(An Enquiry
concerning Human Understanding)
David Hume
TIẾT X.
Về Phép Lạ.
PHẦN I.
E 10.1, SBN 109
Trong những bài viết của tiến sĩ gót học Tillotson, có một lập luận chống lại thuyết hiện diện thực thể vốn súc tích,
thanh nhã và mạnh mẽ đến mức tối đa mà một lập luận có thể đạt tới khi đối đầu
với một giáo lý vốn chẳng mấy đáng để bác bỏ tường tận đến thế. [1]
Vị giáo
chủ uyên bác này nói rằng, mọi phía đều thừa nhận rằng thẩm quyền của Kinh
Thánh hay Truyền thống đều thuần túy dựa trên lời chứng của những tông đồ —
những nhân chứng mắt thấy tai nghe về những phép mầu của Đấng Cứu Thế, những
minh chứng cho sứ mệnh thiêng liêng của Ngài. Do đó, bằng chứng hiển nhiên của
chúng ta về sự thật của đạo Ki tô luôn thấp hơn bằng chứng hiển nhiên về sự
thật từ những giác quan của chính chúng ta; bởi lẽ, ngay cả đối với những vị
khởi xướng tôn giáo, bằng chứng ấy cũng không thể lớn hơn [giác quan]; và hiển
nhiên là nó phải suy giảm khi truyền từ họ sang những môn đồ; chẳng ai có thể
đặt để vào lời chứng của họ một sự tin cậy ngang bằng với đối tượng trực tiếp
từ giác quan của chính mình. Thế nhưng, một bằng chứng yếu
hơn thì không bao giờ có thể lật đổ một bằng chứng mạnh hơn; do đó, dù học
thuyết về sự hiện diện thực tại có được vén lê cho thấy huyền nhiệm rõ
ràng đến thế nào trong Kinh Thánh đi nữa, thì việc chúng ta chấp nhận nó vẫn trực tiếp đi ngược lại
những quy tắc của suy luận chuẩn xác. Nó mâu thuẫn với giác quan, trong khi cả
Kinh Thánh lẫn Truyền thống — những nền tảng giả định của giáo lý này — đều
không mang lại sức nặng chứng cứ như giác quan khi chúng chỉ được xem xét như
là những bằng chứng ngoại tại, mà không được thấu đạt đến tâm khảm mỗi người
bởi sự vận hành tức thời của Gót Thánh Thần. [2]
E 10.2, SBN 110
Không có gì đắc dụng bằng một lập luận mang
tính quyết định như thế; nó ít nhất cũng phải làm câm lặng thói cố chấp và mê
tín ngông cuồng nhất, đồng thời giải phóng chúng ta khỏi những lời quấy nhiễu
xấc xược của chúng. Tôi tự hào rằng đã tìm ra được một lập luận có tính chất
tương tự, nếu chuẩn xác, sẽ trở thành một rào cản vĩnh cửu đối với mọi loại mê
lầm huyễn hoặc trước những người thông thái và học thức; và do đó, nó sẽ hữu
dụng chừng nào thế gian này còn tồn tại. Bởi tôi trộm nghĩ rằng, chừng nào thế giới
còn đó, thì những chuyện kể về về những phép lạ và những điềm quái dị [3] sẽ vẫn được tìm thấy trong
mọi gghi chép lịch sử, dù là thiêng liêng hay trần tục.
E 10.3, SBN 110
Mặc dù kinh
nghiệm là người dẫn đường duy nhất của chúng ta trong những suy luận liên quan
đến sự kiện thực tế; nhưng cũng phải thừa nhận rằng người dẫn đường này không
hoàn toàn không thể sai lầm, mà trong một số trường hợp nhất định, nó dễ dẫn
dắt chúng ta vào những sai lầm.
Một người sống trong điều kiện khí hậu của
chúng ta, để mong đợi rằng
thời tiết vào bất kỳ tuần nào của tháng Sáu cũng đều tốt hơn một tuần của tháng
Mười Hai—sẽ là người suy luận chuẩn xác và
phù hợp với kinh nghiệm; nhưng chắc chắn rằng, trên thực tế, người này vẫn có thể
thấy bị nhầm lẫn. Tuy nhiên, chúng ta có thể quan sát thấy rằng trong một
trường hợp như vậy, người này không có lý do gì để phàn nàn về kinh nghiệm;
bởi lẽ kinh nghiệm thường thông báo trước cho chúng ta về sự bất định, qua
chính sự trái ngược của những sự kiện vốn chúng ta có thể rút ra được từ một tiến trình quan sát
cần mẫn. Không phải tất cả những hệ quả đều rút ra từ những nguyên nhân giả
định với cùng một mức độ chắc chắn như nhau. Có những sự kiện được tìm thấy ở
mọi quốc gia và mọi thời đại là luôn luôn kết hợp (conjoined) chặt chẽ với
nhau; nhưng cũng có những sự kiện khác được thấy là biến thiên nhiều hơn, và
đôi khi làm thất vọng những mong đợi của chúng ta; sao cho, trong những suy
luận của chúng ta liên quan đến sự kiện thực tế, có đủ mọi mức độ ttin cậy có
thể tưởng tượng được, từ sự chắc chắn cao nhất cho đến bậc thấp nhất của bằng
chứng hiển nhiên từ thực nghiệm.
E 10.4, SBN 110-1
Do đó, một người khôn ngoan cân nhắc tin tưởng
của mình sao cho tương xứng
với bằng chứng. Trong những kết luận như vậy vốn đều dựa trên
một kinh
nghiệm không thể sai lầm, người này mong đợi biến cố đó với mức độ chắc chắn
tuyệt đối, và coi kinh nghiệm trong quá khứ của mình là bằng chứng đầy đủ cho sự hiện hữu trong
tương lai của biến cố đó. Trong những trường hợp khác, người này tiến hành thận trọng hơn:
Người này đặt những thực nghiệm đối lập lên bàn cân, xem xét được số lượng thí
nghiệm lớn ủng hộ bởi, rồi mới nghiêng về phía đó, với sự nghi ngờ và do dự; và
khi cuối cùng đã đúc kết phán đoán của mình, bằng chứng thu được cũng không
vượt quá những gì mà chúng ta mà chúng ta gọi là xác suất theo đúng nghĩa của nó.
Như vậy, mọi xác suất đều giả định một sự đối
lập giữa thực nghiệm và quan sát, nơi ta thấy một bên lấn át bên kia và tạo ra
một mức độ bằng chứng tương xứng với ưu thế đó. Một trăm trường hợp hay thực
nghiệm ở bên này đối chọi với năm mươi thực nghiệm ở bên kia chỉ mang lại một
sự trông đợi đầy hoài nghi về việc liệu biến cố đó có xảy ra hay không; tuy
nhiên, một trăm thực nghiệm đồng nhất nếu chỉ vấp phải một thực nghiệm mâu
thuẫn duy nhất vẫn có thể tạo ra một mức độ tin cậy khá vững vàng. Trong mọi hoàn
cảnh, chúng ta phải cân bằng những thực nghiệm đối lập khi chúng xung đột nhau,
rồi lấy số lớn trừ đi số nhỏ để xác định được sức mạnh chính xác của bằng chứng vượt
trội.
E 10.5, SBN 111-2
Để áp dụng những
nguyên tắc này vào một trường hợp cụ thể, chúng ta có thể nhận thấy rằng: không
có loại lập luận nào phổ biến hơn, hữu ích hơn, và thậm chí là thiết yếu cho
đời sống con người hơn loại lập luận dựa trên lời chứng của con người, cùng
những lời kể từ những nhân chứng mắt thấy và người quan sát. Có lẽ,
người ta sẽ phủ nhận việc loại lập luận này được xây dựng trên tương quan nhân quả.
