Wednesday, May 6, 2026

Nietzsche – Bên kia Thiện và Ác (03)

Bên kia Thiện và Ác

Khúc dạo đầu cho một Triết Lý của Ngày Mai

(Jenseits von Gut und Böse - Vorspiel einer Philosophie der Zukunft)

 

Friedrich Nietzsche.

( ← . . . tiếp theo )

 




Bên kia Thiện và Ác

 

Phần Một

Về Những Định Kiến Của Những Nhà Triết Học

 

5

 

Điều khiến chúng ta vừa ngờ vực vừa giễu cợt khi nhìn vào tất cả những nhà triết học không phải vì việc chúng ta cứ hết lần này đến lần khác bắt gặp họ ngây thơ ra sao — họ nhầm lẫn và lạc lối thường xuyên và dễ dàng thế nào, tóm lại là sự trẻ con và tính nít ranh của họ — mà là vì họ làm việc không đủ ngay thẳng: trong khi tất cả họ đều làm ầm ĩ về đức hạnh ngay khi vấn đề về tính chân thực vừa được chạm đến dù là từ xa. Họ đều làm bộ như thể mình đã khám phá và đạt đến những quan điểm thực sự thông qua sự tự triển khai của một phép biện chứng lạnh lùng, thuần khiết, thản nhiên như thần thánh (khác hẳn với những kẻ thần bí ở mọi cấp độ, vốn thành thật hơn và cũng ngờ nghệch hơn — những kẻ này hay nói về “cảm hứng” —): trong khi về thực chất, họ lại dùng những lý lẽ tìm được sau đó để bảo vệ cho một khẳng định có sẵn, một ý chợt nảy ra, một “sự mách bảo”, hay phần lớn là một mong ước thầm kín đã được lọc sạch và trừu tượng hóa: — tất cả bọn họ đều là những trạng sư nhưng không muốn bị gọi tên như vậy, và chính xác hơn, họ phần lớn là những kẻ bào chữa lọc lõi cho những định kiến mà họ tự đặt tên là “sự thật” — họ còn cách rất xa sự dũng cảm của lương tâm khi dám nhìn nhận chính điều này, chính điều này; họ cũng cách rất xa cái gu thẩm mỹ tốt đẹp của sự dũng cảm khi dám cho người khác hiểu điều đó, dù là để cảnh báo một kẻ thù hay một người bạn, hay vì quá kiêu hãnh mà tự giễu cợt chính mình. Cái vẻ đạo đức giả cứng nhắc và đoan trang của ông già Kant, thứ mà ông ta dùng để lừa chúng ta vào những lối mòn biện chứng dẫn tới “mệnh lệnh tuyệt đối” của mình, hay đúng hơn là quyến rũ ta vào đó — vở kịch này khiến những kẻ khó tính như chúng ta phải mỉm cười, chúng ta tìm thấy niềm vui chẳng hề nhỏ khi soi xét những mánh khóe tinh vi của những nhà luân lý và những kẻ rao giảng đạo đức già nua. [1] Hay như cái trò ảo thuật mang hình thức toán học mà Spinoza đã dùng để bọc thép và mặt nạ cho triết học của mình [2] — mà suy cho cùng, nếu hiểu từ đó một cách đúng đắn và sòng phẳng, chính là “tình yêu dành cho sự khôn ngoan của chính ông ta” — để từ đầu đã làm nhụt chí kẻ tấn công nào dám liếc mắt nhìn vào nàng thiếu nữ bất khả chiến bại và nữ thần Pallas Athene này: — cái trò hóa trang của một con người ốm yếu cô độc này tiết lộ biết bao nhiêu sự nhút nhát và dễ tổn thương của chính ông ta!”

 

6

 

Dần dần, tôi đã nhận ra mọi nền triết học lớn từ trước đến nay thực chất là gì: đó là lời tự thú của người tạo ra nó và là một kiểu nhật ký ký ức không chủ đích và không bị nhận ra; tương tự như vậy, tôi thấy rằng những mục đích về đạo đức (hoặc phi đạo đức) trong mỗi nền triết học chính là mầm sống thực sự, thứ mà từ đó cả cái cây triết học đã lớn lên. Thật vậy, để giải thích xem thực ra những khẳng định siêu hình xa xôi nhất của một nhà triết học đã hình thành như thế nào, ta nên làm một việc tốt (và khôn ngoan) là luôn tự hỏi trước tiên: nền đạo đức này muốn dẫn đến đâu (ông ta muốn dẫn đến đâu—)? Theo đó, tôi không tin rằng “bản năng tìm hiểu tri thức” là cha đẻ của triết học, mà tin rằng một bản năng khác, ở đây cũng như chỗ khác, đã chỉ dùng tri thức (và cả sự hiểu sai!) như một công cụ. Còn ai quan sát những bản năng gốc rễ của con người để xem chúng đã đóng vai trò là những vị thần truyền cảm hứng (hay những con quỷ và yêu tinh—) trong việc dẫn dắt cuộc chơi ở đây đến mức nào, người đó sẽ thấy rằng tất cả những bản năng ấy đều đã từng làm triết học, — và mỗi bản năng đơn lẻ đều rất muốn thể hiện mình là mục đích cuối cùng của sự tồn tại và là ông chủ có quyền sai khiến mọi bản năng còn lại. Bởi vì mọi bản năng đều ham muốn quyền lực: và với tư cách đó, nó tìm cách làm triết học. [3] — Dĩ nhiên: với những học giả, những người làm khoa học thực thụ, mọi chuyện có thể khác — “tốt hơn” nếu ta muốn gọi như vậy —, ở đó có lẽ thực sự có thứ gọi là bản năng tri thức, một bộ máy đồng hồ nhỏ độc lập nào đó, khi đã lên dây cót tốt, nó sẽ hăng hái làm việc mà không cần những bản năng còn lại của học giả phải tham gia mật thiết vào. Vì thế, những “mối quan tâm” thực sự của học giả thường nằm ở chỗ hoàn toàn khác, chẳng hạn như gia đình, việc kiếm tiền hay chính trị; thậm chí, việc cỗ máy nhỏ của anh ta được đặt vào chỗ này hay chỗ kia của khoa học, hay việc người thợ trẻ “đầy triển vọng” tự biến mình thành một nhà ngữ văn giỏi, một người rành về nấm hay một nhà hóa học, là chuyện gần như không quan trọng: — việc anh ta trở thành thứ này hay thứ kia không nói lên bản chất con người anh ta. Ngược lại, ở nhà triết học, hoàn toàn không có gì là không mang tính cá nhân; và đặc biệt là nền đạo đức của ông ta đã đưa ra một minh chứng rõ rệt và quyết định cho việc ông ta là ai — nghĩa là, những bản năng tận sâu trong bản chất của ông ta đang được sắp xếp theo thứ bậc cao thấp với nhau như thế nào. ” [4]

 

7.

 

“Các nhà triết học có thể hiểm độc đến mức nào! Tôi chẳng biết thứ gì độc địa hơn lời đùa cợt mà Epicurus đã dành cho Plato và những người theo phái Plato: ông ta gọi họ là Dionysiokolakes. Theo mặt chữ và nghĩa bề nổi, từ này có nghĩa là “những kẻ tâng bốc Dionysios”, tức là những kẻ tay sai và nịnh hót bạo chúa; nhưng ngoài ra, nó còn mang ý muốn nói rằng “tất cả bọn họ đều là phường diễn viên, chẳng có gì chân thực ở đó cả” (vì Dionysokolax vốn là cách gọi phổ biến dành cho diễn viên thời đó). Và ý nghĩa sau cùng này chính là mũi tên độc mà Epicurus đã bắn vào Plato: ông ta bực mình trước cái điệu bộ hào nhoáng, cái lối dàn dựng phô trương mà Plato cùng đám môn đệ rất sành sỏi — thứ mà Epicurus chẳng hề biết làm! Ông ta, lão thầy giáo già từ vùng Samos, kẻ ngồi ẩn dật trong khu vườn nhỏ tại Athens và viết tới ba trăm cuốn sách, ai mà biết được? Có lẽ ông ta viết vì giận dữ và ganh đua với Plato chăng? — Phải mất một trăm năm Hy Lạp mới nhận ra vị thần trong vườn Epicurus này thực chất là ai. — Mà liệu họ có thực sự nhận ra không? —” [5]

 

8.

 

“Trong mỗi nền triết học đều có một thời điểm mà “niềm tin” của nhà triết học bước lên sân khấu: hay nói theo ngôn ngữ của một nghi lễ bí ẩn thời xưa:

con lừa đã đến

xinh đẹp và vô cùng mạnh mẽ. [6]

 

9.

 

Các người muốn sống “thuận theo tự nhiên” sao? Ôi, những người Stoics cao quý kia, thật là một sự lừa mị của câu chữ! Hãy thử tưởng tượng một thực thể như tự nhiên xem: hoang phí vô độ, thờ ơ vô độ, không mục đích cũng chẳng nể nang, không lòng trắc ẩn cũng chẳng công bằng, vừa màu mỡ vừa hoang vu lại vừa bấp bênh; hãy thử tưởng tượng chính sự dửng dưng đó là một quyền năng — làm sao những người có thể sống thuận theo sự dửng dưng ấy? Sống — chẳng phải chính là muốn-trở-nên-khác-đi so với tự nhiên này sao? Sống chẳng phải là đánh giá, là ưu tiên, là không công bằng, là bị giới hạn, là muốn-trở-nên-khác-biệt đó sao? Và giả sử khẩu lệnh “sống thuận theo tự nhiên” của những người về cơ bản cũng giống như “sống thuận theo sự sống” — thì làm sao những người có thể không làm thế được? Việc gì phải biến thứ mà chính những người vốn là và buộc phải là trở thành một nguyên tắc?

 

Thực tế hoàn toàn khác: trong khi những người hân hoan vờ như đọc được bộ luật của mình từ trong tự nhiên, thì thực ra những người lại muốn một điều ngược lại, hỡi những diễn viên kỳ quặc và những kẻ tự lừa dối mình kia! lòng kiêu hãnh của những người muốn áp đặt và lồng ghép đạo đức, lý tưởng của mình vào tự nhiên, ngay cả tự nhiên; những người đòi hỏi tự nhiên phải là tự nhiên “thuận theo phái Stoics”, và muốn biến mọi sự tồn tại thành hình ảnh của chính những người — như một sự ca tụng và phổ quát hóa khổng lồ và vĩnh cửu cho thuyết Stoics! Với tất cả tình yêu dành cho sự thật, những người tự ép mình nhìn tự nhiên một cách sai lạc, cụ thể là nhìn theo kiểu Stoics, ép một cách lâu dài, kiên trì và cứng nhắc như bị thôi miên, cho đến khi những người không thể nhìn nó theo cách nào khác nữa — và cuối cùng, một sự ngạo mạn thẳm sâu trao cho những người niềm hy vọng điên rồ rằng: vì những người biết cách tự bạo hành chính mình — thuyết Stoics chính là sự tự bạo hành — nên tự nhiên cũng sẽ để cho mình bị bạo hành: chẳng phải người Stoics cũng là một phần của tự nhiên đó sao?. . . [7]

 

Nhưng đây là một câu chuyện xưa cũ vĩnh cửu: những gì đã xảy ra với những người Stoics khi đó, ngày nay vẫn đang xảy ra ngay khi một nền triết học bắt đầu tin vào chính nó. Nó luôn nhào nặn thế giới theo hình ảnh của nó, nó không thể làm khác được; triết học chính là cái bản năng bạo chúa này, là ý chí quyền lực tinh thần nhất để “tạo ra thế giới”, để trở thành nguyên nhân đầu tiên (causa prima). ” [8]

 

10

 

Sự hăng hái và tinh vi, tôi thậm chí muốn nói là: sự lọc lõi, mà người ta đang dùng ở khắp châu Âu ngày nay để mổ xẻ vấn đề về “thế giới thực và thế giới biểu kiến”, khiến chúng ta phải suy ngẫm và lắng nghe; và ai chỉ nghe thấy ở đây một “ý chí tìm sự thật” mà không thấy gì khác, thì chắc chắn kẻ đó không có đôi tai sắc bén nhất. Trong vài trường hợp hiếm hoi, có lẽ một ý chí tìm sự thật như vậy thực sự có tham gia vào, một kiểu lòng dũng cảm phóng túng và phiêu lưu, một tham vọng siêu hình của một kẻ giữ chốt chặn tuyệt vọng, kẻ mà cuối cùng vẫn thà chọn một nắm tay “sự chắc chắn” còn hơn là cả một xe đầy những khả năng đẹp đẽ; thậm chí có lẽ có cả những kẻ cuồng tín thanh khiết về lương tâm, thà chọn nằm xuống chết trên một cái “Không” chắc chắn còn hơn trên một cái “Gì đó” bấp bênh. Nhưng đây là thuyết hư vô và là dấu hiệu của một tâm hồn tuyệt vọng, mệt mỏi với cái chết: dù những cử chỉ của một đức hạnh như thế có vẻ dũng cảm đến đâu đi nữa.

 

Nhưng với những tư tưởng gia mạnh mẽ hơn, đầy sức sống hơn, vẫn còn khát khao sự sống, thì mọi chuyện có vẻ khác: khi họ đứng về phía chống lại vẻ bề ngoài và phát âm từ “tính góc nhìn” với vẻ ngạo mạn, khi họ đánh giá sự đáng tin của cơ thể mình cũng thấp kém như sự đáng tin của mắt nhìn khi bảo rằng “trái đất đứng yên”, và thế là họ thản nhiên buông tay khỏi vật sở hữu chắc chắn nhất (vì giờ đây người ta tin gì chắc chắn hơn là cơ thể mình?) — ai biết được, liệu sâu xa họ có đang muốn giành lại thứ gì đó mà xưa kia chúng ta từng sở hữu chắc chắn hơn không, một thứ gì đó từ vùng đất đức tin cũ kỹ của ngày xưa, có lẽ là “linh hồn bất tử”, có lẽ là “vị Chúa cũ”, tóm lại là những ý tưởng mà dựa trên đó người ta có thể sống tốt hơn, mạnh mẽ và vui tươi hơn là dựa trên những “ý tưởng hiện đại”? Trong đó ẩn chứa sự ngờ vực đối với những ý tưởng hiện đại này, sự không tin vào tất cả những gì đã được xây dựng nên của ngày hôm qua và hôm nay; có lẽ còn pha trộn một chút chán chường và giễu cợt, một kẻ không còn chịu nổi mớ tạp nham những khái niệm từ đủ mọi nguồn gốc mà cái gọi là thuyết thực chứng đang mang ra bày bán ngoài chợ, một sự ghê tởm của cái gu sành sỏi trước sự sặc sỡ và chắp vá kiểu hội chợ của tất cả những kẻ triết học thực tại rởm đời này, những kẻ mà chẳng có gì mới và chân thực ngoài sự sặc sỡ đó.

