Thursday, May 7, 2026

Hume – Một Điều Tra Về Những Khả Năng Nhận Thức Của Con Người (14)

Một Điều Tra Về Những Khả Năng Nhận Thức Của Con Người

(An Enquiry concerning Human Understanding)

David Hume

 

( ← ... tiếp theo )

 

 






TIẾT X.

Về Phép Lạ.

 

PHẦN II. 

E 10. 14, SBN 116

Trong những suy luận trên đây, chúng ta đã giả định rằng lời chứng làm nền tảng cho một phép lạ có thể đạt tới mức của một minh chứng [1] trọn vẹn, và sự sai lầm của lời chứng đó sẽ là một gì phi thường thực sự. Thế nhưng, có thể dễ dàng cho thấy rằng chúng ta đã quá hào phóng trong sự nhượng bộ của chúng ta, và chưa bao giờ có một biến cố mang tính phép lạ nào được xác lập dựa trên một bằng chứng hiển nhiên đầy đủ đến như thế.

 

E 10. 15, SBN 116-7

Thứ nhất, trong toàn bộ lịch sử, chúng ta không tìm thấy bất kỳ phép lạ nào được chứng thực bởi một số lượng đủ lớn những người có khả năng nhận thức, học vấn và hiểu biết sâu rộng đến mức không thể nghi ngờ, đủ để bảo đảm cho chúng ta khỏi mọi sự tự huyễn hoặc nơi chính họ; có lòng ngay thẳng không thể bàn cãi, đủ để đặt họ vượt lên trên mọi ngờ vực về ý định lừa dối những người khác; có tiếng tăm và tên tuổi trong con mắt loài người đến mức họ sẽ mất đi rất nhiều, nếu bị tìm ra là đã nói dối; và cùng lúc đó, chứng thực cho những sự việc được làm một cách công khai, tại một vùng đất danh tiếng trên thế giới, khiến cho việc bị tìm ra sự thật là họ đã nói dối là điều không thể tránh khỏi. Tất cả những dữ kiện đi kèm này đều cần thiết để mang lại cho chúng ta một sự tin tưởng chắc chắn đầy đủ với lời chứng của con người.

 

E 10. 16, SBN 117

Thứ hai, chúng ta có thể quan sát thấy trong bản chất con người một nguyên lý mà nếu được xem xét nghiêm ngặt, ta sẽ thấy nó làm suy giảm cực độ sự tin tưởng chắc chắn mà chúng ta vốn có thể dành cho bất kỳ loại điều phi thường nào dựa trên lời kể của người khác. Châm ngôn vốn chúng ta thường dùng để dẫn dắt những suy luận của chúng ta là: rằng những đối tượng vốn chúng ta không có kinh nghiệm thì cũng giống với những gì chúng ta đã có kinh nghiệm; rằng những gì chúng ta tìm biết là hay xảy ra nhất thì luôn có khả năng xảy ra cao nhất; và rằng khi có những lý lẽ trái ngược nhau, chúng ta nên chọn theo những gì dựa trên số lần quan sát được nhiều nhất trong quá khứ.

Thế nhưng, dù khi theo quy tắc này, chúng ta sẵn lòng gạt bỏ bất kỳ sự kiện nào lạ lùng và khó tin ở mức thường; thì khi đi xa hơn, tâm trí không phải lúc nào cũng theo đúng quy tắc đó; trái lại, khi ai đó khẳng định một điều gì đó hoàn toàn vô lý và màu nhiệm, tâm trí lại càng dễ dàng chấp nhận sự kiện ấy hơn, chính vì cái dữ kiện đi kèm mà lẽ ra phải xóa sạch mọi sức nặng của nó. Lòng ham thích sự kinh ngạc và việc sững sờ thán phục nảy sinh từ những phép lạ, vốn là một cảm xúc dễ chịu, tạo ra một khuynh hướng rõ rệt khiến người ta tin vào những sự kiện sinh ra cảm xúc đó. Điều này còn đi xa đến mức, ngay cả những ai không thể vui hưởng trực tiếp sự thích thú này, cũng không thể tin vào những biến cố mang tính phép lạ đó, những gì họ nghe thuật kể, nhưng thì vẫn thích được chia sẻ sự thỏa mãn đó một cách gián tiếp hoặc qua phản ứng của người nghe, và lấy làm tự hào cùng thích thú khi khơi dậy sự thán phục của những người khác.

 

E 10. 17, SBN 117-8

Người ta háo hức nuốt lấy những câu chuyện kỳ diệu của những nhà du hành đến mức nào, từ những mô tả về quái vật dưới biển trên cạn, đến những thuật kể về những cuộc phiêu lưu kỳ thú, những con người lạ lùng và những thói tục kỳ quặc? Nhưng nếu tinh thần tôn giáo gắn liền với lòng ham thích sự thán phục, thì đó là dấu chấm hết cho phán đoán thực tiễn dựa trên kiến thức thông thường; và lời kể của con người, trong những dữ kiện đi kèm này, sẽ mất sạch mọi tư cách để đòi hỏi bất kỳ sức nặng nào.

Một người sùng đạo có thể là người cuồng nhiệt, và tự tưởng tượng rằng mình thấy những gì vốn không có thật: Người đó có thể biết rõ chuyện kể của mình là dối trá, nhưng vẫn khăng khăng theo đuổi nó, với những ý định tốt đẹp nhất trên đời, vì một cứu cánh thiêng liêng. Hoặc ngay cả khi sự huyễn hoặc này không có chỗ, thì lòng kiêu hãnh, được một sự cám dỗ khơi dậy bởi mạnh mẽ, vẫn tác động lên người đó dữ dội hơn so với những người còn lại trong bất kỳ dữ kiện đi kèm nào khác; và lợi ích cá nhân cũng có sức mạnh tương đương. Những người nghe có thể không có, và thường là không có, đủ phán đoán thực tiễn để xem xét kỹ bằng chứng của người đó: Nếu họ có chút khả năng phán đoán nào, họ cũng tự nguyện từ bỏ, như một nguyên lý khi đối diện với những chủ đề cao siêu và huyền bí này. Hoặc nếu họ có sẵn lòng vận dụng nó đi chăng nữa, thì lòng ham thích và một trí tưởng tượng nồng cháy cũng sẽ làm rối loạn sự vận hành bình thường của nó. Sự cả tin của họ càng nuôi lớn sự lì lợm của người này— và sự lì lợm của người này thì lại đè bẹp ngược lại sự cả tin của họ.

 

E 10. 18, SBN 118

Hùng biện, khi đạt đến đỉnh cao, chẳng để lại chút khe hở nào cho lý trí hay suy xét; trái lại, bằng cách chiếm trọn trí tưởng tượng và những cảm xúc, nó mê hoặc những thính giả đang tự nguyện và khuất phục sự hiểu biết của họ. May mắn thay, hiếm khi nghệ thuật hùng biện đạt đến tầm mức này. Thế nhưng, điều mà một Tully hay Demosthenes khó lòng gây ảnh hưởng nổi lên thính giả Rome hay Athens, thì bất kỳ tu sĩ dòng Capuchin nào, bất kỳ người truyền giáo lưu động hay tại chỗ nào cũng có thể thực hiện được trên đại bộ phận loài người— thậm chí ở mức độ mãnh liệt hơn — chỉ bằng cách khơi dậy những đam mê thô thiển và tầm thường đến thế. [2]

 

E 10. 19, SBN 118-9

Nhiều trường hợp về phép lạ, lời tiên tri và sự kiện siêu nhiên bịa đặt, trong tất cả những thời đại, hay đã bị tìm ra bởi bằng chứng trái ngược, hay tự tự phơi bày bởi sự phi lý của chúng, tất cả đủ để chứng minh rằng con người có một thiên hướng mạnh mẽ và sâu xa hướng về những gì phi thường. Điều đó đáng lẽ phải khiến người ta nảy sinh một nghi ngờ với mọi câu chuyện thuộc loại này. Đây là cách suy nghĩ tự nhiên của chúng ta, ngay cả với những sự kiện phổ biến và đáng tin cậy nhất. Chẳng hạn: không có loại tin đồn nào nổi lên dễ dàng hơn và lan nhanh hơn — đặc biệt trong những vùng quê và thị trấn nhỏ, như những chuyện liên quan đến hôn nhân. đến mức chỉ cần hai người trẻ tuổi có điều kiện tương xứng gặp nhau đôi lần, là làng xóm đã lập tức ghép họ thành đôi. Cái thú được kể một mẩu tin hấp dẫn như vậy, được truyền đi, và được làm người đầu tiên loan báo nó, chính cái thú đó đã thổi cho tin tức bay xa. Và điều này ai cũng biết, đến mức người nào còn chút sáng suốt thì không thèm để ý đến những tin đồn như vậy, cho đến khi chúng được xác nhận bởi bằng chứng chắc chắn hơn. Chẳng phải chính những đam mê đó, và những đam mê khác còn mạnh mẽ hơn, đã khiến phần lớn loài người tin tưởng và kể lại, với sự nhiệt thành và tin chắc lớn nhất, tất cả những phép lạ tôn giáo hay sao?

 

E 10. 20, SBN 119

Thứ ba. Nó hình thành một tiền giả định bất lợi cho mọi thuật kể siêu nhiên và kỳ diệu, rằng chúng được ghi nhận là xuất hiện chủ yếu và tràn lan ở những dân tộc mông muội và man di. Hoặc nếu một dân tộc văn minh có bám giữ lấy chúng, thì đó là bởi họ đã thừa hưởng từ những tổ tiên man di và thiếu hiểu biết của họ, những người đã truyền lại chúng với sự chuẩn y và uy quyền bất khả xâm phạm vốn luôn đi kèm với những quan niệm đã được định hình từ trước.

Khi chúng ta đọc kỹ những lịch sử sơ khai của tất cả những dân tộc, chúng ta dễ tưởng tượng đang được đưa vào một thế giới mới nào đó; nơi toàn bộ trật tự tự nhiên bị đứt gãy, và mỗi yếu tố thực hiện những hoạt động của nó theo một cách thức khác, so với những gì nó thực hiện ở hiện tại. Những trận chiến, những cách mạng, dịch bệnh, nạn đói, và cái chết, không bao giờ là hậu quả của những nguyên nhân tự nhiên vốn chúng ta có kinh nghiệm. Những điều kỳ diệu, điềm báo, lời sấm truyền, phán quyết, hoàn toàn làm lu mờ một vài biến cố tự nhiên, nhữngđã trộn lẫn với chúng. Nhưng khi những kỳ diệu trở nên thưa thớt hơn qua từng trang sách, tỷ lệ thuận với việc chúng ta tiến gần hơn đến thời khai sáng, chúng ta sớm nhận ra rằng không có một gì là bí ẩn hay siêu nhiên xảy ra ở đâ, nhưng tất cả đều bắt nguồn từ thiên hướng vẫncủa loài người hướng đến nhữngkỳ diệu, và dù khuynh hướng này đôi khi có thể được khả năng phán đoán dựa trên thực tế và học thức chế ngự, nhưng nó không bao giờ có thể hoàn toàn bị nhổ sạch rễ khỏi bản chất con người.

