(An Enquiry
concerning Human Understanding)
David Hume
Tiết XII.
Về Triết Học
Của Trường Phái Học Viện (Academy), Hay Triết Học Hoài Nghi
(Of The Academical Or Sceptical Philosophy. )
PHẦN II
E 12. 17, SBN
155–156
Có vẻ như là một
nỗ lực cực đoan của những người hoài nghi khi tìm cách phá hủy lý trí bằng
chính lập luận và suy luận; tuy nhiên, đó lại chính là mục tiêu bao quát của
mọi khảo cứu và tranh luận của họ.
Họ tìm cách đưa
ra những phản đối, cả với những suy luận trừu tượng lẫn với những suy luận liên
quan đến sự kiện và hiện hữu.
E 12. 18, SBN 156–157
Phản đối chủ yếu chống lại mọi suy luận trừu
tượng xuất phát từ những ý niệm về không gian và thời gian; những ý niệm mà
trong đời sống thường nhật, và trong cái nhìn hời hợt, thì rất rõ ràng và dễ
hiểu, nhưng khi bị đưa vào sự khảo sát của những khoa học sâu xa—vốn chính là
đối tượng của chúng—lại tạo ra những nguyên lý dường như đầy mâu thuẫn và phi
lý.
Không có giáo
điều nào của giới tăng lữ, được tạo ra nhằm mục đích chế ngự và khuất phục
lý trí nổi loạn của nhân loại, lại gây chấn động phán đoán thực tiễn dựa trên
kiến thức thông thường hơn học thuyết về tính phân chia vô hạn của sự chiếm hữu không gian, cùng với những hệ
quả của nó; như những nhà hình học và siêu hình học trình
bày một cách khoa trương và đầy tự hào. Một đại lượng thực, nhỏ hơn vô cùng so với bất kỳ đại lượng hữu hạn nào, chứa
đựng những đại lượng vô cùng nhỏ hơn chính nó và cứ thế tiếp diễn đến vô tận;
đây là một công trình kiến trúc táo bạo và kỳ lạ đến mức không một bằng chứng
nào có thể chứng minh được, bởi vì nó thách thức những nguyên tắc rõ ràng và tự
nhiên nhất của lý trí con người. [33].
Nhưng những gì
làm cho vấn đề trở nên kỳ lạ hơn nữa là: những quan điểm tưởng như phi lý ấy
lại được nâng đỡ bởi một chuỗi lập luận rõ ràng và tự nhiên nhất; và chúng ta
không thể chấp nhận những tiền đề mà lại không buộc phải chấp nhận những hệ quả
của chúng. Không có gì có thể thuyết phục và thỏa mãn hơn toàn bộ những kết
luận liên quan đến những tính chất của đường tròn và tam giác; thế nhưng, một
khi những kết luận ấy đã được thừa nhận, thì làm sao chúng ta có thể phủ nhận
rằng góc tiếp xúc giữa một đường tròn và tiếp tuyến của nó nhỏ hơn vô hạn so với bất kỳ góc phẳng nào được
tạo bởi hai đường thẳng; rằng khi ta có thể tăng đường kính của đường tròn đến vô hạn, thì góc tiếp xúc ấy lại càng trở
nên nhỏ hơn nữa, thậm chí nhỏ hơn đến vô
hạn; và rằng góc tiếp xúc giữa những đường cong khác và những tiếp tuyến
của chúng có thể còn nhỏ hơn vô hạn
so với góc tiếp xúc giữa bất kỳ đường tròn nào và tiếp tuyến của nó; và cứ thế
tiếp tục đến vô hạn? Sự chứng minh
của những nguyên lý này dường như cũng không có gì để phản bác, giống như chứng
minh rằng ba góc của một tam giác bằng hai góc vuông, mặc dù quan điểm sau thì
tự nhiên và dễ lĩnh hội, còn quan điểm trước lại chứa đầy mâu thuẫn và phi lý.
Ở đây, lý trí
dường như bị đẩy vào một trạng thái kinh ngạc và do dự; và trong trạng thái đó,
ngay cả khi không có bất kỳ gợi ý nào từ nhà hoài nghi, lý trí vẫn tự nhiên
sinh ra một sự thiếu tin tưởng đối với chính mình và đối với nền tảng mà nó
đang đặt chân lên. Nó nhìn thấy một ánh sáng đầy đủ soi chiếu một số khu vực;
nhưng ánh sáng ấy lại tiếp giáp với bóng tối sâu thẳm nhất; và giữa hai vùng ấy
nó bị choáng ngợp và rối loạn đến mức hầu như không thể đưa ra một phán đoán
chắc chắn và xác tín về bất kỳ đối tượng nào.
E 12. 19, SBN 157
Sự phi lý của
những kết luận táo bạo này thuộc những khoa học trừu tượng dường như, nếu có
thể, còn trở nên hiển nhiên hơn nữa khi xét đến thời gian so với khi xét đến tính
chiếm hữu không gian.
Một số lượng vô
hạn những phần thực của thời gian, nối tiếp nhau theo trình tự, và lần lượt bị
tiêu hao cái này sau cái kia, dường như chứa đựng một mâu thuẫn hiển nhiên đến
mức người ta có thể nghĩ rằng không một ai, nếu phán đoán của họ không bị những
khoa học làm ssai lệch thay vì được cải thiện, lại có thể chấp nhận điều đó.
E 12. 20, SBN
157–158
Tuy nhiên, ngay cả như vậy, lý trí vẫn phải ở
trong trạng thái không yên ổn và không an định, ngay cả đối với chính thứ hoài
nghi mà nó bị dẫn đến bởi những điều dường như phi lý và mâu thuẫn này. Làm thế nào một ý niệm rõ ràng và phân
biệt lại có thể chứa đựng những hoàn cảnh mâu thuẫn với chính nó, hay với bất
kỳ ý niệm rõ ràng và phân biệt nào khác, là điều hoàn toàn không thể hiểu nổi;
và có lẽ cũng phi lý như bất kỳ mệnh đề nào có thể được hình thành.
Do đó, không gì
mang tính hoài nghi hơn, hay đầy nghi ngờ và do dự hơn, chính là bản thân sự
hoài nghi này, vốn phát sinh từ một số kết luận nghịch lý của hình học hay khoa
học về đại lượng. [34].