 

Theo tôi, chúng ta nên ủng hộ những kẻ hoài nghi chống lại thực tại và những kẻ soi kính hiển vi vào tri thức của ngày hôm nay: bản năng thúc đẩy họ rời xa thực tại hiện đại là không thể bác bỏ, — những lối mòn đi lùi của họ chẳng can hệ gì đến chúng ta! Điều cốt yếu ở họ không phải là họ muốn “quay lại”: mà là họ muốn — rời đi. Chỉ cần thêm một chút sức mạnh, sự bay bổng, lòng dũng cảm và tính nghệ sĩ: họ sẽ muốn đi ra hẳn bên ngoài, — chứ không phải đi lùi lại! —” [9]

 

11

 

Tôi thấy rằng ngày nay ở khắp nơi người ta đang cố gắng làm xao lãng cái nhìn khỏi ảnh hưởng thực sự mà Kant đã gây ra cho triết học Đức, và đặc biệt là khéo léo lướt qua cái giá trị mà ông ta tự công nhận cho chính mình. Trước hết và trên hết, Kant tự hào về cái bảng những phạm trù của mình; tay cầm cái bảng đó, ông ta nói: “Đây là thứ khó khăn nhất từng được thực hiện vì lợi ích của siêu hình học”. — Hãy hiểu cho kỹ cụm từ “được thực hiện” này! Ông ta tự hào vì đã khám phá ra ở con người một năng lực mới, năng lực tạo ra những phán đoán tổng hợp tiên nghiệm. Giả sử ông ta đã tự lừa dối mình ở điểm này: nhưng sự phát triển và nở rộ nhanh chóng của triết học Đức lại bám chặt vào lòng tự hào này, và vào sự ganh đua của tất cả những kẻ trẻ tuổi hơn nhằm khám phá ra những thứ còn đáng tự hào hơn thế — và trong bất kỳ trường hợp nào, là những “năng lực mới”! —

 

Nhưng hãy suy nghĩ lại: đã đến lúc rồi. những phán đoán tổng hợp tiên nghiệm khả thi bằng cách nào? Kant tự hỏi — và thực ra ông ta đã trả lời thế nào? Bằng một năng lực (Vermöge eines Vermögens): nhưng đáng tiếc là không phải chỉ bằng bốn chữ đó, mà bằng một cách quanh co, tôn nghiêm, với một sự phô trương cái lối suy tư sâu xa và hoa mỹ kiểu Đức, đến mức người ta không còn nghe thấy cái sự ngớ ngẩn buồn cười kiểu Đức (niaiserie allemande) nằm trong câu trả lời đó. Người ta thậm chí đã phát cuồng vì cái năng lực mới này, và sự hân hoan lên đến đỉnh điểm khi Kant khám phá thêm cả một năng lực đạo đức ở con người: — vì thời đó người Đức vẫn còn nặng về đạo đức, chứ chưa hề biết đến “chính trị thực dụng”.

 

Thời kỳ trăng mật của triết học Đức đã đến; tất cả những nhà thần học trẻ ở trường Tübingen liền chạy ngay vào bụi rậm — tất cả đều đi tìm “các năng lực”. Và người ta đã chẳng tìm thấy đủ thứ đó sao — trong cái thời kỳ ngây thơ, giàu có và còn trẻ trung của tinh thần Đức, cái thời mà bà tiên độc địa “Thuyết lãng mạn” đã thổi vào, hát vào; cái thời mà người ta còn chưa biết phân biệt giữa “tìm thấy” và “bày đặt ra”! [10]Trên hết là một năng lực cho những thứ “siêu cảm tính”: Schelling đặt tên cho nó là “trực giác trí tuệ” và nhờ đó đã chiều lòng những khao khát nồng cháy nhất của những người Đức vốn có tâm hồn sùng đạo tận xương tủy. Chúng ta không thể làm gì bất công hơn với toàn bộ phong trào ngạo mạn và mơ mộng của tuổi trẻ này — dù nó có tự hóa trang khéo léo trong những khái niệm xám xịt và già cỗi đến đâu — bằng việc coi nó là nghiêm túc hay đối xử với nó bằng sự phẫn nộ đạo đức; thôi được rồi, người ta rồi cũng già đi — giấc mơ tan biến. Đã đến lúc người ta phải xoa trán: và ngày nay người ta vẫn còn đang xoa trán. Người ta đã nằm mơ: dẫn đầu và trước tiên chính là — lão già Kant. “Bằng một năng lực” — ông ta đã nói thế, hay ít nhất là có ý đó.

 

12

 

Nhưng đó có phải là — một câu trả lời không? Một sự giải thích không? Hay chẳng qua chỉ là sự lặp lại của câu hỏi? [11] Tại sao thuốc phiện lại làm người ta ngủ? “Bằng một năng lực”, cụ thể là năng lực gây ngủ (virtus dormitiva) — gã bác sĩ trong kịch của Molière trả lời như thế:

Vì trong đó có năng lực gây ngủ,

Mà bản chất của nó là làm cho những giác quan thiếp đi.

Nhưng những câu trả lời kiểu đó chỉ thuộc về tấu hài, và cuối cùng đã đến lúc phải thay thế câu hỏi của Kant “các phán đoán tổng hợp tiên nghiệm khả thi bằng cách nào?” bằng một câu hỏi khác: “Tại sao việc tin vào những phán đoán như thế lại là cần thiết?” — nghĩa là phải hiểu rằng, vì mục đích duy trì những sinh vật thuộc giống loài chúng ta, những phán đoán đó cần phải được tin là đúng; dù cho về bản chất chúng vẫn có thể là những phán đoán sai lầm! [12]Hoặc nói rõ hơn, thô bạo và triệt để hơn: những phán đoán tổng hợp tiên nghiệm đáng lẽ chẳng nên “khả thi” chút nào: chúng ta không có quyền dùng chúng, trong miệng chúng ta chúng hoàn toàn là những phán đoán sai. Chỉ có điều, niềm tin vào sự thật của chúng là cần thiết như một niềm tin bề nổi và một vẻ ngoài mắt thấy, thứ thuộc về cách nhìn theo góc nhìn của sự sống. [13]— Để cuối cùng nhắc đến sức ảnh hưởng khổng lồ mà “triết học Đức” — tôi hy vọng mọi người hiểu tại sao tôi dùng dấu ngoặc kép cho nó? — đã gây ra trên khắp châu Âu, thì đừng nghi ngờ rằng một kiểu “năng lực gây ngủ” (virtus dormitiva) đã góp phần vào đó: người ta đã sung sướng, giữa những kẻ nhàn rỗi cao quý, những người đức hạnh, những kẻ thần bí, những nghệ sĩ, những người Kitô hữu nửa vời và những kẻ chính trị đen tối của mọi quốc gia, vì nhờ có triết học Đức mà họ có được một thứ thuốc giải chống lại thuyết cảm tính đang quá mạnh mẽ từ thế kỷ trước tràn sang, tóm lại là — “làm cho những giác quan thiếp đi”. . . ” [14]

 

12.

 

Về lý thuyết nguyên tử của thuyết duy vật: đó là một trong những thứ bị bác bỏ triệt để nhất hiện nay; và có lẽ ở châu Âu ngày nay không còn học giả nào thiếu kiến thức đến mức coi nó có ý nghĩa nghiêm túc, ngoại trừ việc dùng nó như một công cụ tiện lợi trong gia đình và đời sống (tức là như một cách viết tắt cho những phương tiện diễn đạt) — trước hết phải cảm ơn người Ba Lan Boscovich, kẻ đã cùng với người Ba Lan Copernicus, trở thành những đối thủ lớn nhất và chiến thắng vẻ vang nhất trước cái nhìn của mắt trần. Trong khi Copernicus thuyết phục chúng ta tin rằng, trái với mọi giác quan, trái đất không hề đứng yên, thì Boscovich dạy ta từ bỏ niềm tin vào thứ cuối cùng từng “đứng vững” của trái đất, đó là niềm tin vào “vật chất”, vào “chất liệu”, vào cái nguyên tử hạt bụi và cục đất: đó là thắng lợi lớn nhất trước những giác quan từng đạt được trên trái đất này. — [15]

 

Nhưng chúng ta phải đi xa hơn nữa và tuyên chiến — một cuộc chiến không khoan nhượng đến tận cùng — với “nhu cầu nguyên tử luận” vốn vẫn đang sống một cuộc đời hậu kiếp nguy hiểm trong những lĩnh vực mà không ai ngờ tới, giống như “nhu cầu siêu hình” nổi tiếng kia: — trước hết chúng ta phải kết liễu một loại nguyên tử luận khác và tai hại hơn, thứ mà Kitô giáo đã truyền dạy tốt nhất và lâu nhất: nguyên tử luận tâm hồn. [16] Bằng cụm từ này, xin cho phép tôi được gọi cái niềm tin coi tâm hồn là một thứ gì đó không thể tiêu diệt, vĩnh cửu, không thể chia cắt, như một đơn tử (monad), như một nguyên tử (atomon): phải tống khứ niềm tin này ra khỏi khoa học! [17]

 

Nói riêng với nhau, chúng ta hoàn toàn không cần phải vứt bỏ bản thân “tâm hồn” và từ bỏ một trong những giả thuyết cổ xưa và đáng kính nhất: như cách mà những nhà tự nhiên học vụng về thường làm, hễ cứ chạm đến “tâm hồn” là họ làm mất nó luôn. Nhưng con đường dẫn đến những cách hiểu mới và tinh vi hơn về giả thuyết tâm hồn đang rộng mở: và những khái niệm như “tâm hồn có thể chết”, và “tâm hồn như một đa số chủ thể”, và “tâm hồn như một cấu trúc xã hội của những bản năng và cảm xúc” từ nay về sau cần có quyền công dân trong khoa học. Khi nhà tâm lý học mới chấm dứt sự mê tín bấy lâu nay vẫn mọc lên um tùm như rừng nhiệt đới quanh ý niệm tâm hồn, anh ta dĩ nhiên cũng tự đẩy mình vào một vùng hoang vu mới và một sự ngờ vực mới — có thể những nhà tâm lý học đời cũ đã có một cuộc sống thuận tiện và vui vẻ hơn —: nhưng cuối cùng, chính vì thế mà anh ta biết mình bị buộc phải bày đặt ra — và, ai biết được? có lẽ là để tìm thấy. ” [18]

 

13.

 

Các nhà sinh lý học nên suy nghĩ lại về việc đặt bản năng tự bảo toàn làm bản năng chính yếu của một sinh vật. Trước hết, một thực thể sống muốn tuôn trào sức mạnh của nó [19] — bản thân sự sống là Ý dục Quyền lực [20] —: tự bảo toàn chỉ là một trong những hệ quả gián tiếp và thường thấy nhất của điều đó. — Tóm lại, ở đây cũng như khắp mọi nơi, hãy cẩn trọng với những nguyên tắc mục đích luận dư thừa! — mà bản năng tự bảo toàn chính là một nguyên tắc như vậy (người ta có được nó là nhờ vào sự thiếu nhất quán của Spinoza). Phương pháp luận buộc chúng ta phải làm thế, vì cốt lõi của nó phải là sự tiết kiệm những nguyên tắc.

 

14

 

Có lẽ hiện giờ trong năm, sáu cái đầu đã bắt đầu lờ mờ nhận ra rằng vật lý học cũng chỉ là một cách giải thích thế giớisắp đặt thế giới (theo ý chúng ta! xin phép được nói thẳng như vậy) chứ không phải là một sự giải thích thế giới tận gốc rễ: nhưng, chừng nào nó còn dựa trên niềm tin vào những giác quan, nó vẫn được coi là cao siêu hơn, và trong một thời gian dài nữa nó vẫn phải được coi là cao siêu hơn, cụ thể là một sự giải thích chân lý. [21] Nó có mắt và ngón tay ủng hộ mình, nó có bằng chứng mắt thấy tai nghe và sự hiển hiện ngay trước mắt ủng hộ: điều đó có sức mê hoặc, thuyết phục và làm xiêu lòng một thời đại vốn có cái gu cơ bản của tầng lớp bình dân, [22] — bởi vì thời đại này đang đi theo bản năng của bộ quy tắc chân lý thuộc về thuyết cảm tính luôn được lòng đám đông. Cái gì là rõ ràng, cái gì là “đã được giải thích”? Chỉ những gì có thể nhìn thấy và sờ chạm được, — người ta phải đẩy mọi vấn đề đến giới hạn đó.