Tôi sẽ không tranh luận về một từ ngữ nào. Chỉ cần nhận
thấy điều này là đủ: sự tin chắc của chúng ta trong bất kỳ lập luận nào thuộc
loại này không bắt nguồn từ nguyên lý nào khác ngoài việc chúng ta quan sát
thấy tính xác thực trong lời chứng của con người, và sự phù hợp thông thường
giữa những sự kiện thực tế với lời kể của nhân chứng.
Vì một châm ngôn
chung cho rằng: giữa những sự vật vốn không tồn tại mối liên kết nào mà chúng
ta có thể tìm thấy được, và mọi suy luận giúp chúng ta đi từ sự vật này sang sự
vật khác đều chỉ dựa trên kinh nghiệm về sự kết hợp liên tục và đều đặn của
chúng; nên rõ ràng là chúng ta không nên coi lời chứng của con người là ngoại
lệ. Bởi lẽ, mối liên kết giữa lời chứng với bất kỳ sự kiện nào, tự thân nó,
dường như cũng không mang tính tất yếu hơn bất kỳ mối liên kết nào khác.Nếu trí
nhớ không bền bỉ ở một mức độ nhất định; nếu con người thường tình không có
thiên hướng hướng tới sự thật và một nguyên tắc trung thực; nếu họ không biết
hổ thẹn khi bị tìm thấy là đang dối trá: Nếu những điều này — tôi muốn nhấn
mạnh — không phải được tìm thấy qua kinh nghiệm là những phẩm chất vốn có trong
bản chất con người, chúng ta sẽ không bao giờ đặt một chút tin cậy nhỏ nhất vào
lời chứng của con người. Một người đang mê sảng, hay một kẻ đã mang tiếng
dối trá và gian ác, thì lời nói chẳng còn chút sức nặng nào với chúng ta.
E 10.6, SBN 112
Và vì bằng chứng, thu được từ những nhân chứng
và lời khai của con người, được xây dựng dựa trên kinh nghiệm quá khứ, nên nó
thay đổi theo kinh nghiệm và được coi là bằng chứng hay xác suất, tùy thuộc vào
sự kết hợp giữa bất kỳ loại thuật kể cụ thể nào và bất kỳ loại đối tượng nào
được tìm ra là không đổi hay thay đổi. Có một số hoàn cảnh cần được xem xét
trong tất cả những phán đoán thuộc loại này; và tiêu chuẩn cuối cùng, vốn chúng
ta dùng để xác định tất cả những tranh chấp có thể nảy sinh liên quan đến
chúng, luôn được rút ra từ kinh nghiệm và quan sát. Khi kinh nghiệm này không
hoàn toàn đồng nhất ở bất kỳ bên nào, nó đi kèm với sự trái ngược không thể
tránh khỏi trong những phán đoán của chúng ta, và với cùng sự đối lập và sự phá
hủy lẫn nhau của lập luận như trong tất cả những loại bằng chứng khác. Chúng ta
thường do dự về những thuật kể của người khác. Chúng ta cân bằng những hoàn
cảnh đối lập, gây ra bất kỳ nghi ngờ hay không chắc chắn nào; và khi chúng
tatìm thấy một ưu thế nghiêng về bên nào, chúng ta sẽ ngả theo bên đó; nhưng
mức độ xác tín sẽ luôn bị giảm đi, tỷ lệ thuận với sức mạnh của phía đối trọng.
E 10.7, SBN 112-3
Sự trái ngược về
bằng chứng này, trong trường hợp hiện tại, có thể bắt nguồn từ nhiều nguyên
nhân khác nhau: từ sự đối chọi của những lời chứng trái ngược nhau; từ tư cách
hay số lượng của những nhân chứng; từ cách thức họ đưa ra lời chứng; hoặc từ sự
kết hợp của tất cả những dữ kiện kèm theo này.
Chúng ta sẽ nảy
sinh sự nghi ngờ đối với bất kỳ sự kiện thực tế nào khi: những nhân chứng mâu
thuẫn lẫn nhau; khi họ quá ít, hoặc có tư cách đáng nghi; khi họ có tư lợi
trong những gì họ khẳng định; khi họ đưa ra lời chứng với sự do dự, hoặc ngược
lại, với những lời cam đoan quá quyết liệt. Còn nhiều chi tiết khác cùng loại
có thể làm giảm bớt hoặc phá hủy sức nặng của bất kỳ lập luận nào rút ra từ lời
chứng của con người.
E 10.8, SBN 113
Hãy giả định,
chẳng hạn, rằng sự kiện mà lời chứng cố gắng xác lập mang cả đặc tính phi
thường lẫn kỳ diệu; trong trường hợp đó, bằng chứng thu được từ lời chứng sẽ
chịu một sự suy giảm, lớn hay nhỏ, tỷ lệ thuận với mức độ bất thường của sự
kiện đó. Lý do khiến chúng ta đặt bất kỳ tin cậy nào vào
những nhân chứng và sử gia
không bắt nguồn từ bất kỳ liên hệ nào mà chúng ta nhận thức được tiên nghiệm
giữa lời chứng và thực tại, mà đơn giản là vì chúng ta đã quen tìm thấy sự
tương hợp giữa chúng.
Nhưng khi một sự kiện được chứng thực lại
thuộc loại hiếm khi ta quan sát thấy trong thực tế, ta sẽ đối mặt với một cuộc
giao tranh giữa hai kinh nghiệm trái ngược. Ở đó, kinh nghiệm này sẽ triệt tiêu
kinh nghiệm kia tương ứng với mức độ sức mạnh của nó, và bên nào chiếm ưu thế
sẽ chỉ còn tác động lên não thức chúng ta bằng
phần sức nặng dư lại sau khi đã khấu trừ. Chính nguyên lý kinh nghiệm vốn giúp chúng ta có mức độ
tin cậy nhất định vào lời kể của nhân chứng, thì trong trường hợp này, cũng tạo
ra một sự xác tín tương đương để phản bác lại sự kiện mà họ đang cố gắng thiết lập. Từ sự mâu thuẫn
đó tất yếu nảy sinh một đối trọng, khiến lòng tin tưởng và thẩm quyền của
đôi bên tự triệt tiêu lẫn nhau.
E 10.9, SBN 113
Tôi sẽ không tin một câu chuyện như thế
ngay cả khi nó được kể bởi Cato ; đó là một câu ngạn ngữ cửa
miệng tại La Mã, ngay cả trong thời đại của vị ái quốc triết gia đó còn sống[21]. Người
ta nhìn nhận
rằng, tính chất phi lý của một sự kiện có thể làm mất đi giá trị của ngay cả
một thẩm quyền lớn lao đến thế. [4]
E 10.10, SBN 113-4
Vị hoàng tử India,
người đã từ chối tin vào những lời kể đầu tiên về tác động của băng giá, đã suy
luận một cách xác đáng; và lẽ tự nhiên là cần phải có những lời chứng rất mạnh
mẽ mới có thể khiến ông chấp nhận những sự kiện nảy sinh từ một trạng thái tự
nhiên mà ông chưa từng biết tới, và là những sự kiện ít có nét tương đồng với những
biến cố mà ông đã có kinh nghiệm liên tục và đồng nhất về chúng. Mặc dù những
sự kiện ấy không trái ngược với kinh nghiệm của ông, nhưng chúng không phù hợp với kinh nghiệm đó [22].
