Tuesday, February 5, 2019

Lange - Lịch Sử Triết Học Duy Vật (01)

LỊCH SỬ TRIẾT HỌC DUY VẬT
Và Phê Bình về Sự Quan Trọng Hiện nay Của Nó

(Geschichte des Materialismus
und Kritik seiner Bedeutung in der Gegenwart)

Friedrich Albert Lange (1828 – 1875) 





History of Materialism and Critique of Its Present Importance (1865)

Lịch Sử Triết Học Duy Vật
Và Phê Bình Về Sự Quan Trọng Hiện Nay Của Nó


Tập I
TRIẾT HỌC DUY VẬT TRONG THỜI CỔ.
THỜI CHUYỂN TIẾP.
THẾ KỶ 17.


Tập II.
THẾ KỶ 18.
TRIẾT HỌC HIỆN ĐẠI.
KHOA HỌC TỰ NHIÊN


Tập III.
KHOA HỌC TỰ NHIÊN. (Tiếp theo)
NGƯỜI VÀ HỒN NGƯỜI
ĐẠO ĐỨC VÀ TÔN GIÁO.



Lời Nói Đầu Của Người Dịch (Ernest Chester Thomas)
Frederick Albert Lange: Tiểu Sử Vắn Tắt
Lời Nói Đầu Của Tác Giả Cho Bản In Lần Thứ Hai [và những bản in sau].



LỊCH SỬ TRIẾT HỌC DUY VẬT
Và Phê Bình về Sự Quan Trọng Hiện nay Của Nó

MỤC LỤC (QUYỂN I)

Quyển thứ nhất
LỊCH SỬ CỦA TRIẾT HỌC DUY VẬT cho đến KANT.

Phần thứ nhất. - chủ nghĩa Duy vật trong thời Cổ.
 CHƯƠNG I.
Những nhà Atômmít ban đầu, đặc biệt về Demokritos. … Pp. 1-36
Chủ nghĩa Duy vật một trong những nỗ lực sớm nhất với một lý thuyết triết học về thế giới; xung đột giữa triết học và tôn giáo, 3. Bằng chứng của xung đột này ở Greece thời cổ, 5. Giao tiếp với phương Đông; thương mại; sự trỗi dậy của triết học, 8. Ảnh hưởng của toán học và nghiên cứu về tự nhiên, 9. Sự phổ biến của phép diễn dịch, 11. Sự thực hiện thành công chặt chẽ chủ nghĩa Duy vật bởi những atômmít, 13. Demokritos, cuộc đời và nhân cách của ông, 15. Học thuyết của ông, 18. Sự vĩnh cửu của vật chất, 19. Tính tất yếu, 20. Những atom và không gian trống, 22. Những hình thành của những thế giới, 24. Những phẩm tính của những sự vật và của những atom, 27. Hồn người, 28. Đạo đức học, 31. Empedokles và nguồn gốc của những sự thích ứng, 32.
CHƯƠNG II.
Chủ nghĩa Duy cảm của những nhà Sôphít, và chủ nghĩa Duy vật đạo đức của Aristippos. … Pp. 37-51
Chủ nghĩa Duy cảm và chủ nghĩa Duy vật, 37. Những nhà sôphít, đặc biệt là Protagoras, 8. Aristippos, 44. Liên hệ của chủ nghĩa Duy vật lý thuyết và thực hành, 46. Sự phân hủy của văn minh Hellas dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa Duy vật và Chủ nghĩa Duy cảm, 48.
CHƯƠNG III.
Phản ứng chống lại Chủ Nghĩa Duy Vật và Chủ nghĩa Duy cảm: Sokrates, Plato, Aristotle. … Pp. 52-92
Sự thụt lùi không thể nghi ngờ và sự tiến bộ đáng ngờ của trường phái Athens so với triết học duy vật, 52. Bước từ đặc thù đến phổ quát; sự chuẩn bị cho nó bởi những sôphít, 55. Những nguyên nhân của tiến bộ bởi những phản đề và của sự kết hợp của những bước tiến lớn với những yếu tố phản tác dụng 57. Trạng thái của sự vật ở Athens, 58. Sokrates như một nhà cải cách tôn giáo, 60. Nội dung và khuynh hướng triết học của ông, 63. Plato, khuynh hướng và sự phát triển tri thức của ông, 71. Khái niệm của ông về phổ quát, 75. ‘Ý tưởng’ và ‘huyền thoại’ trong sự phục vụ sự suy đoán, 77. Aristotle; không phải là một người theo chủ nghĩa duy nghiệm, nhưng là một nhà tạo dựng hệ thống, 80. Thuyết cứu cánh của ông, 83. Học thuyết của ông về thực thể; tên gọi và yếu tính, 85. Phương pháp, 88. Phê bình triết học Aristotle, 90.
CHƯƠNG IV.
Chủ nghĩa Duy vật ở Greece và Rome sau Aristotle: Epikuros. … Pp. 93-125
Ảnh hưởng không liên tục của chủ nghĩa Duy vật Greece, 93. Tính cách của chủ nghĩa Duy vật sau-Aristotle; Ưu thắng của cứu cánh đạo đức, 95. ‘chủ nghĩa Duy vật’ của những Stoics, 96. Epikuros, cuộc đời và nhân cách của ông, 98. Sự tôn kính của ông đối với những gót, 100. Giải thoát khỏi sự mê tín và sự sợ chết, 101. Học thuyết về lạc thú, 102. Vật lý, 103. Lôgích và lý thuyết về tri ​​thức, 107. Epikuros như tác giả, 111 Tiến trình chuyển biến từ sự trị vì của triết học sang sự ưu thắng của khoa học tích cực; Alexandria, 112. Phần chia của chủ nghĩa Duy vật trong những thành tựu của nghiên cứu khoa học Greece, 120.
CHƯƠNG V.
Bài thơ giảng dạy của Lucretius về Thiên nhiên. … Pp. 126-158
Rome và chủ nghĩa Duy vật, 126. Lucretius; tính cách và khuynh hướng của ông, 129. Nội dung của quyển thứ nhất; tôn giáo là nguồn gốc của mọi tội lỗi, 132. Không có gì có thể đến từ hư vô và không gì có thể bị tiêu diệt, 133. Không gian và atom trống rỗng, 134. Ca ngợi Empedokles; sự vô hạn của vũ trụ, 136. Ý tưởng về lực hấp dẫn, 137. Thích ứng như trường hợp dai dẳng trong số tất cả những kết hợp có thể, 138. Nội dung của quyển thứ hai; những atom và chuyển động của chúng, 140. Nguồn gốc của cảm giác; số lượng vô hạn của những thế giới bắt nguồn và diệt vong, 143. Nội dung của quyển thứ ba; hồn người, 145. Nỗi sợ vô ích về cái chết, 147. Nội dung của quyển thứ tư; nhân loại học đặc biệt, 149. Nội dung của quyển thứ năm; vũ trụ học, 149. Phương pháp của những có thể có được trong việc giải thích về tự nhiên, 150, Sự phát triển của loài người; nguồn gốc của lời nói, của nghệ thuật, của những cộng đồng chính trị, 152. Tôn giáo, 155. Nội dung của quyển thứ sáu; hiện tượng thiên thạch; bệnh tật; những điểm Avernian, 155, Giải thích về sức hút của lực từ, 157.

Phần thứ hai. - Thời chuyển tiếp.
CHƯƠNG I.
Những tôn giáo tin chỉ một gót trong sự quan hệ của chúng với chủ nghĩa Duy vật...... Pp. 161-186
Sự suy tàn của nền văn minh thời cổ, 161. Ảnh hưởng của chế độ nô lệ; của sự hỗn hợp của những tôn giáo; của bán-văn hóa, 164. Sự không tin tôn giáo và sự mê tín; chủ nghĩa Duy vật của đời sống; Sự phồn thịnh của thói hư tật xấu và của những tôn giáo, 165. đạo Kitô, 169. Những đặc điểm chung của những tôn giáo tin chỉ một gót 172. Học thuyết về sự sáng tạo của Moses, 174. Khái niệm tinh thần thuần túy về Gót, 175. Sự phản đối mạnh mẽ của đạo Kitô đối với chủ nghĩa Duy vật, 176. Thái độ thuận lợi hơn của những người theo Mohammed; Học thuyết Averroës; Những phục vụ của người Arab cho khoa học tự nhiên; Tư tưởng triết lý tự do, không tôn giáo và sự khoan dung, 277. Ảnh hưởng của học thuyết tin-chỉ-một-gót đối với cảm thức thẩm mỹ về thiên nhiên, 184.
CHƯƠNG II.
Chủ nghĩa kinh viện, và sự ưu thắng của những khái niệm về vật chất và dạng thức của Aristotle.. Pp. 187-214
Sự nhầm lẫn của Aristotle về tên gọi và sự vật việc như cơ sở của học thuyết Kinh viện, 187. Khái niệm theo Plato về chi và loài, 190. Những ý tưởng cơ bản của siêu hình học Aristote, 192. Phê bình về khái niệm Tiềm năng của Aristotle, 194., 198. Vật chất, 200. Những sửa đổi hiện đại của khái niệm này, 201. Ảnh hưởng của những quan niệm Aristote đối với học thuyết về hồn người, 202. Câu hỏi về những Phổ quát; Những người theo chủ nghĩa Duy danh và những người theo chủ nghĩa Duy thực, 207. Ảnh hưởng của Averroism; của Lôgích Byzantine, 210. Chủ nghĩa duy danh như tiền thân của Chủ nghĩa Duy nghiệm, 213.
CHƯƠNG III.
Sự trở lại của những lý thuyết duy vật với sự tái tạo của những ngành khoa học.... Pp. 215-249
Chủ nghĩa kinh viện như một sự thắt buộc của hợp nhất trong văn minh Europe, 215. Vận động Hồi phục chấm dứt với sự cải cách triết học, 216. Học thuyết về sự thật có hai phần, 218. Học thuyết Averro ở Padua, 219. Petrus Pomponatius, 220. Nicolaus de Autricuria, 225. Laurentius Yalla, 226. Melanchthon và nhiieeuf những nhà tâm lý học khác nhau của thời kỳ Cải cách, 227. Copernicus, 229. Giordano Bruno, 232. Bacon of Verulam, 236. Descartes, 241. Hồn người với Bacon và Descartes, 244. Ảnh hưởng của tâm lý động vật, 245. Hệ thống của Descartes và ý kiến ​​thực sự của ông, 246.

