Friday, March 8, 2019

Lange – Lịch Sử Triết Học Duy Vật (02)


LỊCH SỬ TRIẾT HỌC DUY VẬT
Và Phê Bình về Sự Quan Trọng Hiện nay Của Nó

Friedrich Albert Lange
(1829-1875)







CHƯƠNG II.

Thuyết Duy Cảm Của Những Nhà Sôphít
Và Thuyết Duy Vật Đạo Đức Của Aristippo.

Những gì chúng ta không rõ chất liệu hoặc vật chất là trong thế giới bên ngoài của tự nhiên, cảm giác là trong sự sống [1] bên trong của con người. Nếu chúng ta tin rằng ý thức có thể hiện hữu (là-có) với không cảm giác, tin tưởng này đến từ một sự nhầm lẫn tế nhị khó thấy. Có thể có được một ý thức rất sống động, vốn bận rộn chính nó với những sự vật việc cao nhất và quan trọng nhất, nhưng đồng thời có những cảm giác của một sức mạnh thuộc giác quan chóng biến mất. Nhưng những cảm giác luôn luôn có đó; và từ những liên hệ của chúng, sự hài hòa hay muốn hài hòa của chúng, đã hình thành những nội dung và ý nghĩa của ý thức; giống đúng như nhà thờ nguy nga thì được xây từ đá thô, hay biểu đồ quan trọng thì gồm những đường vẽ bằng chì nhỏ tinh tường, hay bông hoa từ vật chất đã đươc xắp đặt tổ chức. Như, sau đó, nhà duy vật, sau khi nhìn vào thiên nhiên bên ngoài, tìm ra những dạng thức của sự vật từ những vật chất mà chúng được tạo hợp thành, và với chúng, đặt những nền tảng cho triết lý của ông, như thế người theo Tư tưởng Duy cảm dẫn nhắc toàn bộ của ý thức trở lại với những cảm giác. Thuyết Duy cảm và thuyết Duy vật, do đó, ở dưới đáy đều đồng ý về việc nhấn mạnh vào nội dung trong đối lập để hình thành: câu hỏi khi đó được đặt ra, giải thích thế nào những liên hệ hỗ tương của chúng?

Rõ ràng không bởi một đơn thuần chỉ quy ước, vốn ngay lập tức đặt định một ai như một người theo thuyết nghĩa Duy cảm nhìn theo hướng thế giới bên trong, và một người duy vật nhìn theo hướng thế giới bên ngoài. Mặc dù lập trường này là phổ thông nhất trong thực hành không lôgích của chúng ta, nó là bất cứ gì nhưng không là một lập trường triết lý.

Nhiều phần đúng hơn, người Duy vật sau đó sẽ phủ nhận rằng cảm giác tồn tại độc lập với vật chất, và theo đó, ngay cả trong những sự kiện của ý thức, chỉ tìm thấy những tác động của những thay đổi vật chất thông thường, và coi những sự việc này trong cùng một ánh sáng như những sự kiện vật chất khác của thế giới bên ngoài: người Duy cảm mặt khác, sẽ phải phủ nhận rằng chúng ta biết bất cứ điều gì, bất kể là gì, hay về những sự vật việc của thế giới bên ngoài nói chung, vì chúng ta chỉ có nhận thức của riêng mình về mọi sự vật việc, và không thể biết điều này có giá trị gì trong liên quan với những sự vật việc đó trong bản thân chúng như thế nào. Cảm giác thì với người này không chỉ vật chất (Stoff) của tất cả những sự kiện của ý thức, nhưng cũng vật chất được đem đến trực tiếp, vì chúng ta có và biết những sự vật việc của thế giới bên ngoài chỉ trong những cảm giác của chúng ta. Như một kết quả của sự chính xác không thể phủ nhận của tuyên bố này, vốn ngay lập tức là một sự tiến bộ trên ý thức thông thường, và đã giả định trước một khái niệm về thế giới như một thống nhất, Tư tưởng Duy cảm phải xuất hiện như một phát triển tự nhiên của Tư tưởng Duy vật. [2] Sự phát triển này được khiến xảy ra những người Greece qua chính trường phái đó, vốn tổng quát đã đánh sâu nhất vào trong đời sống cổ xưa, giống như nhau trong những ảnh hưởng xây dựng và phá hoại của nó, – bằng tác động của những nhà Sôphít.

Người ta đã kể trong cuối thời cổ rằng nhà hiền triết Democritus, một lần ở thị trấn quê hương ông, đã thấy một người phu khuân vác đang đóng xếp những khối gỗ rất vốn người này phải mang đi một cách rất sáng tạo tài tình. Democritus đã nói chuyện với người này, hết sức ngạc nhiên trước sự nhanh trí của người này khiến ông nhận người này làm học trò. Người phu khuân vác này là người đã cung ứng nguyên nhân cho một cuộc cách mạng vĩ đại trong vị trí của triết học: ông trở thành một người dạy học của ‘trí tuệ đổi lấy vàng’ [3]. Ông là Protagoras, người đầu tiên của những Sôphít [4]

Hippias, Prodikos, Gorgias, và một loạt những người người ít nổi tiếng hơn, chủ yếu được biết đến qua những tác phẩm của Plato, đã chẳng bao lâu, sẽ đi ngang những thành phố của Greece, để giảng dạy và tranh luận, và trong một số trường hợp, họ đã tạo được những tài sản lớn. Khắp nơi, giới trẻ thông minh nhất đổ xô đến họ; để tham dự vào những giảng dạy của họ, sớm trở thành dấu hiệu thời thượng; những học thuyết và nói chuyện của họ đã trở thành chủ đề hàng ngày của tầng lớp thượng lưu, và danh tiếng của họ lan truyền với sự nhanh chóng đáng kinh ngạc.

Đây là một điều mới ở Greece, và những người lính Marathon già, những cựu chiến binh của đấu tranh giải phóng, đã không chỉ là những người bảo thủ phải tự lắc đầu. Những người ủng hộ những Sôphít đã dán chặt vào những sôphít, với tất cả ngưỡng mộ của họ, rất giống như trong thời chúng ta, những khán giả bảo trợ của một ca sĩ opera: phần lớn những người này, ở giữa sự ngưỡng phục của họ, đã xem là không xứng đáng để họ đặt bước theo chân. Socrates đã từng làm những học trò của những Sôphít bối rối, bằng những câu hỏi thẳng thừng về đối tượng nghề nghiệp của những giáo sư của họ. Từ Pheidias, chúng ta học nghề điêu khắc, từ Hippokrates nghề thuốc – nghề gì, sau đó, từ Protagoras?

Sự tự hào và sự yêu phô diễn khoa trương của những Sôphít đã không là sự thay thế cho thái độ đạo mạo và dè dặt của những triết gia cũ. Phong cách cao thượng của yêu chuộng nghệ thuật như người không chuyên nghiệp trong triết học vẫn được cho là đáng trọng hơn việc làm giống như buôn bán, hay kinh doanh của những Sôphít.