E 12. 21, SBN 158–159
Những phản đối
hoài nghi đối với bằng chứng đạo đức, hay đối với những lập luận liên quan đến
sự kiện thực tế, hoặc là mang tính phổ thông, hoặc là mang tính triết
học. Những phản đối phổ thông được rút ra từ sự yếu kém tự nhiên của khả
năng hiểu biết của con người; từ những quan điểm mâu thuẫn đã từng được tiếp
nhận ở những thời đại và quốc gia khác nhau; từ những biến đổi trong phán đoán
của chúng ta khi ốm đau và khỏe mạnh, tuổi trẻ và tuổi già, thịnh vượng và
nghịch cảnh; từ sự mâu thuẫn thường trực trong những ý kiến và tình cảm của
từng cá nhân; cùng với nhiều chủ đề khác thuộc loại này. Không cần thiết phải
đi sâu thêm về điểm này.
Những phản đối
này chỉ là yếu ớt. Vì như trong đời sống thường nhật, chúng ta không ngừng suy luận
về sự kiện và sự hiện hữu, và hoàn toàn không thể hiện hữu mà không liên tục sử
dụng loại suy luận này, nên bất kỳ phản đối phổ thông nào phát sinh từ đó đều
không đủ để phá hủy loại bằng chứng ấy. Người làm đảo lộn thuyết Pyrrho,
hay những nguyên lý hoài nghi cực đoan, chính là hành động, sự vận dụng, và
những hoạt động của đời sống thường nhật. Những nguyên lý ấy có thể nảy nở và
thắng thế trong những học phái; nơi mà thực ra, việc bác bỏ chúng là khó khăn, nếu
không nói là không thể. Nhưng ngay khi chúng rời khỏi
không gian học thuyết trừu tượng, và khi đối diện với sự hiện diện của những đối tượng thực, vốn tác động đến cảm xúc
và tình cảm của chúng ta, chúng bị đặt vào thế đối lập với
những nguyên lý mạnh hơn của bản tính con người, rồi tan biến như khói, để lại
ngay cả nhà hoài nghi kiên định nhất trong cùng tình trạng như mọi người khác. [1]
E 12. 22, SBN 159
Do đó, nhà hoài
nghi tốt hơn hết nên giữ mình trong phạm vi thích hợp của mình, và trình bày
những phản đối triết học phát sinh từ những khảo cứu sâu xa hơn. Ở đây, ông
dường như có đầy đủ chất liệu để chiến thắng; khi ông khẳng định đúng rằng mọi
bằng chứng về sự kiện, vượt ngoài chứng cứ của giác quan hay ký ức, đều hoàn
toàn dựa trên quan hệ nhân quả; rằng chúng ta không có ý niệm nào khác về quan
hệ này ngoài việc hai đối tượng thường xuyên xuất hiện cùng nhau; rằng chúng ta
không có lập luận nào có thể chứng minh rằng những đối tượng đã từng kết hợp
trong kinh nghiệm của chúng ta cũng sẽ luôn kết hợp như vậy trong những trường
hợp khác; và rằng không gì dẫn chúng ta đến suy luận ấy ngoài thói quen hay một
bản năng tự nhiên nào đó; mà dù khó cưỡng lại, vẫn có thể, như mọi bản năng
khác, là sai lầm và lừa dối. Trong khi nhà hoài nghi nhấn mạnh những điều này, ông
thể hiện sức mạnh lập luận của mình, hay đúng hơn là sự yếu đuối của cả ông lẫn
chúng ta; và trong chốc lát dường như phá hủy mọi sự xác tín và tin chắc. Những
lập luận này có thể được triển khai dài hơn nữa, nếu như có thể mong đợi bất kỳ
lợi ích lâu dài nào cho xã hội từ chúng.
E 12. 23, SBN
159–160
Ở đây là phản đối chủ yếu và cũng gây lúng
túng nhất đối với thuyết hoài nghi cực đoan, rằng không có bất kỳ lợi ích bền
vững nào có thể phát sinh từ nó, trong khi nó vẫn còn giữ nguyên toàn bộ sức
mạnh và sinh khí của mình. Chúng ta chỉ cần hỏi kẻ hoài nghi như vậy: ông ta
muốn nói gì? Và ông ta đề xuất điều gì qua tất cả những khảo cứu tinh vi này?
Ngay lập tức người này rơi vào bối rối, và không biết phải trả lời thế nào. [2]
Một người theo Copernicus hay Ptolemy, mỗi
người bảo vệ hệ thống thiên văn học khác nhau của mình, có thể hy vọng tạo ra
một sự thuyết phục, vốn sẽ giữ được tính ổn định và bền vững đối với người nghe.
Một người theo phái Stoics hay Epicurus học trình bày những nguyên lý không chỉ có thể bền vững, mà còn có ảnh
hưởng đến hành vi và cách ứng xử. Nhưng một người theo Pyrrho không thể kỳ vọng
rằng triết học của mình sẽ có bất kỳ ảnh hưởng ổn định nào đối với não thức;
hoặc nếu có, thì ảnh hưởng ấy cũng sẽ mang lại lợi ích cho xã hội. Trái lại, người
này buộc phải thừa nhận — nếu người này chịu thừa nhận bất cứ điều gì — rằng
toàn bộ đời sống con người sẽ bị hủy diệt, nếu những nguyên lý của người này
được áp dụng một cách phổ quát và kiên định.
Mọi nói viết , mọi
hành động sẽ lập tức chấm dứt; và con người sẽ rơi vào trạng thái hoàn toàn trì
trệ, cho đến khi những nhu cầu tất yếu của tự nhiên, không được thỏa mãn, chấm
dứt sự hiện hữu khốn khổ của họ.
Điều đó đúng;
nhưng một biến cố tai hại như vậy rất ít khi phải lo sợ. Bởi vì tự nhiên luôn
mạnh hơn nguyên lý. Và mặc dù một người Pyrrho có thể, bằng
những suy luận sâu xa của mình, khiến bản thân hoặc người khác rơi vào trạng
thái kinh ngạc và rối loạn trong chốc lát; thì sự kiện đầu tiên và tầm thường
nhất trong đời sống sẽ lập tức xua tan mọi hoài nghi và mọi do dự của người này,
và để lại người này, trong mọi phương diện của hành động và suy tưởng, giống
hệt như những triết gia của mọi học phái khác, hoặc như những người chưa từng
tự mình dấn thân vào bất kỳ khảo cứu triết học nào.
Khi người này
tỉnh dậy khỏi giấc mơ của mình, người này sẽ là người đầu tiên cùng cười nhạo
chính mình, và thừa nhận rằng mọi phản đối của người này chỉ là trò tiêu khiển,
và không thể có mục đích nào khác ngoài việc cho thấy tình trạng kỳ quặc của
nhân loại, những người buộc phải hành động, suy luận và tin tưởng; mặc dù họ
không thể, dù bằng sự khảo cứu siêng năng nhất của mình, tự thỏa mãn về nền
tảng của những hoạt động ấy, hoặc loại bỏ những phản đối có thể được nêu lên
chống lại chúng.