Phần thứ ba. - chủ nghĩa Duy vật thế kỷ XVII.
 CHƯƠNG I.
Gassendi...... Pp. 253-269
Gassendi với tư cách là người phục hồi chủ nghĩa Epikurean, 253. Lựa chọn của hệ thống này bao gồm những cần thiết của thời gian, đặc biệt trong phương diện của thăm dò khoa học, 254. Thỏa hiệp với gót học, 257. Tuổi trẻ của Gassendi; những ‘Exercitationes Paradoxicae,’ 258. Nhân cách của ông, 259. Bút chiến chống lại Descartes, 260. học thuyết của ông, 263. Cái chết của ông; sự quan trọng của ông đối với cải cách vật lý và triết học về tự nhiên, 269.
CHƯƠNG II.
Thomas Hobbes của Malmesbury...... Pp. 270-290
Sự phát triển của Hobbes, 270. Lao động và kinh nghiệm trong thời gian ông ở France, 272. Định nghĩa triết học, 274. Phương pháp; kết nối với Descartes, không với Bacon; sự công nhận của ông về những khám phá hiện đại vĩ đại, 276. Tấn công gót học, 279. Hệ thống chính trị của Hobbes, 280. Định nghĩa về tôn giáo, 283, Những phép lạ, 284. Những nguyên lý Vật lý, 285. Thuyết tương đối, 287, Lý thuyết về những cảm giác, 288. Vũ trụ và tính vật chất hữu hình của Gót, 290.
CHƯƠNG III.
Những hoạt động sau này của chủ nghĩa Duy vật ở England ...... Pp. Pp. 291-330
Sự liên hệ giữa chủ nghĩa Duy vật của thế kỷ XVII và XVIII, 291. Những hoàn cảnh ở England thuận lợi cho sự truyền bá của chủ nghĩa Duy vật, 292. Sự hợp nhất giữa chủ nghĩa Duy vật khoa học với lòng tin tôn giáo; Boyle và Newton, 298, Boyle; cuộc đời và nhân cách của ông, 300. Ưa thích riêng của ông với thí nghiệm, 302. Tuân thủ theo lý thuyết cơ học của vũ trụ, 303. Cuộc đời và nhân cách của Newton, 306. Cân nhắc về bản chất thực sự của khám phá của Newton; ông có cùng tin tưởng tổng quát về nguyên nhân vật lý của lực hấp dẫn, 308. Ý tưởng rằng tác nhân giả thuyết này cũng xác định chuyển động của những thiên thể nằm rất gần, và cách thức đã được chuẩn bị sẵn sàng cho nó, 309. Tham dẫn về ảnh hưởng kết hợp với những particle riêng lẻ là một hậu quả của thuyết Atom, 311. Giả định về một vaath chất không thể đo lường được, tạo ra lực hấp dẫn bởi sự thúc đẩy của nó, đã được chuẩn bị, qua cách giải quyết tương đối của Hobbes của khái niệm về những atom, 311. Newton tuyên bố rành mạch nhất phản lại khái niệm hiện phổ biến về học thuyết của ông, 312. Nhưng ông tách biệt khía cạnh vật lý khỏi khía cạnh toán học của câu hỏi, 314. Từ chiến thắng của những thành tựu toán học thuần túy đã nảy sinh một vật lý mới, 315. Ảnh hưởng của những hoạt động chính trị của thời đại với những hậu quả của những hệ thống, 317. John Locke, cuộc đời và sự phát triển trí tuệ của ông ấy, 318. Bài chuyên luận về sự hiểu biết của con người của ông, 320. Những tác phẩm khác, 323. John Toland, ý tưởng của ông về một hệ thống sùng bái tôn giáo về mặt triết lý , 324. Chuyên luận về ‘Chuyển động thiết yếu cho Vật chất’, 326,







LỊCH SỬ TRIẾT HỌC DUY VẬT – Quyển I [1]

LỊCH SỬ TRIẾT HỌC DUY VẬT cho đến KANT.

PHẦN THỨ NHẤT.
TRIẾT HỌC DUY VẬT TRONG THỜI CỔ.


Chương I.
Những Nhà Theo Thuyết Atom Ban Đầu – Đặc Biệt Về Demokeitos.

Tư tưởng Duy vật cũng xưa như triết học, nhưng không xưa hơn. Khái niệm vật chất về Tự nhiên vốn chiếm ưu thế bao quát những thời kỳ đầu tiên của lịch sử tư tưởng vẫn còn vướng mắc trong những mâu thuẫn của quan điểm Nhị nguyên và những tưởng tượng hão huyền của sự nhân hóa – gán những tính chất và cả thể dạng con người cho những gì không-người [2]. Những nỗ lực đầu tiên để thoát khỏi những mâu thuẫn này, để nhìn xem thế giới như một thể thống nhất và vượt lên trên những sai lầm thô thiển của những giác quan, dẫn thẳng vào lĩnh vực của triết học, và trong những nỗ lực đầu tiên này có chỗ đứng của tư tưởng Duy vật. [3] 

Tuy nhiên, với việc bắt đầu của sự suy tưởng liên tục cũng nổi lên một tranh đấu chống lại những giả định truyền thống của tôn giáo. Tôn giáo có những gốc rễ của nó từ những khái niệm thô thiển, trước sau không thuận hợp [4] sớm nhất, vốn vẫn từng bao giờ được đám quần chúng ngu dốt tạo ra tươi mới, trong sức mạnh không thể phá hủy nổi. Một sự vén-lên-cho-thấy nội tại, cảm thức mơ hồ hơn là nhận thức rõ ràng, đem cho nó mượn một nội dung sâu thẳm, trong khi sự giàu có của những làm đẹp trong thần thoại và sự tôn kính những gì cổ xưa của truyền thống đã làm cho nó được mọi người tin mê. Những vũ trụ luận của phương Đông và của Greece thời cổ trình bày cho chúng ta với những ý tưởng vốn chúng đều cũng ít tinh thần như vật chất. Chúng không cố gắng để giải thích thế giới bằng phương tiện của một nguyên lý duy nhất, nhưng cung cấp cho chúng ta những gót, những thần thánh, mang tính dạng con người, những sinh vật nguyên thủy nửa nhục cảm, nửa tinh thần, một triều đại hỗn loạn của vật chất và những sức mạnh trong sự đấu tranh và sự hoạt động thay đổi nhiều lớp lang đa dạng. Trong sự có mặt của chằng chịt mô thức này của những ý tưởng tưởng tượng thức tỉnh tư tưởng đòi hỏi về sự trật tự và sự thống nhất, và do đó mọi hệ thống triết học bước vào một đấu tranh không thể tránh với gót học trong thời của nó, vốn được thực hiện, theo như những hoàn cảnh, với ít hay nhiều thù địch công khai.

Đó là một sai lầm để nhìn từ trên cao, không nhận được sự có mặt, và quả thực ảnh hưởng lớn lao của sự đấu tranh này trong Greece thời cổ, mặc dù rất dễ để thấy nguồn gốc của sai lầm. Nếu những thế hệ của một tương lai xa phải phán xét toàn bộ tư tưởng của thời chúng ta riêng, chỉ từ những mảnh vỡ của một Goethe và một Schelling, một Herder hay một Lessing, [5] thì họ tất sẽ hiếm khi quan sát được những hố sâu, những phân biệt sắc bén của những khuynh hướng trái ngược đánh dấu thời của chúng ta. Đó là đặc điểm của những con người lớn lao nhất của mọi thời đại rằng họ đã hòa giải trong chính họ những sự đối nghịch của thời đại của họ. Cũng là như vậy với Plato và Sophokles trong thời thời cổ; và con người lớn lao nhất thường trưng bày trong những công trình của mình những dấu vết nhỏ nhất của những đấu tranh đã khuấy động số đông đảo người ta trong thời của ông, và trong một số dạng này hay khác, ông cũng phải trải qua chúng.

