Friday, April 17, 2026

Hume – Một Điều Tra Về Những Khả Năng Nhận Thức Của Con Người (10)

Một Điều Tra Về Những Khả Năng Nhận Thức Của Con Người

(An Enquiry concerning Human Understanding)

David Hume

 

( ← ... tiếp theo )

 

 



TIẾT VIII.

Về Tự Do và Tất Yếu

 

PHẦN I.

E 8.1, SBN 80-1

Có thể kỳ vọng một cách hợp lý rằng, đối với những câu hỏi đã được thảo luận và tranh luận hết sức sôi nổi kể từ buổi đầu của khoa học và triết học, ít nhất ý nghĩa của tất cả những từ ngữ lẽ ra phải được những bên tranh chấp thống nhất với nhau; và rằng những điều tra của chúng ta, trong tiến trình hai nghìn năm, đáng lẽ đã có thể chuyển từ tranh luận về từ ngữ sang bản chất thực sự và đích thực của vấn đề tranh luận.

Bởi lẽ, việc đưa ra những định nghĩa chính xác cho những từ ngữ được dùng trong lý luận có vẻ dễ dàng đến nhường nào — và biến những định nghĩa ấy, chứ không phải chỉ là âm thanh của từ ngữ, thành đối tượng của mọi suy xét và khảo sát về sau? Thế nhưng nếu nhìn nhận vấn đề kỹ hơn, chúng ta có thể rút ra một kết luận hoàn toàn ngược lại.

Chỉ từ thực tế rằng một tranh luận đã kéo dài từ lâu mà vẫn chưa ngã ngũ, chúng ta có thể suy ra rằng có sự mơ hồ nào đó trong cách diễn đạt, và rằng những bên tranh chấp đang gán những ý nghĩa khác nhau cho cùng một từ ngữ. Vì Khả năng nhận thức của con người vốn được xem là giống nhau về căn bản ở mỗi người — bằng không, việc cùng nhau lý luận hay tranh luận sẽ chẳng có ý nghĩa gì cả. Không thể nào, nếu mọi người gán cùng một ý nghĩa cho những từ ngữ của mình, mà họ lại có thể duy trì những quan điểm trái ngược về cùng một vấn đề trong suốt thời gian dài như vậy — nhất là khi họ đã trình bày lập trường của mình và mỗi bên đều ra sức tìm kiếm những luận cứ có thể giúp họ thắng thế trước đối phương.

Đành rằng, nếu người ta cố tranh luận về những vấn đề hoàn toàn vượt ngoài tầm với của Khả năng nhận thức con người — chẳng hạn như những câu hỏi về nguồn gốc của những thế giới, hay về cơ cấu vận hành của hệ thống nhận thức hoặc cõi của những thực thể siêu hình — thì có lẽ họ sẽ mãi loay hoay trong những tranh luận vô kết quả.mà không bao giờ đi đến kết luận chắc chắn nào. Nhưng nếu vấn đề thuộc về những chủ đề của cuộc sống thường nhật và kinh nghiệm tổng quát, thì chúng ta khó có thể nghĩ ra điều gì khiến tranh chấp cứ mãi kéo dài — trừ phi có một sự mơ hồ nào đó trong ngôn từ, khiến những bên cứ giữ khoảng cách với nhau mà không thực sự đối mặt trực tiếp với vấn đề.

 

E 8.2, SBN 81

Điều này đã luôn là trường hợp trong vấn đề gây tranh luận lâu nay liên quan đến tự do và tất yếu; và ở một mức độ đáng chú ý đến mức, nếu tôi không nhầm lẫn nhiều, chúng ta sẽ thấy rằng toàn thể loài người, cả giới học giả lẫn người bình dân, luôn có cùng một ý kiến đối với đối tượng này, và rằng chỉ cần một vài định nghĩa dễ hiểu là đã ngay lập tức có thể chấm dứt toàn bộ tranh luận.

