Friday, May 1, 2026

Hume – Một Điều Tra Về Những Khả Năng Nhận Thức Của Con Người (11)

Một Điều Tra Về Những Khả Năng Nhận Thức Của Con Người

(An Enquiry concerning Human Understanding)

David Hume

 

( ← ... tiếp theo )

 





TIẾT VIII.

Về Tự Do và Tất Yếu

 

PHẦN II.

 

E 8.26, SBN 96-7

Trong những tranh chấp triết học, không có phương pháp lập luận nào phổ biến hơn, mà cũng không có phương pháp nào đáng chê trách hơn là việc cố gắng bác bỏ một giả thuyết bằng cách nại ra những hệ quả nguy hại của nó đối với tôn giáo và đạo đức. Khi một quan điểm dẫn đến những điều phi lý, nó chắc chắn là sai lầm; nhưng không thể khẳng định một quan điểm là sai lầm chỉ vì vì những hệ lụy nguy hại của nó.

Do đó, những chủ đề như vậy hoàn toàn nên được gác lại; vì chúng không giúp ích gì cho việc tìm kiếm sự thật, nhưng chỉ khiến cá nhân của một người đối kháng thành đáng ghét. Tôi đưa ra nhận xét này một cách tổng quát mà không hề có ý định tranh thủ bất kỳ lợi thế nào từ đó. Tôi thẳng thắn chấp nhận một sự xem xét thuộc loại này, và sẽ mạo muội khẳng định rằng: cả hai học thuyết về tính tất yếu và về tự do, như đã giải thích ở trên, không chỉ nhất quán với đạo đức nhưng còn tuyệt đối thiết yếu cho sự hỗ trợ của đạo đức [1]

 

E 8.27, SBN 97

Tính tất yếu có thể được định nghĩa theo hai cách, thuận hợp với hai định nghĩa về nguyên nhân, vốn tính tất yếu tạo thành một phần thiết yếu trong đó. Nó gồm hoặc trong sự kết hợp bất biến của những đối tượng giống nhau, hoặc trong sự suy luận của khả năng hiểu biết từ một đối tượng này sang một đối tượng khác. Bây giờ, tính tất yếu, trong cả hai nghĩa này (thực ra, về cơ bản, chúng là một), đã được công nhận phổ quát, dù ngầm định, trong trường học, trên bục giảng và trong đời sống thường ngày, là thuộc về ý chí của con người; và không ai từng từng tự phụ dám phủ nhận rằng chúng ta có thể đưa ra những suy luận liên quan đến những hành động của con người; và rằng những suy luận đó đều được thiết lập trên sự hợp nhất về kinh nghiệm của những hành động giống nhau với những động cơ, khuynh hướng và hoàn cảnh giống nhau.

Chi tiết duy nhất ttrong đó bất kỳ một ai có thể khác biệt, có lẽ, hoặc là người này sẽ từ chối đưa ra tên gọitính tất yếu cho thuộc tính này của những hành động con người: Nhưng miễn là ý nghĩa được hiểu, tôi hy vọng từ ngữ này sẽ không gây hại : Hoặc là người này sẽ duy trì quan điểm rằng có thể tìm ra một gì đó thêm xa hơn trong những hoạt động của vật chất. Nhưng phải nhìn nhận rằng điều này có thể không có hệ quả nào đối với đạo đức hay tôn giáo, cho dù nó có thể là gì với triết học tự nhiên hay siêu hình học. Ở đây, chúng ta có thể nhầm lẫn khi khẳng định rằng không có ý niệm nào về bất kỳ tính tất yếu hay sự kết nối nào khác trong những hành động của vật thể: Nhưng chắc chắn chúng ta không gán gì cho những hành động của não thức, ngoại trừ những gì mà mọi người vẫn thường làm, và phải sẵn sàng thừa nhận. Chúng ta không thay đổi bất kỳ phương diện nào trong hệ thống quan điểm chính thống đã được đón nhận liên quan đến ý chí, nhưng chỉ trong những liên quan đến những đối tượng vật chất và nguyên nhân. Do đó, không gì có thể vô hại hơn, ít nhất là vậy, như học thuyết này.

 

E 8.28, SBN 97-8

Tất cả những luật lệ đều được dựng trên những khen thưởng và những hình phạt, nên người ta giả định nó như một nguyên lý nền tảng rằng những động cơ này có một ảnh hưởng thường xuyên và đồng nhất lên não thức, vừa tạo ra những hành động tốt vừa ngăn chặn những hành động xấu. Chúng ta có thể đặt cho ảnh hưởng này bất cứ tên gọi nào chúng ta thích; nhưng vì nó thường xuyên được kết hợp với hành động, nên nó phải được coi trọngmột nguyên nhân, và được xem như một minh chứng của tính tất yếu đó vốn chúng ta muốn thiết lập ở đây.

 

E 8.29, SBN 98

Đối tượng thích đáng duy nhất của sự oán ghét hay báo thù phải là một con người hay sinh vật được phú bẩm cho suy nghĩ và ý thức; khi bất kỳ những hành động tội phạm hay gây hại nào khơi dậy tình cảm đó, nó chỉ là vì quan hệ của chúng với con người đó hay sự kết nối với người đó. Những hành động, bởi chính bản chất của chúng, đều nhất thời và chóng tàn; và chúng không đến từ một nguyên nhân nào đó trong tính cách và khuynh hướng của người thực hiện chúng, thì chúng không thể đem lại danh dự cho người đó, nếu tốt; cũng không thể đem lại tai tiếng, nếu xấu.