Thần thoại vốn chúng gặp chúng ta trong trang phục thanh thản và dễ dãi, nhở vào những nhà thơ Greece và Rome, không phải là tôn giáo của người dân thường cũng không phải của giới có giáo dục với tinh thần khoa học, mà là một lãnh thổ trung lập trong đó cả hai đều có thể gặp nhau.

Người ta đã có ít tin tưởng vào toàn bộ đám sống trên Olympus như thi ca mô tả, hơn là vào những thần linh trong thị trấn hay đất nước riêng lẻ, có những tượng hình của họ được tôn vinh trong đền thờ với sự tôn kính đặc biệt, không phải là những sáng tạo đẹp đẽ đáng yêu của những nghệ sĩ nổi tiếng làm say mê đám đông khẩn khoản van cầu, nhưng theo lối cổ, vụng về thô kệch, là những khuôn mặt được tôn vinh, được truyền thống làm nên linh thiêng. Trong số những người Greece, thêm nữa, có một đường lối chính thống cố chấp và cuồng tín, vốn cũng vừa dựa trên những lợi ích của một giới nhà tu kiêu hãnh cũng như trên tin tưởng của một đám đông trong việc cần được giúp đỡ. [6]

Điều này có thể đã bị quên mất hoàn toàn nếu Sokrates không phải uống chén thuốc độc; nhưng Aristotle cũng chạy trốn khỏi Athens khiến thành phố có thể không phải có lần thứ hai phạm tội báng bổ xúc phạm triết học. Protagoras cũng phải đã chạy trốn, và công trình của ông về những gót bị đem đốt bỏ công khai. Anaxagoras đã bị bắt và buộc phải chạy trốn. Theodorus, người ‘không-tin-có-gót’. và có lẽ cả Diogenes của Apollonia, đều đã bị truy tố như những người phủ nhận những vị gót. Và tất cả điều này đã xảy ra ở Athens nhân văn và đã được mở mắt khỏi mê tín, giải thoát khỏi ngu tối. [7]

Từ quan điểm của đám đông, mọi triết gia, ngay cả là Duy ý nhất, có thể bị truy tố như một người phủ nhân những gót; vì không ai trong số họ đã hình dung những gót với chính mình như đã được mô tả theo truyền thống truyền thống của giới nhà tu.

Nếu chúng ta ném một cái nhìn thoáng sang vùng bờ biển Tiểu Á, trong những thế kỷ ngay trước thời kỳ rực rỡ của sinh hoạt trí thức Greece, những thuộc địa của vùng đảo Ionia, với vô số thành phố quan trọng của họ, nổi tiếng về sự giàu có và thịnh vượng vật chất, cũng như về nhạy cảm nghệ thuật và tinh tế của đời sống. Những liên minh thương mại và chính trị, và sự háo hức về kiến ​​thức ngày càng tăng, dẫn những cư dân ở Miletos và Ephesos thực hiện những chuyến đi dài, đưa họ vào sự giao thoa nhiều lớp với những tình cảm và ý kiến ​​xa lạ của những dân nước ngoài, và nâng cao thêm hơn một giới quý tộc suy tưởng tự do trên khỏi thị kiến của giới quần chúng hạn hẹp hơn. Một sự thịnh vượng ban đầu tương tự đã được những thuộc địa nói tiếng Doric của Sicily và Magna Graecia. [8] Trong những trường hợp này, chúng ta có thể giả định một cách an toàn rằng, rất lâu trước sự xuất hiện của những nhà triết học, một khái niệm tự do hơn và khai sáng hơn hơn về vũ trụ đã lan rộng giữa những tầng lớp cao hơn của xã hội.

Chính trong những nhóm này, gồm những con ngườivgiàu có, nổi tiếng, với một kinh nghiệm rộng rãi có được từ đi thăm những đất nước ngoài, khiến triết học đã nảy sinh. Thales, Anaximander, Herakleitos, Empedokles đã chiếm một vị trí nổi bật trong số những đồng hương của họ, và không có gì phải ngạc nhiên rằng không ai nghĩ đến việc đưa họ vào giải thích cho những ý kiến ​​của họ. Thử thách cực nhọc này, đó là sự thật, họ đã phải trải qua, mặc dù muộn hơn nhiều sau đó; vì trong thế kỷ trước, câu hỏi về thuyết không-tin-có-gót của Thales đã được giải quyết một cách háo hức trong những chuyên khảo đặc biệt. [9] Nếu chúng ta so sánh, về mặt này, những nhà triết học Iona của thế kỷ thứ 6 với nhà triết học Athens của thế kỷ thứ 5 và thứ 4, chúng ta sẽ ngay lập tức được nhắc nhở về sự tương phản giữa phong trào hoài nghi ở England của thế kỷ thứ 17, và ở France của thế kỷ 18. Trong một trường hợp, không ai nghĩ đến việc lôi kéo mọi người vào cuộc chiến của những ý kiến [10] ; trong trường hợp khác, phong trào đã là một vũ khí, chủ nghĩa cuồng tín sẽ bị tấn công với nó.
                                                                                                                                      
Song hành với phong trào trí thức này tiến hành giữa những người Ionia, là sự nghiên cứu về toán học và khoa học tự nhiên. Thales, Anaximander và Anaximenes tự bận rộn với những vấn đề đặc biệt của thiên văn học, cũng như với sự giải thích về vũ trụ; và Pythagoras đã cấy trồng khẩu vị cho thăm dò toán học và vật lý với những thuộc địa về phía tây của dân chúng nói tiếng Doric. Thực tế là, ở phần phía đông của thế giới Greece, nơi giao thoa với Egypt, Phoenicia, Persia, hoạt động mạnh mẽ nhất, phong trào khoa học đã bắt đầu, nói lên nhiều hơn về ảnh hưởng quyết định của văn hóa phương Đông đối với văn hóa Greece hơn là những truyền thống thần kỳ về du hành và nghiên cứu của những nhà triết học Greece. [11] Ý tưởng về một sự độc đáo nguyên thủy tuyệt đối của văn hóa Hellas có thể được biện minh nếu bằng điều này, chúng ta muốn nói đến tính nguyên thủy của hình thức, và biện luận về tính chất ẩn dấu của những gốc rễ của nó với sự toàn hảo của bông hoa. Tuy nhiên, nó sẽ trở nên ảo tưởng nếu chúng ta nhấn mạnh vào những kết quả tiêu cực của sự phê bình về những truyền thống đặc biệt, và gạt bỏ những kết nối đó và ảnh hưởng đó, mặc dù những nguồn thông thường của lịch sử làm chúng ta thất vọng, chúng đều rõ ràng được đề nghị bởi một quan điểm về hoàn cảnh. Những quan hệ chính trị, và trên hết, thương mại, phải nhất thiết là nguyên nhân khiến kiến ​​thức, những tình cảm và những ý tưởng tuôn chảy trong nhiều lối từ dân tộc này sang dân tộc khác; và nếu như lời của Schiller nói, “Euch, ihr Götter, gehört der Kaufmann’ (‘Ngài, Ôi Gót, thuộc về thương nhân), thì thực sự là con người, và do đó, có giá trị trong mọi thời, nhiều của một giao tiếp hai chiều muộn hơn sau đó sẽ nối kết với nhau bởi huyền thoại, với một số tên gọi nổi tiếng, những người thực sự mang tên đó đã vĩnh viễn bị mất trong trí nhớ loài người.

Chắc chắn rằng phương Đông,[12] trong lĩnh vực thiên văn học và đo lường thời gian, đã đi trước người Greece. Người phương Đông cũng vậy, sở hữu kiến ​​thức và kỹ năng toán học vào thời điểm mà không ai nghĩ đến những sự vật việc như vậy ở Greece; mặc dù chính trong lĩnh vực toán học này, người Greece đã như được định sẵn để vượt qua tất cả những quốc gia của thời cổ.