 

15

 

Để nghiên cứu sinh lý học với một lương tâm ngay thẳng, người ta phải giữ vững quan điểm rằng những cơ quan giác quan không phải là “hiện tượng” theo nghĩa của triết học duy tâm: vì nếu chỉ là hiện tượng, chúng chẳng thể là nguyên nhân gây ra điều gì cả! [23] Do đó, ít nhất phải coi thuyết cảm tính như một giả thuyết điều tiết, nếu không muốn nói là một nguyên tắc tìm tòi. — Sao cơ? Những kẻ khác thậm chí còn nói rằng thế giới bên ngoài là sản phẩm từ những cơ quan của chúng ta? Nhưng nếu thế, thì chính cơ thể chúng ta, với tư cách là một phần của thế giới bên ngoài đó, cũng phải là sản phẩm từ những cơ quan của chúng ta! Và rồi khi đó, chính những cơ quan của chúng ta lại là — sản phẩm từ những cơ quan của chính chúng ta! Theo tôi thấy, đây là một sự dẫn dắt đến chỗ vô lý cực điểm: giả định rằng khái niệm “tự mình là nguyên nhân của chính mình” (causa sui) là một thứ hoàn toàn vô lý. [24] Hệ quả là, thế giới bên ngoài không phải là sản phẩm từ những cơ quan của chúng ta — phải vậy không? [25]

 

Ngược lại: chính ở sự kháng cự lại những gì phơi bày trước giác quan đã tạo nên sức hút của cách tư duy kiểu Plato, một cách tư duy cao quý, [26] — có lẽ giữa những con người vốn sở hữu những giác quan mạnh mẽ và đòi hỏi cao hơn cả những người đương thời chúng ta, nhưng họ lại biết tìm thấy một thắng lợi cao hơn trong việc làm chủ những giác quan đó: và họ làm điều đó bằng những tấm lưới khái niệm xám xịt, lạnh lẽo và nhợt nhạt, những tấm lưới mà họ quăng lên trên cái vòng xoáy giác quan đầy màu sắc — cái “đám đông giác quan hỗn tạp”, như Plato đã gọi. Có một kiểu khoái lạc khác trong việc áp đặt và giải thích thế giới theo cách thức của Plato, khác hẳn với kiểu khoái lạc mà những nhà vật lý ngày nay đem lại cho chúng ta, cũng như những người theo thuyết Darwin và những nhà sinh lý học chống lại mục đích luận, với nguyên tắc về “lực tối thiểu” và sự ngu ngốc tối đa của họ. [27] “Nơi nào con người không còn gì để nhìn và để nắm bắt, thì ở đó anh ta cũng chẳng còn gì để tìm kiếm” — đó chắc chắn là một khẩu lệnh khác hẳn với khẩu lệnh của Plato, nhưng lại có thể là một khẩu lệnh hoàn toàn phù hợp cho một thế hệ công nhân và những người xây cầu cần cù, thô kệch trong tương lai, những kẻ chỉ có những công việc tay chân thô bạo để làm.

 

16.

 

Vẫn còn những kẻ tự quan sát mình một cách ngây thơ, những kẻ tin rằng có những “sự chắc chắn tức thời”, ví dụ như “tôi tư duy”, hoặc như sự mê tín của Schopenhauer, “tôi muốn”: cứ như thể ở đây sự hiểu biết nắm bắt được đối tượng của nó một cách thuần khiết và trần trụi, như một “vật tự thân”, và không hề có sự làm giả nào xảy ra từ phía chủ thể hay phía khách thể. Nhưng tôi sẽ lặp lại hàng trăm lần rằng: “sự chắc chắn tức thời”, cũng như “tri thức tuyệt đối” và “vật tự thân”, đều chứa đựng một sự mâu thuẫn ngay trong câu chữ (contradictio in adjecto): người ta cuối cùng nên thoát khỏi sự quyến rũ của từ ngữ!

 

Đám đông có thể tin rằng hiểu biết là hiểu biết đến tận cùng, nhưng nhà triết học phải tự nhủ rằng: “nếu tôi mổ xẻ quá trình được diễn đạt trong câu “tôi tư duy”, tôi sẽ nhận được một loạt những khẳng định táo bạo mà việc chứng minh chúng rất khó khăn, thậm chí là không thể — ví dụ như, chính tôi là kẻ tư duy, rằng nhất định phải có một cái “Gì đó” đang tư duy, rằng tư duy là một hoạt động và là kết quả từ phía một thực thể được coi là nguyên nhân, rằng có một cái “Tôi” tồn tại, và cuối cùng, rằng việc dùng từ tư duy để gọi tên điều này đã là một sự mặc định — rằng tôi biết tư duy là gì. Bởi vì nếu tôi chưa tự mình quyết định xong về việc đó, thì tôi lấy gì làm thước đo để biết rằng những gì đang xảy ra không phải là “muốn” hay “cảm thấy”?

 

Tóm lại, cái “tôi tư duy” đó đòi hỏi tôi phải so sánh trạng thái tức thời của mình với những trạng thái khác mà tôi biết ở chính mình, để từ đó xác định nó là gì: chính vì sự liên chiếu ngược lại với những “hiểu biết” khác này mà đối với tôi, nó chắc chắn không có “sự chắc chắn tức thời”. — Thay cho “sự chắc chắn tức thời” mà đám đông có thể tin trong trường hợp này, nhà triết học nhận lại một loạt những câu hỏi siêu hình, những câu hỏi thực sự chất vấn lương tâm của trí tuệ, đó là: “Tôi lấy khái niệm tư duy từ đâu ra? Tại sao tôi tin vào nguyên nhân và kết quả? Cái gì cho tôi quyền nói về một cái Tôi, và lại còn một cái Tôi với tư cách là nguyên nhân, và cuối cùng là một cái Tôi với tư cách là nguyên nhân của tư tưởng?” [28]

 

Kẻ nào dám trả lời ngay lập tức những câu hỏi siêu hình đó bằng cách viện dẫn một kiểu trực giác về tri thức, như kẻ nói rằng: “tôi tư duy, và tôi biết rằng ít nhất điều này là đúng, là thực, là chắc chắn” — kẻ đó sẽ thấy một nụ cười và hai dấu chấm hỏi chờ sẵn nơi một nhà triết học ngày nay. “Thưa ông, nhà triết học có lẽ sẽ cho ông ta hiểu rằng, rất khó có khả năng là ông không nhầm lẫn: nhưng mà, tại sao lại nhất thiết phải là sự thật?” —”

 

17

 

Về sự mê tín của những nhà logic: tôi sẽ không mệt mỏi khi nhấn mạnh đi nhấn mạnh lại một sự thật nhỏ bé và ngắn ngủi mà những kẻ mê tín này không muốn nhìn nhận — cụ thể là, một tư tưởng đến khi “nó” muốn, chứ không phải khi “tôi” muốn; do đó, việc nói rằng chủ thể “tôi” là điều kiện của vị ngữ “tư duy” là một sự làm giả thực tại. Nó tư duy: nhưng việc cho rằng cái “nó” này chính là cái “Tôi” cũ kỹ lừng danh đó, nói một cách nhẹ nhàng, thì cũng chỉ là một giả định, một khẳng định, và trên hết không phải là một “sự chắc chắn tức thời”. Cuối cùng, ngay cả với cách nói “nó tư duy” này cũng đã là làm quá nhiều rồi: chính cái “nó” này cũng đã chứa đựng một sự giải thích về quá trình đó rồi, chứ không thuộc về bản thân quá trình đó. Người ta kết luận ở đây theo thói quen ngữ pháp rằng: “Tư duy là một hoạt động, mà đã là hoạt động thì phải có kẻ thực hiện, do đó —”. [29]

 

Cũng theo cái khung tương tự như vậy, thuyết nguyên tử đời cũ từng tìm cách gắn thêm cái cục vật chất mà năng lực trú ngụ và vận hành vào trong “năng lực” đang tác động, đó là nguyên tử; nhưng những bộ óc khắt khe hơn cuối cùng đã học được cách vận hành mà không cần đến cái “mẩu bụi trần” đó, và có lẽ một ngày nào đó, ngay cả những nhà logic cũng sẽ quen với việc vận hành mà không cần đến cái “nó” nhỏ bé kia (thứ mà cái Tôi chân chất cũ kỹ đã tan biến vào đó).

 

18

 

Ở một học thuyết, sức hấp dẫn thực sự không hề nhỏ nằm ở chỗ nó có thể bị bác bỏ: chính điều đó thu hút những bộ óc tinh tế hơn. Có vẻ như học thuyết về “ý chí tự do” dù đã bị bác bỏ hàng trăm lần, sở dĩ vẫn còn tồn tại được là nhờ vào sức hấp dẫn này —: Theorie vom „freien Willen = Học thuyết về „Ý chí tự do”) ứ chốc chốc lại có ai đó xuất hiện và cảm thấy mình đủ mạnh mẽ để bác bỏ nó. [30]

 

19

 

Các nhà triết học thường nói về ý chí như thể nó là thứ dễ hiểu nhất thế gian; thậm chí Schopenhauer còn cho rằng chỉ duy nhất ý chí là thứ chúng ta thực sự hiểu thấu, hiểu trọn vẹn, không cần bớt đi hay thêm vào điều gì. Nhưng tôi lại luôn thấy rằng, ngay cả trong trường hợp này, Schopenhauer cũng chỉ làm cái việc mà những nhà triết học vốn hay làm: ông ta tiếp nhận một định kiến của đám đông rồi thổi phồng nó lên.

 

Đối với tôi, “muốn” là một thứ gì đó phức tạp, một thứ chỉ là một đơn vị duy nhất khi nằm trong mặt chữ — và chính trong cái từ duy nhất ấy ẩn chứa định kiến của đám đông, thứ đã ngự trị trên sự thiếu cẩn trọng vốn có của những triết gia. Vậy nên, chúng ta hãy thử cẩn trọng hơn, hãy thử “phi triết học” một lần xem — hãy nói rằng: trong mỗi hành động “muốn”, trước hết là một đa số những cảm giác: cụ thể là cảm giác về trạng thái mà ta muốn rời bỏ, cảm giác về trạng thái mà ta muốn hướng tới, bản thân cảm giác về sự “rời bỏ” và “hướng tới” này, rồi sau đó là một cảm giác cơ bắp đi kèm, thứ cảm giác mà ngay cả khi ta chưa cử động chân tay, nó vẫn bắt đầu cuộc chơi theo thói quen ngay khi ta vừa “muốn”.

 

Cũng giống như việc phải công nhận cảm giác (và là nhiều loại cảm giác) là thành phần của ý chí, thì thứ hai, tư duy cũng vậy: trong mỗi hành động ý chí đều có một tư tưởng ra lệnh; — và người ta đừng tin rằng có thể tách rời tư tưởng này ra khỏi hành động “muốn” để rồi sau đó vẫn còn lại cái gọi là ý chí! Thứ ba, ý chí không chỉ là một tổ hợp của cảm giác và tư duy, mà trên hết nó còn là một cảm xúc: cụ thể là cảm xúc ra lệnh. Cái vẫn được gọi là “tự do ý chí” về bản chất chính là cảm xúc về sự vượt trội đối với kẻ buộc phải vâng lời: “tôi tự do, còn hắn phải vâng lời” — ý thức này nằm trong mỗi ý chí. . . [31]

 

Một người khi “muốn” — là đang ra lệnh cho một “Cái gì đó” bên trong chính mình, một thứ mà anh ta tin rằng sẽ vâng lời. Nhưng hãy chú ý điều kỳ lạ nhất ở ý chí — ở cái thứ đa tầng mà đám đông chỉ gọi bằng một từ này: vì trong trường hợp đó, chúng ta vừa là kẻ ra lệnh vừa là kẻ vâng lời. . . người đang “muốn” tin tưởng một cách chân thành rằng chỉ cần “muốn” thôi là đủ để hành động diễn ra. Bởi vì trong hầu hết những trường hợp, người ta chỉ “muốn” khi kết quả của mệnh lệnh (tức sự vâng lời, sự hành động) đã được dự tính chắc chắn, nên cảm giác đó đã được hiểu lầm thành một sự tất yếu của kết quả; tóm lại, kẻ đang “muốn” tin với một mức độ chắc chắn rằng ý chí và hành động bằng cách nào đó là một. . .

 

“Ý chí tự do” — đó là từ ngữ để chỉ trạng thái khoái lạc đa tầng của kẻ đang “muốn”, kẻ ra lệnh và đồng thời tự coi mình là một với kẻ thực hiện mệnh lệnh, — kẻ với tư cách đó cùng tận hưởng niềm chiến thắng trước những lực cản, nhưng lại tự phán đoán rằng chính ý chí của anh ta mới là thứ thực sự vượt qua những lực cản ấy. . . Kẻ đang “muốn” đã cộng thêm những cảm giác khoái lạc từ những công cụ thực hiện thành công, từ những “hạ-ý chí” hay hạ-tâm hồn đầy tớ vào cảm giác khoái lạc của chính mình với tư cách là kẻ ra lệnh. L”effet c”est moi (Kết quả chính là tôi): ở đây cũng xảy ra điều giống như trong bất kỳ cộng đồng nào được tổ chức tốt và hạnh phúc, đó là giai cấp thống trị tự đồng nhất mình với những thành công của cộng đồng đó. Trong mọi hành động “muốn”, rốt cuộc chỉ xoay quanh việc ra lệnh và vâng lời, trên nền tảng của một cấu trúc xã hội bao gồm nhiều “tâm hồn”: [32] đó là lý do tại sao một nhà triết học nên có quyền đưa hành động “muốn” vào tầm nhìn của Đạo đức học: cụ thể là Đạo đức học được hiểu như là học thuyết về những mối quan hệ thống trị, những mối quan hệ mà nhờ đó hiện tượng “Sự sống” nảy sinh.

 

20

 

Việc những khái niệm triết học riêng lẻ không phải là thứ gì đó tùy tiện, không phải là thứ tự thân lớn lên, mà trái lại chúng cùng mọc lên trong mối liên hệ và họ hàng với nhau; việc chúng dẫu có vẻ xuất hiện đột ngột và ngẫu hứng trong lịch sử tư duy đến đâu, thì chúng vẫn thuộc về một hệ thống nhất định giống như mọi thành viên trong hệ động vật của một lục địa: điều đó cuối cùng lộ ra qua cái cách mà những nhà triết học khác biệt nhất vẫn luôn lấp đầy một bộ khung cơ bản định sẵn của những triết thuyết khả thi.