Tự thân những hành động có thể là đáng trách; chúng có thể trái với tất cả những quy luật của đạo đức và tôn giáo: Nhưng nếu chối bỏ tính tất yếu, thì người thực hiện không phải chịu trách nhiệm gì. Bởi lẽ, khi hành động không xuất phát từ bất cứ gì bền vững hay bất biến bên trong con người, cũng chẳng để lại dấu tích nào thuộc bản chất ấy phía sau chúng, thì không thể nào người đó lại trở thành đối tượng của hình phạt hay sự báo thù chỉ vì những hành động ấy.

Do đó, theo nguyên lý vốn phủ nhận tính tất yếu, và hệ quả là phủ nhận những nguyên nhân, thì một người sau khi phạm tội ác kinh hoàng nhất vẫn trong sạch và không mang tì vết nào, y như khoảnh khắc vừa mới chào đời. Tính cách của người này không liên quan theo bất kỳ cách nào trong những hành động của người này, vì chúng không bắt nguồn từ tính cách; và do đó, sự gian ác của hành động này không bao giờ có thể được dùng như một bằng chứng cho sự đồi bại của tính cách kia [2]

 

E 8.30, SBN 98-9

Con người không bị khiển trách vì những hành động thực hiện trong sự thiếu hiểu biết hay tình cờ, bất kể những hệ quả có thể là gì. Tại sao? Bởi vì những nguyên lý của những hành động này chỉ mang tính nhất thời, và kết thúc ngay khi hành động đó chấm dứt. Con người cũng ít bị khiển trách hơn với những hành động thực hiện hấp tấp và không tính toán trước, so với những hành động xuất phát từ suy tính cân nhắc. Lý do là gì? Bởi lẽ một tính khí nóng nảy, dù là một nguyên nhân hay nguyên lý thường trực trong não thức, cũng chỉ hoạt động theo từng cơn nhất thời, và không làm vấy bẩn toàn bộ nhân cách.

Tương tự, sự ăn năn xóa sạch mọi tội lỗi nếu đi kèm với sự cải thiện về lối sống và cách hành xử. Điều này được giải thích như thế nào? Chính bằng việc khẳng định rằng: hành động chỉ khiến một người trở thành tội phạm chừng nào chúng là bằng chứng cho những nguyên lý tội lỗi trong não thức; và khi những nguyên lý này thay đổi, khiến hành động không còn là bằng chứng xác đáng cho chúng nữa, thì hành động đó cũng không còn bị coi là tội lỗi. Thế nhưng, nếu không dựa trên học thuyết về tính tất yếu, thì hành động sẽ chẳng bao giờ là bằng chứng xác đáng (cho tâm tính), và do đó, cũng chẳng bao giờ bị coi là tội lỗi. [3]

 

E 8.31, SBN 99

Cũng sẽ dễ dàng chứng minh, và từ cùng những lập luận đó, rằng tự do, theo định nghĩa đã nhắc đến ở trên, vốn tất cả tất cả mọi người đều đồng ý, cũng là yếu tố thiết yếu với đạo đức, và không một hành động nào của con người, nếu thiếu nó, lại có thể mang bất kỳ phẩm chất đạo đức nào, hay có thể là trở thành đối tượng của sự tán thành hoặc bất mãn.. Bởi vì hành động là đối tượng của cảm xúc đạo đức của chúng ta, chừng nào chúng là những biểu hiện của nhân cách nội tại, của những tình cảm và cảm xúc; do đó, chúng không thể dẫn đến sự khen ngợi hay khiển trách nếu không phát xuất từ những nguyên lý này, mà lại hoàn toàn bắt nguồn từ sự cưỡng bách bên ngoài. [4]

 

E 8.32, SBN 99-100

Tôi không dám tự nhận là đã ngăn chặn hay loại bỏ tất cả những phản đối với lý thuyết này, liên quan đến tính tất yếu và tự do. Tôi có thể thấy trước những phản đối khác, đến từ những chủ đề, vốn chưa được giải quyết đây. Thí dụ, có thể nói rằng, nếu những hành động tự nguyện cũng phải tuân theo những quy luật của tính tất yếu như những hoạt động của vật chất, thì sẽ có một chuỗi liên tục của những nguyên nhân tất yếu, được định sẵn và xác định trước, bắt nguồn từ nguyên nhân ban đầu của tất cả, đến từng mỗi một ý muốn của mỗi con người. Không có sự ngẫu nhiên ở bất cứ đâu cả trong vũ trụ; không có sự trung lập không phân biệt; không có tự do. Trong khi chúng ta hành động, chúng ta, đồng thời, bị tác động lên. Tác giả cuối cùng của tất cả những sự tác ý của chúng ta là Đấng Tạo Hóa của thế giới, Ngài đầu tiên đã ban tặng chuyển động cho cỗ máy mênh mông này,và đặt để tất cả những hữu thể vào vị trí cụ thể đó, từ nơi mà mỗi sự kiện tiếp sau, bởi một tính tất yếu không thể tránh khỏi, phải kết quả.