E 10.11, SBN 114
Nhưng để gia tăng xác suất chống lại lời chứng
của những nhân chứng, ta hãy giả định rằng sự kiện vốn họ khẳng định, thay vì chỉ
là kỳ diệu, thì thực sự là một phép lạ; và cũng giả định rằng lời chứng đó, khi
được xét riêng biệt và tự thân nó, đã tương đương với một minh chứng trọn vẹn;
trong trường hợp đó, sẽ có minh chứng đối đầu với minh chứng, mà trong đó bên
mạnh nhất phải thắng thế, nhưng vẫn với một sự suy giảm sức mạnh tỉ lệ thuận
với sức mạnh của phía đối trọng.
E 10.12, SBN 114-5
Do đó, phải có
một kinh nghiệm đồng nhất (uniform experience) chống lại mọi sự kiện phép lạ,
nếu không sự kiện đó sẽ không xứng với danh xưng này. Và vì một kinh nghiệm
đồng nhất tương đương với một minh chứng, nên ở đây ta có một minh chứng trực
tiếp và đầy đủ, từ chính bản chất của sự việc, để bác bỏ sự tồn tại của bất kỳ
phép lạ nào; một minh chứng như thế không thể bị phá vỡ, và phép lạ cũng không
thể trở nên đáng tin, trừ khi có một minh chứng đối lập mang sức nặng vượt trội
hơn.
Phép lạ là một sự
vi phạm những quy luật của tự nhiên; và vì một kinh nghiệm vững chắc cùng bất
biến đã thiết lập nên những quy luật này, nên minh chứng chống lại phép lạ, xét
từ chính bản chất của sự việc, là trọn vẹn nhất trong số những lập luận từ kinh
nghiệm mà ta có thể hình dung được.
Tại sao việc mọi
người đều phải chết; rằng chì không thể tự lơ lửng trong không trung; rằng lửa
thiêu đốt gỗ và bị dập tắt bởi nước, lại được coi là chắc chắn hơn cả mức xác
suất? Chẳng phải vì những biến cố này phù hợp với những quy luật của tự nhiên,
và việc ngăn chặn chúng đòi hỏi một sự vi phạm những quy luật đó, hay nói cách
khác, là cần một phép lạ hay sao? [5]
Chẳng điều gì
được coi là phép lạ nếu nó từng xảy ra trong tiến trình tự nhiên thông thường.
Việc một người đang khỏe mạnh bỗng nhiên chết đột ngột không phải là phép lạ:
bởi lẽ kiểu chết đó, dù ít phổ biến hơn những trường hợp khác, vẫn thường xuyên
được quan sát thấy. Nhưng việc một người chết mà sống lại thì đúng thực là một
phép lạ; bởi vì điều đó chưa từng được quan sát thấy ở bất kỳ thời đại hay quốc
gia nào. [6]
Phép lạ là một sự
vi phạm những quy luật của tự nhiên; và vì một kinh nghiệm vững chắc cùng bất
biến đã thiết lập nên những quy luật này, nên minh chứng chống lại phép lạ, xét
từ chính bản chất của sự việc, là trọn vẹn nhất trong số những lập luận từ kinh
nghiệm mà ta có thể hình dung được.
Tại sao việc mọi
người đều phải chết; rằng chì không thể tự lơ lửng trong không trung; rằng lửa
thiêu đốt gỗ và bị dập tắt bởi nước, lại được coi là chắc chắn hơn cả mức xác
suất? Chẳng phải vì những biến cố này phù hợp với những quy luật của tự nhiên,
và việc ngăn chặn chúng đòi hỏi một sự vi phạm những quy luật đó, hay nói cách
khác, là cần một phép lạ hay sao? [7]
Chẳng điều gì
được coi là phép lạ nếu nó từng xảy ra trong tiến trình tự nhiên thông thường.
Việc một người đang khỏe mạnh bỗng nhiên chết đột ngột không phải là phép lạ:
bởi lẽ kiểu chết đó, dù ít phổ biến hơn những trường hợp khác, vẫn thường xuyên
được quan sát thấy. Nhưng việc một người chết mà sống lại thì đúng thực là một
phép lạ; bởi vì điều đó chưa từng được quan sát thấy ở bất kỳ thời đại hay quốc
gia nào. [8]
Do đó, phải có
một kinh nghiệm đồng nhất chống lại mọi sự kiện mang tính phép lạ, nếu không sự
kiện đó sẽ không xứng với tên gọi này. Và vì một kinh nghiệm đồng nhất tương
đương với một minh chứng, nên ở đây ta có một minh chứng trực tiếp và đầy đủ,
từ chính bản chất của sự việc, để bác bỏ sự tồn tại của bất kỳ phép lạ nào; một
minh chứng như thế không thể bị phá vỡ, và phép lạ cũng không thể trở nên đáng
tin, trừ khi có một minh chứng đối lập mang sức nặng vượt trội hơn. [23].
E 10.13, SBN 115-6
Hệ quả hiển nhiên
là (và đây là một châm ngôn tổng quát đáng để chúng ta lưu ý): Không một lời
chứng nào đủ sức xác lập một phép lạ, trừ khi lời chứng đó thuộc loại mà nếu nó
sai lầm, thì sự sai lầm đó còn khó tin đến mức mang tính phép lạ hơn cả chính sự
việc mà nó cố gắng xác lập. Và ngay cả trong trường hợp đó, vẫn có một sự triệt
tiêu lẫn nhau giữa các lập luận; phía ưu thế hơn chỉ mang lại cho chúng ta một
sự bảo chứng tương ứng với phần sức mạnh còn lại sau khi đã khấu trừ đi phía
yếu hơn.
Khi bất kỳ ai nói
với tôi rằng họ thấy một người chết sống lại, tôi lập tức tự cân nhắc: liệu
việc người này lừa dối hoặc bị lừa dối có khả năng xảy ra cao hơn, hay là sự
việc mà họ kể lại thực sự đã xảy ra? Tôi đặt phép lạ này lên bàn cân với phép
lạ kia; dựa trên sức nặng bên nào vượt trội hơn, tôi đưa ra quyết định, và luôn
luôn bác bỏ phép lạ lớn hơn. Chỉ khi nào việc lời chứng của người này bị sai
lầm còn khó tin (mang tính phép lạ) hơn cả biến cố mà họ thuật lại; thì khi đó,
và chỉ đến khi đó, người này mới có quyền đòi hỏi sự tin tưởng hay sự chấp
thuận từ tôi.
Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ hai
(Mar/2026
(Còn tiếp... →)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1] John Tillotson (1630–1694) : Tổng giám mục Canterbury là người lãnh đạo tinh thần cao nhất của Hội nhà thờ đạo Kitô-kiểu-Anh (Church of England) và là lãnh đạo danh dự
của Khối Hiệp thông đạo Kitô-kiểu-Anh (Anglican Communion) trên toàn thế giới.
Canterbury (Canterbury Cathedral): Đây là một trong những công trình Kitô giáo
lâu đời và nổi tiếng nhất nước Anh, được coi là “Nhà mẹ” của Khối Hiệp thông đạo Kitô-kiểu-Anh
toàn cầu. Đây là nơi đặt tòa giám mục của Tổng giám mục Canterbury.