Với sự tự do và sự táo bạo của não thức Greece đã hợp nhất một khả năng bẩm sinh để đưa ra những suy diễn, để nói ra những mệnh đề tổng quát rõ ràng và sắc bén, để giữ vững chặt và chắc chắn vào những tiền đề của một thăm dò, điều tra, và để sắp xếp rõ ràng và sáng sủa những kết quả; nói vắn tắt, quà tặng của suy luận khoa học, diễn dịch [13]

Trong thời chúng ta, đặc biệt giữa những người England kể từ thời Bacon, đã trở thành thời thượng, để giảm giá trị của suy luận diễn dịch. Whewell, trong quyển Lịch Sử Những Khoa Học Quy Nạp nổi tiếng của ông [14], thì bất công không ngừng với những nhà triết học Greece, và đáng ghi nhận với trường phái Aristotle. Ông bàn luận trong một chương đặc biệt về những nguyên nhân của những gì ông xem là thất bại của họ, liên tục áp dụng cho họ tiêu chuẩn của thời chúng ta và lập trường khoa học hiện đại của chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta phải nhấn mạnh rằng một việc lớn phải được thực hiện trước khi sự tích lũy không phê phán của những quan sát và truyền thống có thể được chuyển đổi vào trong phương pháp hiệu quả của chúng ta về thí nghiệm. Một trường phái suy nghĩ mạnh bạo đã trước tiên xuất hiện, trong đó con người đã hài lòng để gạt bỏ, như không cần thiết, những tiền đề, cho việc đạt được đối tượng gần đúng của họ. Trường phái này được những người Greece thành lập, và chính họ là người đã cho chúng ta, trong lâu dài, nền tảng thiết yếu nhất của những tiến trình suy diễn, những nguyên lý cỏ bản của toán học và những nguyên tắc của lôgích hình thức.[15] Sự đảo ngược rõ ràng của trật tự tự nhiên, trong thực tế là nhân loại đã học để diễn dịch đúng, trước khi họ đã học để tìm ra những điểm bắt đầu đúng, từ đó để lý luận, có thể được xem là thực sự tự nhiên chỉ từ một khảo sát tâm lý về toàn bộ lịch sử của tư tưởng.

Dĩ nhiên, suy đoán về vũ trụ và những sự quan hệ bên trong của nó, không giống như thăm dò toán học, đã không có thể đạt được những kết quả có giá trị vĩnh viễn: vô số những nỗ lực vô ích tr phải đã ước tiên làm lung lay sự tin tưởng vốn người đã mạo hiểm trên đại dương này có với nó, trước khi sự phê bình triết học có thể thành công trong việc chỉ ra rõ ràng như thế nào – những gì xem có vẻ như cùng một phương pháp, đã đem lại nguyên nhân tiến bộ chắc chắn trong một trường hợp, và trong trường hợp khác chỉ là bịt mắt trong khi khua đập vào bụi rậm.[16] Tuy nhiên, ngay cả trong một vài thế kỷ vừa qua, không có gì đã đóng góp nhiều như thế để dẫn đạo triết học, vốn đã phá vỡ cái ách của học thuật Kinh viện, vò trong những phiêu lưu siêu hình mới, khi có sự say sưa gây bởi những tiến bộ đáng kinh ngạc của toán học trong thế kỷ 17. Dĩ nhiên, ở đây cũng vậy, sai lầm lại đẩy thêm xa sự tiến bộ của văn hóa; đối với những hệ thống của Descartes, Spinoza và Leibniz, không chỉ đã mang theo chúng nhiều những kích động để suy nghĩ và tìm hiểu, mà chính những hệ thống này đã thực sự thế chỗ của học thuật Kinh Viện, vốn đã xụp đổ vì sự kết án của phê bình, và từ đó mở đường cho một khái niệm vững chắc hơn về thế giới.

Tuy nhiên, ở Greece, con người một lần đã thành công trong việc giải thoát thị kiến khỏi màn sương của sự kỳ diệu, và trong việc chuyển nghiên cứu của họ về thế giới từ vùng đất thần thoại choáng ngợp mắt của những ý tưởng tôn giáo và thi ca sang lĩnh vực của lý trí và của lý thuyết tỉnh táo. Điều này, tuy nhiên, đầu tiên, chỉ có thể được thực hiện bằng những phương tiện của chủ nghĩa Duy vật; vì những sự vật việc bên ngoài nằm gần với ý thức tự nhiên hơn với ‘Ego’, và ngay cả Tự ngã, trong những ý tưởng của những dân tộc sơ khai, thì kết nối với cơ thể hơn là với Hồn người, bóng tối lờ mờ không rõ, sản phẩm của những giấc ngủ say và những chợt tỉnh dậy, rằng chúng giả định phải cư ngụ trong cơ thể [17]

Mệnh đề được Voltaire thừa nhận, cay đắng phản đối khi ông, trong trường hợp khác, đã là của chủ nghĩa Duy vật, “tôi là một cơ thể, và tôi suy nghĩ”, sẽ có thể gặp được sự đồng ý của những nhà triết học Greece trước đó. Khi con người bắt đầu ngưỡng mộ đồ án phác họa trong vũ trụ và những bộ phận cấu thành của nó, đặc biệt là trong lĩnh vực hữu cơ, đã là một đại diện đến sau của triết học tự nhiên Iona, Diogenes người xứ Apollonia, người đã xác định lý do vốn điều chỉnh thế giới với vật chất đầu tiên. Không khí.

Nếu vật chất này được quan niệm như có cảm xúc và những cảm giác của nó được giả định để trở thành những suy nghĩ bằng những phương cách của sự phức tạp và chuyển động ngày càng phức tạp của vật chất đó, một học thuyết Duy vật cường tráng có thể đã được phát triển theo hướng này; có lẽ là một học thuyết bền vững hơn so với học thuyết của những nhà Atômmít. Nhưng lý trí-vật chất của Diogenes thì biết hết tất cả; và do đó, câu đố cuối cùng của thế giới về những gì xuất hiện bên ngoài, thì một lần nữa lại ở khởi đầu vô cùng rối rắm đến tuyệt vọng. [18]

Những nhà Atômmít đã phá vỡ qua vòng tròn của ngụy biện petitio principii này [19] trong việc sửa chữa yếu tính của vật chất. Trong số tất cả những thuộc tính của sự vật, họ chỉ gán cho vật chất một gì đơn giản nhất và những gì thiết yếu, không thể thiếu, cho sự trình bày của một gì đó trong thời gian và không gian, và nỗ lực đã từ chỉ những điều này để phát triển toàn bộ mớ kết tập của những hiện tượng. Trong phương diện này, Những triết gia phái Elea [20], có thể là đã, sửa soạn những đường đi cho họ, rằng họ đã phân biệt vật chất tồn tại dai dẳng vốn chỉ được biết trong suy nghĩ như sự tồn tại thực sự duy nhất đối với ​​sự thay đổi lừa dối của những gì xuất hiện cảm nhận được; và việc nhắc nhở đến tất cả những phẩm tính cảm giác đối với cách thức của sự kết hợp của những atom có thể đã từng được những triết gia phái Pythagore sửa soạn, những người đã nhận ra bản chất của sự vật việc trong con số, nghĩa là, nguyên thủy trong những quan hệ số lượng cố định của hình thức trong những cơ thể. Trong tất cả những sự kiện, những nhà Atômmít đã đưa ra quan niệm đầu tiên hoàn toàn rõ ràng về những gì được hiểu như vật chất hay những gì là lớp dưới nền tảng [21] của tất cả những hiện tượng. Với sự ra đời của khái niệm này. chủ nghĩa Duy vật đã đưng lên hoàn thành như là lý thuyết hệ quả và hoàn toàn rõ ràng đầu tiên của tất cả những hiện tượng.

Bước này đã là cũng táo bạo và can đảm như đã là chính xác về phương pháp; vì cho đến khi nào con người đã bắt đầu tất cả từ những đối tượng bên ngoài của thế giới hiện tượng, đây là cách duy nhất của sự giải thích sự bí ẩn khúc mắc từ sự đơn sơ ngay thẳng, sự phức tạp từ sự đơn giản, và sự không biết từ sự đã biết; và ngay cả sự không đây đủ của mọi lý thuyết cơ học về thế giới chỉ có thể xuất hiện theo lối này, bởi vì đây đã là lối duy nhất trong đó một giải thích thấu đáo có thể đạt được  bao giờ.

Với một vài người vĩ đại của thời thời cổ, lịch sử có thể giải quyết một cách quá khinh miệt như với Demokritos. Trong bức tranh đã bóp méo của truyền thống thiếu khoa học, hầu như không có gì của ông xuất hiện, ngoại trừ tên gọi là ‘triết gia cười’ [22], trong khi những nhân vật so có phần kém quan trọng hơn, lại chính họ được mở rộng dài dòng. Như thế, chúng ta càng phải ngưỡng mộ sự thẳng thắn và tế nhị vốn Bacon, thông thường không có anh hùng vĩ đại trong lịch sử của học tập, đã chọn đúng Demokritos ra trong số tất cả những triết gia của thời cổ, và trao cho Demokritos sự thượng thặng với sự điều tra thực sự, trong khi ông coi Aristotle, thần tượng triết học thời Trung Cổ, chỉ như là những người khởi xướng của một sự xuất hiện bên ngoài gây hại của kiến ​​thức, đã gọi sai lầm như thế... và của một triết lý trống rỗng của những ngôn từ. Bacon có thể đã không công bằng với Aristotle, bởi vì ông đã thiếu xót trong ý hướng lịch sử đó, ngay cả giữa những sai lầm thô thiển, vốn nhận ra sự chuyển dịch không thể tránh khỏi đến một sự thấu hiểu sâu xa hơn về sự thật. Ở Demokritos, ông đã tìm thấy một tinh thần thân thích, và phán đoán ông, qua khoảng cách hai nghìn năm, nhiều phần giống một người cùng thời với ông. Thực sự, ngay sau Bacon, và trong chính hình thức vốn Epikuros đã đem cho nó, Thuyết atom đã trở thành nền tảng của khoa học tự nhiên hiện đại.

