Một Điều Tra
Về Những Khả Năng Nhận Thức Của Con Người
(An Enquiry
concerning Human Understanding)
David Hume
TIẾT VIII.
Về Tự Do và Tất Yếu
PHẦN II.
E 8.26, SBN 96-7
Trong những tranh chấp triết học, không có
phương pháp lập luận nào phổ biến hơn, mà cũng không có phương pháp nào đáng chê trách hơn là việc cố
gắng bác bỏ một giả thuyết bằng cách nại ra những hệ quả nguy hại của nó đối
với tôn giáo và đạo đức. Khi một quan điểm dẫn đến những điều phi lý, nó chắc chắn là
sai lầm; nhưng không thể khẳng định một quan điểm là sai lầm chỉ vì vì những hệ
lụy nguy hại của nó.
Do đó, những chủ đề như vậy hoàn toàn nên được
gác lại; vì chúng không giúp ích gì cho việc tìm kiếm sự thật, nhưng chỉ khiến cá nhân của một người đối
kháng thành đáng ghét. Tôi đưa ra nhận xét này một cách tổng quát
mà không hề có ý định tranh thủ bất kỳ lợi thế nào từ đó. Tôi thẳng thắn chấp
nhận một sự xem xét thuộc loại này, và sẽ mạo muội khẳng định
rằng: cả hai học thuyết về tính tất yếu và về tự do, như đã giải thích ở trên,
không chỉ nhất quán với đạo đức nhưng còn tuyệt đối thiết yếu cho sự hỗ trợ của đạo đức [1]
E 8.27, SBN 97
Tính tất yếu có
thể được định nghĩa theo hai cách, thuận hợp với hai định nghĩa về nguyên nhân,
vốn tính tất yếu tạo thành một phần thiết yếu trong đó. Nó gồm hoặc trong sự kết
hợp bất biến của những đối tượng giống nhau, hoặc trong sự suy luận của khả
năng hiểu biết từ một đối tượng này sang một đối tượng khác. Bây giờ, tính tất
yếu, trong cả hai nghĩa này (thực ra, về cơ bản, chúng là một), đã được công
nhận phổ quát, dù ngầm định, trong trường học, trên bục giảng và trong đời sống
thường ngày, là thuộc về ý chí của con người; và không ai từng từng tự phụ dám phủ nhận rằng chúng ta có thể đưa ra những suy luận liên quan đến những hành động của con
người; và rằng những suy luận đó đều được thiết lập trên sự hợp nhất về kinh nghiệm của những hành động giống nhau với những
động cơ, khuynh hướng và hoàn cảnh giống nhau.
Chi tiết duy nhất ttrong đó bất kỳ một ai có thể khác
biệt, có lẽ, hoặc là người này sẽ từ chối đưa ra tên gọi “tính tất yếu” cho thuộc tính này của những hành động con người:
Nhưng miễn là ý nghĩa được hiểu, tôi hy vọng từ ngữ này sẽ không gây hại gì: Hoặc là người này sẽ duy trì quan điểm rằng có thể tìm ra một gì đó thêm xa hơn trong những hoạt động của vật chất.
Nhưng phải nhìn nhận rằng điều này có thể không có hệ quả nào đối với đạo đức
hay tôn giáo, cho dù nó có thể là gì với triết học tự nhiên hay siêu hình học. Ở đây, chúng ta
có thể nhầm lẫn khi khẳng định rằng không có ý niệm nào về bất kỳ tính tất yếu
hay sự kết nối nào khác trong những hành động của vật thể: Nhưng chắc chắn
chúng ta không gán gì cho những hành động của não thức, ngoại trừ những gì mà
mọi người vẫn thường làm, và phải sẵn sàng thừa nhận. Chúng ta không thay đổi bất kỳ phương diện
nào trong hệ thống quan điểm chính thống đã được đón nhận liên quan đến ý chí, nhưng chỉ trong những gì liên quan đến những đối tượng vật chất và nguyên
nhân. Do đó, không gì có thể vô hại hơn, ít nhất là vậy, như học thuyết này.
E 8.28, SBN 97-8
Tất cả những luật lệ đều được dựng trên những khen thưởng và những hình
phạt, nên người ta giả định nó như một nguyên lý nền tảng rằng những động
cơ này có một ảnh hưởng thường xuyên và đồng nhất lên não thức, vừa tạo ra những hành động tốt vừa ngăn
chặn những hành động xấu. Chúng ta có thể đặt cho ảnh
hưởng này bất cứ tên gọi nào chúng ta thích; nhưng vì nó thường xuyên được kết hợp với hành
động, nên nó phải được coi trọng là một nguyên nhân, và
được xem như một minh chứng của tính tất yếu đó vốn chúng ta muốn thiết lập ở đây.
E 8.29, SBN 98
Đối tượng thích
đáng duy nhất của sự oán ghét hay báo thù phải là một con người hay sinh vật
được phú bẩm cho suy nghĩ và ý thức; khi bất kỳ những hành động tội phạm hay
gây hại nào khơi dậy tình cảm đó, nó chỉ là vì quan hệ của chúng với con người
đó hay sự kết nối với người đó. Những hành động, bởi chính bản chất của chúng,
đều nhất thời và chóng tàn; và chúng không đến từ một nguyên nhân nào đó trong
tính cách và khuynh hướng của người thực hiện chúng, thì chúng không thể
đem lại
danh dự cho người đó, nếu tốt; cũng không thể đem lại tai tiếng, nếu xấu.