Những hành động của con người, vì vậy, hoặc là có thể không có sự đồi bại về đạo đức nào cả, vì đến từ một nguyên nhân tốt lành như thế; hoặc nếu chúng có bất kỳ sự đồi bại nào, chúng phải kéo theo Đấng Tạo Hóa của chúng ta vào cùng tội lỗi đó, trong khi Ngài được công nhận là nguyên nhân và tác giả cuối cùng của chúng. Bởi vì, như một người, người đã châm ngòi một quả mìn, phải chịu trách nhiệm cho tất cả những hệ quả cho dù chuỗi (ngòi nổ) người này dùng là dài hay ngắn; thì ở bất cứ đâu một chuỗi liên tục của những nguyên nhân tất yếu được ấn định, thì Thực thể đó, dù là hữu hạn hay vô hạn, người tạo ra nguyên nhân) đầu tiên, cũng tương tự là tác giả của tất cả phần còn lại, và phải vừa chịu sự khiển trách vừa nhận lấy sự khen ngợi, vốn thuộc về chúng.

Những ý niệm rõ ràng và không thể thay đổi của chúng ta về đạo đức thiết lập quy luật này, dựa trên những lý lẽ không thể nghi ngờ, khi chúng ta kiểm tra những hệ quả của bất kỳ hành động nào của con người; và những lý lẽ này phải vẫn có lực lớn hơn, khi được áp dụng cho những sự tác ý và ý định của một Thực thể, vô hạn khôn ngoan và quyền năng. Sự thiếu hiểu biết hoặc sự bất lực có thể được viện dẫn cho một sinh vật hạn hẹp như con người; nhưng những sự không hoàn hảo đó không có chỗ trong Đấng Tạo Hóa của chúng ta. Ngài đã thấy trước, Ngài đã định sẵn, Ngài đã dự định tất cả những hành động đó của con người, những gì mà chúng ta tuyên bố một cách hấp tấp là mang tính tội phạm. Và chúng ta vì thế phải kết luận, hoặc là rằng chúng không mang tính tội phạm, hoặc rằng Gót, chứ không phải con người, là người phải chịu trách nhiệm về chúng.

Nhưng vì cả hai lập trường này đều phi lý và vô đạo bất kính, theo đến rằng (hệ quả là), học thuyết mà từ đó chúng được diễn dịch, không thể có khả năng là đúng, vì (nó) cũng mắc phải tất cả những sự phản đối tương tự. Một hệ quả phi lý, nếu (là) tất yếu, chứng minh học thuyết ban đầu là phi lý; theo cùng cách thức như những hành động tội phạm làm cho nguyên nhân ban đầu trở nên tội phạm, nếu sự liên kết giữa chúng là tất yếu và không thể tránh khỏi.

 

E8.33, SBN 100-1

Phản đối này gồm hai phần, vốn chúng ta sẽ xem xét riêng; Thứ nhất, nếu hành động của con người có thể được truy nguyên, bằng một chuỗi tất yếu, đến Đấng Tối Cao, thì chúng không bao giờ có thể tính tội phạm; bởi vì sự toàn hảo vô hạn của Đấng ấy, Đấng vốn chúng bắt nguồn, và Đấng ấy chỉ có thể dự định không gì khác ngoài nhữnghoàn toàn tốt đẹp và đáng ca ngợi. Hay, Thứ hai, nếu chúng mang tính tội phạm, chúng ta phải rút lại thuộc tính toàn hảo vốn chúng ta gán cho Đấng Tối Cao, và phải nhìn nhận Ngài là tác giả cuối cùng của tội lỗi và sự đồi bại đạo đức trong tất cả những tạo vật của Ngài. [5]

 

E8.34, SBN 101-2

Lời giải đáp cho sự phản đối thứ nhất có vẻ hiển nhiên và thuyết phục. Có nhiều triết gia, sau khi xem xét kỹ lưỡng tất cả những hiện tượng của tự nhiên, đã kết luận rằng Toàn bộ Vũ trụ [6], xét như một hệ thống duy nhất, trong mọi giai đoạn hiện hữu của nó, vận hành với lòng nhân từ toàn hảo; và rằng hạnh phúc tối đa cuối cùng sẽ đến với tất cả tạo vật, mà không có bất kỳ sự pha trộn nào của cái xấu hay sự khổ sở thực hữu [7] và tuyệt đối. Họ nói rằng mọi cái xấu về thể xác đều tạo nên một phần thiết yếu của hệ thống nhân từ này, và thậm chí chính Đấng Tối Cao, khi xem xét như một tác nhân thông thái, cũng không thể loại bỏ chúng mà không mở đường cho cái xấu lớn hơn, hay loại trừ điều tốt đẹp hơn vốn sẽ nảy sinh từ đó.

Từ lý thuyết này, một số triết gia, bao gồm những nhà Khắc kỷ thòi cổ [8] và những người khác, đã rút ra một đề tài an ủi trước mọi khổ đau, khi họ dạy học trò của mình rằng những cái xấu mà học trò đang phải chịu đựng, thực ra, là những điều tốt đẹp cho vũ trụ; và với một tầm nhìn rộng lớn hơn, thứ có thể bao quát toàn bộ hệ thống tự nhiên, mọi sự kiện đều trở thành đối tượng của niềm vui và sự hân hoan. Nhưng dù đề tài này có vẻ hào nhoáng và cao siêu, người ta sớm thấy nó yếu ớt và kém hiệu quả trong thực tế. Chắc chắn bạn sẽ gây khó chịu hơn là xoa dịu một người đang chịu đựng những cơn đau nhức nhối của bệnh gút bằng cách rao giảng cho người này về sự đúng đắn của những quy luật chung – những quy luật đã tạo ra những dịch độc trong cơ thể người này và dẫn chúng qua những ống dẫn thích hợp đến những gân và dây thần kinh, nơi chúng đang kích thích những cơn đau dữ dội như vậy.