Hội nhà thờ đạo
Kitô-kiểu-Anh (Anglicanism) không phê bình bản chất của Bí tích Thánh Thể nhưng
họ phê bình cách giải thích mang tính siêu hình và những thực hành mê tín xung
quanh bí tích này của Hội nhà thờ Kitô Rôma thời Trung cổ. Cụ thể, quan điểm
của đạo Kitô-kiểu-Anh (được ghi rõ trong Điều 28 của 39 Điều khoản Tín hữu)
tập trung vào những điểm sau: 1. Bác bỏ Thuyết Biến thể (Transubstantiation): đạo
Kitô-kiểu-Anh phê bình học thuyết cho rằng bánh và rượu biến đổi hoàn toàn về
bản chất (substance) thành Mình và Máu thực sự của Chúa. Lý do phê bình là: Không
có cơ sở Kinh Thánh: Họ cho rằng thuyết này không thể chứng minh được bằng Kinh
Thánh. Đi ngược lại bản chất Bí tích: Theo đạo Kitô-kiểu-Anh, một bí tích phải
có cả dấu chỉ bên ngoài (bánh và rượu) và ân sủng bên trong (Mình và Máu Chúa).
Nếu bánh và rượu biến mất hoàn toàn, nó không còn là một bí tích đúng nghĩa. Dẫn
đến mê tín: đạo Kitô-kiểu-Anh cho rằng việc tin bánh là “Thịt thực sự” dẫn đến
những thực hành mà họ coi là mê tín thời bấy giờ. 2. Sự hiện diện “Thiêng liêng”
thay vì “Vật chất”: đạo Kitô-kiểu-Anh khẳng định Chúa Kitô thực sự hiện diện
trong Thánh Thể, nhưng theo cách thiêng liêng và siêu nhiên thay vì cách vật
chất hay “xác thịt”. Người rước lễ nhận lấy Chúa bằng đức tin trong tâm hồn,
chứ không phải chỉ bằng việc ăn bánh vật chất. 3. Phê bình việc Tôn thờ và Lưu
giữ Bánh Thánh: Trong lịch sử, Điều 28 khẳng định rằng Bí tích Thánh Thể không
được thiết lập để: Lưu giữ (Reserved): Cất giữ bánh thánh để thờ phượng. Cung
nghinh (Carried about): Rước bánh thánh ngoài đường (như lễ Mình và Máu Thánh
Chúa). Nâng lên (Lifted up) hay Thờ lạy (Worshipped): đạo Kitô-kiểu-Anh ban đầu
phê bình việc quỳ lạy bánh thánh như chính Chúa Giêsu hiện diện vật chất, nó muốn
đưa Bí tích Thánh Thể trở về ý nghĩa nguyên thủy là một Bữa tiệc Tưởng niệm và
sự hiệp thông thiêng liêng, thay vì một phép mầu biến đổi vật chất phức tạp
kiểu triết học Trung cổ.
[2] “Sự Hiện diện thực thể” (nguyên văn tiếng Anh: Real Presence): là thuật ngữ thần học chỉ
học thuyết về Bí tích Thánh Thể. Hume đang nhắm đến tín điều Kitô rằng Trong lễ
ban Thánh Thể, bánh và rượu thực sự biến thành Mình và Máu của Chúa Giê-su (chứ
không chỉ mang tính biểu tượng) Hume dùng tư duy của một nhà hiền triết theo
chủ nghĩa kinh nghiệm để “tấn công” học thuyết này dựa trên logic về bằng
chứng: (a) Bằng chứng của Giác quan (Mạnh nhất): Khi bạn nhìn, chạm và nếm
bánh/rượu, giác quan của bạn khẳng định 100% đó vẫn là bánh và rượu. Đối với
Hume, đây là loại bằng chứng trực tiếp và đáng tin cậy nhất. (b) Bằng chứng của
Kinh Thánh/Truyền thống (Yếu hơn): Đây là những bằng chứng “ngoại tại”, được
truyền lại qua lời kể hay văn bản. Theo Hume, độ tin cậy của chúng không thể
nào sánh bằng kinh nghiệm trực tiếp của giác quan con người.> (c) Sự mâu
thuẫn: Nếu Kinh Thánh bảo đó là “Thịt/Máu” nhưng mắt bạn thấy đó là “Bánh/Rượu”,
Hume cho rằng một người có suy luận chuẩn xác phải tin vào giác quan của mình.
Ông coi việc ép người ta tin vào điều mâu thuẫn với giác quan là đi ngược lại
quy tắc logic. “Sự hiện diện thực thể” ở đây chính là mục tiêu mà Hume dùng để
minh họa cho luận điểm: Bất kỳ phép lạ hay giáo lý nào mâu thuẫn trực tiếp với
giác quan thì đều thiếu cơ sở để tin theo.
[3] Miracles & Prodigies Phép Lạ (Miracles):
Là những hiện tượng siêu nhiên được ghi chép trong kinh điển của những tôn giáo
Abraham, được coi là minh chứng trực tiếp cho quyền năng thần linh nhằm xác tín
đức tin. Đây là những sự kiện đi ngược lại những quy luật tự nhiên (như người
chết sống lại hay đi trên mặt nước) nhờ sự can thiệp tức thời của Gót, Thần
linh. Chúng mang tính thiêng liêng với mục đích “mặc khải”—tức là hành động
thần linh “vén bức màn” bí mật để hiển lộ những huyền nhiệm vốn vượt quá khả
năng thấu hiểu tự nhiên của con người. Prodigies (Điềm quái dị / Sự lạ):
Những hiện tượng bất thường, cực kỳ hiếm gặp, quái dị xảy ra trong tự nhiên
nhưng không nhất thiết phải là do thần linh làm ra (ví dụ: mưa máu, động vật
biến dị, nhật thực toàn phần thời cổ đại).Việc Hume gộp cả hai vào dòng chảy
lịch sử “thiêng liêng và phàm tục” như một dụng ý cho thấy những gì thường vẫn
được tôn thờ là mầu nhiệm trong tôn giáo (đặc biệt trong đạo Kitô) thực chất
chỉ là những biến thể của những chuyện quái dị vẫn có trong dân gian mê tín
—nhưng chỉ khác biệt ở lớp áo thần thánh bao phủ bên ngoài nhằm đánh lừa lý trí
con người.
[4] Cato: Ở đây chỉ Cato
Trẻ (Cato the Younger), một nhân vật lịch sử La Mã nổi tiếng với sự liêm chính
và trung thực tuyệt đối. Việc dùng tên ông trong ngạn ngữ nhằm nhấn mạnh rằng:
ngay cả người trung thực nhất thế gian cũng không thể khiến một chuyện phi lý
trở nên đáng tin.
[5] “mọi người đều
phải chết; rằng chì không thể tự lơ lửng trong không trung; rằng lửa thiêu đốt
gỗ và bị dập tắt bởi nước, ….lại được coi là chắc chắn hơn cả mức xác suất…” : Khi đưa ra những ví dụ hiển nhiên này,
Hume ngầm chỉ trích và thiết lập một nền tảng tư duy cực kỳ quan trọng: Sự
khác biệt giữa “Ý niệm” và “Quy luật Tự nhiên dựa trên Kinh nghiệm”.
