(An Enquiry
concerning Human Understanding)
David Hume
TIẾT X.
Về Phép Lạ.
PHẦN I.
E 10. 1, SBN 109
Trong những bài viết của tiến sĩ gót học Tillotson, có một lập luận chống lại thuyết hiện diện thực thể vốn súc tích, thanh
nhã và mạnh mẽ đến mức tối đa mà một lập luận có thể đạt tới khi đối đầu với
một giáo lý vốn chẳng mấy đáng để bác bỏ tường tận đến thế. [1]
Vị giáo
chủ uyên bác này nói rằng, mọi phía đều nhìn nhận rằng thẩm quyền của Kinh
Thánh hay Truyền thống đều thuần túy dựa trên lời chứng của những tông đồ —
những nhân chứng mắt thấy tai nghe về những phép mầu của Đấng Cứu Thế, những
minh chứng cho sứ mệnh thiêng liêng của Ngài. Do đó, bằng chứng hiển nhiên của
chúng ta về sự thật của đạo Ki tô luôn thấp hơn bằng chứng hiển nhiên về sự
thật từ những giác quan của chính chúng ta; bởi lẽ, ngay cả với những vị khởi
xướng tôn giáo, bằng chứng ấy cũng không thể lớn hơn [giác quan]; và hiển nhiên
là nó phải suy giảm khi truyền từ họ sang những môn đồ; chẳng ai có thể đặt để
vào lời chứng của họ một sự tin cậy ngang bằng với đối tượng trực tiếp từ giác
quan của chính mình. Thế nhưng, một bằng chứng yếu hơn thì
không bao giờ có thể lật đổ một bằng chứng mạnh hơn; do đó, dù học thuyết về sự
hiện diện thực tại có được vén lê cho thấy huyền nhiệm rõ ràng đến thế nào trong
Kinh Thánh đi nữa, thì việc chúng ta chấp nhận nó vẫn trực tiếp đi ngược lại những quy tắc của suy luận chuẩn
xác. Nó mâu thuẫn với giác quan, trong khi cả Kinh Thánh lẫn Truyền thống —
những nền tảng giả định của giáo lý này — đều không mang lại sức nặng chứng cứ
như giác quan khi chúng chỉ được xem xét như là những bằng chứng ngoại tại, vốn
không được thấu đạt đến tâm khảm mỗi người bởi sự vận hành tức thời của Gót
Thánh Thần. [2]
E 10. 2, SBN 110
Không có gì đắc dụng bằng một lập luận mang
tính quyết định như thế; nó ít nhất cũng phải làm câm lặng thói cố chấp và mê
tín ngông cuồng nhất, đồng thời giải phóng chúng ta khỏi những lời quấy nhiễu
xấc xược của chúng. Tôi tự hào rằng đã tìm ra được một lập luận có tính chất
tương tự, nếu chuẩn xác, sẽ trở thành một rào cản vĩnh cửu với mọi loại mê lầm
huyễn hoặc trước những người thông thái và học thức; và do đó, nó sẽ hữu dụng
chừng nào thế gian này còn hiện hữu. Bởi tôi trộm nghĩ rằng, chừng nào thế giới
còn đó, thì những chuyện kể về về những phép lạ và những điềm quái dị [3] sẽ vẫn được tìm thấy trong
mọi gghi chép lịch sử, dù là thiêng liêng hay trần tục.
E 10. 3, SBN 110
Mặc dù kinh
nghiệm là người dẫn đường duy nhất của chúng ta trong những suy luận liên quan
đến sự kiện thực tế; nhưng cũng phải nhìn nhận rằng người dẫn đường này không
hoàn toàn không thể sai lầm, mà trong một số trường hợp nhất định, nó dễ dẫn
dắt chúng ta vào những sai lầm.
Một người sống trong điều kiện khí hậu của
chúng ta, để mong đợi rằng
thời tiết vào bất kỳ tuần nào của tháng Sáu cũng đều tốt hơn một tuần của tháng
Mười Hai—sẽ là người suy luận chuẩn xác và phù hợp với kinh nghiệm; nhưng chắc chắn rằng, trên
thực tế, người này vẫn có thể thấy bị nhầm lẫn. Tuy nhiên, chúng ta có thể quan sát thấy
rằng trong một trường hợp như vậy, người này không có lý do gì để phàn nàn về kinh
nghiệm; bởi lẽ kinh nghiệm thường thông báo trước cho chúng ta về sự bất định, qua
chính sự trái ngược của những sự kiện vốn chúng ta có thể rút ra được từ một tiến trình quan sát
cần mẫn. Không phải tất cả những hệ quả đều rút ra từ những nguyên nhân giả
định với cùng một mức độ chắc chắn như nhau. Có những sự kiện được tìm thấy ở
mọi quốc gia và mọi thời đại là luôn luôn kết hợp (conjoined) chặt chẽ với
nhau; nhưng cũng có những sự kiện khác được thấy là biến thiên nhiều hơn, và
đôi khi làm thất vọng những mong đợi của chúng ta; sao cho, trong những suy
luận của chúng ta liên quan đến sự kiện thực tế, có đủ mọi mức độ ttin cậy có
thể tưởng tượng được, từ sự chắc chắn cao nhất cho đến bậc thấp nhất của bằng
chứng hiển nhiên từ thực nghiệm.
E 10. 4, SBN 110-1
Do đó, một người khôn ngoan cân nhắc tin tưởng
của mình sao cho tương xứng
với bằng chứng. Trong những kết luận như vậy vốn đều dựa trên
một kinh
nghiệm không thể sai lầm, người này mong đợi biến cố đó với mức độ chắc chắn
tuyệt đối, và coi kinh nghiệm trong quá khứ của mình là bằng chứng đầy đủ cho sự hiện hữu trong
tương lai của biến cố đó. Trong những trường hợp khác, người này tiến hành thận trọng hơn:
Người này đặt những thực nghiệm đối lập lên bàn cân, xem xét được số lượng thí
nghiệm lớn ủng hộ bởi, rồi mới nghiêng về phía đó, với sự nghi ngờ và do dự; và
khi cuối cùng đã đúc kết phán đoán của mình, bằng chứng thu được cũng không
vượt quá những gì mà chúng ta mà chúng ta gọi là xác suất theo đúng nghĩa của nó.