 

Dưới một lời nguyền vô hình, họ luôn chạy lại một vòng tròn cũ: dù họ có cảm thấy mình độc lập với nhau đến thế nào trong ý chí phê phán hay lập thuyết của mình: thì một cái gì đó bên trong vẫn dẫn dắt họ, một cái gì đó vẫn thúc đẩy họ đuổi theo nhau theo một trật tự xác định, đó chính là tính hệ thống bẩm sinh và mối quan hệ họ hàng của những khái niệm. Việc tư duy của họ thực chất ít mang tính khám phá hơn là sự nhận ra kẻ quen, sự nhớ lại, một cuộc quay về và hồi hương vào một “nền kinh tế chung” xa xưa của tâm hồn, nơi mà những khái niệm đó từng nảy mầm: — làm triết học, theo nghĩa đó, là một kiểu hồi cổ (Atavismus) ở cấp độ cao nhất. [33]

 

Sự giống nhau đến kỳ lạ giữa mọi cách làm triết học của người Ấn, người Hy Lạp, người Đức có thể giải thích khá đơn giản. Chính ở nơi có sự tương đồng về ngôn ngữ, nhờ vào cái triết học chung của ngữ pháp — tôi muốn nói là nhờ vào sự thống trị và dẫn dắt vô thức của những chức năng ngữ pháp giống nhau — mà ngay từ đầu, mọi thứ đã được chuẩn bị sẵn cho một sự phát triển và một thứ tự tương đồng của những hệ thống triết học: cũng giống như con đường dẫn đến những khả năng giải thích thế giới khác có vẻ như đã bị chặn đứng. [34] Những nhà triết học thuộc vùng ngôn ngữ Ural-Altai (nơi mà khái niệm “chủ ngữ” được phát triển kém nhất) rất có khả năng sẽ nhìn vào thế giới theo cách khác và đi trên những con đường khác với người Ấn-Âu hay người Hồi giáo: lời nguyền của những chức năng ngữ pháp nhất định, xét cho cùng, chính là lời nguyền của những phán đoán giá trị sinh lý và những điều kiện nòi giống. — [35]Đó là bấy nhiêu lời để bác bỏ sự hời hợt của Locke về nguồn gốc của những ý tưởng. ” [36]

 

21

 

Cái causa sui (tự mình là nguyên nhân của chính mình) là sự tự mâu thuẫn tốt nhất từng được bày đặt ra từ trước đến nay, một kiểu cưỡng bức logic và trái tự nhiên: nhưng lòng kiêu hãnh thái quá của con người đã khiến họ sa lầy một cách sâu sắc và khủng khiếp vào chính cái sự vô nghĩa này. [37] Niềm khao khát về một “ý chí tự do”, theo cái nghĩa siêu hình bậc nhất mà đáng tiếc là vẫn đang ngự trị trong đầu óc của những kẻ học nửa vời, cái niềm khao khát muốn tự mình gánh vác toàn bộ và cuối cùng trách nhiệm cho những hành động của mình, đồng thời trút bỏ gánh nặng đó khỏi Chúa, thế giới, tổ tiên, sự ngẫu nhiên và xã hội, thực chất chẳng là gì khác ngoài việc muốn chính là cái causa sui đó, và với một sự táo bạo còn hơn cả Nam tước Münchhausen, muốn tự túm tóc mình để kéo mình ra khỏi vũng bùn hư vô để vào sự tồn tại. [38]

 

Giả sử có ai đó nhìn thấu được sự ngô nghê chất phác của cái khái niệm lừng danh “ý chí tự do” này và xóa bỏ nó khỏi đầu mình, thì tôi xin người đó hãy đẩy “sự khai sáng” của mình đi xa thêm một bước nữa và xóa bỏ luôn cả cái mặt ngược lại của cái khái niệm rỗng tuếch “ý chí tự do” đó: tôi muốn nói đến cái “ý chí không tự do”, thứ dẫn đến một sự lạm dụng sai lầm về nguyên nhân và kết quả [39]. Người ta không nên biến “nguyên nhân” và “kết quả” thành những vật thể cứng nhắc một cách sai lầm như những nhà tự nhiên học vẫn làm (và cả những kẻ đang tư duy theo lối tự nhiên hóa ngày nay —) theo cái sự ngờ nghệch mang tính máy móc đang ngự trị, thứ làm cho nguyên nhân phải đè và đẩy cho đến khi nó “tác động”; người ta chỉ nên sử dụng “nguyên nhân” và “kết quả” như là những khái niệm thuần túy, nghĩa là như những sự hư cấu quy ước nhằm mục đích gọi tên, để hiểu nhau chứ không phải để giải thích.

 

Trong cái “tự thân”, chẳng hề có cái gọi là “mối liên kết nhân quả”, “sự tất yếu”, hay “sự không tự do về tâm lý”, ở đó không có chuyện “kết quả theo sau nguyên nhân”, ở đó chẳng có cái “quy luật” nào cai quản cả. Chính chúng ta là những kẻ duy nhất đã bày đặt ra những nguyên nhân, sự nối tiếp, sự tương hỗ, tính tương đối, sự cưỡng ép, con số, quy luật, tự do, lý do và mục đích; và khi chúng ta bày đặt, nhào nặn cái thế giới ký hiệu này vào trong những sự vật như thể chúng là “tự thân”, thì chúng ta lại một lần nữa hành động như cách chúng ta vẫn luôn làm, cụ thể là hành động theo kiểu thần thoại.

 

“Ý chí không tự do” là thần thoại: trong cuộc sống thực, mọi chuyện chỉ xoay quanh ý chí mạnh và ý chí yếu. — [40]Luôn là một dấu hiệu cho thấy bản thân một nhà tư tưởng đang thiếu thốn thứ gì, nếu ông ta cảm thấy có chút gì đó của sự cưỡng ép, sự túng quẫn, sự buộc-phải-theo-sau, sự áp lực, sự không tự do trong mọi “mối nối nhân quả” và “sự tất yếu tâm lý”: thật là lộ liễu khi cảm nhận đúng như thế — cá tính của ông ta đã tự tiết lộ mình. Và nói chung, nếu tôi quan sát đúng, người ta nắm bắt “sự không tự do của ý chí” như một vấn đề từ hai phía hoàn toàn trái ngược nhau, nhưng luôn theo một cách mang đậm tính cá nhân: một bên là những kẻ bằng mọi giá không muốn từ bỏ “trách nhiệm” của mình, không muốn bỏ niềm tin vào chính mình, không muốn bỏ quyền lợi cá nhân đối với công trạng của mình (những nòi giống hợm hĩnh thuộc về phe này —); phe còn lại thì ngược lại, không muốn chịu trách nhiệm về bất cứ điều gì, không muốn có lỗi trong bất cứ việc gì và vì một sự tự khinh bỉ bên trong, họ khao khát có thể đổ vấy bản thân mình sang một chỗ nào đó khác.

 

Những kẻ thuộc phe sau này, khi viết sách, ngày nay thường có thói quen bênh vực những tên tội phạm; một kiểu lòng trắc ẩn mang tính xã hội thuyết là cái mặt nạ dễ nghe nhất của họ. Và thật vậy, thuyết định mệnh của những kẻ yếu chí trở nên đẹp đẽ một cách kinh ngạc khi nó biết cách tự giới thiệu mình như là “tôn giáo của sự đau khổ của con người”: đó chính là “cái gu thẩm mỹ tốt” của nó. .

 

22

 

Hãy tha lỗi cho tôi, với tư cách là một nhà ngữ văn già không thể bỏ được thói hiểm độc khi chỉ tay vào những nghệ thuật giải thích tồi tệ: cái gọi là “tính quy luật của tự nhiên” mà những nhà vật lý những người đang nói đến đầy tự hào như thể —— thực chất nó chỉ tồn tại nhờ vào sự diễn giải và cái lối “ngữ văn” kém cỏi của những người, — nó không phải là một sự thật khách quan, không phải là một “văn bản”, mà đúng hơn chỉ là một sự sắp đặt và xuyên tạc ý nghĩa đầy tính nhân văn ngây ngô, thứ mà những người dùng để chiều lòng những bản năng dân chủ của tâm hồn hiện đại một cách quá đáng! [41]

 

“Mọi nơi đều bình đẳng trước pháp luật, — tự nhiên cũng không khác gì và không tốt hơn gì chúng ta về mặt đó”: một ý nghĩ thầm kín thật khéo léo, trong đó ẩn giấu một lần nữa lòng thù nghịch của đám đông đối với tất cả những gì có đặc quyền và tự chủ, cũng như ẩn giấu một kiểu thuyết vô thần thứ hai và tinh vi hơn. “Không Chúa, chẳng chủ” (Ni dieu, ni maître) — đó cũng là điều những người muốn: và vì thế “vạn tuế luật tự nhiên”! — có đúng không? [42]

 

Nhưng, như đã nói, đó chỉ là sự giải thích, chứ không phải văn bản; và có thể một ai đó sẽ xuất hiện, với ý đồ và nghệ thuật giải thích ngược lại, để từ cùng một thiên nhiên ấy và cùng những hiện tượng ấy, biết cách đọc ra sự thực thi không thương tiếc, tàn bạo và độc tài của những yêu sách quyền lực, — một nhà giải thích sẽ đặt trước mắt những người tính không ngoại lệ và tính tuyệt đối trong mọi “Ý dục Quyền lực” mãnh liệt đến mức hầu như mọi từ ngữ, ngay cả từ “bạo chúa”, cuối cùng cũng trở nên vô dụng hoặc chỉ như một ẩn dụ làm yếu đi và nhẹ bớt đi — vì vẫn còn quá mang tính người; thế nhưng kẻ đó cuối cùng vẫn sẽ khẳng định cùng một điều về thế giới này giống như những người đang khẳng định, cụ thể là thế giới có một tiến trình “tất yếu” và “có thể tính toán được”, nhưng không phải vì có những lề luật cai trị trong đó, mà là vì những lề luật hoàn toàn vắng bóng, và mỗi quyền lực trong từng khoảnh khắc đều thực hiện đến cùng hệ quả cuối cùng của nó. [43]

 

Giả sử rằng đây cũng chỉ là sự giải thích — và những người chắc chắn sẽ đủ hăng hái để phản bác như vậy chứ? — ồ, vậy thì càng tốt. ” [44]

 

23

 

Toàn bộ ngành tâm lý học từ trước đến nay đều bị mắc kẹt vào những định kiến và nỗi sợ hãi về đạo đức: nó đã không dám dấn thân xuống chiều sâu. Việc hiểu tâm lý học như là hình thái học và học thuyết về sự phát triển của Ý dục Quyền lực, theo cách tôi đang hiểu — [45] thì cho đến nay vẫn chưa một ai chạm tới ngay cả trong tư tưởng của mình: nếu chúng ta được phép nhìn ra triệu chứng của những gì đã bị giấu kín bấy lâu nay từ những gì đã được viết ra. Sức mạnh của những định kiến đạo đức đã xâm nhập sâu vào thế giới tinh thần nhất, thế giới có vẻ lạnh lùng và không hề có tiền giả định nhất — và, như một lẽ tự nhiên, nó gây hại, ngăn trở, làm mù quáng và xuyên tạc.

 

Một ngành Sinh lý - Tâm lý học thực thụ phải chiến đấu với những kháng cự vô thức trong trái tim của người nghiên cứu, nó có “trái tim” chống lại chính mình: chỉ riêng một học thuyết về sự phụ thuộc lẫn nhau của những bản năng “tốt” và “xấu” cũng đã đủ gây ra sự khó chịu và chán chường cho một lương tâm còn mạnh mẽ và nồng nhiệt — với tư cách là một sự phi đạo đức tinh vi hơn; và thậm chí còn khó chịu hơn nữa với một học thuyết cho rằng mọi bản năng tốt đều được dẫn xuất từ những bản năng xấu. [46]

 

Nhưng giả sử có ai đó coi những cảm xúc như hận thù, đố kỵ, tham lam, ham muốn quyền lực là những cảm xúc điều kiện cho sự sống, là thứ mà trong nền kinh tế chung của sự sống phải luôn hiện diện một cách căn bản và cốt yếu, và do đó cần phải được tăng cường thêm nữa nếu sự sống muốn được nâng cao hơn — kẻ đó sẽ chịu đựng hướng phán đoán này giống như chịu đựng một cơn say sóng. [47] Thế nhưng, ngay cả giả thuyết này vẫn còn xa mới là thứ gây đau đớn và xa lạ nhất trong cái vương quốc khổng lồ, gần như còn mới tinh của những tri thức nguy hiểm này: — và thực tế có cả trăm lý do tốt để mọi người tránh xa nó, nếu họ — có thể làm vậy!

 

Mặt khác: một khi con tàu của ta đã bị dạt tới đây, thôi thì! tiến lên! giờ hãy nghiến chặt răng! mở to mắt! giữ chắc tay lái! — chúng ta sẽ lái tàu băng thẳng qua trên đạo đức, chúng ta chèn ép, thậm chí có lẽ chúng ta sẽ nghiền nát chính cái phần đạo đức còn sót lại của mình khi thực hiện chuyến hành trình mạo hiểm tới đó, — nhưng chúng ta thì có quan trọng gì! Chưa bao giờ có một thế giới hiểu biết sâu sắc hơn mở ra trước mắt những lữ khách và những kẻ phiêu lưu táo bạo: và nhà tâm lý học, kẻ đang thực hiện một sự “hy sinh” như thế — đó không phải là sự hy sinh trí tuệ (sacrifizio dell”intelletto), ngược lại là khác! — ít nhất sẽ có quyền yêu cầu rằng tâm lý học phải được công nhận trở lại là bà chủ của những ngành khoa học, mà những ngành khoa học còn lại sinh ra là để phục vụ và chuẩn bị cho nó. Bởi vì giờ đây, tâm lý học một lần nữa lại là con đường dẫn đến những vấn đề gốc rễ. [48]

 

 

Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ hai

(May/2026)

(còn tiếp, . . . . . )

http://chuyendaudau. blogspot. com/ 

http://chuyendaudau. wordpress. com

 



[1] Kant: Kẻ giả vờ đoan trang: Nietzsche gọi triết học của Kant là một sự đạo đức giả (Tartüfferie) cứng nhắc: (a) Mánh khóe: Kant bày ra một mê cung lý luận cực kỳ phức tạp (phép biện chứng) để dẫn người đọc đến cái gọi là “mệnh lệnh tuyệt đối” (đạo đức bổn phận (b) Sự thật phía sau: Nietzsche cho rằng Kant đã có sẵn kết luận đạo đức trong đầu từ trước. Ông ta không dùng lý trí để tìm sự thật, mà dùng lý trí để ngụy trang cho những định kiến đạo đức cá nhân, biến chúng thành những quy luật nghe có vẻ vĩnh cửu và thiêng liêng.