Cụ thể, ông muốn ám chỉ 3 điều sau: 1. Phép lạ không chỉ là “chuyện lạ”, mà là “sự
vi phạm”: Hume ngầm định nghĩa lại thế nào là một quy luật. Việc chì
không thể lơ lửng hay lửa thiêu gỗ không phải là những sự kiện ngẫu nhiên, mà
là những kinh nghiệm bất biến (unalterable experience). >
Một sự kiện chỉ được gọi là “phép lạ” khi nó đi ngược lại hoàn toàn
với hàng tỉ tỉ kinh nghiệm xảy ra của nhân loại từ xưa đến nay. Nếu một sự kiện
chỉ là “hiếm gặp” (như người chết đột ngột), nó chưa phải là phép lạ. Phép lạ
phải là thứ khiến toàn bộ trật tự tự nhiên bị bẻ gãy. 2. Sự xác tín tuyệt đối (Beyond
Probability): Trong triết học, chúng ta thường nói về “xác suất” (có
thể đúng hay sai). Nhưng Hume ngầm chỉ rằng: Có những thứ đạt đến mức độ xác
tín hoàn toàn đến mức ta không còn coi nó là xác suất nữa.> “Mọi
người đều phải chết” là một minh chứng (proof) trọn vẹn. Hume muốn dùng sức
nặng của những sự thật “không thể chối cãi” này để làm đối trọng với sức nặng
của những lời kể về phép lạ. Ông đang hỏi: Bạn tin vào hàng tỉ năm kinh
nghiệm của nhân loại, hay tin vào lời kể của một vài cá nhân? 3.
Bản chất của “Minh chứng” (Proof vs. Argument): Hume phân biệt giữa
một “lập luận” (argument - có thể tranh cãi) và một “minh chứng” (proof - dựa
trên kinh nghiệm đồng nhất). > Những quy luật tự nhiên như lửa cháy, nước
dập lửa đã được “thiết lập” (established) bởi một dòng chảy kinh nghiệm không
bao giờ đứt đoạn. Vì thế, minh chứng chống lại phép lạ luôn luôn là “trọn
vẹn nhất” (entire).
Hume cho chúng ta
thấy rằng lý trí không được phép nhượng bộ trước cảm xúc. Những ví dụ về
chì, lửa, và cái chết là những “neo chặn” của thực tế. Ông đang chuẩn bị cho
đòn tấn công quyết định: Nếu bạn không thấy chì tự bay lên trước mắt mình, thì
tại sao bạn lại tin vào lời kể của một ai đó nói rằng họ đã thấy điều tương tự
xảy ra trong quá khứ?
Hume coi việc “lửa
thiêu đốt gỗ” là một minh chứng mạnh hơn bất kỳ văn bản nào vì ông
ưu tiên Kinh nghiệm trực tiếp và Sự đồng nhất của tự nhiên. Có 3 lý
do chính: 1. Sự thật của Giác quan so với Lời thuật lại: Lửa thiêu gỗ:
Là thứ chính bạn và mọi người ở mọi thời đại đều có thể quan sát trực tiếp.
Bằng chứng này đến thẳng với tâm trí qua giác quan. Văn bản tôn giáo:
Chỉ là lời kể lại (kinh nghiệm gián tiếp). Theo Hume, sức nặng của bằng chứng
sẽ giảm dần khi nó được truyền qua nhiều người hay qua nhiều trang giấy. 2.
Sự đồng nhất (Uniformity) tuyệt đối: Hume lập luận rằng những quy
luật như “lửa thiêu gỗ” hay “nước dập lửa” được xác lập bởi một kinh
nghiệm vững chắc và bất biến. Chưa bao giờ có ai thấy lửa gặp
gỗ mà không cháy (trong điều kiện bình thường). Ngược lại, những văn
bản tôn giáo thuật lại những sự kiện chỉ xảy ra một lần, không lặp lại và không
thể kiểm chứng. Với Hume, một sự kiện xảy ra hàng tỷ lần luôn có sức nặng đè
bẹp một sự kiện chỉ được kể là đã xảy ra một lần. 3. Bản chất của “Minh chứng”
(Proof)
Trong logic của
Hume, khi một kinh nghiệm xảy ra diễn ra giống hệt nhau mà không có ngoại lệ,
nó được nâng cấp từ “xác suất” lên thành “minh chứng” (proof). Văn bản tôn
giáo chỉ mang lại một lập luận có tính khả nghi. Quy luật tự nhiên mang lại một
minh chứng trọn vẹn. Nếu bạn tin vào một văn bản cổ xưa kể về việc “lửa không
thiêu cháy người” hơn là tin vào bản chất của ngọn lửa mà bạn đang nhìn thấy
trước mắt, thì bạn đang phản bội lại chính trí khôn và giác quan của mình.
Đây chính là bước
đệm để Hume đưa ra kết luận chấn động: Không có phép lạ nào đủ sức lật đổ những quy luật tự nhiên, trừ khi việc
lời kể về phép lạ đó bị sai còn phi lý (mang tính phép lạ) hơn chính cái phép
lạ đó.
[6] “Nhưng việc một người chết mà sống lại thì đúng thực là một phép lạ; bởi vì
điều đó chưa từng được quan sát thấy ở bất kỳ thời đại hay quốc gia nào…”
(a.)
Khi Hume nhắc đến
việc “thấy một người chết sống lại”, ông đang nhắm trực tiếp vào
hai mục tiêu:
1. Phép lạ cốt lõi của Đạo
Kitô: Sự Phục sinh (The Resurrection): Dù Hume đặt bút viết rất thận trọng để tránh bị hội
nhà thờ kết tội, nhưng người đọc thời đó đều hiểu ông đang ám chỉ Sự
Phục sinh của Chúa Giê-su. Đạo Kitô dựa trên lời chứng của
những tông đồ về việc Chúa sống lại sau ba ngày. Hume dùng ví dụ này
để nói rằng: Theo đúng logic, việc “những tông đồ lừa dối hay bị ảo giác” (một
hiện tượng tâm lý con người) vẫn có xác suất xảy ra cao hơn là việc “một người
chết thực sự sống lại” (vi phạm quy luật tự nhiên). 2. Những thuật kể về phép lạ
đương thời: Vào thời của Hume (thế kỷ 18), có rất nhiều tin đồn về
những phép lạ xảy ra tại nghĩa trang Saint-Médard ở Paris liên quan đến
nhóm Jansenist (một nhánh Kitô Rôma). Những lời kể về việc chữa bệnh thần kỳ
hay người chết sống lại tại đó cực kỳ phổ biến. Hume dùng ví dụ “người
chết sống lại” như một tình cảnh cực đoan nhất để thử thách lý trí.
Nếu ngay cả cái chết — quy luật bất biến nhất của tự nhiên — mà lời chứng còn
muốn lật ngược, thì lời chứng đó phải chịu sự kiểm tra gắt gao nhất.Ông không
cần chứng minh người chết không thể sống lại. Ông chỉ cần chứng minh
rằng: Về mặt nhận thức, ta không bao giờ có đủ bằng chứng để tin vào việc đó. (a)
Bởi vì “kinh nghiệm đồng nhất” về việc người chết thì không sống lại
là một minh chứng trọn vẹn.(b) Bất kỳ lời chứng nào, dù hùng
hồn đến đâu, cũng chỉ là một kinh nghiệm thứ cấp, luôn nhẹ hơn cái cân của quy
luật tự nhiên.
(b.)
‘việc một
người chết mà sống lại’ > Khi đưa ra ví dụ về “một người chết sống lại”,
Hume muốn nhắc đến những phép lạ phục sinh nổi tiếng nhất trong truyền thống Đạo
Kitô, mà Lazarus là trường hợp điển hình nhất.Tuy nhiên, cách Hume sử
dụng ví dụ này mang đầy tính chiến thuật triết học: 1. Nhắm vào Lazarus và Sự Phục
sinh của Chúa Giê-su: Trong Tân Ước, Lazarus là người đã
chết bốn ngày và được Chúa Giê-su gọi sống lại từ hầm mộ. Bằng cách đặt
trường hợp này cạnh ví dụ về “chì lơ lửng” hay “lửa đốt gỗ”, Hume muốn hạ thấp
tính thiêng liêng của câu chuyện xuống thành một dữ liệu cần kiểm chứng.