 

E 10. 21, SBN 119-20

Thật kỳ lạ—một người đọc sáng suốt hẳn sẽ nói như vậy sau khi đọc những sử gia tuyệt vời này—rằng những sự kiện phi thường như thế chẳng bao giờ xảy ra trong thời đại của chúng ta. Nhưng tôi hy vọng chẳng có gì lạ khi con người vẫn nói dối trong mọi thời đại. Chắc hẳn chúng ta đã từng chứng kiến đủ nhiều những minh chứng về sự yếu đuối đó. Chính chúng ta đã nghe không ít những thuật kể kỳ diệu như thế được khởi xướng; những thứ mà khi bị tất cả những người khôn ngoan và sáng suốt khinh miệt, cuối cùng đã bị từ bỏ ngay cả bởi những người bình dân. Hãy yên tâm rằng, những lời dối trá khét tiếng vốn đã lan truyền và nảy nở tới một tầm cao quái dị như thế, đều nảy sinh từ những khởi đầu tương tự; nhưng sau khi được gieo vào một mảnh đất thích hợp hơn, cuối cùng đã đâm vọt lên thành những điều kỳ diệu gần như tương đương với những gì mà chúng thuật lại.

 

E 10. 22, SBN 120

Đó là một kế sách khôn ngoan của người tiên tri giả Alexander—người dù nay đã bị lãng quên nhưng thuở ấy từng lừng lẫy—khi chọn Paphlagonia làm bối cảnh đầu tiên cho những trò lừa mị của ông. Nơi đó, như Lucian thuật lại, dân chúng vô cùng mông muội, khờ khạo và sẵn lòng nuốt trọn cả những ảo tưởng thô thiển nhất. Những người ở xa, nếu có đủ nhẹ dạ để coi chuyện này đáng để bận tâm tìm hiểu, cũng chẳng có cơ hội tiếp cận nguồn tin nào khả dĩ hơn. Những câu chuyện truyền đến họ đã được phóng đại bởi hàng trăm tình tiết thêu dệt. người ngu xuẩn thì mải miết lan truyền trò lừa gạt; trong khi giới trí thức và học giả thường chỉ bằng lòng với việc chế giễu sự phi lý của nó, thay vì tự mình tìm hiểu những sự thật cụ thể vốn có thể bác bỏ nó một cách rạch ròi. Nhờ vậy, người bịp bợm nói trên đã có thể bành trướng từ những người dân Paphlagonia mông muội sang việc chiêu mộ tín đồ ngay trong hàng ngũ những triết gia Hy Lạp và những người có địa vị hiển hách nhất ở Rome. Thậm chí, hắn còn thu hút được sự chú ý của vị hoàng đế hiền triết Marcus Aurelius, đến mức khiến ông tin tưởng phó mặc vận mệnh của một cuộc viễn chinh quân sự vào những lời tiên tri hão huyền của hắn. [3]

 

E 10. 23, SBN 120-1

Lợi thế của việc khởi xướng một sự lừa đảo giữa một dân tộc dốt nát là vô cùng lớn; đến mức ngay cả khi ảo tưởng đó có quá thô thiển để áp đặt lên số đông bọn họ (điều dù hiếm nhưng đôi khi vẫn xảy ra), nó vẫn có cơ hội thành công ở những vùng đất xa xôi cao hơn nhiều so với việc màn đầu của trò lừa đảo được dàn dựng ở một thành phố nổi tiếng về nghệ thuật và tri thức. Chính những thành phần thiếu hiểu biết và sơ khai nhất trong số những dân tộc này sẽ mang thuật kể đó ra nước ngoài. Không một ai trong số đồng hương của họ có đủ liên lạc rộng rãi, hay đủ uy tín và thẩm quyền để phản bác và đánh bại ảo tưởng ấy. Khuynh hướng của con người hướng đến nhữngkỳ diệu có đầy đủ cơ hội để tự thể hiện. Và như thế, một thuật kể dù bị bác bỏ rộng rãi ngay tại nơi khởi phát, vẫn sẽ được coi là chắc chắn hiển nhiên ở những nơi xa cách hàng nghìn dặm. Nhưng nếu Alexander định cư tại Athens, những triết gia của trung tâm học thuật lừng danh đó đã ngay lập tức truyền bá, trên khắp đế quốc Rome, khả năng phán đoán của họ về vấn đề này; những gì vốn khi được hỗ trợ bởi uy tín lớn lao cùng sức mạnh của lý trí và hùng biện, đã hoàn toàn mở mắt cho loài người. Thực vậy; Lucian, tình cờ đi ngang qua Paphlagonia, đã có cơ hội thực hiện nhiệm vụ tốt đẹp này. Nhưng, dù là điều rất đáng ao ước, không phải lúc nào mọi Alexander cũng đều gặp được một Lucian sẵn sàng phơi bày và vạch trần những trò lừa đảo của người bịp bợm này.

 

E 10. 24, SBN 121-2

Tôi có thể thêm vào một lý do thứ tư làm giảm đi uy tín của những điềm quái dị: đó là không có một lời chứng nào—ngay cả đối với những trường hợp chưa bị vạch trần một cách rõ ràng—mà lại không bị đối kháng bởi vô số những nhân chứng khác; sao cho không chỉ phép lạ phá hủy uy tín của lời chứng, mà chính lời chứng cũng tự tiêu diệt lẫn nhau.

Để hiểu rõ hơn điều này, chúng ta hãy cân nhắc rằng: trong những vấn đề tôn giáo, bất cứ điều gì khác biệt cũng đều là trái ngược; và không thể có chuyện những tôn giáo của Rome cổ đại, của Thổ Nhĩ Kỳ, của Xiêm và của nước Tàu đều được thiết lập trên những nền tảng vững chắc như nhau. Mọi phép lạ được cho là đã thực hiện trong bất kỳ tôn giáo nào (mà tôn giáo nào cũng đầy rẫy những phép lạ), một khi mục đích trực tiếp của nó là nhằm thiết lập hệ thống giáo lý cụ thể mà nó thuộc về, thì nó cũng có sức mạnh tương đương—dù gián tiếp hơn—để lật đổ mọi hệ thống giáo lý khác. Khi tiêu diệt một hệ thống đối thủ, nó cũng đồng thời phá hủy uy tín của những phép lạ vốn là nền tảng thiết lập nên hệ thống đó. Do vậy, tất cả những điềm quái dị của những tôn giáo khác nhau phải được xem xét như những sự kiện đối nghịch, và những minh chứng cho những điềm quái dị này, dù yếu hay mạnh, đều đối lập lẫn nhau. Chiếu theo phương pháp lập luận này, khi ta tin vào bất kỳ phép lạ nào của Mahomet hay những người kế vị ông, ta chỉ có một sự bảo đảm duy nhất là lời chứng của một vài người Ả Rập sơ khai. Mặt khác, chúng ta cũng phải xem xét uy tín của Titus Livius, Plutarch, Tacitus, và tóm lại là của tất cả những tác giả cùng nhân chứng người Hy Lạp, Tàu hay Kitô Rôma, những người đã thuật lại bất kỳ phép lạ nào trong tôn giáo riêng của họ. Chúng ta phải nhìn nhận lời chứng của những người này dưới cùng một nhãn quan như thể họ đang đề cập đến phép lạ của Mahomet và dùng những thuật ngữ đanh thép nhất để bác bỏ nó, với cùng một sự quả quyết mà họ dành cho phép lạ mà chính họ thuật lại.

Lập luận này có vẻ quá tinh vi và tinh xảo; nhưng thực tế nó không khác gì suy luận của một vị thẩm phán. Vị đó giả định rằng độ tin cậy của hai nhân chứng tố cáo người này phạm tội sẽ bị triệt tiêu bởi lời chứng của hai người khác, những người khẳng định rằng người này đang ở cách xa đó hai trăm dặm vào đúng thời điểm tội ác được cho là đã xảy ra.

 

E 10. 25, SBN 122-3

Một trong những phép lạ được minh chứng tốt nhất trong toàn bộ lịch sử thế tục là chuyện mà Tacitus thuật lại về Vespasian. Vị hoàng đế này đã chữa khỏi một người mù ở Alexandria bằng nước bọt của mình, và một người què chỉ bằng cách chạm vào chân người này; theo sự mách bảo từ thị kiến của thần Serapis, vị thần đã ra lệnh cho những người đó phải tìm đến Hoàng đế để có được những sự chữa lành thần kỳ này. [24]; Câu chuyện có thể tìm thấy trong ghi chép của nhà sử học lỗi lạc đó; nơi mà từng chi tiết sự việc dường như đều bồi thêm sức nặng cho lời chứng, và có thể được phô bày rộng rãi với tất cả sức mạnh của lý lẽ và hùng biện, nếu như ngày nay có ai đó còn bận tâm đến việc củng cố minh chứng cho một sự mê tín thờ ngẫu tượng vốn đã bị bác bỏ này. Sự điềm tĩnh, vững chãi, tuổi tác và tính chính trực của một vị hoàng đế vĩ đại như thế — người mà trong suốt cuộc đời mình luôn trò chuyện thân tình với bạn bè và cận thần, chưa bao giờ tỏ vẻ thần thánh khác thường như Alexander hay Demetrius. Nhà sử học là một người viết cùng thời, nổi tiếng về sự ngay thẳng và chân thực, đồng thời có lẽ là thiên tài vĩ đại và thâm thúy nhất, có lẽ, của toàn bộ thời cổ đại; và [ông] hoàn toàn không có chút khuynh hướng cả tin nào, đến mức thậm chí còn bị mang tiếng ngược lại là người không-tin-có-gót và ngoại đạo.

Những người mà từ thẩm quyền của họ nhà sử học thuật lại phép lạ này, ta có thể mặc định rằng họ có tính cách kiên định về phán đoán và lòng trung thực; Họ là những nhân chứng trực tiếp đã chứng kiến sự việc và kiên định xác nhận lời chứng của họ ngay cả khi dòng họ Flavian đã mất hết quyền lực, đã mất đế quốc, không còn có thể ban phát bất kỳ phần thưởng nào như cái giá cho một lời nói dối. Utrumque, qui interfuere, nunc quoque memorant, postquam nullum mendacio pretium (Cả hai người chứng kiến sự việc cho đến nay vẫn thuật lại nó, ngay cả khi lời nói dối không còn mang lại lợi lộc gì) [4]. Nếu chúng ta thêm vào tính chất công khai của những sự kiện như đã được kể, sẽ thấy rằng không có minh chứng nào có thể được giả định là mạnh mẽ hơn cho một sự dối trá thô thiển và hiển nhiên đến thế.

 

E 10. 26, SBN 123-4

Cũng có một câu chuyện đáng nhớ mà Hồng y De Retz kể lại, rất xứng đáng để chúng ta xem xét. Khi nhà chính trị đầy mưu lược đó chạy trốn sang Tây Ban Nha để tránh sự truy đuổi của kẻ thù, ông đã đi qua Saragossa, thủ phủ vùng Aragon. Tại đó, trong nhà thờ lớn, người ta giới thiệu cho ông một người đã làm người giữ cửa nhà thờ suốt bảy năm. Tất cả mọi người trong thị trấn, những ai từng đến cầu nguyện tại nhà thờ đó, đều biết rõ người này. Suốt một thời gian dài, dân chúng đã thấy ông ta bị cụt một chân; nhưng rồi ông ta đã có cái chân cụt đó mọc lại nhờ việc xoa dầu thánh lên mỏm chân cụt; và vị hồng y cam đoan với chúng ta rằng chính ông đã tận mắt thấy người này có đủ hai chân.