PHẦN III
E 12. 24, SBN
161–162
Quả thực, có một
loại hoài nghi ôn hòa hơn, hay triết học mang tính Học viện, vốn có thể vừa bền
vững vừa hữu ích, và có thể, một phần, là kết quả của thuyết Pyrrho, hay thuyết
hoài nghi cực đoan, khi những hoài nghi còn mơ hồ, chưa được điều chỉnh ở một mức độ nào đó bởi phán
đoán thực tiễn dựa trên kiến thức thông thường và sự nngaamx nghĩ phê phán.
Phần lớn nhân
loại có xu hướng tự nhiên là khẳng định và giáo điều trong những ý kiến của họ;
và khi họ chỉ nhìn sự vật theo một phía, không có ý niệm về bất kỳ lập luận đối
trọng nào, họ vội vàng lao vào những nguyên lý mà họ có khuynh hướng thiên về;
và họ cũng không có sự khoan dung đối với những người giữ quan điểm trái ngược.
Sự do dự hay cân
nhắc làm rối loạn khả năng hiểu biết của họ, kìm hãm cảm xúc của họ, và đình
chỉ hành động của họ. Vì vậy, họ thiếu kiên nhẫn cho đến khi thoát khỏi một
trạng thái vốn đối với họ là rất khó chịu; và họ nghĩ rằng họ không bao giờ có
thể tách mình ra khỏi trạng thái ấy đủ xa, nếu không bằng sự mãnh liệt của
những khẳng định và sự cố chấp trong niềm tin của mình.
Nhưng nếu những
kẻ lý luận giáo điều như vậy có thể nhận thức được những sự yếu kém kỳ lạ của
khả năng hiểu biết của con người, ngay cả trong trạng thái hoàn thiện nhất của
nó, và ngay cả khi nó thận trọng và chính xác nhất trong những phán đoán của
mình; thì một sự suy xét như vậy sẽ tự nhiên khơi dậy nơi họ nhiều khiêm tốn và
dè dặt hơn, làm giảm bớt sự tự mãn về bản thân, và giảm đi thành kiến của họ
đối với những người đối lập.
Giới ít học có
thể suy xét về khuynh hướng của giới học thức, rằng dù có đầy đủ lợi thế của
việc học tập và suy tư, họ vẫn thường tỏ ra dè dặt trong những phán đoán của
mình. Và nếu trong số giới học thức, có người nghiêng về sự kiêu căng và cố
chấp do thiên tính tự nhiên, thì một chút ảnh hưởng của thuyết Pyrrho có thể
làm giảm bớt sự kiêu ngạo ấy, bằng cách cho họ thấy rằng những ưu thế nhỏ nhoi
mà họ có thể đạt được so với người khác chỉ là không đáng kể, nếu đem so với sự
bối rối và hỗn loạn phổ quát vốn thuộc về bản tính con người.
Nói chung, luôn
có một mức độ hoài nghi, thận trọng và khiêm tốn mà trong mọi loại khảo sát và
phán đoán, một người lý luận đúng đắn phải luôn luôn giữ lấy.
E 12. 25, SBN 162
Một loại hoài nghi giảm nhẹ khác, vốn
có thể có lợi cho nhân loại, và vốn có thể là kết quả tự nhiên của những hoài
nghi và do dự theo kiểu Pyrrho, là việc giới hạn những khảo cứu của chúng ta
vào những vấn đề phù hợp nhất với năng lực hạn hẹp của khả năng hiểu biết con người. Trí
tưởng tượng của con người vốn tự nhiên mang tính cao siêu, ưa thích mọi
điều xa xôi và kỳ lạ, và không bị kiềm chế mà phóng đi vào những miền không
gian và thời gian xa xăm nhất, nhằm tránh những đối tượng mà thói quen đã khiến
trở nên quá quen thuộc đối với nó.
Một phán đoán
đúng đắn đi theo một phương pháp ngược lại, và tránh tất cả những khảo cứu
xa xôi và cao siêu, nó tự giới hạn vào đời sống thường nhật, và vào những موضوع
thuộc phạm vi thực hành và kinh nghiệm hằng ngày; còn những chủ đề mang tính
siêu việt hơn thì để cho những nhà thơ và diễn giả tô điểm, hoặc cho nghệ thuật
của những tu sĩ và chính trị gia khai thác.
Để đưa chúng ta
đến một quyết định có tính lành mạnh như vậy, không có gì hữu ích hơn việc một
lần hoàn toàn bị thuyết phục về sức mạnh của nghi ngờ kiểu Pyrrho, và về sự
không thể nào có chuyện bất cứ điều gì, ngoài quyền năng mạnh mẽ của bản năng
tự nhiên, có thể giải thoát chúng ta khỏi nó.
Những người có
thiên hướng triết học vẫn sẽ tiếp tục những khảo cứu của họ; bởi họ suy xét
rằng, ngoài khoái cảm trực tiếp đi kèm với hoạt động ấy, những kết luận triết
học chẳng qua chỉ là những phản ánh của đời sống thường nhật, được hệ thống hóa
và chỉnh sửa lại.
Nhưng họ sẽ không
bao giờ bị cám dỗ đi vượt ra ngoài đời sống thường nhật, chừng nào họ còn cân
nhắc đến sự không hoàn thiện của những năng lực mà họ sử dụng, phạm vi hạn hẹp
của chúng, và những hoạt động không chính xác của chúng. Trong khi chúng ta
không thể đưa ra một lý do thỏa đáng vì sao, sau hàng ngàn thí nghiệm, chúng ta
vẫn tin rằng một hòn đá sẽ rơi xuống, hay lửa sẽ đốt cháy; thì liệu chúng ta có
bao giờ có thể tự thỏa mãn về bất kỳ kết luận nào mà chúng ta có thể hình thành
liên quan đến nguồn gốc của thế giới, và tình trạng của tự nhiên từ từ vô thủy đến vô chung không?
E 12. 26, SBN 163
Sự giới hạn hẹp hòi này, thực vậy, của những điều tra của chúng ta, là,
trong mọi phương diện, hợp lý đến mức nó đủ để, chỉ cần tiến hành một sự khảo
sát nhỏ nhất vào những năng lực tự nhiên của não thức con người, và so
sánh chúng với những đối tượng của chúng, là đủ để khuyến nghị nó cho chúng ta.
Khi đó chúng ta sẽ tìm thấy đâu là những đối tượng thích hợp của khoa học và
của khảo cứu.
E 12. 27, SBN 163
Theo tôi, dường
như những đối tượng duy nhất của những khoa học trừu tượng hay của sự chứng
minh là lượng và số, và mọi người chỉ có thể coi mọi nỗ lực mở rộng loại
tri thức hoàn hảo hơn này vượt ra ngoài những giới hạn ấy như ngụy biện và ảo
tưởng.