Như vậy, mọi xác suất đều giả định một sự đối
lập giữa thực nghiệm và quan sát, nơi ta thấy một bên lấn át bên kia và tạo ra
một mức độ bằng chứng tương xứng với ưu thế đó. Một trăm trường hợp hay thực
nghiệm ở bên này đối chọi với năm mươi thực nghiệm ở bên kia chỉ mang lại một
sự trông đợi đầy hoài nghi về việc liệu biến cố đó có xảy ra hay không; tuy
nhiên, một trăm thực nghiệm đồng nhất nếu chỉ vấp phải một thực nghiệm mâu
thuẫn duy nhất vẫn có thể tạo ra một mức độ tin cậy khá vững vàng. Trong mọi
hoàn cảnh, chúng ta phải cân bằng những thực nghiệm đối lập khi chúng xung đột
nhau, rồi lấy số lớn trừ đi số nhỏ để xác định được sức mạnh chính xác của bằng chứng vượt
trội.
E 10. 5, SBN 111-2
Để áp dụng những
nguyên tắc này vào một trường hợp cụ thể, chúng ta có thể nhận thấy rằng: không
có loại lập luận nào phổ biến hơn, hữu ích hơn, và thậm chí là thiết yếu cho
đời sống con người hơn loại lập luận dựa trên lời chứng của con người, cùng
những lời kể từ những nhân chứng mắt thấy và người quan sát. Có lẽ, người
ta sẽ phủ nhận việc loại lập luận này được xây dựng trên tương
quan nhân quả. Tôi sẽ không
tranh luận về một từ ngữ nào. Chỉ cần nhận thấy điều này là đủ: sự tin chắc của chúng ta trong bất kỳ
lập luận nào thuộc loại này không bắt nguồn từ nguyên lý nào khác ngoài việc
chúng ta quan sát thấy tính xác thực trong lời chứng của con người, và sự phù
hợp thông thường giữa những sự kiện thực tế với lời kể của nhân chứng.
Vì một châm ngôn
chung cho rằng: giữa những sự vật vốn không hiện hữu mối liên kết nào mà
chúng ta có thể tìm thấy được, và mọi suy luận giúp chúng ta đi từ sự vật này
sang sự vật khác đều chỉ dựa trên kinh nghiệm về sự kết hợp liên tục và đều đặn
của chúng; nên rõ ràng là chúng ta không nên coi lời chứng của con người là
ngoại lệ. Bởi lẽ, mối liên kết giữa lời chứng với bất kỳ sự kiện nào, tự thân
nó, dường như cũng không mang tính tất yếu hơn bất kỳ mối liên kết nào khác. Nếu
trí nhớ không bền bỉ ở một mức độ nhất định; nếu con người thường tình không có
thiên hướng hướng tới sự thật và một nguyên tắc trung thực; nếu họ không biết
hổ thẹn khi bị tìm thấy là đang dối trá: Nếu những điều này — tôi muốn nhấn
mạnh — không phải được tìm thấy qua kinh nghiệm là những phẩm chất vốn có trong
bản chất con người, chúng ta sẽ không bao giờ đặt một chút tin cậy nhỏ nhất vào
lời chứng của con người. Một người đang mê sảng, hay một người đã mang
tiếng dối trá và gian ác, thì lời nói chẳng còn chút sức nặng nào với
chúng ta.
E 10. 6, SBN 112
Và vì bằng chứng, thu được từ những nhân chứng
và lời khai của con người, được xây dựng dựa trên kinh nghiệm quá khứ, nên nó
thay đổi theo kinh nghiệm và được coi là bằng chứng hay xác suất, tùy thuộc vào
sự kết hợp giữa bất kỳ loại thuật kể cụ thể nào và bất kỳ loại đối tượng nào
được tìm ra là không đổi hay thay đổi. Có một số hoàn cảnh cần được xem xét
trong tất cả những phán đoán thuộc loại này; và tiêu chuẩn cuối cùng, vốn chúng
ta dùng để xác định tất cả những tranh chấp có thể nảy sinh liên quan đến chúng,
luôn được rút ra từ kinh nghiệm và quan sát. Khi kinh nghiệm này không hoàn
toàn đồng nhất ở bất kỳ bên nào, nó đi kèm với sự trái ngược không thể tránh
khỏi trong những phán đoán của chúng ta, và với cùng sự đối lập và sự phá hủy
lẫn nhau của lập luận như trong tất cả những loại bằng chứng khác. Chúng ta
thường do dự về những thuật kể của người khác. Chúng ta cân bằng những hoàn
cảnh đối lập, gây ra bất kỳ nghi ngờ hay không chắc chắn nào; và khi chúng
tatìm thấy một ưu thế nghiêng về bên nào, chúng ta sẽ ngả theo bên đó; nhưng
mức độ xác tín sẽ luôn bị giảm đi, tỷ lệ thuận với sức mạnh của phía đối trọng.
E 10. 7, SBN 112-3
Sự trái ngược về
bằng chứng này, trong trường hợp hiện tại, có thể bắt nguồn từ nhiều nguyên
nhân khác nhau: từ sự đối chọi của những lời chứng trái ngược nhau; từ tư cách
hay số lượng của những nhân chứng; từ cách thức họ đưa ra lời chứng; hoặc từ sự
kết hợp của tất cả những dữ kiện kèm theo này.
Chúng ta sẽ nảy
sinh sự nghi ngờ với bất kỳ sự kiện thực tế nào khi: những nhân chứng mâu thuẫn
lẫn nhau; khi họ quá ít, hoặc có tư cách đáng nghi; khi họ có tư lợi trong
những gì họ khẳng định; khi họ đưa ra lời chứng với sự do dự, hoặc ngược lại, với
những lời cam đoan quá quyết liệt. Còn nhiều chi tiết khác cùng loại có thể làm
giảm bớt hoặc phá hủy sức nặng của bất kỳ lập luận nào rút ra từ lời chứng của
con người.
