Tuesday, March 8, 2011

Bertrand Russell - Lý thuyết Duy vật về Lịch sử

Lý thuyết Duy vật về Lịch sử

(The Materialistic Theory Of History)

Bertrand Russell






Khái niệm duy vật về lịch sử, như nó được gọi tên, là do Marx, và làm nền tảng cho toàn bộ triết học Cộng sản. Tôi không có ý nói, dĩ nhiên, là một người không thể là một người cộng sản mà không chấp nhận nó, nhưng như trong thực tế, nó được Đảng Cộng sản chấp nhận, và như nó ảnh hưởng sâu sắc quan điểm của họ về phần chính trị và chiến thuật. Danh xưng không chuyển tải chính xác chút nào tất cả về những gì lý thuyết có hàm nghĩa. Nó có nghĩa là tất cả những các hiện tượng quần chúng [1] của lịch sử được quyết định bởi những động cơ kinh tế. Quan điểm này không có kết nối yếu tính nào với chủ nghĩa duy vật trong ý nghĩa triết học. Chủ nghĩa duy vật trong ý nghĩa triết học có thể được định nghĩa là lý thuyết cho rằng tất cả những xuất hiện nhìn bên ngoài như thuộc não thức, hoặc là thực sự vật chất, hoặc trong bất cứ mức độ nào, có những nguyên nhân hoàn toàn vật chất. Chủ nghĩa duy vật trong ý nghĩa này cũng đã được Marx thuyết giáo, và được tất cả những nhà Marxist chính thống chấp nhận. Những luận chứng tán dương hay chống lại nó là dài và phức tạp, và chúng ta không cần phải quan tâm, bởi vì trong thực tế, đúng thật hay sai lầm của nó chuyên chở rất ít, hoặc không chuyên chở gì về chính trị.

Sunday, March 6, 2011

Bertrand Russell - Chủ nghĩa Duy vật, Quá khứ và Hiện tại

Chủ nghĩa Duy vật, Quá khứ và Hiện tại
(Materialism, Past and Present)


Bertrand Russell






“Một mảnh của vật chất đã trở thành, không phải là một sự-vật-gì bền dai với những trạng thái biến đổi khác nhau, nhưng một hệ thống những sự kiện tương liên. Cái tính vững bền cũ đã ra đi, và theo cùng với nó những đặc tính, với nhà duy vật, vốn làm cho vật chất xem dường như thực hơn so với những suy nghĩ thoáng qua. Không có gì là vĩnh viễn, không có gì thường tại; thiên kiến cho rằng thực tại là vững bền dai dẳng phải bị hủy bỏ”.

(Introduction to A History of Materialism, by F. A. Lange.  London: Lund Humphries, 1925; New York: The Humanities Press, 1950.)





Chủ nghĩa Duy vật, Quá khứ và Hiện tại

Chủ nghĩa Duy vật như là một lý thuyết về bản chất của thế giới đã có một lịch sử hiếu kỳ. Nảy sinh gần như ngay từ thuở ban đầu của triết học Hylạp [1], nó đã bền bỉ tiếp tục xuống tận thời chúng ta, bất chấp sự kiện rằng có rất ít những triết gia lỗi lạc đã ủng hộ nó. Nó đã được liên kết với nhiều những tiến bộ khoa học, và đã xem ra, trong nhiều kỷ nguyên, hầu như hoàn toàn đồng nghĩa với một viễn kiến khoa học. Những cáo trạng về chủ nghĩa duy vật luôn luôn mang ra từ phe chính thống để chống lại những đối thủ của họ, từ hệ quả rằng những đối thủ kém sáng xuốt hơn đã chấp nhận chủ nghĩa duy vật, bởi vì họ tin rằng nó là một phần thiết yếu của phe đối lập của họ. Tại thời điểm hiện nay [2], lý thuyết chính thức của một trong những nước lớn nhất thế giới là chủ nghĩa duy vật, mặc dù hầu như hiếm hoi không có một ai trong thế giới học giả công khai tán thành lý thuyết này. Một hệ thống tư tưởng có sức sống bền bỉ như vậy phải có giá trị xứng đáng nghiên cứu, mặc dù có sự khinh miệt chuyên nghiệp vốn tưới lên nó từ giới hầu hết là những giáo sư siêu hình học.


Saturday, March 5, 2011

Sigmund Freud - Tương lai của một Ảo tưởng (2)