Toàn bộ những chức sắc trong nhà thờ đều đứng ra bảo đảm cho phép lạ này; người ta viện dẫn toàn dân trong thị trấn để xác nhận sự thật; và qua lòng sùng kính nhiệt thành của họ, vị hồng y nhận thấy tất cả đều tin tưởng tuyệt đối vào phép lạ. Ở đây, người thuật lại cũng sống cùng thời với sự quái dị được cho là đã xảy ra đó; ông vốn là một người có trí tuệ bậc thầy với tính cách hoài nghi và tự do tư tưởng. phép lạ này có tính chất kỳ lạ đến mức khó lòng là một sự giả mạo; còn nhân chứng thì vô cùng đông đảo, và tất cả bọn họ, theo một cách nào đó, đều là những người trực tiếp chứng kiến sự việc mà họ đưa ra lời chứng. Và những gì cộng thêm vào sức mạnh cho bằng chứng này, cũng như có thể nhân đôi sự kinh ngạc của chúng ta, chính là việc bản thân vị hồng y — người thuật lại câu chuyện — dường như chẳng hề tin vào nó; do đó, chúng ta không thể nghi ngờ ông có bất kỳ sự đồng lõa nào trong vụ lừa đảo thiêng liêng này.

Ông đã suy xét một cách công bằng rằng: để bác bỏ một sự việc như thế, không nhất thiết phải có khả năng bác bỏ chính xác từng lời khai hay truy tìm sự dối trá qua mọi tình tiết gian trá và cả tin đã tạo ra nó. Ông hiểu rằng điều này thường là không thể làm được, nếu xét đến khoảng cách thời gian và địa điểm; và cực kỳ khó khăn ngay cả khi có mặt trực tiếp, bởi sự cố chấp, dốt nát, xảo quyệt và gian trá của một bộ phận lớn loài người. Do đó, giống như một nhà lý luận công bằng, ông kết luận rằng một minh chứng như vậy tự thân nó đã mang vẻ dối trá; và một phép lạ, dù được hỗ trợ bởi bất kỳ lời chứng nào của con người, thì đúng hơn là một đề tài để chế giễu thay vì để tranh luận. [5]

 

E 10. 27, SBN 124-5

Chắc chắn chưa bao giờ có nhiều phép lạ được gán cho một người hơn những phép lạ gần đây được cho là đã xảy ra ở Pháp trên ngôi mộ của Abbé Paris, người phái Jansen nổi tiếng, người vốn sự thánh thiện của ông đã khiến dân chúng bị lừa dối trong một thời gian dài. Việc chữa lành người bệnh, cho người điếc nghe được và người mù nhìn thấy, ở khắp tất cả những nơi được nói đến như những hiệu quả thường thấy của ngôi mộ thánh đó. Nhưng những gì còn phi thường hơn; nhiều phép lạ đã được chứng minh ngay tại chỗ, trước những thẩm phán có sự chính trực không thể nghi ngờ, được chứng thực bởi những nhân chứng có uy tín và danh tiếng, trong một thời đại học thức, và trên sân khấu nổi tiếng nhất trí thức hiện nay trên thế giới. Và đó chưa phải là tất cả: Một bản tường thuật về chúng đã được xuất bản và lan truyền khắp nơi; ngay cả những tu sĩ dòng Jesuits — dù là một tập thể trí tuệ, được chính quyền dân sự hỗ trợ, và là kẻ thù quyết liệt của những quan điểm mà những phép lạ này được thực hiện để ủng hộ — cũng không bao giờ có thể bác bỏ hay vạch trần chúng một cách rõ ràng [25]. Chúng ta có thể tìm đâu ra một tập hợp những tình tiết cùng hội tụ để củng cố cho một sự thật mạnh mẽ đến thế? Và ta lấy gì để đối trọng với cả một đám mây nhân chứng như vậy, ngoài sự bất khả tuyệt đối hoặc chính bản chất kỳ diệu của những sự kiện mà họ thuật lại? Và chắc chắn, trong mắt tất cả những người có lý trí, chỉ riêng điều này thôi cũng sẽ được coi là một pphur nhận đầy đủ. [6]

 

E 10. 28, SBN 125

Liệu hệ quả này có công chính không, khi chỉ vì một số lời chứng của con người có sức mạnh và thẩm quyền tối cao trong một số trường hợp — như khi thuật lại trận Philippi hay Pharsalia chẳng hạn — mà chúng ta lại kết luận rằng mọi loại lời chứng, trong mọi trường hợp, đều phải có sức mạnh và thẩm quyền ngang nhau? Giả định rằng phe Caesar và phe Pompey, mỗi bên đều tuyên bố chiến thắng trong những trận chiến này, và những sử gia của mỗi bên đều đồng loạt gán lợi thế cho phe mình; thì làm sao nhân loại, ở khoảng cách thời gian này, có khả năng phân định được giữa họ? Sự tương phản cũng mạnh mẽ như nhau giữa những phép lạ do Herodotus hay Plutarch kể lại, và những chuyện được Mariana, Bede, hay bất kỳ sử gia tu sĩ nào đưa ra. [7]

 

E 10. 29, SBN 125

Người khôn ngoan không bao giờ tin tưởng một cách mù quáng vào mọi thuật kể có lợi cho tình cảm của người đưa tin; cho dù lời thuật đó ca ngợi đất nước, gia đình hay bản thân họ, hoặc phù hợp với bất kỳ khuynh hướng tự nhiên nào khác.

Nhưng còn cám dỗ nào lớn hơn việc tự xưng là nhà truyền giáo, nhà tiên tri hay sứ giả từ trời? Ai lại không sẵn lòng đối mặt với muôn vàn nguy hiểm và khó khăn để đạt được danh vị cao cả như thế? Hoặc giả như, do lòng ham danh ảo và trí tưởng tượng quá mức, một người đã tự biến mình thành người mộ đạo và thực sự lún sâu vào ảo tưởng; liệu người đó có ngần ngại sử dụng những thủ đoạn giả tạo để ủng hộ một sự nghiệp người này tin là thiêng liêng và đáng ca tụng đến vậy?

 

E 10. 30, SBN 126

Tia lửa nhỏ nhất ở đây có thể nhóm lên ngọn lửa lớn nhất; bởi vì củi lửa luôn được chuẩn bị sẵn sàng cho nó. Avidum genus auricularum [26], đám đông tò mò hiếu kỳ, tiếp nhận một cách tham lam, không cần xem xét, bất cứ gì xoa dịu mê tín và khơi dậy sự ngạc nhiên.

 

E 10. 31, SBN 126

Biết bao câu chuyện mang tính chất này, trong mọi thời đại, đã bị tìm ra và vỡ tan ngay từ trứng nước? Biết bao câu chuyện khác từng được ca tụng một thời, để rồi sau đó chìm vào quên lãng và bị người đời ruồng bỏ? Vậy nên, khi những thuật kể như thế lan truyền, lời giải đáp cho hiện tượng này đã quá hiển nhiên; chúng ta phán đoán dựa trên kinh nghiệm và sự quan sát thường xuyên, bằng cách lý giải chúng qua những nguyên lý tự nhiên và dễ hiểu của sự cả tin và ảo tưởng. Và liệu chúng ta, thay vì viện đến một giải pháp tự nhiên như vậy, có nên chấp nhận một sự vi phạm kỳ lạ với những quy luật đã được thiết lập chặt chẽ nhất của tự nhiên?

 

E 10. 32, SBN 126

Tôi không cần phải nhắc đến đến khó khăn trong việc tìm ra ra sự dối trá trong bất kỳ lịch sử riêng tư hay ngay cả công khai nào, ngay tại nơi sự việc được cho là đã xảy ra; huống hồ là khi nơi phát sinh sự việc bị dời đi, dù chỉ một quãng cách nhỏ nhất. Ngay cả một tòa án, với tất cả thẩm quyền, sự chuẩn xác và năng lực phán đoán mà họ có, cũng thường thấy họ bất lực trong việc phân định thực hư ngay cả với những sự việc vừa mới xảy ra vẫn còn nóng hổi. Nhưng vấn đề sẽ chẳng bao giờ đi đến đâu nếu chỉ dựa vào phương cách thông thường là cãi vã, tranh luận và những tin đồn lan truyền; nhất là khi tình cảm của con người đã nghiêng về phía này hay phía kia.

 

E 10. 33, SBN 126

Vào thời kỳ sơ khai của những tôn giáo mới, những bậc trí giả và học giả thường xem nhẹ sự việc, cho rằng vấn đề không xứng đáng với sự chú ý hay sự quan tâm của họ. về sau, khi họ sẵn sàng muốn vạch trần trò lừa bịp ấy để giúp đám đông mê muội tỉnh ngộ, thì thời cơ đã mất; những hồ sơ và nhân chứng vốn có thể làm sáng tỏ mọi sự việc đã thất lạc và phân rã, không còn gì để khôi phục.

 

E 10. 34, SBN 127

Không còn phương tiện tìm ra nào nữa, ngoại trừ những phương tiện phải được rút ra từ chính lời khai của những người tường thuật: Và những phương tiện này, dù luôn đủ với những người sáng suốt và hiểu biết, nhưng thường quá tinh vi tế nhị để những người tầm thường có thể hiểu được.

 

E 10. 35, SBN 127

Tóm lại, dường như không có lời chứng cho bất kỳ loại phép lạ nào từng đạt tới mức một xác suất, huống chi là một bằng chứng; và ngay cả khi giả sử nó đạt tới mức một bằng chứng, nó cũng sẽ bị đối kháng bởi một bằng chứng khác, vốn bắt nguồn từ chính bản chất của sự kiện mà nó cố gắng thiết lập. Chỉ có kinh nghiệm mới mang lại uy lực cho lời chứng của con người; và cũng chính kinh nghiệm đó bảo đảm cho chúng ta về những quy luật của tự nhiên.

Do đó, khi hai loại kinh nghiệm này đối nghịch nhau, chúng ta không có việc gì khác ngoài việc lấy cái này khấu trừ đi cái kia, và chấp nhận một quan điểm, hoặc bên này hoặc bên kia, với sự đoan chắc đó nảy sinh từ phần dư còn lại. Nhưng theo nguyên tắc được giải thích ở đây, phép khấu trừ này, đối với tất cả các tôn giáo dân gian, đi đến một sự triệt tiêu hoàn toàn; và do đó, chúng ta có thể thiết lập như một phương châm rằng, không lời chứng nào của con người có thể có cường lực đủ để chứng minh một phép lạ, và biến nó thành một nền tảng chính đáng cho bất kỳ hệ thống tôn giáo nào như thế. [8]

 

E 10. 36, SBN 127-8

Tôi xin mọi người lưu ý những giới hạn tôi đặt ra ở đây, khi tôi nói rằng một phép lạ không bao giờ có thể được chứng minh để làm nền tảng cho một hệ thống tôn giáo. Bởi tôi nhìn nhân rằng, ngoài trường hợp đó ra, có thể hiện hữu những phép lạ, hay những sự vi phạm tiến trình thông thường của tự nhiên, thuộc loại có thể chấp nhận được bằng chứng từ lời kể của con người; dù rằng, có lẽ, sẽ không thể tìm thấy bất kỳ sự kiện nào như thế trong mọi ghi chép lịch sử.

Thí dụ, giả sử tất cả những tác giả, thuộc mọi ngôn ngữ, đều đồng ý rằng từ ngày 1 tháng 1 năm 1600, bóng tối bao trùm toàn bộ trái đất trong tám ngày. Giả sử rằng truyền thuyết về sự kiện phi thường này vẫn còn mạnh mẽ và sống động trong dân gian; và mọi du khách từ nước ngoài trở về đều kể lại cùng một truyền thuyết đó mà không có chút thay đổi hay mâu thuẫn nào. Rõ ràng là, những nhà khoa học ngày nay của chúng ta, thay vì nghi ngờ sự thật đó, nên tiếp nhận nó như một điều chắc chắn, và nên đi tìm những nguyên nhân gây ra nó.

