Monday, October 28, 2024

Chomsky – Ngôn ngữ và Não thức (08)

Ngôn ngữ và Não Thức

(Language and Mind)

( ← ... tiếp theo )

Noam Chomsky

 

 

 

 


Chương 6

Ngữ học và Triết học

 

Những phương pháp và những quan tâm của những nhà ngữ học và triết gia giống nhau trong rất nhiều phương diện đến mức tôi tin rằng sẽ là thiếu khôn ngoan nếu đòi nhấn mạnh trên sự tách biệt rạch ròi giữa những ngành học này, hoặc để một trong hai giữ thái độ phớt lờ hẹp hòi với những hiểu biết đã đạt được ở ngành kia. Có thể trích dẫn một số thí dụ để minh họa khả năng của trao đổi có thành quả giữa hai ngành. Zeno Vendler, trong quyển sách gần đây, Linguistics and Philosophy / ngữ học và Triết học, còn đi xa hơn khi chủ trương rằng “khoa học của ngôn ngữ học cấu trúc” [1] đem “một kỹ thuật mới” cho triết học phân tích, một kỹ thuật “không gì khác hơn là sự tiếp tục tự nhiên của dòng phát triển vốn được định hình bởi những triết gia về ngôn ngữ thông thường đến J. L. Austin”. [2]Vì những lý do tôi sẽ quay lại sau, tôi có một chút hoài nghi về sự đóng góp vốn ngữ học có thể đem cho triết học theo những đường lối vốn ông phác họa, nhưng tôi nghĩ ông đã cho thấy rằng một số những khái niệm nhất định của ngữ học có thể được dùng một cách hiệu quả trong nghiên cứu những vấn đề vốn đã nổi lên trong triết học phân tích.

 

Ngược lại, khi sự chú ý của những nhà ngữ học bắt đầu quay sang những vấn đề về ý nghĩa và cách dùng, chắc chắn họ có thể học được nhiều từ truyền thống nghiên cứu triết học lâu đời về những vấn đề loại như vậy, mặc dù ở đây, tôi tin rằng, cần phải giữ thận trọng hoài nghi một chút.

 

Để tạo điều kiện thuận lợi cho thảo luận đề tài này và những đề tài khác, tôi xin trình bày một minh họa nhỏ về một vấn đề vốn ở vị trí tiên phong của nghiên cứu ngày nay. Trong nghiên cứu mô tả của bất kỳ ngôn ngữ nào, một vấn đề trung tâm là hình thành một tập hợp gồm những quy luật tạo ra những gì vốn chúng ta có thể gọi là “cấu trúc ngoài mặt” của những lời nói-viết . Dùng từ ngữ “cấu trúc ngoài mặt”, tôi muốn nói đến việc phân tích một lời nói-viết vào thành một hệ thống thứ bậc của những cụm từ, mỗi cụm thuộc về một hạng loại cụ thể. Hệ thống thứ bậc này có thể được trình bày như một dấu ngoặc vuông có gán nhãn của những lời nói-viết , theo một nghĩa hiển nhiên. Thí dụ, hãy xét hai câu sau:

 

1            John is certain that Bill will leave / John thì chắc chắn rằng Bill sẽ rời đi.

2            John is certain to leave / John thì chắc chắn rời đi.

 

Những cấu trúc ngoài mặt của những lời nói-viết này có thể được biểu thị, một cách tự nhiên, bằng dấu ngoặc vuông đơn có nhãn sau: [3]

 

1’          [S [NP John ] [VP is [AP certain

[S that [ NP Bill ] VP will leave ]]]]]

 

2’          [S [NP John ] [VP is [AP certain ] [VP to leave ]]]

 

Cặp dấu ngoặc vuông bao quanh những cụm từ; nhãn được gán cho một cặp dấu ngoặc vuông chỉ định hạng loại của cụm từ được bao quanh. Như vậy ở câu 1 “certain that Bill will leave/chắc chắn Bill sẽ ra đi” là một cụm từ của hạng loại cụm Tính từ; ở cả câu 1 và câu 2, “John” là một cụm từ thuộc hạng loại cụm danh từ; “will leave” là cụm động từ ở số 1; và cả 1 và 2 đều là cụm từ thuộc hạng loại Câu.

 

Người ta có thể đặt câu hỏi về chi tiết của những phân tích cụ thể này, nhưng không có nhiều nghi ngờ rằng ở một mức độ mô tả nào đó, những phân tích này hoặc những biểu thị rất giống chúng, tạo nên một phương diện quan trọng của cấu trúc của những câu 1 và 2, và nói tổng quát hơn, rằng mọi câu của ngôn ngữ đều có một cấu trúc ngoài mặt gần giống như vậy. Thí dụ, có bằng chứng mạnh mẽ rằng hình thức ngữ âm được nhận thức của lời nói-viết được xác định, bởi những quy tắc ngữ âm có tính tổng quát đáng kể, từ những biểu thị về cơ bản thuộc loại này.

 

Với điều này, nhà ngữ học nghiên cứu tiếng Anh sẽ cố gắng để hình thành một tập hợp gồm những quy luật vốn phát sinh một số vô hạn của những cấu trúc ngoài mặt, một cấu trúc cho mỗi câu tiếng Anh. Tương ứng, lý thuyết ngôn ngữ sẽ quan tâm đến vấn đề làm thế nào những cấu trúc như vậy được tạo ra trong bất kỳ ngôn ngữ nào của con người và sẽ cố gắng hình thành những nguyên tắc tổng quát chi phối những hệ thống quy luật biểu thị những sự kiện của một ngôn ngữ này hay ngôn ngữ khác.

 

Với những bằng chứng hiện có cho chúng ta ngày nay, với tôi, có vẻ hợp lý để nêu lên rằng trong mọi cấu trúc ngoài mặt của ngôn ngữ con người đều được tạo ra từ những cấu trúc thuộc một loại trừu tượng hơn, vốn tôi sẽ gọi chúng như những “cấu trúc sâu”, bởi những hoạt động chính thức nhất định thuộc một loại rất đặc biệt thường được gọi là những “biến đổi ngữ pháp”. Mỗi biến đổi là một ánh xạ của những (khung của) dấu ngoặc vuông có nhãn hạng loại ngữ pháp lên những (khung của) dấu ngoặc vuông có nhãn hạng loại ngữ pháp. Bản thân những cấu trúc sâu được dán nhãn trong dấu ngoặc vuông đơn. Lớp cấu trúc sâu vô hạn được chỉ định bởi một bộ “quy luật cơ bản”. Những phép biến đổi được áp dụng tuần tự vào những cấu trúc sâu theo cuối cùng sẽ tạo ra những cấu trúc ngoài mặt của những câu trong ngôn ngữ. Do đó, một tập hợp những quy luật cơ bản xác định một lớp vô hạn gồm những cấu trúc sâu và một tập hợp những phép biến đổi ngữ pháp có thể dùng để tạo ra những cấu trúc ngoài mặt. [4]

 

Để minh họa, hãy xem xét lại câu 1 và 2. Những cấu trúc sâu bên dưới có thể được biểu thị sơ bộ ở dạng 1, 2:

 

1’’         giống như 1’

2’’         [S [NP [ S [NP John ] [VP to leave ]]] [ VP is [AP certain ]]]

 

Chúng ta có thể nghĩ về những cấu trúc sâu này như thể hiện sự kiện rằng trong câu 1, chúng ta khẳng định về John rằng ông/người này thì chắc chắn rằng Bill sẽ rời đi, trong khi ở câu 2, khá giống với 1 về cấu trúc ngoài mặt, chúng ta khẳng định mệnh đề rằng John rời đi , rằng đó là chắc chắn, theo một nghĩa rất khác của “chắc chắn”. Không có khó khăn gì trong việc xác định những khái niệm Chủ ngữ và Vị ngữ, về phương diện cấu hình trong những cấu trúc sâu để chúng thể hiện được ý nghĩa dự kiến. Những phép biến đổi cú pháp dẫn xuất 2’ từ 2’’ gồm phép biến đổi cú pháp “suy rộng”, từ một cấu trúc rất giống 2’’ sẽ tạo ra cấu trúc 3, và phép biến đổi cú pháp “thay thế nó” dẫn xuất 2’ từ một cấu trúc gần giống hệt 3, nhưng có “đến” thay cho “will” và “that” đã bị xóa:

 

3            [S [NP it ] [ VP is [AP certain ]

[S that [ NP John ] [ VP will leave ]]]]

 

Đặt những chi tiết qua bên, lý thuyết của “ngữ pháp chuyển đổi-phát sinh” chủ trương rằng tất cả những cấu trúc ngoài mặt được hình thành bằng áp dụng những phép biến đổi như vậy – mỗi biến đổi ánh xạ những dấu ngoặc vuông được gắn nhãn lên những dấu ngoặc vuông được gắn nhãn – từ những cấu trúc sâu thường khá trừu tượng. Câu 1 và 2 giống nhau về cấu trúc ngoài mặt nhưng rất khác nhau về cấu trúc sâu; câu 2 và 3 rất giống nhau về cấu trúc sâu nhưng lại khá khác nhau về cấu trúc ngoài mặt. Những cấu trúc sâu của ngôn ngữ khá giới hạn về tính đa dạng và dường như có những điều kiện phổ quát giới hạn mạnh mẽ loại quy luật có thể có được.

 

Bây giờ hãy xem xét vấn đề giải thích ngữ nghĩa. Rõ ràng từ những thí dụ khá điển hình này là những cấu trúc ngoài mặt đem cho rất ít dấu hiệu về việc diễn giải ngữ nghĩa, trong khi những cấu trúc sâu lại khá tiết lộ về phương diện này. Theo đuổi dòng lý luận này, người ta có thể đưa ra một trình bày chi tiết hơn về lý thuyết vừa nêu, trong những từ ngữ sau. Chúng ta hãy giả định rằng có một hệ thống của “ngữ nghĩa phổ quát” vốn chỉ định lớp của những biểu thị ngữ nghĩa có thể có cho một ngôn ngữ tự nhiên theo cách vốn ngữ âm học phổ quát chỉ định lớp biểu thị ngữ âm có thể có, bằng chỉ định một lớp của những đặc điểm riêng biệt và những điều kiện nhất định trên sự kết hợp của chúng. Hãy nhận thấy rằng sẽ hoàn toàn hợp lý khi nghiên cứu ngữ nghĩa học phổ quát ngay cả khi không có bất kỳ ý tưởng rõ ràng nào về những yếu tố cấu thành của nó, giống như người ta có thể lấy ra những kết luận khá thuyết phục về ngữ âm học phổ quát từ việc xem xét sự tăng trưởng chậm của số lượng những câu riêng biệt với độ dài tăng dần, hiện tượng vần điệu và sự đồng âm, sự thiếu trôi chậm qua “không gian” của những câu dưới những chuỗi lặp lại, v.v., ngay cả không có bất kỳ khái niệm nào về những đặc điểm khác biệt của hệ thống này có thể là gì. Trong mọi trường hợp, nếu vẫn cho rằng đây là một phương pháp nghiên cứu giải quyết hợp lý, người ta có thể nêu lên rằng một ngôn ngữ chứa những quy luật liên kết những cấu trúc sâu với những biểu thị lấy ra từ ngữ nghĩa phổ quát, vì nó chứa những quy luật âm vị học liên quan với những cấu trúc ngoài mặt với những biểu thị lấy ra từ ngữ âm học phổ quát.

 

Tại điểm này, trong sự phát triển một lý thuyết như vậy, tốt nhất nhà ngữ học nên chuyển sang làm việc trong triết học phân tích, đặc biệt với nhiều những nghiên cứu về tính mờ đục trong tham chiếu [5]. Một giả định thực nghiệm thiết yếu trong phần trình bày trước là cấu trúc ngoài mặt không thể đóng góp vào ý nghĩa; bất kể sự đóng góp nào của biểu thức P với ý nghĩa của câu XPY đều phải được xác định bởi cấu trúc sâu bên dưới P. Việc khảo sát về độ mờ viện dẫn đã đưa ra một số lượng lớn những thí dụ minh họa việc thay thế một biểu thức bằng một biểu thức khác làm thay đổi ý nghĩa như thế nào, ngay cả khi biểu thức P đóng góp vào ý nghĩa của câu. liên hệ ngữ nghĩa giữa hai điều này rất chặt chẽ. Phương pháp nghiên cứu giải quyết vừa được phác thảo sẽ phải bảo đảm rằng trong mỗi trường hợp như vậy có một sự khác biệt tương ứng trong cấu trúc sâu vốn sự khác biệt về ý nghĩa có thể được quy cho sự khác biệt đó. Không theo đuổi vấn đề, tôi chỉ ghi nhận rằng bản chất của những thí dụ này khiến cho phương pháp nghiên cứu giải quyết như vậy khó có thể thành công; nhưng, trong mọi trường hợp, việc nghiên cứu phương diện này của lý thuyết ngôn ngữ chắc chắn phải tính đến khối lượng bằng chứng đã được tích lũy trong tiến trình nghiên cứu triết học.

 

Tôi đã nhắc về khả năng rằng những hiểu biết sâu xa đã phát triển trong tiến trình của phân tích triết học có thể liên quan với sự nghiên cứu của một phần trung tâm của lý thuyết ngữ học, và những khái niệm của ngữ học có thể có ích cho những triết gia trong công trình của họ. Tuy nhiên, với tôi, có vẻ rằng người ta không nên kỳ vọng quá nhiều vào một trao đổi thuộc loại giống thế này vì một số những lý do. Trong những trường hợp tôi vừa nhắc, những gì đã nêu lên là những sản phẩm-phụ ngẫu nhiên của nghiên cứu trong một lĩnh vực sẽ được dùng vào những quan tâm trung tâm của một lĩnh vực khác. Thêm nữa, có một sự kiện là không lĩnh vực nào dùng những kỹ thuật nghiên cứu có một tính chất phức tạp hay chuyên biệt. Vì vậy, người ta mong đợi rằng trong mỗi lĩnh vực, có thể thu thập và phân tích thông tin có liên quan trực tiếp đến những quan tâm cụ thể của lĩnh vực đó.. Do đó, sẽ là một gì của một sự ngẫu nhiên khi một lĩnh vực có thể xây dựng trực tiếp trên những kết quả của lĩnh vực kia.

 

Vì những lý do này, tôi nghĩ rằng Vendler có thể đã kỳ vọng quá nhiều vào phương pháp ông nêu lên, cụ thể là “một kêu gọi đến những kết quả và kết luận rút ra từ ngôn ngữ học cấu trúc”. Tôi tin rằng ngữ học thời nay có những thành tựu thực sự đáng ghi nhận, và một số trong số đó thực sự có liên quan với những câu hỏi triết học. Nhưng điều cần nhớ là những thành tựu này nhờ vào khoa học thời nay và ít nhờ vào kỹ thuật thời nay. Việc thu thập dữ liệu thì không không tuân theo phương pháp nghiêm ngặt với kế hoạch chi tiết; rất ít khi dùng những phương pháp thử nghiệm (ngoài ngữ âm) hay những kỹ thuật phức tạp để thu thập và phân tích dữ liệu thuộc loại có thể dễ dàng nghĩ ra và được dùng rộng rãi trong tâm lý học về hành vi. Với tôi, những biện luận hỗ trợ thủ tục không chính thức này có vẻ khá thuyết phục; về cơ bản, họ nhận ra rằng với những vấn đề lý thuyết có vẻ quan trọng nhất hiện nay, không khó chút nào để có được khối lượng lớn dữ liệu quan trọng vốn không cần dùng những kỹ thuật đó. Do đó, công trình ngôn ngữ học, theo tôi là tốt nhất, thiếu nhiều đặc điểm của khoa học hành vi. Cũng không rõ ràng rằng sự phát triển của những lý thuyết giải thích trong ngữ học xứng đáng được vinh dự gọi là “khoa học”. Tôi nghĩ rằng những xây dựng trí tuệ này không tầm thường và thường mang tính soi sáng. Tuy nhiên, ngoài một số hiểu biết sâu xa nhất định nhờ vào lôgích và toán học hiện đại, không có lý do gì khiến chúng đã không thể được phát triển sớm hơn từ nhiều năm trước. Trong thực tế, nếu không có ảnh hưởng mạnh mẽ của một số giả định duy nghiệm vốn tôi sẽ thảo luận ngay sau đây, tôi ngờ rằng chúng đã được phát triển từ lâu trước đây và nhiều điều hiện được coi là mới và lôi cuốn đáng chú ý trong ngôn ngữ học ngày nay sẽ được bất kỳ người có học thức nào chấp nhận như hiển nhiên.