Tự thân những hành động có thể là đáng trách; chúng có
thể trái với tất cả những quy luật của đạo đức và tôn giáo: Nhưng nếu chối bỏ tính tất yếu, thì người thực hiện
không phải chịu trách nhiệm gì. Bởi lẽ, khi hành động không xuất phát từ bất cứ
gì bền vững hay bất biến bên trong con người, cũng chẳng để lại dấu tích nào
thuộc bản chất ấy phía sau chúng, thì không thể nào người đó lại trở thành đối
tượng của hình phạt hay sự báo thù chỉ vì những hành động ấy.
Do đó, theo nguyên lý vốn phủ nhận tính tất yếu, và hệ quả là phủ nhận những nguyên nhân, thì một
người sau
khi phạm tội ác kinh hoàng nhất vẫn trong sạch và không mang tì vết nào, y như khoảnh khắc vừa mới
chào đời. Tính cách của người này không liên quan theo bất kỳ cách nào trong những hành động của
người này, vì chúng không bắt nguồn từ tính cách; và do đó, sự gian ác của hành động
này không bao giờ có thể được dùng như một bằng chứng cho sự đồi bại của tính cách kia [2]
E 8.30, SBN 98-9
Con người không bị khiển trách vì những hành
động thực hiện trong sự thiếu hiểu biết hay tình cờ, bất kể những hệ quả có thể là gì. Tại sao?
Bởi vì những nguyên lý của những hành động này chỉ mang tính nhất thời, và kết thúc ngay khi hành động đó chấm dứt. Con người cũng ít bị khiển trách hơn với những hành động thực hiện hấp
tấp và
không tính toán trước, so với những hành động xuất phát từ suy tính cân nhắc. Lý do là gì? Bởi lẽ
một tính khí nóng nảy, dù là một nguyên nhân hay nguyên lý thường trực trong não thức, cũng chỉ hoạt động theo từng cơn nhất thời, và không làm vấy
bẩn toàn bộ nhân cách.
Tương tự, sự ăn năn xóa sạch mọi tội lỗi nếu
đi kèm với sự cải thiện về lối sống và cách hành xử. Điều này được giải thích
như thế nào? Chính bằng việc khẳng định rằng: hành động chỉ khiến một người trở
thành tội phạm chừng nào chúng là bằng chứng cho những nguyên lý tội lỗi trong não thức; và khi
những nguyên lý này thay đổi, khiến hành động không còn là bằng chứng xác đáng
cho chúng nữa, thì hành động đó cũng không còn bị coi là tội lỗi. Thế nhưng,
nếu không dựa trên học thuyết về tính tất yếu, thì hành động sẽ chẳng bao giờ
là bằng chứng xác đáng (cho tâm tính), và do đó, cũng chẳng bao giờ bị coi là
tội lỗi. [3]
E 8.31, SBN 99
Cũng sẽ dễ dàng chứng minh, và từ cùng những lập luận đó,
rằng tự do, theo định nghĩa đã nhắc đến ở trên, vốn tất cả tất cả mọi người đều đồng ý,
cũng là yếu tố thiết yếu với đạo đức, và không một hành động nào của con người,
nếu thiếu nó, lại có thể mang bất kỳ phẩm chất đạo đức nào, hay có thể là trở
thành đối tượng của sự tán thành hoặc bất mãn.. Bởi vì hành động là đối tượng
của cảm xúc đạo đức của chúng ta, chừng nào chúng là những biểu hiện của nhân cách nội tại, của
những tình cảm và cảm xúc; do đó, chúng không thể dẫn đến sự khen ngợi hay khiển trách
nếu không phát xuất từ những nguyên lý này, mà lại hoàn toàn bắt nguồn từ sự
cưỡng bách bên ngoài. [4]
E 8.32, SBN 99-100
Tôi không dám tự nhận là đã ngăn chặn hay
loại bỏ tất cả những phản đối với lý thuyết này, liên quan đến tính tất yếu và tự do. Tôi có
thể thấy trước những phản đối khác, đến từ những chủ đề, vốn chưa được giải quyết ở đây. Thí dụ, có thể nói rằng, nếu những hành động tự
nguyện cũng phải tuân theo những quy luật của
tính tất yếu như những hoạt động của vật chất, thì sẽ có một chuỗi
liên tục của những nguyên nhân tất yếu, được định sẵn và xác định trước, bắt nguồn
từ nguyên nhân ban đầu của tất cả, đến từng mỗi một ý muốn của mỗi con
người. Không có sự ngẫu nhiên
ở bất cứ đâu cả trong vũ trụ; không có sự trung lập không phân biệt; không có
tự do. Trong khi chúng ta hành động, chúng ta, đồng thời, bị tác động lên. Tác
giả cuối cùng của tất cả những sự tác ý của chúng ta là Đấng Tạo Hóa của thế
giới, Ngài đầu tiên đã ban tặng chuyển động cho cỗ máy mênh mông này,và đặt để
tất cả những hữu thể vào vị trí cụ thể đó, từ nơi mà mỗi sự kiện tiếp sau, bởi
một tính tất yếu không thể tránh khỏi, phải kết quả.