Sự suy yếu, mục rỗng và tan rã của tự nhiên là một sự kiện có khả năng xảy ra dựa trên rất nhiều sự so sánh tương đồng, đến mức bất kỳ hiện tượng nào có khuynh hướng dẫn tới thảm họa đó đều nằm trong phạm vi chứng minh của lời kể con người, miễn là lời kể đó cực kỳ rộng rãi và thống nhất.

 

E 10. 37, SBN 128

Nhưng giả sử, tất cả những sử gia viết về nước Anh đều đồng ý rằng, vào ngày 1 tháng 1 năm 1600, Nữ hoàng Elizabeth qua đời; rằng cả trước và sau khi chết, bà đều được những bác sĩ và toàn thể triều đình trông thấy, như thường lệ đối với những người cùng địa vị với bà; rằng người kế vị bà đã được quốc hội công nhận và công bố; và rằng, sau khi được chôn cất một tháng, bà lại xuất hiện, lên ngôi trở lại và cai trị nước Anh trong ba năm.

Tôi phải thú thật rằng, tôi sẽ ngạc nhiên trước sự trùng khớp của rất nhiều tình tiết kỳ lạ như vậy, nhưng tôi sẽ không có một chút ý hướng nào để tin vào một sự kiện mang tính phép lạ đến thế. Tôi sẽ không nghi ngờ về cái chết giả của bà, hay những sự việc công khai khác theo sau đó; tôi sẽ chỉ khẳng định rằng đó là một sự giả mạo, và rằng việc bà sống lại không bao giờ là thật, cũng như không thể nào có được.

Người đọc có thể phản bác tôi vô ích về sự khó khăn, thậm chí là gần như không thể có được việc đánh lừa cả thế giới trong một sự vụ hệ trọng đến thế; về sự khôn ngoan và phán đoán vững vàng của vị nữ hoàng lừng danh đó; hay về việc bà chẳng thu được lợi lộc gì từ một mưu kế tồi tệ như vậy. Tất cả những điều này có thể làm tôi kinh ngạc; nhưng tôi vẫn sẽ trả lời rằng, sự gian giảo và điên rồ của con người là những hiện tượng phổ biến đến mức, tôi thà tin rằng những sự kiện phi thường nhất nảy sinh từ sự kết hợp của chúng, còn hơn là nhìn nhân một sự vi phạm trắng trợn đối với những quy luật của tự nhiên.[9]

 

E 10. 38, SBN 128-9

Nhưng nếu người ta gán phép lạ này cho bất kỳ hệ thống tôn giáo mới nào; thì con người, ở mọi thời đại, đã bị lừa dối quá nhiều bởi những câu chuyện lố bịch loại đó, đến mức chính hoàn cảnh này sẽ là một bằng chứng đầy đủ về một sự gian trá. Nó đủ để khiến tất cả những người có phán đoán thực tiễn không chỉ bác bỏ sự kiện đó, mà thậm chí bác bỏ nó mà không cần xem xét thêm.

Hữu Thể vốn phép lạ được gán cho, trong trường hợp này, là Đấng Toàn năng, thì không vì lý do đó mà sự kiện trở nên có xác suất xảy ra cao hơn dù chỉ một chút; vì chúng ta không thể nào biết được những thuộc tính hay hành động của một Hữu Thể như vậy, ngoại trừ từ kinh nghiệm mà chúng ta có về những tạo vật của Ngài trong tiến trình thông thường của tự nhiên.

Điều này vẫn đưa chúng ta trở lại với việc quan sát trong quá khứ, và buộc chúng ta phải so sánh những trường hợp vi phạm sự thật trong lời chứng của con người với những trường hợp vi phạm quy luật tự nhiên bởi những phép lạ, để phán đoán xem trường hợp nào có khả năng xảy ra và có xác suất cao nhất. Vì những sự vi phạm sự thật trong những lời chứng liên quan đến phép lạ tôn giáo phổ biến hơn so với lời chứng về bất kỳ sự kiện thực tế nào khác; điều này hẳn phải làm giảm sút rất nhiều thẩm quyền của loại lời chứng về phép lạ, và khiến chúng ta hình thành và khiến chúng ta hình thành một giải pháp tổng quát, là không bao giờ dành bất kỳ sự chú ý nào cho nó, bất kể nó được che đậy bằng bất kỳ sự ngụy trang có vẻ chính đáng nào.

 

E 10. 39, SBN 129

Lord Bacon dường như cũng đã chấp nhận những nguyên tắc lập luận tương tự. Ông nói rằng, chúng ta nên thực hiện một bộ sưu tập hay một lịch sử riêng biệt về tất cả những quái vật, những sự sinh nở hay tạo vật kỳ diệu,, và tóm lại là về mọi thứ mới mẻ, hiếm có và phi thường trong tự nhiên. Nhưng việc này phải được thực hiện với sự kiểm tra khắt khe nhất, kẻo chúng ta xa rời sự thật. Trên hết, chúng ta phải xem mọi lời kể là đáng nghi nếu chúng có bất kỳ liên hệ nào với tôn giáo, chẳng hạn như những chuyện kỳ quái của Livy; và cũng đáng nghi không kém là mọi thứ tìm thấy trong những tác giả viết về ma thuật tự nhiên hay thuật giả kim, hoặc những tác giả tương tự, vốn dĩ tất cả nnhuwngx người này dường như đều có một sự ham thích không thể chế ngự đối với sự giả dối và hoang đường. [27]. [10]

 

E 10. 40, SBN 129-30

Tôi càng hài lòng hơn với phương pháp lập luận này, vì tôi nghĩ nó có thể làm ngượng mặt những người bạn gây họa hoặc những kẻ thù ẩn mình của đạo Kitô — những kẻ đã tự phụ muốn bảo vệ tôn giáo này bằng các nguyên tắc của lý trí con người. [11]

Tôn giáo được xây dựng trên “Đức Tin”, chứ không phải trên lý trí; [12] và cách chắc chắn để vạch trần nó là đặt nó vào một thử thách mà nó hoàn toàn không đủ sức chịu đựng. Để làm rõ điều này hơn nữa, chúng ta hãy xem xét những phép lạ được thuật lại trong Kinh thánh; và để không lạc lối trong một phạm vi quá rộng, chúng ta hãy giới hạn mình trong những phép lạ mà chúng ta tìm thấy trong Ngũ Kinh [13] , mà chúng ta sẽ xem xét, theo nguyên tắc của những người tự xưng là người Kitô này, không phải như lời nói hay chứng ngôn của chính Đức Chúa Trời, mà chỉ là sản phẩm của một nhà văn và nhà sử học phàm trần.

Ở đây khi đó, trước hết ta phải xem xét một quyển sách được trình ra bởi một dân tộc cổ xưa còn lạc hậu, được viết vào cái thời mà họ còn mông muội hơn thế nữa, và nhiều khả năng là được viết rất lâu sau những sự việc mà nó thuật lại; một quyển sách không có bất kỳ minh chứng nào đồng xác nhận, và chẳng khác gì những câu chuyện thần thoại mà mỗi dân tộc thường thêu dệt về nguồn gốc của mình.

Khi đọc quyển sách này, chúng ta thấy nó đầy rẫy những điềm quái dị và phép lạ. Nó mô tả một trạng thái của thế giới và bản chất con người hoàn toàn khác với hiện tại: về sự sa ngã của chúng ta khỏi trạng thái đó; về tuổi thọ của con người kéo dài gần một nghìn năm; về sự hủy diệt thế giới bởi một trận đại hồng thủy; về sự tùy tiện lựa chọn một dân tộc làm những người được ‘chọn lựa’ ưu ái (dân được Chúa chọn / Am Nivchar), và dân tộc đó lại chính là đồng hương của tác giả; về sự giải thoát của họ khỏi ách nô lệ bằng những điềm quái dị đáng kinh ngạc nhất có thể tưởng tượng được. [14]

 

E 10. 41, SBN 130-1

Những gì chúng ta đã nói về phép lạ có thể được áp dụng, không có bất kỳ thay đổi nào, cho những lời tiên tri; và thực sự, tất cả những lời tiên tri đều là phép lạ thực sự, và chỉ như vậy, mới có thể được nhìn nhận là bằng chứng của bất kỳ sự vén lên cho thấy huyền bí nào. Nếu nó không vượt quá quyền năng của bản chất con người để báo trước những sự kiện tương lai, thì thật vô lý khi dùng bất kỳ lời tiên tri nào làm lập luận cho một sứ mệnh hay thẩm quyền thiêng liêng từ thiên đường. Vì vậy, nhìn chung, chúng ta có thể kết luận rằng, đạo Kitô không chỉ ban đầu được chứng kiến bởi những phép lạ, vốn ngay cả ngày nay cũng không thể được bất kỳ người có lý trí nào tin nếu không có một phép lạ. Lý trí đơn thuần là không đủ để thuyết phục chúng ta về tính xác thực của nó: Và bất cứ ai được Lòng tin tôn giáo thúc đẩy để chấp nhận nó, đều ý thức được một phép lạ liên tục trong chính con người mình, điều này lật đổ tất cả những nguyên lý hiểu biết của người này, và cho người này quyết tâm tin vào điều trái ngược nhất với Thói quen và kinh nghiệm. [15]

 

 

 

Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ hai

(Mar/2026

(Còn tiếp... →)

 

http://chuyendaudau.blogspot.com/

http://chuyendaudau.wordpress.com

 



[1] Proof = minh chứng

[2] Tully (Cicero) và Demosthenes: Hai nhà hùng biện vĩ đại nhất thời cổ đại (Rome và Hy Lạp), tiêu biểu cho nghệ thuật thuyết phục bằng trí tuệ và lý trí đỉnh cao. Tu sĩ dòng Capuchin: Một dòng tu Kito Rôma nổi tiếng với lối sống khổ hạnh và cách thuyết giáo bình dân, đại diện cho việc tác động vào cảm xúc và đức tin của tầng lớp lao động nghèo. Những bậc thầy hùng biện dùng lý lẽ cũng khó lay chuyển được người tỉnh táo, nhưng những kẻ thuyết giáo đánh vào nỗi sợ và sự mê muội thì dễ dàng điều khiển được đại chúng.

[3] Alexander ngườithành Abonoteichus: Kẻ bịp bợm lừng danh thế kỷ 2, lập ra giáo phái thờ thần rắn giả Glycon để bán những lời tiên tri trục lợi. Lucian xứ Samosata: Nhà văn châm biếm Hy Lạp, người viết bài ký vạch trần những mánh khóe của Alexander; nếu không có ông, hậu thế có lẽ đã tin kẻ lừa đảo này là một vị thánh. Marcus Aurelius: Hoàng đế Rome và triết gia Stoics hiền triết, nhưng vẫn bị Alexander mê hoặc trong cuộc chiến với bộ tộc Marcomanni. Nghe theo lời nhà tiên tri, ông ném hai con sư tử xuống sông Danube để cầu thắng nhưng lại chuốc lấy thảm bại với 20. 000 binh sĩ tử trận. Alexander sau đó ngụy biện rằng lời tiên tri về “một chiến thắng lớn” của hắn không chỉ rõ là chiến thắng cho bên nào. Paphlagonia: Một vùng xa xôi hẻo lánh, dân trí thấp ở Tiểu Á (Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay).

[4] Trích từ bộ sử Histories (Quyển IV, Chương 81) của sử gia La Mã Tacitus.