 

Có nhiều câu hỏi về ngôn ngữ một triết gia có thể hỏi, nhưng ngữ học không đem cho trả lời và cũng không có hy vọng thực tế nào cho một trả lời. Thí dụ, một triết gia quan tâm với những vấn đề của tri thức, hay quan hệ nhân quả (lấy thí dụ của Vendler), có thể sẽ quan tâm đến việc nghiên cứu chi tiết những thuộc tính của những từ “know / biết” và “cause / nguyên nhân”. Vì ngữ học không không cung cấp bất kỳ hiểu biết đặc biệt hay đường lối nghên cưu giải quyết ưu tiên vào dữ liệu của loại này, nên sẽ chỉ là một sự tình cờ may mắn nếu sự quen thuộc với ngữ học tỏ ra giúp ích đáng kể trong sự khảo sát này. Một dạng thức ngôn ngữ không có quan trọng với ngữ học vì lợi ích nội tại của khái niệm hay mệnh đề vốn nó thể hiện (nếu có), nhưng vì bằng chứng nó đem cho liên quan với một số giả định về bản chất ngôn ngữ. Thế nân, việc phân tích những câu 1, 2 và 3 đã được ngữ học quan tâm vì nó làm sáng tỏ bản chất của những cấu trúc sâu và ngoài mặt cũng như những biến đổi ngữ pháp liên kết chúng. Những dữ liệu như vậy đều là quan trọng với ngữ học vì chúng có thể được giải thích dựa trên cơ bản một số giả định đáng chú ý về tổ chức của ngữ pháp và không nhất quán với những giả định khác. Bản thân những sự kiện này không đáng quan tâm hơn việc một số dấu hiệu xuất hiện trên một tấm ảnh chụp ở đáy một hầm mỏ ở Nam Phi Điều sau rất quan trọng đối với lý thuyết hạt cơ bản [6] vì những lý do tương tự là những sự kiện liên quan với những câu 1–3 đều quan trọng cho lý thuyết của ngôn ngữ. Những nhận xét tương tự có thể được đưa ra về khả năng rằng những kết luận của những triết gia hay dữ liệu họ tích lũy sẽ quan trọng cho ngữ học.

 

Để làm cho vấn đề cụ thể hơn, hãy xem lại những thí dụ 1–3. Có thể hình dung rằng những câu như vậy và những câu tương tự khác có thể gây chú ý cho một triết gia quan tâm đến những khái niệm khác nhau về sự chắc chắn. Hiện tại, những thí dụ này được những nhà ngữ học quan tâm vì những lý do hoàn toàn khác nhau. Vì vậy, điều thích thú là có một biểu thức cụm danh từ tương ứng với 1, nhưng không có biểu thức cụm danh từ nào tương ứng với 2; 4 là dạng cụm danh từ của 1, nhưng chúng ta không thể tạo thành 5, tương ứng với 2:

 

4            John’s certainty that Bill would leave / John chắc chắn rằng Bill sẽ rời đi

5            John’s certainty to leave / John chắc chắn sẽ ra đi

 

Sự khác biệt thì tổng quát hơn; do đó hãy xem những câu 6 và 7:

6            John is eager to leave / John háo hức rời đi.

7            John is easy to leave./ John rất dễ rời đi.

 

Tương ứng với 6 ta có cụm danh từ 8; nhưng chúng ta không thể tạo thành 9 tương ứng với 7:

8            John’s eagerness to leave

9            John’s easiness to leave

 

Chú ý rằng câu 6 giống câu 1 ở chỗ cấu trúc sâu thì rất gần với cấu trúc ngoài mặt; trong khi 7 giống 2 ở chỗ cấu trúc sâu rất khác với cấu trúc ngoài mặt. Trong thực tế, cấu trúc ngoài mặt của 7 sẽ được hình thành bằng những phép biến đổi cú pháp giống như những biến đổi cú pháp vốn tạo thành 2 từ 2 và 3, bằng một suy ra gần đúng dạng câu 10:

10

a.       [ S for one to leave John] S is easy (tương tự như 2)

b.       it is easy [ S for one to leave John] S S (tương tự 3)

c.       John is easy to leave (=7, tương tự 2).

 

Khái quát hóa được thí dụ bằng 1, 2, 4–9 là một cụm danh từ có thể được hình thành tương ứng với một cấu trúc cơ bản nhưng không với một cấu trúc ngoài mặt. Do đó, chúng ta có 4 tương ứng với 1, và 8 tương ứng với 6 (đúng hơn với cấu trúc sâu nằm dưới 6, như 1 nằm dưới 1, nhưng không có biểu thức cụm danh từ nào như 5 và 9, tương ứng với cấu trúc ngoài mặt 2 và 7. Nhận xét tổng quát này có thể là được minh họa bằng nhiều thí dụ khác. Đáng chú ý vì sự hỗ trợ nó đem cho giả định rằng những cấu trúc sâu trừu tượng thuộc loại đã minh họa đóng một vai trò trong việc hình dung của những câu trong đầu. Chúng ta thấy rằng khi chúng ta nghiên cứu ngữ pháp tiếng Anh trên cơ bản của những giả định và liên quan này, chúng ta có thể mô tả đặc điểm khá dễ dàng lớp của những câu tương ứng với những cụm danh từ thuộc loại đang thảo luận. Không có cách tự nhiên nào để định rõ đặc điểm lớp này nhìn theo cấu trúc ngoài mặt, vì như chúng ta đã thấy, những câu đó rất giống về cấu trúc ngoài mặt, hoạt động hoàn toàn khác nhìn theo những tiến trình chính thức [7] gồm trong việc xây dựng những biểu thức cụm danh từ. [8] Chúng ta có thể tiếp tục cố gắng giải thích những sự kiện này ở mức độ sâu hơn bằng hình thành một nguyên tắc ngữ pháp phổ quát vốn từ đó nó tuân theo. những cụm danh từ được nhắc đến sẽ chỉ tương ứng với những cấu trúc sâu.

 

Tóm lại, những thí dụ được nhắc đến rất quan trọng cho sự nghiên cứu của ngôn ngữ vì chúng đem cho bằng chứng hỗ trợ cho một lý thuyết cụ thể về cấu trúc ngôn ngữ, không vì sự kiện là những khái niệm khác nhau về tính chắc chắn được quan tâm theo đúng nghĩa của chúng. Triết gia quan tâm về tính chắc chắn sẽ học được rất ít từ một lớp gồm những dữ liệu rất được quan tâm cho sự nghiên cứu của ngôn ngữ.

 

Ngoài việc từ ngẫu nhiên hay những vấn đề của kinh nghiệm, đào tạo hay sở thích cá nhân, ngữ học sẽ chỉ liên quan với triết học trong chừng mức những kết luận của nó về bản chất của ngôn ngữ liên quan với những câu hỏi được triết gia quan tâm . Người ta không thể dự đoán điều này sẽ đúng đến mức nào trong tương lai; chẳng hạn, có thể hóa ra nghiên cứu ngôn ngữ về cấu trúc ngữ nghĩa và cú pháp trong tương lai sẽ cung cấp cơ sở vững chắc cho một số loại nghiên cứu triết học nhất định – chẳng hạn, người ta nghĩ về liên quan nằm chìm bên dưới của việc hạng loại động từ có hệ thống sẽ có giá trị cho nhiều ngôn ngữ. Tuy nhiên, hiện tại, đây là hy vọng cho tương lai hơn là thực tế hiện tại. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng có thể đưa ra một trường hợp là một số kết luận có cơ bản nhất định về bản chất của ngôn ngữ có liên quan với những câu hỏi triết học truyền thống, nhưng theo những cách khá khác so với những gì vừa nhắc đến. Cụ thể, tôi nghĩ rằng những kết luận này liên quan với vấn đề về cách thức tiếp thu kiến ​​thức và cách thức bản chất của kiến ​​thức của con người được xác định bởi những thuộc tính tổng quát nhất định của não thức. Trong phần còn lại của bài viết này, tôi muốn trình bày lại một số nêu lên nhất định về vấn đề này đã được phát triển ở nơi khác, [9] và sau đó xem một số những vấn đề và phản đối khác nhau đã được nhiều triết gia nêu lên liên quan với những nêu lên này. [10]

 

Người ta có thể áp dụng phương sách sau đây cho sự nghiên cứu của những tiến trình nhận thức trong con người. Một người được đem cho một kích thích vật lý vốn người này diễn giải theo một cách nhất định nào đó. Giả định người này xây dựng một “nhận thức” nhất định đại diện cho một số kết luận nhất định của người này (trong tổng quát là vô thức) về nguồn kích thích. Trong phạm vi có thể mô tả đặc điểm của nhận thức này, chúng ta có thể tiến hành khảo sát tiến trình của diễn giải. Nói cách khác, chúng ta có thể tiến hành để phát triển một mô hình nhận thức lấy những kích thích như những input và gán những nhận thức như những “output, một mô hình sẽ đáp ứng một số điều kiện thực nghiệm nhất định về việc ghép nối thực tế của những kích thích với những diễn giải về những kích thích này. Thí dụ, người hiểu câu 1 và 2 biết (dù người này có nhận thức được hay không) rằng trong trường hợp câu 2 thì đó là một mệnh đề chắc chắn và trong trường hợp câu 1 thì đó là một người chắc chắn về một gì đó , theo một nghĩa rất khác của “chắc chắn”. Nếu chúng ta quan tâm đến việc nghiên cứu nhận thức về ngôn ngữ – cụ thể là những tiến trình hiểu câu – chúng ta có thể bắt đầu bằng mô tả những nhận thức theo cách làm nổi bật sự khác biệt này, như chúng ta đã làm khi nêu lên rằng câu 1 và câu 2, được giải thích trong cách đề nghị, là những thành phần thiết yếu của nhận thức. Sau đó, chúng ta có thể hỏi người nghe xây dựng những nhận thức này như thế nào với những kích thích input 1 và 2.

 

Một mô hình nhận thức liên kết những kích thích và nhận thức có thể hợp thành một hệ thống nhất định gồm những tin tưởng, những phương sách nhất định dùng trong việc diễn giải kích thích, và những yếu tố khác – thí dụ: cấu trúc và lưu trữ thông tin ký ức. Trong trường hợp ngôn ngữ, từ ngữ chuyên môn cho hệ thống tin tưởng cơ bản là “ngữ pháp” hay “ngữ pháp phát sinh”. Một ngữ pháp là một hệ thống những quy luật tạo ra một lớp vô hạn của “những diễn giải hay cấu trúc ngôn ngữ có thể có” [11], mỗi lớp có những phương diện ngữ âm, ngữ nghĩa và cú pháp, lớp cấu trúc tạo nên ngôn ngữ được nhắc đến. Bản thân những nhận thức là những cấu trúc bậc nhất; chúng ta xác định tính chất của chúng bằng kinh nghiệm và quan sát. Ngữ pháp làm nền tảng cho sự hình thành nhận thức là một cấu trúc bậc hai. Để nghiên cứu nó, chúng ta phải trừu tượng tách biệt những yếu tố khác liên quan với việc dùng và hiểu ngôn ngữ, và tập trung vào kiến thức về ngôn ngữ [12] đã được người dùng ngôn ngữ “nhập tâm” trong cách nào đó.

 

Tập trung vào hệ thống này, sau đó chúng ta có thể tìm hiểu xem nó đã thu nhận được qua những phương tiện nào và cơ bản cho sự thu nhận của nó. Nói cách khác, chúng ta có thể cố gắng xây dựng một mô hình thứ hai, một mô hình học tập, lấy dữ liệu nhất định làm input và đưa ra, làm “output”, hệ thống của những tin tưởng là một phần của cấu trúc bên trong của mô hình nhận thức. “output” trong trường hợp này được thể hiện ở “trạng thái cuối cùng” của sinh vật đã có được hệ thống tin tưởng này; sau đó, chúng ta hỏi – trạng thái cuối cùng này đạt được như thế nào, qua tác động qua lại của những yếu tố bẩm sinh, những tiến trình trưởng thành và tác động qua lại giữa sinh vật và môi trường. [13]

 

Tóm lại, chúng ta có thể bắt đầu bằng việc hỏi “những gì đã được nhận thức” và từ đó chuyển sang nghiên cứu về nhận thức. Tập trung vào vai trò của tin tưởng (trong trường hợp của chúng ta là kiến thức về ngôn ngữ) trong nhận thức, chúng ta có thể cố gắng mô tả đặc điểm “những gì đã được học” và chuyển từ đó sang nghiên cứu việc học. Dĩ nhiên, người ta có thể quyết định nghiên cứu một số đề tài khác hay tiến hành theo một cách khác. Vì vậy, phần lớn tâm lý học thời nay đã quyết định, vì những lý do có vẻ không quan trọng, không thuyết phục với tôi, tôi chỉ giới hạn trong việc nghiên cứu về hành vi và kiểm soát về hành vi. Tôi không muốn theo đuổi vấn đề này ở đây, nhưng tôi chỉ nói quan điểm riêng của tôi rằng phương pháp nghiên cứu giải quyết này đã được chứng minh là khá cằn cỗi và việc giới hạn mục đích của một người theo cách này là không hợp lý. Người ta không thể hy vọng nghiên cứu việc học hay nhận thức theo bất kỳ cách có ích nào bằng tuân thủ những quy định nghiêm ngặt về phương pháp luận vốn giới hạn bộ máy về khái niệm quá chật hẹp đến mức cự tuyệt khái niệm “những gì đã được nhận thức” và khái niệm “những gì đã được học”.

 

Tôi nghĩ rằng người ta có thể đạt được những kết luận giá trị khi nghiên cứu ngôn ngữ con người theo những hướng vừa nêu. Ít nhất trong lĩnh vực cú pháp và ngữ âm, người ta có thể đưa ra một giải thích tổng quát hợp lý về hệ thống của biểu thị cho những nhận thức trong bất kỳ ngôn ngữ nào của con người [14]. Hơn nữa, đã có tiến bộ đáng kể trong việc xây dựng những ngữ pháp phát sinh thể hiện kiến thức về ngôn ngữ vốn là “output” của mô hình học tập và là thành phần cơ bản của mô hình nhận thức. Tôi tin rằng có bằng chứng rõ ràng rằng ngữ pháp phát sinh cho ngôn ngữ của con người chứa một hệ thống những quy luật cơ bản thuộc loại rất giới hạn, một tập hợp những biến đổi ngữ pháp ánh xạ những cấu trúc sâu được hình thành theo những quy luật cơ bản lên những cấu trúc ngoài mặt và một tập hợp những quy luật âm vị học gán những diễn giải ngữ âm, trong một bảng chữ cái ngữ âm phổ quát, cho những cấu trúc ngoài mặt. Hơn nữa, cũng có bằng chứng rõ ràng rằng một số nguyên tắc có có mức độ hạn chế cao nhất định sẽ xác định chức năng của những quy luật này, những điều kiện sắp xếp và tổ chức một cách phức tạp và rắc rối. Có rất nhiều tài liệu nhắc đến những vấn đề này và tôi sẽ không cố gắng xem xét nó ở đây.

 

Tôi chỉ muốn nhấn mạnh rằng không có tất yếu tiên nghiệm nào với việc tổ chức một ngôn ngữ theo cách rất cụ thể được nêu lên trong những nghiên cứu này. Do đó, nếu lý thuyết về cấu trúc ngôn ngữ này là đúng, hay gần đúng, thì sẽ nảy sinh một số vấn đề không hề nhỏ với lý thuyết về học tập của con người. Cụ thể, chúng ta phải hỏi làm thế nào, trên cơ bản dữ liệu giới hạn có sẵn, đứa trẻ có thể xây dựng một ngữ pháp thuộc loại vốn chúng ta buộc phải gán cho nó, với sự lựa chọn và sắp xếp những quy luật cụ thể cũng như với sự giới hạn. nguyên tắc áp dụng những quy định đó. Nói cách khác, cấu trúc bên trong của một mô hình học tập có thể đạt được thành tích này là gì? Rõ ràng, chúng ta phải cố gắng mô tả cấu trúc bẩm sinh theo cách đáp ứng được hai loại điều kiện thực nghiệm. Đầu tiên, chúng ta phải gán cho sinh vật, như một thuộc tính bẩm sinh, một cấu trúc đủ phong phú để giải thích sự kiện là ngữ pháp được quy định có được trên cơ bản những điều kiện truy cập dữ liệu nhất định; thứ hai, chúng ta không được gán cho sinh vật một cấu trúc quá phong phú đến mức không tương hợp với sự đa dạng đã biết của ngôn ngữ. Chúng ta không thể coi kiến thức tiếng Anh của trẻ là tài sản bẩm sinh, bởi vì chúng ta biết rằng trẻ có thể học tiếng Nhật cũng như tiếng Anh. chúng ta không thể gán cho người này chỉ khả năng hình thành những liên kết hay áp dụng những thủ tục phân tích của ngôn ngữ học cấu trúc, bởi vì (dễ dàng chỉ ra khi những nêu lên này được thực hiện chính xác) những cấu trúc vốn chúng tạo ra không là những cấu trúc vốn chúng ta phải nhìn nhận là ngữ pháp phát sinh. Trong những phạm vi thực nghiệm vừa nêu, chúng ta được tự do để xây dựng những lý thuyết về cấu trúc bẩm sinh và thí nghiệm chúng dưới dạng những hệ quả thực nghiệm của chúng. Nói như vậy là chỉ để định nghĩa vấn đề. Những câu hỏi có thực chất chỉ nảy sinh khi một lý thuyết cụ thể được nêu lên.