Chúng ta vẫn chưa xa lắm với thời khi chỉ mặt tối hơn của hệ thống tư tưởng Sôphít được biết đến với chúng ta. Sự chế nhạo của Aristophanes và sự sốt sắng đạo đức của Plato đã gắn với vô số những giai thoại của những thời sau để tập trung vào tên tuổi của những Sôphít, tất cả những gì được tìm thấy là của phương pháp giáo dục phù phiếm, của phép biện chứng mua chuộc, và tính vô đạo đức có hệ thống. Sôphít đã trở thành danh xưng của tất cả những gì là triết lý giả; và rất lâu sau sự minh oan đã có của Epicurus và Epicuruss, cho lợi ích của những người học thức, như một sự kiện đã hoàn tất, sự sỉ nhục đó vẫn bám vào tên của những Sôphít, và (nếu suy nghĩ như thế) nó vẫn còn là một câu đố không thể giải được - như thế nào Aristophanes đã có thể đã trình bày Socrates như người đứng đầu của những Sôphít.

Qua Hegel và trường phái của ông, trong liên quan đến những câu hỏi không tiên kiến của ngữ văn hiện đại, con đường đã được dọn sạch hơn cho một cái nhìn chính xác hơn ở Germany. Một vị trí quyết định hơn vẫn đã được Grote tiếp nhận trong ‘Lịch sử Greece’ của ông, và trước ông, Lewes đã đem những Sôphít vào danh sách để tôn vinh. Ông chủ trương rằng Euthydemus của Plato đúng là một thổi phồng cũng nhiều như “Clouds” của Aristophanes. “Một biếm họa về Socrates của Aristophanes thì cũng gần với sự thật như bức tranh khôi hài của Plato về những Sôphít; với sự khác biệt này, là trong một trường hợp, nó đã bắt nguồn từ chính trị, trong trường hợp kia, từ sự đồn đãi, ác cảm” [5] Grote cho chúng ta thấy rằng sự căm ghét cuồng tín này hoàn toàn là theo Plato. Socrates của Xenophon chiếm một vị trí ít thù địch hơn đối với những Sôphít.

Protagoras đánh dấu một bước ngoặt lớn và quyết định trong lịch sử triết học Greece. Ông là người đầu tiên đã bắt đầu, không từ đối tượng – từ bản chất bên ngoài, nhưng từ chủ thể – từ bản chất tinh thần của con người.[6] Về mặt này, không thể nghi ngờ, ông là một người đi trước của Socrates; thực sự, trong một ý hướng nhất định, ông đứng ở đầu của toàn bộ sự phát triển phản-duy vật, vốn ngang bằng cũng xem là bắt đầu với Socrates. Tuy nhiên, đồng thời Protagoras có, công thêm, những quan hệ mật thiết nhất với tư tưởng Duy vật, qua việc bắt đầu từ cảm giác, như Democritus bắt đầu từ vật chất; trong khi ông đã rất dứt khoát chống lại Plato và Aristotle về điều này, rằng với ông – và đặc điểm này thì cũng liên quan đến tư tưởng Duy vật – cái đặc thù và cái cá thể là thiết yếu, không là cái phổ quát, như với họ. Với Tư tưởng Duy cảm của Protagoras được kết hợp một tính tương đối vốn có thể nhắc chúng ta nhớ đến Büchner và Moleschott. [7] Phát biểu rằng một gì đó, thì luôn luôn cần một xác định thêm nữa trong liên quan đến những gì nó đang là hay đang trở thành; nếu không thì sự khẳng định của chúng ta không có ý nghĩa. [8]

Trong chính xác cùng một cách, Büchner nói, ngõ hầu chống lại ‘sư vật việc trong tự thân’, rằng tất cả mọi sự vật việc chỉ là-có cho lẫn nhau và không có ý nghĩa nào ngoài những quan hệ hỗ tương; [9] và Moleschott còn quyết định hơn: “Ngoại trừ trong liên quan đến mắt, vào trong đó nó gửi những tia của nó, cái cây không có sự hiện hữu”. Tất cả những diễn tả loại như vậy trong thời chúng ta, đều vẫn được xem như tư tưởng Duy vật. Tuy nhiên, đối với Democritus, atom đã là một ‘sư vật việc trong tự thân’. Protagoras đã bỏ thuyết Atom. Ông đã nhìn vật chất như một gì đó hoàn toàn không xác định trong tự thân, liên quan đến dòng chảy và thay đổi vĩnh cửu. Nó là những gì (như) nó xuất hiện với mỗi cá nhân.

Những đặc tính nổi bật nhất của triết học Protagoras là những mệnh đề sau đây, làm nền tảng của Tư tưởng Duy cảm của ông: -

1. Con người là thước đo của tất cả mọi sự vật việc: của những sự vật việc vốn là những gì chúng là; của những sự vật việc vốn không là những gì chúng không là.
2. Những khẳng định mâu thuẫn đều đúng như nhau.

Trong những tuyên bố này, câu thứ hai là nổi bật nhất, và cũng là mệnh đề mạnh mẽ nhất khiến chúng ta nhớ về lối giáo huấn không-nguyên tắc, vốn là quá thông thường để chỉ xem như yếu tính của hệ thống Sôphít. Tuy nhiên, nó chiếm được một nghĩa sâu hơn, ngay khi nó được giải thích từ nguyên lý đầu tiên, vốn chứa đựng lõi của những học thuyết Protagoras. Con người là thước đo của những sự vật việc, nghĩa là, nó phụ thuộc vào cảm giác của chúng ta về cách mọi sự vật việc xuất hiện với chúng ta, và sự xuất hiện này là tất cả những gì được đem cho chúng ta; và như thế, nó thì không phải là con người trong những phẩm tính phổ quát và tất yếu của nó, nhưng mỗi cá nhân trong từng khoảnh khắc một, đó là thước đo của những sự vật việc. Nếu nó là một câu hỏi về những tính chất phổ quát và tất yếu, khi đó Protagoras phải được nhìn hoàn toàn như một người đi trước của triết lý lý thuyết của Kant. Tuy nhiên, Protagoras còn về sự ảnh hưởng của chủ thể, cũng như còn về sự phán đoán của đối tượng, giữ sát với nhận thức cá nhân, và cho đến giờ, từ việc nhìn “người trong cách thế giống vậy” [10], ông ngay cả không thể, nói thẳng thắn, làm cá nhân thành thước đo của những sự vật việc, vì cá nhân thì có thể thay đổi; và nếu cùng một thân nhiệt xuất hiện ở cùng một người, vào một thời điểm là mát, ở một thời điểm khác là ấm, cả hai ấn tượng trong khoảnh khắc của riêng chúng đều là đúng như nhau, và không có sự thật nào khác bên ngoài điều này. [11]

Bây giờ chúng ta có thể dễ dàng giải thích nguyên lý thứ hai không vướng mâu thuẫn, vì ngay khi chúng ta đã tiến gần hơn đến sự quả quyết như hệ thống tư tưởng Protagoras đã đòi hỏi – trong ý hướng của hai cá nhân khác nhau.

Nó không là đối tượng của Protagoras để duy trì sự đúng thật đồng thời và sự không đúng thật của cùng một khẳng định trong miệng nói của cùng một cá nhân; mặc dù, quả thực, ông dạy rằng, trong mọi mệnh đề được duy trì bởi bất kỳ một ai, điều ngược lại có thể được duy trì với quyền ngang bằng, cho đến khi có thể có bất kỳ ai đó mà với người ấy nó xuất hiện như thế..