Tôi nhìn nhận rằng tranh chấp này đã được xem xét tỉ mỉ về mọi mặt, và đã dẫn dắt những triết gia vào một mê cung của những ngụy biện mơ hồ đến nỗi không có gì ngạc nhiên nếu một độc giả sáng suốt lại thỏa mãn thói lười suy nghĩ của mình đến mức giả điếc trước đề xuất về một câu hỏi như vậy — một câu hỏi mà từ đó người này không thể mong đợi sự chỉ dẫn hay giải trí nào. Nhưng tình trạng của lập luận được đề xuất ở đây có lẽ sẽ giúp khơi gợi lại sự chú ý của người này; vì nó có tính mới mẻ hơn, hứa hẹn ít nhất một sự quyết định cho tranh luận, và sẽ không làm xáo trộn sự an ổn của người này bởi bất kỳ lý luận phức tạp hay mơ hồ nào. [1]

 

E 8.3, SBN 81

Do đó, tôi hy vọng sẽ làm cho thấy rõ rằng, tất cả mọi người luôn luôn đồng ý với học thuyết về cả tất yếu lẫn tự do, theo bất kỳ nghĩa hợp lý nào có thể gán cho những từ ngữ này; và rằng toàn bộ tranh luận từ trước đến nay chỉ thuần túy xoay quanh những từ ngữ. Chúng ta sẽ bắt đầu bằng việc xem xét học thuyết về tất yếu.

 

E 8.4, SBN 82

Đã được nhìn nhận phổ quát rằng vật chất, trong mọi hoạt động của nó, đều được thúc đẩy bởi một tính tất yếu và tất cả các tác dụng tự nhiên đều được xác định chính xác bởi năng lực của nguyên nhân, đến nỗi trong những hoàn cảnh cụ thể như vậy, không một tác dụng nào khác có thể nảy sinh từ nó.

Mức độ và hướng của tất cả những chuyển động, theo những định luật của tự nhiên, được quy định chính xác đến mức: việc một sinh vật sống nảy sinh từ cú va chạm của hai vật thể cũng là điều khả dĩ tương đương với việc một chuyển động diễn ra theo bất kỳ mức độ hay hướng nào khác ngoài những gì thực sự đã được tạo ra. [2]

Do đó, nếu chúng ta muốn hình thành một ý niệm xác đáng và chính xác về tính tất yếu, chúng ta phải xem xét nguồn gốc phát sinh của ý niệm đó khi chúng ta áp dụng nó vào hoạt động của những vật thể.

 

E 8.5, SBN 82

Có vẻ hiển nhiên, rằng nếu tất cả những cảnh tượng của tự nhiên liên tục thay đổi theo một cách thức như thế, rằng không có hai sự kiện nào mang bất kỳ sự tương đồng nào với nhau, nhưng mỗi đối tượng đều hoàn toàn mới, không có bất kỳ sự giống nhau nào đối với bất cứ điều gì [chúng ta] đã thấy trước đó, chúng ta sẽ không bao giờ, trong trường hợp đó, đạt được ý niệm nhỏ nhất về sự tất yếu, hoặc về một sự kết nối giữa những đối tượng này.

Dưới một giả định như vậy, chúng ta chỉ có thể nói rằng đối tượng hoặc sự kiện này đã nối tiếp sau đối tượng hoặc sự kiện kia, nhưng không phải một này được tạo ra bởi một kia. Mối quan hệ nhân quả hẳn sẽ hoàn toàn xa lạ đối với loài người. Việc suy luận và lập luận về những vận hành của tự nhiên, từ thời điểm đó, sẽ chấm dứt; và trí nhớ cùng những giác quan sẽ vẫn là những kênh dẫn duy nhất mà qua đó kiến thức về bất kỳ sự hiện hữu thực tại nào có thể có lối tiếp cận vào não thức.

