Một Điều Tra
Về Những Khả Năng Nhận Thức Của Con Người
(An Enquiry
concerning Human Understanding)
David Hume
TIẾT IX.
Về Lý Trí Của Động Vật.
E 9. 1, SBN 104-5
TẤT CẢ những suy
luận của chúng ta về những sự kiện thực tế đều dựa trên một phương thức loại
suy; chính phương thức này dẫn dắt chúng ta kỳ vọng những hệ quả giống nhau từ
bất kỳ nguyên nhân nào mà chúng ta thấy tương tự với những nguyên nhân từng
quan sát trước đây.
Khi những nguyên nhân
hoàn toàn tương đồng, phép loại suy là hoàn hảo, và suy luận rút ra từ đó được
coi là chắc chắn và mang tính kết luận. Chẳng hạn, không ai mảy may nghi ngờ
khi nhìn thấy một thỏi sắt rằng nó sẽ có trọng lượng và sự gắn kết giữa những phân tử, giống
như mọi trường hợp khác mà họ từng quan sát. Nhưng khi những đối tượng không có
sự tương đồng chính xác như vậy, phương thức loại suy kém hoàn hảo hơn, và suy
luận kém thuyết phục hơn; dù nó vẫn có một sức nặng nhất định, tỷ lệ thuận với
mức độ tương đồng và giống nhau.
Những quan sát về
giải phẫu học, được được thực hiện trên một loài động vật,qua phương thức suy
luận này, được mở rộng đến tất cả những loài động vật; và chắc chắn rằng, khi
sự tuần hoàn máu được chứng minh rõ ràng là có ở một sinh vật, như ếch hoặc cá,
thì điều đó tạo thành một giả định mạnh mẽ rằng nguyên lý tương tự cũng tồn tại
ở tất cả những loài khác. Những quan sát loại suy này có thể được mở rộng hơn
nữa, thậm chí đến cả ngành khoa học mà chúng ta đang nghiên cứu; và bất kỳ lý
thuyết nào mà chúng ta dùng để giải thích hoạt động của khả năng nhận thức,
hoặc nguồn gốc và sự kết nối của những tình cảm ở con người, sẽ có thêm uy tín
nếu chúng ta thấy rằng cùng một lý thuyết đó là cần thiết để giải thích cùng
những hiện tượng trong tất cả những loài động vật khác. Chúng ta sẽ thực hiện
một thử nghiệm về điều này với giả thuyết mà trong những bàn luận trước đây,
chúng ta đã nỗ lực dùng để giải thích mọi suy luận thực nghiệm; và hy vọng rằng
góc nhìn mới này sẽ giúp xác nhận tất cả những quan sát trước đây của chúng ta.
E 9. 2, SBN 105
Thứ nhất, dường
như rõ ràng rằng động vật, cũng như con người, học được nhiều điều từ kinh
nghiệm, và suy ra và suy luận
rằng những hậu quả tương tự sẽ luôn nảy sinh từ những nguyên nhân tương tự. Nhờ nguyên lý này, chúng làm quen với những đặc tính dễ thấy hơn của
những đối tượng bên ngoài, và dần dần, ngay từ khi sinh ra, chúng đã tích lũy
được kiến thức về bản chất của lửa, nước, đất, đá, độ cao, độ sâu, v. v. và về
những tác động nảy sinh từ hoạt động của chúng. Sự thiếu hiểu biết” và thiếu
kinh nghiệm của những con còn non ở đây dễ dàng phân biệt với sự khôn ngoan và sắc
sảo của những con già, những con đã học được, qua quan sát lâu dài, cách tránh
những gì gây hại cho chúng và theo đuổi những gì mang lại sự dễ dàng hay thỏa mãn. Một con ngựa đã quen với đồng cỏ sẽ nhận
biết được độ cao mà nó có thể nhảy qua, và nó sẽ không bao giờ cố thực hiện
những gì vượt quá sức lực và khả năng của nó. Một con chó
săn già sẽ nhường lại phần mệt nhọc hơn của cuộc rượt đuổi cho những con trẻ
hơn, và chủ động chọn vị trí để đón đầu con thỏ tại những điểm ngoặt ngược;
những phán đoán mà con chó đưa ra trong trường hợp này không dựa trên bất cứ
điều gì khác ngoài sự quan sát và kinh nghiệm của chính nó.
