Tuesday, May 12, 2026

Hume – Một Điều Tra Về Những Khả Năng Nhận Thức Của Con Người (16)

Một Điều Tra Về Những Khả Năng Nhận Thức Của Con Người

(An Enquiry concerning Human Understanding)

David Hume

 

( ← ... tiếp theo )

 

 




 

Tiết XII.

Về Triết Học Của Trường Phái Học Viện (Academy), Hay Triết Học Hoài Nghi

(Of The Academical Or Sceptical Philosophy.)

 

PHẦN I

 

E 12.1, SBN 149

Không có chủ đề nào từng chứng kiến nhiều lập luận triết học được triển khai hơn là chủ đề chứng minh sự hiện hữu của một Gót và bác bỏ những ngụy biện của những người không tin có Gót; và tuy vậy, ngay cả những triết gia sùng đạo nhất vẫn còn tranh luận, liệu có thể có những con người bị “che mờ” đến mức trở thành những người không tin có Gót về mặt lý thuyết hay không.[1]

Chúng ta phải hòa giải những mâu thuẫn này như thế nào? [2]

Những hiệp sĩ giang hồ, từng lang thang khắp nơi để dẹp bỏ rồng thiêng và người khổng lồ, chưa bao giờ nghi ngờ dù chỉ một chút về sự hiện hữu của những quái vật ấy.[3]

 

E 12.2, SBN 149

Người Hoài Nghi là một đối thủ khác của tôn giáo, vốn tự nhiên khơi dậy sự phẫn nộ của tất cả những nhà gót học và những triết gia chính thống, nghiêm cẩn; mặc dù chắc chắn rằng chưa từng có ai gặp một sinh vật phi lý như thế, hay trò chuyện với một con người không có bất kỳ quan điểm hay nguyên lý nào về bất cứ vấn đề gì, dù trong đời sống thực hành hay trong suy tưởng triết học.

Điều này làm nảy sinh một câu hỏi rất tự nhiên: phải hiểu “người hoài nghi” là gì?

Và những nguyên lý triết học của hoài nghi và bất định này có thể được theo đuổi tới mức nào, và đi xa đến đâu? [4]

 

E 12.3, SBN 149–150

Có một loại thuyết hoài nghi,  có trước tất cả những nghiên cứu và triết học, vốn được Descartes và những người khác truyền bá rộng rãi như một phương thuốc tối thượng chống lại sai lầm và phán đoán vội vàng. Nó khuyến khích một sự nghi ngờ phổ quát, không chỉ đối với tất cả những quan điểm và những nguyên lý trước đây của chúng ta, nhưng cũng còn với chính những năng lực nhận thức của chúng ta, về tính chân thực của chúng, theo họ nói, chúng ta phải tự bảo đảm bằng một chuỗi lập luận, được suy ra từ một nguyên lý ban đầu nào đó, vốn không thể nào sai lầm hay lừa dối. [5]

Nhưng cũng không có nguyên lý ban đầu nào như vậy, vốn có đặc quyền vượt trội hơn những nguyên lý khác, vốn tự hiển nhiên và thuyết phục; hoặc nếu có đi nữa, thì chúng ta có thể tiến thêm một bước vượt ra ngoài nó hay không,

 

E 12.4, SBN 150

Tuy nhiên, phải nhìn nhận rằng loại hoài nghi này, khi được giữ ở mức độ vừa phải hơn, có thể được hiểu theo một nghĩa rất hợp lý, và là một sự chuẩn bị cần thiết cho việc nghiên cứu triết học, vì nó giúp duy trì tính khách quan thích đáng trong những phán đoán của chúng ta, và tách não thức chúng ta ra khỏi mọi thành kiến vốn chúng ta có thể đã hấp thụ từ giáo dục hay từ những ý kiến vội vàng.

Bắt đầu từ những nguyên lý rõ ràng và tự hiển nhiên, tiến bước bằng những bước đi thận trọng và chắc chắn, thường xuyên xem xét lại những kết luận của mình và kiểm tra kỹ lưỡng mọi hệ quả của chúng; dù bằng những phương pháp ấy chúng ta chỉ đạt được một tiến trình chậm chạp và giới hạn trong hệ thống của mình, thì đó vẫn là phương pháp duy nhất mà qua đó chúng ta có thể hy vọng đạt tới sự thực, và đạt được sự ổn định cùng tính xác thực đúng đắn trong những phán quyết của chúng ta.

 

E 12.5, SBN 150–151

Có một loại hoài nghi khác, xuất hiện sau khoa học và khảo cứu, khi người ta được cho là đã phát hiện hoặc tính chất hoàn toàn sai lầm của các năng lực tinh thần của mình, hoặc sự không thích hợp của chúng trong việc đạt tới bất kỳ kết luận xác định nào về tất cả các vấn đề suy tưởng tinh vi vốn họ thường dùng vào nghiên cứu.Ngay cả chính những giác quan của chúng ta cũng bị đưa vào tranh luận bởi một số triết gia nhất định; và những châm ngôn của đời sống thường nhật bị đặt dưới cùng một mức độ nghi ngờ như những nguyên lý hay kết luận sâu xa nhất của siêu hình học và gót học.