Những hành động
của con người, vì vậy, hoặc là có thể không có sự đồi bại về đạo đức nào cả, vì đến từ một nguyên nhân tốt lành như
thế; hoặc nếu chúng có bất kỳ sự đồi bại nào, chúng phải kéo theo Đấng Tạo Hóa
của chúng ta vào cùng tội lỗi đó, trong khi Ngài được công
nhận là nguyên nhân và tác giả cuối cùng của chúng. Bởi vì, như một người, người đã châm ngòi một quả mìn, phải chịu
trách nhiệm cho tất cả những hệ quả cho dù chuỗi (ngòi nổ) người này dùng là dài hay ngắn; thì ở bất cứ đâu một
chuỗi liên tục của những nguyên nhân tất yếu được ấn định, thì Thực thể đó, dù
là hữu hạn hay vô hạn, người tạo ra nguyên nhân) đầu tiên, cũng tương tự là tác
giả của tất cả phần còn lại, và phải vừa chịu sự khiển trách vừa nhận lấy sự
khen ngợi, vốn thuộc về chúng.
Những ý niệm rõ
ràng và không thể thay đổi của chúng ta về đạo đức thiết lập quy luật này, dựa
trên những lý lẽ không thể nghi ngờ, khi chúng ta kiểm tra những hệ quả của bất
kỳ hành động nào của con người; và những lý lẽ này phải vẫn có lực lớn hơn, khi
được áp dụng cho những sự tác ý và ý định của một Thực thể, vô hạn khôn ngoan
và quyền năng. Sự thiếu hiểu biết hoặc sự bất lực có thể được viện dẫn cho một
sinh vật hạn hẹp như con người; nhưng những sự không hoàn hảo đó không có chỗ
trong Đấng Tạo Hóa của chúng ta. Ngài đã thấy trước, Ngài đã định sẵn, Ngài đã
dự định tất cả những hành động đó của con người, những gì mà chúng ta tuyên bố
một cách hấp tấp là mang tính tội phạm. Và chúng ta vì thế phải kết luận, hoặc
là rằng chúng không mang tính tội phạm, hoặc rằng Gót, chứ không phải con
người, là người phải chịu trách nhiệm về chúng.
Nhưng vì cả hai lập trường này đều phi lý và
vô đạo bất kính, theo đến rằng (hệ quả là), học thuyết mà
từ đó chúng được diễn dịch, không thể có khả năng là đúng, vì (nó) cũng mắc
phải tất cả những sự phản đối tương tự. Một hệ quả phi lý, nếu (là) tất yếu,
chứng minh học thuyết ban đầu là phi lý; theo cùng cách thức như những hành
động tội phạm làm cho nguyên nhân ban đầu trở nên tội phạm, nếu sự liên kết giữa
chúng là tất yếu và không thể tránh khỏi.
E8.33, SBN 100-1
Phản đối này gồm hai phần, vốn chúng ta sẽ xem xét riêng; Thứ
nhất, nếu hành động của con người có thể được truy nguyên, bằng một chuỗi
tất yếu, đến Đấng Tối Cao, thì chúng không bao giờ có thể tính tội phạm; bởi vì
sự toàn hảo vô hạn của Đấng ấy, Đấng vốn chúng bắt nguồn, và Đấng ấy chỉ có thể
dự định không gì khác ngoài những gì hoàn toàn tốt đẹp và đáng ca ngợi. Hay, Thứ hai,
nếu chúng mang tính tội phạm, chúng ta phải rút lại thuộc tính toàn hảo vốn chúng ta
gán cho Đấng Tối Cao, và phải nhìn nhận Ngài là tác giả cuối cùng của tội lỗi
và sự đồi bại đạo đức trong tất cả những tạo vật của Ngài. [5]
E8.34, SBN 101-2
Lời giải đáp cho
sự phản đối thứ nhất có vẻ hiển nhiên và thuyết phục. Có nhiều triết gia, sau
khi xem xét kỹ lưỡng tất cả những hiện tượng của tự nhiên, đã kết luận rằng Toàn bộ Vũ trụ [6], xét như một hệ thống duy nhất, trong mọi
giai đoạn hiện hữu của nó, vận hành với lòng nhân từ toàn hảo; và rằng hạnh
phúc tối đa cuối cùng sẽ đến với tất cả tạo vật, mà không có bất kỳ sự pha trộn
nào của cái xấu hay sự khổ sở thực hữu [7]
và tuyệt đối. Họ nói rằng mọi cái xấu về thể xác đều tạo nên một phần thiết yếu
của hệ thống nhân từ này, và thậm chí chính Đấng Tối Cao, khi xem xét như một
tác nhân thông thái, cũng không thể loại bỏ chúng mà không mở đường cho cái xấu
lớn hơn, hay loại trừ điều tốt đẹp hơn vốn sẽ nảy sinh từ đó.
Từ lý thuyết này,
một số triết gia, bao gồm những nhà Khắc kỷ thòi cổ [8]
và những người khác, đã rút ra một đề tài an ủi trước mọi khổ đau, khi họ dạy
học trò của mình rằng những cái xấu mà học trò đang phải chịu đựng, thực ra, là
những điều tốt đẹp cho vũ trụ; và với một tầm nhìn rộng lớn hơn, thứ có thể bao
quát toàn bộ hệ thống tự nhiên, mọi sự kiện đều trở thành đối tượng của niềm
vui và sự hân hoan. Nhưng dù đề tài này có vẻ hào nhoáng và cao siêu, người ta
sớm thấy nó yếu ớt và kém hiệu quả trong thực tế. Chắc chắn bạn sẽ gây khó chịu
hơn là xoa dịu một người đang chịu đựng những cơn đau nhức nhối của bệnh gút
bằng cách rao giảng cho người này về sự đúng đắn của những quy luật chung –
những quy luật đã tạo ra những dịch độc trong cơ thể người này và dẫn chúng qua
những ống dẫn thích hợp đến những gân và dây thần kinh, nơi chúng đang kích
thích những cơn đau dữ dội như vậy.