[2] Spinoza: Kẻ nhút nhát núp bóng toán học: Nietzsche coi hình thức toán học (chứng minh theo kiểu hình học) của Spinoza là một trò ảo thuật (Hocuspocus): (a) Mánh khóe: Spinoza bọc thép các lập luận của mình bằng những định nghĩa, tiên đề và hệ quả khô khan để tạo ra vẻ ngoài “bất khả xâm phạm” như nữ thần Pallas Athene. (b) Sự thật phía sau: Theo Nietzsche, lớp vỏ bọc toán học ấy thực chất là một chiếc mặt nạ của một người đau ốm, cô độc. Spinoza quá nhút nhát và sợ bị tấn công nên phải dùng toán học để hăm dọa kẻ thù, che giấu sự yếu đuối và “tình yêu dành cho sự khôn ngoan của chính mình” (một thứ tình yêu mang tính cá nhân ích kỷ).

Nietzsche khẳng định cả hai không hề đi tìm “Sự thật” một cách khách quan. Kant là một trạng sư cho đạo đức truyền thống, còn Spinoza là một bệnh nhân đang cố tự bảo vệ mình bằng những con số.

[3] Ý của Nietzsche trong câu này cực kỳ sắc sảo, Triết học chính là tiểu sử cá nhân được ngụy trang - có thể tóm gọn qua 3 điểm: (a) Lật tẩy sự “khách quan” giả tạo: Các triết gia luôn vỗ ngực nói rằng hệ thống của họ được xây dựng từ lý trí thuần khiết và chân lý vĩnh cửu. Nietzsche nói: Không phải. Đó thực chất là tấm gương phản chiếu chính con người họ. (b) Triết học là “Tiểu sử tâm hồn”: Khi một triết gia viết về “Đạo đức” hay “Công lý”, thực chất ông ta đang kể cho chúng ta nghe về: - Những nỗi sợ hãi cá nhân. - Những khao khát thầm kín. - Tình trạng sức khỏe (sinh lý) của chính mình. Ví dụ: Một triết gia yếu ớt sẽ xây dựng một triết học tôn thờ sự nhẫn nhịn; một kẻ ham quyền lực sẽ xây dựng hệ thống tôn thờ sức mạnh. (c) Sự tự thú không tự giác: Điều thú vị là các triết gia thường không biết mình đang tự thú. Họ tưởng mình đang giải mã vũ trụ, nhưng thực ra họ đang “vạch áo cho người xem lưng”, bộc lộ thứ bậc các bản năng đang ngự trị trong tâm hồn họ.

Tóm lại: Muốn hiểu một triết học, đừng nhìn vào logic của nó, hãy nhìn vào con người kẻ đã đẻ ra nó.

[4] Nietzsche phân biệt Triết giaHọc giả (nhà khoa học) dựa trên mức độ “gắn kết cá nhân” với công việc của họ:

  1. Triết gia (Không có gì là khách quan): Bản chất: Triết học là sự “tự thú”, là tấm gương phản chiếu con người thật và thứ bậc bản năng của ông ta. Động lực: Một bản năng thống trị nào đó (như lòng ham quyền lực) mượn danh tri thức để làm công cụ tự khẳng định mình. Tính gắn kết: Toàn bộ cuộc đời, đạo đức và bản chất sinh lý của triết gia nằm trọn trong tư tưởng của ông ta.
  2. Học giả (Cỗ máy tách biệt): Bản chất: Giống như một “bộ máy đồng hồ” nhỏ độc lập, được lên dây cót để chạy mà không liên quan đến phần còn lại của con người họ. Động lực: Có thể có “bản năng tri thức” thực sự, nhưng nó tách rời khỏi các đam mê khác. Tính gắn kết: Hời hợt. Mối quan tâm thực sự của học giả nằm ở gia đình, tiền bạc hay chính trị. Việc họ nghiên cứu nấm, hóa học hay ngôn ngữ không nói lên họ là ai—họ chỉ là những chuyên gia kỹ thuật.

Triết gia triết học của mình (mang tính cá nhân sâu sắc), còn học giả chỉ làm khoa học (mang tính khách quan nhưng vô hồn)

[5] Nietzsche sử dụng đoạn này như một ca lâm sàng để “giải phẫu” tâm lý triết gia. Dưới đây là các chi tiết then chốt:

1. Thuật ngữ “Dionysiokolakes” (Mũi tên độc của Epicurus): Epicurus chơi chữ cực kỳ thâm độc để hạ nhục Plato cùng lúc trên hai phương diện: Nghĩa đen (Nịnh thần): Ám chỉ việc Plato từng đến Syracuse để làm cố vấn cho bạo chúa Dionysius. Epicurus mỉa mai Plato chỉ là kẻ nịnh hót, tay sai cho quyền lực chính trị. Nghĩa bóng (Diễn viên): Trong tiếng Hy Lạp thời đó, Dionysokolax là từ lóng để gọi các diễn viên (vì kịch nghệ thờ thần Dionysus). Epicurus muốn chửi Plato là kẻ “diễn tuồng”, giả tạo, kẻ bày vẽ ra những lý thuyết hào nhoáng nhưng rỗng tuếch.

2. Sự đối lập giữa “Hào nhoáng” và “Khu vườn”

Nietzsche chỉ ra sự xung đột về lối sống (sinh lý học) giữa hai người: (a) Plato (Sự phô trương): Đại diện cho phong cách quý tộc, dàn dựng kịch tính, lôi cuốn đám đông. Nietzsche gọi đó là “điệu bộ hào nhoáng” (grossartige Manier). (b) Epicurus (Sự ẩn dật): Là “lão thầy giáo già” ngồi trong vườn. Epicurus ghét Plato vì ông ta không thể làm được như Plato. Triết lý “an nhiên trong vườn” của Epicurus, theo Nietzsche, thực chất là một phản ứng tự vệ của một kẻ thua cuộc về mặt xã hội.

3. Động cơ: Giận dữ và Ganh đua (Wuth und Ehrgeiz) Đây là cú “bắt bài” đau đớn nhất của Nietzsche: (a) Người ta thường nghĩ Epicurus viết 300 cuốn sách vì yêu tri thức. Nietzsche đặt nghi vấn: Không, ông ta viết vì uất hận. (b) Triết học của Epicurus (tôn thờ sự tĩnh lặng, tránh xa đau khổ) thực chất là đòn trả đũa cá nhân đối với sự thành công rực rỡ của phái Plato. Nó là một loại “đạo đức của người yếu” dùng để phủ nhận giá trị của kẻ mạnh.

4. “Vị thần trong vườn” (Gartengott): Nietzsche dùng từ này với giọng mỉa mai sâu cay: Epicurus được môn đệ tôn thờ như một vị thần thánh thiện, bình thản trong khu vườn nhỏ. Nietzsche lột mặt nạ: “Vị thần” này thực chất là một con người đầy lòng trắc ẩn độc hại và sự đố kỵ. Hy Lạp mất 100 năm mới hiểu ra, nhưng Nietzsche vẫn nghi ngờ liệu người ta có thực sự thấy được cái bản chất “người” đầy yếu đuối sau lớp vỏ triết học cao siêu đó không.

Tóm lại: Qua chi tiết này, Nietzsche muốn chứng minh rằng ngay cả những hệ thống triết học dạy về sự bình an (như của Epicurus) cũng có thể mọc lên từ mầm mống của sự thù hận và mặc cảm tự ti.

Nietzsche coi Plato là một “diễn viên” nguy hiểm vì: (a) Dàn dựng sự thật: Plato không chỉ tìm chân lý, ông “đạo diễn” nó. Ông biến các ý tưởng trừu tượng thành một vở kịch rực rỡ (Thế giới Ý niệm) khiến người ta mê đắm và tin vào một thế giới không có thực. (b) Sức mạnh quyến rũ: Khác với Epicurus ẩn dật, Plato có “điệu bộ hào nhoáng” của kẻ chinh phục. Sự giả tạo của ông có sức mạnh lôi cuốn đám đông, biến những hư cấu triết học thành chuẩn mực đạo đức cho cả thiên niên kỷ. (c ) Lừa dối có hệ thống: Plato là “diễn viên” bậc thầy vì ông làm cho cái giả (thế giới ý niệm) trông có vẻ thật hơn cả đời thực, khiến con người quay lưng lại với bản năng và sự sống thực tại.

Tóm lại: Epicurus là kẻ diễn vụng về vì thù hận, còn Plato là diễn viên đại tài vì ông đã đánh tráo thực tại bằng ảo tưởng một cách hoàn hảo.

Nietzsche gọi Plato là “cú sa ngã của triết học Hy Lạp” vì: (a) Chối bỏ thực tại: Plato tạo ra “Thế giới Ý niệm” để hạ thấp thế giới thực, coi cuộc đời này chỉ là bản sao lỗi lầm, bất toàn, khiếm khuyết. Đây là khởi đầu của thuyết hư vô. (b) Đầu độc bản năng: Ông dùng lý trí để bóp nghẹt các bản năng tự nhiên, biến sự sống thành một thứ cần phải được “cải tạo” bằng đạo đức. (c )Tạo ra “đạo Kitô cho dân chúng”: Nietzsche coi triết học Plato là nền tảng của đạo Kitô sau này—một hệ thống dạy con người hy vọng vào một “thiên đường” hư ảo để chịu đựng sự khổ cực thực tại.

Tóm lại: Plato đã biến triết học từ chỗ khẳng định sự sống trở thành công cụ để phủ nhận sự sống.

[6] “Niềm tin” (Überzeugung) bước lên sân khấu:Nietzsche tiếp tục dùng ẩn dụ về kịch nghệ. Ông muốn nói rằng đằng sau tất cả những lý lẽ logic khô khan, sẽ đến lúc nhà triết học không thể giấu giếm được nữa. Cái “niềm tin” cốt lõi — thứ vốn là định kiến cá nhân, là bản năng của ông ta — sẽ lộ diện và làm chủ cuộc chơi. Câu tiếng Latin “Adventavit asinus, pulcher et fortissimus”: Đây là một lời dẫn từ các lễ hội trào phúng thời Trung Cổ (như Lễ con lừa). Con lừa: Đại diện cho sự ngu ngốc, bướng bỉnh nhưng lại rất kiên định. Mỉa mai: Nietzsche ví những “chân lý” tối cao mà các triết gia tôn thờ giống như một con lừa. Họ trang điểm cho những định kiến cứng nhắc của mình thành những hình tượng “xinh đẹp và mạnh mẽ” để bắt mọi người (và chính họ) phải quỳ lạy.

Mọi hệ thống triết học tinh vi cuối cùng đều dẫn về một cái đích: một sự thật ngớ ngẩn nhưng cứng đầu mà nhà triết học đó đã tin từ trước khi bắt đầu đặt bút viết. Ông mỉa mai rằng khi các triết gia tưởng mình chạm đến đỉnh cao của trí tuệ, thì thực ra họ chỉ đang dắt một “con lừa” định kiến ra trình diễn trước công chúng.

[7] Tóm tắt ý chính của Nietzsche

  1. Tự nhiên là sự dửng dưng (Indifference): Nietzsche vạch trần sự phi lý của khẩu hiệu “thuận theo tự nhiên”. Tự nhiên không có đạo đức, không có công bằng, nó “hoang phí và thờ ơ vô độ”. Sống thuận theo nó là một điều không tưởng.
  2. Sống là “Khác biệt” và “Bất công”: Nietzsche định nghĩa sự sống là hành động áp đặt giá trị. Sống là phải biết chọn lựa, ưu tiên cái này hơn cái kia, tức là phải “bất công” và “khác biệt” với sự dửng dưng của tự nhiên.
  3. Lật tẩy sự tự lừa dối của phái Stoics: Họ không hề học hỏi từ tự nhiên. Thực chất, họ áp đặt đạo đức Stoics của mình lên tự nhiên, rồi sau đó mới “đọc” lại nó như thể đó là quy luật của vũ trụ. Đây là một màn kịch của lòng kiêu hãnh.
  4. Triết học là Ý chí Quyền lực (Will to Power): Đây là ý quan trọng nhất. Nietzsche khẳng định triết học không phải là tìm kiếm sự thật khách quan. Triết học là một bản năng bạo chúa, một nỗ lực của tinh thần nhằm nhào nặn toàn bộ thế giới theo ý muốn và hình ảnh của nhà triết học. Nó là “ý chí quyền lực” ở dạng tinh vi nhất.

[8] Câu nói này là lời kết luận đanh thép của Nietzsche nhằm lột trần bộ mặt thật của triết học. Có thể hiểu ý nghĩa sâu xa qua 3 điểm chính:

1. Triết học là “Bản năng bạo chúa” (Tyrannical instinct)

Nietzsche cho rằng triết học không xuất phát từ lòng yêu chân lý khách quan. Nó xuất phát từ một nhu cầu mãnh liệt muốn cai trị. (a) Nhà triết học không chỉ quan sát thế giới; họ muốn bắt thế giới phải tuân thủ theo các quy luật, khái niệm và logic mà họ đặt ra. (b) Giống như một bạo chúa áp đặt luật lệ lên dân chúng, triết gia áp đặt hệ thống tư duy của mình lên thực tại.

2. Ý dục Quyền lực tinh thần nhất (The most spiritual Will to Power)

Đây là hình thái “cao cấp” và tinh vi nhất của lòng ham muốn quyền lực: (a) Thay vì dùng gươm giáo hay tiền bạc để thống trị (quyền lực vật chất), nhà triết học dùng ý tưởng. (b) Khi họ thuyết phục được thế giới tin vào cái “Đúng/Sai” của họ, họ đã thực hiện một cuộc xâm chiếm tâm linh toàn diện. Đó là lý do Nietzsche gọi nó là “tinh thần nhất” (geistigste).

