thứ nhất là tương đối, tâm lý hoặc theo kinh nghiệm. Thứ nhì là cái-ta siêu nghiệm [3].

Cái-ta kinh nghiệm thì giới hạn. Nó không có hiện hữu tự thân. Dù nó khẳng định thế nào đi nữa về nó, nó không có giá trị tuyệt đối, nó phụ thuộc vào những-gì khác. Đây là không-gì nhiều hơn một cái-ta tương đối và một cái-ta được tâm lý thiết lập. Nó là một cái-ta giả định, nó là đối tượng phải chịu tất cả mọi thứ điều kiện. Vì vậy, nó không có tự do.

Sau đó, điều gì khiến nó cảm thấy tự do như thể nếu nó đã thực sự độc lập và chân chính đáng tin như thế? Do đâu có ảo tưởng này?

Ảo tưởng này xuất phát từ cái-ta siêu nghiệm bị nhìn nhầm lẫn vì nó hoạt động qua cái-ta kinh nghiệm và trú ngụ trong nó. Tại sao cái-ta siêu nghiệm, bị nhìn nhầm lẫn như thế, tự nó phải chịu đựng bị đem nhận là cái-ta-tương đối?