Rằng trong lối nhìn của những sự vật việc này có chứa một yếu tố lớn của sự thật phải được nhìn nhận không thể nào khác; vì với sự kiện thực tế, điều ngay lập tức được đem cho, là hiện tượng trong thực tại. Nhưng não thức của chúng ta đòi hỏi một gì đó kéo dài bền bỉ trong cuộn chảy lũ lụt của những hiện tượng. Socrates đã tìm kiếm con đường dẫn đến yếu tố kéo dài bền bỉ này; Plato, trái ngược hoàn toàn với những Sôphít, tin rằng ông đã tìm thấy nó trong cái phổ quát, mặc dù trước cái phổ quát đó, cái cụ thể đã chìm trở lại vào trong cái xem có vẻ không-thật. Trong sự bất đồng này, nếu chúng ta nhìn nó hoàn toàn theo lý thuyết, những Sôphít là đúng, và lý thuyết triết học của Plato có thể tìm thấy ý nghĩa của nó cao hơn chỉ trong sự nghi ngờ về (rằng có) một sự thật chìm ẩn, hay dấu kín-sâu xa, và trong những liên hệ của nó với những yếu tố lý tưởng của đời sống. [12]

Trong Đạo đức, những hệ quả tại họa của lập trường của Protagoras là rõ ràng nhất. Protagoras, thực sự, đã không kéo đến những hệ quả này. Ông đã giải thích mong muốn là nguyên lý của hành động, nhưng ông đã kéo đến một sự phân biệt rõ ràng giữa những công dân tốt và những người cao thượng, những người chỉ khao khát những gì tốt và cao thượng, và những người xấu và thô tục là người cảm thấy bị cuốn hút đến xấu ác. [13] Đồng thời, hậu quả phải theo đến từ khái niệm lý thuyết về tính tương đối vô điều kiện này, rằng đó là đúng và tốt cho người vốn trong mỗi trường hợp xem có vẻ đúng và tốt với người ấy.

Là những người thực tiễn, và trong thực tế, những thày dạy củanhững giáo viên cuaủacuar đức hạnh, những Sôphít đã giúp chính họ bằng đơn giản áp dụng truyền thống đạo đức Greece như một tổng thể cho riêng họ. Ở đó đã không thể có câu hỏi về việc diễn dịch nó từ một nguyên lý: ngay cả học thuyết rằng những tình cảm đó sẽ được ưa chuộng, vốn đẩy thêm sự thịnh vượng của nhà nước, đã không nâng lên thành một nguyên lý đạo đức, cho dù nó gần như có thể đến gần điều đó.

Như thế có thể hiểu được rằng những hệ quả quan trọng nhất từ ​​nguyên lý của tùy tiện này đã được rút ra không chỉ bởi những đối thủ cuồng tín giống Plato, nhưng đôi khi ngay cả bởi những học trò liều lĩnh của những Sôphít. Nghệ thuật nổi tiếng của việc - làm cái tệ hại hơn xuất hiện như cái tốt đẹp hơn - đã được Lewes bào chữa như một nghệ thuật của tranh tụng cho những người thực tiễn, như nghệ thuật của một người biện hộ cho chính mình: mặt trái của bức tranh thì chỉ quá rõ ràng. [14] Sự biện hộ thì đủ để cho thấy rằng, trên nền tảng tổng quát của đạo đức trung bình của Greece, những Sôphít có thể cứng cỏi khẳng định việc không thể chê trách được họ; nó thì không đủ để bác bỏ quan điểm rằng tính chất Sôphít [15] đã là một yếu tố hòa tan trong văn minh Hellas.

Nhưng nếu chúng ta nhìn kỹ vào lập trường rằng ham muốn là nguyên lý chuyển động của hành động, chúng ta dễ dàng thấy rằng nền móng đã được học thuyết Duy cảm của Protagoras sửa soạn xong rồi cho học thuyết Duy lạc của phái Cyrene. Sự phát triển của mầm gốc này được Aristippus ‘Sokratic’ thực hiện. [16]

Trên bờ biển nóng của Bắc Africa, thành Cyrene là một thuộc địa thương mại của Greece; ở đây sự xa hoa của phương Đông đã kết hợp với sự tinh tế tao nhã của văn minh Hellas. Xuất thân từ một gia đình buôn bán giàu có của thành phố này, được dạy dỗ với những tình cảm và giáo dục của một con người khôn ngoan từng trải đó đây, con người trẻ tuổi Aristippus đã đến Athens, thu hút bởi tiếng tăm của Socrates. Với dáng vóc đẹp đẽ, và có thiện khiếu xử xự với phong thái tinh tế nhất và trò chuyện trí thức nhất, Aristippus đã tìm được đường đến mọi trái tim. Ông tự gắn bó với Socrates, và đã được xem là một trong những người theo Socrates, khác biệt vì chiều hướng tiếp nhận bởi học thuyết của ông với yếu tính của lý thuyết Socrates. Khuynh hướng cá nhân của ông nghiêng về một đời sống của thú vui và khoa trương, và ảnh hưởng mạnh mẽ của những Sôphít, đã là nguyên nhân của sự phát triển của học thuyết của ông rằng lạc thú là đối tượng của đời sống hiện có. Aristotle gọi ông là một Sôphít; tuy nhiên, chúng ta cũng có thể nhận ra trong ông ảnh hưởng của những quan điểm của Socrates. Socrates đã tìm thấy hạnh phúc cao nhất trong đức hạnh, và đã dạy rằng đức hạnh đồng nhất với kiến ​​thức đích thực. Aristippus đã dạy rằng sự tự chủ và ôn hòa điều độ – đó là, những phẩm hạnh chân chính của phái theo Socrates – một mình chúng đem cho chúng ta khả năng của vui thích sung sướng, và giữ chúng ta như vậy; chỉ có người người khôn ngoan mới có thể là thực sự sung sướng. Sung sướng hay hạnh phúc, tuy nhiên, với ông, dĩ nhiên, chỉ là sự thỏa mãn thích thú, hay lạc thú [17].

Ông phân biệt hai dạng cảm giác: một dạng xuất phát từ chuyển động chậm nhẹ nhàng, một từ chuyển động nhanh dữ dội; cái trước là thích thú sung sướng, cái sau là đau đớn hay sự vắng mặt của thích thú sung sướng.

Bây giờ, vì thích thú sung sướng xác thịt rõ ràng tạo ra cảm giác sống động hơn thích thú sung sướng trí tuệ, nó đã đơn thuần chỉ là một hệ quả của lôgích không thể dừng lại được của sự suy đoán theo lối Hellas, khi Aristippus đã được suy diễn từ điều này rằng lạc thú thể xác thì tốt hơn lạc thú trí tuệ, đau đớn thân xác thì tồi tệ hơn đau đớn tinh thần. Epicurus đã cố gắng để thoát khỏi điều này bằng một ngụy biện. [18]

Cuối cùng, Aristippus đã dạy một cách rõ ràng rằng mục đích thực sự thì không là hạnh phúc, vốn là kết quả vĩnh viễn của nhiều những cảm giác khoái cảm đơn lẻ, nhưng là nhiều những cảm giác cụ thể của vui thú. Hạnh phúc dĩ nhiên là tốt, nhưng nó phải đến một cách tự nhiên, và do đó nó không là mục đích.