[5] Câu chuyện “phép lạ” về một người giữ cửa nhà thờ có một chân bị cụt nhưng “mọc” lại, ở Saragossa không phải là những đồn đại vô căn cứ. Sự kiện này được ghi chép trực tiếp trong hồi ký của Hồng y De Retz (Mémoires du cardinal de Retz), cụ thể là phần thuật lại quãng thời gian ông lưu vong tại Tây Ban Nha vào khoảng năm 1654. Đây là một tài liệu lịch sử có thực, giúp thí dụ của Hume trở nên khả tín và có thể truy cứu xác thực. Sự việc diễn ra tại Nhà thờ lớn ở Saragossa (Zaragoza), thủ phủ vùng Aragon, Tây Ban Nha—một địa điểm nổi tiếng với lòng sùng kính đức tin mãnh liệt. Câu chuyện về người giữ cửa mọc lại chân dựa trên một truyền thuyết địa phương có thật, thường được biết đến trong sử liệu tôn giáo là “Phép lạ xứ Calanda”. David Hume viện dẫn trường hợp này như một minh chứng lý tưởng cho sự hoài nghi: dù người kể chuyện có trí tuệ bậc thầy, nhân chứng đông đảo và sự việc được cho là khó lòng giả mạo, nhưng bản chất phi lý của nó vẫn không thể thuyết phục được một tâm trí duy lý. Thay vì cố gắng bóc tách từng lời khai gian trá, De Retz đã chọn thái độ của một nhà lý luận công bằng: ông coi những sự việc trái ngược hoàn toàn với quy luật tự nhiên như vậy là một đề tài để chế giễu hơn là một đề tài tranh luận nghiêm ttrang.

[6] Abbé Paris (1690–1727) là một thầy phó tế thuộc phái Jansen — một nhánh bị vvu chiên và dòng Jesuits kết án là rối đạo. Sau khi ông mất, tại nghĩa trang Saint-Médard ở Paris, hàng loạt câu chuyện về người mù được sáng mắt, người què đi lại được bắt đầu lan ra, kéo theo một làn sóng sùng bái cuồng nhiệt. Hume chọn thí dụ này vì nó đẩy lý luận của ông đến chỗ khó chịu nhất: đây không phải chuyện hoang đường từ thời xa xưa, mà xảy ra giữa ban ngày, tại một trong những trung tâm tri thức lớn nhất châu Âu, được những người có uy tín xác nhận, và ngay cả Dòng Tên — vốn là đối thủ gót học của phái Jansen, có đủ lý do để vạch trần — cũng không tìm được bằng chứng gian lận nào. Nhưng Hume vẫn bác bỏ.. Và đó chính là điểm ông muốn giúp chúng ta đi tới  khi một sự việc đi ngược lại quy luật tự nhiên, thì dù lời chứng có vững đến đâu, người có lý trí vẫn phải hỏi — điều nào có khả năng hơn: quy luật tự nhiên bị phá vỡ, hay người làm chứng đã nhầm?

[7] Trận Philippi và Pharsalia — hai trận đánh có thật, có thể kiểm chứng, được ghi lại bởi nhiều phía độc lập. Hume dùng chúng như chuẩn mực của lời chứng đáng tin: sự kiện lịch sử cụ thể, không ai được lợi gì khi bịa ra, và những nguồn không mâu thuẫn nhau về những gì thực sự xảy ra.

Herodotus và Plutarch — hai sử gia lớn của Hy Lạp và La Mã. Hume không phủ nhận tài năng của họ, nhưng cho thấy rằng ngay cả trong những tác phẩm của những người này cũng đầy phép lạ và chuyện thần linh — nghĩa là ngay cả người viết giỏi nhất cũng không thoát khỏi thói quen của thời đại mình.

Mariana — Juan de Mariana, tu sĩ Dòng Jesuits người Tây Ban Nha, tác giả bộ sử lớn về Tây Ban Nha, nổi tiếng là lồng vào đó vô số chuyện phép lạ và sự can thiệp của Chúa.

Bede — tu sĩ người Anh thế kỷ thứ 8, được gọi là “cha đẻ của sử học Anh”, nhưng tác phẩm của ông chứa đầy những câu chuyện về thánh nhân và phép lạ được kể lại như sự thật lịch sử.

[8] Sự Triệt tiêu của Tôn giáo Dân gian trước Tòa án Lý trí: Lập luận của Hume về phép lạ không chỉ đơn thuần là sự hoài nghi, mà là một nhát dao chí mạng nhắm vào nền tảng của những tôn giáo dân gian. Theo ông, ‘lòng tin’không phải là sự phó thác mù quáng, mà là kết quả của một phép toán xác suất dựa trên kinh nghiệm. Khi một tôn giáo dân gian được xây dựng trên những phép lạ—tức là những sự việc vi phạm quy luật tự nhiên—nó tự đặt mình vào một thế đối đầu không cân sức. Hume thực hiện một “phép trừ” nghiệt ngã: Ông lấy trọng lượng của lời chứng từ con người trừ đi trọng lượng của kinh nghiệm về quy luật tự nhiên. Quy luật tự nhiên (như lửa thì nóng, vật nặng thì rơi) vốn là những trải nghiệm bất biến, được bảo chứng bởi sự lặp đi lặp lại của toàn nhân loại qua hàng ngàn năm, do đó chúng mang giá trị tuyệt đối. Trong khi đó, lời chứng của con người về những sự kiện siêu nhiên lại luôn đi kèm với khả năng sai lầm, sự cuồng tín hoặc mưu đồ lừa dối. Khi lấy cái tuyệt đối của tự nhiên trừ đi cái mong manh của lời kể, kết quả cuối cùng đối với những tôn giáo này luôn là con số không. Sự “triệt tiêu hoàn toàn” (annihilation) mà Hume đề cập chính là cái chết về mặt logic: Một tôn giáo dân gian sẽ hoàn toàn tan biến khi nó cố gắng dùng những lời thuật kể bất toàn để chống lại sự vĩnh cửu của quy luật tự nhiên. Theo hệ thống này, phép lạ không bao giờ có thể trở thành một nền tảng chính đáng (just foundation), bởi lẽ không một lời chứng nào của con người đủ sức nặng để làm lung lay những gì mà tự nhiên đã đóng đinh thành chân lý.

[9] Sự khác biệt giữa “Bóng tối tám ngày” và “Nữ hoàng sống lại”:  Hume đưa ra hai thí dụ này để vạch ra ranh giới giữa điều phi thường có thể tin và phép lạ không thể tin.Với hiện tượng tám ngày bóng tối, Hume chấp nhận lời chứng của con người vì nó mang tính chất của một biến cố vật lý. Dù chưa từng xảy ra, nó vẫn có thể được coi là một dạng “bệnh lý” hay một sự suy tàn của vũ trụ—điều mà chúng ta có thể suy luận được qua sự suy tàn thông thường của vạn vật. Vì nó không phá vỡ hoàn toàn logic tự nhiên, những nhà khoa học có thể tin vào lời kể để đi tìm nguyên nhân vật lý. Ngược lại, với câu chuyện Nữ hoàng sống lại, Hume bác bỏ hoàn toàn dù lời chứng có hùng hồn đến đâu. Việc người chết hồi sinh vi phạm trực tiếp và trắng trợn quy luật sinh học cơ bản nhất. Trong trường hợp này, Hume thiết lập một nguyên tắc ưu tiên: sự lừa dối và điên rồ của con người là hiện tượng xảy ra hàng ngày, trong khi phép lạ thì không. Vì vậy, việc tin rằng có một âm mưu lừa đảo tinh vi luôn hợp lý hơn là tin vào một sự kiện vi phạm quy luật tự nhiên. Qua đó, Hume kết luận rằng lời chứng của con người chỉ có giá trị với những hiện tượng tự nhiên hiếm gặp, nhưng hoàn toàn vô giá trị khi dùng để chứng minh những phép lạ làm nền tảng cho tôn giáo.

[10] Ý tưởng mà David Hume nhắc tới thực chất nằm trong tác phẩm quan trọng nhất của Francis Bacon mang tên “Novum Organum” (Phương pháp luận mới), xuất bản năm 1620. Cụ thể, Hume đã trích dẫn gần như nguyên văn ý tưởng của Bacon từ Quyển II, Châm ngôn XXIX (Book II, Aphorism XXIX) của tác phẩm này. Trong đoạn này, Bacon đang bàn về “Lịch sử tự nhiên” (Natural History)—một bộ sưu tập những sự kiện thực tế để làm nền tảng cho khoa học. Ông đề nghị: (a) Sưu tập những điều kỳ lạ: Cần ghi chép lại những “vật dị hình” (monsters) và những hiện tượng phi thường của tự nhiên để hiểu rõ ranh giới của những quy luật. (b) Sự hoài nghi cần thiết: Bacon nhấn mạnh phải kiểm tra cực kỳ khắt khe (rigorous selection), đặc biệt cảnh giác với những chuyện dựa trên mê tín và tôn giáo

Livy (Titus Livius) là một sử gia La Mã nổi tiếng với bộ sách lịch sử đồ sộ về Roma. Tuy nhiên, trong những tác phẩm này, ông thường ghi lại những “prodigies” (những sự kiện kỳ quái, điềm báo thần thánh) như bò biết nói, mưa máu, hay những pho tượng đổ mồ hôi.

[11] Làm ngượng mặt những “người bạn gây họa”: Vì họ tưởng mình đang giúp đạo, nhưng thực chất đang mang “xăng” (lý trí) đến dập “lửa” (phép lạ), kết quả là tự thiêu trụi nền móng của chính mình. Làm ngượng mặt những “kẻ thù ẩn mình”: Hume cho thấy những kẻ này thường hèn nhát, không dám công khai nhận là “vô thần” nhưng cứ núp bóng lý trí để công kích. Hume chứng minh rằng phương pháp luận của ông (Xác suất và Quy luật tự nhiên) mới là “vũ khí tối thượng”. Những lập luận trước đây của những kẻ thù này chỉ là vụn vặt và chưa đủ tầm.Cái bẫy mỉa mai: Hume giả vờ nói: “Tôn giáo là đức tin thiêng liêng, đừng dùng lý trí phàm trần mà chạm vào”. Câu này khiến kẻ thù ẩn mình ngượng mặt vì họ nhận ra Hume đang dùng chính “sự tôn kính giả tạo” để tiêu diệt tôn giáo một cách triệt để hơn cả họ.Chốt lại: Hume khiến cả hai phe đều cảm thấy mình “tự phụ” và “sai lầm”. Ông đứng ở một vị thế cao hơn, dùng sự tỉnh táo tuyệt đối để soi xét cả những người tin lẫn những người chống đối. Câu này có thể hiểu như sau = (Tôi càng hài lòng hơn với phương pháp lập luận này, vì nó có thể làm ngượng mặt cả những người bạn gây họa lẫn những kẻ thù ẩn mình của đạo Kitô. Nó làm bẽ mặt những ‘người bạn’ vì họ đã tự phụ khi dùng lý trí để bảo vệ một thứ vốn chỉ dựa trên đức tin; và nó cũng làm hổ thẹn những ‘kẻ thù ẩn mình’ khi bóc trần rằng: nếu họ cũng dùng lý trí một cách hời hợt để bài bác tôn giáo, thì họ cũng chẳng khôn ngoan hơn đối thủ của mình là bao)

[12] Trong triết học và gót học (đặc biệt là với Hume), Faith (Đức tin) Belief (Tin tưởng) có những ranh giới rất khác biệt. Hume sử dụng từ Faith ở đây với một sắc thái mỉa mai nhưng chính xác về mặt định nghĩa. Dưới đây là sự khác biệt then chốt:

1. Belief (Tin tưởng/Sự tin tưởng) - Dựa trên Bằng chứng > Bản chất: Là một trạng thái tâm lý chấp nhận một điều gì đó là đúng dựa trên kinh nghiệm và xác suất. > Cơ chế: Nếu bạn thấy mặt trời mọc mỗi sáng, bạn có “belief” rằng mai nó sẽ lại mọc. Tin tưởng này có thể thay đổi hoặc lung lay nếu có bằng chứng ngược lại.> Hume nói: “Belief” là kết quả của thói quen và sự quan sát những quy luật tự nhiên. Nó thuộc về địa hạt của Lý trí.