 

Bằng việc nghiên cứu những câu nói-viết và những mô tả cấu trúc của chúng, những tín hiệu lời nói-viết và những nhận thức vốn chúng phát sinh, chúng ta có thể đi đến kết luận chi tiết về ngữ pháp phát sinh vốn là một yếu tố cơ bản trong hoạt động ngôn ngữ, trong lời nói-viết và sự hiểu biết về lời nói-viết. Sau đó, chuyển sang mức độ trừu tượng cao hơn tiếp theo, chúng ta nêu lên câu hỏi ngữ pháp phát sinh này được tiếp nhận như thế nào. Từ một quan điểm hình thức, ngữ pháp được mỗi con người bình thường tiếp nhận có thể được mô tả như một lý thuyết về ngôn ngữ của người này, một lý thuyết về một dạng thức rất phức tạp và trừu tượng, cuối cùng xác định liên hệ giữa âm thanh và ý nghĩa bằng tạo ra những mô tả cấu trúc. của những câu (“những diễn giải hay cấu trúc ngôn ngữ có thể có”), mỗi câu có những phương diện ngữ âm, ngữ nghĩa và cú pháp riêng. Từ quan điểm này, người ta có thể mô tả sự tiếp nhận kiến thức ngôn ngữ của trẻ em như như một loại của xây dựng về lý thuyết. Được đem cho với dữ liệu rất giới hạn, đứa trẻ xây dựng một lý thuyết về ngôn ngữ vốn dữ liệu này là một mẫu để thử hay theo [15] (và, trong thực tế, là một mẫu có tính suy thoái cao, theo nghĩa là phần lớn trong số đó phải được loại trừ vì không liên quan và không chính xác – do đó đứa trẻ học những quy luật ngữ pháp vốn đồng nhất phần lớn với những gì đứa trẻ đã nghe đã nghe là không đúng ngữ pháp, không chính xác và không thích hợp). Kiến thức cuối cùng của trẻ em về ngôn ngữ rõ ràng vượt xa những dữ liệu đã được đem cho trẻ em. Nói cách khác, lý thuyết vốn trẻ em đã phát triển theo một cách nào đó có một phạm vi dự đoán trong đó dữ liệu làm cơ bản cho nó chỉ chiếm một phần không đáng kể. Việc dùng ngôn ngữ thông thường có đặc điểm là gồm những câu mới, những câu không có tương đồng hay tương tự nào với những câu vốn đứa trẻ đã có kinh nghiệm. Hơn nữa, nhiệm vụ xây dựng hệ thống này được thực hiện theo cách rất giống nhau bởi tất cả những người học ngôn ngữ bình thường, mặc dù có sự khác biệt lớn về kinh nghiệm và khả năng. Lý thuyết về sự học tập của con người phải đối mặt với những sự kiện này.

 

Tôi nghĩ rằng những sự kiện này biểu thị một lý thuyết về sự thông minh con người vốn có một sắc thái duy lý rõ rệt. Dùng những từ ngữ do Peirce đưa ra trong những bài giảng của ông về “lôgích của suy luận nắm bắt”, vấn đề của lý thuyết về học tập là phát biểu điều kiện vốn “cho một quy luật cho suy luận nắm bắt và như thế đặt một giới hạn trên những giả thuyết có thể chấp nhận được”. Nếu “não thức của con người có một khả năng thích ứng tự nhiên với việc tưởng tượng ra một số loại lý thuyết đúng”, thì sự tiếp nhận kiến thức thuộc loại vốn chúng ta đang xem xét là có thể có được. Vấn đề với nhà tâm lý học (hay nhà ngữ học) là xây dựng những nguyên tắc đặt ra giới hạn cho những giả thuyết có thể chấp nhận được. Tôi đã đưa ra những đề nghị chi tiết về vấn đề này ở nơi khác và sẽ không lập lại chúng ở đây.

 

Nói khái quát, tôi nghĩ là hợp lý để đưa ra giả thuyết rằng những nguyên tắc của ngữ học tổng quát liên quan với bản chất của những quy luật, tổ chức của chúng, những nguyên tắc hoạt động của chúng, những loại biểu thị và chúng hình thành, tất cả đều cấu thành phần của điều kiện bẩm sinh vốn “đặt một giới hạn trên những giả thuyết có thể chấp nhận được”. Nếu đề nghị này đúng, thì không còn lý do gì để hỏi những nguyên tắc này được học như thế nào, hơn là hỏi một đứa trẻ học để thở như thế nào, hay, trong vấn đề đó, chúng có hai cánh tay như thế nào. Đúng hơn, lý thuyết học tập nên cố gắng mô tả những phương sách cụ thể vốn trẻ dùng để xác định rằng ngôn ngữ vốn trẻ đang học là một này, nhưng không là một khác, trong số “những ngôn ngữ được chấp nhận”. Khi những nguyên tắc vừa được nhắc đến trở nên chính xác, chúng tạo thành một giả định thực nghiệm về cơ bản bẩm sinh cho sự tiếp nhận kiến thức, một giả định có thể được kiểm nghiệm nhiều cách khác nhau. Cụ thể, chúng ta có thể hỏi liệu nó có nằm trong những giới hạn được mô tả trước đó hay không: nghĩa là liệu nó có mô tả một cấu trúc bẩm sinh đủ phong phú để giải thích cho sự tiếp nhận kiến thức hay không, nhưng một cấu trúc không quá phong phú đến mức bị sự đa dạng của ngôn ngữ làm sai lệch? chúng ta cũng có thể hỏi nhiều câu hỏi khác, chẳng hạn như lược đồ được nêu lên làm cơ bản cho sự tiếp nhận kiến thức ngôn ngữ liên quan như thế nào đến những nguyên tắc “đưa ra quy luật về suy luận nắm bắt” trong những lĩnh vực khác của trí thức con người (hay loài vật).

 

Những gì tôi đề nghị là nếu chúng ta muốn xác định sự liên quan của ngữ học với triết học, chúng ta phải khảo sát những kết luận có thể được thiết lập liên quan với bản chất của ngôn ngữ, những đường lối trong đó dùng và hiểu ngôn ngữ, cơ bản cho sự tiếp nhận của nó. Tôi nghĩ rằng những kết luận này có những hệ quả quan trọng đáng chú ý cho lý thuyết tâm lý – đặc biệt, chúng hỗ trợ mạnh mẽ một giải thích về những tiến trình tâm lý, vốn là, một phần quen thuộc, từ giả thuyết ức đoán của những người thuyết duy lý về những vấn đề này. Chúng hỗ trợ kết luận rằng vai trò của tổ chức nội tại là rất lớn trong sự nhận thức và một lược đồ khởi đầu hết sức hạn hẹp sẽ xác định những gì được kể như “kinh nghiệm ngôn ngữ” và kiến thức nào nảy sinh trên cơ bản của kinh nghiệm này. Tôi cũng nghĩ, và đã biện luận ở nơi khác, rằng những thuyết duy nghiệm đã phổ biến trong ngữ học, triết học và tâm lý học trong những năm gần đây, nếu được hình thành trong một đường lối khá chính xác, có thể được sự nghiên cứu kỹ lưỡng với phân tích chi tiết về ngôn ngữ bác bỏ. Nếu triết học là công việc của những triết gia, thì những kết luận này có liên quan đến triết học, cả trong dạng cổ điển và hiện đại của nó.

 

Đến đây, tôi muốn quay sang một số phân tích phê phán về quan điểm này đã xuất hiện trong những tài liệu triết học gần đây, đặc biệt đến những phê bình đã nhắc đến trong chú thích 2.

 

Đối với tôi, phương pháp nghiên cứu giải quyết của của Goodman với những câu hỏi này, thứ nhất là từ một hiểu lầm về lịch sử; thứ ha, từ một thất bại của không hình thành chính xác bản chất của vấn đề tiếp nhận kiến ​​thức, điều này ảnh hưởng đến phân tích của ông. Thứ ba, từ sự thiếu quen thuộc với khối lượng nghiên cứu tạo thành cơ sở cho những kết luận mà ông phê bình, gồm cả những kết luận đã thảo luận trước đó.

 

Sự hiểu lầm về phương diện lịch sử của ông liên quan với vấn đề giữa Locke và bất kỳ ai vốn Locke nghĩ ông đang phê bình trong thảo luận của ông về những ý tưởng bẩm sinh. Goodman tin rằng “Locke đã làm . . . sắc bén rõ ràng” rằng học thuyết về những ý tưởng bẩm sinh là “sai lầm hay vô nghĩa”. Tôi sẽ không đi sâu vào vấn đề này, bởi vì là một thông thường trong học thuật lịch sử, sự phê phán của Locke với học thuyết về những ý tưởng bẩm sinh “tấn công nó dưới dạng thức thô thiển nhất của nó, trong đó nó không được một nhà biện hộ nổi tiếng nào ủng hộ”. [16] Ngay cả Lord Herbert cũng làm rõ ràng rằng những khái niệm thông thường “vẫn nằm chìm bên dưới” khi không có sự kích thích thích hợp, rằng chúng là “những nguyên tắc vốn nếu không có chúng ta sẽ không có kinh nghiệm gì cả” nhưng rõ ràng là chúng sẽ không thường xuyên ở trong ý thức, ngay cả với “những người bình thường”, và chắc chắn không dành cho những người “cứng đầu, dại dột, yếu đuối và thiếu thận trọng”, đến những người “điên, say rượu và trẻ sơ sinh”, v.v. Và khi những ý tưởng này được Descartes và những người khác trình bày chi tiết, người ta nhấn mạnh nhiều lần rằng mặc dù những ý tưởng và nguyên tắc bẩm sinh quyết định bản chất của kinh nghiệm và kiến thức có thể nảy sinh từ nó, nhưng thông thường chúng sẽ không có trong ý thức. Vì những biện luận của Locke không nắm bắt được bản chất “có tính quyết định” của cấu trúc bẩm sinh được những người hỗ trợ thuyết duy lý hàng đầu kiên quyết duy trì, nên chúng cũng luôn luôn sai mục đích; có vẻ như ông phải đã nhầm lẫn những quan điểm thực sự của Herbert, Descartes, những người thứ yếu phái Descartes, Cudworth và những người khác.

 

Điều đáng ngạc nhiên là Goodman buộc tội những người “xác định những ý tưởng bẩm sinh với những khả năng” là “ngụy biện”. Goodman thì tự do, nếu muốn, để dùng những từ ngữ “ý tưởng” và “ý tưởng bẩm sinh” trong thuận hợp với sự hiểu lầm của Locke về học thuyết duy lý, nhưng khó có thể buộc tội những người khác là “ngụy biện” khi họ xem xét và phát triển học thuyết này trong một dạng thức vốn nó được thực sự trình bày. Thật là đặc biệt ngạc nhiên khi nghe Goodman nói về sự tất yếu của việc áp dụng từ ngữ “ý tưởng” trong “cách dùng thông thường của nó”. Người ta khó có thể mong đợi Goodman nêu lên loại “biện luận ngôn ngữ thông thường” này để phản lại việc dùng từ ngữ chuyên môn. Hơn nữa, như Thomas Reid đã cho thấy, nếu chúng ta dùng “ý tưởng” trong cách ngoài chuyên môn, thì không chỉ quan điểm của Descartes, nhưng cả quan điểm của Locke và Hume cũng trở đưa về phi lý – một nhận xét đúng, nhưng điều đó không cho thấy gì hơn ngoài việc sự phi lý khi nhấn mạnh rằng một từ ngữ chuyên môn phải được hiểu theo cách “dùng bình thường” của từ ngữ không chuyên môn đồng âm của nói viết ngôn ngữ thông thường.

 

Tuy nhiên, hãy để tôi chuyển sang vấn đề cốt lõi của sự tiếp nhận kiến thức, như Goodman đã trình bày nó trong trường hợp cụ thể của sự tiếp thu ngôn ngữ. Khá chính xác, ông phân biệt hai trường hợp: ngôn ngữ chính đầu tiên (ngôn ngữ một người học từ thơ ấu) và sự tiếp thu ngôn ngữ thứ hai. Nhưng phân tích của ông về hai trường hợp vẫn còn để lại nhiều điều đáng bàn.

 

Trước tiên hãy xem xét vấn đề tiếp thu ngôn ngữ thứ hai. Theo những gì tôi hiểu là quan điểm của Goodman [17] sự tiếp thu ngôn ngữ thứ hai không có vấn đề gì, vì “một khi có sẵn một ngôn ngữ và có thể được dùng cho việc giải thích và hướng dẫn, thì những giới hạn [được một lược đồ bẩm sinh ấn định] sẽ được vượt qua”. Cách diễn đạt vấn đề này hiểu sai tình trạng ở hai phương diện cơ bản. Đầu tiên, sẽ là sai lầm khi nói về lược đồ bẩm sinh vốn được đưa lên chỉ đơn thuần đem cho những “giới hạn” cho sự tiếp thu ngôn ngữ. Đúng hơn, những gì được đã được đưa lên là lược đồ này giúp có thể thu nhận được một hệ thống phong phú và rất cụ thể trên cơ sở dữ liệu giới hạn. Lấy một thí dụ, vấn đề là giải thích làm thế nào dữ liệu có sẵn cho người học ngôn ngữ (thứ nhất hay thứ hai) đủ để thiết lập rằng những quy luật âm vị học (những quy luật gán biểu thị ngữ âm cho những cấu trúc ngoài mặt) áp dụng theo chu kỳ, trước tiên cho những cụm từ trong cùng của cấu trúc ngoài mặt, sau đó đến những cụm từ lớn hơn, v.v., cho đến khi đạt đến phạm vi tối đa của những tiến trình âm vị học – trong những trường hợp đơn giản, là câu đầy đủ –. Trong thực tế, có bằng chứng thuyết phục cho thấy những quy luật áp dụng theo chu kỳ, nhưng bằng chứng này không thuộc loại có thể được dùng làm cơ bản để quy nạp từ dữ liệu ngữ âm đến nguyên tắc áp dụng theo chu kỳ, bằng bất kỳ thủ tục quy nạp nào có giá trị chung. Đặc biệt, phần lớn bằng chứng này bắt nguồn từ việc phân tích những nhận thức, tức là từ việc khảo sát cách thức vốn một người đã thành thạo ngôn ngữ diễn giải những tín hiệu lời nói. Có vẻ như cách giải thích này áp đặt một cấu trúc nhất định không được biểu thị trực tiếp trong tín hiệu lời nói, chẳng hạn như trong việc xác định những đường viền nhấn mạnh. [18] Rõ ràng là trẻ không thể tiếp nhận kiến thức rằng những quy luật âm vị học áp dụng theo chu kỳ từ dữ liệu chỉ có sẵn cho trẻ. sau khi biết và vận dụng được nguyên tắc này. Đây là một thí dụ cực đoan, nhưng nó vẫn minh họa khá rõ cho vấn đề cơ bản: giải thích cách phát triển một ngữ pháp phong phú và rất cụ thể trên cơ bản dữ liệu giới hạn nhất quán với một số lượng lớn những ngữ pháp xung đột khác. Một lược đồ luận bẩm sinh được nêu lên, dù đúng hay sai, như một giả thuyết thực nghiệm để giải thích tính đồng nhất, tính đặc thù và sự phong phú về chi tiết cũng như cấu trúc của những ngữ pháp, vốn trong thực tế được người đã thành thạo ngôn ngữ xây dựng và đem dùng. Do đó từ “giới hạn” trong diễn đạt của Goodman thì hoàn toàn không hích ứng.

 

Quan trọng hơn, phải nhìn nhận rằng người ta không học cấu trúc ngữ pháp của một ngôn ngữ thứ hai qua “giải thích và hướng dẫn”, ngoài những hiểu biết sơ đẳng cơ bản nhất, vì lý do đơn giản là không ai có đủ kiến thức rõ ràng về cấu trúc này để đem cho giải thích và hướng dẫn. Thí dụ, hãy xem xét thuộc tính của việc danh từ hóa trong tiếng Anh đã ghi chú ở trước, cụ thể là, một lớp nhất định của những biểu thức cụm danh từ nhất định chỉ tương ứng với những cấu trúc sâu nhưng không với cấu trúc ngoài mặt. Người đã học tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai đủ vững vàng để đưa ra phán đoán đã minh họa bằng những thí dụ 1–10, đã không thu nhận kiến thức này qua sự “giải thích và hướng dẫn”. Cho đến gần đây, theo hiểu biết của tôi, không ai biết đến hiện tượng này; người học ngôn ngữ thứ hai, giống như người học ngôn ngữ thứ nhất, bằng cách nào đó đã tự mình thiết lập những sự kiện, vốn không cần giải thích hay hướng dẫn. Một lần nữa, ví dụ này khá điển hình. Chỉ một phần kiến ​​thức tầm thường vốn người học ngôn ngữ thứ hai được trình bày cho người này qua hướng dẫn trực tiếp. Ngay cả sự chú ý hời hợt nhất đến những sự kiện của tiến trình tiếp thu ngôn ngữ thứ hai cũng đủ để thiết lập điều này. Do đó, mặc dù tiến trình tiếp thu ngôn ngữ thứ hai thực sự cần được phân biệt với tiến trình tiếp thu ngôn ngữ thứ nhất, nhưng sự phân biệt này không phải là loại mà Goodman đã nêu lên. Mặc dù có thể đúng rằng “một khi có sẵn một số ngôn ngữ, sự tiếp thu ngôn ngữ khác là tương đối dễ dàng”, tuy nhiên, đây vẫn là một vấn đề rất nghiêm trọng – không khác biệt đáng kể so với vấn đề giải thích sự tiếp thu ngôn ngữ đầu tiên – để giải thích cho sự kiện này. Bây giờ hãy xem xét vấn đề quan trọng hơn trong sự tiếp thu ngôn ngữ thứ nhất, vấn đề vốn những giả thuyết thực nghiệm liên quan với lược đồ bẩm sinh đã hướng tới. Goodman biện luận rằng không có vấn đề gì trong việc giải thích sự tiếp thu ngôn ngữ thứ nhất, bởi vì “sự tiếp thu ngôn ngữ ban đầu là tiếp nhận một hệ thống ký hiệu thứ cấp”: bước cơ bản đã được thực hiện và những chi tiết có thể được xây dựng chi tiết trong khung cấu trúc khái niệm đã có sẵn. Lập luận này có thể có sức thuyết phục nếu nó có thể chỉ ra rằng một số thuộc tính cụ thể của ngữ pháp – thí dụ như sự phân biệt cấu trúc ngoài mặt và sâu, những thuộc tính cụ thể của sự biến đổi ngữ pháp và những quy luật âm vị, những nguyên tắc sắp xếp quy luật, v.v. – đã hiện diện trong những “hệ thống biểu tượng” tiền ngôn ngữ đã có sẵn này. Nhưng không có một lý do dù nhỏ nhất nào để tin rằng điều này là như vậy. Biện luận của Goodman dựa trên một cách dùng ẩn dụ của từ ngữ “hệ thống biểu tượng” và sụp đổ ngay khi chúng ta cố gắng đem cho từ ngữ này một ý nghĩa chính xác. Nếu có thể chỉ ra rằng “những hệ thống biểu tượng tiền-ngôn ngữ” chia sẻ những thuộc tính quan trọng nhất định với ngôn ngữ tự nhiên, thì chúng ta có thể biện luận rằng những thuộc tính này của ngôn ngữ tự nhiên bằng nào đó có được nhờ “phép loại suy”, mặc dù bây giờ chúng ta sẽ phải đối mặt với vấn đề giải thích làm thế nào “sự tương tự” diễn ra. những hệ thống biểu tượng tiền ngôn ngữ” đã phát triển những thuộc tính này và cách những phép loại suy đã đuecoj thiết lập. Nhưng vấn đề này mang tính học thuật vì hiện tại không có lý do gì để cho rằng giả định đó là đúng. Biện luận của Goodman hơi giống một “chứng minh” rằng không có khó khăn gì trong giải thích sự phát triển của những cơ quan phức tạp, vì mọi người đều biết rằng có sự phân bào [19] diễn ra. Với tôi, điều này xem có vẻ là làm cho khó hiểu tối nghĩa, nó chỉ có thể được duy trì chừng nào người ta thất bại, không nắm bắt được những sự kiện thực.