E 10. 8, SBN 113
Hãy giả định, chẳng
hạn, rằng sự kiện mà lời chứng cố gắng xác lập mang cả đặc tính phi thường lẫn
kỳ diệu; trong trường hợp đó, bằng chứng thu được từ lời chứng sẽ chịu một sự
suy giảm, lớn hay nhỏ, tỷ lệ thuận với mức độ bất thường của sự kiện đó. Lý do
khiến chúng ta đặt bất kỳ tin cậy nào vào những nhân chứng và sử gia không bắt nguồn từ
bất kỳ liên hệ nào mà chúng ta nhận thức được tiên nghiệm giữa lời chứng và
thực tại, mà đơn giản là vì chúng ta đã quen tìm thấy sự tương hợp giữa chúng.
Nhưng khi một sự kiện được chứng thực lại
thuộc loại hiếm khi ta quan sát thấy trong thực tế, ta sẽ đối mặt với một cuộc
giao tranh giữa hai kinh nghiệm trái ngược. Ở đó, kinh nghiệm này sẽ triệt tiêu
kinh nghiệm kia tương ứng với mức độ sức mạnh của nó, và bên nào chiếm ưu thế
sẽ chỉ còn tác động lên não
thức chúng ta bằng phần sức nặng dư lại sau khi đã khấu
trừ. Chính nguyên lý kinh nghiệm vốn giúp chúng ta có mức độ tin cậy
nhất định vào lời kể của nhân chứng, thì trong trường hợp này, cũng tạo ra một
sự xác tín tương đương để phản bác lại sự kiện mà họ đang cố gắng thiết lập. Từ sự mâu thuẫn
đó tất yếu nảy sinh một đối trọng, khiến lòng tin tưởng và thẩm quyền của
đôi bên tự triệt tiêu lẫn nhau.
E 10. 9, SBN 113
Tôi sẽ không tin một câu chuyện như thế
ngay cả khi nó được kể bởi Cato ; đó là một câu ngạn ngữ cửa
miệng tại Rome, ngay cả trong thời đại của vị ái quốc triết gia đó còn sống [21]. Người
ta nhìn nhận
rằng, tính chất phi lý của một sự kiện có thể làm mất đi giá trị của ngay cả
một thẩm quyền lớn lao đến thế. [4]
E 10. 10, SBN 113-4
Vị hoàng tử India,
người đã từ chối tin vào những lời kể đầu tiên về tác động của băng giá, đã suy
luận một cách xác đáng; và lẽ tự nhiên là cần phải có những lời chứng rất mạnh
mẽ mới có thể khiến ông chấp nhận những sự kiện nảy sinh từ một trạng thái tự
nhiên mà ông chưa từng biết tới, và là những sự kiện ít có nét tương đồng với những
biến cố mà ông đã có kinh nghiệm liên tục và đồng nhất về chúng. Mặc dù những
sự kiện ấy không trái ngược với kinh nghiệm của ông, nhưng chúng không phù hợp với kinh nghiệm đó [22].
E 10. 11, SBN 114
Nhưng để gia tăng xác suất chống lại lời chứng
của những nhân chứng, ta hãy giả định rằng sự kiện vốn họ khẳng định, thay vì chỉ
là kỳ diệu, thì thực sự là một phép lạ; và cũng giả định rằng lời chứng đó, khi
được xét riêng biệt và tự thân nó, đã tương đương với một minh chứng trọn vẹn;
trong trường hợp đó, sẽ có minh chứng đối đầu với minh chứng, mà trong đó bên
mạnh nhất phải thắng thế, nhưng vẫn với một sự suy giảm sức mạnh tỉ lệ thuận
với sức mạnh của phía đối trọng.
E 10. 12, SBN 114-5
Phép lạ là một sự
vi phạm những quy luật của tự nhiên; và vì một kinh nghiệm vững chắc cùng bất
biến đã thiết lập nên những quy luật này, nên minh chứng chống lại phép lạ, xét
từ chính bản chất của sự việc, là trọn vẹn nhất trong số những lập luận từ kinh
nghiệm mà ta có thể hình dung được.
Tại sao việc mọi
người đều phải chết; rằng chì không thể tự lơ lửng trong không trung; rằng lửa
thiêu đốt gỗ và bị dập tắt bởi nước, lại được coi là chắc chắn hơn cả mức xác
suất? Chẳng phải vì những biến cố này phù hợp với những quy luật của tự nhiên, và
việc ngăn chặn chúng đòi hỏi một sự vi phạm những quy luật đó, hay nói cách
khác, là cần một phép lạ hay sao? [5]
Chẳng điều gì
được coi là phép lạ nếu nó từng xảy ra trong tiến trình tự nhiên thông thường. Việc
một người đang khỏe mạnh bỗng nhiên chết đột ngột không phải là phép lạ: bởi lẽ
kiểu chết đó, dù ít phổ biến hơn những trường hợp khác, vẫn thường xuyên được
quan sát thấy. Nhưng việc một người chết mà sống lại thì đúng thực là một phép
lạ; bởi vì điều đó chưa từng được quan sát thấy ở bất kỳ thời đại hay quốc gia
nào. [6]
Do đó, phải có
một kinh nghiệm đồng nhất chống lại mọi sự kiện mang tính phép lạ, nếu không sự
kiện đó sẽ không xứng với tên gọi này. Và vì một kinh nghiệm đồng nhất tương
đương với một minh chứng, nên ở đây ta có một minh chứng trực tiếp và đầy đủ, từ
chính bản chất của sự việc, để bác bỏ sự hiện hữu của bất kỳ phép lạ nào; một
minh chứng như thế không thể bị phá vỡ, và phép lạ cũng không thể trở nên đáng
tin, trừ khi có một minh chứng đối lập mang sức nặng vượt trội hơn. [23].