Những quan điểm mở rộng này có thể, trong giây lát, làm hài lòng trí tưởng tượng của một người hay suy tưởng, người đang đặt mình trong sự thoải mái và an toàn; nhưng chúng cũng không thể ngự trị thường trực trong não thức người này, ngay cả khi đau đớn hay đam mê không làm xáo trộn người này; chúng càng không thể giữ vững vị thế của mình khi những đối thủ mạnh mẽ như vậy tấn công chúng. những tình cảm thực hiện một cái nhìn hẹp hơn và tự nhiên hơn về đối tượng của chúng; và bằng một cơ chế điều tiết phù hợp hơn với sự yếu đuối của não thức con người, chúng chỉ quan tâm đến những thực thể xung quanh chúng ta, và những sự kiện mang vẻ tốt hay xấu đối với hệ thống riêng tư sẽ kích hoạt chúng.

 

E8.35, SBN 102-3

Trường hợp đối với cái xấu đạo đức cũng tương tự như với cái xấu thể chất. Người ta không thể giả định một cách hợp lý rằng những cân nhắc xa xôi, vốn mang lại quá ít hiệu quả đối với bên này, lại sẽ có một ảnh hưởng quyền năng hơn đối với bên kia. Tự nhiên nhào nặn não thức con người theo cách thức sao cho, khi những tính cách, thiên hướng và hành động nhất định xuất hiện, não thức đó ngay lập tức cảm thấy cảm xúc tán thành hay chê trách; và không có cảm xúc nào thiết yếu hơn đối với cấu trúc và sự cấu thành của nó. Những tính cách thu hút sự tán thành của chúng ta chủ yếu là những tính cách góp phần vào hòa bình và an ninh của xã hội loài người; cũng như những tính cách kích thích sự chê trách chủ yếu là những tính cách có khuynh hướng gây tổn hại và xáo trộn công cộng: Do đó, người ta có thể giả định một cách hợp lý rằng những cảm xúc đạo đức nảy sinh, dù gián tiếp hay trực tiếp, từ sự suy ngẫm về những ích lợi đối lập này.

Việc những suy tưởng triết học thiết lập một quan điểm hay giả thuyết khác biệt thì có nghĩa lý gì; rằng mọi sự vật đều đúng đắn khi xét trong mối tương quan với Toàn bộ Vũ trụ, và rằng những phẩm chất gây xáo trộn xã hội, về cơ bản, cũng có lợi và phù hợp với ý định sơ khởi của tự nhiên như những phẩm chất thúc đẩy trực tiếp hơn đến hạnh phúc và phúc lợi của nó? Liệu những suy đoán xa xôi và không chắc chắn như vậy có khả năng đối trọng với những cảm nhận nảy sinh từ cái nhìn tự nhiên và trực tiếp về những đối tượng hay không?

Một người bị cướp mất một khoản tiền lớn; liệu người này có thấy nỗi bực tức vì mất mát ấy vơi đi phần nào nhờ những suy tưởng cao siêu này không? Vậy thì tại sao người ta lại giả định rằng sự phẫn nộ đạo đức của người này đối với tội ác không tương thích với chúng? Hay tại sao việc thừa nhận một sự phân biệt thực sự giữa tệ nạn và đức hạnh lại không thể hòa hợp với mọi hệ thống triết học suy tưởng, cũng như việc thừa nhận một sự phân biệt thực sự giữa vẻ đẹp và sự dị dạng của cá nhân? Cả hai sự phân biệt này đều đặt nền tảng trên những cảm nhận tự nhiên của não thức con người: Và không một lý thuyết hay suy diễn triết học nào có thể kiểm soát hay thay đổi những cảm nhận này.

 

E8.36, SBN 103

Lời phản đối thứ hai không thừa nhận một câu trả lời dễ dàng và thỏa đáng như thế; người ta cũng không thể giải thích rõ ràng làm thế nào Thần linh có thể là nguyên nhân trung gian của tất cả những hành động của con người nhưng lại không phải là tác giả của tội lỗi và sự bại hoại về đạo đức. Đây là những bí ẩn mà lý trí tự nhiên và không được hỗ trợ rất khó có thể giải quyết; và bất kỳ hệ thống nào mà Lý trí chấp nhận, Lý trí phải tự thấy mình vướng vào những khó khăn không thể thoát khỏi, thậm chí là những mâu thuẫn, ở mỗi bước Lý trí thực hiện liên quan đến những đề tài như vậy. Việc dung hòa tính trung lập và tính ngẫu nhiên của hành động con người với tri thức tiền định của Thần linh [9]; hay việc bảo vệ những sắc lệnh tuyệt đối mà vẫn giải phóng Đấng Tối Cao khỏi vai trò tác giả của tội lỗi, cho đến nay, người ta thấy đã vượt quá tất cả những quyền năng của triết học. Thật may mắn nếu Triết học nhận ra được sự liều lĩnh của nó khi dò xét vào những bí ẩn cao siêu này; và rời bỏ một khung cảnh đầy rẫy những sự mờ mịt và rắc rối, để quay trở lại, với sự khiêm tốn thích hợp, về lãnh địa đích thực và tthichs đáng của nó, việc xem xét đời sống bình thường; việc xem xét đời sống bình thường; nơi nó sẽ tìm thấy những khó khăn đủ để đem dùng cho những điều tra của nó, mà không cần phải lao vào một đại dương vô tận của nghi ngờ, sự bất định và sự mâu thuẫn như thế!