Tương lai của một Ảo tưởng
The Future of an Illusion
Sigmund Freud





VI

Tôi nghĩ rằng chúng ta đã sửa soạn đầy đủ cho đường đi đến một câu trả lời cho cả hai câu hỏi này. Nó sẽ được tìm thấy nếu chúng ta chuyển sự chú ý của chúng ta sang nguồn gốc tâm lý của những ý tưởng tôn giáo. Những ý tưởng tôn giáo này, chúng được đưa ra như những giáo lý, chúng không phải là những kết tinh của kinh nghiệm, hoặc kết quả sau cùng của suy nghĩ: chúng là những ảo tưởng, những đáp ứng cho những mong muốn lâu đời nhất, mạnh nhất và cấp thiết nhất của nhân loại. Bí mật về sức mạnh của chúng nằm trong sức mạnh của những mong muốn này. Như chúng ta đã biết, ấn tượng hãi hùng về sự bất lực, trạng thái không được giúp đỡ ở trẻ em đã làm dấy lên nhu cầu được bảo vệ - vì sự bảo vệ qua thương yêu – vốn đã được người cha cung cấp, và sự nhìn nhận rằng sự bất lực này kéo dài suốt đời đã làm cho có nhu cầu để bám víu vào sự hiện hữu của một người cha, nhưng lần này là một người mạnh hơn nhiều. Như thế, luật về nhân từ của một đấng Thần linh Phù hộ [1] làm lắng xuống sợ hãi của chúng ta về những nguy hiểm của đời sống; việc thiết lập một trật tự toàn thế giới về đạo đức, đảm bảo thực hiện những đòi hỏi của công lý, vốn chúng vẫn thường chưa được thực hiện trong văn minh con người; và sự kéo dài hiện hữu trần gian trong một đời sống tương lai đem lại không gian và thời gian trong đó những ước-muốn-mong-thành sẽ diễn ra. Những trả lời cho những câu đố bí ẩn, vốn chúng cám dỗ sự tò mò của con người, chẳng hạn như vũ trụ đã bắt đầu thế nào, hoặc liên quan giữa thể xác và não thức là gì, được phát triển phù hợp với những giả định cơ bản của hệ thống này. Nó là một sự cứu trợ, làm vơi gánh nặng rất lớn với tâm lý cá nhân, nếu những cuộc xung đột của tuổi thơ của nó phát sinh từ mặc cảm với người cha – những xung đột mà nó không bao giờ hoàn toàn vượt qua được – đã được loại bỏ khỏi tâm lý cá nhân, và đưa ra một giải pháp vốn được chấp nhận phổ quát.


Wednesday, February 16, 2011

Sigmund Freud - Tương lai của một Ảo tưởng

Die Zukunft Einer Illusion
Sigismund Schlomo Freud 
(6 May 1856 – 23 September 1939)



The Future of an Illusion
(1927)
Tương lai của một Ảo tưởng




Lời Người Dịch

1.
Freud coi tôn giáo là một hiện tượng nhân văn trong xã hội văn minh. Tôn giáo là phó sản từ sự “gạt bỏ những bản năng” bằng những phương tiện “cấm đoán” tìm thấy trong mọi văn hóa. Tôn giáo nảy mầm từ mặc cảm Oedipus, và phơi bày sự bất lực của con người ở trần gian, phải đối mặt với số phận cuối cùng là cái chết, đối chọi với những cấm cản ràng buộc của xã hội, và những sức mạnh của tự nhiên. Ông nhìn Gót như sự thể hiện của khát khao về một người cha thấy trong tâm lý con-trẻ. Các tôn giáo xoay quanh một hay nhiều gót, trong ngôn từ của ông, chúng giữ một “nhiệm vụ gồm ba lớp: “phải ‘trừ tà trục quỉ’ cho những khiếp hãi của con người trước thế giới tự nhiên”, “phải hòa giải con người với sự tàn ác của số phận, đặc biệt là khi được thể hiện qua cái chết”, và “phải đền bù cho những đau khổ và thiếu thốn vốn đời sống văn minh đã áp đặt lên con người nói chung”. Do đó, tôn giáo tạo nên một “kho tàng gồm các ý tưởng sinh ra từ nhu cầu xoa dịu những đau khổ của con người, khiến có thể kham chịu được”.

Tôn giáo mà Freud nói đến “tương ứng với hình thức cuối cùng trong sự tiến hóa của tôn giáo, là đạo Kitô thực hành trong nền văn minh da trắng hiện nay”.  Khác với Jung, sau ông, là người đã dựa nhiều ý tưởng trên các tôn giáo phương Đông (chủ yếu là Ấn Độ giáo và Phật giáo). Về mặt lôgich, Freud nhấn mạnh trên một yếu tính đặc thù của Kitô giáo, đó là mối “quan hệ cha con”. Ông khẳng định rằng “Gót là một người cha cao vời, hoài mong về người cha là gốc của nhu cầu về tôn giáo”.

Freud phân biệt ảo tưởng (illusion) và sai lầm: một ảo tưởng, là sản phẩm của ao ước, không nhất thiết phải là sai lầm. Hơn nữa, ông nói thêm “Tôn giáo do đó có thể là chứng loạn thần kinh phổ quát của nhân loại, giống như ám ảnh nhiễu loạn thần kinh của trẻ con, khởi phát từ mặc cảm Oedipus, trong tương quan cha con”. Ông thậm chí còn cho rằng “những người sùng đạo được bảo vệ ở một mức độ cao trước các nguy cơ của một số bệnh thần kinh; sự chấp nhận của họ về bệnh thần kinh phổ quát đã tránh cho họ công việc phải xây dựng một bệnh loạn thần kinh cá nhân cho riêng họ”. Hiểu là những tín đồ các tôn giáo đã mắc một thứ bệnh thần kinh phổ quát rồi, nên miễn nhiễm. 

Wednesday, February 2, 2011

Năm tàn tuyết trắng quê người




Năm tàn tuyết trắng quê người
Nhớ ta chốn cũ giữa đời đã quên
Nhớ ta trong vạn triền miên
Vẫn chưa qua hết một miền trần gian

Trăm năm đó, những điêu tàn
Những bờ bến lạc, những tan hoang lòng
Ai buông ta giữa núi sông
Ai trôi ta mãi một giòng thời gian

Mong nắng lên, chờ tuyết tan






(một bài thơ cũ, nhớ những người nay không biết về đâu trong cõi mất còn này)