Ông coi đó là một biến cố vi phạm quy luật tự nhiên, và do đó, đòi hỏi một mức
độ bằng chứng mà thực tế không lời chứng nào cung cấp nổi. 2. Sự phân biệt tinh quái giữa “Hiếm
gặp” và “Phép lạ” Hume rất sâu cay khi so sánh: (a) Cái chết đột ngột:
Dù đáng sợ và bất ngờ, nhưng vì chúng ta đã thấy nó xảy ra nhiều lần (có kinh
nghiệm), nên nó vẫn nằm trong quy luật tự nhiên. (b)
Lazarus sống lại: Vì “chưa từng được quan sát thấy ở bất kỳ thời đại
hay quốc gia nào” bởi số đông và một cách đồng nhất, nên nó mặc nhiên bị xếp
vào loại vi phạm quy luật.
Hume ngầm đặt ra
một tình cảnh: Nếu bạn tin vào chuyện Lazarus, bạn đang tin vào một điều chưa
từng có tiền lệ trong hàng tỷ năm kinh nghiệm của nhân loại. Ông thách thức: “Tại
sao bạn lại tin vào lời kể của một vài người trong một cuốn sách cổ, trong khi
toàn bộ lịch sử nhân loại và giác quan của chính bạn lại chứng minh điều ngược
lại?”. Lazarus chính là “đối tượng thí nghiệm” mà Hume đưa lên bàn cân. Ông
muốn nói rằng: Về mặt logic, việc “người kể chuyện Lazarus bị nhầm lẫn hay thêu
dệt” (một hiện tượng tâm lý rất người) vẫn dễ xảy ra hơn là việc “quy luật sinh
tử bị đảo lộn”.
Hume cũng giải
thích thêm lý do đám đông lại dễ dàng tin vào chuyện Lazarus sống lại hơn là
tin vào những quy luật khoa học khô khan. Hume giải thích hiện tượng này bằng
tâm lý học về “Sự say mê cái kỳ quái” (The passion of surprise and wonder).
Theo ông, con người có xu hướng vứt bỏ lý trí vì những lý do sau: 1.
Sự sướng rơn của trí tưởng tượng: Hume cho rằng cảm giác ngạc nhiên
và kinh ngạc (wonder) mang lại một sự thỏa mãn cực lớn cho tâm trí. Khi nghe
chuyện Lazarus sống lại, con người cảm thấy phấn khích. Sự phấn khích này mạnh
đến mức nó làm “đứng hình” khả năng suy luận logic. Chúng ta muốn tin vì nó làm
cuộc sống bớt nhàm chán hơn là những quy luật khô khan như “ai rồi cũng chết”. 2.
Sự cộng hưởng giữa Tôn giáo và Lòng nhiệt thành: Nếu chuyện lạ lùng
đó lại gắn liền với đức tin tôn giáo, thì lòng nhiệt thành (enthusiasm) sẽ lấn
át hoàn toàn lý trí. Hume mỉa mai rằng: Một người có đức tin sẽ kể lại phép lạ
không phải vì họ biết nó đúng, mà vì họ muốn nó đúng để phục vụ cho sự
thánh thiện. Khi đó, sự hùng hồn của người kể và sự khao khát của người nghe
tạo thành một liên minh chống lại sự thật khách quan. 3. Nguyên tắc “Lời nói dối dễ lan
truyền xa rộng và lâu dài”: Hume chỉ ra rằng những người kể chuyện
phép lạ thường có tâm lý: (a) Họ tự huyễn hay chính mình để trở nên cao cả, nổi
tiếng (b) Họ biết đám đông thích nghe điều đó, và sự tán thưởng của đám đông
lại càng củng cố thêm niềm tin sai lệch của họ.
Hume muốn nói
rằng đám đông tin chuyện Lazarus không phải vì có bằng chứng, mà vì “cái
miệng của kẻ huênh hoang tìm thấy cái tai của kẻ khờ khạo”. Sự kỳ
quái của phép lạ chính là “mồi nhử” khiến con người tự nguyện bị lừa dối.
Hume cũng cho biết
thêm rằng những phép lạ này luôn chỉ xảy ra ở những “dân tộc dã man và dốt nát”
(ignorant and barbarous nations). Hume đưa ra lập luận này để củng cố
rằng phép lạ không phải là vấn đề của thực tại, mà là vấn đề của trình
độ dân trí. Theo ông, có 3 lý do khiến phép lạ luôn “nở rộ” ở những
vùng đất hay thời đại mà ông gọi là “dã man và dốt nát”: 1.
Sự thiếu vắng của tinh thần hoài nghi: Ở những dân tộc này, con
người chưa có thói quen kiểm chứng bằng chứng hay sử dụng những quy luật vật lý
để giải thích hiện tượng. (a) Họ chấp nhận mọi điều kỳ quái với một sự ngây
thơ tuyệt đối. (b) Ngược lại, ở những xã hội văn minh và có tư duy
khoa học, những “phép lạ” thường bị bóc trần hay không bao giờ dám xuất hiện,
vì “người biểu diễn” biết rằng họ sẽ bị soi xét bởi những bộ óc tỉnh táo.
2. Sự che đậy của thời
gian và khoảng cách: Hume
mỉa mai rằng những phép lạ thường được kể là đã xảy ra ở một nơi rất
xa xôi hay trong một quá khứ mịt mờ. (a)
Khoảng cách địa lý và thời gian giúp ngăn cản việc kiểm chứng tại
chỗ. (b) Khi câu chuyện truyền đến tai những người dân ở xa, nó đã
được bồi đắp thêm bao nhiêu tình tiết li kỳ, và vì không có ai ở đó để bác bỏ,
nó mặc nhiên trở thành “sự thật”.
3. Quy luật “Văn minh
hóa” những phép lạ: Hume
quan sát thấy một mô típ lịch sử: Khi một dân tộc càng tiến gần đến văn minh và
khoa học, số lượng phép lạ sẽ ít dần và biến mất.. Ông
chỉ ra rằng những tôn giáo lớn thường bắt đầu từ những thuật kể phép lạ ở những
bộ lạc lạc hậu. Khi tôn giáo đó đã vững mạnh, họ không còn cần phép lạ nữa vì
họ đã có quyền lực chính trị và giáo điều để duy trì niềm tin.
Hume ngầm ý rằng
nếu phép lạ là có thật và là quy luật của vũ trụ, tại sao chúng không xảy ra
ngay giữa thủ đô London hay Paris thế kỷ 18, trước sự chứng kiến của những nhà
khoa học? Việc chúng chỉ xảy ra ở “xứ xa” hay “ngày xưa” chứng tỏ chúng chỉ là sản
phẩm của sự dối trá kết hợp với sự thiếu hiểu biết.
uy luật tự nhiên.
[7] “mọi người đều
phải chết; rằng chì không thể tự lơ lửng trong không trung; rằng lửa thiêu đốt
gỗ và bị dập tắt bởi nước, ….lại được coi là chắc chắn hơn cả mức xác suất…” : Khi đưa ra những ví dụ hiển nhiên này,
Hume ngầm chỉ trích và thiết lập một nền tảng tư duy cực kỳ quan trọng: Sự
khác biệt giữa “Ý niệm” và “Quy luật Tự nhiên dựa trên Kinh nghiệm”.