 

----------------------------------------------------------

 

E 8.22n18, SBN 94

18. Xem GHI CHÚ [F].

 

E 8.22n18. 1, SBN 94

Sự thịnh hành của học thuyết về tự do có thể được giải thích, từ một nguyên nhân khác, cụ thể là một cảm giác sai lầm hoặc kinh nghiệm vẻ vẻ ngoài những gì vốn chúng ta có, hoặc có thể có, về sự tự do hay tính trung lập mà chúng ta dường như đang có, hoặc có thể có, trong nhiều những hành động của chúng ta. Tính tất yếu của bất kỳ hành động nào, dù thuộc vật chất hay tinh thần, nói một cách chính xác, không phải là một phẩm chất nằm ở tác nhân, nhưng nằm ở bất kỳ sinh vật có suy nghĩ hay trí tuệ nào đang xem xét hành động đó; và tính tất yếu này chủ yếu bao gồm sự thúc đẩy não thức của chủ thể này để suy luận ra sự hiện hữu của hành động đó từ một số đối tượng đi trước. Bởi vì tự do, khi đối lập với tính tất yếu, không gì khác hơn là sự thiếu vắng suwj thúc đẩy đó, và một sự lỏng lẻo hay tính trung lập nhất định mà chúng ta cảm thấy khi chuyển dịch, hoặc không chuyển dịch, từ ý niệm về một đối tượng sang ý niệm về bất kỳ đối tượng kế tiếp nào.

Giờ đây, chúng ta có thể quan sát thấy rằng, dù khi suy ngẫm về những hành động của con người, chúng ta hiếm khi cảm thấy sự lỏng lẻo hay tính trung lập như vậy, nhưng trong quá trình thực hiện chính những hành động đó, chúng ta lại thường xuyên cảm nhận được một gì đó tương tự. Và vì mọi đối tượng tương đồng đều dễ bị đánh đồng là một, hiện tượng này đã được viện dẫn như một bằng chứng xác thực, thậm chí là bằng chứng trực giác về sự tự do của con người.

Trong hầu hết mọi trường hợp, chúng ta cảm thấy hành động của mình tuân theo ý chí; và chúng ta tưởng tượng mình cảm thấy rằng tự thân ý chí không chịu sự chi phối của bất cứ điều gì. Bởi lẽ, khi bị thách thức phải chứng minh điều ngược lại, chúng ta lại cảm thấy ý chí dịch chuyển dễ dàng theo mọi hướng, và tạo ra một dạng thức mờ nhạt về chính nó (hay một Velleity, [10] như cách gọi trong những học phái triết học) ngay cả về phía mà rốt cuộc nó không dừng lại. Tại thời điểm đó, chúng ta tự thuyết phục rằng cái bóng hay chuyển động mờ nhạt này của ý chí đã có thể phát triển trọn vẹn thành chính hành động thực tế. Bởi lẽ, nếu có ai phủ nhận khả năng đó, chúng ta sẽ lập tức thấy được qua một lần thử nghiệm thứ hai rằng, ở hiện tại, hành động đó hoàn toàn có thể thực hiện được. Nhưng chúng ta lại không nhận ra rằng, chính cái khao khát kỳ quặc muốn phô diễn quyền tự do ở đây lại là động cơ thúc đẩy hành động của chúng ta. Và dường như chắc chắn rằng, dù chúng ta có tưởng tượng chúng ta cảm nhận được sự tự do đến đâu, một người quan sát thường vẫn có thể suy luận được hành động của chúng ta từ chính những động cơ và tính cách của chúng ta; và ngay cả khi người quan sát không thể làm vậy, họ vẫn kết luận một cách khái quát rằng họ hoàn toàn đã có thể làm được điều đó, miễn là họ thấu triệt được từng hoàn cảnh, tính khí, cùng những động cơ sâu kín nhất trong khí chất [11] và tâm tính của chúng ta. Bây giờ đây chính là bản chất của tính tất yếu, theo như học thuyết đã nói ở trên. [12]

 

E 8.25n19, SBN 96

19. Xem GHI CHÚ [G].

 

E 8.25n19. 1, SBN 96

NHƯ VẬY, nếu người ta định nghĩa một nguyên nhân là những gì tạo ra bất kỳ sự vật nào; thì thật dễ dàng để nhận thấy rằng “tạo ra” đồng nghĩa với “gây ra”. Tương tự như vậy, nếu định nghĩa một nguyên nhân là những gì mà nhờ đó bất kỳ sự vật nào hiện hữu; thì định nghĩa này cũng vướng phải sự phản đối tương tự. Bởi vì những từ này, “nhờ đó”, có nghĩa là gì? Nếu người ta nói rằng, một nguyên nhân là những gì mà sau nó bất kỳ sự vật nào luôn luôn hiện hữu; thì chúng ta đã hiểu những thuật ngữ này. Bởi vì, thực ra, đây là tất cả những gì chúng ta biết về vấn đề này. Và sự bất biến này hình thành nên chính bản chất của tính tất yếu, và chúng ta cũng không có bất kỳ ý niệm nào khác về nó.