Không có nhà đạo đức theo Tư tưởng Duy cảm nào trong thời cổ hay thời nay nhất quán về mặt lôgích hơn Aristippus, và cuộc đời ông tạo thành bình luận tốt nhất về học thuyết của ông.

Với Socrates và trường phái của ông, Athens đã trở thành trung tâm của những khuynh hướng triết học. Mặc dù cũng từ điểm này, đã tiến hành phản ứng lớn chống lại Tư tưởng Duy vật, vốn trong Plato và Aristotle đã bảo đảm chiến thắng quyết định nhất, nhưng ngay cả ở đây, những ảnh hưởng trí thức của Tư tưởng Duy vật đã cũng đủ mạnh mẽ để thách thức một phản ứng loại như vậy.

Democritus, đó là sự thật, cảm thấy với ông Athens thì không lôi cuốn. “Tôi đã đến Athens”, đã kể rằng ông nói thế, “và không có người nào biết tôi”. Khi đó, như một người có tiếng tăm, ông đã vội vã đến trung tâm mới của khoa học đang thinh vượng thời ấy, để xem xét kỹ lưỡng giòng chảy của luận bàn dự đoán ở đó, và đã lại lặng lẽ bỏ đi nhưng không để cho ai biết mình; và điều cũng có thể là hệ thống vĩ đại và nghiêm chỉnh của Democritus đã hoạt động ít mạnh mẽ hơn nhiều nhìn theo những khuynh hướng sôi nổi của thời đại khi so với những đặc điểm kém lôgích nhưng dễ hiểu hơn đó của Tư tưởng Duy vật, trong ý hướng rộng hơn của từ này, vốn quán xuyến toàn bộ thời kỳ triết học trước-Socrates. Trên tất cả, tuy nhiên, tính Sôphít, theo nghĩa tốt và xấu của từ này, đã tìm thấy ở Athens một vùng đất thuận lợi. Vì chiến tranh với Persia, một sự thay đổi đã diễn ra, dưới ảnh hưởng của những phương thức tư tưởng mới, vốn đã mở rộng qua tất cả những tầng lớp của xã hội. Dưới sự chỉ đạo mạnh mẽ của Perikles, nhà nước đã đạt được ý thức về vận mệnh của nó. Thương mại và chủ quyền trên biển đã ủng hộ sự phát triển của những quan tâm vật chất. Một tinh thần xuất sắc của doanh nghiệp xuất hiện giữa những người Athens. Thời gian mà Protagoras đã giảng dạy gần như trùng hợp với thời kỳ trong đó chứng kiến ​​sự cao cả của những tòa nhà hùng vĩ của thành Acropolis.

Sự khô cứng của thời cổ biến mất, và nghệ thuật, khi đi đến cái đẹp, đã đạt đến đỉnh cao của phong cách mà chúng ta tìm thấy trong những tác phẩm của Pheidias [19]. Bằng vàng và ngà phát sinh những bức tượng tuyệt vời của Pallas Parthenos và Olympian Zeus; và trong khi những tin tưởng trong tất cả những giai cấp đều bắt đầu lung lay, những lễ rước của những vị gót đã đạt đến đỉnh cao nhất của sự huy hoàng và tráng lệ. Nhiều vật chất và sang trọng về mọi phương diện hơn Athens là Corinth; nhưng Corinth đã không là thành phố của những triết gia. Có sự lãnh đạm và rẻ rúng trí thức chuyển vào trong sự gợi cảm đến từ thân xác, mà với nó những hình thức thờ phượng truyền thống không chỉ đơn thuần là tự thích nghi, mà ngay cả còn khuyến khích, và như thế, ngay cả trong thời cổ, sự phụ thuộc lẫn nhau của Tư tưởng Duy vật lý thuyết và thực tiễn, cũng như sự đối lập của hai, thì rõ ràng không thể nhầm lẫn. Nếu nói Tư tưởng Duy vật thực tiễn, chúng ta hiểu một khuynh hướng chủ đạo về việc tiếp nhận và hưởng thụ vật chất, khi đó Tư tưởng Duy vật lý thuyết thì phản lại với nó, vì là mọi nỗ lực của tinh thướng thần hướng tới tri thức. Không, chúng ta có thể nói rằng sự tha thiết tỉnh táo vốn đánh dấu những hệ thống duy vật lớn của thời cổ thì có lẽ phù hợp hơn một chủ nghĩa Duy ý nhiệt tình, vốn chỉ quá dễ dàng kết quả trong sự hoang mang của chính nó, để giữ cho hồn người tránh sạch hết tất cả gì là thấp kém và thô tục, và cho nó mượn một nỗ lực lâu dài theo sau những đối tượng xứng đáng.

Những truyền thống tôn giáo, có nguồn gốc của chúng có thể truy nguồn về sự nâng cao lý tưởng, đều đôi khi dễ bị ô nhiễm trong tiến trình của hàng thế kỷ với những tình cảm vật chất và thấp kém của quần chúng, khác hẳn với ‘Tư tưởng Duy vật của giáo điều’, vốn có thể được tìm thấy trong mọi hệ thống giáo điều chính thống có nguồn sâu chặt, ngay khi thực chất sơ thiểu của những học thuyết tôn giáo được đánh giá cao hơn tinh thần vốn đã tạo ra chúng. Tuy nhiên, sự phân rã đơn thuần của truyền thống không làm tốt hơn lầm lỗi này; vì một tôn giáo sẽ hiếm khi bị hóa đá, mất sức sống, đến mức không có tia sáng nào của cuộc sống lý tưởng bắn ra, từ những hình thức cao hơn của nó, rơi trên hồn người; và mặt khác, tiến bộ của sự khai sáng không làm quần chúng trở thành những triết gia.

Nhưng khái niệm thực của tư tưởng Duy vật đạo đức, dĩ nhiên, thì hoàn toàn khác biệt: chúng ta phải hiểu nó là một học thuyết đạo đức vốn làm hành động đạo đức của con người nổi lên từ những cảm xúc đặc biệt của tinh thần của người ấy, và vốn ấn định đối tượng của hành động, không bởi một ý tưởng thống trị vô điều kiện, nhưng bởi nỗ lực theo đuổi một điều kiện mong muốn. Một hệ thống đạo đức như vậy có thể được gọi tên là Duy vật, vì giống như Tư tưởng Duy vật lý thuyết, nó bắt đầu từ nội dung như phản lại với hình thể; - vốn ở đây có nghĩa, không chỉ là nội dung của những cơ thể bên ngoài, ngay cả không là tính chất của cảm giác như nội dung của ý thức lý thuyết, nhưng là nội dung cơ bản của hành vi thực tiễn, - những xung lực và những cảm giác của khoái cảm và sự đối nghịch của nó. Chúng ta có thể nói rằng đây thì chỉ là một loại suy, rằng không có sự rõ ràng về sự thống nhất của khuynh hướng, nhưng lịch sử cho chúng ta thấy gần như phổ quát rằng loại suy này thì đủ mạnh để xác định sự kết nối của những hệ thống.