E 10. 13, SBN 115-6
Hệ quả hiển nhiên
là (và đây là một nguyên tắc tổng quát đáng để chúng ta lưu ý) [7]
: Không một lời chứng nào đủ sức xác lập một phép lạ, trừ khi lời chứng đó
thuộc loại mà nếu nó sai lầm, thì sự sai lầm đó còn khó tin đến mức mang tính
chất của phép lạ hơn cả chính sự việc mà nó cố gắng xác lập. Và ngay cả trong
trường hợp đó, những lập luận vẫn tự triệt tiêu lẫn nhau; phía ưu thế hơn chỉ
mang lại cho chúng ta một sự bảo chứng tương ứng với phần sức mạnh còn lại sau
khi ta đã khấu trừ đi phía yếu hơn. [8]
Khi bất kỳ ai nói với tôi rằng họ thấy một
người chết sống lại, tôi lập tức tự cân nhắc: liệu việc người này lừa dối hoặc
bị lừa dối có thể xảy ra cao hơn, hay sự việc mà họ kể lại thực sự đã xảy ra?
Tôi đặt phép lạ này lên bàn cân với phép lạ kia; dựa trên sức nặng bên nào vượt
trội hơn, tôi đưa ra quyết định, và luôn luôn bác bỏ phép lạ lớn hơn. Chỉ khi
nào sự sai lầm trong lời chứng của người này còn khó tin (mang tính phép lạ) [9] hơn cả biến cố mà họ thuật lại; thì khi đó, và chỉ đến khi đó, người
này mới có quyền đòi hỏi tôi phải tin tưởng hay chấp thuận. [10]
Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ hai
(Mar/2026
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1] John Tillotson (1630–1694) : Tổng giám mục Canterbury là người lãnh đạo tinh thần cao nhất của Hội nhà thờ đạo Kitô-kiểu-Anh
(Church of England) và là lãnh đạo danh dự của Khối Hiệp thông đạo Kitô-kiểu-Anh
(Anglican Communion) trên toàn thế giới. Canterbury (Canterbury Cathedral): Đây
là một trong những công trình đạo Kitô lâu đời và nổi tiếng nhất nước Anh, được
coi là “Nhà mẹ” của Khối Hiệp thông đạo Kitô-kiểu-Anh toàn cầu. Đây là nơi đặt tòa giám mục của
Tổng giám mục Canterbury.
Hội nhà thờ đạo
Kitô-kiểu-Anh (Anglicanism) không phê bình bản chất của Bí tích Thánh Thể nhưng
họ phê bình cách giải thích mang tính siêu hình và những thực hành mê tín xung
quanh bí tích này của Hội nhà thờ Kitô Rôma thời Trung cổ. Cụ thể, quan điểm
của đạo Kitô-kiểu-Anh (được ghi rõ trong Điều 28 của 39 Điều khoản Tín hữu)
tập trung vào những điểm sau: 1. Bác bỏ Thuyết Biến thể (Transubstantiation):
đạo Kitô-kiểu-Anh phê bình học thuyết cho rằng bánh và rượu biến đổi hoàn toàn
về bản chất (substance) thành Mình và Máu thực sự của Gót. Lý do phê bình là:
Không có cơ sở Kinh Thánh: Họ cho rằng thuyết này không thể chứng minh được
bằng Kinh Thánh. Đi ngược lại bản chất Bí tích: Theo đạo Kitô-kiểu-Anh, một bí
tích phải có cả dấu chỉ bên ngoài (bánh và rượu) và ân sủng bên trong (Mình và
Máu Gót). Nếu bánh và rượu biến mất hoàn toàn, nó không còn là một bí tích đúng
nghĩa. Dẫn đến mê tín: đạo Kitô-kiểu-Anh cho rằng việc tin bánh là “Thịt thực
sự” dẫn đến những thực hành mà họ coi là mê tín thời bấy giờ. 2. Sự hiện diện “Thiêng
liêng” thay vì “Vật chất”: đạo Kitô-kiểu-Anh khẳng định Gót Kitô thực sự hiện
diện trong Thánh Thể, nhưng theo cách thiêng liêng và siêu nhiên thay vì cách
vật chất hay “xác thịt”. Người rước lễ nhận lấy Gót bằng đức tin trong tâm hồn,
chứ không phải chỉ bằng việc ăn bánh vật chất. 3. Phê bình việc Tôn thờ và Lưu
giữ Bánh Thánh: Trong lịch sử, Điều 28 khẳng định rằng Bí tích Thánh Thể không
được thiết lập để: Lưu giữ (Reserved): Cất giữ bánh thánh để thờ phượng. Cung
nghinh (Carried about): Rước bánh thánh ngoài đường (như lễ Mình và Máu Thánh
Gót). Nâng lên (Lifted up) hay Thờ lạy (Worshipped): đạo Kitô-kiểu-Anh ban đầu
phê bình việc quỳ lạy bánh thánh như chính Gót Giêsu hiện diện vật chất, nó
muốn đưa Bí tích Thánh Thể trở về ý nghĩa nguyên thủy là một Bữa tiệc Tưởng
niệm và sự hiệp thông thiêng liêng, thay vì một phép mầu biến đổi vật chất phức
tạp kiểu triết học Trung cổ.
[2] “Sự Hiện diện thực thể” (nguyên văn tiếng Anh: Real Presence): là từ ngữ gót học chỉ học
thuyết về Bí tích Thánh Thể. Hume đang nhắm đến tín điều Kitô rằng Trong lễ ban
Thánh Thể, bánh và rượu thực sự biến thành Mình và Máu của Gót Giê-su (chứ
không chỉ mang tính biểu tượng) Hume dùng tư tưởng của một nhà hiền triết theo thuyết
kinh nghiệm để “tấn công” học thuyết này dựa trên logic về bằng chứng: (a) Bằng
chứng của Giác quan (Mạnh nhất): Khi bạn nhìn, chạm và nếm bánh/rượu, giác quan
của bạn khẳng định 100% đó vẫn là bánh và rượu. Với Hume, đây là loại bằng
chứng trực tiếp và đáng tin cậy nhất. (b) Bằng chứng của Kinh Thánh/Truyền
thống (Yếu hơn): Đây là những bằng chứng “ngoại tại”, được truyền lại qua lời
kể hay văn bản. Theo Hume, độ tin cậy của chúng không thể nào sánh bằng kinh
nghiệm trực tiếp của giác quan con người. > (c) Sự mâu thuẫn: Nếu Kinh Thánh
bảo đó là “Thịt/Máu” nhưng mắt bạn thấy đó là “Bánh/Rượu”, Hume cho rằng một
người có suy luận chuẩn xác phải tin vào giác quan của mình. Ông coi việc ép
người ta tin vào điều mâu thuẫn với giác quan là đi ngược lại quy tắc logic. “Sự
hiện diện thực thể” ở đây chính là mục tiêu mà Hume dùng để minh họa cho luận
điểm: Bất kỳ phép lạ hay giáo lý nào mâu thuẫn trực tiếp với giác quan thì đều
thiếu cơ sở để tin theo.