Vì những bộ phận
cấu thành của lượng và số hoàn toàn giống nhau, nên chúng làm cho những quan hệ
giữa chúng trở nên phức tạp và rắc rối; và không có gì có thể vừa kỳ thú vừa
hữu ích hơn việc chúng ta, bằng nhiều phương tiện khác nhau, truy tìm sự bằng
nhau hay không bằng nhau của chúng, qua những hình thức biểu hiện khác nhau.
Nhưng vì tất cả
những ý niệm khác đều rõ ràng và phân biệt với nhau, nên chúng ta, bằng sự khảo
sát kỹ lưỡng nhất, không thể tiến xa hơn việc quan sát sự đa dạng này, và bằng
một suy luận hiển nhiên, chúng ta tuyên bố rằng một sự vật không phải là một sự
vật khác. Hoặc nếu có bất kỳ khó khăn nào trong những phán đoán này, thì chúng
hoàn toàn phát sinh từ ý nghĩa không xác định của những từ ngữ, và chúng ta sửa
chữa chúng bằng những định nghĩa chính xác hơn.
Chúng ta không
thể biết được rằng bình phương cạnh huyền bằng bình phương hai cạnh góc
vuông, dù chúng ta định nghĩa những thuật ngữ chính xác đến đâu, nếu chúng
ta không có một chuỗi lập luận và khảo cứu.
Nhưng để thuyết
phục chúng ta về mệnh đề rằng nơi nào không có tài sản thì không thể có bất
công, chỉ cần định nghĩa những thuật ngữ, và hiểu rằng bất công là sự xâm
phạm tài sản.
Mệnh đề này, thực ra, chẳng qua chỉ là một
định nghĩa còn chưa hoàn thiện hơn. Trường hợp này cũng giống như tất cả những
lập luận tam đoạn luận giả định ấy, vốn có thể được tìm thấy trong mọi ngành
học khác, ngoại trừ những khoa học về lượng và số; và những khoa học này, theo
tôi, có thể được tuyên bố một cách an toàn là những đối tượng thích hợp duy
nhất của tri thức và sự chứng minh.
E 12. 28, SBN
163–164
Mọi sự điều tra khác của con người đều
chỉ liên quan đến sự kiện thực tế và sự hiện hữu; và những điều này rõ ràng là
không thể chứng minh một cách tất yếu (incapable of demonstration). Bất
kỳ điều gì đang hiện hữu đều có thể không hiện hữu. Không một sự phủ định nào
đối với một sự kiện thực tế lại có thể chứa đựng một sự mâu thuẫn lô-gích. Sự
không hiện hữu của bất kỳ bản thể nào, không có ngoại lệ, cũng là một ý niệm rõ
ràng và tách bạch y như sự hiện hữu của nó vậy. Một mệnh đề khẳng định rằng nó
không hiện hữu, dù có sai lầm đến đâu, thì vẫn có thể quan niệm được và hiểu
được một cách không kém gì mệnh đề khẳng định rằng nó hiện hữu. Trường hợp này
hoàn toàn khác biệt đối với những ngành khoa học theo đúng nghĩa của từ này (sciences,
properly so called). Ở đó, mọi mệnh đề không đúng đẫn đều mơ hồ và không
thể hiểu nổi. Việc cho rằng căn bậc ba của 64 bằng một nửa của 10 là một mệnh
đề sai lầm, và không bao giờ có thể được quan niệm một cách tách bạch. Nhưng
việc cho rằng Caesar, hay thiên thần Gabriel, hoặc bất kỳ bản thể nào chưa từng
hiện hữu, có thể là một mệnh đề sai lầm, nhưng vẫn hoàn toàn có thể quan niệm
được, và không hàm chứa một sự mâu thuẫn lô-gích nào.
E 12. 29, SBN 164
Do đó, sự hiện hữu của bất kỳ bản thể nào cũng
chỉ có thể được chứng minh bằng những lập luận xuất phát từ nguyên nhân hoặc hệ
quả của nó; và những lập luận này hoàn toàn được thiết lập trên nền tảng của
kinh nghiệm. Nếu chúng ta lập luận tiên nghiệm (à priori), bất kỳ vật gì
cũng đều có vẻ như có thể tạo ra bất kỳ vật gì. Theo những gì chúng ta biết, sự
rơi của một viên sỏi cũng có thể làm dập tắt mặt trời; hay ý muốn của một con
người cũng có thể điều khiển những hành tinh vận hành trên quỹ đạo của chúng.
Chỉ có kinh nghiệm mới dạy cho chúng ta biết về bản chất và ranh giới của
nguyên nhân và hệ quả, đồng thời cho phép chúng ta suy luận ra sự hiện hữu của
một đối tượng này từ sự hiện hữu của một đối tượng khác. Đó chính là nền tảng
của lập luận luân lý, vốn cấu thành nên phần lớn tri thức của nhân loại, và là
cội nguồn của mọi hành động cũng như hành vi của con người.
E 12. 30, SBN 164
Những lập luận luân lý (nhân văn/đạo đức) hoặc là liên quan đến những sự kiện đặc thù, hoặc là liên quan đến
những sự kiện tổng quát. Mọi sự cân nhắc trong cuộc sống đều thuộc về loại sự
kiện thứ nhất; và mọi sự khảo cứu trong lịch sử, niên đại học, địa lý học, và
thiên văn học cũng vậy.
E 12. 31, SBN 165
Những khoa học nghiên cứu về những sự kiện tổng quát bao gồm chính trị học, triết
học tự nhiên, vật lý học, hóa học, v.v., là những nơi mà những đặc tính, nguyên
nhân và hệ quả của toàn bộ một chủng loại đối tượng được khảo cứu.
E 12. 32, SBN 165
Gót học hay Giáo lý học, vì nó chứng minh sự hiện hữu của
một Đấng Tối cao và sự bất tử của những hồn người, nên được cấu thành một phần từ những lập luận
liên quan đến những sự kiện đặc thù, một phần từ những lập luận liên quan đến
những sự kiện tổng quát. Nó có một nền tảng dựa trên lý trí, chừng nào nó còn
được nâng đỡ bởi kinh nghiệm. Nhưng nền tảng tốt nhất và vững chắc nhất của nó
lại là đức tin và sự khải huyền mang tính thần thánh
E 12. 33, SBN 165
Sự phán đoán đạo đức và phê phán thẩm mỹ không hẳn là những
đối tượng của khả năng hiểu biết cho bằng của thị hiếu và cảm quan. Cái đẹp, dù
là đạo đức hay tự nhiên, được cảm nhận đúng hơn là được tri giác. Hoặc nếu
chúng ta suy luận về nó, và cố gắng xác lập tiêu chuẩn của nó, thì chúng ta
đang xét đến một sự kiện mới, tức là thị hiếu phổ quát của nhân loại, hay một
sự kiện nào đó tương tự, vốn có thể trở thành đối tượng của lý luận và khảo cứu.