E 9. 3, SBN 105
Điều này càng rõ ràng hơn qua tác động của kỷ
luật và giáo dục đối với động vật; bởi nhờ việc áp dụng đúng đắn phần thưởng và
hình phạt, chúng có thể được huấn luyện để thực hiện bất kỳ hành động nào, dù
trái ngược hoàn toàn với bản năng và thiên hướng tự nhiên của chúng. Chẳng phải
chính kinh nghiệm đã khiến một con chó biết sợ đau khi chúng ta đe dọa hay giơ
roi lên đánh nó sao? Chẳng phải chính kinh nghiệm đã khiến nó biết phản ứng khi
chúng ta gọi tên, và từ một âm thanh tùy nghi như vậy, nó suy ra rằng chúng ta
đang ám chỉ chính nó chứ không phải bất kỳ đồng loại nào khác, và hiểu rằng
chúng ta có ý định gọi nó khi chúng ta phát âm theo một cách thức nhất định,
với một giọng điệu và cách nhấn giọng nhất định sao?
E9. 4, SBN 105-6
Trong tất cả
những trường hợp này, chúng ta có thể quan sát thấy rằng con vật suy luận về
một vài sự kiện vượt quá những gì đang trực tiếp tác động lên giác quan của nó;
và rằng suy luận này hoàn toàn dựa trên kinh nghiệm trong quá khứ, trong khi
sinh vật mong đợi từ đối tượng hiện tại những hệ quả tương tự với những gì nó
đã luôn thấy nảy sinh từ những đối tượng tương đồng trong những quan sát trước
đây.
E 9. 5, SBN 106-7
Thứ hai, không thể
nào suy luận này của loài vật có thể được thiết lập trên bất kỳ tiến trình lập luận
hay lý luận nào, vốn qua đó chúng kết luận rằng những sự kiện tương tự phải theo sau những đối tượng
tương đồng, và rằng tiến trình của tự nhiên sẽ luôn diễn ra đều đặn trong những hoạt động của nó. Bởi lẽ, nếu \có trong thực tại có bất kỳ lập luận nào thuộc bản chất này, chúng chắc chắn nằm quá thâm
sâu với những năng lực nhận thức bất toàn như vậy; vì ngay cả một thiên tài triết học có thể cũng
phải tận dụng sự cẩn trọng và chú ý tối đa mới có thể khám phá và nhận diện được chúng. Động vật, do đó, không được dẫn dắt trong
những suy diễn này bởi lập luận; trẻ em cũng không; đám đông loài người trong
những hành động và kết luận thông thường của họ cũng không; và ngay cả chính
những nhà triết học cũng không — những người vốn trong mọi phần năng động của
đời sống, về cơ bản cũng giống như người bình dân, và đều bị cùng những phương
châm ứng xử chi phối.
Tự nhiên hẳn đã cung cấp một nguyên lý nào đó
khác, dễ dùng và ứng dụng hơn; và một hoạt động có hậu quả to lớn như vậy trong
đời sống, như việc suy ra hậu quả từ nguyên nhân, cũng không thể được giao phó
cho tiến trình lập luận và suy luận không chắc chắn. Nếu điều này còn đáng nghi
ngờ đối với con người, thì dường như không thể nghi ngờ gì đối với loài vật; và
một khi kết luận đã được thiết lập vững chắc ở loài vật, chúng ta có một giả
định mạnh mẽ, dựa trên tất cả những quy tắc của phép loại suy, rằng nó nên được
thừa nhận một cách phổ quát, không có bất kỳ ngoại lệ hay dè dặt nào. Chính
thói quen mới khiến động vật, từ mọi vật thể tác động đến giác quan, suy luận ra
kẻ đồng hành thường xuyên của vật thể đó; và thúc đẩy trí tưởng tượng của
chúng, từ sự xuất hiện của vật này, hình dung ra vật kia theo cách thức đặc
biệt mà chúng ta gọi làtin tưởng. Không thể đưa ra giải thích nào khác cho hoạt động này ở tất cả những cấp độ sinh vật có
cảm năng, dù cao hay thấp, vốn nằm trong sự quan sát và chú ý của chúng ta. [20]
E 9. 6, SBN 108
Nhưng dù động vật học hỏi được nhiều phần tri
thức từ quan sát, cũng có nhiều phần khác chúng bắt nguồn từ bàn tay nguyên
thủy của tự nhiên; những phần này vượt xa năng lực mà chúng có được trong những
dịp thông thường, và chúng hầu như chẳng cải thiện được bao nhiêu, qua thực hành hay
kinh nghiệm lâu dài nhất. Chúng ta gọi những thứ này là Bản năng, và
thường ngưỡng mộ chúng như một gì đó phi thường, không thể giải thích được bằng tất
cả những điều tra về khả năng hiểu biết của con người.