Những quan điểm mở rộng này có thể, trong giây
lát, làm hài lòng trí tưởng tượng của một người hay suy tưởng, người đang đặt
mình trong sự thoải mái và an toàn; nhưng chúng cũng không thể ngự trị thường
trực trong não thức người này, ngay cả khi đau đớn hay đam mê không làm xáo
trộn người này; chúng càng không thể giữ vững vị thế của mình khi những đối thủ
mạnh mẽ như vậy tấn công chúng. những tình cảm thực hiện một cái nhìn hẹp hơn
và tự nhiên hơn về đối tượng của chúng; và bằng một cơ chế điều tiết phù hợp
hơn với sự yếu đuối của não thức con người, chúng chỉ quan tâm đến những thực
thể xung quanh chúng ta, và những sự kiện mang vẻ tốt hay xấu đối với hệ thống
riêng tư sẽ kích hoạt chúng.
E8.35, SBN 102-3
Trường hợp đối với cái xấu đạo đức cũng
tương tự như với cái xấu thể chất. Người ta không thể giả định một cách
hợp lý rằng những cân nhắc xa xôi, vốn mang lại quá ít hiệu quả đối với bên
này, lại sẽ có một ảnh hưởng quyền năng hơn đối với bên kia. Tự nhiên nhào nặn
não thức con người theo cách thức sao cho, khi những tính cách, thiên hướng và
hành động nhất định xuất hiện, não thức đó ngay lập tức cảm thấy cảm xúc tán
thành hay chê trách; và không có cảm xúc nào thiết yếu hơn đối với cấu trúc và
sự cấu thành của nó. Những tính cách thu hút sự tán thành của chúng ta chủ yếu là những
tính cách góp phần vào hòa bình và an ninh của xã hội loài người; cũng như
những tính cách kích thích sự chê trách chủ yếu là những tính cách có khuynh
hướng gây tổn hại và xáo trộn công cộng: Do đó, người ta có thể giả định một
cách hợp lý rằng những cảm xúc đạo đức nảy sinh, dù gián tiếp hay trực tiếp, từ
sự suy ngẫm về những ích lợi đối lập này.
Việc những suy tưởng triết học thiết lập một
quan điểm hay giả thuyết khác biệt thì có nghĩa lý gì; rằng mọi sự vật đều đúng
đắn khi xét trong mối tương quan với Toàn bộ Vũ trụ, và rằng những phẩm chất
gây xáo trộn xã hội, về cơ bản, cũng có lợi và phù hợp với ý định sơ khởi của
tự nhiên như những phẩm chất thúc đẩy trực tiếp hơn đến hạnh phúc và phúc lợi
của nó? Liệu những suy đoán xa xôi và không chắc chắn như vậy có khả năng đối
trọng với những cảm nhận nảy sinh từ cái nhìn tự nhiên và trực tiếp về những đối
tượng hay không?
Một người bị cướp mất một khoản tiền lớn; liệu
người này có thấy nỗi bực tức vì mất mát ấy vơi đi phần nào nhờ những suy tưởng
cao siêu này không? Vậy thì tại sao người ta lại giả định rằng sự phẫn nộ đạo
đức của người này đối với tội ác không tương thích với chúng? Hay tại sao việc
thừa nhận một sự phân biệt thực sự giữa tệ nạn và đức hạnh lại không thể hòa
hợp với mọi hệ thống triết học suy tưởng, cũng như việc thừa nhận một sự phân
biệt thực sự giữa vẻ đẹp và sự dị dạng của cá nhân? Cả hai sự phân biệt này đều
đặt nền tảng trên những cảm nhận tự nhiên của não thức con người: Và không một
lý thuyết hay suy diễn triết học nào có thể kiểm soát hay thay đổi những cảm
nhận này.
E8.36, SBN 103
Lời phản đối thứ
hai không thừa nhận một câu trả lời dễ dàng và thỏa
đáng như thế; người ta cũng
không thể giải thích rõ ràng làm thế nào Thần linh có thể là nguyên nhân trung
gian của tất cả những hành động của con người nhưng lại không phải là tác giả
của tội lỗi và sự bại hoại về đạo đức. Đây là những bí ẩn mà lý trí tự nhiên và không
được hỗ trợ rất khó có thể giải quyết; và bất kỳ hệ thống nào mà Lý trí chấp
nhận, Lý trí phải tự thấy mình vướng vào những khó khăn không thể thoát khỏi,
thậm chí là những mâu thuẫn, ở mỗi bước Lý trí thực hiện liên quan đến những đề
tài như vậy. Việc dung hòa tính trung lập và tính ngẫu nhiên của hành động con
người với tri thức tiền định của Thần linh [9];
hay việc bảo vệ những sắc lệnh tuyệt đối mà vẫn giải phóng Đấng Tối Cao khỏi vai trò tác giả của tội lỗi, cho đến
nay, người ta thấy đã vượt quá tất cả những quyền năng của triết học. Thật may mắn nếu Triết học nhận ra được sự liều lĩnh
của nó khi dò xét vào những bí ẩn cao siêu này; và rời bỏ
một khung cảnh đầy rẫy những sự mờ mịt và rắc rối, để quay trở lại, với sự khiêm
tốn thích hợp, về lãnh địa đích thực và tthichs đáng của nó, việc xem xét
đời sống bình thường; việc xem xét đời sống bình thường; nơi nó sẽ tìm thấy những khó khăn đủ để đem dùng cho những điều tra của nó, mà không cần
phải lao vào một đại dương vô tận của nghi ngờ, sự bất định và sự mâu thuẫn như
thế!