 

 

Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ hai

(Mar/2026

(Còn tiếp... →)

 

http://chuyendaudau.blogspot.com/

http://chuyendaudau.wordpress.com



[1] Để hiểu ý của Hume sau câu mượn danh nghĩa những hệ quả nguy hại cho tôn giáo và đạo đức, chúng ta cần đặt ông vào tâm điểm của xung đột tư tưởng tại Scotland thế kỷ 18—nơi thuyết dduy nghiệm sơ khai bắt đầu va chạm với những giáo điều gót học chính thống. Trong bối cảnh đó, “Tôn giáo và Đạo đức” không phải là những khái niệm trừu tượng, nhưng là hệ thống quyền lực cụ thể của đạo Kitô Anh (Anglicanism) và đạo Phản thệ Trưởng lão (Presbyterianism). Gót học thời bấy giờ bám chặt vào đức tin rằng con người sở hữu tự do ý chí tuyệt đối. Nếu hành động của con người bị ràng buộc bởi những quy luật nhân quả (tính tất yếu) như cách vật chất vận hành, thì toàn bộ cấu trúc về sự cứu rỗi, linh hồn bất tử và quyền năng trừng phạt của Gót Kitô sẽ lung lay. Người ta lo sợ rằng nếu con người không thể làm khác được, thì việc đẩy kẻ tội đồ vào địa ngục sẽ trở thành một hành động bất công của đấng sáng tạo.

Khi Hume gọi việc nại ra những hậu quả này là sự giả tạo (pretence), ông đang ccho thấy sự mỉa mai sắc sảo vào lối tranh luận đương thời. Ông nhận ra rằng khi những nhà gót học thất bại trong việc dùng logic để bác bỏ tính tất yếu nhân quả, họ thường quay sang dùng “sự khiếp sợ làm vũ khí. Thay vì đối thoại triết học, họ dán nhãn ý tưởng của đối phương là nguy hại để kích động sự thù ghét của công chúng, biến người phát ngôn thành một kẻ đáng ghét (odious) trong mắt nhìn cộng đồng. Đối với Hume, đây không phải là tìm kiếm sự thật, nhưng là một thủ thuật chính trị nhằm tiêu diệt uy tín cá nhân.

Tuy nhiên, ý hướng sâu xa nhất của Hume chính là một sự lật ngược. Ông khẳng định chân lý của một giả thuyết chỉ phụ thuộc vào tính logic của nó, chứ không phụ thuộc vào việc nó có dễ nghe/thuận tai/hợp đao đức một tôn giáo nào đó hay không. Ông phản bác rằng chính những người nhân danh đạo đức để bảo vệ sự tự do ngẫu nhiên mới là kẻ đang phá hủy đạo đức. Bởi lẽ, nếu hành động của một kẻ sát nhân không bắt nguồn tất yếu từ tính cách của hắn, thì mọi hình phạt đều trở nên vô nghĩa. Hume thiết lập một ranh giới đỏ cho tự do tư tưởng: triết học phải được phép đi đến tận cùng của lý trí mà không bị xiềng xích bởi những tiện ích xã hội hay giáo điều tôn giáo. Ông tố cáo việc dùng đạo đức làm bình phong để bóp nghẹt tư duy khoa học, đồng thời khẳng định rằng chỉ có một hệ thống nhân quả minh bạch mới có thể làm nền móng vững chắc cho công lý thực thụ.

[2] Nhân quả tâm lý và lập luận phản chứng về Tự do vô định: Hume lập luận rằng sự vận hành của tâm trí không nằm ngoài quy luật tự nhiên; nó sở hữu một tính tất yếu không kém gì những hiện tượng vật lý. Tuy nhiên, sợi dây nhân quả này không nằm ở bản thân sự vật, mà nằm ở tương quan giả định trong kkhar năng hiểu biết: sự kết hợp đều đặn giữa Động cơ và Hành động. Nếu không có sự liên kết tất yếu này, hành vi con người sẽ trở nên hỗn loạn và không thể dự đoán.

Để cho thấy rõ học thuyết này, Hume dùng lập l;ập phản chứng để chỉ ra rằng: nếu chối bỏ tính tất yếu, chúng ta sẽ rơi vào những kết luận phi lý làm sụp đổ nền tảng đạo đức: (a) Sự đứt gãy giữa Chủ thểHành vi: Nếu hành động không bắt nguồn từ tính cách bền vững, thì tội ác chỉ là một biến cố ngẫu nhiên rơi xuống từ hư không. Khi đó, kẻ thủ ác không khác gì một thực thể vô tri như tảng đá rơi hay cây đổ. Hume mỉa mai rằng nếu thiếu tính tất yếu, hành động sẽ chết ngay khi vừa thực hiện, không để lại dấu ấn hay sự ràng buộc nào với tâm hồn người thực hiện. (b) Trạng thái “trong sạch” quái đản: Hume đẩy lập luận đến cực đoan: một kẻ vừa phạm tội tày trời có thể lập tức trở nên “vô tội” như đứa trẻ mới sinh. Bởi nếu chối bỏ tính tất yếu, ta không có quyền dùng hành vi quá khứ để suy diễn bản chất hiện tại; hành động và tính cách lúc này trở thành hai đường thẳng song song không bao giờ giao nhau. (c) Sự vô nghĩa của Công lý: Mục đích của hình phạt là cải tạo và răn đe dựa trên tâm lý học nhân quả. Nếu hành động không xuất phát từ bản chất chủ thể, việc trừng phạt trở nên độc ác và vô lý. Ta không thể quy trách nhiệm cho một người về một việc mà “không phải do bản chất của họ” gây ra. Hume đã đảo ngược nỗi sợ thông thường. Trong khi người ta sợ “Tính tất yếu” biến con người thành cỗ máy, Hume chứng minh rằng thiếu tính tất yếu, đạo đức sẽ sụp đổ. Chúng ta chỉ có thể khen ngợi hay trách cứ một người khi tin rằng hành động của họ là kết quả tất yếu bắt nguồn từ chính bản chất và những ham muốn nội tại của họ.