[3] Miracles & Prodigies Phép Lạ
(Miracles): Là những hiện tượng siêu nhiên được ghi chép trong kinh điển của
những tôn giáo Abraham, được coi là minh chứng trực tiếp cho quyền năng thần
linh nhằm xác tín đức tin. Đây là những sự kiện đi ngược lại những quy luật tự
nhiên (như người chết sống lại hay đi trên mặt nước) nhờ sự can thiệp tức thời
của Gót, Thần linh. Chúng mang tính thiêng liêng với mục đích “vén lên cho thấy
huyền bí”—tức là hành động thần linh “vén bức màn” bí mật để hiển lộ những
huyền nhiệm vốn vượt quá khả năng thấu hiểu tự nhiên của con người. Prodigies
(Điềm quái dị / Sự lạ): Những hiện tượng bất thường, cực kỳ hiếm gặp, quái dị
xảy ra trong tự nhiên nhưng không nhất thiết phải là do thần linh làm ra (thí
dụ: mưa máu, động vật biến dị, nhật thực toàn phần thời cổ đại). Việc Hume gộp
cả hai vào dòng chảy lịch sử “thiêng liêng và phàm tục” như một dụng ý cho thấy
những gì thường vẫn được tôn thờ là mầu nhiệm trong tôn giáo (đặc biệt trong
đạo Kitô) thực chất chỉ là những biến thể của những chuyện quái dị vẫn có trong
dân gian mê tín —nhưng chỉ khác biệt ở lớp áo thần thánh bao phủ bên ngoài nhằm
đánh lừa lý trí con người.
[4] Cato: Ở đây chỉ Cato
Trẻ (Cato the Younger), một nhân vật lịch sử Rome nổi tiếng với sự liêm chính
và trung thực tuyệt đối. Việc dùng tên ông trong ngạn ngữ nhằm nhấn mạnh rằng:
ngay cả người trung thực nhất thế gian cũng không thể khiến một chuyện phi lý
trở nên đáng tin.
[5] “mọi người đều
phải chết; rằng chì không thể tự lơ lửng trong không trung; rằng lửa thiêu đốt
gỗ và bị dập tắt bởi nước, …. lại được coi là chắc chắn hơn cả mức xác suất…” : Khi đưa ra những thí dụ hiển nhiên này,
Hume ngầm chỉ trích và thiết lập một nền tảng tư tưởng cực kỳ quan trọng: Sự khác biệt giữa “Ý niệm” và “Quy luật Tự
nhiên dựa trên Kinh nghiệm”. Cụ thể, ông muốn nói đến 3 điều sau:
1. Phép lạ không chỉ là “chuyện lạ”, nhưng là “sự
vi phạm”: Hume ngầm định
nghĩa lại thế nào là một quy luật. Việc chì không thể lơ lửng hay lửa thiêu gỗ
không phải là những sự kiện ngẫu nhiên, nhưng là những kinh nghiệm bất biến (unalterable experience). > Một sự kiện chỉ được gọi là “phép lạ” khi nó đi ngược lại hoàn
toàn với hàng tỉ tỉ kinh nghiệm xảy ra của nhân loại từ xưa đến nay. Nếu một sự
kiện chỉ là “hiếm gặp” (như người chết đột ngột), nó chưa phải là phép lạ. Phép
lạ phải là thứ khiến toàn bộ trật tự tự nhiên bị bẻ gãy.
2. Sự xác tín tuyệt đối (Beyond Probability): Trong triết học, chúng ta thường nói về “xác
suất” (có thể đúng hay sai). Nhưng Hume ngầm chỉ rằng: Có những gì đạt đến mức
độ xác tín hoàn toàn đến mức ta không
còn coi nó là xác suất nữa. > “Mọi người đều phải chết” là một minh chứng
(proof) trọn vẹn. Hume muốn dùng sức nặng của những sự thật “không thể chối cãi”
này để làm đối trọng với sức nặng của những lời kể về phép lạ. Ông đang hỏi:
chúng ta tin vào hàng tỉ năm kinh nghiệm của nhân loại, hay tin vào lời kể
của một vài cá nhân?
3. Bản chất của “Minh chứng” (Proof vs. Argument): Hume phân biệt giữa một “lập luận”
(argument – có thể tranh luận) và một “minh chứng” (proof – dựa trên kinh
nghiệm đồng nhất). > Những quy luật tự nhiên như lửa cháy, nước dập lửa đã
được “thiết lập” (established) bởi một dòng chảy kinh nghiệm không bao giờ đứt
đoạn. Vì thế, minh chứng chống lại phép lạ luôn luôn là “trọn vẹn nhất” (entire).
Hume cho chúng ta
thấy rằng lý trí không được phép nhượng
bộ trước cảm xúc. Những thí dụ về chì, lửa, và cái chết là những “neo chặn”
của thực tế. Ông đang chuẩn bị cho đòn tấn công quyết định: Nếu chúng ta không
thấy chì tự bay lên trước mắt mình, thì tại sao chúng ta lại tin vào lời kể của
một ai đó nói rằng họ đã thấy điều tương tự xảy ra trong quá khứ?
Hume coi việc “lửa thiêu đốt gỗ” là một minh chứng
mạnh hơn bất kỳ văn bản nào vì ông ưu tiên Kinh
nghiệm trực tiếp và Sự đồng nhất của
tự nhiên. Có 3 lý do chính:
1. Sự thật của Giác quan so với Lời thuật lại: Lửa
thiêu gỗ: Là thứ chính
chúng ta và mọi người ở mọi thời đại đều có thể quan sát trực tiếp. Bằng chứng
này đến thẳng với tâm lý qua giác quan. Văn
bản tôn giáo: Chỉ là lời kể lại (kinh nghiệm gián tiếp). Theo Hume, sức
nặng của bằng chứng sẽ giảm dần khi nó được truyền qua nhiều người hay qua
nhiều trang giấy.