Một Tư tưởng Duy vật đạo đức phát triển đầy đủ thuộc loại này thì không chỉ không-cao thượng, nhưng có vẻ bởi một loại tất yếu bên trong để dẫn đến những dạng sống cao cả và cao thượng, và đến một yêu thương của những hình thức đó vốn nổi vượt khỏi đòi hỏi thông thường cho hạnh phúc; cũng giống như, về mặt khác, một hệ thống đạo đức duy ý trong sự phát triển đầy đủ của nó không thể tránh không lo lắng cho hạnh phúc của những cá nhân và sự hài hòa của những xung lực của họ.

Nhưng chúng ta lo ngại, trong sự phát triển lịch sử của những quốc gia, không với một đạo đức lý tưởng thuần túy, nhưng với những hình thức truyền thống đã định sẵn trước sau chặt chẽ của luân lý, sự ổn định của chúng bị xáo trộn và lung lay bởi bất kỳ nguyên lý mới nào, vì chúng không dựa trên sự phản ánh trừu tượng của chính con người, nhưng trên một sản phẩm được thừa hưởng và dạy dỗ của đời sống tập thể của nhiều thế hệ. Và như thế, cho đến giờ, kinh nghiệm của chúng ta, dường như dạy chúng ta rằng tất cả đạo đức duy vật, thuần khiết như nó có thể là dầu gì đi nữa, hoạt động đặc biệt trong những giai đoạn của chuyển đổi và chuyển tiếp, như một dung môi mạnh mẽ, trong khi tất cả những cuộc cách mạng và cải cách lớn lao và quyết định đều trước hết bùng phát trong dạng thức của những ý tưởng đạo đức mới.

Những ý tưởng mới loại như vậy, trong thời cổ, đã được Plato và Aristotle giới thiệu, nhưng chúng hoặc không thể thâm nhập vào quần chúng, hoặc không thắng được những hình thức cũ của tôn giáo quốc gia, như những đối tượng của chúng. Tất cả gì sâu xa hơn về quan tâm này đã là ảnh hưởng của những sản phẩm này của triết học Greece trên sự phát triển về sau này của đạo Kitô trung cổ.

Khi Protagoras bị đuổi khỏi Athens vì đã bắt đầu quyển sách của ông, về những gót với những lời, “về phần những gót, tôi không biết liệu họ thì là-có hay không,” đó là đã quá muộn rồi cho sự cứu rỗi của chủ nghĩa bảo thủ mà Aristophanes vô vọng thiết lập để làm việc với tất cả những sức mạnh của vũ đài hoạt động, và ngay cả sự hy sinh của Socrates cũng thội không thể giữ kịp với sự tiến bộ của Tinh thần của Thời đại.

Ngay từ khi bắt đầu chiến tranh Peloponnesian, ngay sau cái chết của Perikles, cuộc cách mạng vĩ đại trong toàn bộ đời sống của những người Athens đã được quyết định; và về cuộc cách mạng này, những người quảng bá đặc biệt đã là những Sôphít.

Tiến trình giải thể nhanh chóng này là duy nhất trong lịch sử: không có dân chúng nào đã từng sống quá nhanh như thế như dân chúng Athens. Và giải thích hướng dẫn như có thể là bước ngoặt này của lịch sử của họ, sư nguy hiểm thì có tỉ lệ lớn trong việc chúng ta rút từ nó những kết luận sai lầm.

Chừng nào còn là một nhà nước, như trường hợp Athens, thời trước Perikles, phát triển đều đặn và giữ vững những truyền thống cũ, tất cả những công dân của nó đều cảm thấy chính họ bị ràng buộc với nhau bởi một lợi ích chung như ngược lại những quốc gia khác. Mặt khác, triết lý của những Sôphít và của những Cyrenít [20] đã có một màu sắc quốc tế.

Nhà tư tưởng ôm lấy một chuỗi ngắn gồm những biến cố kết luận ngắn trong đó lịch sử cần hàng ngàn năm để hiện thực; và vì vậy, ý tưởng quốc tế có thể nói tổng quát là hoàn toàn đúng, và thế nhưng trừ ra trong thành kiến trường hợp cụ thể, vì nó phá hủy lợi ích của những công dân trong đất nước họ, và trong hậu quả làm tê liệt sức sống quan trọng của đất nước.

Miễn là chừng nào con người tuân thủ những truyền thống của họ, có những giới hạn cuối cùng nhất định nào đó được đặt ra cho tham vọng và những tài năng của cá nhân. Tất cả những giới hạn này được loại bỏ theo nguyên lý rằng mỗi con người cá nhân có trong chính nó thước đo của tất cả mọi sự vật việc. Sự bảo đảm duy nhất đối với điều này chỉ dơn thuần là qui ước; nhưng qui ước là cái không hợp lý, vì suy tưởng luôn thúc đẩy chúng ta đến phát triển mới.

Điều này đã sớm được những người Athens hiểu, và không chỉ những triết gia, mà ngay cả những đối thủ nhiệt thành nhất của họ, đã học để tranh luận, để phê bình, để phân giải và để lập những dự án. Những Sôphít đã tạo ra ngay cả một nghệ thuật mị dân chúng; vì họ đã dạy thuật hùng biện với đối tượng thể hiện sự hiểu biết làm thế nào một người có thể xoay đám đông theo chiều hướng thuận hợp được với sở thích, hay quyền lợi riêng của một người.

Vì những khẳng định mâu thuẫn đều đúng như nhau, nhiều người bắt chước Protagoras chỉ quan tâm để thiết lập quan điểm cá nhân riêng mình, và do đó, một loại quyền của sức mạnh đạo đức đã được đưa ra. Trong tất cả những sự kiện, những Sôphít phải có, trong nghệ thuật của ảnh hưởng vào những não thức của con người, kỹ năng tuyệt vời và sự thấu hiểu sâu xa về tâm lý, hay họ tất đã không thể nhận được một thu nhập, so với học phí của thời chúng ta, ít nhất là trong sự quan hệ của tiền vốn với tiền lãi. Và thêm nữa, ý tưởng cơ bản tiềm ẩn đã không là của một tưởng thưởng cho sự khó khăn, nhưng là của việc mua một nghệ thuật vốn đã là làm ra từ sự sở hữu của nó.

Aristippus, người đã có tư tưởng phát triển mạnh trong thế kỷ thứ tư, đã là một người quốc tế thực sự. Những triều đình của những bạo chúa là chỗ nghỉ ngơi ưa thích của ông, và tại triều đình của Dionysius của Syracuse, ông không phải là không thường gặp người trí thức đối lập của ông, Plato. Dionysius đã đánh giá Plato cao hơn tất cả những triết gia khác, vì ông biết cách tạo ra một gì đó từ mọi khoảnh khắc; dĩ nhiên, cũng vì ông đã khôi hài tất cả những biến thái bất thường của bạo chúa. Theo nguyên lý rằng không có gì tự nhiên là đáng trách, Aristippus đã đồng ý với ‘con chó’ Diogenes [21]; và do đó, ông cũng được đặt tên bởi sự thông minh nổi tiếng là ‘con chó hoàng gia’. Đây không là sự trùng hợp ngẫu nhiên, mà là sự tương đồng của những nguyên lý, vốn tồn tại bất chấp sự khác biệt của hậu quả rút ra từ chúng. Aristippus cũng vậy, không có những nhu cầu thiết yếu; vì ông luôn có thứ ông cần, và cảm thấy cũng an toàn và hạnh phúc khi lang thang trong mớ quần áo như giẻ rách, như khi sống trong trong vương giả huy hoàng.