3. “Tạo ra thế giới” và trở thành “Nguyên nhân đầu tiên” (Causa Prima)

Đây là tham vọng tối cao của mọi hệ thống triết học: (a) Tạo ra thế giới: Triết gia không chấp nhận thế giới hỗn loạn, ngẫu nhiên. Họ nhào nặn lại nó, gán cho nó một ý nghĩa, một trật tự theo hình ảnh của chính họ. Thế giới trong mắt người Stoics khác thế giới trong mắt Kant — mỗi người đều “xây dựng” lại một thế giới riêng. (b) Causa Prima (Nguyên nhân đầu tiên): Trong thần học, đây là vị trí của Chúa. Nietzsche ám chỉ rằng các triết gia có khao khát thầm kín muốn đóng vai Chúa: muốn tư tưởng của mình là điểm khởi đầu, là nền tảng mà từ đó mọi thứ khác được giải thích.

Nietzsche muốn nói rằng: Triết học là một trò chơi quyền lực trá hình. Đằng sau những trang sách đạo đức hay logic khô khan là một lòng ham muốn mãnh liệt muốn nhào nặn vũ trụ theo ý mình. Triết gia chính là những kẻ “xâm lược” vĩ đại nhất bằng tư tưởng.

Nietzsche lại cho rằng việc nhìn nhận bản chất “bạo chúa” này lại là một sự thành thật cần thiết cho một triết gia tương lai - Nietzsche cho rằng việc nhìn nhận bản chất “bạo chúa” này là sự thành thật cần thiết vì:

1.      Vượt qua sự đạo đức giả: Các triết gia cũ luôn giả vờ “khách quan” trong khi thực chất đang áp đặt cái tôi. Nhìn nhận cái “Dục” bành trướng này giúp triết gia tương lai loại bỏ mặt nạ giả nhân giả nghĩa.

2.      Làm chủ sự sáng tạo: Khi biết mình đang “tạo ra thế giới” thay vì “tìm thấy sự thật”, triết gia sẽ trở thành một nghệ sĩ của tư tưởng, dám tự đặt ra các giá trị mới thay vì làm nô lệ cho các hệ thống cũ.

3.      Khẳng định sự sống: Nhìn nhận Ý dục Quyền lực là chấp nhận bản chất thực của con người và tự nhiên. Sự thành thật này là bước đầu tiên để trở thành Siêu nhân (Übermensch) — kẻ không còn sợ hãi trước sự hỗn loạn của thực tại.

Tóm lại: Thành thật giúp triết gia từ một kẻ “nói dối vô thức” trở thành một kẻ sáng tạo có ý thức.

[9] Giải thích và tóm tắt ý chính của Nietzsche

  1. Lật tẩy “Ý chí tìm sự thật”: Nietzsche cho rằng đằng sau việc các nhà triết học say mê phân biệt “thế giới thực” và “thế giới ảo” không phải là tình yêu chân lý, mà là một sự lọc lõi (Schlauheit).
  2. Chỉ trích thuyết hư vô trá hình: Những kẻ thà chọn một cái “Không” chắc chắn (sự phủ định thực tại) thực chất là những tâm hồn mệt mỏi với sự sống. Sự dũng cảm của họ chỉ là giả tạo, bản chất là thuyết hư vô.
  3. Sự hoài nghi đối với “Ý tưởng hiện đại” và Thuyết thực chứng: Nietzsche khinh bỉ thuyết thực chứng (Positivism) của thời đại ông, coi đó là một mớ tạp nham (bric-à-brac), sặc sỡ nhưng rỗng tuếch. Những nhà tư tưởng “mạnh mẽ” mà ông nhắc đến thực ra đang chán ghét hiện tại và muốn tìm lại những giá trị cũ (Chúa, linh hồn) vì những thứ đó giúp họ sống “mạnh mẽ và vui tươi hơn”.
  4. “Muốn rời đi” thay vì “Muốn đi lùi”: Nietzsche có một cái nhìn cảm thông với những kẻ hoài nghi hiện tại. Ông cho rằng bản năng rời bỏ cái thực tại rởm đời của họ là đúng. Tuy nhiên, ông chê họ thiếu tính nghệ sĩsức mạnh. Thay vì dũng cảm sáng tạo ra cái mới để “đi ra ngoài” hệ thống, họ lại hèn nhát chọn cách “đi lùi” về những giá trị cũ của quá khứ.

Tóm lại: Nietzsche đang phê phán các triết gia thời đại ông là những kẻ thiếu sức sống. Họ chán ghét thực tại nhưng không đủ khả năng sáng tạo nên tương lai, nên họ mượn danh nghĩa “tìm sự thật” để tháo chạy về quá khứ hoặc rơi vào thuyết hư vô.

[10] Khám phá hay Bày đặt? (Finden vs. Erfinden): Ông mỉa mai thời kỳ lãng mạn của Đức khi các triết gia đổ xô đi “tìm” đủ loại năng lực mới trong tâm hồn. Nietzsche khẳng định họ không hề tìm thấy gì cả, mà chỉ là “bày đặt” ra các khái niệm để thỏa mãn lòng sùng đạo thầm kín của người Đức. Nietzsche lột trần Kant không phải là một nhà khoa học khách quan, mà là một kẻ vô tình tạo ra một liều thuốc mê tinh thần cho châu Âu bằng cách lặp lại những câu hỏi dưới dạng câu trả lời.

[11] Chế nhạo cách giải thích “vòng vo” của Kant: Nietzsche ví Kant như gã bác sĩ rởm trong kịch Molière. Khi được hỏi tại sao thuốc phiện gây ngủ, gã trả lời: “Vì nó có năng lực gây ngủ”. Kant cũng vậy, khi hỏi làm sao con người có thể hiểu những thứ siêu hình, ông trả lời: “Vì con người có năng lực hiểu”. Với Nietzsche, đây không phải là giải thích, mà là tấu hài (Komödie) ẩn dưới lớp vỏ ngôn từ đạo mạo.

[12] Từ “Đúng/Sai” sang “Sống còn”: Đây là bước ngoặt quan trọng nhất. Nietzsche muốn thay thế câu hỏi lý thuyết của Kant bằng một câu hỏi thực tiễn: “Tại sao ta phải tin vào nó?”. Câu trả lời: Chúng ta tin không phải vì nó đúng, mà vì nếu không tin vào các khái niệm (sai lầm) đó, con người không thể sống sót. Nó là một phần của “góc nhìn sự sống” (Perspektiven-Optik).

[13] cách nhìn theo góc Nietzsche coi “tính góc nhìn” (Perspektivismus) là một trong những vũ khí sắc bén nhất để đập tan các hệ thống thần học và siêu hình học truyền thống.

1. “Tính góc nhìn” (Perspektivismus) là gì? Nietzsche cho rằng không có một “cái nhìn từ hư không” (view from nowhere). (a) Mọi tri thức đều có vị thế: Mọi sự hiểu biết đều xuất phát từ một cơ thể cụ thể, một tập hợp các bản năng cụ thể, tại một thời điểm cụ thể. (b) Thế giới là đa diện: Giống như một vật thể có nhiều mặt, mỗi góc nhìn chỉ thấy được một phần. Không có góc nhìn nào là “toàn bộ” hay “tuyệt đối”.

2. Tại sao nó là “sự cứu rỗi” khỏi sự độc tài của “Chân lý”?: Các hệ thống triết học cũ (như của Kant, Plato) hoặc tôn giáo thường tuyên bố họ nắm giữ Chân lý duy nhất. Nietzsche coi đây là sự độc tài vì: (a) Dập tắt sự sống: Khi một “Chân lý” được coi là tuyệt đối, nó bắt mọi góc nhìn khác phải câm lặng, bóp nghẹt sự đa dạng và sáng tạo của các bản năng. (b) Giải phóng tư duy: Tính góc nhìn giúp con người nhận ra: “Đây không phải là Chân lý, đây chỉ là góc nhìn của ông”. Nó cho phép chúng ta từ bỏ thái độ quỳ lạy trước các khái niệm và bắt đầu tự tạo ra những góc nhìn (giá trị) mới có lợi cho sự sống của chính mình.

3. “Mọi thứ đều là giải thích” có phải là Thuyết tương đối? Có điểm giống nhưng khác biệt về bản chất: (a) Giống: Cả hai đều phủ nhận một sự thật khách quan duy nhất. (b) Khác (Điểm đặc biệt của Nietzsche): Thuyết tương đối thường dẫn đến thái độ: “Ai cũng đúng, mọi giá trị đều bằng nhau” (dễ rơi vào thuyết hư vô). Nietzsche thì khác, ông đặt câu hỏi: “Góc nhìn nào giúp sự sống mạnh mẽ hơn?” Với Nietzsche, dù mọi thứ là giải thích, nhưng không phải mọi giải thích đều có giá trị ngang nhau. Một giải thích thúc đẩy sự thăng hoa, sức mạnh và niềm vui thì “tốt hơn” một giải thích gây ra sự suy nhược và thù hận (như đạo đức nô lệ).

“Tính góc nhìn” không phải để nói rằng “chẳng có gì là thật”, mà để nói rằng “chúng ta là những người thợ điêu khắc thực tại”. Nó cứu rỗi con người bằng cách trả lại quyền lực sáng tạo cho cá nhân: bạn không còn phải đi tìm chân lý ở đâu xa, bạn chính là kẻ áp đặt ý nghĩa lên cuộc đời mình thông qua góc nhìn của mình. .

 nhìn của sự sống > “Perspektiven-Optik des Lebens” = quang học góc nhìn của sự sống

[14] Triết học Đức là “Thuốc ngủ” của châu Âu: Nietzsche mỉa mai rằng triết học Đức thành công khắp châu Âu không phải vì nó mang lại sự thật, mà vì nó đóng vai trò như một thứ thuốc ngủ (virtus dormitiva). Nó giúp những kẻ mơ mộng, những người Kitô hữu nửa vời trốn tránh thực tại khốc liệt (thuyết cảm tính, thuyết duy vật) để chìm vào những giấc mơ siêu hình êm ái.

[15] Thắng lợi trước giác quan (Boscovich & Copernicus): Nietzsche ca ngợi những người dám đi ngược lại “mắt thấy tai nghe”. Copernicus chứng minh trái đất không đứng yên; Boscovich chứng minh vật chất không phải là những “cục” cứng đặc (nguyên tử vật chất). Với Nietzsche, vật chất chỉ là một cách nói tắt, một công cụ để tư duy chứ không có thực.

[16] Tiêu diệt “Nguyên tử tâm hồn”: Đây là đòn đánh trực diện vào đạo Kitô và các triết gia cũ (như Descartes). Họ coi tâm hồn là một đơn vị duy nhất, không thể chia cắt và bất tử. Nietzsche gọi đây là sự mê tín. Ông muốn phá nát cái “cục” tâm hồn cứng nhắc đó.

[17] Tâm hồn là một “Cấu trúc xã hội” (Social structure): Thay vì coi tâm hồn là một thứ duy nhất, Nietzsche đề xuất một giả thuyết cách mạng: Tâm hồn là một tập hợp của nhiều bản năng và cảm xúc đang tranh giành và chung sống với nhau. Nó giống như một quốc gia hay một bộ máy hành chính phức tạp, nơi các bản năng luôn tìm cách thống trị lẫn nhau. Nietzsche muốn quét sạch tư duy coi mọi thứ (vật chất lẫn tâm hồn) là những khối đơn lẻ, cứng nhắc. Ông thay thế bằng một thế giới của sự biến đổi, đa dạng và các xung lực quyền lực đang đan xen vào nhau

[18] “Bày đặt ra” để “Tìm thấy”: Nietzsche nhìn nhận nhà tâm lý học mới sẽ thấy cô độc khi bỏ đi niềm tin cũ. Nhưng chính sự cô độc này buộc họ phải sáng tạo (bày đặt) ra những cách hiểu mới. Và thông qua việc sáng tạo đó, họ mới thực sự tìm thấy bản chất của con người.

[19] Sống là “Tuôn trào” chứ không phải “Giữ gìn”:Nietzsche đảo ngược hoàn toàn sinh học truyền thống. Ông cho rằng mục đích của sự sống không phải là để sống sót (thụ động), mà là để giải phóng năng lượng (chủ động). Một cái cây không chỉ muốn “không chết”, nó muốn bành trướng, đâm chồi và lấn át không gian xung quanh. Tự bảo toàn chỉ là hệ quả:Nếu bạn có quyền lực và tuôn trào được sức mạnh, bạn sẽ tự khắc được bảo toàn. Với Nietzsche, coi “tự bảo toàn” là mục đích cao nhất giống như việc coi “thở” là mục đích của cuộc đời—thực ra thở chỉ là điều kiện để bạn làm những việc khác to lớn hơn. ”Bắt bài” sự thiếu nhất quán của Spinoza:Spinoza (và sau này là Darwin) coi Conatus (sự nỗ lực tự tồn tại) là trung tâm. Nietzsche mỉa mai đây là một sự thiếu nhất quán. Tại sao một sinh vật lại phải cố gắng giữ mình như cũ nếu bản chất của sự sống là luôn thay đổi và vượt lên?Tiết kiệm nguyên tắc (Occam”s Razor):Nietzsche dùng phương pháp khoa học để phản bác: Nếu đã có Ý dục Quyền lực giải thích được cả sự tăng trưởng, bành trướng lẫn sự sống còn, thì không cần thêm cái bản năng “tự bảo toàn” riêng biệt làm gì cho dư thừa. Tóm lại: Nietzsche định nghĩa lại sự sống là một quá trình tấn công và bành trướng. Tự bảo toàn chỉ là cái “phanh” hoặc kết quả phụ của quá trình bành trướng đó. Bạn có muốn biết tại sao Nietzsche lại coi những người tin vào bản năng “tự bảo toàn” là những người đang nhìn sự sống bằng con mắt của kẻ yếu, kẻ sợ hãi cái chết không? Dấn thân vào rủi ro chính là cách sống của kẻ mạnh.