Cụ thể, ông muốn ám chỉ 3 điều sau: 1. Phép lạ không chỉ là “chuyện lạ”, mà là “sự
vi phạm”: Hume ngầm định nghĩa lại thế nào là một quy luật. Việc chì
không thể lơ lửng hay lửa thiêu gỗ không phải là những sự kiện ngẫu nhiên, mà
là những kinh nghiệm bất biến (unalterable experience). >
Một sự kiện chỉ được gọi là “phép lạ” khi nó đi ngược lại hoàn toàn
với hàng tỉ tỉ kinh nghiệm xảy ra của nhân loại từ xưa đến nay. Nếu một sự kiện
chỉ là “hiếm gặp” (như người chết đột ngột), nó chưa phải là phép lạ. Phép lạ
phải là thứ khiến toàn bộ trật tự tự nhiên bị bẻ gãy. 2. Sự xác tín tuyệt đối (Beyond
Probability): Trong triết học, chúng ta thường nói về “xác suất” (có
thể đúng hay sai). Nhưng Hume ngầm chỉ rằng: Có những thứ đạt đến mức độ xác
tín hoàn toàn đến mức ta không còn coi nó là xác suất nữa.> “Mọi
người đều phải chết” là một minh chứng (proof) trọn vẹn. Hume muốn dùng sức
nặng của những sự thật “không thể chối cãi” này để làm đối trọng với sức nặng
của những lời kể về phép lạ. Ông đang hỏi: Bạn tin vào hàng tỉ năm kinh
nghiệm của nhân loại, hay tin vào lời kể của một vài cá nhân? 3.
Bản chất của “Minh chứng” (Proof vs. Argument): Hume phân biệt giữa
một “lập luận” (argument - có thể tranh cãi) và một “minh chứng” (proof - dựa
trên kinh nghiệm đồng nhất). > Những quy luật tự nhiên như lửa cháy, nước
dập lửa đã được “thiết lập” (established) bởi một dòng chảy kinh nghiệm không
bao giờ đứt đoạn. Vì thế, minh chứng chống lại phép lạ luôn luôn là “trọn
vẹn nhất” (entire).
Hume cho chúng ta
thấy rằng lý trí không được phép nhượng bộ trước cảm xúc. Những ví dụ về
chì, lửa, và cái chết là những “neo chặn” của thực tế. Ông đang chuẩn bị cho
đòn tấn công quyết định: Nếu bạn không thấy chì tự bay lên trước mắt mình, thì
tại sao bạn lại tin vào lời kể của một ai đó nói rằng họ đã thấy điều tương tự
xảy ra trong quá khứ?
Hume coi việc “lửa
thiêu đốt gỗ” là một minh chứng mạnh hơn bất kỳ văn bản nào vì ông
ưu tiên Kinh nghiệm trực tiếp và Sự đồng nhất của tự nhiên. Có 3 lý
do chính: 1. Sự thật của Giác quan so với Lời thuật lại: Lửa thiêu gỗ:
Là thứ chính bạn và mọi người ở mọi thời đại đều có thể quan sát trực tiếp.
Bằng chứng này đến thẳng với tâm trí qua giác quan. Văn bản tôn giáo:
Chỉ là lời kể lại (kinh nghiệm gián tiếp). Theo Hume, sức nặng của bằng chứng
sẽ giảm dần khi nó được truyền qua nhiều người hay qua nhiều trang giấy. 2.
Sự đồng nhất (Uniformity) tuyệt đối: Hume lập luận rằng những quy
luật như “lửa thiêu gỗ” hay “nước dập lửa” được xác lập bởi một kinh
nghiệm vững chắc và bất biến. Chưa bao giờ có ai thấy lửa gặp
gỗ mà không cháy (trong điều kiện bình thường). Ngược lại, những văn
bản tôn giáo thuật lại những sự kiện chỉ xảy ra một lần, không lặp lại và không
thể kiểm chứng. Với Hume, một sự kiện xảy ra hàng tỷ lần luôn có sức nặng đè
bẹp một sự kiện chỉ được kể là đã xảy ra một lần. 3. Bản chất của “Minh chứng”
(Proof)
Trong logic của
Hume, khi một kinh nghiệm xảy ra diễn ra giống hệt nhau mà không có ngoại lệ,
nó được nâng cấp từ “xác suất” lên thành “minh chứng” (proof). Văn bản tôn
giáo chỉ mang lại một lập luận có tính khả nghi. Quy luật tự nhiên mang lại một
minh chứng trọn vẹn. Nếu bạn tin vào một văn bản cổ xưa kể về việc “lửa không
thiêu cháy người” hơn là tin vào bản chất của ngọn lửa mà bạn đang nhìn thấy
trước mắt, thì bạn đang phản bội lại chính trí khôn và giác quan của mình.
Đây chính là bước
đệm để Hume đưa ra kết luận chấn động: Không có phép lạ nào đủ sức lật đổ những quy luật tự nhiên, trừ khi việc
lời kể về phép lạ đó bị sai còn phi lý (mang tính phép lạ) hơn chính cái phép
lạ đó.
[8] “Nhưng việc một người chết mà sống lại thì đúng thực là một phép lạ; bởi vì
điều đó chưa từng được quan sát thấy ở bất kỳ thời đại hay quốc gia nào…”
a.
Khi Hume nhắc đến
việc “thấy một người chết sống lại”, ông đang nhắm trực tiếp vào
hai mục tiêu:
1. Phép lạ cốt lõi của Đạo
Kitô: Sự Phục sinh (The Resurrection): Dù Hume đặt bút viết rất thận trọng để tránh bị hội
nhà thờ kết tội, nhưng người đọc thời đó đều hiểu ông đang ám chỉ Sự
Phục sinh của Chúa Giê-su. Đạo Kitô dựa trên lời chứng của
những tông đồ về việc Chúa sống lại sau ba ngày. Hume dùng ví dụ này
để nói rằng: Theo đúng logic, việc “những tông đồ lừa dối hay bị ảo giác” (một
hiện tượng tâm lý con người) vẫn có xác suất xảy ra cao hơn là việc “một người
chết thực sự sống lại” (vi phạm quy luật tự nhiên). 2. Những thuật kể về phép lạ
đương thời: Vào thời của Hume (thế kỷ 18), có rất nhiều tin đồn về
những phép lạ xảy ra tại nghĩa trang Saint-Médard ở Paris liên quan đến
nhóm Jansenist (một nhánh Kitô Rôma). Những lời kể về việc chữa bệnh thần kỳ
hay người chết sống lại tại đó cực kỳ phổ biến. Hume dùng ví dụ “người
chết sống lại” như một tình cảnh cực đoan nhất để thử thách lý trí.
Nếu ngay cả cái chết — quy luật bất biến nhất của tự nhiên — mà lời chứng còn
muốn lật ngược, thì lời chứng đó phải chịu sự kiểm tra gắt gao nhất.Ông không
cần chứng minh người chết không thể sống lại. Ông chỉ cần chứng minh
rằng: Về mặt nhận thức, ta không bao giờ có đủ bằng chứng để tin vào việc đó. (a)
Bởi vì “kinh nghiệm đồng nhất” về việc người chết thì không sống lại
là một minh chứng trọn vẹn.(b) Bất kỳ lời chứng nào, dù hùng
hồn đến đâu, cũng chỉ là một kinh nghiệm thứ cấp, luôn nhẹ hơn cái cân của quy
luật tự nhiên.
b.