Demokritos là một công dân của thuộc địa Abdera của Ionia trên bờ biển Thracia. Những Abdera đã đã chưa có được danh tiếng của những người ‘Gothamites’ [23] vốn họ nhận hưởng trong những thời cổ điển sau này. Thành phố thương mại thịnh thì vượng giàu có và văn hóa: Cha của Demokritos là một người giàu có khác thường; Hầu như không có chỗ để nghi ngờ rằng người con trai rất có năng khiếu này đã được hưởng một nền giáo dục thượng thặng, ngay cả khi không có nền tảng lịch sử nào cho câu chuyện rằng ông được những người Magi thông thái của Persia nuôi dạy [24].

Demokritos dường như đã tiêu hết toàn bộ gia sản thừa hưởng của ông trong ‘chuyến đi lớn’, vốn lòng nhiệt thành với kiến ​​thức của ông đối đã đưa dẫn ông vào thực hiện. Trở về tay trắng, ông đã được người anh bảo trợ, nhưng chẳng bao lâu, nhờ những tiên đoán thành công của ông trong lĩnh vực triết học tự nhiên, ông đã nổi tiếng là một người người thông thái và có tài năng thần kỳ [25]. Cuối cùng, ông đã viết tác phẩm lớn của ông, ‘Diakosmos’, –  công chúng đọc nó và được thành phố quê hương ông thưởng một quà tặng là một trăm, theo những người khác là năm trăm, đồng tiền talent, và dựng những cột đá kỷ niệm.

Năm Demokritos mất thì không được biết chắc chắn, nhưng có một nhìn nhận chung rằng ông sống đến tuổi rất già, và đã chết trong vui vẻ và không đau đớn.

Một số lượng lớn những câu nói và giai thoại được kết nối với tên ông, mặc dù phần lớn trong số chúng không có ý nghĩa đặc biệt nào với tính cách của con người vốn chúng kể lại về người đó. Đặc biệt là điều này thì như thế về những gì đó phản ngược sắc bén ông như nhà triết học ‘cười’ với Herakleitos như nhà triết học ‘khóc’, vì họ thấy không gì ở ông ngoài con người bỡn cợt vui vẻ về những điên dại của thế giới, và người chủ trương một triết lý, với không đánh mất chính nó trong những thâm thúy, nhìn mọi sự vật việc từ mặt tốt đẹp. Ít có liên quan là những câu chuyện trình bày ông như một Polyhistor – nhà Thông thái – hay ngay cả là người nắm giữ những học thuyết huyền bí và bí mật. Những gì trong trong đông đảo của những kể lại mâu thuẫn như về con người của ông thì có điều chắc chắn nhất là toàn thể đời ông đã dành cho những nghiên cứu khoa học, vốn chúng đã cũng là nghiêm trang và lôgích như chúng đã là rộng rãi. Người sưu tầm những mảnh ghi chép rải rác, vốn chúng là tất cả những gì của vô số những tác phẩm của ông nay còn lại với chúng ta, coi ông như chiếm giữ vị trí hàng đầu về thiên tài và kiến ​​thức trong số tất cả những nhà triết học thời trước khi ông ra đời, và đi xa đến mức phỏng đoán rằng người con của thành Stagira [26] đã phần lớn là nhờ vào một nghiên cứu của những tác phẩm của Demokritos cho sự đầy đủ của kiến ​​thức vốn chúng ta ngưỡng mộ ở ông.[27]

Điều có ý nghĩa quan trọng rằng một con người với những thành tựu sâu rộng như vậy đã nói rằng, “chúng ta nên cố gắng không phải vì sự đầy đủ của kiến thức, nhưng sự đầy đủ của hiểu biết” [28] và chỗ ông nói, với tự mãn có thể tha thứ, về những thành tựu của ông, ông không dựa vào số lượng và sự đa dạng của những bài viết của ông, nhưng ông tự hào về sự quan sát cá nhân của ông, về sự giao tiếp của ông với những người con người học thức khác, và về phương pháp toán học của ông. “Giữa tất cả những người cùng thời với tôi’, ông nói, “tôi đã đi qua phần lớn nhất của trái đất để tìm kiếm những sự vật việc xa xôi nhất, và đã nhìn thấy nhiều nhất những khí hậu và quốc gia, đã nghe con số lớn nhất của những nhà tư tưởng, và không ai đã xuất sắc hơn tôi trong việc vẽ [29] và chứng minh hình học – ngay cả những nhà địa lý học Egypt, những người mà tôi đã dành cả 5 năm với tư cách là một người khách.[30]

Trong số những hoàn cảnh đã khiến Demokritos rơi sâu vào quên lãng, nên không để không nhắc về mong muốn với tham vọng và sự chán ghét của ông dành cho sự thảo luận biện chứng. Ông được cho là đã ở Athens nhưng không làm mình được biết đến với một trong những triết gia của nó. Trong số những câu cách ngôn đạo đức của ông, chúng ta thấy câu sau: “Ai là người là người ưa thích sự mâu thuẫn và nói lắm lời thì không có khả năng để học được bất cứ gì vốn là đúng”.

Một tính khí như vậy rất ít phù hợp với thành phố của những Sôphít, và chắc chắn không với sự quen biết của một Sokrates hay một Plato, vốn có toàn bộ triết lý được phát triển trong trò chơi-chữ biện chứng. Demokritos đã không thành lập trường phái nào.

Những lời ông nói, xem có vẻ, thì háo hức được sao chép lại hơn là sao chép cẩn thận (từ nguyên gốc); và toàn bộ triết lý của ông cuối cùng đã được Epikuros tiếp thu. Aristotle nhắc nhở đến ông thường xuyên với sự tôn trọng; nhưng phần lớn ông trích dẫn Demokritos, chỉ khi ông tấn công Demokritos, và điều này ông không bao giờ làm với sự khách quan và công bằng phù hợp [31]. Bao nhiêu lần ông vay mượn Demokritos nhưng không kể tên Demokritos? chúng ta không biết. Plato không nói về ông ở đâu cả, mặc dù đó là vấn đề còn tranh luận, ở một số nơi, không biết liệu ông đã không lên tiếng phản bác những ý kiến ​​của Epikuros nhưng không nhắc nhở đến tên Epikuros. Do đó, có thể, câu chuyện mà Plato sự lòng nhiệt thành cuồng tín sẽ thích mua hết và đốt tất cả những tác phẩm của Demokritos. [32]

Trong thời hiện đại, Ritter, trong quyển ‘Lịch sử Triết học’ của ông, đã bỏ qua nhiều hiềm thù đầy ác ý chống-vật chất dự trên trí nhớ của Demokritos; và do đó chúng ta có thể vui mừng hơn trước sự nhìn nhận im lặng của Brandis và sự bảo vệ xuất sắc và thuyết phục của Zeller; vì Demokritos phải, trong sự  thực, nằm trong số những nhà tư tưởng  vĩ đại của thời cổ, được đánh với số thứ hạng lớn nhất.

Về phần những học thuyết của Demokritos, chúng ta, thực sự, được thông tin tốt hơn chúng ta về phần những quan điểm của nhiều triết gia mà những tác phẩm của họ đã đến với chúng ta trong số lương đầy đủ lớn hơn. Điều này có thể được gán cho sự rõ ràng và liên tục dễ hiểu [33] của lý thuyết về thế giới của ông, cho phép chúng ta thêm vào một cách dễ dàng nhất những mảnh nhỏ nhất cho toàn bộ. Cốt lõi của nó là thuyết Atom, mặc dù không phải do ông phát minh ra, qua ông chắc chắn đã đạt đến sự phát triển đầy đủ đầu tiên của nó. Sau đó, chúng ta sẽ chứng minh trong tiến trình lịch sử chủ nghĩa Duy vật của chúng ta, rằng lý thuyết atom hiện đại đã dần được phát triển từ thuyết Atom của Demokritos. Chúng ta có thể coi những mệnh đề sau đây là những nền tảng thiết yếu của siêu hình học của Demokritos.