Do đó, ý niệm của chúng ta về tính tất yếu và nhân quả nảy sinh hoàn toàn từ sự đồng nhất (uniformity) có thể quan sát được trong những vận hành của tự nhiên; nơi mà những đối tượng tương tự luôn được kết hợp cùng nhau, và thói quen thúc đẩy não thức để suy luận ra đối tượng này từ sự xuất hiện của đối tượng kia. Hai hoàn cảnh này — sự kết hợp thường xuyên của những đối tượng tương tự và sự suy luận của não thức từ đối tượng này sang đối tượng kia — tạo nên toàn bộ tính tất yếu vốn chúng ta gán cho vật chất. Ngoài chúng ra, chúng ta không có bất kỳ ý niệm nào khác về tính tất yếu hay sự liên kết cả.

 

E 8.6, SBN 83

Do đó, nếu tất cả loài người đã luôn nhìn nhận, với không bất kỳ nghi ngờ hay do dự, rằng hai trường hợp này diễn ra trong những hành động tự nguyện của con người, và trong những hoạt động của não thức; thì sự việc đó phải dẫn đến hệ quả rằng tất cả loài người đã luôn đồng ý trong học thuyết tất yếu, [3] và rằng cho đến nay họ tranh luận chỉ vì việc không hiểu lẫn nhau.

 

E 8.7, SBN 83-4

Về trường hợp thứ nhất, sự kết hợp liên tục và đều đặn của những sự kiện tương tự; chúng ta có thể tự thỏa mãn bằng những cân nhắc sau đây. Ai cũng công nhận rằng có một sự đồng nhất lớn giữa những hành động của con người, trong tất cả những quốc gia và tất cả thời đại, và rằng bản chất con người vẫn giữ không thay đổi như cũ, trong những nguyên lý và hoạt động của nó.

Cùng những động cơ luôn sản sinh ra cùng những hành động: Cùng những sự kiện nảy sinh từ cùng những nguyên nhân.  Tham vọng, lòng tham, lòng vị kỷ, sự phù phiếm, tình bạn, sự hào phóng, tinh thần cộng đồng; những tình cảm  này, được pha trộn ở những mức độ khác nhau và được phân bổ khắp xã hội, từ thuở khai thiên lập địa, đã và vẫn luôn là nguồn cơn tất cả những hành động và những công cuộc từng được quan sát thấy trong loài người.

Chúng ta có biết những cảm xúc, những khuynh hướng và lối sống của người Hy Lạp và La Mã không? Hãy nghiên cứu kỹ tính khí và hành động của người Pháp và người Anh: chúng ta không thể nhầm lẫn nhiều khi chuyển sang nhóm trước (Hy Lạp/La Mã) hầu hết những quan sát vốn chúng ta đã đưa ra về nhóm sau (Pháp/Anh).. Loài người rất giống nhau, ở tất cả những thời đại và địa điểm, nên lịch sử không cho chúng ta biết gì mới hay kỳ lạ trong trường hợp cụ thể này. Công dụng chính của lịch sử là chỉ để khám phá ra những nguyên lý không đổi và phổ quát của bản chất con người, bằng cách cho thấy con người trong tất cả sự đa dạng của những sự việc liên quan và tình trạng, và cung cấp cho chúng ta những dữ liệu, từ đó chúng ta có thể hình thành những quan sát của chúng ta , và trở nên quen thuộc với những suối nguồn không đổi của hành động và hành vi ững xử con người.

Những ghi chép này về chiến tranh, mưu đồ, bè phái, và cách mạng, là bấy nhiêu những sưu tập của những thí nghiệm, qua đó nhà chính trị hay nhà triết học đạo đức xác định những nguyên lý cho khoa học của họ; theo cùng một cách thức như nhà y học hay nhà triết học tự nhiên trở nên thấu triệt với bản chất của thực vật, khoáng vật, và những đối tượng bên ngoài khác, bằng những thí nghiệm vốn người này thực hiện liên quan đến chúng. Cả đất, nước, và những nguyên tố khác được Aristotle và Hippocrates xem xét; chúng cũng chẳng giống, với những gì chúng ta đang quan sát hiện nay,  gì hơn là mức độ giống nhau giữa những con người vốn Polybius và Tacitus mô tả đối với những ai là người cai trị thế giới này. [4]

 