2. Faith (Đức tin) - Vượt lên trên Bằng chứng (hoặc Chống lại Bằng chứng) > Bản chất: Là một sự cam kết tuyệt đối, một sự “phó thác” tâm linh mà không cần bằng chứng khách quan, thậm chí là tin ngay cả khi vào những bằng chứng chống lại bằng chứng khách quan . Khái niệm Faith (Đức tin) mà Hume mỉa mai ở thế kỷ 18 chính là tiền đề để Søren Kierkegaard (thế kỷ 19) xây dựng nên khái niệm nổi tiếng: Bước nhảy của Đức tin (Leap of Faith).  Hume dùng lý trí để soi xét phép lạ và thấy một vực thẳm của sự phi lý.Ông mỉa mai rằng: Để tin vào tôn giáo, một người phải thực hiện một “phép lạ” trong chính tâm trí mình để chối bỏ mọi bằng chứng khách quan. Đối với Hume, đây là hành động làm ngượng mặt trí tuệ con người. Nếu bạn phải “nhảy” qua lý trí để tin, thì niềm tin đó không có giá trị sự thật. Kierkegaard thừa nhận Hume đúng: Đức tin là phi lý trí (The Absurd). Nhưng ông đảo ngược kết luận: Ông cho rằng lý trí chỉ đưa con người đến sự lạnh lẽo và tuyệt vọng. Bước nhảy của Đức tin: Khi lý trí đã đi đến tận cùng bờ vực và thấy sự phi lý (như những phép lạ trong Ngũ Thư), con người không dừng lại mà quyết định “nhảy” vào sự phó thác tuyệt đối cho Gót. Với Kierkegaard, Đức tin không phải là một phép toán (như Hume nghĩ), mà là một sự dấn thân cá nhân đầy đau đớn và dũng cảm. Những tín đồ tôn giáo tin không phải vì lý trí, mà là bất chấp lý trí. > Cơ chế: Khi Hume nói tôn giáo dựa trên “Faith”, ông muốn nói rằng nó đòi hỏi con người phải tin vào những điều vi phạm quy luật tự nhiên (phép lạ) – những điều mà “Belief” thông thường sẽ bác bỏ.> Hume mỉa mai: Với ông, “Faith” không phải là một dạng lý luận cao siêu, mà là một sự “ngừng hoạt động” của lý trí. Ông cho rằng để có “Faith”, con người phải trải qua một “phép lạ” trong chính tâm trí mình để có thể tin vào những điều phi lý.\

Kết luận của Hume:

Khi ông nói Kitô giáo dựa trên Faith, ông đang đẩy những người bảo vệ tôn giáo vào thế bí:

  1. Nếu những bạn nói tôn giáo là Lý trí (Belief), tôi dùng toán xác suất để chứng minh những bạn sai.
  2. Nếu những bạn nói tôn giáo là Đức tin (Faith), thì những bạn phải thừa nhận nó phi lý trí.

Ở đây, Hume lại dùng từ “Faith” như một “nhát dao” chí mạng nhắm vào những người cố gắng dùng logic để bảo vệ tôn giáo. Trong chương “Will Religious Faith Survive?” (Liệu đức tin tôn giáo có tồn tại?) thuộc tác phẩm “Human Society in Ethics and Politics” (Xã hội loài người trong Đạo đức và Chính trị, 1954), Bertrand Russell đã đưa ra một định nghĩa về Faith (Đức tin) cực kỳ sắc bén, tiếp nối tinh thần hoài nghi của Hume nhưng nhấn mạnh vào tính thực tiễn và đạo đức:

“Chúng ta có thể định nghĩa ‘đức tin’ là việc tin vào một điều gì đó mà không có bằng chứng, hoặc thậm chí là tin vào một điều trái ngược với bằng chứng.”

Russell làm rõ sự “nguy hiểm” của Đức tin qua 3 góc độ cốt lõi: (a) Sự sụp đổ của chuẩn mực chân lý: Russell cho rằng khi xã hội coi Đức tin (tin không cần bằng chứng) là một đức hạnh, chúng ta đang cổ xúy cho việc ngừng tư duy. Nếu một người chấp nhận tin vào phép lạ chỉ vì sự áp đặt của giáo điều, họ sẽ mất khả năng phản kháng trước những lời dối trá của những kẻ cầm quyền nhân danh thần thánh. (b) Mối liên hệ giữa Đức tin và Sự tàn ác: Russell khẳng định rằng vì Đức tin không dựa trên lý lẽ để thuyết phục, nó buộc phải dùng đến vũ lực. Khi hai người có hai “đức tin” mâu thuẫn mà không có bằng chứng khách quan làm trọng tài, họ chỉ còn cách tiêu diệt lẫn nhau. Đây chính là cội rễ của sự tàn ác và cuồng tín mà chúng ta thấy trong những cuộc xung đột sắc tộc và tôn giáo (như tại Gaza hay Iran). (b) Sự nô lệ của trí tuệ: Đức tin tạo ra một thái độ phục tùng thay vì tìm tòi. Đối với Russell, “người tự do” phải là người dám nhìn thẳng vào thế giới với mọi sự bất định của nó, thay vì bám víu vào những tin tưởng phi lý để tìm sự an ủi giả tạo.

Nếu Hume dùng toán xác suất để chứng minh Phép lạ là “phi lý”, thì Russell dùng định nghĩa này để cảnh báo rằng Đức tin là “phản đạo đức” vì nó tước bỏ sự trung thực trí tuệ của con người. Trong tiểu luận The Limits of Individualism, Bertrand Russell đã đưa ra một định nghĩa về Faith (Đức tin) cực kỳ sắc bén, tiếp nối tinh thần hoài nghi của Hume nhưng mang đậm tính thực tiễn và đạo đức:

“Đức tin (Faith) là việc tin vào một điều gì đó mà không có bằng chứng, thậm chí là tin vào một điều mà bạn biết rõ là trái ngược với bằng chứng.”

Russell làm rõ sự “nguy hiểm” của Đức tin qua 3 góc độ: (a) Sự sụp đổ của chuẩn mực chân lý: Russell cho rằng khi chúng ta coi Đức tin là một đức hạnh, chúng ta đang cổ xúy cho việc ngừng tư duy. Nếu một người có thể tin vào phép lạ mà không cần bằng chứng, họ cũng có thể tin vào bất kỳ lời nói dối nào từ những kẻ cầm quyền nhân danh thần thánh. (b) Đức tin và Sự tàn ác: Giống như Hume ám chỉ về sự “tùy tiện” của một dân tộc được chọn, Russell khẳng định rằng khi Đức tin không dựa trên bằng chứng khách quan, nó trở nên cực đoan. Vì không thể dùng lý lẽ để thuyết phục người khác, những người có “Đức tin” thường dùng vũ lực hoặc sự đàn áp để ép buộc người khác phải tin theo. (c) Tấm khiên chắn của nỗi sợ: Russell tin rằng Đức tin chỉ là một “chiếc khiên” che đậy nỗi sợ sự thật. Việc “phó thác” vào một điều phi lý giúp con người cảm thấy an toàn tạm thời, nhưng cái giá phải trả là sự nô lệ về trí tuệ.

Sự kết nối giữa Hume và Russell: Hume: Dùng logic để chứng minh Đức tin là phi lý trí (irrational). Russell: Dùng đạo đức học để chứng minh Đức tin là độc hại (harmful) nếu nó từ chối bằng chứng thực tại.

Lời kết của Russell cho “Giải pháp tổng quát”: Ông cho rằng một xã hội văn minh không cần “Đức tin” vào những điềm quái dị, mà cần sự tin cậy (Belief/Trust) dựa trên sự thật và lòng trắc ẩn. Thay vì đặt tay lên ngực để thề thốt vào một cuốn sách cổ, Russell muốn chúng ta nhìn thẳng vào mắt nhau và thừa nhận rằng thế giới này đầy bất định, và lý trí là công cụ duy nhất để chúng ta cùng tồn tại.

[13] Pentateuch vẫn dịch là Ngũ Thư.Đây là thuật ngữ dùng để chỉ năm quyển sách đầu tiên của Kinh Thánh Hebrew (Do Thái giáo gọi là Torah) và Cựu Ước của Kitô giáo. Tác giả truyền thống: Thường được gán cho ngôn sứ Môi-se (Moses), nên còn gọi là “Năm sách của Môi-se”.Thành phần: Gồm 5 sách theo thứ tự:Sáng Thế Ký (Genesis): Kể về khởi đầu của thế giới và nhân loại.Xuất Hành Ký (Exodus): Kể về cuộc giải thoát dân Israel khỏi ách nô lệ Ai Cập.Lê-vi Ký (Leviticus): Các bộ luật về tế tự và đời sống thánh khiết.Dân Số Ký (Numbers): Hành trình của dân Israel trong hoang địa.Phục Truyền Luật Lệ Ký (Deuteronomy) hay Đệ Nhị Luật: Những lời di huấn cuối cùng của Môi-se và sự nhắc lại luật pháp.

[14] Hume liệt kê những sự kiện cốt lõi trong 5 cuốn đầu của Kinh Thánh) để cho thấy rằng chúng hoàn toàn xa lạ với kinh nghiệm thực tế của con người:

1. Trạng thái thế giới và bản chất con người hoàn toàn khác hiện tại: Hume nói đến Vườn Địa Đàng. Vườn Eden và sự đứt gãy của thực tại : Khi Hume nhắc đến một trạng thái thế giới “hoàn toàn khác biệt với hiện tại”, ông đang chất vấn về tính xác thực của Vườn Eden dưới góc độ một địa điểm lịch sử. Theo sách Sáng Thế Ký (Genesis 2), Eden không phải là một cõi mộng ảo mà là một địa danh vật lý có thật trên Trái Đất, được xác định nằm tại Trung Đông, gần khu vực Lưỡng Hà (Mesopotamia) thuộc Iraq, Thổ Nhĩ Kỳ hoặc Iran ngày nay, nơi có bốn dòng sông lớn chảy qua, bao gồm cả sông Tigris và Euphrates. Tuy nhiên, Hume cho thấy một nghịch lý: Nếu Eden nằm ngay trên trần gian này, tại cùng một tọa độ địa lý mà con người vẫn đang sinh sống, thì tại sao bản chất của nó lại hoàn toàn đối nghịch với mọi quy luật tự nhiên mà nhân loại từng trải nghiệm? Kinh Thánh mô tả một nơi mà con người bất tử và không phải lao động, trong khi thực tế nghiệt ngã tại chính vùng đất đó — cũng như mọi nơi khác trên hành cầu — là con người buộc phải làm lụng mới có ăn và ai cũng phải chết.