----------------------------------------------------------
E 8.22n18, SBN 94
18. Xem GHI CHÚ [F].
E 8.22n18. 1, SBN 94
Sự thịnh hành của
học thuyết về tự do có thể được giải thích, từ một nguyên nhân khác, cụ thể là
một cảm giác sai lầm hoặc kinh nghiệm vẻ vẻ ngoài những gì vốn
chúng ta có, hoặc có thể có, về sự tự do hay tính
trung lập mà chúng ta dường như đang có, hoặc có thể có, trong nhiều những hành
động của chúng ta. Tính tất yếu của bất kỳ hành động nào, dù thuộc vật chất hay
tinh thần, nói một cách chính xác, không phải là một phẩm chất nằm ở tác nhân, nhưng
nằm ở bất kỳ sinh vật có suy nghĩ hay trí tuệ nào đang xem xét hành động đó; và
tính tất yếu này chủ yếu bao gồm sự thúc đẩy não thức của chủ thể này để suy luận
ra sự hiện hữu của hành động đó từ một số đối tượng đi trước. Bởi vì tự do, khi
đối lập với tính tất yếu, không gì khác hơn là sự thiếu vắng suwj thúc đẩy đó,
và một sự lỏng lẻo hay tính trung lập nhất định mà chúng ta cảm thấy khi chuyển
dịch, hoặc không chuyển dịch, từ ý niệm về một đối tượng sang ý niệm về bất kỳ
đối tượng kế tiếp nào.
Giờ đây, chúng ta có thể quan sát thấy rằng,
dù khi suy ngẫm về những hành động của con người, chúng ta hiếm khi cảm thấy sự
lỏng lẻo hay tính trung lập như vậy, nhưng trong quá trình thực hiện chính
những hành động đó, chúng ta lại thường xuyên cảm nhận được một gì đó tương tự. Và
vì mọi đối tượng tương đồng đều dễ bị đánh đồng là một, hiện tượng này đã được
viện dẫn như một bằng chứng xác thực, thậm chí là bằng chứng trực giác về sự tự
do của con người.
Trong hầu hết mọi trường hợp, chúng ta cảm
thấy hành động của mình tuân theo ý chí; và chúng ta tưởng tượng mình cảm thấy
rằng tự thân ý chí không chịu sự chi phối của bất cứ điều gì. Bởi lẽ, khi bị
thách thức phải chứng minh điều ngược lại, chúng ta lại cảm thấy ý chí dịch
chuyển dễ dàng theo mọi hướng, và tạo ra một dạng thức mờ nhạt về chính nó (hay
một Velleity, [10] như cách gọi trong
những học phái triết học) ngay cả về phía mà rốt cuộc nó không dừng lại. Tại thời điểm đó, chúng ta tự thuyết phục rằng cái bóng hay chuyển động mờ
nhạt này của ý chí đã có thể phát triển trọn vẹn thành chính hành động thực tế.
Bởi lẽ, nếu có ai phủ nhận khả năng đó, chúng ta sẽ lập tức thấy được qua một
lần thử nghiệm thứ hai rằng, ở hiện tại, hành động đó hoàn toàn có thể thực
hiện được. Nhưng chúng ta lại không nhận ra rằng, chính cái khao khát kỳ quặc
muốn phô diễn quyền tự do ở đây lại là động cơ thúc đẩy hành động của chúng ta.
Và dường như chắc chắn rằng, dù chúng ta có tưởng tượng chúng ta cảm nhận được
sự tự do đến đâu, một người quan sát thường vẫn có thể suy luận được hành động
của chúng ta từ chính những động cơ và tính cách của chúng ta; và ngay cả khi
người quan sát không thể làm vậy, họ vẫn kết luận một cách
khái quát rằng họ hoàn toàn đã có thể làm được điều đó, miễn là họ thấu triệt
được từng hoàn cảnh, tính khí, cùng những động cơ sâu kín nhất trong khí chất [11] và tâm tính của
chúng ta. Bây giờ đây chính là bản chất của tính tất
yếu, theo như học thuyết đã nói ở trên. [12]
E 8.25n19, SBN 96
19. Xem GHI CHÚ [G].
E 8.25n19. 1, SBN 96
NHƯ VẬY, nếu
người ta định nghĩa một nguyên nhân là những gì tạo ra bất kỳ sự vật nào; thì
thật dễ dàng để nhận thấy rằng “tạo ra” đồng nghĩa với “gây ra”. Tương tự như
vậy, nếu định nghĩa một nguyên nhân là những gì mà nhờ đó bất kỳ sự vật nào
hiện hữu; thì định nghĩa này cũng vướng phải sự phản đối tương tự. Bởi vì những
từ này, “nhờ đó”, có nghĩa là gì? Nếu người ta nói rằng, một nguyên nhân là
những gì mà sau nó bất kỳ sự vật nào luôn luôn hiện hữu; thì chúng ta đã hiểu
những thuật ngữ này. Bởi vì, thực ra, đây là tất cả những gì chúng ta biết về
vấn đề này. Và sự bất biến này hình thành nên chính bản chất của tính tất yếu,
và chúng ta cũng không có bất kỳ ý niệm nào khác về nó.
Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ hai
(Mar/2026
(Còn tiếp... →)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1] Để hiểu ý của Hume sau
câu “mượn
danh nghĩa những hệ quả nguy hại cho tôn giáo và đạo đức”, chúng ta cần đặt ông vào tâm điểm của xung đột tư tưởng tại Scotland thế kỷ
18—nơi thuyết dduy nghiệm sơ khai bắt đầu
va chạm với những giáo điều gót học chính thống. Trong bối cảnh đó, “Tôn giáo và Đạo
đức” không phải là những khái niệm trừu tượng, nhưng là hệ thống quyền lực cụ
thể của đạo Kitô Anh (Anglicanism) và đạo Phản thệ Trưởng lão
(Presbyterianism). Gót học thời bấy giờ bám chặt vào đức tin rằng con người
sở hữu “tự do ý chí” tuyệt đối. Nếu hành động của con người bị ràng buộc bởi những quy luật nhân
quả (tính tất yếu) như cách vật chất vận hành, thì toàn bộ cấu trúc về sự cứu
rỗi, linh hồn bất tử và quyền năng trừng phạt của Gót Kitô sẽ lung lay. Người ta lo sợ rằng nếu
con người “không thể làm khác được”, thì việc đẩy kẻ tội đồ vào địa ngục sẽ trở thành
một hành động bất công của đấng sáng tạo.
Khi Hume gọi việc
nại ra những hậu quả này là “sự giả tạo” (pretence), ông đang ccho thấy sự mỉa mai sắc sảo vào lối tranh luận đương
thời. Ông nhận ra rằng khi những nhà gót học thất bại trong việc dùng logic để bác bỏ
tính tất yếu nhân quả, họ thường quay sang dùng “sự khiếp sợ” làm vũ khí. Thay vì đối thoại triết học,
họ dán nhãn ý tưởng của đối phương là “nguy hại” để kích động sự thù ghét của công chúng,
biến người phát ngôn thành một kẻ “đáng ghét” (odious) trong mắt nhìn cộng đồng. Đối với Hume, đây không phải là tìm kiếm sự thật, nhưng là một thủ thuật chính trị
nhằm tiêu diệt uy tín cá nhân.
Tuy nhiên, ý hướng sâu xa nhất của Hume chính là một sự lật ngược. Ông khẳng định chân lý của một giả
thuyết chỉ phụ thuộc vào tính logic của nó, chứ không phụ thuộc vào việc nó có “dễ nghe/thuận tai/hợp
đao đức một tôn giáo nào đó” hay không. Ông phản bác rằng chính những người nhân danh đạo đức để bảo vệ sự “tự do ngẫu nhiên” mới là kẻ đang phá hủy đạo đức. Bởi lẽ,
nếu hành động của một kẻ sát nhân không bắt nguồn tất yếu từ tính cách của hắn,
thì mọi hình phạt đều trở nên vô nghĩa. Hume thiết lập một ranh giới đỏ cho tự
do tư tưởng: triết học phải được phép đi đến tận cùng của lý trí mà không bị
xiềng xích bởi những tiện ích xã hội hay giáo điều tôn giáo. Ông tố cáo
việc dùng đạo đức làm bình phong để bóp nghẹt tư duy khoa học, đồng thời khẳng
định rằng chỉ có một hệ thống nhân quả minh bạch mới có thể làm nền móng vững
chắc cho công lý thực thụ.
[2] Nhân quả tâm lý và lập luận phản chứng
về “Tự
do vô định”: Hume lập luận rằng sự vận hành của tâm trí không nằm ngoài quy luật tự
nhiên; nó sở hữu một tính tất yếu không kém gì những hiện tượng vật lý. Tuy nhiên, sợi dây nhân
quả này không nằm ở bản thân sự vật, mà nằm ở tương quan giả định trong kkhar năng hiểu biết:
sự kết hợp đều đặn giữa Động cơ và Hành động. Nếu không có sự liên kết tất yếu
này, hành vi con người sẽ trở nên hỗn loạn và không thể dự đoán.
Để cho thấy rõ học thuyết này, Hume dùng lập l;ập phản chứng
để chỉ ra rằng: nếu chối bỏ tính tất yếu, chúng ta sẽ rơi vào những kết luận
phi lý làm sụp đổ nền tảng đạo đức: (a) Sự đứt gãy giữa “Chủ thể” và “Hành vi”: Nếu hành động không bắt nguồn từ tính
cách bền vững, thì tội ác chỉ là một biến cố ngẫu nhiên “rơi xuống” từ hư không. Khi đó, kẻ thủ ác không khác
gì một thực thể vô tri như tảng đá rơi hay cây đổ. Hume mỉa mai rằng nếu thiếu
tính tất yếu, hành động sẽ “chết” ngay khi vừa thực hiện, không để lại dấu ấn hay
sự ràng buộc nào với tâm hồn người thực hiện. (b) Trạng thái “trong sạch” quái
đản: Hume đẩy lập luận đến cực đoan: một kẻ vừa phạm tội tày trời có thể lập
tức trở nên “vô tội” như đứa trẻ mới sinh. Bởi nếu chối bỏ tính tất yếu, ta
không có quyền dùng hành vi quá khứ để suy diễn bản chất hiện tại; hành động và
tính cách lúc này trở thành hai đường thẳng song song không bao giờ giao nhau.