E 12. 34, SBN 165
Khi chúng ta xem xét những thư viện, sau khi
những nguyên lý này thuyết phục chúng ta, chúng ta sẽ phải gây ra một cuộc tàn
phá lớn đến mức nào! Nếu chúng ta cầm trên tay bất kỳ quyển sách nào — chẳng
hạn một quyển gót học hay siêu hình học kinh viện — hãy tự hỏi: Nó có chứa bất kỳ suy
luận trừu tượng nào liên quan đến lượng hay số không? Không. Nó có chứa bất kỳ
suy luận thực nghiệm nào liên quan đến những sự kiện thực tế và sự hiện hữu
không? Không. Vậy thì hãy ném nó vào lửa; bởi vì nó không thể chứa điều gì khác
ngoài ngụy biện và ảo tưởng. [3]
------------------------------------------
NHỮNG GHI CHÚ (NOTES)
E 12. 15n32,
SBN 155
(32. Xem
GHI CHÚ [N]. )
E 12. 15n32. 1, SBN
155
Lập luận NÀY được rút ra từ Tiến sĩ Berkeley;
và thực vậy, hầu hết những tác phẩm của tác giả vô cùng tài ba đó đều cấu thành
nên những bài học hay nhất về thuyết hoài nghi mà người ta có thể tìm thấy ở cả
những triết gia cổ đại lẫn hiện đại, không ngoại trừ cả Bayle. Tuy nhiên, ngay
trên trang bìa tác phẩm của ông, ông tuyên bố (và chắc chắn là với sự thành
thật lớn lao) rằng ông viết cuốn sách này để chống lại những kẻ hoài nghi, cũng
như chống lại những kẻ không-tin-có-gót và những người tự do tư tưởng. Thế
nhưng, việc toàn bộ những lập luận của ông — dù mang ý định ngược lại — trên
thực tế hoàn toàn chỉ mang tính hoài nghi, được thể hiện rõ ở chỗ: chúng
không thể bị bác bỏ nhưng cũng không thể làm người ta tin phục. Hệ quả duy
nhất của chúng là gây ra sự kinh ngạc, sự lưỡng lự và sự hoang mang nhất thời,
vốn chính là kết quả của thuyết hoài nghi. [4]
E 12. 18n33,
SBN 156
(33. Xem
GHI CHÚ [O]. )
E 12. 18n33. 1, SBN
156
Dù có bất kỳ tranh chấp nào về những điểm toán
học, chúng ta phải thừa nhận rằng có tồn tại những điểm vật lý; nghĩa là những
phần mang tính chiếm hữu không gian mà không thể bị phân chia hay giảm bớt, dù
là bởi mắt nhìn hay bởi trí tưởng tượng. Do đó, những hình ảnh này, vốn hiện
diện trong tâm tưởng hay giác quan, là hoàn toàn không thể phân chia được, và
vì thế phải được những nhà toán học thừa nhận là nhỏ vô hạn so với bất kỳ phần
thực tế nào của không gian chiếm hữu; thế nhưng không có điều gì có vẻ chắc
chắn hơn đối với lý tính cho bằng việc một số lượng vô hạn những điểm ấy cấu
thành nên một không gian chiếm hữu vô hạn. Huống hồ là một số lượng vô hạn
những phần nhỏ vô hạn của không gian chiếm hữu, vốn vẫn được giả định là có thể
phân chia vô hạn.[5]
E 12. 20n34,
SBN 158
34. See
NOTE [P].
(34. Xem
GHI CHÚ [P]. )
E 12. 20n34. 1, SBN
158
Có vẻ đối với tôi
rằng không phải là không thể tránh được những nghịch lý và mâu thuẫn này, nếu
ta thừa nhận rằng, nói một cách đúng nghĩa, không hiện hữu những ý niệm trừu
tượng hay phổ quát; trái lại, mọi ý niệm phổ quát thực chất đều là những ý niệm
cá biệt, được gắn với một thuật ngữ chung, thuật ngữ mà trong những trường hợp
thích hợp sẽ gợi lại những ý niệm cá biệt khác, vốn tương tự với ý niệm đang
hiện diện trong tâm trí theo những hoàn cảnh nhất định.
Chẳng hạn, khi
thuật ngữ “Ngựa” được phát âm, ta lập tức hình dung cho chính mình ý niệm về
một con vật màu đen hoặc màu trắng, với một kích thước hay hình dạng xác định.
Nhưng vì thuật ngữ này cũng thường được áp dụng cho những con vật có màu sắc,
hình dạng và kích thước khác, nên những ý niệm đó, dù không thực sự hiện diện
trong trí tưởng tượng, vẫn có thể dễ dàng được gợi lại; và sự suy luận cùng kết
luận của ta diễn ra theo cùng một cách như thể chúng đang thực sự hiện diện.
Nếu điều này được
chấp nhận (như có vẻ hợp lý), thì theo đó tất cả những ý niệm về đại
lượng—những cái mà các nhà toán học dựa vào để suy luận—chẳng qua chỉ là những
ý niệm cá biệt, và là những cái được giác quan và trí tưởng tượng gợi lên; và
do đó, chúng không thể có tính phân chia vô hạn.
Chỉ cần đưa ra
gợi ý này ở hiện tại là đủ, mà không cần phải truy cứu xa hơn nữa. Điều này
chắc chắn liên can đến tất cả những người yêu khoa học: họ không nên tự phơi
bày chính mình trước sự chế giễu và khinh miệt của những kẻ vô tri bởi những
kết luận của họ; và đây dường như là giải pháp sẵn sàng nhất cho những khó khăn
nêu trên.