Nhưng sự kinh
ngạc của chúng ta có lẽ sẽ chấm dứt hoặc giảm bớt khi ta cân nhắc rằng: chính
loại suy luận thực nghiệm này—những gì chúng ta có chung với loài vật, và là
nền tảng cho toàn bộ cách thức dẫn dắt cuộc sống—chẳng qua chỉ là một loại bản
năng hay một năng lực cơ học, vận hành trong ta mà ta không hề hay biết; và
trong những hoạt động cốt yếu nhất, nó không hề được điều phối bởi bất kỳ sự
liên hệ hay so sánh các ý niệm nào vốn là đối tượng riêng biệt của các năng lực
trí tuệ. Dù bản năng có khác biệt, nhưng nó vẫn cứ là một bản năng đã dạy con
người biết tránh lửa; cũng giống như bản năng đã dạy một loài chim, với sự
chính xác đến thế, nghệ thuật ấp trứng cùng toàn bộ sự sắp đặt và trật tự trong
việc xây tổ nuôi con của nó.[1]
---------------------------------------------
E 9. 5n20, SBN 107
20. Xem GHI CHÚ [H].
E 9. 5n20. 1, SBN 107
Vì tất cả những lý luận liên quan đến sự kiện
hay nguyên nhân đều chỉ bắt nguồn từ thói quen nên người ta có thể tự hỏi tại sao con người lại
vượt trội hơn động vật về mặt lý luận, và một người lại vượt trội hơn người
khác đến vậy? Chẳng phải cùng một thói quen có ảnh hưởng như nhau đến tất cả tất cả mọi người sao?
E 9. 5n20. 2, SBN 107
Ở đây chúng ta sẽ cố gắng giải thích ngắn gọn
sự khác biệt lớn trong những khả năng hiểu biết của con người: Sau đó nguyên do của sự
khác biệt giữa con người và động vật sẽ dễ dàng được lĩnh hội .)
E 9. 5n20. 3, SBN 107
1. Khi đã sống một thời gian dài và quen với
sự đồng nhất của tự nhiên, chúng ta hình thành một thói quen chung, nhờ đó
chúng ta luôn chuyển những gì đã biết sang những gì chưa biết, và hình dung
những gì sau giống với những gì trước. Nhờ nguyên lý thói quen chung này, chúng
ta coi ngay cả một thí nghiệm cũng là nền tảng của lý luận, và mong đợi một sự
kiện tương tự với một mức độ chắc chắn nào đó, khi thí nghiệm được thực hiện
chính xác và không bị ảnh hưởng bởi bất kỳ yếu tố bên ngoài nào. Do đó, việc
quan sát hậu quả của sự vật được coi là vô cùng quan trọng; và vì một người có
thể vượt trội hơn hẳn người khác về sự chú ý, trí nhớ và quyền năng quan sát,
điều này sẽ tạo ra sự khác biệt rất lớn trong lý luận của họ.
E 9. 5n20. 4, SBN 107
2. Khi có sự phức tạp của những nguyên nhân
dẫn đến bất kỳ hậu quả nào, một trí óc có thể lớn hơn nhiều so với trí óc khác,
có quyền năng hiểu rõ hơn toàn bộ hệ thống những đối tượng và suy ra chính xác
hậu quả của chúng.
E 9. 5n20. 5, SBN 107
3. Một người có quyền năng thực hiện một chuỗi
hậu quả lâu dài hơn người khác.