(c) Sự vô nghĩa của Công lý: Mục đích của hình phạt là cải tạo và răn đe dựa
trên tâm lý học nhân quả. Nếu hành động không xuất phát từ bản chất chủ thể, việc
trừng phạt trở nên độc ác và vô lý. Ta không thể quy trách nhiệm cho một người
về một việc mà “không phải do bản chất của họ” gây ra. Hume đã đảo ngược nỗi sợ
thông thường. Trong khi người ta sợ “Tính tất yếu” biến con người thành cỗ máy,
Hume chứng minh rằng thiếu tính tất yếu, đạo đức sẽ sụp đổ. Chúng ta chỉ có thể
khen ngợi hay trách cứ một người khi tin rằng hành động của họ là kết quả tất
yếu bắt nguồn từ chính bản chất và những ham muốn nội tại của họ.
[3] Liên hệ giữa Tính
tất yếu và Trách nhiệm đạo đức: Trong Hume, tính tất yếu (nhân quả) không phải
là rào cản của tự do, mà trái lại, là điều kiện tiên quyết để xác lập đạo đức.
Ông lập luận rằng một hành động chỉ có ý nghĩa đạo đức khi nó là kết quả tất
yếu bắt nguồn từ tính cách và động cơ bền vững của chủ thể. Nếu hành động xảy
ra do vô minh hay ngẫu nhiên, nó chỉ là một biến cố ngẫu nhiên nhất thời.,
không phản ánh bản chất bên trong và do đó không thể là căn cứ để phán xét.
Ngay cả sự nóng nảy cũng được giảm nhẹ trách nhiệm vì nó chỉ là xung năng nhất
thời, chưa “tha hóa” toàn bộ hệ thống nhân cách. Lập luận này dẫn đến một kết
luận mang tính cách mạng: Nếu không có sợi dây nhân quả thắt chặt giữa “tâm
tính” và “hành động”, khái niệm tội phạm sẽ trở nên vô nghĩa. Một người chỉ bị
coi là tội lỗi khi hành động của họ là bằng chứng xác đáng cho một “khuynh hướng tội phạm bền vững/ criminal principle” trong tâm trí. Logic này cũng giải thích bản
chất của sự ăn năn: khi một cá nhân cải thiện lối sống và tư cách, họ đã cắt
đứt mối liên kết nhân quả với quá khứ. Lúc này, hành động cũ không còn là bằng
chứng cho con người hiện tại, và về mặt đạo đức, thực thể tội đồ cũ (người sở hữu những động cơ xấu dẫn đến tội ác) đã không còn tồn tại để chịu sự trừng phạt.
Tóm lại, trong hệ thống của Hume, đạo đức không
phán xét hành vi như một sự kiện vật lý đơn thuần, mà phán xét mối liên kết
nhân quả bền vững giữa hành vi đó và tâm tính của chủ thể. Nếu thiếu đi tính
tất yếu — tức sợi dây ràng buộc giữa tính cách và hành động — thì mọi sự khen
ngợi hay trách phạt đều trở nên phi logic, vì chúng ta không còn điểm tựa nào
để quy gán trách nhiệm cho con người đằng sau hành vi.
[4] Trong đoạn này, Hume
hoàn thiện hệ thống Tất yếu – Tự do – Đạo đức, khẳng định rằng đạo đức sẽ vô
nghĩa nếu thiếu một trong hai yếu tố: Tính tất yếu (sự liên kết bền vững giữa
hành động và nhân cách) và Tính tự do (khả năng hành động theo ý muốn mà không
bị cưỡng bách). Nếu hành động chỉ là sự ngẫu nhiên hoặc do áp lực bên ngoài,
sợi dây nhân quả nối giữa “hành vi” và “bản chất” sẽ đứt gãy, khiến mọi sự phán
xét hay trách cứ đều mất đi nền tảng logic.
[5] Trong đoạn văn này,
Hume trình bày một trong những vấn đề nan giải nhất của triết học tôn giáo khi
đặt tính tất yếu vào thế mâu thuẫn với bản chất của Gót. Tuy nhiên, đây thực
chất là một phản bác Hume đưa ra để thách thức chính học thuyết của ông trước
khi tìm cách giải quyết nó.Về logic, Hume chỉ ra rằng nếu mọi hành động và ý
muốn của con người đều là kết quả của một chuỗi nguyên nhân tất yếu như những
quy luật vật lý, thì chuỗi xích này phải bắt nguồn từ Nguyên nhân đầu tiên là
Đấng Tạo Hóa. Hệ quả là chúng ta rơi vào một nghịch lý đạo đức: hoặc mọi hành
động của con người đều không thể là tội lỗi vì chúng xuất phát từ một nguồn cơn
(tối cao/đầu tiên) tốt lành (toàn thiện), hoặc nếu tội lỗi thực sự tồn tại, thì
chính Gót mới là tác giả cuối cùng phải chịu trách nhiệm cho những sai trái đó.
Dù vậy, Hume không hề phủ nhận tự do. Là một người theo thuyết Tương thích
[Compatibilism = quan điểm triết học cho rằng ý chí tự do và thuyết tiền định
(determinism) có thể tồn tại song song và không mâu thuẫn nhau. Theo đó, con
người có tự do hành động theo mong muốn của mình, ngay cả khi mong muốn đó đã
được quyết định trước bởi những nguyên nhân nhân quả.], ông định nghĩa lại tự
do không phải là sự ngẫu nhiên, nhưng là khả năng hành động theo ý muốn cá nhân
mà không bị cưỡng bức. Ông cho rằng tính tất yếu và tự do có thể tồn tại song
hành: chúng ta tự do khi làm điều mình muốn, ngay cả khi cái “muốn” đó cũng
được thúc đẩy bởi những nguyên nhân có từ trước. Cuối cùng, mục đích của Hume
không phải là bác bỏ tôn giáo nhưng là chỉ ra sự giới hạn của lý trí con người.