 

Hơn nữa, có một kết luận không đi theo lôgích từ những gì trong thảo luận của Goodman về sự tiếp thu ngôn ngữ thứ nhất và thứ hai. Hãy nhớ lại rằng ông giải thích sự dễ dàng được giả định của sự tiếp thu ngôn ngữ thứ hai trên cơ bản rằng có thể dùng ngôn ngữ thứ nhất cho sự giải thích và hướng dẫn. Sau đó, ông tiếp tục biện luận rằng “sự tiếp thu ngôn ngữ ban đầu là tiếp nhận một hệ thống ký hiệu thứ cấp” và do đó khá ngang bằng với sự tiếp thu ngôn ngữ thứ hai. Những hệ thống biểu tượng chính vốn ông nghĩ đến là “những hệ thống biểu tượng tiền ngôn ngữ thô sơ, trong đó những cử chỉ, những sự kiện giác quan và nhận thức thuộc mọi loại đều hoạt động như những dấu hiệu”. Nhưng rõ ràng là những hệ thống này, dù chúng có thể là gì, cũng không thể “được dùng để giải thích và hướng dẫn” theo cách vốn ngôn ngữ thứ nhất có thể được dùng trong tiến trình tiếp thu ngôn ngữ thứ hai. Do đó, ngay cả trên những nền tảng của chính ông, biện luận của Goodman thì không nhất quán, mạch lạc.

 

Goodman chủ trương rằng “tuyên bố chúng ta đang thảo luận không thể kiểm tra bằng thực nghiệm được, ngay cả khi chúng ta có một thí dụ đã nhìn nhận về một ngôn ngữ ‘xấu’, và… rằng tuyên bố đó đã ngay cả còn chưa được hình thành đến mức viện dẫn của một thuộc tính tổng quát duy nhất của những ngôn ngữ ‘xấu’”. Kết luận đầu tiên trong số này thì đúng, theo nghĩa “kiểm tra thực nghiệm” của ông, tức là một thử nghiệm trong đó chúng ta “lấy một đứa trẻ mới sinh, cách ly nó khỏi mọi ảnh hưởng của văn hóa-gắn-liền-ngôn ngữ của chúng ta, và cố gắng khắc sâu, cấy trồng vào nó với một trong những ngôn ngữ nhân tạo ‘xấu’”. Rõ ràng, điều này không thể thực hiện được, cũng giống đúng như những thử nghiệm thực nghiệm có thể so sánh được đều không thể thực hiện được, trong bất kỳ lĩnh vực nào khác của tâm lý con người. Nhưng không có lý do gì phải thất vọng trước tính phi thực tiễn của những thử nghiệm trực tiếp loại thế này. Có nhiều cách khác – những cách đã được thảo luận trước đó, và rộng rãi trong tài liệu – trong đó có thể thu được bằng chứng liên quan với những thuộc tính của ngữ pháp và trong đó những giả thuyết liên quan với những thuộc tính tổng quát của những ngữ pháp đó có thể được đưa vào kiểm tra thực nghiệm. Bất kỳ giả thuyết nào như vậy đều chỉ rõ ngay lập tức, đúng hay sai, một số đặc tính nhất định của ngôn ngữ “xấu”. Do đó, nó đưa ra một tuyên bố thực nghiệm có thể bị bác bỏ bằng cách tìm ra những trường hợp phản chứng trong một số ngôn ngữ của con người, hay bằng chỉ ra rằng trong những điều kiện thực tế của tiến trình tiếp thu ngôn ngữ, những thuộc tính được nhắc đến không xuất hiện trong hệ thống được người học ngôn phát triển. Trong ngôn ngữ học, cũng như trong bất kỳ lĩnh vực nào khác, chỉ bằng những đường lối gián tiếp như thế này, người ta mới có thể hy vọng tìm thấy bằng chứng liên quan đến những giả thuyết không tầm thường. Những thử nghiệm thực nghiệm trực tiếp theo kiểu mà Goodman, vì lý do nào đó, cho là cần thiết, hiếm khi có thể thực hành được, một sự kiện có thể đáng tiếc nhưng đó lại là đặc điểm của hầu hết những nghiên cứu.

 

Tuyên bố thêm của Goodman rằng “không có một thuộc tính tổng quât nào của những ngôn ngữ ‘xấu’ được hình thành”, là khá không công bằng. Có hàng chục quyển sách và bài báo liên quan với việc hình thành những thuộc tính của ngữ pháp phổ quát và xem xét những hệ quả thực nghiệm của chúng, và mỗi thuộc tính đó chỉ rõ những ngôn ngữ “xấu”, như vừa ghi nhận. Người ta có thể tự do biện luận rằng những cố gắng để này là sai lạc, không thỏa đáng, không thuyết phục, bị những sự kiện bác bỏ , v.v., nhưng không nên lạnh lùng phủ nhận chúng hoàn toàn như thể chúng không tồn tại. Tôi không thấy làm thế nào để tránh kết luận rằng khi Goodman nói về “bằng chứng không ấn tượng được đưa ra liên quan với ngôn ngữ”, ông chỉ đơn giản nói ra từ sự thiếu hiểu biết, thay vì từ một phân tích có cân nhắc về công trình đã được thực hiện trong lĩnh vực này.

 

Khi thảo luận về thuộc tính của những ngôn ngữ “xấu”, Goodman chỉ nhắc đến một trường hợp, cụ thể là trường hợp của ngôn ngữ được pha chế Gruebleen, “khác với tiếng Anh thông thường chỉ ở chỗ nó chứa những vị từ ‘grue’ (cho “được kiểm tra trước t và màu xanh lá cây”. hay không được kiểm tra như vậy và màu xanh lam”) và ‘bleen’ (với “được kiểm tra trước t và màu xanh lam hay không được kiểm tra như vậy và màu xanh lá cây”) thay cho những vị từ ‘xanh lục’ và ‘xanh lam.’” Ông biện luận rằng ngay cả trong trường hợp này, người ta phải “nhận thức sâu xa những khó khăn khi trả lời” câu hỏi về những gì trong tổng quát là “sự khác biệt giữa những ngôn ngữ giống Gruebleen và giống tiếng Anh”. Tôi nghĩ rằng đây là một vấn đề khá ngoài lề, vì những thuộc tính sâu xa hơn của “những ngôn ngữ giống tiếng Anh” đã được hình thành và nghiên cứu, nhưng, vì ông ấy đưa ra thí dụ này, nên chỉ ra rằng những khó khăn vốn người này ám chỉ phần lớn là hậu quả của sự mơ hồ trong câu hỏi người này hỏi. Vì vậy, không có khó khăn gì trong việc tìm ra một thuộc tính nào đó của Gruebleen không là thuộc tính của “những ngôn ngữ giống tiếng Anh”, ngay cả là một thuộc tính tổng quát nào đó. Thí dụ, hãy xem xét vị từ “match/ăn khớp” được hiểu như trong Structure of Appearance / Cấu trúc ngoài mặt của Goodman, nhưng hiện áp dụng cho những đối tượng thay vì chất lượng. Do đó, hai đối tượng khớp nhau “nếu và chỉ khi chúng không khác biệt đáng kể khi so sánh trực tiếp”. [20] Gruebleen có một thuộc tính kỳ lạ là nếu một đối tượng A được kiểm tra trước t và một đối tượng B được kiểm tra sau t, và cả hai đều được coi như xấu. (hay cả hai đều bleen), thì chúng ta biết rằng chúng sẽ không khớp. Nhưng không thể có hai vật thể, một vật được kiểm tra trước t và một vật sau t, và cả hai đều có màu xanh lục (hay xanh lam), chúng ta có thể dự đoán rằng chúng sẽ không khớp nhau. Chúng có thể không khớp, nhưng sau đó chúng cũng có thể khớp, nếu cả hai đều có màu xanh lục (hay xanh lam). Trong thực tế, chắc chắn thuộc tính tổng quát của những ngôn ngữ tự nhiên là chúng “giống tiếng Anh” hơn là “giống Gruebleen”, theo nghĩa này, trong lĩnh vực từ ngữ màu sắc. Do đó, không có khó khăn gì trong việc thiết lập sự phân biệt khá tổng quát giữa những ngôn ngữ giống Gruebleen và giống tiếng Anh, ở phương diện cụ thể này. [21]

 

Dĩ nhiên, điều này sẽ không thỏa mãn những đòi hỏi của Goodman, vì những mục đích đặc biệt của ông, bởi vì người ta có thể xây dựng những bài toán khác thuộc loại gruebleen vốn tính chất này không tính đến. Chừng nào những khái niệm mơ hồ của Goodman “giống tiếng Anh” và “giống tiếng Gruebleen” vẫn chưa được xác định, thì dĩ nhiên không có cách nào đáp ứng đòi hỏi của ông rằng một thuộc tính tổng quát phải được nêu rõ để phân biệt hai loại ngôn ngữ và bất kỳ sự phân biệt cụ thể nào đó là được nêu lên sẽ luôn làm nảy sinh những câu đố mới về quy nạp. Đây là một nhận xét thích thú về những giới hạn của phương pháp quy nạp, nhưng không liên quan nhiều đến vấn đề xác định những đặc điểm của ngữ pháp phổ quát hơn bất kỳ hoạt động khoa học nào khác, chẳng hạn, vấn đề xác định những điều kiện di truyền xác định rằng phôi thai của con người sẽ phát triển hai chân đi hơn là hai cánh bay trong một phạm vi những điều kiện nhất định.

 

Tình cờ, tôi không nêu lên rằng thuộc tính vừa được trích dẫn dùng để giải thích lý do mọi người học ngôn ngữ (Trong thực tế là mọi con chuột, chimpanzee, v.v.) lại dùng màu xanh lá cây thay vì màu xám làm cơ bản cho sự tổng quát hóa. Không nghi ngờ gì nữa, đây là một hệ quả đơn giản của một số thuộc tính nhất định của hệ thống cảm giác, một kết luận không đáng chú ý theo quan điểm của Goodman, nhưng không vì lý do đó, nó thì sai. Quay trở lại điểm chính, điều đáng chú ý là ở một bước trong biện luận của ông, Goodman đã nhận xét khá chính xác rằng ngay cả khi “với một số sự kiện đáng chú ý nhất định, tôi không có giải thích nào khác”, “chỉ điều đó thôi cũng không quyết định sự chấp nhận của . . . một lý thuyết bản chất là đáng ghét và không thể hiểu được”.

 

Nhưng bây giờ chúng ta hãy xem xét lý thuyết về những ý tưởng bẩm sinh đã khơi dậy sự bất bình của Goodman và hỏi xem liệu nó có “không thể hiểu được” và “đáng ghét” hay không. Đầu tiên hãy xem xét vấn đề có thể hiểu được. Với tôi, dường như không thể hiểu được rằng một số phương diện của “trạng thái cuối cùng” của một sinh vật hay máy tự động cũng phải là một phương diện của “trạng thái ban đầu” của nó, trước khi có bất kỳ tác động qua lại nào với môi trường, cũng như không thể hiểu được rằng phương diện này của trạng thái cuối cùng đáng lẽ phải được phát triển qua những tiến trình bên trong, có lẽ được khởi động bởi một loại tác động qua lại nào đó giữa sinh vật và môi trường. Nhưng hãy xem xét những học thuyết thực sự đã phát triển trong tâm lý suy luận [22] của thuyết duy lý, thay vì bức tranh biếm họa của Locke [23]. Thí dụ, Descartes biện luận rằng ý tưởng về một hình tam giác là bẩm sinh ở chỗ “ý tưởng về một hình tam giác thực sự. . . có thể được não thức chúng ta hình dung dễ dàng hơn so với hình tam giác phức tạp hơn được vẽ trên giấy”, thế nên khi đứa trẻ lần đầu tiên nhìn thấy hình vẽ phức tạp hơn, nó sẽ “không nhận ra được hình vẽ đó, nhưng đứa trẻ sẽ nhận ra và hiểu được trong đầu hình tam giác đích thực (khái niệm hình học về một hình tam giác hoàn hảo)”. Khi Cudworth giải thích quan điểm này, “mọi hình tam giác không đều và không hoàn hảo [đều] hoàn hảo như chính nó, như hình tam giác hoàn hảo nhất”, nhưng chúng ta giải thích những hình ảnh giác quan theo khái niệm về “hình đều đặn” có nguồn gốc từ “quy luật, khuôn mẫu và mẫu mực” do não thức tạo ra như một “dự đoán”, giống như chúng ta diễn giải tất cả dữ liệu giác quan theo những khái niệm nhất định về đối tượng và quan hệ giữa những đối tượng, một số khái niệm nhất định về nguyên nhân và kết quả, những thuộc tính hình thái, hoạt động theo một “ không gian” của những hành động có thể có của con người, v.v. Quan điểm này cũng như sự trình bày chi tiết của nó trong tâm lý học thời nay đều không thể hiểu được, mặc dù dĩ nhiên nó có thể sai lầm hay không chính xác. Tương tự như vậy, không có khó khăn gì trong việc hiểu rõ nêu lên rằng có những điều kiện bẩm sinh nhất định trên dạng thức của ngữ pháp vốn quyết định những gì tạo nên kinh nghiệm ngôn ngữ và kiến thức nào sẽ nảy sinh trên cơ bản của kinh nghiệm này. Một lần nữa, người ta có thể dễ dàng thiết kế một máy tự động hoạt động theo cách này, do đó, mặc dù nêu lên có thể sai nhưng không là không thể hiểu được.

 

Dù thái độ của Goodman thế nào với những hình thành này, điều đáng chú ý là ông tỏ ra khá sẵn sàng, ít nhất trong bài viết này, để chấp nhận quan điểm rằng trong một ý hướng nào đó, não thức trưởng thành có gồm chứa những ý tưởng; do đó, rõ ràng không là ‘không thể hiểu được’ rằng một số của những ý tưởng này đã “được cấy trồng trong não thức như một trang bị nguyên gốc”, theo từ ngữ của ông. Biện luận của ông không nhằm chống lại quan điểm cho rằng “những ý tưởng ở trong não thức”, nhưng đúng hơn, chống lại giả định rằng chúng “ở trong não thức” trước khi có kinh nghiệm, và chắc chắn nếu một giả định có thể hiểu được, thì giả định kia cũng vậy (mặc dù như đã ghi nhận, cả quan điểm duy lý cổ điển lẫn những biến thể của nó ngày nay đều không được phản ảnh công bằng và toàn diện). Mặt khác, phương pháp nghiên cứu giải quyết này với vấn đề tiếp nhận kiến thức chắc chắn sẽ “gây khó chịu” cho những người coi thuyết duy nghiệm là không thể bị hoài nghi hay thách thức. Nhưng điều này là coi những học thuyết theo thuyết kinh nghiệm như những tín điều của lòng tin tôn giáo. Chắc chắn là không hợp lý để ràng buộc vào một truyền thống đến mức từ chối xem xét những quan điểm trái ngược về sự tiếp nhận kiến thức trên giá trị của chúng. [24]

 

Tiếp theo, hãy để tôi chuyển sang đóng góp của Hilary Putnam trong cùng hội nghị chuyên môn. Mặc dù bài viết của ông nói trực tiếp hơn về những vấn đề thực sự đang được quan tâm, nhưng với tôi, dường như những biện luận của ông vẫn không thuyết phục, chủ yếu là do những giả định sai lầm nhất định về bản chất của những ngữ pháp được tiếp nhận. Cụ thể, ông đã thẩm định giá trị quá thấp và một phần mô tả sai sự phong phú của cấu trúc, những thuộc tính cụ thể và chi tiết của dạng thức và tổ chức ngữ pháp vốn phải được giải thích cho một “mô hình tiếp thu ngôn ngữ”, vốn người nói-nghe bình thường có được và điều đó dường như đồng nhất giữa những người nói và giữa những ngôn ngữ.