 I. Từ không-gì nổi lên không-gì; không-gì vốn là-có thì có thể bị phá hủy. Tất cả sự thay đổi chỉ là sự kết hợp và sự phân tách của những atom. [34]

Mệnh đề này, trong nguyên lý, nó chứa hai học thuyết lớn của vật lý hiện đại – lý thuyết về tính không thể phá hủy của vật chất và về sự bền bỉ của lực (sự bảo tồn năng lượng) – xuất hiện chủ yếu ở Kant như là ‘phép loại suy của kinh nghiệm’ đầu tiên: “Trong tất cả những thay đổi của những hiện tượng, vật chất thì vĩnh cửu, và số lượng của nó trong tự nhiên thì không tăng cũng không giảm”. Kant thấy rằng tất cả mọi thời, không chỉ trong triết gia, nhưng ngay cả trong phán đoán với kiến thức thông thường, đều đã giả định trước sự vĩnh cửu của vật chất.  Học thuyết tuyên xưng một tính hợp lệ của tiên đề tự nó đúng như một giả định trước cần thiết của bất kỳ kinh nghiệm được quy định nào chăng nữa, và thế nhưng nó có lịch sử của nó! Trong thực tế, đối với người con người tự nhiên, trong người có tưởng tượng vẫn lấn át suy nghĩ lôgích, không có gì quen thuộc hơn ý tưởng về nguồn gốc và sự biến mất, và sự sáng tạo ‘từ không-gì’ trong giáo điều đạo Kitô, thì hiếm khi từng là vật chướng ngại, hay hoàn cảnh gây khó khăn đầu tiên cho sự thức tỉnh của chủ nghĩa hoài nghi.

Với triết học, tiên đề về tính không thể phá hủy của vật chất, dĩ nhiên, đi đến phía trước, mặc dù lúc đầu, nó có thể là một chút che giấu. Sự ‘vô hạn’ (ἄπειρον) của Anaximander [35], từ đó mọi sự vật việc tiến hành, ngọn lửa nguyên thủy thiêng liêng của Herakleitos, vốn trong nó trở lại thế giới thay đổi, để tiến hành từ đó tươi mới lần nữa trở lại, là những hiện thân của vật chất dai dẳng. Parmenides của thành Elea là người đầu tiên phủ nhận tất cả trở thành và diệt vong. Sự hiện hữu thực sự đối với những triết gia phái Elea là cái duy nhất ‘Tất Cả’, một hình cầu hoàn hảo, trong đó không có thay đổi cũng không có chuyển động; tất cả sự thay đổi chỉ là những hiện tượng. Nhưng ở đây nảy lên một mâu thuẫn giữa gì thấy-bên-ngoài và gì là-có [36], mặc dù với nó. triết học thì không thể duy trì được. Việc duy trì một phía của tiên đề một đã làm tổn hại phía kia của tiên đề: ‘Không gì thì không có nguyên nhân’. Khi đó, , từ sự là-có không thay đổi như vậy có thể phát sinh những hiện tượng thấy-bên-ngoài như thế nào? Với điều này đã được thêm vào sự phủ nhận phi lý của chuyển động, dĩ nhiên, vốn điều này đã dẫn đến vô số những tranh luận về từ ngữ, và do đó đã thêm vào sự phát triển của Biện chứng. Empedokles và Anaxagoras loại bỏ sự phi lý này, cho đến mức họ dẫn dịch tất cả sự trở thành và sự diệt vong về sự kết hợp và sự tách biệt. Đầu tiên, chỉ bằng phương tiện của thuyết Atom là tư tưởng này đã được thể hiện đầy đủ, và đã làm thành nền tảng của một lý thuyết cơ học thuần túy về vũ trụ; và nó đã là tất yếu thêm nữa để mang vào trong kết nối tiên đề về sự tất yếu của mọi sự vật việc xảy ra.

II. “Không gì xảy ra bởi ngẫu nhiên, nhưng tất cả mọi sự vật việc qua một nguyên nhân và của sự tất yếu!’ [37]

Mệnh đề này, theo một truyền thống đáng ngờ, đã do Leukippos chủ trương từ trước, phải được xem là một sự phủ định quyết định của tất cả những thuyết cứu cánh, vì ‘nguyên nhân’(λόγος) thì không gì khác ngoài việc những atom tuân theo định luật cơ học-toán học trong chuyển động của chúng qua một tất yếu vô điều kiện. Do đó, Aristotle phàn nàn nhiều lần rằng Demokritos, sau khi bỏ qua những nguyên nhân theo cứu cánh, đã giải thích mọi sự vật việc bằng sự tất yếu của tự nhiên. Đây chính xác là những gì Bacon ca ngợi mạnh mẽ nhất trong quyển sách của ông về ‘Sự tiến bộ trong Học hỏi’, trong đó, ở khía cạnh khác, ông thận trọng kiềm chế sự không thích của ông với hệ thống Aristotle (lib. Iii. C. 4).

Do đó, sự phủ nhận chân thực theo duy vật này về những cứu cánh cuối cùng, chúng ta thấy, trong trường hợp của Demokritos, đã dẫn đến cùng những hiểu lầm tương tự, trong thời của chúng ta, khiến chủ nghĩa Duy vật tìm thấy ưu thế ở hầu hết mọi nơi – đến sự khiển trách rằng ông đã tin vào một ngẫu nhiên mù lòa. Mặc dù không có sự nhầm lẫn nào phổ biến hơn, không gì có thể là hoàn toàn trái ngược hơn ngẫu nhiên và tất yếu; và giải thích nằm ở chỗ này, rằng khái niệm tất yếu thì hoàn toàn xác định và tuyệt đối, trong khi khái niệm về ngẫu nhiên thì tương đối và di dịch dao động.

Khi một viên gạch rơi xuống đầu một người, khi người này đang đi trên đường, đây được xem là một tai nạn; nhưng không ai nghi ngờ rằng hướng của gió, luật của trọng lực, và những hoàn cảnh tự nhiên khác, đã xác định đầy đủ biến cố, do đó, nó tuân theo một tất yếu vật lý, và thực sự, cũng từ một sự tất yếu vật lý, nó phải đập vào đầu một ai bất kỳ vào thời điểm cụ thể đã xảy ra là ở đúng vị trí cụ thể.

Thí dụ này cho thấy rõ rằng sự giả định về cơ hội ngẫu nhiên thì chỉ một phủ nhận một phần của nguyên nhân cuối cùng. Sự sụp đổ của hòn đá, theo quan điểm của chúng ta, có thể không có lý do duy lý nào, nếu chúng ta gọi nó là một tai nạn.



Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ nhất

(Feb/2019)


[1] Dịch theo bản in lại của Routledge:
The History of Materialism and Criticism of Its Present Importance,
nxb: NewYork, NY: Routledge and Kegan Paul (2010)

Những chú thich để trong [ … ] lấy từ bản dịch tiếng England (Ernest Chester Thomas)
Những chú thích khác (với sai lầm nếu có) là của tôi. Mục đích là mong giúp những người đọc, không chuyên môn, hiểu được ý ‘nôm na’ của tác giả.
Có thể tìm được bản online để đọc ở đây:
hay