E 12. 29n35,
SBN 164
(35. Xem
GHI CHÚ [Q]. )
E 12. 29n35. 1, SBN
164
Châm ngôn bất kính của triết học cổ đại—ex
nihilo, nihil fit (từ hư vô, không gì sinh ra)—cái mà bởi nó sự sáng tạo
vật chất bị loại trừ, không còn là một châm ngôn nữa, theo triết học này. Không
chỉ ý chí của Đấng Tối cao mới có thể tạo ra vật chất; mà, theo những gì chúng ta biết về mặt tiên
nghiệm, ý chí của bất kỳ thực thể nào khác cũng có thể tạo ra nó, hoặc thậm chí
bởi bất kỳ nguyên nhân nào khác mà trí tưởng tượng tùy hứng nhất có thể gán cho. [6]
Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ hai
(Mar/2026
(Còn tiếp... →)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1] Thuyết Pyrrho (Pyrrhonism) bắt nguồn từ Pyrrho người thành Elis (Pyrrho of Elis),
một triết gia Hy Lạp cổ đại, sống khoảng 360–270 TCN tại Hy Lạp (Elis, vùng
Peloponnese). Học thuyết của ông được phát triển và hệ thống hóa về sau bởi
Aenesidemus (thế kỷ I TCN) và Sextus Empiricus (thế kỷ II–III SCN). Thuyết Pyrrho (Pyrrhonism) là hình thức
hoài nghi triệt để, chủ trương đình chỉ mọi phán đoán (epoché) và cho
rằng không thể đạt tới tri thức xác quyết về bất cứ điều gì. Khác với hoài nghi
“giảm nhẹ” của Hume, vốn chỉ nhằm chỉ ra giới hạn của lý trí trong một số lĩnh
vực (đặc biệt là quan hệ nhân quả), Pyrrhonism mang tính phủ định toàn diện đối
với khả năng nhận thức, dẫn tới thái độ bất định tuyệt đối; trong khi Hume vẫn
thừa nhận vai trò của thói quen và đời sống thực hành như nền tảng tất yếu của
niềm tin và hành động.
[2] hoài nghi cực đoan không thể sống được như một thái độ thực hành của
con người, vì nó không tạo ra bất kỳ lợi ích bền vững nào trong đời sống.
[3] Hume, trong đoạn
này, đưa ra một tiêu chuẩn phân loại toàn bộ tri thức theo hai loại duy
nhất—hoặc là những quan hệ giữa ý niệm như trong toán học (lượng và số), hoặc
là những sự kiện thực tế dựa trên kinh nghiệm—và từ đó ông lập luận rằng bất kỳ
trước tác nào không thuộc hai phạm vi này, như thần học kinh viện hay siêu hình
học thuần lý, đều không mang giá trị nhận thức mà chỉ là ngụy biện và ảo tưởng,
một nhận định được ông diễn đạt một cách tu từ cực đoan qua hình ảnh “ném vào
lửa” nhằm nhấn mạnh yêu cầu thanh lọc tri thức theo tinh thần kinh nghiệm luận
triệt để, qua đó đặt nền tảng cho thuyết duy nghiệm hiện đại.
[4] Dr. Berkley (George Berkeley,
1685–1753): Một triết gia và Giám mục người Ireland. Ông nổi tiếng với thuyết duy ý chủ quan
(Subjective Idealism), đưa ra lập luận rằng những vật thể vật chất không thực
sự tồn tại độc lập, mà chúng chỉ tồn tại chừng nào chúng được cảm nhận bởi một não
thức ("To be is to be perceived"). Bayle (Pierre Bayle, 1647–1706):
Triết gia người Pháp nổi tiếng với tư tưởng hoài nghi triệt để. Việc Hume xếp Berkeley trên cả Bayle cho thấy
Hume đánh giá cực kỳ cao sức công phá lô-gích trong những tác phẩm của
Berkeley. Free-thinkers (Những người tự do tư tưởng): Ở thế kỷ 18, thuật ngữ
này chỉ những người từ chối những giáo điều tôn giáo truyền thống và muốn dùng
lý trí thuần túy để phán đoán mọi vấn đề. Admit of no answer and produce no
conviction (Không thể có câu trả lời và cũng chẳng tạo nên một sự xác tín
nào): Đây là câu nhận xét kinh điển của Hume về Berkeley. Ý của Hume là: Về mặt suy
nghĩ thuần túy, chúng ta không thể bẻ gãy được lập luận của Berkeley; nhưng về
mặt thực tế cuộc sống, không một ai trong chúng ta — kể cả chính Hume — có thể
thực sự tin rằng thế giới quanh mình là không có thật
[5] Trong khi Descartes dùng extension để chỉ bản chất khách quan
của vật chất trong thế giới bên ngoài, thì David Hume (với tư cách là một nhà duy nghiệm) lại kéo khái niệm
này về thế giới bên trong. Hume lập luận rằng: tính chiếm hữu không gian mà chúng ta thấy thực
chất chỉ là một chuỗi những ấn tượng giác quan (mắt nhìn, ttai nghe,…) được xếp
cạnh nhau trong não thức mà thôi
[6] “Ex nihilo, nihil fit”
(A)
Mệnh đề La-tinh
“Ex nihilo, nihil fit” mang nghĩa: “Từ hư vô, không gì sinh ra” (Nothing
comes from nothing). Tư tưởng này bắt nguồn từ triết học Hy Lạp thời cổ vào khoảng
thế kỷ V TCN. Triết gia tiền-Socratic Parmenides là người đầu tiên phát biểu
nguyên lý ấy nhằm phủ nhận khả năng “cái không” có thể sản sinh ra “cái có”. Về
sau, Aristotle cùng những nhà theo thuyết Nguyên tử như Democritus tiếp tục hệ thống hóa học thuyết này để
khẳng định rằng vật chất hiện hữu vĩnh cửu: con người chỉ chứng kiến sự biến đổi
hình thức, kết hợp hay phân rã của vật thể, chứ không bao giờ thấy vật chất
thật sự xuất hiện từ hư vô hoặc hoàn toàn tiêu biến thành hư vô. Đến thời La
Mã, Lucretius đã bất hủ hóa nguyên lý ấy trong tác phẩm De Rerum Natura nhằm
bác bỏ quan niệm cho rằng thần linh thường xuyên can thiệp vào tự nhiên. Theo
ông, nếu tự nhiên vận hành theo những quy luật vật chất cố định thì con người
không cần viện đến những phép màu hay hành động tùy tiện của thần thánh để
giải thích thế giới.
Khi Đạo Kitô phát triển
mạnh trong thời kỳ Trung Cổ, những nhà gót học buộc phải bác bỏ nguyên lý Hy Lạp thời cổ này để thiết
lập giáo lý trung tâm Creatio ex nihilo (Sáng thế từ hư vô). Giáo lý ấy
khẳng định rằng Đấng Tối cao với quyền năng tuyệt đối đã tạo ra toàn bộ vũ trụ
và vật chất từ tình trạng hoàn toàn không có gì hiện hữu trước đó, tức không cần bất kỳ nguyên
liệu có sẵn nào. Vì vậy, đến thế kỷ XVIII, việc công khai tán thành châm ngôn
“Ex nihilo, nihil fit” thường bị xem như dấu hiệu của tư tưởng không tin có Gót,
hoài nghi tôn giáo, hoặc thậm chí dị giáo. Khi David Hume gọi đây là “châm ngôn
bất kính” (impious maxim), ông không đơn thuần mô tả nội dung triết học
của nó; ông còn muốn phơi bày bầu không khí trí thức khắt khe và giáo điều của
xã hội châu Âu thời ấy, nơi nhiều quan điểm siêu hình học bị gắn trực tiếp với những phán quyết gót học và đạo đức.