2. Sự đồng nhất (Uniformity) tuyệt đối: Hume lập luận rằng những quy luật như “lửa
thiêu gỗ” hay “nước dập lửa” được xác lập bởi một kinh nghiệm vững chắc và bất biến. Chưa bao giờ có ai thấy lửa gặp
gỗ vốn không cháy (trong điều kiện bình thường). Ngược lại, những văn bản tôn
giáo thuật lại những sự kiện chỉ xảy ra một lần, không lặp lại và không thể
kiểm chứng. Với Hume, một sự kiện xảy ra hàng tỷ lần luôn có sức nặng đè bẹp
một sự kiện chỉ được kể là đã xảy ra một lần.
3. Bản chất của “Minh chứng” (Proof): Trong logic của Hume, khi một kinh
nghiệm xảy ra diễn ra giống hệt nhau vốn không có ngoại lệ, nó được nâng cấp từ
“xác suất” lên thành “minh chứng” (proof).
Văn bản tôn giáo chỉ mang lại một lập luận có tính khả nghi. Quy luật tự nhiên
mang lại một minh chứng trọn vẹn. Nếu chúng ta tin vào một văn bản cổ xưa kể về
việc “lửa không thiêu cháy người” hơn là tin vào bản chất của ngọn lửa mà chúng
ta đang nhìn thấy trước mắt, thì chúng ta đang phản bội lại chính trí khôn và
giác quan của chúng ta.
Đây chính là bước
đệm để Hume đưa ra kết luận chấn động: Không có phép lạ nào đủ sức lật đổ
những quy luật tự nhiên, trừ khi việc lời kể về phép lạ đó bị sai còn phi lý
(mang tính phép lạ) hơn chính cái phép lạ đó.
[6] “Nhưng việc một
người chết mà sống lại thì đúng thực là một phép lạ; bởi vì điều đó chưa từng
được quan sát thấy ở bất kỳ thời đại hay quốc gia nào…”
(a. )
Khi Hume nhắc đến
việc “thấy một người chết sống lại”,
ông đang nhắm trực tiếp vào hai mục tiêu:
1. Phép lạ cốt lõi của Đạo Kitô: Sự Phục sinh (The
Resurrection): Dù Hume
đặt bút viết rất thận trọng để tránh bị hội nhà thờ kết tội, nhưng người đọc
thời đó đều hiểu ông đang nói đến Sự Phục
sinh của Gót Giê-su. Đạo Kitô dựa trên lời chứng của những tông đồ về việc
Gót sống lại sau ba ngày. Hume dùng thí dụ này để nói rằng: Theo đúng logic,
việc “những tông đồ lừa dối hay bị ảo giác” (một hiện tượng tâm lý con người)
vẫn có xác suất xảy ra cao hơn là việc “một người chết thực sự sống lại” (vi
phạm quy luật tự nhiên).
2. Những thuật kể về phép lạ đương thời: Vào thời của Hume (thế kỷ 18), có rất
nhiều tin đồn về những phép lạ xảy ra tại nghĩa trang Saint-Médard ở Paris liên quan đến nhóm Jansenist (một nhánh Kitô
Rôma). Những lời kể về việc chữa bệnh thần kỳ hay người chết sống lại tại đó
cực kỳ phổ biến. Hume dùng thí dụ “người chết sống lại” như một tình cảnh cực đoan nhất để thử thách lý trí. Nếu
ngay cả cái chết — quy luật bất biến nhất của tự nhiên — mà lời chứng còn muốn
lật ngược, thì lời chứng đó phải chịu sự kiểm tra gắt gao nhất. Ông không cần
chứng minh người chết không thể sống lại. Ông chỉ cần chứng minh rằng: Về mặt nhận thức, ta không bao giờ có đủ
bằng chứng để tin vào việc đó. (a) Bởi vì “kinh nghiệm đồng nhất” về việc
người chết thì không sống lại là một minh
chứng trọn vẹn. (b) Bất kỳ lời
chứng nào, dù hùng hồn đến đâu, cũng chỉ là một kinh nghiệm thứ cấp, luôn nhẹ
hơn cái cân của quy luật tự nhiên.
(b. )
‘việc một
người chết mà sống lại’ > Khi đưa ra thí dụ về “một người chết sống lại”, Hume muốn nhắc đến những phép lạ phục
sinh nổi tiếng nhất trong truyền thống Đạo Kitô, mà Lazarus là trường hợp điển hình nhất. Tuy nhiên, cách Hume dùng thí
dụ này mang đầy tính chiến thuật triết học:
1. Nhắm vào Lazarus và Sự Phục sinh của Gót
Giê-su: Trong Tân Ước, Lazarus là người đã chết bốn ngày và
được Gót Giê-su gọi sống lại từ hầm mộ. Bằng cách đặt trường hợp này cạnh thí
dụ về “chì lơ lửng” hay “lửa đốt gỗ”, Hume muốn hạ thấp tính thiêng liêng của
câu chuyện xuống thành một dữ liệu cần
kiểm chứng. Ông coi đó là một biến cố vi phạm quy luật tự nhiên, và do đó,
đòi hỏi một mức độ bằng chứng mà thực tế không lời chứng nào cung cấp nổi.
2. Sự phân biệt tinh quái giữa “Hiếm gặp” và “Phép
lạ” Hume rất sâu cay khi
so sánh: (a) Cái chết đột ngột: Dù
đáng sợ và bất ngờ, nhưng vì chúng ta đã thấy nó xảy ra nhiều lần (có kinh
nghiệm), nên nó vẫn nằm trong quy luật tự
nhiên. (b) Lazarus sống lại: Vì “chưa
từng được quan sát thấy ở bất kỳ thời đại hay quốc gia nào” bởi số đông và một
cách đồng nhất, nên nó mặc nhiên bị xếp vào loại vi phạm quy luật.