[3] Liên hệ giữa Tính tất yếu và Trách nhiệm đạo đức: Trong Hume, tính tất yếu (nhân quả) không phải là rào cản của tự do, mà trái lại, là điều kiện tiên quyết để xác lập đạo đức. Ông lập luận rằng một hành động chỉ có ý nghĩa đạo đức khi nó là kết quả tất yếu bắt nguồn từ tính cách và động cơ bền vững của chủ thể. Nếu hành động xảy ra do vô minh hay ngẫu nhiên, nó chỉ là một biến cố ngẫu nhiên nhất thời., không phản ánh bản chất bên trong và do đó không thể là căn cứ để phán xét. Ngay cả sự nóng nảy cũng được giảm nhẹ trách nhiệm vì nó chỉ là xung năng nhất thời, chưa “tha hóa” toàn bộ hệ thống nhân cách. Lập luận này dẫn đến một kết luận mang tính cách mạng: Nếu không có sợi dây nhân quả thắt chặt giữa “tâm tính” và “hành động”, khái niệm tội phạm sẽ trở nên vô nghĩa. Một người chỉ bị coi là tội lỗi khi hành động của họ là bằng chứng xác đáng cho một “khuynh hướng tội phạm bền vững/ criminal principle” trong tâm trí. Logic này cũng giải thích bản chất của sự ăn năn: khi một cá nhân cải thiện lối sống và tư cách, họ đã cắt đứt mối liên kết nhân quả với quá khứ. Lúc này, hành động cũ không còn là bằng chứng cho con người hiện tại, và về mặt đạo đức, thực thể tội đồ cũ (người sở hữu những động cơ xấu dẫn đến tội ác) đã không còn tồn tại để chịu sự trừng phạt.  Tóm lại, trong hệ thống của Hume, đạo đức không phán xét hành vi như một sự kiện vật lý đơn thuần, mà phán xét mối liên kết nhân quả bền vững giữa hành vi đó và tâm tính của chủ thể. Nếu thiếu đi tính tất yếu — tức sợi dây ràng buộc giữa tính cách và hành động — thì mọi sự khen ngợi hay trách phạt đều trở nên phi logic, vì chúng ta không còn điểm tựa nào để quy gán trách nhiệm cho con người đằng sau hành vi.

[4] Trong đoạn này, Hume hoàn thiện hệ thống Tất yếu – Tự do – Đạo đức, khẳng định rằng đạo đức sẽ vô nghĩa nếu thiếu một trong hai yếu tố: Tính tất yếu (sự liên kết bền vững giữa hành động và nhân cách) và Tính tự do (khả năng hành động theo ý muốn mà không bị cưỡng bách). Nếu hành động chỉ là sự ngẫu nhiên hoặc do áp lực bên ngoài, sợi dây nhân quả nối giữa “hành vi” và “bản chất” sẽ đứt gãy, khiến mọi sự phán xét hay trách cứ đều mất đi nền tảng logic.

[5] Trong đoạn văn này, Hume trình bày một trong những vấn đề nan giải nhất của triết học tôn giáo khi đặt tính tất yếu vào thế mâu thuẫn với bản chất của Gót. Tuy nhiên, đây thực chất là một phản bác Hume đưa ra để thách thức chính học thuyết của ông trước khi tìm cách giải quyết nó.Về logic, Hume chỉ ra rằng nếu mọi hành động và ý muốn của con người đều là kết quả của một chuỗi nguyên nhân tất yếu như những quy luật vật lý, thì chuỗi xích này phải bắt nguồn từ Nguyên nhân đầu tiên là Đấng Tạo Hóa. Hệ quả là chúng ta rơi vào một nghịch lý đạo đức: hoặc mọi hành động của con người đều không thể là tội lỗi vì chúng xuất phát từ một nguồn cơn (tối cao/đầu tiên) tốt lành (toàn thiện), hoặc nếu tội lỗi thực sự tồn tại, thì chính Gót mới là tác giả cuối cùng phải chịu trách nhiệm cho những sai trái đó. Dù vậy, Hume không hề phủ nhận tự do. Là một người theo thuyết Tương thích [Compatibilism = quan điểm triết học cho rằng ý chí tự do và thuyết tiền định (determinism) có thể tồn tại song song và không mâu thuẫn nhau. Theo đó, con người có tự do hành động theo mong muốn của mình, ngay cả khi mong muốn đó đã được quyết định trước bởi những nguyên nhân nhân quả.], ông định nghĩa lại tự do không phải là sự ngẫu nhiên, nhưng là khả năng hành động theo ý muốn cá nhân mà không bị cưỡng bức. Ông cho rằng tính tất yếu và tự do có thể tồn tại song hành: chúng ta tự do khi làm điều mình muốn, ngay cả khi cái “muốn” đó cũng được thúc đẩy bởi những nguyên nhân có từ trước. Cuối cùng, mục đích của Hume không phải là bác bỏ tôn giáo nhưng là chỉ ra sự giới hạn của lý trí con người. Ông chứng minh rằng khi cố gắng dùng logic để kết nối hành vi nhỏ bé của con người với sự vận hành của vũ trụ và bản thể luận về Gót, chúng ta sẽ không tránh khỏi sự phi lý. Hume ngầm khẳng định rằng những tranh luận siêu hình học thường đi vào ngõ cụt, và thay vì sa đà vào những suy luận thần học trừu tượng, chúng ta nên tập trung vào thực tiễn đạo đức cùng những cảm xúc tự nhiên của con người trước Thiện và ác.