 

Để bắt đầu, Putnam giả định rằng ở mức độ của cấu trúc âm thanh, thuộc tính duy nhất có thể được nêu lên trong ngữ pháp phổ quát là một ngôn ngữ có “một danh sách ngắn những âm vị”. Ông biện luận rằng sự đồng nhất này giữa những ngôn ngữ không đòi hỏi phải có giả thuyết giải thích phức tạp. Nó có thể được giải thích một cách đơn giản dưới dạng của “những yếu tố có thể điều chỉnh như khả năng ghi nhớ và giới hạn ký ức” và không có “người theo thuyết nghĩa hành vi truyền thống” [25] nào có thể phủ nhận rằng đây là những thuộc tính bẩm sinh. Tuy nhiên, trong thực tế, đã có nêu lên những giả thuyết thực nghiệm rất vứng mạnh liên quan với việc lựa chọn những đặc điểm phân biệt phổ quát, dạng thức của những quy luật âm vị, trật tự và tổ chức của những quy luật này, quan hệ của cấu trúc cú pháp với biểu thị ngữ âm, không một nào trong số đó có thể được giải thích một cách rõ ràng dựa trên sự giới hạn ký ức. Putnam đưa ra giải thích của ông phần lớn dựa trên “Những Mô Hình Giải Thích Trong Ngữ Học” của tôi (xem ghi chú 6) [26], xem xét trong chi tiết nguyên tắc của sự áp dụng tuần hoàn của những quy luật về âm vị học, một nguyên tắc vốn nếu đúng sẽ đặt ra một số vấn đề khá nghiêm trọng. Chúng ta phải hỏi – đứa trẻ có được kiến ​​thức của nguyên lý này như thế nào? – một thành tích đặc biệt đáng chú ý, như như đã ghi nhận, từ phần lớn bằng chứng đã khiến nhà ngữ học đưa lên nguyên tắc này vốn được lấy ra từ việc nghiên cứu những nhận thức và do đó ngay cả không có sẵn cho bất kỳ đứa trẻ nào. Những câu hỏi tương tự cũng nảy sinh liên quan với nhiều phương diện khác của âm vị học phổ quát. Trong mọi trường hợp, nếu những nêu lên được xây dựng chi tiết về cấu trúc âm thanh là đúng hay gần đúng, thì sự tương đồng giữa những ngôn ngữ ở mức độ này và sự phong phú về kiến thức vốn trẻ tiếp nhận được thực sự là những sự thật đáng chú ý và cần một giải thích.

 

Bên trên mức độ của cấu trúc âm thanh, Putnam giả định rằng những thuộc tính quan trọng duy nhất của ngôn ngữ là chúng có những tên riêng, rằng ngữ pháp chứa một thành phần cấu trúc-cụm từ và rằng có những qui luật “ viết tắt” những câu được thành phần cấu trúc-cụm từ tạo ra. Ông biện luận rằng tính chất đặc thù của thành phần cấu trúc-cụm từ được xác định bởi sự hiện hữu của tên riêng; rằng sự hiện hữu của thành phần cấu trúc-cụm từ được giải thích bởi sự kiện là “tất cả những biện pháp tự nhiên về mức độ phức tạp của một al-gô-rít... dẫn đến... kết quả”, rằng những hệ thống cấu trúc-cụm từ đem cho “những al-gô-rít” đơn giản nhất” cho hầu như mọi hệ thống máy điện toán” , do đó cũng “ cho những “hệ thống máy điện toán” phát triển tự nhiên” ; rằng không có gì đáng ngạc nhiên khi những ngôn ngữ chứa những qui luật viết tắt. Do đó, ông kết luận, những điều kiện bẩm sinh duy nhất phải nhìn nhận là những điều kiện áp dụng cho tất cả những “ hệ thống máy điện toán” hợp lý, và không một người theo thuyết tâm lý hành vi học nào nên cảm thấy ngạc nhiên về sự việc này.

 

Tuy nhiên, mỗi kết luận trong số ba kết luận đều bị vô hiệu hóa bởi một giả định sai lầm. Đầu tiên, rõ ràng là có nhiều ngữ pháp cấu trúc-cụm từ khác nhau phù hợp với giả định rằng một trong những hạng loại đó là tên riêng. Trong thực tế, hiện tại có nhiều tranh luận về những thuộc tính tổng quát của hệ thống nền tảng cơ bản dành cho ngôn ngữ tự nhiên; tranh chấp ít nhất không được giải quyết bằng sự hiện hữu của những tên riêng như một hạng loại nguyên thủy trong nhiều ngôn ngữ.[27]

 

Với điểm thứ hai, đơn giản là không đúng rằng tất cả những thước đo về mức độ phức tạp và tốc độ tính toán dẫn đến những quy luật cấu trúc-cụm từ như “al-gô-rít đơn giản nhất có thể có”. Những kết quả hiện có duy nhất, ngay cả có liên quan gián tiếp đến vấn đề này, là những kết quả liên quan với ngữ pháp cấu trúc-cụm từ không theo ngữ cảnh và cách diễn giải lý thuyết automata của chúng. Ngữ pháp không theo ngữ cảnh là một mô hình hợp lý cho những qui luật tạo ra những cấu trúc sâu, khi chúng ta loại trừ những mục từ vựng và những điều kiện phân phối vốn chúng đáp ứng. Nhưng ngay cả ngoài sự khác biệt cơ bản này, những kết quả hiện có duy nhất liên quan với ngữ pháp không ngữ cảnh với một lớp automata được gọi là “automata lưu trữ đẩy xuống không xác định” và chúng không có thuộc tính đặc biệt nổi bật nào liên quan với tốc độ hay độ phức tạp của tính toán, và chắc chắn là không “tự nhiên” theo quan điểm này.Trong những điều kiện của thời gian và không gian về tính toán, khái niệm có phần nào tương tự nhưng không chính thức liên quan với khải niệm automata về xác định thời gian thực xem có vẻ tự nhiên hơn nhiều. Nói vắn tắt, không có những kết quả nào chứng minh rằng những ngữ pháp cấu trúc-cụm từ là tối ưu theo bất kỳ ý nghĩa tính toán nào (chắc chắn cũng không có kết quả nào giải quyết khái niệm phức tạp hơn nhiều về cấu trúc cơ sở với ngữ pháp cấu trúc-cụm từ không theo ngữ cảnh và một từ điển, với những thuộc tính phong phú hơn nhiều, như những thành phần).

 

Nhưng không cần thiết để theo đuổi vấn đề này, vì trong mọi trường hợp, vì những gì có ý nghĩa đang bàn luận không phải là “tính đơn giản” của ngữ pháp cấu trúc-cụm từ nhưng đúng hơn là ngữ pháp chuyển đổi có chứa một thành phần cấu trúc-cụm từ, cái sau đóng một vai trò trong sự phát sinh của những những cấu trúc sâu. Và tuyệt đối không có khái niệm toán học nào của “tính dễ dàng của sự tính toán” hay “tinh đơn giản của al-gô-rít” vốn ngay cả còn nêu lên rằng những hệ thống như vậy có một số lợi thế nào đó so với những loại máy tự động khác nhau vốn đã từng được nghiên cứu nhìn từ quan điểm này. Trong thực tế, những hệ thống này chưa bao giờ thực sự từng được xem xét trong một nội dung toán học nghiêm nhặt, mặc dù có những cố gắng đáng chú ý ban đầu để nghiên cứu một số nững thuộc tính về dạng thức của chúng. [28] Nguồn gốc của sự nhầm lẫn là do quan niệm sai lầm của Putnam về bản chất của những biến đổi ngữ pháp. Như ông cho rằng, đây không là những quy luật “viết tắt” những câu được tạo ra bởi những quy luật cấu trúc cụm từ. Đúng hơn, chúng là những hoạt động hình thành những cấu trúc ngoài mặt từ những cấu trúc sâu bên dưới, một phần được tạo ra bởi những quy luật cấu trúc cụm từ. Mặc dù đã có sự phát triển đáng kể về lý thuyết kể từ khi những khái niệm về ngữ pháp phát sinh chuyển đổi lần đầu tiên được nêu lên, một giả định vẫn không thay đổi là những quy luật cấu trúc cụm từ chỉ tạo ra những cấu trúc trừu tượng, sau đó được ánh xạ vào những cấu trúc ngoài mặt bằng những phép biến đổi ngữ pháp – sau này là những phép biến đổi cú pháp phụ thuộc vào cấu trúc thuộc một loại khác lạ chưa từng được nghiên cứu bên ngoài ngữ học, nói riêng, cũng như trong bất kỳ ngành toán học nào vốn tôi quen thuộc. Để cho thấy rằng những ngữ pháp chuyển đổi là “đơn giản nhất có thể”, người ta phải chứng minh rằng một hệ thống máy cômputơ tối ưu sẽ nhận một chuỗi gồm những ký hiệu làm input và xác định cấu trúc ngoài mặt của nó, cấu trúc sâu bên dưới, và chuỗi của những phép biến đổi cú pháp vốn liên quan với hai dấu ngoặc vuông có nhãn của hạng loại ngữ pháp. Không có gì được biết về sự dễ dàng hay đơn giản của việc tính toán đem cho bất kỳ lý do nào để giả định rằng điều này là đúng; trong thực tế, câu hỏi chưa từng bao giờ được nêu lên. Người ta có thể nghĩ đến một số loại nhất định của tổ chức của ký ức có thể thích ứng tốt với những ngữ pháp chuyển đổi, nhưng đây lại là một vấn đề hoàn toàn khác. [29] Đương nhiên, tôi sẽ cho rằng có một cơ bản tổng quát hơn nào đó trong cấu trúc tâm lý con người cho sự kiện này (nếu đó là một sự kiện) rằng những ngôn ngữ có ngữ pháp chuyển đổi; một trong những lý do khoa học chính yếu để nghiên cứu ngôn ngữ là nghiên cứu này có thể đem cho một số hiểu biết sâu xa về những thuộc tính tổng quát của não thức. Với những thuộc tính cụ thể đó, chúng ta có thể cho thấy rằng những ngữ pháp chuyển đổi là “tự nhiên”. Điều này sẽ tạo nên tiến bộ thực sự, vì giờ đây nó sẽ khiến chúng ta có thể nêu lên vấn đề của những điều kiện bẩm sinh trong sự tiếp nhận của kiến thức và tin tưởng trong một khung cấu trúc khái niệm tổng quát hơn. Nhưng cũng phải nhấn mạnh rằng, trái ngược với những gì Putnam khẳng định, không có cơ bản nào cho việc giả định rằng “những hệ thống tính toán hợp lý” sẽ được tổ chức thưo tự nhiên, trong cách thức đặc thù đã được pháp chuyển đổi đề nghị

 

Tôi tin rằng điều này loại bỏ biện luận chính của Putnam, cụ thể là , “không có gì đáng ngạc nhiên”, ngay cả với một nhà tâm lý học hành vi, trong những phổ quát về ngôn ngữ hiện đang được nêu lên và nghiên cứu. Sau đó, hãy để tôi chuyển sang biện luận thứ hai của ông, rằng ngay cả khi có những phổ quát về ngôn ngữ đáng ngạc nhiên, chúng vẫn có thể được giải thích bằng một giả thuyết đơn giản hơn giả thuyết của một ngữ pháp phổ quát bẩm sinh, cụ thể là giả thuyết về nguồn gốc chung của những ngôn ngữ. Ý kiến này trình bày sai vấn đề đang bàn luận. Như ghi nhận ở trước, vấn đề thực nghiệm chúng ta phải giải quyết là để nghĩ và đưa ra một giả thuyết về cấu trúc ban đầu, đủ phong phú để giải thích cho sự kiện rằng một ngữ pháp cụ thể được tiếp nhận, trong những điều kiện nhất định có sẵn về dữ liệu (cơ hội, phương tiện khám phá, hay quan sát hoặc tác động với ngôn ngữ). Với vấn đề này, vấn đề về nguồn gốc chung của ngôn ngữ là hoàn toàn không liên quan. Đứa trẻ phải khám phá ngữ pháp trên cơ bản của những dữ liệu có sẵn với nó, qua việc dùng những khả năng bẩm sinh vốn đứa trẻ được ban cho. Để cụ thể hơn, hãy xem xét lại hai thí dụ được thảo luận ở trên: sự liên kết của những cụm danh từ với những cấu trúc cơ bản và việc tuần hoàn của những quy luật âm vị học. Đứa trẻ thành thạo những nguyên tắc này (nếu chúng ta đúng trong kết luận về ngữ pháp) trên cơ bản của dữ liệu ngôn ngữ nhất định; đưa trẻ không biết gì về nguồn gốc của ngôn ngữ, và không thể biết đem dùng những thông tin đó nếu như nó có. Những câu hỏi về nguồn gốc chung có liên quan với những vấn đề thực nghiệm chúng ta đang thảo luận chỉ ở chỗ những ngôn ngữ hiện có có thể không là một “mẫu đại diện” [30] của “những ngôn ngữ có thể có”, trong trường hợp đó chúng ta có thể bị dẫn đến sai lầm khi nêu lên một lược đồ quá hẹp cho phổ quát. ngữ pháp. Dĩ nhiên, điều có thể có này phải đừng quên, nhưng với tôi, dường như đó là một xem xét có phần khá xa vời, xét đến vấn đề thực sự đang đặt ra, cụ thể là vấn đề tìm một lược đồ đủ phong phú để giải thích cho sự phát triển của những ngữ pháp dường như hợp lý về phương diện thực nghiệm. Việc tìm ra một lược đồ như vậy có thể đem cho một giải thích cho những thuộc tính phổ quát của ngôn ngữ được xác định thực nghiệm. Tuy nhiên, sự hiện hữu của những thuộc tính này không giải thích một ngữ pháp cụ thể đã được đứa trẻ tiếp nhận như thế nào. [31]

 

Với tôi, thảo luận của Putnam về sự dễ dàng trong việc học ngôn ngữ dường như ra ngoài vấn đề. Câu hỏi liệu có một giai đoạn quan trọng nào cho việc học ngôn ngữ hay không là điều đáng chú ý, [32] nhưng nó ít liên quan với vấn đề đang thảo luận. Giả định rằng Putnam đã là đúng trong tin tưởng rằng “chắc chắn . . . 600 giờ [hướng dẫn theo phương pháp trực tiếp] sẽ giúp bất kỳ người trưởng thành nào cũng có thể nói và đọc một ngoại ngữ một cách dễ dàng”.

 

Sau đó, chúng ta sẽ phải đối mặt với vấn đề giải thích – như thế nào, trên cơ sở dữ liệu giới hạn này, người học đã thành công trong việc tiếp nhận kiến ​​thức cụ thể và chi tiết, cho phép họ sử dụng ngôn ngữ một cách dễ dàng, đồng thời tạo ra và hiểu được một loạt những cấu trúc của chúng vốn dữ liệu được trình bày cho người này chỉ là một mẫu nhỏ.