[20] Tôi dich Will to Power = Ý dục Quyền lực (xem …) – giải thích lại ở đây

(a)

Will to Power = Ý dục Quyền lực > chạm đúng bản chất tâm lý học mà Nietzsche muốn truyền tải. (a) “Ý dục” lột tả được chất “Bản năng” (Trieb): Nếu dịch là “Ý chí”, người ta dễ liên tưởng đến sự lựa chọn lý trí, tỉnh táo. Nhưng với Nietzsche, Wille mang tính thúc đẩy tự thân, nảy sinh từ sâu thẳm cơ thể. Từ “Dục” (trong ham muốn, dục vọng) lột tả được sự khao khát, thôi thúc không ngừng nghỉ, giống như một dòng năng lượng luôn muốn tuôn trào và chiếm lĩnh. (b) Xóa bỏ sự phân biệt giữa Tinh thần và Thể xác: Nietzsche cho rằng triết học thực chất là “sinh lý học”. Dùng chữ “Dục” kéo quyền lực ra khỏi những định nghĩa chính trị khô khan và đưa nó về đúng vị trí là một nhu cầu sinh học. Triết gia xây dựng hệ thống tư tưởng cũng giống như một sinh vật đang thỏa mãn lòng ham muốn bành trướng tầm ảnh hưởng của mình. (c) Sự chủ động và áp đặt: “Ý dục” cho thấy một trạng thái chủ động. Quyền lực ở đây không phải là cái có sẵn để nắm bắt, mà là quá trình áp đặt hình ảnh của mình lên thế giới. Như đoạn văn về phái Khắc ở trên: triết học là cái “dục” muốn nhào nặn thế giới theo hình ảnh cá nhân.

(b)

Nietzsche coi “Dục” (trong Ý dục Quyền lực) là nguồn sống vì đối với ông, sống không phải là trạng thái tĩnh hay sự tồn tại thụ động, mà là một quá trình bành trướng: (a) Sống là chiếm hữu (Living is Appropriating): Nietzsche khẳng định một sinh vật khỏe mạnh không chỉ muốn “tồn tại” mà muốn vượt lên chính mình. Cái “Dục” này thúc đẩy sinh vật thu phục, áp đặt và đồng hóa môi trường xung quanh để trở nên mạnh mẽ hơn. (b) Chống lại sự suy tàn: Nếu cái “Dục” bành trướng này dừng lại, sinh vật sẽ rơi vào trạng thái suy đồi (decadence) và bắt đầu chết dần. Do đó, lòng ham muốn áp đặt không phải là tội lỗi, mà là xung lực cơ bản của sự sống. (c) Sự sáng tạo bắt nguồn từ sự áp đặt: Mọi giá trị, nghệ thuật và tư duy đều là kết quả của việc con người dùng “Ý dục” để nhào nặn thế giới hỗn loạn thành một hình thái có ý nghĩa. Không có cái “Dục” bạo chúa này, thế giới sẽ chỉ là một khối hư vô vô nghĩa. Nietzsche coi đạo đức đạo Kitô là kẻ thù số một của cái “Dục” nguồn sống này

[21] Vật lý không phải là “Chân lý”: Nietzsche giáng một đòn mạnh vào khoa học hiện đại: Vật lý học không giải thích bản chất thực sự của thế giới, nó chỉ là một cách “sắp đặt” (Zurechtlegung) thế giới sao cho con người dễ sử dụng. Nó là một sự áp đặt góc nhìn của con người lên thực tại.

[22] Cái gu “Bình dân” của Khoa học (Plebejischem Grundgeschmack): Ông mỉa mai rằng vật lý học thành công vì nó chiều lòng đám đông. Những gì “sờ thấy được, nhìn thấy được” thì mới được tin là thật. Nietzsche coi đây là tư duy của tầng lớp bình dân, thô kệch, không có khả năng trừu tượng hóa hay làm chủ bản năng.

[23] Nietzsche đang mỉa mai những triết gia cho rằng “thế giới chỉ là hình ảnh trong đầu chúng ta”. Ông chỉ ra một vòng lặp logic chết người: Nếu tôi nói cái bàn là do mắt tôi tạo ra, thì chính cái mắt tôi (vốn là một vật thể sinh học) cũng phải do mắt tôi tạo ra sao? Điều này dẫn đến việc một thứ tự sinh ra chính nó—một sự vô lý (reductio ad absurdum). Cơ quan giác quan là thực thể, không phải ảo ảnh: Để sinh lý học (nghiên cứu về cơ thể) có ý nghĩa, ta phải nhìn nhận các giác quan là có thật và có khả năng tác động (là nguyên nhân). Nếu coi mắt hay tai chỉ là “hiện tượng” hay ảo giác, thì toàn bộ khoa học về cơ thể sẽ sụp đổ.

[24] khái niệm Causa sui (Tự làm nguyên nhân cho mình): Nietzsche ghét khái niệm này (thường dùng để chỉ Chúa hoặc Tự do ý chí). Ở đây ông dùng nó để chứng minh rằng: Một cơ quan không thể vừa là “kẻ tạo ra” vừa là “vật được tạo ra” cùng một lúc.

[25] Dù Nietzsche luôn nói về “góc nhìn”, nhưng ở đây ông khẳng định thế giới bên ngoài có một thực tại độc lập, không phải là sản phẩm tưởng tượng của các giác quan. Giác quan chỉ là công cụ để ta tương tác với thế giới đó.

[26] Sự “Cao quý” của Plato: Dù Nietzsche thường phê phán Plato, nhưng ở đây ông lại khen ngợi Plato ở một điểm: sự cao quý. Sự cao quý nằm ở chỗ Plato dám khinh miệt những gì mắt thấy tai nghe, dám dùng tư duy thuần túy (lưới khái niệm) để chế ngự sự hỗn loạn của giác quan. Đó là một hình thức của Ý dục Quyền lực tinh thần.

[27] Sự ngu ngốc của thuyết thực tế: Nietzsche chế nhạo các nhà khoa học hiện đại (vật lý, Darwin) là những kẻ tôn thờ sự tối giản và hữu dụng (“lực tối thiểu”). Ông tiên đoán một tương lai nơi con người trở thành những “cỗ máy” xây cầu, chỉ biết làm những việc thô bạo và không còn khả năng suy tư về những gì nằm ngoài tầm mắt. Nietzsche cảnh báo rằng khi chúng ta quá tin vào khoa học thực nghiệm, chúng ta đang biến mình thành những sinh vật thô kệch, đánh mất khả năng làm chủ thế giới bằng tinh thần cao quý và rơi vào sự dẫn dắt của các giác quan tầm thường.

 

[28] Đánh sập “Tôi tư duy” (Cogito của Descartes): (a) Nietzsche mổ xẻ câu nói nổi tiếng của Descartes. Ông chỉ ra rằng “Tôi tư duy” không phải là một sự thật hiển nhiên. Nó chứa đầy những giả định chưa được chứng minh: Tại sao lại là “Tôi”? Tại sao lại là “Tư duy” (mà không phải cảm xúc)? Tại sao phải có một “Cái gì đó” làm nguyên nhân cho hành động này? (b) Sự quyến rũ của từ ngữ:: Nietzsche cho rằng chúng ta bị lừa bởi cấu trúc ngữ pháp (Chủ ngữ + Động từ). Vì ngôn ngữ buộc phải có “Tôi” để đi với “tư duy”, nên ta lầm tưởng rằng có một thực thể “Tôi” tách biệt đang tạo ra tư tưởng. (c) Không có “Sự chắc chắn tức thời”: Để biết mình đang “tư duy”, bạn phải so sánh nó với việc “vui” hay “buồn” đã biết từ trước. Vì phải so sánh và đối chiếu, nên nó không còn là “tức thời” hay “trực tiếp” nữa. Nó đã bị xử lý qua lăng kính kinh nghiệm cá nhân. (d) “Tại sao nhất thiết phải là sự thật?”::Đây là câu hỏi khiêu khích nhất của Nietzsche. Ông gợi ý rằng ngay cả khi chúng ta nhầm lẫn về cái “Tôi”, sự nhầm lẫn đó có khi lại có ích cho sự sống hơn là một sự thật khô khan nào đó.

Nietzsche biến một khẳng định chắc chắn nhất của triết học phương Tây thành một đống câu hỏi nghi vấn. Ông lột mặt nạ cái “Tôi” và cho thấy nó chỉ là một thói quen ngôn ngữ và một giả định siêu hình.

[29] Nietzsche viết: “Một tư tưởng đến khi “nó” muốn, chứ không phải khi “tôi” muốn”. Đây là cách ông phủ nhận quyền làm chủ của cái “Tôi”. đây chính là đòn đánh trực diện của Nietzsche vào khái niệm Tự ngã (Ego/Self) hay cái “Tôi” chủ thể. Ý nghĩa của nó như sau: (a) Phủ nhận quyền làm chủ của Tự ngã : Triết học truyền thống (như Descartes) coi cái “Tôi” là ông chủ, là nguyên nhân điều khiển tư duy. Nietzsche lật ngược lại: Cái “Tôi” chỉ là một giả tưởng ngữ pháp: Chúng ta bị ngôn ngữ đánh lừa. Vì câu nói cần có chủ ngữ (“Tôi nghĩ”), nên ta tin rằng có một thực thể “Tôi” đang điều khiển ý nghĩ. Tư tưởng tự phát: Ý nghĩ nảy ra từ những xung đột, bản năng và quá trình sinh lý sâu bên dưới mà ý thức không hề hay biết. Cái “Tôi” thực chất chỉ là kẻ quan sát đi sau, rồi “vơ vào” rằng: “Đó là ý nghĩ của tôi”. (b) Tự ngã chỉ là một “Dòng chảy” bản năng Nietzsche thay thế cái Tự ngã duy nhất, bất biến bằng khái niệm: Tâm hồn là một cấu trúc xã hội của các bản năng (Trieb). Cái mà ta gọi là “Tôi” thực chất là một bãi chiến trường, nơi các bản năng đang tranh giành quyền lực. Khi một bản năng chiến thắng và trồi lên mặt đất dưới dạng một ý nghĩ, cái “Tôi” ý thức chỉ đơn giản là nhìn nhận kết quả đó. (c) “Nó” tư duy, không phải “Tôi” tư duy

Nietzsche đề xuất rằng thay vì nói “Tôi tư duy” (Ich denke), đúng ra phải nói là “Nó tư duy” (Es denkt). Chữ “Nó” ở đây chỉ những xung lực vô danh, những bản năng sinh học đang vận hành trong cơ thể. Việc coi cái “Tôi” là nguyên nhân của tư tưởng, đối với Nietzsche, cũng ngớ ngẩn như việc nói “tia chớp” là một chủ thể tách biệt khỏi “ánh sáng chớp” vậy. Chúng là một.

Nietzsche đã giải thể cái Tự ngã. Ông biến nó từ một “ông chủ quyền lực” thành một “hệ quả của ngôn ngữ”. Chúng ta không “tư duy”; chúng ta chỉ là nơi mà các tư duy xảy ra.

Cách nhìn của Nietzsche về cái “Tôi” có sự tương đồng kinh ngạc với khái niệm Anatta (Vô ngã) trong đạo Phật. Cả hai đều bác bỏ ý niệm về một cái “Tôi” vĩnh cửu, bất biến và độc lập.

Dưới đây là những điểm gần gũi nhất giữa Nietzsche và “Vô ngã”:

1. Cái “Tôi” là một dòng chảy (Flow), không phải vật thể: (a) Đạo Phật: Coi “Tự ngã” chỉ là sự kết hợp tạm thời của Năm uẩn (Sắc, Thụ, Tưởng, Hành, Thức). Không có cái lõi nào cố định bên trong dòng chảy đó. (b) Nietzsche: Coi tâm hồn là một “cấu trúc xã hội của các bản năng và cảm xúc”. Cái “Tôi” thực chất là một bãi chiến trường biến động không ngừng của các xung lực. Khi các xung lực này thay đổi, cái “Tôi” cũng thay đổi theo.

2. Sự “lừa đảo” của ngôn ngữ và khái niệm: (a) Đạo Phật: Coi cái tên gọi (như “tôi”, “ông A”, “bà B”) chỉ là tục đế (sự thật ước định), một công cụ để giao tiếp chứ không phản ảnh thực tại tối hậu. (b) Nietzsche: Gọi cái “Tôi” là một “giả tưởng ngữ pháp”. Chúng ta tin có cái “Tôi” chỉ vì cấu trúc ngôn ngữ bắt ta phải có một chủ ngữ cho mọi hành động.

3. “Nó tư duy”, không phải “Tôi tư duy” (a) Đạo Phật: “Có hành động nhưng không có người hành động, có sự đau khổ nhưng không có người đau khổ. ” Mọi thứ chỉ là các tiến trình nhân quả (Duyên khởi) nối tiếp nhau. (b)Nietzsche: Như bạn đã thấy, ông nói: “Tư tưởng đến khi nó muốn”. Ý thức chỉ là bề mặt của những tiến trình sinh lý sâu thẳm. Cái “Tôi” không tạo ra tư tưởng; tư tưởng tự khởi phát từ dòng chảy bản năng.

4. Giải thoát khỏi sự bám chấp (a) Đạo Phật: Hiểu về Vô ngã để diệt trừ tham ái và chấp thủ, dẫn đến sự an lạc (Nirvana). (b) Nietzsche: Hiểu về sự giải thể cái “Tôi” để trở thành “Con người sáng tạo”. Khi không còn bám vào cái “Tôi” cũ kỹ, cứng nhắc của truyền thống và đạo đức, ta có tự do để nhào nặn chính mình như một tác phẩm nghệ thuật.

Điểm khác biệt thú vị: Trong khi đạo Phật hướng tới sự vắng lặng và chấm dứt dòng chảy nghiệp báo, Nietzsche lại muốn chúng ta khẳng định và tận hưởng dòng chảy bản năng đó. Với ông, cái “Tôi” là ảo ảnh, nhưng cái Ý dục Quyền lực đang vận hành trong dòng chảy đó là thực và đầy sức mạnh.