Vì những nguyên lý triết học mang tính nghịch lý này (nếu có thể gọi là nguyên lý triết học) được tìm thấy ở một số triết gia, và cũng bị một số người khác bác bỏ, nên chúng tự nhiên khơi dậy sự hiếu kỳ muốn biết của chúng ta, và khiến chúng ta điều tra những luận chứng vốn chúng đã có thể dựa trên đó.

 

  

 

Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ hai

(Mar/2026

(Còn tiếp... →)

 

http://chuyendaudau.blogspot.com/

http://chuyendaudau.wordpress.com

 



[1] a speculative atheist = một người bằng suy luận triết học mà phủ nhận sự hiện hữu của Gót

[2] Triết học Học viện (Academical Philosophy) và truyền thống hoài nghi: Sau Plato, Trường phái Học viện phát triển thành ba giai đoạn chính với khuynh hướng ngày càng nghiêng về hoài nghi:

(1) Early Academy:: Gần với Plato, vẫn duy trì khuynh hướng liên quan đến học thuyết “Thể Dạng/Forms” của Plato (tức những “thể dạng lý tưởng”), nhưng dần xuất hiện vấn đề về tính khả tri của tri thức siêu hình.

(2) Middle Academy (Arcesilaus): Chuyển sang hoài nghi hệ thống, phủ nhận khả năng đạt được tri thức chắc chắn và đề xuất thái độ “tạm ngưng việc đưa ra kết luận đúng/sai” (epoché), tức không khẳng định cũng không phủ định những mệnh đề siêu hình.

(3) New Academy (Carneades): Hoài nghi được phát triển tinh vi hơn: không phủ nhận khả năng nhận thức, nhưng thay thế việc “khẳng định một điều là chân lý” bằng mức độ “xác suất hợp lý”, tức dựa trên mức độ thuyết phục để định hướng suy luận và hành động.

Trong An Enquiry, “Academical or Sceptical Philosophy” của Hume chỉ truyền thống hoài nghi nội tại này—đặc biệt từ Middle và New Academy—nhấn mạnh giới hạn của lý trí con người nhưng vẫn cho phép suy luận theo mức độ khả tín, khác với Pyrrhonism.

Pyrrhonism (Pyrrho of Elis) là dạng hoài nghi triệt để hơn: không khẳng định cũng không phủ định bất kỳ chân lý nào, mà “tạm ngưng việc đưa ra kết luận đúng/sai” với mọi vấn đề vượt quá kinh nghiệm trực tiếp. Con người chỉ sống theo những gì hiện ra trong kinh nghiệm và thói quen, không gắn vào đó tin tưởng về chân lý tuyệt đối. Mục tiêu của lập trường này không phải xây dựng tri thức, mà đạt tới trạng thái bình thản tinh thần (ataraxia).

Trong Tiết XII – Về Triết học Học viện hay Hoài nghi, Hume phân biệt rõ hai truyền thống hoài nghi cổ đại và xác lập vị trí riêng của ông và chúng.

Trước hết, ông không theo Pyrrhonism (hoài nghi triệt để của Pyrrho of Elis). Trường phái này chủ trương đình chỉ phán đoán hoàn toàn với mọi khẳng định vượt quá cảm giác trực tiếp, với mục tiêu đạt trạng thái an tĩnh tinh thần. Hume bác bỏ lập trường này vì nó không thể duy trì trong đời sống thực: con người buộc phải tin, suy luận và hành động; nếu đình chỉ phán đoán tuyệt đối thì đời sống nhận thức và thực hành sẽ bị tê liệt.

Thay vào đó, Hume gần với truyền thống Học viện hậu kỳ (New Academy – Carneades), vốn cho rằng con người không thể đạt tri thức chắc chắn tuyệt đối, nhưng vẫn có thể dựa vào mức độ xác suất và tính khả tín trong kinh nghiệm để suy luận và định hướng hành động. Đây là nền tảng gần nhất với quan điểm của Hume: không có chân lý tuyệt đối, nhưng có tin tưởng hợp lý dựa trên kinh nghiệm.

Từ đó, Hume xây dựng lập trường riêng gọi là “hoài nghi giảm nhẹ” (mitigated skepticism). Đây là một dạng hoài nghi có kiểm soát: ông từ chối cả hai cực đoan—một bên là hoài nghi triệt để phủ nhận mọi phán đoán, một bên là duy lý giáo điều tin vào tri thức tiên nghiệm chắc chắn. Thay vào đó, Hume giới hạn tri thức vào phạm vi kinh nghiệm và quan hệ nhân quả, đồng thời thừa nhận vai trò của thói quen, xác suất và suy luận thực hành trong đời sống.