Tuy nhiên, khi
phân tích lại quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả, Hume đã làm lung lay chính
nguyên lý tưởng như không thể có được bác bỏ ấy. Ông cho rằng nếu con người chỉ dựa vào
lập luận tiên nghiệm (a priori) thuần túy mà tách rời hoàn toàn khỏi
kinh nghiệm giác quan, thì lý trí không hề sở hữu một giới hạn logic nội tại đủ
mạnh để xác định điều gì “bắt buộc” phải xảy ra hay “không thể” xảy ra trong
thực tại. Trí óc con người, xét riêng trong phạm vi tư duy thuần túy, có thể
tưởng tượng ra vô số khả năng khác nhau. Chỉ cần một ý niệm không tự mâu thuẫn
về mặt logic, con người đã có thể hình dung rằng nó “có thể hiện hữu” hoặc “có
thể xảy ra”. Vì thế, việc vật chất xuất hiện từ hư vô — dù hoàn toàn trái ngược
với kinh nghiệm thường nhật — vẫn không phải là điều phi lý trong phạm vi suy
tưởng thuần túy. Đối với Hume, lý trí tự thân không thể chứng minh rằng hiện
tượng ấy tuyệt đối không thể có được. Nó chỉ xa lạ với kinh nghiệm của chúng ta mà
thôi. Theo cùng một cách ấy, trí tưởng tượng con người cũng có thể kết hợp bất
kỳ nguyên nhân nào với bất kỳ kết quả nào nếu không bị kinh nghiệm thực tế giới
hạn. Vì vậy, Hume kết luận rằng nguyên lý “Ex nihilo, nihil fit”, vốn
từng được triết học thời cổ xem như chân lý hiển nhiên và bất di bất dịch,
thực chất “không còn giữ được tư cách của một châm ngôn nữa”.
Khi Hume tuyên bố
nguyên lý ấy “không còn xứng đáng được gọi là một châm ngôn nữa”, ông đã
giáng một đòn đặc biệt mạnh vào hai đối thủ trí thức lớn của thời đại ông.
(a) Đối với những nhà gót học Chính thống:
Họ thường sử dụng
lập luận tiên nghiệm để chứng minh sự hiện hữu của Đấng Tối cao. Lập luận ấy
diễn ra như sau: nếu “hư vô” tuyệt đối không thể tự sản sinh vật chất (Ex
nihilo, nihil fit), thì tất yếu phải hiện hữu một “Nguyên nhân Đầu tiên”
đứng ra sáng tạo thế giới. Hume phản công trực tiếp vào nền tảng của suy luận
ấy. Ông cho rằng nếu lý trí chấp nhận rằng mọi điều có thể hình dung mà không
tự mâu thuẫn đều có khả năng hiện hữu về mặt logic, thì lý trí cũng không thể bác bỏ
khả năng vật chất tự xuất hiện từ hư vô mà không cần đến Đấng sáng tạo. Xa hơn
nữa, lý trí cũng không thể chứng minh rằng vũ trụ nhất thiết phải do một vị
thần toàn năng tạo ra thay vì bởi một nguyên nhân hữu hạn, một sinh vật siêu
nhiên bất kỳ, hay thậm chí một chuỗi biến cố ngẫu nhiên hoàn toàn xa lạ với gót học truyền thống.
Bằng cách ấy, Hume biến vai trò tối thượng của Đấng Tối cao từ một chân lý “tất
yếu” thành một giả thuyết không có ưu thế logic tuyệt đối nào so với những giả thuyết
khác.
(b) Đối với những nhà Duy lý
học:
Những triết gia
như René Descartes hay Baruch Spinoza tin rằng quan hệ nhân quả phản ánh một
trật tự tất yếu và bất biến của thực tại, đồng thời con người có thể nhận thức
trật tự ấy bằng lý trí thuần túy. Hume phá vỡ niềm tin đó bằng cách chỉ ra rằng
giữa “nguyên nhân” và “kết quả” không hiện hữu bất kỳ mối liên hệ logic tất yếu
nào mà lý trí có thể trực tiếp nhận thấy. Khi quan sát hai hiện tượng nối tiếp
nhau, con người chỉ thấy sự kế cận thường xuyên (constant conjunction),
chứ không bao giờ trực tiếp thấy “quyền lực tất yếu” buộc kết quả phải phát
sinh từ nguyên nhân. Nếu không có kinh nghiệm thực tế hướng dẫn, lý trí hoàn
toàn có thể tùy tiện gán ghép bất kỳ sự kiện nào làm nguyên nhân của bất kỳ sự
kiện nào khác — chẳng hạn tưởng tượng rằng một viên sỏi rơi xuống có thể làm
tắt mặt trời. Qua đó, Hume cho thấy nhiều “quy luật tất yếu” mà chủ nghĩa duy
lý từng khẳng định thực chất chỉ là thói quen tâm lý hoặc ảo tưởng ngôn ngữ do
con người hình thành sau khi quan sát sự lặp lại của những
hiện tượng. Một khi tách khỏi
kinh nghiệm giác quan, lý trí không còn khả năng tự mình khám phá cấu trúc tất
yếu của thế giới nữa.
(B)
Tư tưởng của
David Hume về nguyên nhân, nhân quả, và giới hạn của lý trí không chỉ tạo ra
một cuộc tranh luận học thuật trong thế kỷ XVIII; nó còn làm thay đổi tận gốc
nền tảng tư duy của thế giới hiện đại. Khi Hume công kích nguyên lý thời cổ “Ex
nihilo, nihil fit” và phủ nhận khả năng lý trí có thể trực tiếp nhận thức những
liên hệ tất yếu của thực tại, ông đã đặt toàn bộ truyền thống siêu hình học
phương Tây vào trạng thái khủng hoảng. Từ thời Plato đến Aristotle, rồi kéo dài
qua gót học Đạo Kitô trung cổ và chủ nghĩa duy lý cận đại, phần lớn những triết gia đều tin rằng lý trí con người có
khả năng khám phá cấu trúc tất yếu của thế giới. Họ cho rằng nếu suy luận đủ
chặt chẽ, con người có thể đi từ nguyên nhân đến kết quả, từ thế giới hữu hạn
đến Đấng Tuyệt đối, từ sự hiện hữu của vật chất đến một nguyên lý đầu tiên làm nền
tảng cho toàn bộ thực tại. Hume đã làm lung lay tận gốc niềm tin ấy.