Bạn có muốn biết Nietzsche đã dùng khái niệm “Cái Tôi như một đa số” để dạy con người cách vượt lên chính mình như thế nào không? Siêu nhân chính là kẻ làm chủ được dòng chảy này.

[30] Theorie vom „freien Willen” = “Học thuyết về „Ý chí tự do” là một trong những mục tiêu tấn công hàng đầu của Nietzsche trong chương này. Nietzsche gọi ý chí tự do là một thứ „causa sui” (tự mình là nguyên nhân của chính mình). Ông ví nó như nỗ lực của một kẻ tìm cách tự túm tóc mình để kéo mình ra khỏi vũng bùn hư vô. Theo ông, không có hành động nào đứng ngoài chuỗi nhân quả của bản năng và sinh lý. Nietzsche mỉa mai rằng học thuyết này tồn tại dai dẳng chỉ vì nó là một “bia tập bắn” quá tuyệt vời. Các triết gia thích bác bỏ nó để chứng tỏ mình có “bộ óc tinh tế” và “mạnh mẽ”.

Nietzsche coi đây là một học thuyết đã “chết” về mặt trí tuệ (bị bác bỏ hàng trăm lần). Ông không còn tốn công chứng minh nó sai nữa, mà chuyển sang phân tích tâm lý tại sao người ta vẫn thích bàn về nó. Khoái lạc của việc bác bỏ: Những bộ óc tinh tế và mạnh mẽ thường bị lôi cuốn bởi những sai lầm kinh điển. Việc bác bỏ một thứ “sai lè” như ý chí tự do trở thành một cách để các triết gia phô diễn sức mạnh trí tuệ và cảm thấy mình vượt trội. Ý chí tự do là một “mánh khóe”: Với Nietzsche, không có một “ý chí” nào đứng độc lập để đưa ra quyết định. Mọi hành động đều là kết quả của sự xung đột giữa các bản năng (Ý dục Quyền lực). Ông cho rằng các nhà thần học tạo ra khái niệm này chỉ để bắt con người phải chịu trách nhiệm và cảm thấy tội lỗi. Sự tồn tại của nó nhờ vào sự phản kháng: Một lý thuyết sai lầm đôi khi sống dai dẳng không phải vì nó đúng, mà vì nó tạo ra một “đối thủ” tuyệt vời để các nhà tư tưởng mới tập dượt khả năng phê phán của mình. Tóm lại: Nietzsche coi ý chí tự do là một sai lầm hữu ích cho việc giải trí trí tuệ, nhưng lại là một thảm họa cho việc hiểu bản chất con người.

[31] Ý chí là một “Phức hợp” (Multiplicity): Nietzsche đập tan ảo tưởng rằng ý chí là một thứ đơn giản. Nó gồm: (a) Cảm giác (Feelings): Cảm giác rời đi, cảm giác hướng tới và cảm giác vận động cơ bắp. (b) Tư tưởng (Thought): Luôn có một ý nghĩ đi kèm hành động muốn, không thể tách rời. (c) Cảm xúc ra lệnh (Affect of Commanding): Đây là yếu tố quan trọng nhất. Ý chí luôn đi kèm với một cảm xúc quyền lực, cảm giác mình là chủ nhân đang ra lệnh cho một kẻ dưới quyền.

Ảo tưởng về cái “Tôi” thống nhất: Chúng ta vừa là kẻ ra lệnh, vừa là kẻ vâng lời (cơ thể và các bản năng cấp dưới). Vì chúng ta chỉ dùng một chữ “Tôi” duy nhất, nên chúng ta tự lừa dối mình rằng cái “Tôi” ý thức là kẻ duy nhất tạo ra hành động.

Ý chí tự do là sự khoái lạc về Quyền lực: “Ý chí tự do” thực chất là tên gọi cho cảm giác sướng khi mệnh lệnh được thực hiện. Khi ta muốn và cơ thể vâng lời, ta tận hưởng chiến thắng của các bản năng cấp dưới nhưng lại vơ hết công trạng về cho cái “Ý chí” trừu tượng của mình.

Đạo đức là quan hệ Thống trị: Nietzsche định nghĩa lại Đạo đức. Nó không phải là những quy tắc “tốt/xấu” trên trời, mà là nghiên cứu về cách các bản năng thống trị và vâng lời lẫn nhau để tạo nên sự sống.

[32] Nietzsche coi cơ thể người là một “cấu trúc xã hội của nhiều tâm hồn” thay vì chỉ là một khối vật chất duy nhất Với Nietzsche, cách hiểu này là một cuộc cách mạng nhằm phá bỏ quan niệm truyền thống về một “linh hồn” duy nhất, bất biến. Để hiểu tâm hồn là gì trong cụm từ “cấu trúc xã hội của nhiều tâm hồn”, ta cần bóc tách các lớp nghĩa sau:

1. Tâm hồn = Các bản năng và cảm xúc (Triebe und Affekte): Thay vì coi tâm hồn là một thực thể siêu hình, Nietzsche định nghĩa mỗi “tâm hồn” là một xung lực quyền lực cụ thể. (a) Cơ thể bạn không phải là một khối thống nhất, mà là một tập hợp của hàng ngàn “tiểu tâm hồn”. (b) Mỗi bản năng (như bản năng ăn, ngủ, ham muốn tình dục, khao khát kiến thức, sự sợ hãi. . . ) đều hành xử như một thực thể có ý chí riêng.

2. Cấu trúc xã hội (Gesellschaftsbau): Nietzsche dùng hình ảnh “xã hội” để mô tả cách cơ thể vận hành: (a) Trong một xã hội có kẻ cai trị và kẻ phục tùng, có tầng lớp thượng lưu và bình dân. (b) Trong cơ thể, các bản năng luôn tranh giành quyền lực. Tại một thời điểm, bản năng mạnh nhất sẽ leo lên vị trí “kẻ ra lệnh” (Befehlende), các bản năng khác phải “vâng lời” (Gehorchende). (c) Cái mà ta gọi là “Tôi” thực chất chỉ là tên gọi của giai cấp thống trị trong cái xã hội bản năng đó.

3. Tại sao lại gọi là “Nhiều tâm hồn”? Ông muốn bác bỏ cái “Tôi” (Ego) duy nhất của Descartes. (a) Nếu bạn đang đấu tranh giữa việc “đi làm” hay “ngủ tiếp”, đó không phải là một cái “Tôi” đang phân vân, mà là hai thực thể tâm hồn (hai bản năng) đang đánh nhau để giành quyền kiểm soát cơ thể. (b) Cơ thể chính là “vũ đài” nơi các tâm hồn này chung sống, xung đột và liên minh với nhau.

4. Ý nghĩa của “L’effet c’est moi” (Kết quả chính là tôi): Khi một hành động diễn ra (ví dụ: bạn quyết định đứng dậy đi làm), đó là kết quả của một bộ máy “đầy tớ” khổng lồ bên dưới đã vâng lời. (a) Nhưng ý thức của chúng ta lại rất kiêu ngạo. Nó tự đồng nhất mình với kết quả thành công và tuyên bố: “Đó là ý chí của TÔI”. (b) Nietzsche ví điều này như một vị vua vơ hết công trạng của quân đội và nhân dân vào mình khi thắng trận.

Đối với Nietzsche, Tâm hồn không nằm ngoài cơ thể, mà tâm hồn chính là cách thức tổ chức của các bản năng bên trong cơ thể. Cơ thể là một “đế chế” của những xung lực sống động, luôn biến đổi thứ bậc cai trị.

[33] Triết học là “Hồi cổ” (Atavism): Nietzsche bác bỏ quan niệm cho rằng triết gia là người tự do sáng tạo ra ý tưởng mới. Ông coi họ là những kẻ đang “nhớ lại” những khái niệm cũ kỹ đã có sẵn trong cấu trúc tâm hồn và ngôn ngữ. Làm triết học không phải là tiến lên phía trước, mà là quay về nhà.

[34] Sinh lý và Nòi giống: Nietzsche đẩy vấn đề sâu hơn: tại sao ngôn ngữ lại khác nhau? Vì nó phản ảnh các điều kiện sinh lý và nhu cầu sinh tồn của từng chủng tộc khác nhau. Ngữ pháp là hóa thạch của những phán đoán giá trị mà tổ tiên ta đã đúc kết để sống sót.

[35] Lời nguyền của Ngữ pháp: Đây là ý tưởng cực kỳ hiện đại: Ngôn ngữ định hình tư duy. Nếu ngôn ngữ của bạn có cấu trúc “Chủ ngữ + Động từ”, bạn sẽ bị buộc phải tin vào cái “Tôi” và “Linh hồn”. Nếu ngôn ngữ không chú trọng chủ ngữ (như ngữ hệ Ural-Altai), thế giới quan của bạn sẽ hoàn toàn khác. Các triết gia tưởng mình đang suy luận logic, nhưng thực chất họ chỉ là nô lệ cho ngữ pháp của tiếng mẹ đẻ.

[36] John Locke cho rằng trí tuệ là “tấm bảng trắng” (Tabula rasa) và ý tưởng đến từ kinh nghiệm. Nietzsche nói: Không phải. Chúng ta mang theo cả một “nền kinh tế” khái niệm từ trong dòng máu và ngôn ngữ. Chúng ta không hề trắng tinh; chúng ta đã được lập trình sẵn trong một vòng tròn khái niệm. Nietzsche muốn nói rằng mọi cuộc tranh luận triết học vĩ đại thực chất chỉ là những người nói các ngôn ngữ giống nhau đang nhai đi nhai lại cùng một bộ khung ngữ pháp

[37] Causa sui: Nietzsche coi việc tin mình là nguyên nhân của chính mình là đỉnh cao của sự kiêu ngạo và ngu ngốc về mặt logic.

[38] Nam tước Münchhausen: Một nhân vật văn học nổi tiếng với những câu chuyện xạo, trong đó có chuyện ông ta tự túm tóc mình kéo cả người và ngựa lên khỏi đầm lầy. Nietzsche dùng hình ảnh này để mỉa mai sự phi lý của “ý chí tự do”.

[39] Bóc trần tâm lý kẻ yếu: Những kẻ tôn thờ “ý chí không tự do” (định mệnh) thường là những kẻ tự khinh bỉ mình và muốn trốn tránh trách nhiệm bằng cách đổ lỗi cho hoàn cảnh hoặc xã hội.

[40] Ý chí mạnh và Ý chí yếu: Đây là sự thay thế thực tế của Nietzsche cho cặp bài trùng “tự do/không tự do”. Thay vì bàn về triết học viển vông, hãy nhìn vào sinh lý học: bản năng của anh mạnh hay yếu?

[41] Văn bản vs. Giải thích (Text vs. Interpretation): Nietzsche coi tự nhiên là một “văn bản” trung lập. Việc các nhà khoa học gọi đó là “luật” chỉ là họ đang áp đặt tư duy bình đẳng dân chủ của mình lên vũ trụ

[42] “Ni dieu, ni maître”: Một khẩu hiệu nổi tiếng của những người theo thuyết vô chính phủ. Nietzsche mỉa mai rằng các nhà khoa học hiện đại cũng là những kẻ vô chính phủ ngầm: họ không muốn có một vị Chúa hay một ông chủ, nên họ tôn thờ “Luật tự nhiên” để cảm thấy vạn vật đều bình đẳng như nhau.

[43] Ý dục Quyền lực thay vì Luật pháp: Nietzsche đưa ra một cách giải thích khác: Thế giới vận hành một cách “tất yếu” không phải vì nó ngoan ngoãn tuân theo “luật”, mà vì mọi xung lực quyền lực đều đánh nhau quyết liệt và thực thi sức mạnh của mình đến mức tối đa.

[44] “Càng tốt” (Um so besser): Đây là diễn giải đầy kiêu hãnh. Nietzsche nhìn nhận cách giải thích của ông cũng chỉ là một góc nhìn (giải thích). Ông thách thức giới khoa học nhìn nhận rằng họ cũng chỉ đang “giải thích” chứ không hề nắm giữ “chân lý tuyệt đối”.

[45] Tâm lý học là Hình thái học của Ý dục Quyền lực: Nietzsche muốn tái định nghĩa tâm lý học. Nó không còn là nghiên cứu về “hồn người” mơ hồ, mà là nghiên cứu về cách các cấu trúc quyền lực (các bản năng) hình thành và biến đổi trong cơ thể con người. Hình thái học (Morphology): Nietzsche muốn nghiên cứu các bản năng không phải như những thực thể cố định, mà là những hình thái không ngừng biến đổi và phát triển của Ý dục quyền lực.

[46] Sự đan xen giữa Tốt và Xấu: Đây là đòn đánh mạnh vào đạo đức nhị nguyên. Nietzsche cho rằng cái ta gọi là “tốt” thực chất nảy sinh từ cái “xấu” (ví dụ: sự hiền lành có thể nảy sinh từ sự hèn nhát hoặc kiệt sức). Ông yêu cầu chúng ta phải nhìn nhận giá trị của những cảm xúc tiêu cực như đố kỵ, ham muốn quyền lực vì chúng là động lực của sự sống.

[47] Cơn say sóng trí tuệ: Việc nhìn vào bản chất thực sự của con người (không có mặt nạ đạo đức) sẽ gây ra một cảm giác choáng váng, kinh tởm giống như say sóng. Người nghiên cứu phải có bản lĩnh để vượt qua sự “ghê tởm” đạo đức của chính mình. Ông ví việc từ bỏ các thang giá trị đạo đức cũ như một trạng thái mất phương hướng về mặt vật lý. Khi nhận ra cái “tốt” vốn bắt nguồn từ cái “xấu”, con người sẽ cảm thấy nền tảng dưới chân mình hoàn toàn sụp đổ.

[48] Tâm lý học là Bà chủ của Khoa học: Nietzsche kết thúc phần một bằng việc đặt Tâm lý học (được hiểu như Tâm-Sinh lý học) lên vị trí cao nhất. Nó là chìa khóa mở ra mọi vấn đề triết học, tôn giáo và xã hội.