E 8.8, SBN 84

Nếu một người đi du lịch, trở về từ một đất nước xa xôi, kể cho chúng ta một câu chuyện về những con người hoàn toàn khác biệt với bất kỳ ai chúng ta từng biết; những con người hoàn toàn trút bỏ hết tham lam vật chất, tham vọng quyền lực, hay sự thù hận; những người không biết đến thú vui nào ngoài tình bằng hữu, sự hào phóng và tinh thần phục vụ cộng đồng; chúng ta sẽ lập tức nhận ra sự giả dối, từ những hoàn cảnh này, tìm ra sự dối trá và chứng minh người này là kẻ nói dối, với cùng sự chắc chắn như thể người này đã nhồi nhét vào câu chuyện của mình những câu chuyện về nhân mã và rồng thiêng, những phép màu và những hiện tượng kỳ dị.

Và nếu chúng ta muốn bác bỏ bất kỳ sự ngụy tạo nào trong lịch sử, chúng ta không thể dùng một lập luận nào thuyết phục hơn là chứng minh rằng: những hành động mà người ta gán cho bất kỳ nhân vật nào, đều trái ngược trực tiếp với tiến trình của tự nhiên, và rằng không có động cơ người nào, trong những sự việc liên quan như thế, có thể từng thúc đẩy người này đến một cách hành xử như vậy.

Tính xác thực của Quintus Curtius đáng ngờ không kém khi ông mô tả lòng dũng cảm phi thường của Alexander, nhờ đó vị vua này được thúc giục một mình tấn công đám đông, cũng như khi ông mô tả sức mạnh và hoạt động siêu nhiên của Alexander, đã giúp vị vua này có thể chống lại họ. Chúng ta nhìn nhận một sự đồng nhất trong những  động cơ và hành động của con người một cách sẵn lòng và phổ quát cũng như trong những hoạt động của cơ thể vậy.[5]

 

Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ hai

(Mar/2026

(Còn tiếp... →)

 

http://chuyendaudau.blogspot.com/

http://chuyendaudau.wordpress.com

 



[1] Tự do và Tất yếu: Từ Mê cung Ngôn từ đến Bản chất Con người

Trong lịch sử tư tưởng Tây phương, hiếm có tranh luận nào dai dẳng và gây chia rẽ như tương quan giữa sự tự do của con người và tính tất yếu của tự nhiên. Trước khi David Hume đặt bút viết chương này, thế giới trí thức bị chia làm hai phe đối lập gay gắt. Một bên là những nhà cơ giới luận, tiêu biểu như Thomas Hobbes, coi vũ trụ như một bộ máy khổng lồ mà con người chỉ là một bánh răng cưa nhỏ; mọi hành động của chúng ta đều bị định đoạt bởi những tiền đề vật lý không thể đảo ngược. Bên kia là những nhà gót học và triết gia duy ý như Descartes, những người nỗ lực bảo vệ “ý chí tự do” như một đặc ân thiêng liêng, tách biệt con người khỏi những quy luật xơ cứng của vật chất để bảo tồn trách nhiệm đạo đức.

Hume bước vào tranh luận này không phải với tư cách một người phân xử xem ai đúng ai sai, mà như một nhà giải phẫu ngôn ngữ. Ông nhận ra rằng mê cung mà những triết gia đang lạc lối thực chất được xây dựng từ những định nghĩa mơ hồ. Để phá bỏ mê cung đó, Hume dùng chính lập trường hoài nghi về nhân quả mà ông đã thiết lập ở những chương trước: một cái nhìn điềm tĩnh vào những gì chúng ta thực sự kinh nghiệm thay vì những gì chúng ta tưởng tượng ra.

Nền tảng từ sự hoài nghi về Nhân quả: Để hiểu lập luận của Hume về con người, trước hết chúng ta phải nhớ lại cách ông nhìn nhận thế giới vật lý. Trong những hoạt động của vật chất—như khi một hòn bi sắt va chạm vào một hòn bi khác—chúng ta tin rằng có một “lực tất yếu” buộc hòn bi thứ hai phải chuyển động. Tuy nhiên, Hume chỉ ra rằng giác quan của chúng ta chưa bao giờ nhìn thấy cái “lực” hay “sự kết nối” thần bí đó. Tất cả những gì chúng ta thực sự thấy chỉ là hai biến cố đi đôi với nhau một cách liên tục: hòn bi A chạm, và rồi hòn bi B lăn.