[2] Personification
[3] [My first sentence, which has been sometimes misunderstood, is directed, on the one hand, against the despisers of Materialism, who find in this view of the universe an absolute contradiction of all philosophical thought, and deny it the possession of any scientific importance; and. on the other hand, against those Materialists who, in their turn, despise all philosophy, and imagine that their views are in no way a product of philosophical speculation, but are a pure result of experience, of sound common sense, and of the physical sciences. It might, per haps, have been more simply maintained that the first attempt at a philosophy at all amongst the Ionic physicists was Materialism ; but the consideration of a long period of development, reaching from the first hesitating and imperfect systems down to the rigidly consistent and calmly reasoned Materialism of Demokritos, shows us that Materialism can only be numbered “amongst the earliest attempts.” Indeed, unless we identify it with Hylozoism and Pantheism, Materialism only becomes a complete system when matter is conceived as purely material—that is, when its constituent particles are not a sort of thinking matter, but physical bodies, which are moved in obedience to merely physical principles, and being in themselves without sensations, produce sensation and thought by particular forms of their combinations. And thorough – going Materialism seems always necessarily to be Atomism, since it is scarcely possible to explain whatever happens out of matter clearly and without any mixture of supersensuous qualities and forces, unless we resolve matter into small atoms and empty space for them to move in. The distinction, in fact, between the soul-atoms and the warm air of Diogenes of Apollonia, despite all their superficial similarity, is of quite fundamental importance. The latter is an absolute Reason-stuff {Vernunftstoff); it is capable in itself of sensation, and its movements, such as they are, are due to its rationality, Demokritos’ soul-atoms move, like all other atoms, according to purely mechanical principles, and produce the phenomenon of thinking beings only in a special combination mechanically brought about. And so, again, the “animated magnet” of Thales harmonises exactly with the expression irävra irXripv 6eQ>v, and yet is at botorn clearly to be distinguished from the way in which the Atomists at tempt to explain the attraction of iron by the magnet.]
[4] Nhất quán
[5] Những thi hào, triết gia lỗi lạc của Germany: Johann Wolfgang von Goethe (1749-1832), Friedrich Wilhelm Joseph Schelling (1775-1854), Johann Gottfried Herder (1744-1903), Gotthold Ephraim Lessing (1729-1781)
[6] [In view of the completely opposite account of Zeller (Phil. d. Griechen, i. S. 44 ff. 3 Aufl. ), it may be proper to remark, that we may assent to the proposition, “The Greeks had no hierarchy, and no infallible system of dogmas,” without needing to modify the representation in the text.
….
And yet, of all the Greek efforts towards unity, those of a hierarchic and theocratical tendency were perhaps the most important; and we may certainly consider, for example, the position of the priesthood of Delphi as no insignificant exception to the rule that the priestly office conferred “ incomparably more veneration than power.” (Comp. Curtius, Griech, Gesch., i. p. 451; Hist, of Gr., E. T., ii. 12, in connection with the elucidations of Gerhard, Stephani, “Welcker, and others as to the share of the theologians of Delphi in the extension of Bacchusworship and the mysteries.) If there was in Greece no priestly caste, and no exclusive priestly order, there were at least priestly families, whose hereditary rights were preserved with the most inviolable legitimism, and which belonged, as a rule, to the highest aristocracy, and were able to maintain their position for centuries. How great was the importance of the Eleusinian mysteries at Athens, and how closely were these connected with the families of the Eumolpidse, the Kerykes, the Phyllidse, and so on! (Comp. Hermann, Gottesd. Alterth., S. 31, A. 21; Schomann, Griech. Alterth., ii. S. 340, u. f. 2 Aufl.) As to the political influence of these families, the fall of Alkibiades affords the clearest elucidation, although in trials which bring into play high -church and aristocratic influences in connection with the religious fervour of the masses, the individual threads of the network are apt to escape observation. As to orthodoxy, this must indeed not be taken to imply a scholastic and organised system of doctrines. Such a system might perhaps have arisen if the Theocrasy of the Delphic theologians and of the mysteries had not come too late to prevent the spread of philosophic rationalism amongst the aristocratic and educated classes. And so men remained content with the mystery-worships, which allowed every man on all other points to think as he pleased. But all the more inviolable remained the general belief in the sanctity and importance of these particular gods, these forms of worship, these particular sacred words and usages, so that here nothing was left to the individual, and all doubt, all attempts at unauthorised changes, all casual discussion, remained forbidden. There was, however, without doubt, even with regard to the mythical traditions, a great difference between the freedom of the poets and the strictness of the local priestly tradition, which was closely connected with the cultus. A people which met with different gods in every city, possessed of different attributes, as well as a different genealogy and mythology, without having its belief in its own sacred traditions shaken thereby, must with proportionate ease have permitted its j)oets to deal at their own pleasure with the common mythical material of the national literature; and yet, if liberties thus taken appeared in the least to contain a direct or indirect attack upon the traditions of the local divinities, the poet, no less than the philosopher, ran into danger. The series of philosophers named in the text as having been persecuted in Athens alone might easily be enlarged; for example, by Stilpo and Theophrastos (Meier u. Schomann, Att. Prozess, S, 303, u. f.). There might be added poets like Diagoras of Melos, on whose head a price was set; Aeschylos, who incurred the risk of his life for an alleged violation of the mysteries, and was only acquitted by the Areopagus in consideration of his great services; Euripides, who was threatened with an indictment for atheism, and others. How closely tolerance and intolerance bordered upon each other in the minds of the Athenians is best seen in a passage from the speech against Andokides (which, according to Blass, Att. Beredsamkeit, S. 566 ff., is not really by Lysias, although it is a genuine speech in those proceedings). There it is urged that Diagoras of Melos had only outraged (as a foreigner) the religion of strangers, but Andokides had insulted that of his own city; and we must, of course, be more angry with our fellow-countrymen than with strangers, because the latter have not transgressed against their own gods. This subjective excuse must have issued in an objective acquittal, unless the sacrilege was especially directed against the Athenian, and not against a foreign religion. From the same speech we see further, that the family of the Eumolpidse was authorised, under certain circumstances, to pass judgment against religious offenders according to a secret code whose author was entirely unknown. (That this happened under the presidency of the King Arch on — comp. Meier u. Schomann, S. 117, u. f. — is for our purpose unimportant.) That the thoroughly conservative Aristophanes could make a jest of the gods, and even direct the bitterest mockery against the growing superstition, rests upon entirely different grounds; and that Epikuros was never persecuted is of course explained simply by his decided participation in all the external religious ceremonies. The political tendency of many of these accusations establishes rather than disproves their foundation in religious fanaticism. If the reproach of dcr^^eta was one of the most effectual means of overthrowing even popular statesmen, not the letter of the law only, but the passionate religious zeal of the masses must obviously have existed; and accordingly, we must regard as inadequate the view of the relation of church and state in Schomann, Griech. Alterth., i. S. 117, 3 Aufl., as well as many of the points in Zeller’s treatment of the question above referred to. And that the persecutions were not always in connection with ceremonies, but often had direct reference to doctrine and belief, appears to be quite clearly proved by the majority of the accusations against the philosophers. But if we reflect upon the by no means small number of cases of which we hear in a single city and in a comparatively short space of time, and upon the extreme peril which they involved, it will scarcely appear right to say that philosophy was attacked “in a few only of its representatives.” We have still rather seriously to inquire, as again in the modern philosophy of the seventeenth, eighteenth (and nineteenth?) centuries, How far the influence of conscious or unconscious accommodation to popular beliefs beneath the pressure of threatening persecution has left its mark upon the systems themselves? ]
[7] Tôi tạm giữ nguyên những tên người như trong nguyên bản (Germany) – td: Sokrates = Socates; Demokritos = Democritus; những tên đất, nước sẽ theo bản tiếng England.
[8] Một phương ngữ của tiếng Greek thời cổ, trong vùng Peloponnesus, đảo Crete, số đảo Aegean, Sicily, và miền nam Italy.
[9] [Comp. Zeller, i. S. 176, Anm. 2,]
[10] [Comp. Buckle, History of Civilization, i. 497 sqq.]
[11] [Compare the lengthy refutation of the views as to the rise of Greek philosophy from Oriental speculation in Zeller, i. S. 20 ff., 3 Aufl., and the concise but very careful discussion of the same question in Ueberweg, i., 4 Aufl., S. 32, E. T. 31. The criticism of Zeller and others has for ever dis placed the cruder views that the East; taught philosophy to the Greeks; on the other hand, the remarks of Zeller (S. 23 ff.) as to the influence of the know common Indo-Germanic descent, and the continual influence of neighbourhood, may well gain an increased significance with the progress of Oriental studies….]
[12] Ở đây, phương Đông – là vùng Mesopotamia + Egypt, gọi là vùng ‘lưỡi liềm’ (The Fertile Crescent)..
[13] deduction
[14] Whewell, William (1794-1866).
[15] [Although the modern Aristotelians are so far right that the essen tial feature of the Aristotelian Logic, from its author’s standpoint, is not metathe Formal Logic, hut the logico-meta physical Theory of Knowledge. At the same time, he has also left us certain elements of Formal Logic, of course only collected and developed by him, which, as I hope to show in a later work, have a merely external connection with the principle of his Notion, and frequently, indeed, con tradict it. …]
[16] [Compare the formulation of the same problem in Kant, Kritik d. rein, Vera. Einl., especially the passage iii. S. 38, Hartenstein. A full discussion of the questions of method will be found in the Second Book.]
[17] [Comp, the article “Seelenlehre” in the Encyc. des Ges. Erziehungs corpound Unterrichtswesens, Bd. viii. S. 594.]
[18] [Comp. Note 1. Details as to Diogenes of Apollonia in Zeller, i. 218 ff.]
[19] Petitio Principii: (Begging the question) một ngụy biện xảy ra khi một tiền đề của luận chứng giả định kết luận của chính nó là đúng, thay vì chống đỡ cho kết luận này. (Kết luận mời đặt câu hỏi với tiền đề – lý luận vòng tròn – đuôi về lại đầu – kết luận cho câu hỏi đặt ở đầu vẫn còn chưa trả lời, nên phải xin hỏi lại nữa! – thí dụ
(a) Gót thì có thật?
(b) Kinh thánh là sách ghi chép chính lời Gót nói toàn sự thật
(c) Nên Gót thì có thật!
[20] Eleatics
[21] substratum
[22] Democritus (c. 460 TCN – c. 370 TCN), được biết trong thời cổ – những triết gia trước-Socrates như ‘vị triết gia cười vì sự nhấn mạnh của ông vào giá trị cảu tính ‘vui vẻ, hân hoan’.
[23] Khù khờ dại dột
[24] [It must not be supposed from this that I concur entirely in a kind of criticism employed with regard to this tradition by Mullach, Zeller, and others. It is not right to reject immediately the whole story of the stay of Xerxes in Abdera, merely because of the ridiculous exaggeration of Valerius Maximus. and the inaccuracy of a passage in Diogenes. We know from Herodotus that Xerxes made a halt in Abdera, and was very much pleased with his stay there (viii. 120; probably the passage which Diogenes had in his mind). That upon this occasion the king and his court would quarter themselves upon the richest citizens of the place is a matter of course; and that Xerxes had his most learned Magi in his train is again historical. But we are so far from being justified, therefore, in supposing even an early stimulating influence to have been exercised by these Persians upon the mind of an inquisitive boy, that we might rather argue the contrary, since the great internal probability might only the more easily enable the germ of these stories to develop itself, from mere conjectures and combinations, into a factitious tradition, while the late appearance of the story, in untrustworthy authors, makes its external evidence very slight. As to the associated question of the age of Demokritos, in spite of all the acuteness spent in its treatment (com p. Frei, Quaestiones Protagoreae, Bonnae, 1845, Zeller, i. S. 684 sqq., Anm. 2, and 783 sqq., Anm. 2), a successful answer in defence of the view of K. F. Hermann, which we followed in the 1st edition, is by no means rendered impossible. Internal evidence (comp. Lewes, Hist, Phil,, i. 97) declares, however, rather for placing Demokritos later. The view, indeed, of Aristotle, who makes Demokritos the originator of the Definitions, continued by Sokrates and his contemporaries (comp. Zeller, i. S. 686 Anm.), must not be too hastily adopted, since Demokritos, at all events, only began to develop his doctrines when he had reached mature age. If, then, we place this work of Sokrates at the height of his intercourse with the Sophists, about 425, Demokritos could, at all events, be as old as Sokrates, but, of course, not have been born aa late as 460]
Magus, (plural Magi): member of an ancient Persian clan specializing in cultic activities. Classical Greece authors (such as Herodotus, Strabo, Pompeius Trogus, Apuleius, and Ammianus Marcellinus) have provided significant information on the religion of the Magi. According to the statements of some of them, the Magi were disciples and followers of Zoroaster.
[25] heaven-inspired
[26] Aristotle người thành Stagira
[27] [Mullach, Fragm. Phil. Graec, Par. 1869, p. 338 ….]
[28] [Zeller, i. S. 746, Mullach, Fr. Phil., p. 349, Fr. 140-142.]
[29] Chỉ dùng thước kẻ và compass
[30] [Fragm. Varii Arg. 6, in Mullach, Fragm. Phil., pp. 370 sqq. ; comp, Zeller, i. 688, Anm., where the remark that it shows “ that Demokritos in this respect had little to learn from foreigners, “goes much too far. It is not even certain from Demokritos’s observation that he was superior to the “Harpedonaptae” on his arrival in Egypt; but even if he were, he might, it is obvious, still learn much from them.]
[31] [Comp., e.g., the way in which Aristotle, De Aninia, i. 3, attempts to render ridiculous the doctrine of Defanatimokritos as to the movement of the conbody by the soul; …]
[32] [ However incredible such fanaticism may appear to us, it is quite consonant with the character of Plato;…]
[33] ‘cons cutiveness’? = consecutiveness
[34] [See the proofs in Zeller, i. 691, Anm. 2.]
Atom (< Greek: ἄτομον, atomon) Trong Greek, the prefix ‘a’ = ‘không’ + ‘tomos’ = cắt. = ‘không cắt, không phân chia được’. Ở đây, cũng như nhiều chỗ khác, tôi dùng atom, (không dùng ‘nguyên tử’), và thuật từ của nó là atômmít = những atômmít = người theo học thuyết atômmít. Khái niệm atom, không thể phân chia nữa, biên giới cuối cùng của vật chất – từ triết học đã sang khoa học, và ngày nay trong cơ học quantum – như Erwin Schrödinger nêu mô hình cơ học quantum cho atom, trong đó xem những electrons như ‘những sóng vật chất’. Nên, những từ ‘nguyên tử’, hạt nguyên tử là những từ ngữ có những ngữ ý không thích hợp nữa. Nên tôi dùng atom, particle, electron