‘việc một
người chết mà sống lại’ > Khi đưa ra ví dụ về “một người chết sống lại”,
Hume muốn nhắc đến những phép lạ phục sinh nổi tiếng nhất trong truyền thống Đạo
Kitô, mà Lazarus là trường hợp điển hình nhất.Tuy nhiên, cách Hume sử
dụng ví dụ này mang đầy tính chiến thuật triết học: 1. Nhắm vào Lazarus và Sự Phục
sinh của Chúa Giê-su: Trong Tân Ước, Lazarus là người đã
chết bốn ngày và được Chúa Giê-su gọi sống lại từ hầm mộ. Bằng cách đặt
trường hợp này cạnh ví dụ về “chì lơ lửng” hay “lửa đốt gỗ”, Hume muốn hạ thấp
tính thiêng liêng của câu chuyện xuống thành một dữ liệu cần kiểm chứng.
Ông coi đó là một biến cố vi phạm quy luật tự nhiên, và do đó, đòi hỏi một mức
độ bằng chứng mà thực tế không lời chứng nào cung cấp nổi. 2. Sự phân biệt tinh quái giữa “Hiếm
gặp” và “Phép lạ” Hume rất sâu cay khi so sánh: (a) Cái chết đột ngột:
Dù đáng sợ và bất ngờ, nhưng vì chúng ta đã thấy nó xảy ra nhiều lần (có kinh
nghiệm), nên nó vẫn nằm trong quy luật tự nhiên. (b)
Lazarus sống lại: Vì “chưa từng được quan sát thấy ở bất kỳ thời đại
hay quốc gia nào” bởi số đông và một cách đồng nhất, nên nó mặc nhiên bị xếp
vào loại vi phạm quy luật.
Hume ngầm đặt ra
một tình cảnh: Nếu bạn tin vào chuyện Lazarus, bạn đang tin vào một điều chưa
từng có tiền lệ trong hàng tỷ năm kinh nghiệm của nhân loại. Ông thách thức: “Tại
sao bạn lại tin vào lời kể của một vài người trong một cuốn sách cổ, trong khi
toàn bộ lịch sử nhân loại và giác quan của chính bạn lại chứng minh điều ngược
lại?”. Lazarus chính là “đối tượng thí nghiệm” mà Hume đưa lên bàn cân. Ông
muốn nói rằng: Về mặt logic, việc “người kể chuyện Lazarus bị nhầm lẫn hay thêu
dệt” (một hiện tượng tâm lý rất người) vẫn dễ xảy ra hơn là việc “quy luật sinh
tử bị đảo lộn”.
Hume cũng giải
thích thêm lý do đám đông lại dễ dàng tin vào chuyện Lazarus sống lại hơn là
tin vào những quy luật khoa học khô khan. Hume giải thích hiện tượng này bằng
tâm lý học về “Sự say mê cái kỳ quái” (The passion of surprise and wonder).
Theo ông, con người có xu hướng vứt bỏ lý trí vì những lý do sau: 1.
Sự sướng rơn của trí tưởng tượng: Hume cho rằng cảm giác ngạc nhiên
và kinh ngạc (wonder) mang lại một sự thỏa mãn cực lớn cho tâm trí. Khi nghe
chuyện Lazarus sống lại, con người cảm thấy phấn khích. Sự phấn khích này mạnh
đến mức nó làm “đứng hình” khả năng suy luận logic. Chúng ta muốn tin vì nó làm
cuộc sống bớt nhàm chán hơn là những quy luật khô khan như “ai rồi cũng chết”. 2.
Sự cộng hưởng giữa Tôn giáo và Lòng nhiệt thành: Nếu chuyện lạ lùng
đó lại gắn liền với đức tin tôn giáo, thì lòng nhiệt thành (enthusiasm) sẽ lấn
át hoàn toàn lý trí. Hume mỉa mai rằng: Một người có đức tin sẽ kể lại phép lạ
không phải vì họ biết nó đúng, mà vì họ muốn nó đúng để phục vụ cho sự
thánh thiện. Khi đó, sự hùng hồn của người kể và sự khao khát của người nghe
tạo thành một liên minh chống lại sự thật khách quan. 3. Nguyên tắc “Lời nói dối dễ lan
truyền xa rộng và lâu dài”: Hume chỉ ra rằng những người kể chuyện
phép lạ thường có tâm lý: (a) Họ tự huyễn hay chính mình để trở nên cao cả, nổi
tiếng (b) Họ biết đám đông thích nghe điều đó, và sự tán thưởng của đám đông
lại càng củng cố thêm niềm tin sai lệch của họ.
Hume muốn nói
rằng đám đông tin chuyện Lazarus không phải vì có bằng chứng, mà vì “cái
miệng của kẻ huênh hoang tìm thấy cái tai của kẻ khờ khạo”. Sự kỳ
quái của phép lạ chính là “mồi nhử” khiến con người tự nguyện bị lừa dối.
Hume cũng cho biết
thêm rằng những phép lạ này luôn chỉ xảy ra ở những “dân tộc dã man và dốt nát”
(ignorant and barbarous nations). Hume đưa ra lập luận này để củng cố
rằng phép lạ không phải là vấn đề của thực tại, mà là vấn đề của trình
độ dân trí. Theo ông, có 3 lý do khiến phép lạ luôn “nở rộ” ở những
vùng đất hay thời đại mà ông gọi là “dã man và dốt nát”: 1.
Sự thiếu vắng của tinh thần hoài nghi: Ở những dân tộc này, con
người chưa có thói quen kiểm chứng bằng chứng hay sử dụng những quy luật vật lý
để giải thích hiện tượng. (a) Họ chấp nhận mọi điều kỳ quái với một sự ngây
thơ tuyệt đối. (b) Ngược lại, ở những xã hội văn minh và có tư duy
khoa học, những “phép lạ” thường bị bóc trần hay không bao giờ dám xuất hiện,
vì “người biểu diễn” biết rằng họ sẽ bị soi xét bởi những bộ óc tỉnh táo.
2. Sự che đậy của thời
gian và khoảng cách: Hume
mỉa mai rằng những phép lạ thường được kể là đã xảy ra ở một nơi rất
xa xôi hay trong một quá khứ mịt mờ. (a)
Khoảng cách địa lý và thời gian giúp ngăn cản việc kiểm chứng tại
chỗ. (b) Khi câu chuyện truyền đến tai những người dân ở xa, nó đã
được bồi đắp thêm bao nhiêu tình tiết li kỳ, và vì không có ai ở đó để bác bỏ,
nó mặc nhiên trở thành “sự thật”.
3. Quy luật “Văn minh
hóa” những phép lạ: Hume
quan sát thấy một mô típ lịch sử: Khi một dân tộc càng tiến gần đến văn minh và
khoa học, số lượng phép lạ sẽ ít dần và biến mất.. Ông
chỉ ra rằng những tôn giáo lớn thường bắt đầu từ những thuật kể phép lạ ở những
bộ lạc lạc hậu. Khi tôn giáo đó đã vững mạnh, họ không còn cần phép lạ nữa vì
họ đã có quyền lực chính trị và giáo điều để duy trì niềm tin.
Hume ngầm ý rằng
nếu phép lạ là có thật và là quy luật của vũ trụ, tại sao chúng không xảy ra
ngay giữa thủ đô London hay Paris thế kỷ 18, trước sự chứng kiến của những nhà
khoa học? Việc chúng chỉ xảy ra ở “xứ xa” hay “ngày xưa” chứng tỏ chúng chỉ là sản
phẩm của sự dối trá kết hợp với sự thiếu hiểu biết.