Chính việc lập đi lập lại sự đi đôi này đã hình thành nên một Thói quen (Custom) trong não thức con người. Khi thấy nguyên nhân, chúng ta tự động suy luận ra kết quả. Như vậy, “Tính tất yếu” mà chúng ta gán cho tự nhiên thực chất không nằm ở bản thân vật chất, mà là một cảm giác của não thức, một sự chuyển dịch tư duy dựa trên kinh nghiệm quá khứ.

Sự đồng nhất trong bản chất con người: Khi áp dụng lăng kính này vào xã hội, Hume đưa ra một quan sát mang tính cách mạng: Hành vi của con người cũng mang tính quy luật y như sự vận hành của vật chất. Thông qua việc nghiên cứu lịch sử của những sử gia như Polybius hay Tacitus, ông chỉ ra rằng bản chất con người là một hằng số bất biến xuyên thời gian và không gian. Tham vọng của một chính khách La Mã cổ đại cũng vận hành theo cùng một cơ chế như tham vọng của một chính khách Anh thế kỷ 18.

Nếu chúng ta nhìn nhận rằng đất, nước và lửa thời Aristotle vẫn giống hệt đất, nước và lửa ngày nay, thì tại sao chúng ta lại hoài nghi rằng lòng ích kỷ hay tình thân hữu của con người đã thay đổi? Sự đi đôi giữa động cơ và hành động là một dữ kiện thực tế mà ai cũng nhìn nhận trong cuộc sống hàng ngày. Chúng ta tin tưởng vào người đưa thư sẽ mang thư đến, cũng như chúng ta tin rằng lửa sẽ làm bỏng tay. Nếu hành vi con người là ngẫu nhiên và không có tính tất yếu, mọi dự báo xã hội, mọi luật lệ và mọi mối quan hệ giữa người với người sẽ hoàn toàn sụp đổ.

Tái định nghĩa Tự do

Nút thắt lớn nhất mà Hume tháo gỡ chính là sự mâu thuẫn giả tạo giữa Tự do và Tất yếu. Ông cho rằng chúng ta hoàn toàn có thể sở hữu cả hai.

Theo Hume, Tất yếu chỉ đơn giản là sự ổn định của mối quan hệ giữa động cơ và hành vi. Còn Tự do, hiểu theo nghĩa thực tế và hợp lý nhất, không phải là sự ngẫu nhiên vô căn cứ, mà là “khả năng hành động theo ý muốn của chính mình”. Một người được coi là tự do khi họ không bị xích xiềng hay cưỡng bức vật lý để phải làm điều trái với ý chí.

Sự tự do này không hề xung đột với tính tất yếu. Việc tôi tự nguyện chọn đi dạo là một hành động tự do vì tôi không bị ép buộc, nhưng hành động đó vẫn là tất yếu vì nó bắt nguồn từ một động cơ cụ thể trong não thức tôi (như mong muốn hít thở không khí trong lành). Nếu hành động của tôi không có nguyên nhân, nó sẽ là sự điên rồ chứ không phải sự tự do.

Bằng hạ thấp tính “thần bí” của Tất yếu và đưa Tự do trở về với ý nghĩa hành động thực tế, Hume đã giải phóng độc giả khỏi những tranh luận siêu hình mệt mỏi. Ông khẳng định rằng toàn thể nhân loại thực chất đều đồng ý về vấn đề này, chỉ là họ bị kẹt vào những từ ngữ hoa mỹ mà quên mất những Dữ kiện (Fact) hiển nhiên trước mắt.