Nhưng thí dụ về những triết gia, những người ưa chuộng những triều đình nước ngoài, và thấy thật phi lý để phục vụ liên tục chỉ những lợi ích hạn hẹp của một nhà nước duy nhất, đã nhanh chóng những phái đoàn ngoại giao của Athens và những nước cộng hòa khác theo chân, và không có Demosthenes nào có để cứu sự tự do của Greece.

Về phần những tin tưởng tôn giáo, đáng ghi nhận rằng đồng thời với sự suy yếu của những tin tưởng, vốn lan truyền từ kịch nghệ qua ảnh hưởng của Euripides trong dân chúng, ở đó đã xuất hiện một số những bí ẩn mới.

Lịch sử đã chỉ quá thường xuyên cho thấy rằng nếu những người có học thức bắt đầu để cười nhạo vào những vị gót, thần thánh, hay để giải quyết sự hiện hữu của họ vào thành những trừu tượng triết học, thì ngay lập tức những người có giáo dục nửa vời, trở nên bất ổn và không im tiếng, sẽ nắm lấy mọi điên rồ ngõ hầu tán tụng, nâng nó lên cao vào trong một tôn giáo.

Những giáo phái (đến từ) Asia, với những thực hành khác thường quyến rũ, ngay cả phi đạo đức, tìm thấy được nhiều ưa chuộng. Kybele và Kotytto [22], thờ cúng-Adonis và những bí hiểm giáo phái thờ Orpheus [23], dựa trên những ‘sách thiêng’ bịa đặt trơ trẽn, đã trở nên phổ biến ở Athens cũng như phần còn lại của Greece. Và như thế sự trộn lẫn lớn của những tôn giáo vốn kết nối Đông và Tây sau chiến dịch của Alexander đã được sửa soạn, và đó đã là rất quan trọng trong việc sửa soạn, dọn sẵn đường cho sự truyền bá sau này của đạo Kitô.

Với mỹ thuật và khoa học, những học thuyết Duy cảm cũng đã thực hành một tác động biến đổi lớn. Những tài liệu của khoa học thực nghiệm đã được những Sôphít quảng bá thành phổ thông. Họ trong phần lớn, đã là những nhà trí thức tài giỏi, những học giả lớn, là những người đã hoàn toàn nắm vững những kho kiến ​​thức vững chắc của họ, và đã luôn có chúng để sẵn sàng đem dùng trong thực tiễn; nhưng những người này đã là trong khoa học tự nhiên, không là những người nghiên cứu, nhưng chỉ những người phổ biến kiến thức. Mặt khác, nhờ vào những nỗ lực của họ, chúng ta có nền móng của khoa ngữ pháp và sự phát triển của một văn xuôi đáng ngưỡng phục, như đá được sự tiến bộ của thời đại đòi hỏi, thay vì những hình thức chật hẹp của thi ca, và trên hết là sự phát triển lớn lao của nghệ thuật hùng biện. Thơ dưới ảnh hưởng của họ, dần dần từ chiều cao lý tưởng của nó, chìm xuống, và trong giai điệu và những nội dung đã đến gần tính cách của hiện đại. Cốt truyện, nỗ lực, sự giàu có của trí khôn ngoan và cảm xúc, đã trở nên ngày càng quan trọng hơn.

Không có lịch sử nào cho thấy rõ ràng hơn lịch sử của Hellas, theo quy luật phát triển tự nhiên của con người, rằng không có sự kiên trì không đứt gãy nào của cái tốt và cái đẹp. Chính những điểm chuyển tiếp trong những phong trào được sắp xếp trật tự từ một nguyên lý này sang một nguyên lý khác vốn che giấu bên trong chúng sự siêu phàm và cái đẹp lớn nhất. Và do đó, chúng ta không có quyền để phàn nàn về một loài sâu ăn hoa đang nở rộ: chính luật của hoa nở rộ nó là điều dẫn đến suy tàn; và trong phương diện này, Aristippus đã là ở điểm cao nhất trong thời của ông, khi ông đã dạy rằng - đó là trong khoảnh khắc hiện mà thôi vốn chỉ mình nó có thể mang lại hạnh phúc.


Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ nhất
(Feb/2019)