 

Cuối cùng, hãy xem xét phương pháp nghiên cứu thay thế khác Putnam đề nghị cho vấn đề tiếp thu ngôn ngữ. Ông biện luận rằng thay vì nhìn nhận một lược đồ bẩm sinh, người ta nên cố gắng giải thích thành tựu này nhìn về phương diện của “những phương sách học tập với nhiều mục đích tổng quát”. Đó là những phương sách phải là bẩm sinh, không phải những điều kiện tổng quát trên dạng thức của kiến thức được thu tập. Rõ ràng đây là một vấn đề thực nghiệm. Sẽ là giáo điều tuyệt đối nếu khẳng định một trong hai nêu lên này (hay sự kết hợp cụ thể nào đó của chúng) rằng nó phải là đúng. Putnam bị thuyết phục, dựa trên cơ bản nào ông không nói, rằng cơ bản bẩm sinh cho sự tiếp thu ngôn ngữ phải giống hệt với cơ bản bẩm sinh của sự tiếp nhận của bất kỳ dạng kiến thức nào khác, rằng không có gì “đặc biệt” về sự tiếp nhận của ngôn ngữ. Có thể theo đuổi một phương pháp nghiên cứu giải quyết không-giáo điều với vấn đề này, qua việc khảo sát những lĩnh vực cụ thể của khả năng con người, chẳng hạn như ngôn ngữ, sau đó là cố gắng để đưa ra một giả thuyết giải thích cho sự phát triển của khả năng đó. Nếu chúng ta tìm ra rằng những “phương sách học tập” giống nhau có liên quan với nhiều trường hợp khác nhau và những điều này thì đủ để giải thích cho khả năng đạt được thì chúng ta sẽ có lý do tốt đẹp để tin rằng giả thuyết thực nghiệm của Putnam là đúng. Mặt khác, nếu chúng ta tìm ra rằng những hệ thống bẩm sinh khác nhau (dù liên quan với lược đồ hay phương pháp tìm kiếm) phải được giả định, thì chúng ta sẽ có lý do tốt đẹp để tin rằng một lý thuyết thỏa đáng về não thức sẽ kết hợp những “khả năng” cụ thể, mỗi khả năng có đặc điểm riêng hay một phần những thuộc tính duy nhất. Tôi không thể hiểu như thế nào người ta có thể kiên quyết nhấn mạnh trên kết luận này hay kết luận kia dựa trên những bằng chứng hiện có cho chúng ta. Nhưng có một điều khá rõ ràng: Putnam không có lý do gì để biện minh cho kết luận cuối cùng của ông, rằng “việc viện dẫn ‘tính bẩm sinh’ chỉ hoãn lại vấn đề về học tập; không giải quyết được nó”.[33]

 

Việc giới thiệu một khái niệm bẩm sinh về ngữ pháp phổ quát sẽ giải quyết được vấn đề học tập (ít nhất là một phần), trong trường hợp này, nếu thực tế là đúng rằng đây là cơ bản (hay phần của cơ bản ) cho sự tiếp thu ngôn ngữ, vì nó có thể là như vậy. Mặt khác, nếu không vậy, nếu có những phương sách học tập tổng quát giải thích cho sự tiếp thu kiến ​​thức ngữ pháp, thì việc đưa ra giả thuyết về một khái niệm bẩm sinh về ngữ pháp phổ quát sẽ không “hoãn lại” vấn đề học tập, nhưng đúng hơn sẽ đem lại một giải pháp không chính xác cho vấn đề này. Vấn đề là một vấn đề thực nghiệm của đúng hay sai, không là một vấn đề về phương pháp của một trong những giai đoạn của nghiên cứu. Hiện tại, theo tôi, đề nghị cụ thể duy nhất có thể thực hiện được là đề nghị đã phác thảo ở trên. Khi một số “phương sách học tập tổng quát” đã được nêu lên, chúng ta có thể xem xét mức độ thỏa đáng tương đối của những lựa chọn thay thế này, trên những nền tảng thực nghiệm. [34]

 

Bài viết phê bình tóm tắt của Henry Hiż chủ yếu giải quyết sự khác biệt giữa năng lực và hiệu năng. Người ta có thể cố gắng giải thích những khái niệm chuyên môn loại như vậy trong hai cách khác nhau. Ở một mức độ tiền-hệ thống, người ta có thể cố gắng để chỉ định, tất yếu một cách lỏng lẻo, hơi mơ hồ và chỉ mang tính gợi ý, khái niệm này chính xác đóng vai trò gì trong một khung cấu trúc khái niệm tổng quát hơn, và tại sao nó có vẻ là một ý tưởng có ích để cố gắng phát triển. Thảo luận ở mức độ này là hoàn toàn chính đáng, nhưng về tổng quát sẽ có nhiều chỗ cho sự hiểu lầm. Ở mức độ thứ hai, người ta có thể phát triển khái niệm một cách chính xác nhất như tình trạng của lĩnh vực này cho phép nhưng không phải cân nhắc đến động cơ hay những hàm ý tổng quát. Ở mức độ này, vấn đề không là xác định khái niệm đang được nhắc đến là gì, nhưng là là tại sao lại có bất kỳ mục đích nào trong việc phát triển nó.

 

Ở mức độ tiền-hệ thống, tôi đã cố gắng giải thích ý tôi khi nói “khả năng ngôn ngữ “ dựa trên những mô hình dùng và tiếp thu ngôn ngữ, theo phương thức đã phác vẽ trước đó. Ở mức độ hệ thống, năng lực được thể hiện bằng một ngữ pháp phát sinh vốn liệt kê sự lập đi lập lại trở ngược những mô tả cấu trúc của câu, mỗi mô tả có những phương diện ngữ âm, cú pháp và ngữ nghĩa riêng của nó. Không cần phải nhấn mạnh rằng bất kỳ ngữ pháp nào như vậy vốn chúng ta thực sự có thể trình bày ngày nay đều không đầy đủ, không chỉ vì kiến thức của chúng ta về những ngôn ngữ cụ thể còn thiếu sót, nhưng còn vì sự hiểu biết của chúng ta về biểu thị ngữ âm và ngữ nghĩa cũng như những loại cấu trúc và những quy luật trung gian giữa chúng còn giới hạn và chưa được thỏa mãn về nhiều phương diện.

 

Quay sang bài viết của Hiż, không ngạc nhiên, có một mức nhất định của hiểu lầm giữa chúng tôi ở mức độ tiền-hệ thống. Hiż nêu lên rằng việc tôi dùng khái niệm “năng lực” thì được hiểu như việc nói rằng sự tự xem xét những suy nghĩ và cảm xúc bên trong chính mình là một nguồn của kiến thức ngôn ngữ. Tôi đồng ý rằng sự tự xem xét những suy nghĩ và cảm xúc là một nguồn dữ liệu tốt hơn cả cho nghiên cứu ngôn ngữ, nhưng kết luận này không theo đến từ quyết định để nghiên cứu năng lực ngôn ngữ . Theo ý kiến của tôi, người ta có thể (một cách phi lý) từ chối dùng bằng chứng loại đó, và vẫn cố gắng để khám phá ngữ pháp phát sinh vốn đại diện cho “những gì đã học” và đóng một vai trò nền tảng trong việc dùng ngôn ngữ. Quyết định này sẽ là vô nghĩa, cũng bằng như việc một nhà thiên văn học, ở một giai đoạn khoa học, từ chối dùng những gì người này nhìn thấy qua kính viễn vọng như dữ liệu, nhưng quyết định này không có liên quan gì với sự phân biệt giữa năng lực và hiệu năng. Tôi tin chắc rằng có thể nghĩ ra những thủ tục thực nghiệm và hoạt động có thể thay thế sự phụ thuộc vào sự tự xem xét những suy nghĩ và cảm xúc với chút tổn thất, nhưng với tôi, trong tình trạng hiện tại của lĩnh vực này, có vẻ như điều này chỉ đơn giản là lãng phí thời giờ và năng lực. Rõ ràng, bất kỳ thủ tục nào như vậy trước tiên sẽ phải được kiểm tra dựa trên bằng chứng lấy từ sự tự xem xét những suy nghĩ và cảm xúc bên trong chính mình. Nếu một người nêu lên một bài kiểm nghiệm, chẳng hạn như tính đúng ngữ pháp, vốn không phân biệt được những điểm khác biệt đã nêu trước đó trong cách thích ứng, thì người ta sẽ có ít tin tưởng vào thủ tục kiểm nghiệm về tính đúng ngữ pháp. Với tôi, có vẻ như nghiên cứu hiện tại không bị cản trở đáng kể do thiếu dữ liệu chính xác, nhưng là do chúng ta không có khả năng giải thích một cách thỏa đáng những dữ liệu khó có thể nghi ngờ. Một người cảm nghĩ khác biệt có thể hỗ trợ quan điểm của ông bằng chứng minh những lợi ích đạt được trong hiểu biết sâu xa và hiểu biết có thể đạt được bằng cải tiến những kỹ thuật thu thập và phân tích dữ liệu, chẳng hạn như bằng những kỹ thuật hoạt động để thiết lập tính đúng ngữ pháp, những kỹ thuật đã được thẩm định giá trị bằng kiểm nghiệm của trực giác trước đó và đã cho thấy là đủ vững chắc khiên người ta có thể dựa vào chúng trong những trường hợp khó khăn hay mơ hồ. Trong mọi trường hợp, toàn bộ vấn đề không liên quan gì đến quyết định để nghiên cứu năng lực ngôn ngữ .[35]

 

Hiż coi việc khẳng định, như tôi đã từng, như “nghịch lý”, rằng ngữ học “cố gắng để định rõ những gì người nói thực sự biết, nhưng không những gì người này có thể tường thuật về kiến thức của người này”. Điều này ông nhìn như “một ý nghĩa khác thường của ‘kiến thức’”. Với tôi, nó có vẻ là một ý nghĩa khá bình thường và là một cách dùng không nghịch lý. Một người biết tiếng Anh có thể đưa ra đủ loại tường thuật không chính xác về kiến thức vốn người này thực sự có được, và liên tục dùng với không ý thức. Như đã ghi nhận trước đó, khi chúng ta nghiên cứu năng lực – kiến thức của người nói-người nghe về ngôn ngữ của người này – chúng ta có thể dùng những tường thuật và hành vi của người này như bằng chứng, nhưng chúng ta phải cẩn thận để không nhầm lẫn “bằng chứng” với những cấu trúc trừu tượng vốn chúng ta phát triển trên cơ bản của bằng chứng và cố gắng để biện minh nhìn theo bằng chứng. Thế nên, tôi chắc chắn sẽ bác bỏ ba trong số năm điều kiện, vốn Hiż đề nghị, rằng những quy luật phải đáp ứng, nếu chúng tạo thành một giải thích của năng lực theo nghĩa của tôi, đó là, người nói tiếng mẹ đẻ cảm thấy rằng những câu được tạo ra bởi những quy luật đó là trong ngôn ngữ của người này, rằng chúng có cấu trúc được chỉ định và những gì người nói cảm thấy là đúng. Vì năng lực – đặc biệt là những phán đoán về câu – rõ ràng liên quan với nhiều yếu tố ngoài năng lực, nên người ta không thể chấp nhận như một nguyên tắc tuyệt đối rằng những phán đoán của người nói sẽ đưa ra một giải thích chính xác về kiến thức của người này. Tôi ngạc nhiên khi Hiż đưa ra cách giải thích quan điểm của tôi ngay sau khi trích dẫn phát biểu của tôi rằng những tường thuật của người nói về năng lực của người này có thể có sai lầm.

 

Ít nhất vì những mục đích thảo luận, Hiż sẵn sàng chấp nhận quan điểm rằng ngữ pháp phát sinh, một hệ thống gồm những quy luật gán những cấu trúc cho những câu, có thể dùng để biểu thị đặc điểm năng lực. Sau đó, ông chính xác chỉ ra rằng nhà ngữ học được hướng dẫn trong lựa chọn của người này về một ngữ pháp bởi một số “nguyên tắc tổng quát về ngôn ngữ” nhất định, và rằng lý thuyết tổng quát này – ngữ pháp phổ quát – sẽ có giá trị về giải thích nếu nó chọn đúng những ngữ pháp cụ thể. Sau đó, ông gán cho tôi, không đúng, quan điểm rằng ngữ pháp phổ quát phải được xác định là tương đương với “một lý thuyết về sự tiếp thu ngôn ngữ”. Đúng hơn, quan điểm của tôi là ngữ pháp phổ quát là một yếu tố của một lý thuyết như vậy, cũng giống như năng lực là một yếu tố của lý thuyết của hiệu năng.

 

Chắc chắn có nhiều yếu tố khác gồm trong sự tiếp thu ngôn ngữ ngoài khuôn khổ tâm lý tiếp nhận ngôn ngũ, và những hàm trọng số – nếu đề nghị của tôi là đúng – đóng một vai trò trong quyết định bản chất của năng lực. Việc giải thích sai đề nghị của tôi về liên hệ của ngữ pháp phổ quát với sự tiếp thu ngôn ngữ thì song song với giải thích sai đề nghị của tôi về liên hệ giữa năng lực và hiệu năng; trong cả hai trường hợp, những gì bị bỏ qua là sự viện dẫn những yếu tố liên quan khác. Hơn nữa, trong trường hợp tiếp thu ngôn ngữ, cần phải nhấn mạnh rằng mô hình vốn tôi đang nêu lên, tốt nhất chỉ có thể được coi như một sự xấp xỉ gần đúng đầu tiên với một lý thuyết học tập, vì nó là một mô hình tức thời và không cố gắng nắm bắt tác động qua lại giữa những giả thuyết ướm thử thăm dò vốn đứa trẻ có thể xây dựng, những dữ liệu mới được diễn giải theo những giả thuyết này, những giả thuyết mới dựa trên những diễn giải này, v.v., cho đến khi một hệ thống tương đối cố định về năng lực nào đó được thiết lập. Tôi nghĩ rằng một mô hình tức thời là một mô hình hợp lý gần đúng đầu tiên, nhưng điều này, cũng như bất kỳ phương diện nào khác của phương sách nghiên cứu, cuối cùng phải được thẩm định giá trị dựa trên mức độ thành công của nó trong việc đưa ra những giải thích và hiểu biết sâu xa.

 

Hiż coi việc viện dẫn những công thức cổ điển về những vấn đề ngôn ngữ và não thức như “hành trang lịch sử gây nhầm lẫn khó hiểu và sai lệch”. Tôi không đồng ý với nhận xét này, nhưng không có gì để thêm ở đây ngoài những gì tôi đã viết ở nơi khác. [36] Ý kiến chủ quan của tôi là những đóng góp của tâm lý học và ngữ học duy lý tự thân chúng đều đáng chú ý và nhiều liên quan với những quan tâm hiện tại, hơn thế nữa, trong thực tế, hơn phần lớn công trình của thế kỷ trước. Nếu một ai nhận thấy những đột phá vào lịch sử trí thức này gây “nhầm lẫn khó hiểu và sai lệch” thì hoàn toàn có thể bỏ qua chúng. Tôi thấy không có vấn đề gì ở đây.

 

Trước khi rời vấn đề này, tôi nên nhắc rằng Hiż thì không chính xác khi nói rằng Herbert of Cherbury tự giới hạn với “kiến thức tôn giáo”. Thomas Reid cũng không thể được mô tả như một trong những người quan tâm đến việc phát triển một học thuyết của những phổ quát bẩm sinh. Thêm nữa, chắc chắn là lầm lẫn khi nói rằng tôi “kêu gọi” đến Descartes và những người khác để “ủng hộ” “lập trường về những phổ quát bẩm sinh” của tôi. Sự cổ võ của họ với một quan điểm tương tự không tạo thành sự “ủng hộ”. Đúng hơn, tôi nêu lên rằng giá trị của những đóng góp của họ thì đã chưa được nhìn nhận đúng mức và chúng ta vẫn có thể học được nhiều từ một nghiên cứu kỹ lưỡng về chúng.

 

Hiż phản đối sự kiện rằng những đề nghị của tôi liên quan với ngữ pháp phổ quát đều dựa trên xem xét chi tiết của một ít những ngôn ngữ thay vì “xem xét của nhiều trường hợp”. Tôi chắc chắn đồng ý rằng người ta nên nghiên cứu càng nhiều ngôn ngữ càng tốt. Tuy nhiên, cần thêm một lưu ý thận trọng. Sẽ là khá dễ dàng để trình bày khối lượng dữ liệu khổng lồ từ những ngôn ngữ khác nhau tương hợp với tất cả những khái niệm về ngữ pháp phổ quát đã được hình thành cho đến nay. Không có ích gì khi làm như vậy. Nếu một người quan tâm đến những nguyên tắc của ngữ pháp phổ quát, người này sẽ cố gắng khám phá những thuộc tính của những ngữ pháp cụ thể có liên quan với những nguyên tắc này, gạt sang một bên một lượng lớn tài liệu mà, theo như người này có thể xác định, thì không liên quan. Chỉ qua những nghiên cứu đào sâu về những ngôn ngữ cụ thể, người ta mới có thể hy vọng tìm thấy bằng chứng quan trọng cho việc nghiên cứu ngữ pháp phổ quát. Một nghiên cứu loại như nghiên cứu của Matthews về Hidatsa (xem ghi chú 8) có giá trị bằng một nghìn nghiên cứu hời hợt về những ngôn ngữ khác nhau từ quan điểm này. Nếu ai đó cảm thấy cơ bản của dữ liệu thì quá hẹp, những gì người này nên làm là chỉ ra rằng một số tài liệu bị bỏ qua sẽ phản bác những nguyên tắc đã được hình thành. Mặt khác, phê bình của ông không có sức mạnh nào hơn một phê bình về di truyền học thời nay vì đã xây dựng những công thức lý thuyết của nó dựa trên nghiên cứu chi tiết của chỉ một số ít những sinh vật.

 

Hiż cũng biện luận rằng những nguyên tắc ngữ pháp phổ quát, ngay cả khi đúng, cũng chỉ có thể chỉ ra “nguồn gốc lịch sử chung của những ngôn ngữ”. Tôi đã chỉ ra lý do tại sao giả thuyết này không có giá trị về giải thích.