Lập luận của Hume không chỉ là một bài tập triết học; nó là một lời kêu gọi chúng ta nhìn vào thực tại bằng sự quan sát tỉnh táo. Ông hứa hẹn rằng cách tiếp cận này sẽ không làm xáo trộn “sự an ổn” của độc giả bằng những lý luận phức tạp, mà ngược lại, nó mang đến một sự minh triết giản đơn: Con người là một phần hữu cơ của tự nhiên, và chính sự tất yếu trong bản chất là thứ cho phép chúng ta hiểu được chính mình và thấu hiểu lẫn nhau.

[2] Khởi nguồn từ thời trước-Socrates, Democritus đã phác thảo một vũ trụ của chủ nghĩa tất định nghiêm ngặt, nơi những hạt nguyên tử rơi thẳng tắp trong chân không theo một trật tự toán học bất biến. Trong thế giới cơ học thuần túy đó, mọi chuyển động đều được định đoạt từ vĩnh cửu, không có chỗ cho sự tự do hay những biến số bất ngờ. Tuy nhiên, khi Epicurus tiếp nhận thuyết nguyên tử này, ông nhận thấy rằng nếu vũ trụ chỉ vận hành như một bộ máy vô tri, con người sẽ chẳng khác nào những quân cờ của định mệnh. Để cứu vãn đạo đức học và khẳng định tự do cá nhân, Epicurus đã đưa vào khái niệm “Cú lệch hướng” (Clinamen). Ông giả định rằng đôi khi những nguyên tử sẽ tự ý chệch khỏi quỹ đạo thẳng đứng một cách ngẫu nhiên mà không cần nguyên nhân tác động. Chính sự “lệch hướng” này đã tạo điều kiện cho những nguyên tử va chạm chéo, kết tụ thành những cấu trúc phức tạp như cơ thể và linh hồn sinh vật sống. Với Epicurus, nếu không có sự ngẫu nhiên ấy, thế giới sẽ mãi chỉ là những dòng chảy song song, trống rỗng và bất động.

Ở trên, Hume nhắc lại hình ảnh này không phải để ủng hộ mà là để xác lập tính tất yếu nhân danh vật lý học Newton. Đứng trên lập trường của một nhà khoa học thực nghiệm, Hume coi sự ngẫu nhiên (chance) thực chất chỉ là một cách gọi khác cho sự thiếu hiểu biết của chúng ta về những nguyên nhân ẩn giấu. Ông dùng ẩn dụ về sinh vật nảy sinh từ cú va chạm như một phép so sánh tương đương: Nếu một người coi việc sự sống tự phát nảy sinh từ sự ngẫu nhiên là điều phi lý, thì họ cũng phải thừa nhận rằng việc một vật thể bay lệch khỏi quỹ đạo đã được định luật tự nhiên ấn định là điều bất khả thi tương tự. Bằng cách loại bỏ khả năng “lệch hướng” trong thế giới vật chất, Hume xác lập tính sắt đá của luật nhân quả. Đây là bước đệm quan trọng để ông lập luận rằng não thức và hành vi con người cũng vận hành theo những quy luật không thể lay chuyển. Với Hume, vũ trụ không có những cú lệch hướng tự thân; mọi chuyển động đều diễn ra chính xác theo mức độ và hướng mà những điều kiện tiền đề đã quy định.

[3] Trong Hume, Học thuyết Tất yếu (Doctrine of Necessity) là cách giải thích về tính quy luật trong hành vi của con người, đặt nó trên cùng một nền tảng với những quy luật vật lý. Thay vì coi “tất yếu” là một thế lực huyền bí hay sự áp đặt định mệnh, Hume định nghĩa nó qua hai dữ kiện quan sát được: sự kết hợp thường xuyên của những sự kiện và thói quen suy luận của não thức.

Theo đó, mọi hành động tự nguyện của con người đều bắt nguồn từ những động cơ và đặc điểm tính cách nhất định. Hume lập luận rằng nếu con người không hành động theo những quy luật ổn định này, đời sống xã hội sẽ trở nên bất khả tri và hỗn loạn. Chúng ta có thể dự đoán hành vi của người khác trong cuộc sống hàng ngày chính là nhờ tin vào tính “tất yếu” đó; ví dụ, chúng ta tin rằng một người thợ làm việc vì lợi nhuận hoặc một người bạn trung thành vì tình cảm. Nếu không có sự liên kết ổn định giữa động cơ (nguyên nhân) và hành động (kết quả), lịch sử và những ngành khoa học về con người sẽ không thể tồn tại.