[35] apeiron (ἄπειρον), which means literally “un-limit”.
Anaximander (c. 610 – c. 546 BC): Anaximander of Miletus, a student of Thales, described a first principle (archē) as a sort of indefinite and unbounded moving element, the apeiron (ἄπειρον). Unlike the other presocratics, Anaximander did not name a known specific element as the origin of all matter, like water (Thales), fire (Heraclitus), or air (Anaximenes). Anaximander may have been the first natural scientist, describing principles about the creation and destruction of order as an arrangement of things in time, which are created and later perish.
We have only one major fragment of Anaximander, and a couple of important phrases. They come from Theophrastus (c. 370-290 BCE), the successor to Aristotle as head of the Peripatetic school, and Simplicius (c. 490-560 CE.), who is quoting from Theoprastus.

ἀρχὴ ... τῶν ὄντων τὸ ἄπειρον ... ἐξ ὧν δὲ ἡ γένεσίς ἐστι τοῖς οὖσι͵ καὶ τὴν φθορὰν εἰς ταῦτα γίνεσθαι κατὰ τὸ χρεών· διδόναι γὰρ αὐτὰ δίκην καὶ τίσιν ἀλλήλοις τῆς ἀδικίας κατὰ τὴν τοῦ χρόνου τάξιν.
Ἀθάνατον [...] καὶ ἀνώλεθρον.

Kathleen Freeman's translations are:
The Non-Limited is the original material of existing things; further, the source from which existing things derive their existence is also that to which they return at their destruction, according to necessity; for they give justice and make reparation to one another for their injustice, according to the arrangement of Time.
(The Non-Limited) is immortal [ἀ + θάνατον] and indestructible [ἀν + ὂλεθρον. N.B., φθορὰν is another word for destruction]
(Ancilla to the Pre-Socratic Philosophers, p.19)
Kirk and Raven translate the version given by Theophrastus as
...some other apeiron nature, from which come into being all the heavens and the world in them. And the source of coming-to-be for existing things is that into which destruction, too, happens. 'according to necessity [translating κατὰ τὸ χρεών]; for they pay penalty [translating διδόναι δίκην] and retribution to each other for their injustice according to the assessment of Time [personified as Chronos].
(The Presocratic Philosophers, p.118)

Martin Heidegger cited this "Anaximander Fragment" as the introduction of Being (and perhaps Time?) into philosophy, after which he claims that Being (Existence itself or perhaps the noumenal Idea of Being outside space and time?) is forgotten as philosophical and scientific thought concentrates on the multitude of beings (existing things). Friedrich Nietzsche had also cited this ancient fragment in his posthumous Philosophy in the Tragic Age of the Greeks. Much of Heidegger's work and even his terminology can be traced back to Nietzsche.
We can read ἀρχὴ as both beginning and principle, with its important relatives ἄρχω (of time, to begin) and ἄρχων (a ruler, king).There is no "material" obvious at the beginning of the fragment, so it is better to read ἀρχὴ as a cosmological "origin" of existing things in general, of things (τῶν ὄντων) that have "being" (τὸ ὀν).
We can read ἄπειρον as without a limit (ἀ + πεῖρας), but even more deeply, see the relative πειρα as an attempt, an experiment, and as "experience." This is the root of our "empirical," from ἐν "in" + πειρα "experiment." So apeiron can mean "without experience," or, in the context of an origin, "before experience." This is then Immanuel Kant's distinction between onto-theology (discovering God from thinking about the concept alone) and cosmo-theology (discovering God based on our experiences).

Anaximander's mention of χρεών is etymologically related to χρῆματα, things for which man is the measure, according to Protagoras. These are material and useful things of value (χρῆματα, or πράγματα).

διδόναι δίκην ("giving justice") is a similar idiom "suffer punishment, make amends"
The German translation given in the first edition of the Fragmente der Vorsokratiker of Hermann Diels (1903) translates τῶν ὄντων as Dinge. A better translation would be simple "beings" or "things that exist." Diels translates κατὰ τὸ χρεών as nach der Notwendigkeit, which is too strong, implying the determinism of the later atomists and materialists.

Anfang der Dinge ist das Unendliche. Woraus aber ihnen die Geburt ist, dahin geht auch ihr Sterben nach der Notwendigkeit. Denn sie zahlen einander Strafe und Buße für ihre Ruchlosigkeit nach der Zeit Ordnung.
Notwendigkeit is the strong concept of necessity that implies determinism. It was introduced in Greek thought a century later by atomists such a Leucippus. Dinge implies material "things" and not "beings" - let alone the Being" that Martin Heidegger is looking for.
Leucippus said about necessity...
"Nothing occurs at random, but everything for a reason and by necessity." (Leucippus, Fragment 569 - from Fr. 2 Actius I, 25, 4)
οὐδὲν χρῆμα μάτην γίνεται, ἀλλὰ πάντα ἐκ λόγου τε καὶ ὑπ’ ἀνάγκης
A better translation for the idiom κατὰ τὸ χρεών· is "according to that which must be," according to what is due, or just "needed," and not the "necessity" = ἀν + ανκη of Leucippus. The χρῆμα of Leucippus and the plural χρῆματα of Protagoras are the everyday "things of which man is the measure," not Parmenides "things that exist," let alone "Being itself"
[36] Hiện tượng và hữu thể
[37] [Fragm. Phys., 41, Mullach, p. 365]