 

Hiż chủ trương rằng những quyết định về những phần cụ thể của ngữ pháp (bởi nhà ngữ học) đều “được xác định không bởi một lý thuyết tổng quát nhưng bởi tính hữu ích nội tại bên trong ngữ pháp cụ thể” và phàn nàn rằng tôi không làm rõ điều này. Vì tôi không biết “tính hữu ích nội tại” nghĩa là gì nên tôi không có gì để nói về điểm này. Vấn đề bị nhầm lẫn do ông diễn giải sai về cách tôi dùng khái niệm “tính đơn giản”. Khi tôi nói về “tính đơn giản của ngữ pháp”, tôi đang nhắc đến một “hàm trọng số” [37] được xác định theo kinh nghiệm, vốn chọn lọc một ngữ pháp có dạng được lược đồ phổ quát cho phép so với những ngữ pháp khác cũng có dạng thích hợp và tương hợp với dữ liệu thực nghiệm.. Tôi không dùng từ ngữ “tính đơn giản” để nói đến thuộc tính chưa được hiểu rõ của những lý thuyết vốn dẫn nhà khoa học đến chọn một này thay vì một khác. Biện pháp đánh giá định nghĩa “tính đơn giản của ngữ pháp” là một phần của lý thuyết ngôn ngữ học. Chúng ta phải cố gắng khám phá biện pháp này trên cơ bản thực nghiệm, bằng cách xem xét những quan hệ thực tế giữa dữ liệu input và ngữ pháp đã thu được. Do đó, khái niệm “tính đơn giản của ngữ pháp” đóng vai trò tương tự như vai trò của một hằng số vật lý; chúng ta phải thiết lập nó trên cơ sở thực nghiệm và không có hiểu biết tiên nghiệm sâu xa nào mà chúng ta có thể dựa vào. Những vấn đề về việc định nghĩa “tính đơn giản của những lý thuyết” trong nội dung chung của nhận thức luận và triết học khoa học hoàn toàn không liên quan với vấn đề xác định, trên cơ bản thực nghiệm, những thuộc tính của ngữ pháp dẫn đến việc lựa chọn một này thay vì một khác trong sự tiếp thu ngôn ngữ. Phương diện này đã được nhấn mạnh nhiều lần. Thí dụ, xem Aspects, Chương 1, Phần 7.

 

Một nhận xét cuối cùng. Hiż đề nghị rằng “sẽ là dễ dàng hơn để giải thích lý do tại sao chúng ta gán một cấu trúc loại như-vậy và như-vậy cho một câu bằng cách chỉ ra cho thấy cách câu này thay đổi những cách đọc của những câu lân cận hơn là viện dẫn đến những ý tưởng phổ quát bẩm sinh và thực tại tâm lý”. Ở đây ông nhầm lẫn giữa hai loại giải thích hoàn toàn khác nhau. Nếu tôi muốn giải thích tại sao, vào chiều hôm qua lúc ba giờ, John Smith hiểu “the shooting of the hunters/” như nói về hành động bắn những người thợ săn, chứ không phải “the hunters’ act of shooting”, dĩ nhiên tôi sẽ đưa vào xem xét nội dung về hoàn cảnh (không tự giới hạn trong việc “đọc những câu lân cận”). [38] Nếu tôi muốn giải thích tại sao câu này có thể áp dụng được với hai cách giải thích này, nhưng câu “the growth of corn /sự phát triển của bắp” chỉ có thể áp dụng được với một (cụ thể là sự phát triển của bắp nhưng không hành động hay tiến trình trồng bắp), thì trước tiên tôi sẽ dựa vào ngữ pháp cụ thể của tiếng Anh, và sâu hơn, vào những phổ quát trong ngôn ngữ đã dẫn đến việc xây dựng ngữ pháp này bởi một đứa trẻ tiếp xúc chỉ với một số dữ liệu nhất định. Vì đang giải thích những điều hoàn toàn khác nhau, nên thật vô nghĩa khi cho rằng cách giải thích này “dễ dàng” hơn cách kia. [39]

 

Phê bình của Harman cũng quan tâm với vấn đề của năng lực và hiệu năng. Ông bắt đầu bằng gán cho tôi một cái nhìn vốn tôi chưa bao giờ giữ và đã bác bỏ rõ ràng trong nhiều trường hợp, cụ thể là “năng lực [là] kiến thức vốn ngôn ngữ được mô tả bằng những quy luật của ngữ pháp”, và rằng một ngữ pháp mô tả “năng lực” này. Hiển nhien, là phi lý để giả định rằng người nói của một ngôn ngữ biết những quy luật trong ý hướng nghĩa là có khả năng để phát biểu về chúng. Sau khi gán cho tôi quan điểm phi lý này, Harman tiếp tục vật lộn với đủ loại nhầm lẫn và khó khăn đã gán cho của sự diễn giải. Nhưng ông không viện dẫn được gì để có thể được coi như một cơ bản cho việc gán cho tôi quan điểm này, mặc dù ông có trích dẫn những nhận xét vốn trong đó tôi rõ ràng bác bỏ nó. Vì vậy, tôi sẽ không thảo luận gì về phần biện luận này của ông.

 

Trong khung cấu trúc khái niệm của Harman, có hai loại kiến thức: biết rằng và biết cách. Rõ ràng kiến thức của một ngôn ngữ không là vấn đề “biết rằng”. Vì vậy, với ông , phải là một vấn đề của “biết cách” [40]. Một người nói điển hình “biết cách hiểu những người nói khác”; năng lực của người này là khả năng để “nói và hiểu ngôn ngữ được mô tả bởi [ngữ pháp]” vốn mô tả ngôn ngữ đó. Tôi không biết Harman muốn nói gì khi nói “biết cách thế nào để hiểu”, nhưng rõ ràng ông đang dùng từ ngữ “năng lực” theo một cách khác với những gì tôi nêu lên trong tác phẩm vốn ông đang xem xét. Theo nghĩa “năng lực “ của tôi, khả năng để nói và hiểu ngôn ngữ không chỉ liên quan với “năng lực” (nghĩa là nắm vững ngữ pháp tổng quát của ngôn ngữ, kiến thức ngầm về ngôn ngữ đó), nhưng còn nhiều yếu tố khác. Theo cách dùng của tôi, ngữ pháp là một thể hiện chính thức của những gì vốn tôi gọi là “năng lực”. Tôi không có phản đối gì về việc Harman dùng từ ngữ này trong một cách khác, nhưng khi ông nhất quyết cho rằng cách dùng của ông là của tôi, thì đương nhiên sẽ chỉ dẫn đến sự nhầm lẫn. Một lần nữa, tôi thấy không có ích gì khi truy tìm chi tiết những khó khăn khác vốn cách giải thích sai lầm này đưa ông vào.

 

Theo Harman, “năng lực để nói và hiểu ngôn ngữ” là một kỹ năng, tương tự như kỹ năng của một người đi xe đạp. Với sự nhấn mạnh của ông rằng kiến thức của ngôn ngữ là một vấn đề “biết cách” (vì rõ ràng nó không là “biết rằng”), đây không là một kết luận bất ngờ. Nhưng ông không đưa ra bất kỳ cách nào vốn khả năng dùng ngôn ngữ (hay năng lực, theo định nghĩa của tôi, là một phần quan trọng của khả năng này) tương tự như khả năng đi xe đạp. Tôi cũng không thấy bất kỳ điểm tương đồng có ý nghĩa nào giữa hai điều này. Khi đó, kết luận đúng đắn sẽ là không có lý do gì để cho rằng kiến thức về ngôn ngữ có thể được mô tả dưới dạng “biết cách”. Do đó, tôi thấy chẳng có ý nghĩa gì trong sự so sánh vốn ông đề nghị. Kiến thức về ngôn ngữ không là một kỹ năng, một tập hợp những thói quen hay bất cứ thứ gì tương tự. [41]Tôi thấy không có gì đáng ngạc nhiên khi kết luận rằng kiến thức về ngôn ngữ không thể được thảo luận theo bất kỳ cách có ích hay mang tính thông tin nào trong khung cấu trúc khái niệm nghèo nàn này. Trong tổng quát, với tôi, có vẻ như những khái niệm “biết cách” và “biết rằng” tạo thành những hạng loại đầy đủ cho việc phân tích kiến thức với tôi không đúng. Cũng không có gì đáng ngạc nhiên khi Harman cảm thấy khó hiểu nhận xét của tôi hay của bất kỳ ai khác quan tâm đến kiến thức về ngôn ngữ, vì người này nhất quyết tự giới hạn trong khung cấu trúc khái niệm này.

 

Harman cố gắng cho thấy rằng có một không mạch lạc nền tảng trong đề nghị của tôi rằng trong việc tiếp nhận hay dùng kiến thức của một ngôn ngữ (trong việc phát triển “sự biểu thị bên trong của một hệ thống phát sinh” hay dùng nó trong việc nói hay hiểu lời nói), đứa trẻ đem dùng [42] một lược đồ bẩm sinh vốn giới hạn việc lựa chọn của những ngữ pháp (trong trường hợp tiếp nhận) hay ngữ pháp tiếp nhận vô thức (trong trường hợp đem dùng ngôn ngữ). Với tôi, biện luận của ông dường như không rõ ràng. Như tôi hiểu, nó có vẻ diễn ra như sau. Ông biện luận rằng hệ thống đã hấp thụ vô thức (bên trong) này phải được trình bày trong “một ngôn ngữ cơ bản khác”, vốn đứa trẻ phải hiểu được nó, trước khi có thể dùng lược đồ này để học ngôn ngữ này, hay trước khi trẻ có thể dùng ngữ pháp để hiểu lời nói. Nhưng điều này, ông biện luận sẽ dẫn đến một vòng luẩn quẩn hay một sự thoái lui vô tận. Thế nên, nếu chúng ta đã nói rằng đứa trẻ trực tiếp biết “ngôn ngữ cơ bản hơn”, không cần học, thì tại sao cũng không nói rằng nó biết “trực tiếp ngôn ngữ nó nói”, không cần học; một vòng luẩn quẩn. Hay, nếu chúng ta nói rằng người này phải học ngôn ngữ cơ bản hơn, thì điều này đặt ra câu hỏi – ngôn ngữ cơ bản hơn được học thế nào? – và dẫn đến một chuỗi vô tận những câu hỏi (hay lý do) với không có điểm khởi đầu rõ ràng. Biện luận này hoàn toàn không hợp lệ. Hãy xem xét trường hợp của sự tiếp thu ngôn ngữ. Ngay cả khi chúng ta giả định rằng lược đồ bẩm sinh phải được thể hiện bằng một “ngôn ngữ bẩm sinh” thì cũng không có kết luận nào được đưa ra. Đứa trẻ phải biết “ngôn ngữ bẩm sinh” này, theo từ ngữ của Harman, nhưng điều đó không có nghĩa là nó phải “nói và hiểu nó” (bất kể điều này có nghĩa là gì) hay nó phải học nó. Tất cả những gì chúng ta cần giả định là người này, đứa trẻ, có thể đem dùng lược đồ này khi người này đi đến việc học tập một ngôn ngữ. Quá nhiều cho một chuỗi vô tận những lý do không có khởi đầu rõ ràng. Với vòng luẩn quẩn, có một lý do rất đơn giản tại sao chúng ta không thể cho rằng đứa trẻ biết ngôn ngữ vốn nó trực tiếp nói nhưng không học, cụ thể là giả định đó là sai. Chúng ta không thể khẳng định rằng mọi đứa trẻ sinh ra đều có một kiến thức hoàn hảo của tiếng Anh. Mặt khác, không có lý do gì – tại sao chúng ta không giả định rằng đứa trẻ sinh ra với một kiến thức hoàn hảo của ngữ pháp phổ quát, tức là đã sẵn có một lược đồ cố định vốn nó dùng, trong những cách đã mô tả ở trước, trong việc tiếp thu ngôn ngữ. Giả định này có thể sai, nhưng nó hoàn toàn dễ hiểu. Nếu ai đó nhất quyết mô tả kiến thức này là “kiến thức trực tiếp về một ngôn ngữ cơ bản hơn”, thì tôi thấy không có lý do gì để phản đối, miễn là chúng ta hiểu rõ ý mình muốn nói, nhưng chỉ đơn thuần chỉ ra rằng không có lý do gì để nghi ngờ rằng đứa trẻ có kiến thức trực tiếp này. Thế nên, không có vòng luẩn quẩn và không có sự thoái lui của một chuỗi vô tận. Tương tự, nếu chúng ta xem xét trường hợp dùng ngôn ngữ, không có sự thiếu mạch lạc hay không hợp lý. Chắc chắn không có sự thoái lui của chuỗi vô tận, và không có vòng luẩn quẩn trong sự giả định rằng trong việc dùng ngôn ngữ (nói hay hiểu), người dùng ngôn ngữ đem dùng một ngữ pháp được biểu thị bên trong. Chúng ta có thể dễ dàng xây dựng một mô hình (chẳng hạn như một progam cômputơ) hoạt động theo cách này. Do đó, tôi không thấy bất kỳ cơ bản nào cho tin tưởng của Harman rằng có một sự thoái lui của huỗi vô tận, hay một vòng luẩn quẩn cố hữu, hay ngay cả được ám chỉ, trong công thức này

 

Trong phần thứ hai của bài viết, Harman quay sang lập luận của tôi rằng công trình nghiên cứu hiện tại trong ngữ học ủng hộ một quan điểm về ngôn ngữ và não thức có hương vị duy lý rõ rệt và xung đột với quan điểm duy nghiệm đã thống trị nghiên cứu ngôn ngữ và não thức trong những năm gần đây. Ông khẳng định rằng để suy diễn một ngữ pháp từ dữ liệu, một mô hình của học tập ngôn ngữ phải đã sẵn có thông tin chi tiết về lý thuyết của hiệu năng. Đây là một đề nghị đáng quan tâm và đáng được phát triển. Nhưng tôi không thể đồng tình với tuyên bố khá giáo điều của ông, hầu như không được lập luận trong bài viết , rằng phương pháp nghiên cứu giải quyết này tất yếu phải là đúng và bất kỳ phương pháp nghiên cứu giải quyết nào khác đều không đem cho được bất kỳ hiểu biết sâu sa nào về vấn đề tiếp thu kiến ​​thức. Tôi nghĩ rằng công trình nghiên cứu trong vài năm vừa qua về ngữ pháp phổ quát thực sự nêu lên, và một phần ủng hộ một phương pháp nghiên cứu giải quyết đáng chú ý, lôi cuốn đáng chú ý, khá cổ điển với vấn đề về của tiếp thu kiến ​​thức như thế nào. Trong trường hợp không có bất kỳ lập luận nào về lý do tại sao phương pháp nghiên cứu giải quyết này thất bại, không làm sáng tỏ, tôi thấy không có lý do gì để không tiếp tục khảo sát xem những nguyên tắc ngữ pháp phổ quát có thể chọn một ngữ pháp cụ thể như thế nào trên cơ bản dữ liệu có sẵn như thế nào.

 

Bây giờ chúng ta hãy chuyển sang vấn đề của những phương pháp nghiên cứu giải quyết theo thuyết duy lý và duy nghiệm với những vấn đề về ngôn ngữ và não thức. Như Harman đã chỉ ra, nếu chúng ta mô tả một lược đồ bẩm sinh thiên vị, về (hay bị giới hạn ở) một dạng ngữ pháp cụ thể như phần của “những nguyên tắc quy nạp được dùng” và định nghĩa “thuyết duy nghiệm linh hoạt” như một học thuyết dùng những “nguyên tắc” đó. của quy nạp” như thế này thì chắc chắn “thuyết duy nghiệm linh hoạt” không thể bị bác bỏ, “bất kể sự thật về ngôn ngữ [hay bất cứ những gì khác] hóa ra là thế nào”. Dĩ nhiên, học thuyết mới này của “thuyết duy nghiệm linh hoạt” giờ đây sẽ kết hợp “những nguyên tắc của quy nạp”, có vẻ như khá cụ thể với công việc của sự tiếp thu ngôn ngữ và không có khả năng áp dụng tổng quát.