Đối với Hume, sự đứt gãy quá lớn giữa mô tả thiêng liêng và kinh nghiệm thực tế khiến Eden không thể là một thực tế lịch sử. Ông coi đó là một “điềm quái dị” — một trạng thái giả tưởng vi phạm mọi quy luật tự nhiên. Thay vì chấp nhận đó là một địa danh có thật, Hume xem Eden là một sản phẩm hư cấu được thêu dệt nên để đối lập với thực tại, nhằm xoa dịu nỗi đau của kiếp người bằng một ảo ảnh về một quá khứ huy hoàng đã mất.

2. Sự sa ngã của chúng ta: Nhắc đến sự kiện Adam và Eve ăn trái cấm. Hume mỉa mai ý tưởng cho rằng chỉ vì một hành động của tổ tiên mà toàn bộ bản chất con người bị thay đổi từ bất tử thành phải chết và mang “tội tổ tông”.

Sự Sa Ngã – Một “phép lạ” của sự phi lý

Hume mỉa mai sự kiện Adam và Eve ăn trái cấm không chỉ như một câu chuyện cổ, mà như một sự đảo lộn logic khủng khiếp. Ông cho thấy một sự phi lý đến mức trở thành phép lạ: Làm sao một hành động đơn lẻ, nhỏ nhặt của một cặp đôi tổ tiên lại có sức mạnh xoay chuyển toàn bộ cấu trúc sinh học và định mệnh của hàng tỷ con người sau này?

Đối với Hume, việc bản chất con người bị biến đổi đột ngột từ bất tử sang phải chết, và gánh chịu cái gọi là “tội tổ tông” chỉ vì một miếng ăn, là một sự vi phạm quy luật tự nhiên còn chấn động hơn cả việc rẽ đôi mặt nước. Ông coi đây là một loại “phép lạ nghịch đảo”: thay vì một hành động thần thánh cứu rỗi, thì đây là một sự kiện siêu nhiên được thêu dệt để đổ lỗi cho thực tại nghiệt ngã.

Qua cái nhìn duy nghiệm, Hume cho rằng sự phi lý này chỉ phục vụ một mục đích duy nhất: tạo ra một lý do mang màu sắc thần thoại để giải thích tại sao thế giới hiện tại lại đầy rẫy khổ đau và cái chết, thay vì thừa nhận đó vốn là bản chất nguyên thủy của tự nhiên.

3. Tuổi thọ kéo dài gần một nghìn năm: Trong sách Sáng Thế Ký, những nhân vật thời kỳ đầu được kể là sống rất thọ (thí dụ: Methuselah sống 969 tuổi). Hume coi đây là một điềm quái dị về sinh học, vì mọi kinh nghiệm nhân loại đều cho thấy không ai sống quá 120-150 tuổi.

4. Sự hủy diệt thế giới bởi một trận đại hồng thủy: Nhắc đến Con tàu Noah. Hume nghi ngờ tính xác thực của việc một trận lụt nhấn chìm toàn bộ trái đất (kể cả những đỉnh núi cao nhất) và toàn bộ sinh vật bị tiêu diệt trừ những con vật trên một chiếc tàu.

Trận Đại Hồng Thủy – Phép lạ hủy diệt và sự phi lý về sinh học

Hume xem câu chuyện về Con tàu Noah là một trong những điềm quái dị khó chấp nhận nhất trong Ngũ Thư. Ông đặt ra một nghi vấn lớn về tính thực chứng: Làm sao một trận lụt có thể nhấn chìm toàn bộ Trái Đất, vượt qua cả những đỉnh núi cao nhất, rồi sau đó biến mất không dấu vết?

Sự phi lý này đạt đến đỉnh cao khi xét về mặt sinh học: Ý tưởng cho rằng toàn bộ sự đa dạng của muôn loài trên hành tinh có thể được thu nhỏ và bảo tồn chỉ trên một chiếc tàu duy nhất, để rồi từ đó tái lập lại toàn bộ hệ sinh thái, là một điều không tưởng đối với một nhà duy nghiệm.

Lập luận của Hume ở đây đã mở đường cho tư tưởng khoa học hiện đại, mà đỉnh cao sau này là Charles Darwin với tác phẩm Nguồn gốc những loài (The Origin of Species). Thay vì tin vào một phép lạ hủy diệt và tái tạo tức thời mang tính thần thoại, Darwin đã chứng minh rằng sự đa dạng của sinh giới là kết quả của một quá trình tiến hóa chậm chạp, tự nhiên qua hàng triệu năm. Đối với Hume, trận Đại Hồng Thủy không phải là lịch sử, mà là một sự vi phạm trắng trợn quy luật địa chất và sinh học—một câu chuyện phi lý đến mức chỉ có thể tồn tại trong đức tin chứ không bao giờ có chỗ trong lý trí.

5. Sự tùy tiện lựa chọn một dân tộc (Dân được Chúa chọn - Am Nivchar): Hume tấn công vào tính cục bộ của tôn giáo. Ông cho thấy sự “trùng hợp” nực cười: Tác giả quyển sách kể rằng Chúa đã chọn đúng dân tộc của chính ông ta để ưu ái. Theo Hume, đây là biểu hiện điển hình của việc thêu dệt để tôn vinh dân tộc mình.

Sự tùy tiện lựa chọn một dân tộc (Dân được Chúa chọn - Am Nivchar): Hume tấn công vào tính cục bộ của tôn giáo. Ông cho thấy sự “trùng hợp” nực cười: Tác giả quyển sách kể rằng Chúa đã chọn đúng dân tộc của chính ông ta để ưu ái. Theo Hume, đây là biểu hiện điển hình của việc thêu dệt để tôn vinh dân tộc mình.

“Dân được Chúa chọn” – Từ sự kiêu ngạo dân tộc đến bi kịch nhân loại

David Hume coi khái niệm “Dân được Chúa chọn” (Am Nivchar) là đỉnh cao của sự phi lý và giả dối trong Ngũ Thư. Ông vạch trần một sự “trùng hợp” nực cười mang tính tâm lý: Tác giả quyển sách kể rằng Đấng Tối cao đã chọn đúng dân tộc của chính ông ta để ban đặc ân. Hume lập luận rằng đây không phải là một sự thật thiêng liêng, mà là một biểu hiện điển hình của tính cục bộ dân tộc: con người luôn có xu hướng thêu dệt nên những huyền thoại siêu nhiên để tự tôn vinh và hợp thức hóa quyền lợi của nhóm mình.

Sự phi lý này, theo Hume, đã dẫn đến những tác hại khôn lường cho xã hội và đạo đức khi tôn giáo bị thao túng bởi những đam mê cực đoan. Trong lịch sử, những bạo chúa thường lợi dụng tin tưởng có gốc tôn giáo “được chọn” này như một công cụ chính trị để củng cố quyền lực và đàn áp những người khác biệt.

Đáng buồn thay, tư tưởng “đặc quyền thiêng liêng” này vẫn đang để lại những tttooij ác đẫm máu trong thế giới hiện đại. Khi một dân tộc tin rằng mình có quyền lợi tối thượng được ban phát từ Gót, họ dễ dàng rơi vào cái bẫy của sự tàn ác: (a)  Palestine và sự đối đầu giữa Judaism với Islam: Xung đột tại Gaza không chỉ là cuộc tranh chấp địa giới mà là sự va chạm trực diện giữa hai hệ thống tâm thức tôn giáo sâu xa. Một bên là chủ thuyết Judaism cực đoan, nơi khái niệm “Đất Hứa” (Eretz Yisrael) được coi là một khế ước thần thánh không thể chuyển nhượng, biến quyền sở hữu đất đai thành một mệnh lệnh tôn giáo tuyệt đối. Đối diện là niềm xác tín của thế giới Islam về tính thiêng liêng của vùng đất Palestine như một phần không thể tách rời của di sản Hồi giáo (Waqf). Khi lòng cuồng tín hóa thân vào chính sách thực dân, những biện pháp giam giữ và tàn sát không còn bị phán xét bởi lý trí nhân bản nhưng được biện minh như một cuộc “thanh tẩy” để thực thi ý chí tâm linh, đẩy hàng triệu người vào thảm kịch diệt chủng dưới danh nghĩa bảo vệ đức tin.

(b) Iran và cuộc đụng độ giữa diễn ngôn Christian-Zionism với cách mạng Islam: Cuộc bao vây và đe dọa hủy diệt Iran mang đậm dấu ấn của sự đối đầu giữa khối Christian-Zionism (Cơ đốc giáo phục quốc) phương Tây và Islam chính thống (Shia). Phía Mỹ và đồng minh thường sử dụng những diễn ngôn mang tính mạt thế, coi Iran là một phần của “trục ác quỷ” cần phải bị khuất phục để chuẩn bị cho một trật tự thế giới mới. Ngược lại, Iran tự định vị mình là thể chế “thay mặt Thần quyền” chống lại sự báng bổ của phương Tây. Sự bao vây kinh tế và tàn phá quân sự hiện nay không chỉ nhắm vào hạ tầng vật chất mà còn là nỗ lực bẻ gãy một biểu tượng văn minh Hồi giáo đang thách thức trật tự quyền lực dựa trên hệ giá trị Do Thái - Cơ đốc giáo (Judeo-Christian).

Khi đức tin trở thành vũ khí: Đúng như Bertrand Russell từng nhận định, nỗi sợ hãi và sự kiêu ngạo là “cha đẻ” của những xác tín tôn giáo phi lý. Trong bối cảnh này, những truyền thống tôn giáo lớn (Judaism, Christianity, Islam) đang bị công cụ hóa để lấp đầy khoảng trống của lý trí. Khi nỗi sợ về sự “xâm lăng” của kẻ khác đạo trở nên quá lớn, sự kiêu ngạo về sự ưu tuyển của tôn giáo mình sẽ trỗi dậy. Con người trốn chạy vào những hy vọng độc đoán, biến những giáo lý vốn mang tính cứu rỗi thành vũ khí tàn diệt đồng loại. Đức tin lúc này không còn là hành trình tìm kiếm chân lý khách quan, mà trở thành tấm khiên chắn cho sự tàn ác và là liều thuốc độc gây nên những khổ đau không hồi kết cho nhân loại.

6. Thoát khỏi ách nô lệ bằng những điềm quái dị đáng kinh ngạc: Nhắc đến sự kiện Exodus (Dân Do Thái rời Ai Cập). Hume nói đến 10 hiện tượng (như nước sông hóa máu, mưa đá lửa) và việc rẽ đôi Biển Đỏ. Với ông, đây là những sự vi phạm quy luật tự nhiên trắng trợn nhất mà không có bất kỳ bằng chứng lịch sử nào bên ngoài quyển sách đó xác nhận. sự kiện Exodus Cuộc xuất hành và những “điềm quái dị” thách thức quy luật tự nhiên

David Hume nhìn nhận sự kiện Exodus — cuộc đào thoát của dân Do Thái khỏi ách nô lệ tại Ai Cập — là một tập hợp những sự vi phạm quy luật tự nhiên trắng trợn và có hệ thống nhất.

Ông tập trung vào những “điềm quái dị” kinh điển như 10 tai đòn (nước sông Nile hóa máu, mưa đá lửa, bóng tối bao trùm) và đỉnh cao là việc rẽ đôi Biển Đỏ để dòng người đi qua trên đất khô.