Hume ngầm đặt ra
một tình cảnh: Nếu chúng ta tin vào chuyện Lazarus, chúng ta đang tin vào một
điều chưa từng có tiền lệ trong hàng tỷ năm kinh nghiệm của nhân loại. Ông
thách thức: “Tại sao chúng ta lại tin vào lời kể của một vài người trong một
quyển sách cổ, trong khi toàn bộ lịch sử nhân loại và giác quan của chính chúng
ta lại chứng minh điều ngược lại?”. Lazarus chính là “đối tượng thí nghiệm” mà
Hume đưa lên bàn cân. Ông muốn nói rằng: Về mặt logic, việc “người kể chuyện
Lazarus bị nhầm lẫn hay thêu dệt” (một hiện tượng tâm lý rất người) vẫn dễ xảy
ra hơn là việc “quy luật sinh tử bị đảo lộn”.
Hume cũng giải
thích thêm lý do đám đông lại dễ dàng
tin vào chuyện Lazarus sống lại hơn là tin vào những quy luật khoa học khô khan.
Hume giải thích hiện tượng này bằng tâm lý học về “Sự say mê cái kỳ quái” (The passion of surprise and wonder).
Theo ông, con người có xu hướng vứt bỏ lý trí vì những lý do sau:
1. Sự thích thú khoái trá của trí tưởng tượng: Hume cho rằng cảm giác ngạc nhiên và kinh
ngạc (wonder) mang lại một sự thỏa mãn cực lớn cho tâm lý. Khi nghe chuyện
Lazarus sống lại, con người cảm thấy phấn
khích. Sự phấn khích này mạnh đến mức nó làm “đứng hình” khả năng suy luận
logic. Chúng ta muốn tin vì nó làm cuộc sống bớt nhàm chán hơn là những quy
luật khô khan như “ai rồi cũng chết”.
2. Sự cộng hưởng giữa Tôn giáo và Lòng nhiệt
thành: Nếu chuyện lạ lùng
đó lại gắn liền với đức tin tôn giáo, thì lòng nhiệt thành (enthusiasm) sẽ lấn
át hoàn toàn lý trí. Hume mỉa mai rằng: Một người có đức tin sẽ kể lại phép lạ
không phải vì họ biết nó đúng, nhưng vì họ muốn
nó đúng để phục vụ cho sự thánh thiện. Khi đó, sự hùng hồn của người kể và
sự khao khát của người nghe tạo thành một liên minh chống lại sự thật khách
quan.
3. Nguyên tắc “Lời nói dối dễ lan truyền xa rộng
và lâu dài”: Hume cho
thấy rằng những người kể chuyện phép lạ thường có tâm lý: (a) Họ tự huyễn hay
chính mình để trở nên cao cả, nổi tiếng (b) Họ biết đám đông thích nghe điều
đó, và sự tán thưởng của đám đông lại càng củng cố thêm tin tưởng có gốc tôn
giáo sai lệch của họ.
Hume muốn nói
rằng đám đông tin chuyện Lazarus không phải vì có bằng chứng, nhưng vì “cái miệng của kẻ huênh hoang tìm thấy cái
tai của kẻ khờ khạo”. Sự kỳ quái của phép lạ chính là “mồi nhử” khiến con
người tự nguyện bị lừa dối.
Hume cũng cho
biết thêm rằng những phép lạ này luôn chỉ xảy ra ở những “dân tộc dã man và dốt nát” (ignorant and barbarous nations).
Hume đưa ra lập luận này để củng cố rằng phép lạ không phải là vấn đề của thực
tại, nhưng là vấn đề của trình độ dân trí.
Theo ông, có 3 lý do khiến phép lạ luôn “nở rộ” ở những vùng đất hay thời đại
mà ông gọi là “dã man và dốt nát”: 1. Sự thiếu vắng của tinh thần hoài nghi: Ở
những dân tộc này, con người chưa có thói quen kiểm chứng bằng chứng hay dùng
những quy luật vật lý để giải thích hiện tượng. (a) Họ chấp nhận mọi điều kỳ
quái với một sự ngây thơ tuyệt đối. (b)
Ngược lại, ở những xã hội văn minh và có tư tưởng khoa học, những “phép lạ”
thường bị bóc trần hay không bao giờ dám xuất hiện, vì “người biểu diễn” biết
rằng họ sẽ bị soi xét bởi những bộ óc tỉnh táo.
2. Sự che đậy của thời gian và khoảng cách: Hume mỉa mai rằng những phép lạ thường
được kể là đã xảy ra ở một nơi rất xa xôi
hay trong một quá khứ mịt mờ. (a) Khoảng cách địa lý và thời gian giúp
ngăn cản việc kiểm chứng tại chỗ. (b) Khi
câu chuyện truyền đến tai những dân chúng ở xa, nó đã được bồi đắp thêm bao
nhiêu tình tiết li kỳ, và vì không có ai ở đó để bác bỏ, nó mặc nhiên trở thành
“sự thật”.
3. Quy luật “Văn minh hóa” những phép lạ: Hume quan sát thấy một mô típ lịch sử: Khi
một dân tộc càng tiến gần đến văn minh và khoa học, số lượng phép lạ sẽ ít dần và biến mất. . Ông cho thấy rằng những tôn giáo lớn thường bắt đầu từ những
thuật kể phép lạ ở những bộ lạc lạc hậu. Khi tôn giáo đó đã vững mạnh, họ không
còn cần phép lạ nữa vì họ đã có quyền lực chính trị và giáo điều để duy trì tin
tưởng có gốc tôn giáo.
Hume ngầm ý rằng
nếu phép lạ là có thật và là quy luật của vũ trụ, tại sao chúng không xảy ra
ngay giữa thủ đô London hay Paris thế kỷ 18, trước sự chứng kiến của những nhà
khoa học? Việc chúng chỉ xảy ra ở “xứ xa” hay “ngày xưa” chứng tỏ chúng chỉ là sản phẩm của sự dối trá kết hợp với sự thiếu
hiểu biết.