Theo Hume, con
người không bao giờ trực tiếp tri giác được “quyền lực tất yếu” nối kết nguyên
nhân với kết quả. Khi quan sát thế giới, ta chỉ thấy những
hiện tượng thường xuyên nối
tiếp nhau. Ta thấy lửa làm nóng kim loại, thấy mặt trời mọc mỗi sáng, thấy vật
thể rơi xuống đất; nhưng trong tất cả những trường hợp ấy, ta không hề nhìn
thấy một “sợi dây tất yếu” nào buộc hiện tượng thứ hai phải phát sinh từ hiện
tượng thứ nhất. Chính thói quen tâm lý hình thành từ sự lặp lại của kinh nghiệm
khiến tâm trí kỳ vọng rằng tương lai sẽ tiếp tục giống quá khứ. Vì vậy, điều mà
con người gọi là “quy luật tự nhiên” thực chất không còn là chân lý tất yếu
theo nghĩa siêu hình học cổ điển; nó chỉ là một kỳ vọng có tính xác suất được
xây dựng trên kinh nghiệm lặp lại.
Hệ quả của lập
luận này vô cùng sâu rộng. Hume đã buộc triết học hiện đại phải từ bỏ tham vọng
cho rằng lý trí thuần túy có thể tự mình khám phá bản chất tuyệt đối của thực
tại. Sau Hume, khoa học ngày càng chuyển từ mô hình “siêu hình học suy diễn”
sang mô hình “thực nghiệm kiểm chứng”. Nhà khoa học hiện đại không còn khẳng
định rằng mình nắm được bản chất tối hậu của thế giới; thay vào đó, họ xây dựng những mô hình có khả
năng giải thích và dự đoán hiện tượng dựa trên quan sát, thí nghiệm, và xác
suất thống kê. Một định luật khoa học hiện nay luôn mang tính tạm thời: nó đúng
chừng nào dữ liệu thực nghiệm còn xác nhận nó. Nếu xuất hiện bằng chứng mới, lý
thuyết cũ có thể bị sửa đổi hoặc thay thế. Chính thái độ thận trọng này phản
ánh sâu xa tinh thần hoài nghi của Hume.
Ảnh hưởng của
Hume đặc biệt rõ trong sự phát triển của phương pháp khoa học hiện đại. Ông góp
phần làm suy yếu niềm tin cổ điển rằng chỉ cần suy luận logic là đủ để khám phá
chân lý. Sau ông, kinh nghiệm giác quan và kiểm chứng thực nghiệm trở thành
tiêu chuẩn trung tâm của tri thức. Tinh thần ấy về sau xuất hiện trong chủ
nghĩa thực chứng, trong khoa học thực nghiệm, trong thống kê hiện đại, và cả
trong triết học khoa học thế kỷ XX. Khi những nhà khoa học ngày nay nói về “mô hình”,
“giả thuyết”, “xác suất”, hay “mức độ tin cậy”, họ thực chất đang hoạt động
trong một thế giới trí thức đã chịu ảnh hưởng sâu xa từ vấn đề nhân quả mà Hume đặt ra.
Ảnh hưởng ấy còn
lan rộng sang lĩnh vực trí tuệ nhân tạo và khoa học dữ liệu hiện đại. những hệ thống AI
đương đại không nhận thức thế giới bằng những chân lý tất yếu theo kiểu chủ
nghĩa duy lý cổ điển. Chúng học thông qua sự lặp lại của dữ liệu, thông qua
tương quan thống kê và những mẫu hình xác suất. Một hệ thống machine learning
không “biết” tại sao một sự kiện phải dẫn đến sự kiện khác theo nghĩa siêu
hình; nó chỉ học rằng hai hiện tượng thường xuyên xuất hiện cùng nhau. Theo một
nghĩa nào đó, cơ chế hoạt động của AI hiện đại phản ánh rất gần quan điểm của
Hume về cách tâm trí hình thành kỳ vọng từ kinh nghiệm lặp lại. Điều mà thế kỷ
XVIII xem như một vấn đề triết học trừu tượng nay lại trở thành nền tảng cho
công nghệ của thế kỷ XXI.
Tác động của Hume
đối với gót học và triết học tôn giáo cũng đặc biệt sâu xa. Trước Hume, nhiều nhà gót học tin rằng lý
trí có thể chứng minh sự hiện hữu của Đấng Tối cao bằng những lập luận tiên nghiệm về nguyên nhân đầu
tiên hay thiết kế vũ trụ. Hume đã làm suy yếu toàn bộ nền tảng ấy khi ông chỉ
ra rằng lý trí không thể chứng minh sự hiện hữu của một liên hệ tất yếu giữa nguyên nhân
và kết quả. Nếu lý trí không thể chứng minh rằng mọi vật đều bắt buộc phải có
một nguyên nhân theo nghĩa tuyệt đối, thì nó cũng không thể từ thế giới hữu hạn
suy diễn tất yếu đến một Đấng Sáng tạo vô hạn. Sau Hume, gót
học phương Tây dần chuyển từ
tham vọng “chứng minh” đức tin sang việc nhấn mạnh đức tin như một lựa chọn
hiện sinh hoặc một kinh nghiệm tinh thần vượt khỏi giới hạn của lý trí thuần
túy.
Ảnh hưởng lớn
nhất của Hume có lẽ nằm ở chỗ ông đã thay đổi thái độ trí thức của con người
hiện đại đối với chân lý. Sau Hume, thế giới phương Tây ngày càng dè dặt trước
những hệ thống tư tưởng tự nhận sở hữu chân lý tuyệt đối. Người ta trở nên thận
trọng hơn với những tuyên bố siêu hình học bao quát, đồng thời đề cao tính kiểm chứng, dữ liệu,
và khả năng phản biện. Chính tinh thần ấy đã góp phần hình thành nền văn minh
khoa học hiện đại, nơi mọi lý thuyết đều phải mở ra cho sự nghi ngờ và kiểm
nghiệm liên tục.
Vì vậy, khi Hume
tuyên bố rằng nguyên lý “Ex nihilo, nihil fit” “không còn xứng đáng được gọi là
một châm ngôn nữa”, ông không chỉ bác bỏ một mệnh đề triết học thời cổ. Ông đã mở
đầu cho một cuộc chuyển đổi tri thức mang tính lịch sử: từ một thế giới tin vào
những chân lý tất yếu bất biến sang một thế giới ý thức sâu
xa về giới hạn của lý trí,
tính bất định của tri thức, và vai trò trung tâm của kinh nghiệm trong mọi nỗ
lực hiểu biết thực tại.