Kết luận, “hoài nghi giảm nhẹ” của Hume là một vị trí trung gian: phủ nhận khả năng đạt chân lý tuyệt đối, nhưng vẫn bảo vệ tính hợp lý của tin tưởng thực hành dựa trên kinh nghiệm—tức một nền nhận thức vừa phê phán vừa thực dụng.Top of FormBottom of Form

[3] Hình ảnh “những hiệp sĩ phiêu bạt (knights-errant) lang thang khắp nơi để tiêu diệt rồng và người khổng lồ” là một ẩn dụ lấy từ văn học hiệp sĩ Trung Cổ châu Âu. Đây không phải nhân vật lịch sử thực, mà là kiểu hình tượng trong những truyện chivalric romance, nơi những hiệp sĩ đơn độc đi phiêu lưu, chiến đấu với quái vật tưởng tượng và thực hiện những hành vi “hành hiệp trượng nghĩa”.

Trong đoạn văn của Hume, hình ảnh này được dùng để minh họa một điểm nhận thức luận: giống như những hiệp sĩ trong truyện không hề nghi ngờ sự hiện hữu của con rồng hay người khổng lồ, thì trong đời sống tinh thần, con người cũng thường có những tin tưởng “tự nhiên” và khó bị đặt vấn đề. Vì vậy, ý tưởng về một “người không tin có Gót thuần lý” (speculative atheist) bị Hume nghi ngờ, vì nó giả định một mức độ phủ nhận hoàn toàn tin tưởng tự nhiên mà con người khó có thể duy trì trong thực hành.

[4] “người hoài nghi” (the sceptic) như một đối tượng thường bị những nhà gót học và triết gia nghiêm túc phản đối, vì họ xem hoài nghi là mối đe dọa với tôn giáo và tri thức. Tuy nhiên, Hume nhấn mạnh rằng không ai từng thực sự gặp một con người hoàn toàn không có tin tưởng hay nguyên lý nào, dù trong hành động hay suy tưởng.

Từ đó, ông đặt ra một câu hỏi mang tính phương pháp học: “người hoài nghi” thực sự là gì? Và những nguyên lý của hoài nghi và bất định có thể được đẩy đến mức độ nào trong triết học.

Điểm quan trọng ở đây là Hume không mô tả hoài nghi như một trạng thái tâm lý cực đoan (phủ nhận mọi tin tưởng), mà như một vấn đề triết học về giới hạn của sự nghi ngờ hợp lý: hoài nghi luôn tồn tại trong triết học, nhưng không bao giờ có thể trở thành một lập trường sống hoàn toàn tách khỏi tin tưởng và thực hành.

[5] Hoài nghi của Descartes là một phương pháp nghi ngờ có hệ thống, trong đó con người tạm thời đặt mọi niềm tin—kể cả cảm giác và lý trí—vào trạng thái không chắc chắn, nhằm loại bỏ sai lầm và tìm ra một nền tảng tri thức tuyệt đối chắc chắn. Tuy nhiên, phương pháp này không nhằm phủ nhận tri thức, mà dùng chính sự nghi ngờ như một công cụ để đi đến một chân lý không thể nghi ngờ, tức một điểm tựa tuyệt đối chắc chắn cho tri thức, tiêu biểu là mệnh đề “Cogito, ergo sum”).

Hume cho rằng “hoài nghi kiểu Descartes” là một trạng thái không thể đạt được trong thực tế. Ngay cả nếu giả định rằng con người có thể đạt tới nó, thì nó cũng sẽ trở thành một dạng hoài nghi tuyệt đối và không thể khắc phục, trong đó không còn bất kỳ lập luận nào đủ sức dẫn đến sự chắc chắn về bất cứ điều gì. Nói cách khác, Descartes tự rơi vào mâu thuẫn: ông tìm kiếm một nền tảng chắc chắn tuyệt đối cho tri thức, nhưng lại không thể tiếp cận hay xác lập nền tảng đó nếu không đem dùng chính những năng lực nhận thức (lý trí, cảm giác, suy luận) vốn đã được đặt vào một trạng thái hoài nghi ngay từ đầu.

Bắt đầu từ những nguyên lý rõ ràng và tự hiển nhiên, tiến từng bước một cách thận trọng nhưng chắc chắn, thường xuyên xem lại những kết luận của chúng ta, và khảo sát chính xác mọi hệ quả của chúng; dù bằng những phương pháp này chúng ta sẽ tiến triển chậm và ít trong những hệ thống của mình; nhưng đó là những phương pháp duy nhất mà nhờ đó chúng ta có thể hy vọng đạt tới chân lý, và đạt được một sự vững chắc và xác tín thích đáng trong những phán đoán của chúng ta,.