[6] the Whole,

[7] Trong triết học thế kỷ 18, “positive” (thực hữu) chỉ cái ác như một thực thể hiện hữu và tác động trực tiếp (nhưđau đớn). Khái niệm này đối lập với quan điểm “privative” (thiếu vắng) của các nhà gót họcnhư Augustine, những người lập luận rằng cái ác không có sự tồn tại thực sự mà chỉ là sự thiếu vắng cái thiện (như bóng tối là thiếu ánh sáng, bệnh tật là thiếu sức khỏe). Lập luận “thiếu vắng” này giúp họ bảo vệ Gót: vì cái ác không phải là một thực thể, nên Gót—Đấng tạo ra mọi thực thể—không phải là tác giả của cái ác. Hume dùng từ “positive” để bác bỏ điều này, khẳng định khổ đau là một thực tế không thể phủ nhận.

[8] Để hiểu được sự phê bình sắc bén của Hume, chúng ta cần nắm rõ lập trường của phái Khắc kỷ (Stoics) mà ông đang nhắm tới. Lập trường này có thể tóm tắt qua ba luận điểm chính: 1. Thế giới là một Chỉnh thể hoàn hảo (The Whole) những nhà Khắc kỷ tin rằng vũ trụ không phải là một tập hợp ngẫu nhiên, nhưng là một cơ thể sống được điều hành bởi Logos (Lý trí tối cao). Vì Logos là hoàn hảo và nhân từ, nên mọi sự sắp đặt trong vũ trụ đều hướng tới điều tốt đẹp nhất. Mọi sự kiện, dù là thiên tai hay bệnh tật, đều là một mắt xích cần thiết trong kế hoạch đại tài của tự nhiên. 2. Cái ác chỉ là ảo giác do cái nhìn hạn hẹpHọ cho rằng con người thấy “cái ác” (đau khổ, cái chết, sự bất công) là vì chúng ta chỉ nhìn vào từng bộ phận riêng lẻ.Ví dụ: Một chiếc bánh xe bị mòn có vẻ là xấu, nhưng nếu nhìn vào “Toàn thể” chiếc xe đang vận hành để cứu người, thì sự mòn đó chỉ là một hệ quả tất yếu và nhỏ bé.Vì vậy, nếu ta nâng tầm nhìn lên mức vũ trụ, mọi nỗi đau cá nhân sẽ tan biến trong sự hài hòa chung. 3. Hạnh phúc đến từ việc thuận theo Tự nhiênLập trường của họ là: Thay vì than vãn, con người nên dùng lý trí để hiểu rằng mọi khổ đau đều có ích cho hệ thống chung. Khi chúng ta chấp nhận rằng bệnh tật của mình là “ý chí của vũ trụ”, chúng ta sẽ đạt được trạng thái Apatheia (bình thản, không bị xáo động bởi cảm xúc).

[9] prescience

[10] Velleïty (Velleity): thuật ngữ triết học kinh viện (scholasticism). Nó chỉ một ước muốn, ý chí rất yếu ớt, không đủ mạnh để biến thành hành động thực tế.

[11] complexion

[12] Trong hệ thống tư tưởng của Hume, Thuyết Tương thích (Compatibilism) hiện lên như một nỗ lực hóa giải mâu thuẫn truyền thống giữa tự do và tất yếu. Trước hết, Hume tái định nghĩa "tính tất yếu" không phải là một lực cưỡng ép huyền bí, mà chỉ đơn thuần là sự kết hợp thường xuyên (constant conjunction) giữa động cơ và hành động mà ta quan sát được trong đời sống. Theo ông, chúng ta thường lầm tưởng tự do là sự bất định (không có nguyên nhân), nhưng thực tế, ngay cả khi một cá nhân cố tình hành động ngẫu nhiên để chứng minh sự tự do của mình, thì chính cái "ham muốn chứng minh" đó đã trở thành nguyên nhân mới thúc đẩy họ.

Từ đó, Hume khẳng định rằng tự do thực sự không nằm ở việc thoát ly khỏi quy luật nhân quả, nhưng là khả năng hành động theo đúng ý chí và tâm tính nội tại mà không bị ngăn trở bởi các cưỡng bức ngoại vi. Nói cách khác, một hành động được gọi là tự do khi nó là kết quả tất yếu từ chính bản sắc cá nhân của người hành động; con người không đứng ngoài vòng xoáy của tự nhiên, nhưng họ tự do khi chính họ là nguồn cơn của những lựa chọn đó