Học thuyết này cũng giải quyết mâu thuẫn giữa “tự do” và “tất yếu”. Đối với Hume, tự do không có nghĩa là hành động ngẫu nhiên không nguyên nhân, mà là khả năng hành động theo ý muốn mà không bị cản trở bởi những thế lực bên ngoài (như xiềng xích hay sự cưỡng ép). Tính tất yếu chỉ cung cấp quy luật giải thích tại sao ý muốn đó hình thành trong não thức. Vì vậy, con người vẫn là một thực thể tự do khi hành động theo ý mình, đồng thời cũng là một phần của tự nhiên khi tuân theo những quy luật vận hành của não thức. Hume kết luận rằng, toàn thể loài người thực tế đã luôn vận hành dựa trên niềm tin vào tính tất yếu này, và những tranh cãi gay gắt về nó phần lớn xuất phát từ việc hiểu sai hoặc dùng khác thuật ngữ mà thôi.

[4] Tính nhất quán giữa Thế giới Tự nhiên và Bản chất Con người: Hume khéo léo đặt song song hai nhóm nhân vật đại diện cho hai lĩnh vực khác nhau để củng cố lập luận về tính bất biến của thực tại. Nhóm thứ nhất gồm Aristotle và Hippocrates, những người đã nghiên cứu về vật chất và y học từ hơn hai thiên niên kỷ trước. Qua đó, Hume khẳng định một Dữ kiện (Fact) hiển nhiên: đất, nước và những yếu tố tự nhiên mà họ quan sát thời cổ đại hoàn toàn đồng nhất với thế giới vật lý qungười này ngày nay. Quy luật của tự nhiên là một hằng số, không bao giờ thay đổi theo thời gian.

Từ nền tảng đó, ông dẫn dắt người đọc sang nhóm thứ hai gồm hai sử gia đại diện cho tư duy chính trị: Polybius và Tacitus. Hume lập luận rằng, những con người đầy tham vọng, ích kỷ hay đam mê quyền lực trong những ghi chép của họ cũng hoàn toàn tương đồng với những kẻ đang cai trị thế giới hiện tại. Bằng cách viện dẫn này, ông muốn thiết lập một sự tương quan tuyệt đối: nếu chúng ta tin rằng vật chất có tính nhất quán, thì chúng ta cũng phải thừa nhận rằng bản chất con người có tính nhất quán.

Ý nghĩa cốt lõi của phép so sánh này là để chứng minh rằng: khoa học về con người cũng có những Dữ kiện chắc chắn và có thể dự đoán được như khoa học tự nhiên. Hume coi những ghi chép lịch sử của Polybius hay Tacitus không chỉ là chuyện quá khứ, mà là những “bộ sưu tập thí nghiệm” thực chứng. Chúng cung cấp chất liệu quý giá giúp Khả năng nhận thức (Understanding) của chúng ta xác lập nên những nguyên tắc phổ quát về hành vi con người, từ đó chấm dứt những tranh luận viển vông và đi thẳng vào bản chất thực sự của vấn đề.

[5]  Quintus Curtius: Một sử gia chuyên viết về Alexander Đại đế. Hume đưa ông vào đây như một tấm gương xấu về việc thiếu tinh thần thực chứng. Đối với Hume, nếu một sử gia mô tả một người có hành động nằm ngoài hệ thống Động cơ (Motives) thông thường của nhân loại, thì đó không còn là lịch sử mà là sự ngụy tạo. Alexander (Đại đế): Hình tượng Alexander trong văn chương cổ đại thường bị “thần thánh hóa”. Hume kéo Alexander xuống mặt đất, khẳng định rằng dù vĩ đại đến đâu, vị vua này vẫn phải chịu sự chi phối của những quy luật tự nhiên về thể xác và tâm lý.