E 9. 5n20. 6, SBN 107
4. Rất ít người có thể suy nghĩ lâu vốn không
rơi vào tình trạng lẫn lộn ý niệm và nhầm lẫn ý niệm này với ý niệm khác; và
tình trạng này có nhiều mức độ khác nhau.
E 9. 5n20. 7, SBN 107
5. Hoàn cảnh vốn tác dụng tùy thuộc vào thường
liên quan đến những hoàn cảnh khác, cả bên ngoài lẫn bên trong. Việc tách biệt
chúng thường đòi hỏi sự chú ý, chính xác và tinh tế cao độ.
E 9. 5n20. 8, SBN 107
6. Việc hình thành những châm ngôn chung từ
những quan sát cụ thể là một hoạt động rất hay; và không có gì thường xảy ra
hơn là do sự vội vàng hay một não thức hẹp hòi, không nhìn thấy tất cả những
khía cạnh, hơn là phạm phải những sai lầm trong trường hợp cụ thể này.
E 9. 5n20. 9, SBN 107
7. Khi chúng ta lý luận từ phép so sánh, người
có nhiều kinh nghiệm hơn hay nhanh nhạy hơn trong việc đưa ra phép so sánh sẽ
là người lý luận tốt hơn.
E 9. 5n20. 10, SBN 107
8. Những định kiến, giáo dục, đam mê, đảng
phái, v. v. thường ảnh hưởng đến não thức này nhiều hơn là não thức khác.
E 9. 5n20. 11, SBN 107
9. Sau khi chúng ta có được sự tin tưởng vào
lời chứng của con người, sách vở và cuộc trò chuyện sẽ mở rộng phạm vi kinh
nghiệm và suy nghĩ của một người hơn là của người khác.
E 9. 5n20. 12, SBN 107
Sẽ dễ dàng để tìm ra nhiều hoàn cảnh khác tạo
nên sự khác biệt trong cách hiểu của con người.
Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ hai
(Mar/2026)
(Còn tiếp... →)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1] Trong nỗ lực xóa
nhòa ranh giới giữa người và vật, David Hume lập luận rằng lý trí không phải là
năng lực logic siêu việt, mà thực chất là một dạng bản năng hoặc cơ chế cơ học
bẩm sinh. Ông khẳng định con người rút ra kết luận từ kinh nghiệm (đặc biệt là quan
hệ nhân quả) không dựa trên những quy luật trừu tượng, mà dựa trên Thói quen
(Custom/Habit). Đây chính là một "phần mềm tâm lý" được cài đặt sẵn
để sinh tồn, tương tự như cách bản năng dạy con chim xây tổ hay ấp trứng.Việc
hạ bệ vị thế độc tôn của lý trí để đưa con người trở về với bản chất sinh học
đã giúp Hume mở đường cho Thuyết Tiến hóa của Darwin và Tâm lý học Hành vi hiện
đại. Tư tưởng này thách thức mọi sự tự phụ về trí tuệ bằng cách khẳng định rằng
lý trí chỉ là một bản năng đã được phát triển cao, giúp chúng ta thích nghi với
thế giới mà không cần đến những nền tảng logic tuyệt đối.Từ góc nhìn này, Hume
dẫn đến một sự phân tách độc đáo trong tư tưởng: Về mặt lý thuyết (Hoài nghi
triệt để): Ông chứng minh rằng chúng ta không thực sự "biết" những quy luật của
tự nhiên bằng logic thuần túy. Mọi tri thức về nhân quả thực chất chỉ là tin tưởng cảm tính,
thiếu vắng một cơ sở lý tính vững chắc.Về mặt thực hành (Hoài nghi giảm nhẹ):
Dù nhận diện được ngõ cụt của logic, Hume cho rằng con người không thể và không
nên ngừng tin tưởng. Ông chủ trương một thái độ hoài nghi chừng mực/giảm nhẹ
(mitigated skepticism): chấp nhận sống theo bản năng và kinh nghiệm để duy trì
sự sống, đồng thời giữ sự khiêm tốn để tránh rơi vào những giáo điều siêu hình
xa rời thực tế.