Ông chứng minh rằng khi cố gắng dùng logic để kết nối hành vi nhỏ bé của con
người với sự vận hành của vũ trụ và bản thể luận về Gót, chúng ta sẽ không
tránh khỏi sự phi lý. Hume ngầm khẳng định rằng những tranh luận siêu hình học
thường đi vào ngõ cụt, và thay vì sa đà vào những suy luận thần học trừu tượng,
chúng ta nên tập trung vào thực tiễn đạo đức cùng những cảm xúc tự nhiên của
con người trước Thiện và ác.
[6] the Whole,
[7] Trong triết học thế
kỷ 18, “positive” (thực hữu) chỉ cái ác như một thực thể hiện hữu và tác động
trực tiếp (nhưđau đớn). Khái niệm này đối lập với quan điểm “privative” (thiếu
vắng) của các nhà gót họcnhư Augustine, những người lập luận rằng cái ác không
có sự tồn tại thực sự mà chỉ là sự thiếu vắng cái thiện (như bóng tối là thiếu
ánh sáng, bệnh tật là thiếu sức khỏe). Lập luận “thiếu vắng” này giúp họ bảo vệ
Gót: vì cái ác không phải là một thực thể, nên Gót—Đấng tạo ra mọi thực
thể—không phải là tác giả của cái ác. Hume dùng từ “positive” để bác bỏ điều
này, khẳng định khổ đau là một thực tế không thể phủ nhận.
[8] Để hiểu được sự phê bình sắc bén của Hume, chúng ta cần nắm rõ lập
trường của phái Khắc kỷ (Stoics) mà ông đang nhắm tới. Lập trường này có thể
tóm tắt qua ba luận điểm chính: 1. Thế giới là một Chỉnh thể hoàn hảo (The Whole) những nhà Khắc kỷ
tin rằng vũ trụ không phải là một tập hợp ngẫu nhiên, nhưng là một cơ thể sống
được điều hành bởi Logos (Lý trí tối cao). Vì Logos là hoàn hảo và nhân
từ, nên mọi sự sắp đặt trong vũ trụ đều hướng tới điều tốt đẹp nhất. Mọi sự
kiện, dù là thiên tai hay bệnh tật, đều là một mắt xích cần thiết trong kế
hoạch đại tài của tự nhiên. 2. Cái ác chỉ là ảo giác do cái nhìn hạn hẹpHọ cho rằng con người thấy “cái
ác” (đau khổ, cái chết, sự bất công) là vì chúng ta chỉ nhìn vào từng bộ phận
riêng lẻ.Ví dụ: Một chiếc bánh xe bị mòn có vẻ là xấu, nhưng nếu nhìn vào “Toàn
thể” chiếc xe đang vận hành để cứu người, thì sự mòn đó chỉ là một hệ quả tất
yếu và nhỏ bé.Vì vậy, nếu ta nâng tầm nhìn lên mức vũ trụ, mọi nỗi đau cá nhân
sẽ tan biến trong sự hài hòa chung. 3. Hạnh phúc đến từ việc thuận theo Tự nhiênLập
trường của họ là: Thay vì than vãn, con người nên dùng lý trí để hiểu rằng mọi
khổ đau đều có ích cho hệ thống chung. Khi chúng ta chấp nhận rằng bệnh tật của
mình là “ý chí của vũ trụ”, chúng ta sẽ đạt được trạng thái Apatheia
(bình thản, không bị xáo động bởi cảm xúc).
[9] prescience
[10] Velleïty (Velleity): thuật ngữ triết học kinh viện (scholasticism). Nó chỉ
một ước muốn, ý chí rất yếu ớt, không đủ mạnh để biến thành hành động thực tế.
[11] complexion
[12] Trong hệ thống tư tưởng của Hume, Thuyết Tương thích (Compatibilism) hiện lên như
một nỗ lực hóa giải mâu thuẫn truyền thống giữa tự do và tất yếu. Trước hết,
Hume tái định nghĩa "tính tất yếu" không phải là một lực cưỡng ép
huyền bí, mà chỉ đơn thuần là sự kết hợp thường xuyên (constant conjunction)
giữa động cơ và hành động mà ta quan sát được trong đời sống. Theo ông, chúng
ta thường lầm tưởng tự do là sự bất định (không có nguyên nhân), nhưng thực tế,
ngay cả khi một cá nhân cố tình hành động ngẫu nhiên để chứng minh sự tự do của mình, thì
chính cái "ham muốn chứng minh" đó đã trở thành nguyên nhân mới thúc
đẩy họ.
Từ đó, Hume
khẳng định rằng tự do thực sự không nằm ở việc thoát ly khỏi quy luật nhân quả,
nhưng là khả năng hành động theo đúng ý chí và tâm tính nội tại mà không bị
ngăn trở bởi các cưỡng bức ngoại vi. Nói cách khác, một hành động được gọi là
tự do khi nó là kết quả tất yếu từ chính bản sắc cá nhân của người hành động;
con người không đứng ngoài vòng xoáy của tự nhiên, nhưng họ tự do khi chính họ
là nguồn cơn của những lựa chọn đó