[1] SensationSensationalism: thuyết Duy cảm:
[2] [Compare, in the modern history of philosophy, the relation of Locke or of Condillac tc Lamettrie. This does not, of course …]
[3] Dạy học với thù lao – những nhà sôphít, vẫn bị những người theo Socrates, Plato phê bình là ‘buôn bán trí thức’. Thực sự, với những gì được biết về họ nay còn giữ lại, chúng ta ít nhất có thể chắc chắn hiểu họ như những nhà trí thức chuyên môn của công chúng, thời đó đã sinh sống bằng thù lao (học phí của học trò), thay vì làm việc cho triều đình, hay hội nhà thờ … ; do đó tôi tránh dùng từ ‘ngụy biện’ như lầm lẫn tiếp tục dùng/dịch ở những bản văn tiếng Việt nơi khác.
[4] [The porter story must probably be considered fabulous, although this is a case where the traces of some such tale reach very far back. Comp. Brandis, Gesch. d. griech. rom. Philos., i. 523 ff., and, on the other side, Zeller, i. 866, Anm. i, where certainly too much stress is laid upon the “scurrility” of Epicurus. The question whether Protagoras was a pupil of Demokritos hangs together with the diflScult question of age discussed in note 10. We prefer here also to leave it undecided. But even in case the predominant view, which makes Protagoras some twenty years older than Demokritos, should ever be sufficiently proved, the influence of Demokritos upon the Protagoras theory of knowledge remains extremely probable, and we must then assume that Protagoras, originally a mere rhetorician and teacher of politics, developed his own system later, indeed during his second stay at Athens, in intellectual intercourse with his opponent Socrates, at a time when the writings of Demokritos might already have had their influence. Zeller’s attempt, following Frei (Quaestiones Protagoreae, Bonnae, 1845), to deduce the philosophy of Piotagoras Avholly from Herakleitos, disregarding Demokritos, splits on the want of a sufficient point of support for the subjective direction of Protagoras in the theory of knowledge. If it is proposed to regard as Herakleitic the origin of sensation from a mutual motion of sense and object (comp. Zeller, i. 585), the resolution of sense qualities into subjective impressions is wholly wanting in Herakleitos. On the other hand, the ‘ ….,’ and so on (Fragm. Phys., i), of Demokritos forms the natural transition from the purely objective view of the world of the older physicists to the subjective one of the Sophists. Protagoras must indeed reverse the standpoint of Demokritos in order to reach his own; but this is also his position towards Herakleitos, who finds all truth in the universal, while Protagoras seeks it in the particular. The circumstance that the Platonic Socrates (comp. Frei, Quaest. Prot., p. 79) makes the principle of Protagoras, that all is motion, to be the original of all things, is historically not decisive. Generally it may be said that the influence of Herakleitos on the doctrine of Protagoras is unmistakable, and it is at the same time probable that the elements due to this are the original elements to which Demokritos’s reference of the sense qualities to subjective impressions was added later as a fermenting element.]
[5] [Hist, of Phil., i. 106, 107.}
[6] [Comp. Frei, Quaest. Prot., p. 110 ..]
[7] Friedrich Karl Christian Ludwig Büchner (1824 – 1899) was a German philosopher, physiologist and physician who became one of the exponents of 19th-century scientific materialism.
Jacob Moleschott (1822 –1893) was a Dutch physiologist and writer on dietetics. He is known for his philosophical views in regard to scientific materialism.
[8] [Frei, Quaest. Prot., p. 84 foil, …]
[9] [Comp. Büchner, Die Stellung des Menschen in der Natur, Leipz., 1870, p. cxvii. The expression of Moleschott will be more fully discussed in the Second Book.]
[10] ‘Man as such’
[11] Xem thêm Plato – Protagoras, bản dịch và giới thiệu, phê bình vắn tắt của tôi (LDB)
Protagoras người thành Abdera (ca. 490–420 TCN), học trò của Democritus (cùng sinh quán Abdera), triết gia, thày dạy học và nhà sophist nổi tiếng nhất trong thời cổ Hellas. Protagoras là tác giả những luận thuyết về ngữ pháp, lôgích, đạo đức học và chính trị học (tất cả đã mất). Tuy không là người Athens, nhưng ông đã sinh sống ở thành Athens trong một thời gian dài. Ông từng được bổ nhiệm làm nhà soạn luật cho thuộc địa Thourioi của Athens, nhưng sau đã bị buộc tội không-kính tín (asebeia = không tôn kính gót và bày tỏ qua sự không thực hành, hay không tham dự những nghi lễ thờ phụng gót) khi trở về Athens, và buộc phải bỏ chạy khỏi thành phố (theo một nguồn tin không hoàn toàn đáng tin cậy). Ông được cho là đã chết trong một vụ đắm tàu.
Ở Athens, Protagoras đón nhận một danh tiếng lừng lẫy, đặc biệt về trí tuệ lỗi lạc và tư tường triết học của ông, nhưng cũng có dư luận rộng rãi phản đối ông với tư cách là một nhà sophist. Ông bị chỉ trích:
(a) Đã vun trồng thuật khôn ngoan thực dụng trong chính trị; dạy những người có tham vọng chính trị thuật thuyết phục đám đông và nắm giữ thống trị trên những người khác, và đặc biệt đã thu tiền học phí cho hoạt động giảng dạy của ông. (b) Thừa nhận một thái độ hoài nghi về sự có thể có được một hiểu biết chắc chắn - vốn ông dựa trên cả hai lý do: những thiếu sót và có thể sai lầm của những giác quan và trên nền tảng của sự không có thực tại vững chắc lâu dài nào có thể được biết. (c) Phá hoại (hay làm suy yếu) đạo đức truyền thống qua giảng dạy rằng không thể phân biệt giữa đúng và sai, rằng không có những giá trị tuyệt đối, rằng không có sự thực khách quan (Relativism). Hai chỉ trích đầu tiên, chúng thấy trongProtagoras này và Theaetetus của Plato. Chỉ trích thứ ba thấy trong vở kịch Clouds của Aristophanes.
Những quan điểm này, chịu ảnh hưởng rất nhiều từ thái độ chung của Plato với những nhà sophist, sang thời hiện đại đã bị thách thức, và kết quả là sự đánh giá lại hồ sơ trí thức về Protagoras. Các học giả đã đi đến nhìn nhận rằng khái niệm có một khoảng cách phân tách Socrates với những nhà sophist, nó thì không lớn như Plato đã nêu lên. Trong thực tế, Socrates thì đồng thời (về tư tưởng) với nhiều những nhà triết học được đặt vào thời kỳ ‘trước-Socrates’, trong đó gồm nhiều những nhà sophist. Hơn nữa, khi nhìn lại, quan điểm của Protagoras ngày nay thường có vẻ được ưa chuộng nhiều hơn, tiến bộ hơn so với những quan điểm của Plato. Ví dụ, Protagoras tranh luận rằng hồn người không tồn tại độc lập với những giác quan; tư tưởng này đã tái sinh trong tâm sinh lý thần kinh học (neuroscience) hiện đại.
Ngày nay, chú ý về Protagoras xoay quanh hai học thuyết và một so sánh tương đồng thấy trong một huyền thoại, dù tất cả chỉ còn sót lại trong dạng những mảnh sao chép, hay trích dẫn rời rạc. Học thuyết không có sự thực khách quan (Relativism), tóm tắt trong mệnh đề ‘Người là thước đo của tất cả sự vật việc’ (panton chrematon metron estin anthroposthường (mặc dù không tuyệt đối) được hiểu có nghĩa là những xuất hiện dạng ngoài nhận qua tri giác và những tin tưởng là những sự thật khách quan, không phải những ý kiến ​​chủ quan. Tuy nhiên cách suy nghĩ cơ bản của tuyên bố này đã được cho thấy là tự phủ nhận, ngay trong thời cổ: nếu tất cả tin tưởng đều là đúng (với người tin nó), thì tin tin tưởng - rằng tất cả những tin tưởng đều là không đúng - cũng là đúng.
Thuyết không-thể-biết (agnosticism), một hoài nghi triết học của Protagoras, được thấy trong câu mở đầu của On the Gods, một tác phẩm nay đã mất của ông. Chúng ta có nhờ Diogenes Laertius đã trích dẫn nó: ‘Về các vị gót, tôi không có khả năng để biết liệu họ có là-có hay không là-có, cũng không biết họ giống như thế nào (hay giống con gì) về hình dạng: vì có rất nhiều điều cản trở sự hiểu biết chắc chắn - sự tối tăm của vấn đề và sự ngắn ngủi của đời người’. Lưu ý rằng, không giống như những triết gia không-tin-có-gót thời trước-Socrates khác, Protagoras không rõ ràng phủ nhận sự là-có hày không là-có của những quyền năng siêu nhiên hay của những gót. Ông chỉ đơn giản đưa ra lý do để dừng lại, không đi vội đến phán đoán hay kết luận (là có hay không có).
Theo một huyền thoại của Protagoras (trong chính đàm thoại này) do Plato kể lại, con người, sau khi được tạo ra và được đem cho một phần của khả năng thần linh, để liên kết nhau chống lại những loài thú hoang. Tuy nhiên, một khi họ đã làm được như vậy và đã thành lập được (xã hội) những thành phố, ‘họ đã gây sai trái với lẫn nhau vì thiếu của nghệ thuật chính trị (politike techne), và do đó họ bắt đầu lại bị phân tán và bị tiêu diệt. Zeus, sợ con người bị huỷ diệt, đã gửi Hermes mang công lý và sự tự biết xấu hổ (aidos) về phải trái cho con người, để cuối cùng họ có được quy định cho trật tự xã hội trong thành phố, và có quan hệ thân thiện bằng hữu để lôi kéo họ lại với nhau. Ý tưởng trong huyền thoại này báo hiệu ý tưởng khế ước xã hội hiện đại.
Bị Plato che khuất trong triết học thời cổ Hellas, chưa được đào sâu nghiên cứu trong thời hiện đại, Tư tưởng của Protagoras vẫn đòi hỏi nhận được nhiều chú ý xứng đáng hơn. Trong đàm thoại này, chúng ta hãy hãy thận trọng khi đọc Protagoras.
Tất cả những ý tưởng, không chỉ từ nhân vật Socrates nêu lên, nhưng cũng từ chính nhân vật Protagoras nêu lên, đều là của Plato; vì giản dị là cả hai đều là những nhân vật trong đàm thoại của Plato. Những chi tiết về nhân vật Protagoras, hay những ý tưởng do nhân vật Protagoras phát biểu, qua lời thuật kể của Plato, nên đón nhận với thận trọng. Có lẽ chúng ta không thể nào dành trọn tin tưởng vào sự chân thực của Plato, vì tất cả đã được - chính thiên kiến về những nhà sophist của Plato - chọn lọc. Thiên kiến của Plato thì rõ ràng và hiển nhiên, nên sự chọn lọc của Plato có lẽ là tất yếu. Điều còn lại để hoài nghi, không biết là sự chọn lọc đó đã đẩy sự thực đi xa đến đâu mà thôi.