[7] Trong văn cảnh của Hume, a general maxim là một nguyên tắc dẫn dắt / nguyên tắc tổng
quát hoặc một quy tắc vàng cho tư tưởng. Cụ thể, Hume muốn nói đến (a) Một công thức kiểm chứng: Đây không chỉ là
một câu nói hay, nhưng là một phương pháp luận cố định. Bất cứ khi nào bạn nghe
thấy một điều phi thường, bạn phải áp dụng ngay quy tắc “bàn cân” này. (b) Tính
phổ quát: Từ “tổng quát” (general) cho thấy châm ngôn này áp dụng cho
mọi trường hợp phép lạ, không ngoại trừ bất kỳ tôn giáo hay thời đại nào. (b)
Vũ khí của lý trí: Hume coi đây là một chân lý hiển nhiên mà bất kỳ người có
trí tuệ tỉnh táo nào cũng phải tuân thủ để tránh bị lừa dối bởi những tin tưởng
có gốc tôn giáo mù quáng. “Hệ quả hiển nhiên là (và đây là một nguyên tắc tổng
quát đáng để chúng ta lưu ý): Không một lời chứng nào đủ sức xác lập một phép
lạ, trừ khi lời chứng đó thuộc loại mà nếu nó sai lầm, thì sự sai lầm đó còn
khó tin đến mức mang tính chất của phép lạ hơn cả chính sự việc mà nó cố gắng
xác lập. . . “
[8] Câu này có thể được chia làm hai phần để
giải thích:
1. Phép thử “Cái
nào khó tin hơn?”Hume không nói phép lạ là không thể, ông nói về xác suất của
sự sai lầm. (a) Bối cảnh: Một người kể với chúng ta: “Tôi thấy một người chết
sống lại” (Phép lạ A). (b) Lập luận của Hume: chúng ta phải đối mặt với hai khả
năng: (a) Phép lạ A là thật (Vi phạm quy luật tự nhiên). (b) Lời kể đó là sai —
do người kể lừa dối hoặc bị ảo giác (Phép lạ B – vì người kể vốn rất uy tín). Quy
tắc: chúng ta chỉ được tin vào lời kể đó nếu việc người kể nói dối còn là một
điều “phi lý và khó tin” hơn cả việc người chết sống lại. Thực tế: Hume ngầm
hiểu rằng, con người nói dối hoặc nhầm lẫn là chuyện xảy ra như cơm bữa, trong
khi quy luật tự nhiên (người chết thì không sống lại) là bất biến. Vì vậy, “sự
sai lầm của lời chứng” hầu như luôn luôn dễ tin hơn là “phép lạ”.
2. Phép trừ của
tin tưởng tôn giáo (Sau khi khấu trừ): Đây là đoạn “Và ngay cả trong trường hợp
đó. . . “. Hume dùng toán học để đo lường tin tưởng tôn giáo: (a) Giả sử chúng
ta tìm được một nhân chứng cực kỳ vĩ đại, đến mức việc họ nói dối là một điều
không tưởng (Sức nặng = 9 điểm). (b) Nhưng quy luật tự nhiên chống lại phép lạ
đó cũng cực kỳ mạnh (Sức nặng = 10 điểm). (c) Kết quả: 10 (Sự thật tự nhiên) –
9 (Lời chứng) = 1 điểm nghiêng về phía không tin. Ý nghĩa: Tin tưởng tôn giáo
của chúng ta không phải là “tin” hay “không tin” một cách cảm tính, nhưng là
phần dư lại sau khi ta đã lấy bằng chứng thực tế trừ đi sự hoài nghi. Nếu lời
chứng chỉ mạnh bằng một nửa quy luật tự nhiên, nó sẽ bị triệt tiêu hoàn toàn. Hume
muốn nói rằng: Đừng bao giờ tin vào một phép lạ trừ khi việc nó là giả dối còn
là một phép lạ lớn hơn chính nó. Đây là vũ khí sắc bén nhất của lập trường hoài
nghi để bác bỏ những lời kể về siêu nhiên, vì thực tế không có lời chứng nào đủ
“nặng” để lật đổ hàng tỷ năm kinh nghiệm của nhân loại về quy luật tự nhiên
[9] Trong nội dung của
Hume, “tính phép lạ” (miraculous) không mang nghĩa linh thiêng, nhưng là một từ
ngữ đo lường độ phi lý hoặc độ khó tin. Nó chỉ một sự việc vi phạm hoàn toàn
những quy luật tự nhiên mà chúng ta đã biết. Hume dùng từ này để đưa hai sự
việc vào cùng một “hệ quy chiếu” nhằm so sánh:
1. Phép lạ của sự
việc: Người chết sống lại (Vi phạm quy luật vật lý/sinh học).
2. Tính phép lạ
của lời chứng: Một nhân chứng cực kỳ uy tín lại nói dối (Vi phạm quy luật tâm
lý/kinh nghiệm về con người).
Tại sao Hume lại
gọi sự sai lầm là “mang tính phép lạ”? Ông muốn nói rằng: “Nếu việc người này nói
dối là một điều không tưởng, chưa từng thấy trong lịch sử tâm lý con người, thì
ta mới tạm gọi sự sai lầm đó là một ‘phép lạ’. “ Hume đẩy chúng ta đi đến
phải chọn cái “ít mang tính phép lạ hơn”. Nếu việc một người nói dối (dù họ
tốt/hay/tên tuổi đến đâu) vẫn “dễ tin” hơn việc người chết sống lại, thì lý trí
buộc chúng ta phải chọn khả năng là người đó nói dối.
[10] Khi Hume nói sự sai
lầm của nhân chứng “mang tính chất của phép lạ”, ông đang thiết lập một trò
chơi so sánh về độ khó tin: (a) Phép lạ (Miracle): Là sự vi phạm quy luật vật
lý (thí dụ: người chết sống lại). (b) Mang tính chất của phép lạ (Miraculous):
Là sự vi phạm quy luật tâm lý/kinh nghiệm (thí dụ: một người cực kỳ trung thực
lại đồng loạt nói dối một cách vô lý). Ông muốn đưa chúng ta vào thế: “Tôi chỉ
tin vào cái chết sống lại (Phép lạ) nếu việc người kia nói dối còn khó tin hơn
(Miraculous) chính cái chết sống lại đó. “ Nói cách khác, ông dùng từ này để
biến sự sai lầm của con người thành một loại “đối trọng” cùng hạng cân với
những phép lạ tôn giáo, nhằm mục đích cuối cùng là dùng lý trí để triệt tiêu
chúng.