Đối với Hume, đây không phải là những sự thật lịch sử mà là những tuyên bố phi thường cần đến những bằng chứng phi thường tương xứng để được chấp nhận. Ông đưa ra hai luận điểm phản biện đanh thép:  (a) Sự thiếu hụt minh chứng khách quan: Hume cho thấy rằng toàn bộ những phép lạ kinh thiên động địa này chỉ được thuật lại trong duy nhất một quyển sách tôn giáo của chính dân tộc được hưởng lợi, mà hoàn toàn không có bất kỳ bằng chứng lịch sử, khảo cổ hay ghi chép nào từ những dân tộc lân bang (đặc biệt là Ai Cập — nạn nhân của những tai đòn) đồng xác nhận tại thời điểm đó. (b) Sức nặng của quy luật tự nhiên: Dựa trên “kinh nghiệm đồng nhất”, chúng ta biết rằng nước luôn chảy theo dòng và biển không bao giờ tự rẽ đôi cho con người đi qua. Với Hume, xác suất để “lời kể của con người bị sai lạc hoặc thêu dệt” luôn cao hơn gấp bội so với xác suất để “các định luật vật lý của vũ trụ bị đình chỉ”. Hume coi những câu chuyện này là minh chứng điển hình cho việc tôn giáo sử dụng những yếu tố kỳ ảo và gây kinh ngạc để lấn át lý trí, biến một sự kiện lịch sử mờ nhạt thành một huyền thoại thiêng liêng nhằm củng cố tin tưởng có gốc tôn giáo về một quyền năng siêu việt.

[15] Theo David Hume, định nghĩa về phép lạ là cốt lõi trong lập luận của ông:  >  Hume = Phép Lạ = Sự Vi Pham Những Qui Luật Của Tự Nhiên  

Định nghĩa của Hume: Ông định nghĩa một phép lạ là “một sự vi phạm những quy luật tự nhiên” (a violation of the laws of nature).

(a)

Tại sao định nghĩa này quan trọng? (a) Quy luật tự nhiên: Được xây dựng dựa trên một “kinh nghiệm đầy đủ và bất biến” (firm and unalterable experience). Thí dụ: Con người ai cũng phải chết, lửa luôn đốt nóng, chì không thể tự bay lơ lửng. (b) Sự vi phạm: Để được gọi là “phép lạ”, sự kiện đó phải là thứ mà toàn bộ kinh nghiệm nhân loại từ trước đến nay khẳng định là không thể xảy ra. Nếu nó chỉ là một sự kiện lạ lùng nhưng vẫn nằm trong quy luật (như một người sống sót sau tai nạn hy hữu), Hume không gọi đó là phép lạ.

Logic triệt tiêu của Hume: (a) Bởi vì một quy luật tự nhiên có xác suất xảy ra là gần như 100% (dựa trên kinh nghiệm dày đặc). (b) Lời chứng về một phép lạ (sự vi phạm quy luật đó) luôn có xác suất thấp hơn (vì con người có thể nhầm lẫn, nói dối hoặc bị lừa). >  (c ) Do đó, khi lấy “Kinh nghiệm về quy luật” trừ đi “Lời chứng về phép lạ”, kết quả luôn nghiêng về phía quy luật tự nhiên.

Với Hume, không có lời chứng nào đủ mạnh để chứng minh một sự vi phạm quy luật tự nhiên, vì bản thân cái quy luật đó đã là bằng chứng hùng hồn nhất chống lại nó rồi.

Hume đã phân biệt rất rõ giữa sự kiện “phi thường” (extraordinary) và sự kiện “phép lạ” (miraculous) dựa trên mối quan hệ của chúng với kinh nghiệm nhân loại. Dưới đây là sự khác biệt then chốt:

Sự kiện Phi thường (Extraordinary/Marvelous): Đây là những sự kiện hiếm gặp hoặc lạ lùng, nhưng không vi phạm quy luật tự nhiên. Đặc điểm: Nó không phù hợp (not conformable) với kinh nghiệm thông thường của một cá nhân hoặc một nhóm người cụ thể, nhưng vẫn có thể giải thích được bằng những quy luật vật lý hoặc những phép tương tự (analogies). Thí dụ của Hume: Một “vị hoàng tử ở vùng khí hậu nóng” chưa từng thấy băng giá. Khi nghe kể rằng nước có thể trở nên cứng và chịu được sức nặng của một con voi, ông ta coi đó là chuyện phi thường. Tuy nhiên, đó không phải là phép lạ vì nước đóng băng vẫn là một quy luật tự nhiên, chỉ là vị hoàng tử đó chưa có trải nghiệm mà thôi. Kết luận: Với sự kiện phi thường, chúng ta cần lời chứng mạnh mẽ hơn để tin, nhưng nó vẫn nằm trong phạm vi có thể tin được.

 Sự kiện Phép lạ (Miraculous): Đây là một sự vi phạm (violation) hoặc băng hoại (transgression) những quy luật tự nhiên. Đặc điểm: Nó mâu thuẫn trực tiếp (contrary) với kinh nghiệm đồng nhất, phổ quát và không thay đổi của toàn nhân loại. Quy luật tự nhiên là thứ đã được bảo chứng bởi hàng tỷ trải nghiệm giống nhau qua mọi thời đại. Thí dụ của Hume: Một người chết rồi sống lại. Hume cho rằng đây là phép lạ vì việc “mọi người chết đều không sống lại” là một kinh nghiệm đồng nhất của nhân loại ở mọi quốc gia và mọi thời đại. Kết luận: Vì phép lạ trái ngược hoàn toàn với “bằng chứng đầy đủ” từ kinh nghiệm, Hume lập luận rằng không có lời chứng nào của con người đủ sức nặng để làm cho nó trở nên đáng tin.

“Phi thường” chỉ là việc chúng ta chưa thấy, còn “Phép lạ” là việc trái ngược với những gì tất cả mọi người đã thấy.

(b)

Hume áp dụng logic này để tấn công vào nền tảng của những tôn giáo (đặc biệt là Kitô giáo thời bấy giờ) qua ba lập luận sắc bén:

1. Phá hủy “Bằng chứng từ Phép lạ”

Các tôn giáo thường dùng phép lạ (như chữa lành người mù, đi trên nước, hồi sinh người chết) để chứng minh nguồn gốc thần thánh của mình. Lập luận của Hume: Nếu phép lạ là nền tảng của tôn giáo, mà phép lạ lại không bao giờ có thể được chứng minh bằng lời kể của con người (như đã phân tích ở trên), thì toàn bộ hệ thống tôn giáo đó mất đi nền tảng chính đáng (just foundation).

2. Sự tự triệt tiêu giữa những tôn giáo (Contradictory Miracles)

Đây là một đòn đánh rất thông minh về mặt logic. Hume cho thấy rằng: Mỗi tôn giáo (Hồi giáo, Công giáo, những tôn giáo cổ đại...) đều tuyên bố mình là đúng nhất dựa trên những phép lạ riêng của họ. Logic: Nếu phép lạ của Tôn giáo A chứng minh Tôn giáo A đúng, thì nó đồng thời phủ nhận Tôn giáo B. Ngược lại, phép lạ của Tôn giáo B cũng phủ nhận Tôn giáo A. Kết quả: những phép lạ của những tôn giáo khác nhau tự tiêu diệt lẫn nhau. Trong một “cuộc chiến” giữa những lời chứng mâu thuẫn, xác suất để bất kỳ bên nào đúng đều trở về bằng không.

3. Bản chất của con người: Sự ham thích điều kỳ ảo

Hume quan sát tâm lý học đám đông và nhận thấy: Con người có xu hướng bẩm sinh là thích những chuyện giật gân, kỳ lạ (wonder and surprise). Sự nhiệt thành tôn giáo thường làm mờ đi lý trí. Một người sùng đạo có thể biết lời kể là sai nhưng vẫn lan truyền nó vì tin rằng mình đang phụng sự thần linh. Vì thế, những lời chứng về tôn giáo dân gian thường xuất phát từ những dân tộc “thiếu văn minh” hoặc trong trạng thái quá khích, khiến chúng hoàn toàn không đáng tin dưới góc độ khoa học.

Kết luận của Hume: Ông không nói thẳng rằng “Gót không tồn tại”, nhưng ông kết luận rằng Đức tin không dựa trên Lý trí. Để tin vào một tôn giáo, một người phải chấp nhận một “phép lạ” ngay trong chính tâm trí họ—đó là tin vào một điều mà tất cả kinh nghiệm và lý trí đều bảo là không thể.

© Phép Lập Luận của David Hume: Tại sao Lời chứng về Phép lạ không thể là Nền tảng của Tôn giáo

Trong nền tảng triết học của David Hume, tin tưởng có gốc tôn giáo không phải là sự phó thác mù quáng nhưng là kết quả của một phép toán logic dựa trên kinh nghiệm. Qua tiểu luận nổi tiếng về phép lạ, Hume đã thiết lập một rào cản lý trí mạnh mẽ với những hệ thống tôn giáo dân gian bằng cách phân tích mối quan hệ giữa lời chứng của con người và quy luật tự nhiên.

1. Định nghĩa về Phép lạ và Quy luật tự nhiên : Hume bắt đầu bằng việc phân biệt rõ giữa sự kiện phi thườngphép lạ. Một sự kiện phi thường có thể hiếm gặp nhưng vẫn nằm trong quy luật vật lý. Ngược lại, phép lạ được ông định nghĩa là một sự vi phạm những quy luật tự nhiên. Quy luật tự nhiên vốn được bảo chứng bởi một kinh nghiệm đầy đủ và bất biến của nhân loại qua hàng ngàn năm (như việc lửa luôn nóng hay mọi người đều phải chết). Vì vậy, một phép lạ, về bản chất, là sự kiện chống lại toàn bộ kho tàng kinh nghiệm của con người.

2. Phép toán về tin tưởng có gốc tôn giáo: Sự triệt tiêu (Annihilation): Hume lập luận rằng lý trí đòi hỏi chúng ta phải điều chỉnh tin tưởng có gốc tôn giáo theo bằng chứng. Khi đối diện với một lời chứng về phép lạ, chúng ta có hai luồng dữ liệu xung đột:

Luồng 1: Kinh nghiệm đồng nhất về quy luật tự nhiên (xác suất gần như tuyệt đối).

Luồng 2: Lời chứng của con người (vốn dễ sai lầm, bị lừa dối hoặc thổi phồng).

Ông đưa ra nguyên tắc: Chúng ta phải lấy sự chắc chắn của quy luật tự nhiên trừ đi độ tin cậy của lời chứng. Với những tôn giáo dân gian, vì lời chứng thường mơ hồ và đầy cảm tính, phép trừ này dẫn đến một sự triệt tiêu hoàn toàn. Trọng lượng của kinh nghiệm thực tế luôn áp đảo lời kể, khiến xác suất của phép lạ trở về bằng không.

3. Phê phán nền tảng tôn giáo: Từ logic này, Hume tấn công trực diện vào những hệ thống tôn giáo. Ông cho thấy rằng những tôn giáo thường dùng phép lạ làm nền tảng chính đáng để chứng minh tính thiêng liêng. Tuy nhiên, nếu không có lời chứng nào đủ mạnh để chứng minh một phép lạ, thì nền tảng đó hoàn toàn sụp đổ. Hơn nữa, ông nhấn mạnh sự tự triệt tiêu giữa những tôn giáo: nếu phép lạ của tôn giáo này được coi là đúng, nó đồng thời phủ nhận phép lạ của tôn giáo kia, khiến tất cả những lời chứng tôn giáo trở nên vô hiệu.

Kết luận: Với Hume, không có lời chứng nào của con người đủ sức nặng để thiết lập một phép lạ như một nền tảng cho tôn giáo. Ông kết luận một cách mỉa mai nhưng sắc bén rằng: Đức tin không dựa trên lý trí, nhưng là một sự lựa chọn chấp nhận điều không thể—một phép lạ nằm ngoài mọi quy luật của kinh nghiệm và logic nhân loại.