[12] Những Thể dạng của Plato – xem Republic Plato tôi giới thiệu trên blog này
[13] [Frei, Quaest. Prot., p. 99; Zeller, i. 916 foil.]
[14] [Lewes, Hist of Phil, i. 114.]
[15] ở đây hiểu là tính ngụy biện, trá ngụy, không nói sai, nhưng chỉ không nói-đúng, nói quanh sự thật
[16] Aristippus (khoảng 435 -356 TCN) triết gia Greek người thành Cyrene (được xem là “Athens của Africa”, nay thuộc Lybia). Ông là người thành lập phái triết học, mang tên thành phố này, phái Cyrenaics –, một phái triết học xem lạc thú (tình cảm thích thú vui sướng) là mục đích trên cao và cuối cùng của đời sống. This is known as hedonism. - trường phái/học thuyết Duy lạc. Aristippus believed that it is important to be able to adapt oneself to whatever the circumstance, in order to make the best of things in both times of adversity as well as prosperity. Although a student of Socrates, Aristippus deviated dramatically in both his philosophy as well as how he lived. He believed that one should try to make the most out of things, and that pleasure should be embraced. Because he lived luxuriously and accepted money for his teachings, he was considered a Sophist by Aristotle, and is portrayed negatively in Plato’s dialogue the Phaedo vì không có mặt khi Socrates chết.
[17] Hedoné: pleasure, lust: lạc thú: tình cảm thích thú vui sướng
[18] Phái Cyrene là một trường phái nhỏ trong những trường phái theo Socrates. Trường phái Cyrene do một học trò của Socrtes là Aristippus thành lập. Có ba điểm nổi bật chính (a) là những người duy nghiệm (empiricist), (b) có hoài nghi về tri thức luận (skeptical epistemology), và (c) duy cảm nghiêng về thân xác, vật chất (sensualist hedonism). Họ tin rằng chúng ta có thể có kiến ​​thức nhất định về những trạng thái nhận thức trực tiếp của chúng ta, ví dụ, rằng bây giờ tôi đang nhìn thấy màu trắng. Tuy nhiên, chúng ta không thể vượt qua những kinh nghiệm này để có được bất kỳ kiến ​​thức nào về chính các đối tượng gây ra những kinh nghiệm này hoặc về thế giới bên ngoài nói chung. Một số những luận chứng của phái này báo trước lập trường của những triết gia hoài nghỉ Greece sau này, đặc biệt sự phân biệt của họ giữa – tính sai lầm không chữa được của những trạng thái nhận thức trực tiếp giác quan đối với sự không-chắc chắn của tin tưởng về thế giới bên ngoài - trở thành những vấn đề tri thức luận then chốt, sau này Descartes và Hume phải chật vật giải quyết. Về đạo đức, họ đề cao cái vui sướng (Lạc) như là cái tốt lành (Thiện) cao nhất. Hơn nữa, những thích thú sung sướng đến từ cơ thể đáng được tìm, chuộng hơn những những thích thú sung sướng trừu tượng trong tinh thần, và chúng ta nên theo đuổi bất cứ sự vật việc gì mang lại cho chúng ta thích thú sung sướng bây giờ, thay vì trì hoãn những thú vui hiện tại để đạt được những hậu quả trong lâu dài dù tốt hơn. Trong tất cả những phương diện này, chủ nghĩa duy lạc mang tính đả phá tín ngưỡng tôn giáo (của giáo điều Kitô về khổ hạnh đời này để sửa soạn đời sau, đây chính là lý do họ bị tai tiếng, từ bội nhọ đến khinh miệt) và ‘thô sống, không gọt dũa’ của họ đứng ngoài luồng chính của tư tưởng đạo đức Hy Lạp, và lý thuyết của họ thường trái ngược với chủ nghĩa duy lạc ôn hòa hơn của Epicurus sau này.
[19] Phidias (488-432 TCN) – tượng Pallas Athena Parthenos trong đền Acropolis, đền thờ Olympian Zeus, ở Athens
[20] Cyrenít: những người thuộc trường phái Cyren (Cyrenaics hay Kyrenaics)
[21] Diogenes người thành Sinope (c. 404-323 TCN) hay còn được gọi là Diogenes the Cynic, nổi tiếng vì sống trong một thùng đựng nước, và xách đèn đi giữa ban ngày, tìm một “người” – nghiã là một người chân thực không bị xa đọa hư hỏng. Xem thêm – ‘Chương 26 - Những triết gia phái Sống giống như Chó (Cynic) và những triết gia phái Hoài nghi (Sceptic)’ trong Bertrand Russell - Lịch sử Triết học phương Tây, bản dich LDB
[22] The worship of Cybele (Kybele): lan truyền từ vùng đảo của Anatolia và Syria sang vùng bờ biển Aegean, đảo Crete và những đảo khác trong biển Aegean và vào đất liền Greece. Tín ngưỡng thờ gót nữ Cybele này đã từ Phrygia sang Greece, khoảng thế kỷ 6 thế kỷ 4, TCN. Kotys (Kotytto): một gót nữ của dân Thrace, giáo phái này lan khắp Greece và Italy. Adonis (Eshmun): Adonis là một vị thần trẻ của sinh sản, và đại diện cho chết và tái sinh của cây cỏ trong một tín ngưỡng của đất đai màu mỡ (giáo phái thực vật) phương Đông. Ông còn được gọi là gót nông nghiệp, tên là Eshmun. Adonis gốc từ danh xưng Canaanite, Adon. Người Greece biết tín ngưỡng thờ cúng Adonis trong thế kỷ 6 TCN, chắc chắn qua tieps xúc với dân Cyprus.
[23] Orphism