 

Khái niệm “thuyết duy nghiệm linh hoạt” [43] được định nghĩa như vậy với tôi dường như ít được quan tâm. Vấn đề khiến tôi quan tâm là liệu có “những ý tưởng và nguyên tắc thuộc nhiều loại khác nhau xác định dạng thức của kiến thức thu được theo cách có thể khá giới hạn và có tính tổ chức cao” hay nói cách khác là liệu “cấu trúc của thiết bị thu thập có bị giới hạn hay không”. tới một số hệ thống phân tích và lựa chọn tiến hành giải quyết ngoại vi cơ bản nhất định. . . và một số hệ thống phân tích và lựa chọn tiến hành giải quyết dữ liệu phân tích hay nguyên tắc quy nạp nhất định” (Aspects,, trang 47 f). Tôi đã biện luận rằng “việc phân biệt hai phương pháp nghiên cứu giải quyết rất khác nhau này với vấn đề tiếp nhận kiến thức là chính xác về phương diện lịch sử cũng như có giá trị về phương diện kinh nghiệm”, mặc dù tất nhiên chúng “không phải lúc nào cũng có thể được phân biệt rõ ràng” trong công trình của một nhà nghiên cứu duy nhất ( dẫn., tr. 52). Đặc biệt, tôi đã cố gắng chỉ ra rằng có thể hình thành những phương pháp nghiên cứu giải quyết này sao cho phương pháp nghiên cứu giải quyết trước kết hợp những ý tưởng hàng đầu của thuyết duy lý cổ điển cũng như biến thể thời nay vốn tôi đã mô tả, và biến thể thời nay gồm thuyết duy nghiệm cổ điển cũng như thuyết kinh nghiệm cổ điển. những lý thuyết về sự tiếp nhận kiến thức (hay tin tưởng, hay thói quen) được phát triển trong nhiều công trình thời nay (khái niệm của Quine về không gian chất lượng và sự hình thành kiến thức bằng sự liên kết và điều kiện hóa; Phương pháp nghiên cứu giải quyết của Hull về những phản xạ, điều kiện hóa và cấu trúc thói quen nguyên thủy; ngữ học hạng loại, với những thủ tục phân tích về phân đoạn và hạng loại cũng như quan niệm của nó về ngôn ngữ như một “hệ thống thói quen”, v.v.). [44]

 

Không cần phải nói, không cần thiết phải xem xét những cố gắng để khác nhau để nghiên cứu sự tiếp thu ngôn ngữ trong khung cấu trúc khái niệm này; Tôi chỉ có thể nói rằng tôi nghĩ nó vừa có ích vừa chính xác. Những lựa chọn thay thế này có thể được thực hiện khá chính xác và được nghiên cứu về phương diện hậu quả thực nghiệm của chúng. Nêu lên của Harman nhằm định nghĩa “thuyết duy nghiệm linh hoạt” theo cách gồm cả hai phương pháp nghiên cứu giải quyết, và như ông ghi nhận, miễn nhiễm với bất kỳ khám phá sự kiện nào, chỉ đơn thuần là một đề nghị từ ngữ vô nghĩa và không thể làm lu mờ sự khác biệt giữa những phương pháp nghiên cứu giải quyết được nhắc đến hay sự quan trọng của việc theo đuổi và thẩm định giá trị chúng. [45]

 

Tóm lại, tôi hoài nghi rằng ngữ học, ít nhất là trong giai đoạn phát triển hiện tại, có thể đưa ra một phương pháp hoặc “kỹ thuật” mới mang tính đột phá có thể biến đổi đáng kể triết học phân tích. Tuy nhiên, tôi tin rằng nghiên cứu ngôn ngữ có tiềm năng làm sáng tỏ và hỗ trợ một phần cho một số kết luận nhất định về kiến ​​thức của con người, đặc biệt là những kết luận giao thoa với những câu hỏi lâu đời trong triết học về tâm trí. Tôi nghĩ rằng trong lĩnh vực này, ngôn ngữ học và triết học có cơ hội hứa hẹn nhất cho sự hợp tác có ý nghĩa và hiệu quả trong những năm tới. Tôi ngờ rằng trong lĩnh vực này, người ta có thể mong đợi sự hợp tác thực sự hiệu quả giữa ngữ học và triết học trong những năm tới. [46] [47]


 

Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ nhất

(Aug/2024)

(Còn tiếp ... )

 

http://chuyendaudau.blogspot.com/

http://chuyendaudau.wordpress.com

 


[1] Structural Linguistics: Ngữ Học Cấu Trúc: một lĩnh vực ngôn ngữ học vốn phân tích ngôn ngữ như một hệ thống của những yếu tố có liên kết với nhau, với tập trung vào nghiên cứu cấu trúc của nó hơn là ý nghĩa của nó. Phát triển vào đầu thế kỷ 20 bởi những người tiên phong như Ferdinand de Saussure, phương pháp này xem xét cách những phần khác nhau của ngôn ngữ – chẳng hạn như âm thanh, từ và cấu trúc câu – tác động hỗ tương và hình thành những mẫu thức dựa trên tương quan của chúng.

Những đặc điểm chính của ngữ học cấu trúc:

-         Ngôn ngữ như một hệ thống: Xem ngôn ngữ như một mạng lưới có cấu trúc, trong đó những thành phần (chẳng hạn như âm thanh hoặc qui luật ngữ pháp) được xác định bởi tương quan của chúng với nhau.

-         Tập trung vào dạng thức: Thay vì tập trung vào ý nghĩa (ngữ nghĩa), ngữ học cấu trúc nhấn mạnh vào dạng thức và tổ chức của ngôn ngữ – cách những đơn vị phù hợp với nhau.

-         Ngữ âm và cú pháp: Những lĩnh vực nghiên cứu chính gồm hệ thống âm thanh (ngữ âm) và cấu trúc của câu (cú pháp).

Trong khi Saussure thường được ghi nhận là người sáng lập ngữ học cấu trúc, nhiều người khác đã xây dựng dựa trên ý tưởng của ông và mở rộng lĩnh vực này.

Những nhân vật nổi bật gồm:

(a) Roman Jakobson: Một nhân vật chính yếu trong Trường phái Praha, Jakobson đã áp dụng những nguyên tắc cấu trúc học vào ngữ âm học, hình thái học và truyền thông. Ông được biết đến với công trình nghiên cứu về những đặc điểm riêng biệt trong ngữ âm học và mô hình truyền thông của ông (người gửi, thông điệp, người nhận). (b) Nikolai Trubetzkoy: Một nhà ngôn ngữ học khác của Trường phái Praha, Trubetzkoy đã đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển khái niệm về âm vị, những đơn vị âm thanh riêng biệt nhỏ nhất. Quyển Principles of Phonology của ông vẫn là một cột mốc trong lĩnh vực này. (c) Louis Hjelmslev: Người sáng lập Trường phái Copenhagen, Hjelmslev đã mở rộng những ý tưởng của Saussure và tạo ra glossematics, (ngữ vị học) một phiên bản chính thức của ngữ học cấu trúc nhằm tạo ra một nghiên cứu khoa học hơn về cấu trúc ngôn ngữ. (d) Claude Lévi-Strauss: Mặc dù là một nhà nhân chủng học, Lévi-Strauss đã áp dụng những ý tưởng cấu trúc học vào lĩnh vực của ông. Ông coi những nền văn hóa của con người là hệ thống những ký hiệu và lập luận rằng những huyền thoại và hệ thống tương quan họ hàng có thể được hiểu qua cách nghiên cứu giải quyết cấu trúc học. (e) Roland Barthes: Là một nhà lý thuyết văn học và ký hiệu học người Pháp, Barthes đã dùng những ý tưởng của chủ nghĩa cấu trúc trong phê bình văn học và nghiên cứu về những dấu hiệu văn hóa, kết nối ngôn ngữ học và ký hiệu học (nghiên cứu về những dấu hiệu và biểu tượng). (f) Noam Chomsky: Mặc dù Chomsky đã rời xa chủ nghĩa cấu trúc nghiêm ngặt với lý thuyết ngữ pháp phát sinh của ông, nhưng những tác phẩm đầu tay của ông vẫn chịu ảnh hưởng của tư tưởng chủ nghĩa cấu trúc. Ông đã phê bình và đề xuất một dường lối mới để hiểu những Cấu trúc sâu của ngôn ngữ, nhưng ngữ pháp chuyển đổi của ông vẫn tập trung vào cú pháp và những quy luật. (g) Émile Benveniste: Là một nhà ngôn ngữ học người Pháp đã mở rộng những ý tưởng của Saussure, Benveniste đã khám phá tương quan giữa ngôn ngữ và tính chủ quan, đặc biệt là cách ngôn ngữ ảnh hưởng đến ý thức về bản ngã của chúng ta. (h) André Martinet: Là một nhân vật chính yếu trong ngôn ngữ học chức năng, Martinet đã nghiên cứu về ngữ âm và cú pháp. Khái niệm về sự phát âm kép của ông nhấn mạnh cách ngôn ngữ hoạt động trên hai mức độ: âm thanh riêng lẻ và những đơn vị mang ý nghĩa.

Những học giả này đã khai triển những ý tưởng của Saussure và áp dụng chúng vào nhiều lĩnh vực khác nhau như ngữ âm, cú pháp, ký hiệu học và nghiên cứu văn hóa, biến ngữ học cấu trúc thành một phần cốt lõi của ngôn ngữ học và triết học thế kỷ 20. Theo quan điểm của Zeno Vendler, ngữ học cấu trúc cung cấp một dụng cụ mới cho triết học phân tích bằng cách nhấn mạnh cách ngôn ngữ được cấu trúc. Điều này phản ảnh công việc của những nhà triết học ngôn ngữ thông thường, những người phân tích lời nói hàng ngày để khám phá những hiểu biết triết học sâu xa hơn.

[2] Những nhà triết học về ngôn ngữ thông thường là một nhóm những nhà triết học thế kỷ 20 tập trung vào việc phân tích cách ngôn ngữ được dùng trong giao tiếp hàng ngày. Mục đích của họ là giải quyết những vấn đề triết học bằng xem xét cách dùng thông thường, thực tiễn của những từ thay vì phát minh ra những hệ thống trừu tượng về ý nghĩa. Họ tin rằng nhiều vấn đề triết học phát sinh do những hiểu lầm hoặc dùng sai ngôn ngữ. Phong trào này liên kết chặt chẽ với triết học phân tích và thường phản ngược với những phương pháp nghiên cứu giải quyết trước đó, chính thức hơn, tìm cách xây dựng những hệ thống logic lý tưởng hoặc tượng trưng (như của Frege hoặc Russell). Những nhà triết học ngôn ngữ thông thường chính:

(a) Ludwig Wittgenstein (1889–1951): Được biết đến với những tác phẩm sau này, đặc biệt là Philosophical Investigations, trong đó ông lập luận rằng ý nghĩa phát sinh từ cách dùng ngôn ngữ thực tiễn trong những “trò chơi ngôn ngữ” cụ thể. Ý tưởng thí dụ: Thay vì hỏi “Bản chất của một từ là gì?”, chúng ta nên nghiên cứu cách dùng nó trong ngữ cảnh.

(b) J.L. Austin (1911–1960): Nổi tiếng với việc phát triển lý thuyết hành vi lời nói trong những tác phẩm như How to Do Things with Words. Ý tưởng thí dụ: Ngôn ngữ không chỉ mô tả thế giới; nó thực hiện những hành động (thí dụ: hứa hẹn, xin lỗi).

(c) Gilbert Ryle (1900–1976): Nổi tiếng nhất với lời phê bình về thuyết nhị nguyên Descartes trong The Concept of Mind. Ý tưởng thí dụ: những vấn đề triết học thường phát sinh từ những sai lầm về phạm trù, trong đó những thuật ngữ được áp dụng không phù hợp.

(d) G.E. Moore (1873–1958): Người tiên phong của phong trào này, được biết đến với việc nhấn mạnh vào sự rõ ràng và phân tích ngôn ngữ theo kiến thức thự tiễn thông thường. Ý tưởng thí dụ: những nhà triết học nên chú ý đến cách mọi người thường dùng những từ như “tốt” hoặc “biết”.

(e) P.F. Strawson (1919–2006): Làm việc về ngôn ngữ thông thường liên quan đến logic học và siêu hình học, đặc biệt là trong Individuals và The Bounds of Sense. Ý tưởng thí dụ: Phân tích cách ngôn ngữ thông thường giả định những khuôn khổ để nói về những sựu việc như bản sắc định tính và nhân quả.

Ý tưởng cốt lõi của Triết học ngôn ngữ thông thường:

-         Tập trung vào ngôn ngữ hàng ngày: những câu hỏi triết học nên bắt đầu bằng cách những từ và khái niệm thực sự được dùng trong cuộc sống hàng ngày.

-         Phê bình những lý thuyết trừu tượng: Nhiều vấn đề triết học truyền thống bị coi là những vấn đề giả phát sinh từ việc dùng sai ngôn ngữ.

-         Ngôn ngữ như hành động: Ngôn ngữ không chỉ để nêu sự thật mà còn thực hiện những hành động (thí dụ: mệnh lệnh, lời hứa hoặc chức năng xã hội).

-         Ngữ cảnh rất quan trọng: Ý nghĩa của một từ hoặc cụm từ phụ thuộc rất nhiều vào ngữ cảnh của nó. Thí dụ trong thực tế: Siêu hình học truyền thống có thể hỏi, “Bản chất của thời gian là gì?”

Một triết gia ngôn ngữ thông thường sẽ phân tích cách mọi người dùng từ thời gian trong những tình cảnh hàng ngày (thí dụ: “Bạn có thời giờ không?” hoặc “Mấy giờ rồi?”) để làm rõ ý thực sự của chúng ta khi nói về thời gian.

[3] [S [NP [Det The] [N cat]] [VP [V sits] [PP [P on] [NP [Det the] [N mat]]]]]

Trong biểu thị  này:

S viết tắt của Câu.

NP là viết tắt của cụm danh từ (như “The cat”).

VP là viết tắt của cụm động từ (như “sits on the mat”).

AP là viết tắt của cụm tính từ (như “sits on the mat”).

PP là viết tắt của cụm giới từ (như “on the mat”).

Det là từ hạn định (như “The”hoặc “the”).

N là danh từ (như “cat”hoặc “mat”).

V là động từ (như “sits”).

P là giới từ (như “on”).

Dấu ngoặc vuông có nhãn chỉ định phạm trù ngữ pháp này cung cấp sự phân tích có cấu trúc của câu, cho thấy cách những thành phần được sắp xếp theo ngữ pháp và cú pháp.

[4] Tôi viết lại cho rõ ý trên – cho những người không quen với cách nói của Chomsky – Nhà ngữ học nghiên cứu tiếng Anh, một khi họ thừa nhận rằng ngôn ngữ này có một số mô hình qui luật nhất định, sẽ hướng đến việc tạo ra một tập hợp gồm những quy luật có thể tạo ra vô số cấu trúc ngoài mặt. Những cấu trúc ngoài mặt này đại diện cho dạng cơ bản của mỗi câu trong tiếng Anh về cơ bản là cách những câu được xây dựng bằng những cụm từ như cụm danh từ và cụm động từ. Mục tiêu là có một tập hợp gồm những quy luật có thể tạo ra bất kỳ câu nào có thể có trong ngôn ngữ đó. Tương tự như vậy, lý thuyết ngữ học giải quyết một câu hỏi rộng hơn: Những loại cấu trúc câu này được tạo ra như thế nào trong bất kỳ ngôn ngữ nào của con người? Những nhà ngôn ngữ học hướng đến việc phát triển những nguyên tắc tổng quát giải thích cách những qui luật xây dựng câu hoạt động trên những ngôn ngữ khác nhau. Những nguyên tắc này sẽ hướng dẫn việc tạo ra những hệ thống qui luật cho những ngôn ngữ cụ thể, chỉ ra cách những ngôn ngữ khác nhau trong việc thể hiện cùng một loại cấu trúc ngữ pháp cơ bản.

Tóm lại, công việc của nhà ngôn ngữ học là tìm ra những qui luật cho một ngôn ngữ cụ thể (như tiếng Anh), trong khi lý thuyết ngôn ngữ học (triết học) cố gắng khám phá ra những qui luật tổng quát áp dụng cho tất cả những ngôn ngữ của con người.

[5] referential opacity: tính mờ đục trong tham chiếu. Trong triết học phân tích (và khoa học máy tính), tính trong suốt trong tham chiếu (referential transparency) và tính mờ đục trong tham chiếu (referential opacity) là những thuộc tính của những cấu trúc ngôn ngữ và và sự mở rộng của ngôn ngữ Tính trong suốt trong tham chiếu có nghĩa là nếu chúng ta thay một phần của một biểu thức bằng một phần khác có cùng giá trị, thì giá trị của biểu thức không thay đổi. Ngược lại, tính mờ đục trong tham chiếu xảy ra khi việc thay thế một phần không giữ nguyên giá trị của biểu thức. Một cấu trúc ngôn ngữ gọitính trong suốt trong tham chiếu cho phép mỗi biểu thức không chỉ định một phần nào đó, mà chỉ đơn giản là “tham chiếu” đến một gì khác. Thí dụ, câu “Socrates là người thông thái” có thể được thay bằng “Người sáng lập triết học phương Tây là người thông thái” mà không thay đổi ý nghĩa câu. Trong khi đó, cấu trúc ngôn ngữ gọitính mờ đục trong tham chiếu không cho phép thay thế mà vẫn giữ nguyên ý nghĩa. Chẳng hạn, câu “Xenophon nói 'Socrates là người thông tháikhông thể thay bằng “Xenophon nói Người sáng lập triết học phương Tây là người thông thái’” mà không làm thay đổi ý nghĩa câu.

[6] như quark, lepton và boson

[7] Formal processes: những tiến trình chính thức: “Chính thức” ở đây có nghĩa là “được điều chỉnh bởi quy luật “hay “tuân theo những nguyên tắc cụ thể, có cấu trúc”

[8] Trong đoạn văn này, expressions: “biểu thức” đề cập đến những đơn vị ngôn ngữ hay cấu trúc, chẳng hạn như cụm từ, mệnh đề hay câu, truyền đạt ý nghĩa. Cụ thể, những “biểu thức” này bao gồm những dạng danh từ hóa hay cụm danh từ bắt nguồn từ những cấu trúc cơ bản (sâu) trong câu. Thí dụ, một câu như He decided to leave /Anh ấy quyết định rời đi” có thể tạo ra một biểu thức chuyển đổi thành cụm danh từ như “his decision to leave, quyết định của anh ấy để rời đi”, đóng gói lại nội dung của câu dưới dạng một cụm danh từ. Ở đây, thuật ngữ “biểu thức” được sử dụng rộng rãi để bao gồm bất kỳ sự kết hợp có cấu trúc nào của những từ truyền đạt một ý tưởng hay khái niệm, cho dù nó xuất hiện dưới dạng một câu đầy đủ, một mệnh đề hay một cụm danh từ.

[9] [Thí dụ, xem phần đóng góp của tôi cho hội nghị chuyên môn về những ý tưởng bẩm sinh được xuất bản trong Synthese, Vol. 17, Số 1, tháng 3 năm 1967, trang 2–11, và những tài liệu tham khảo được trích dẫn ở đó trên trang. 11.]

[10] [Cụ thể, những đóng góp của Nelson Goodman và Hilary Putnam cho hội nghị chuyên môn trong Synthese, Vol. 17, Số 1, tháng 3 năm 1967, trang 12–28, và những bài phê bình của Henry Hiż và Gilbert Harman trên Journal of Philosophy / Tạp chí Triết học dành cho “Một số vấn đề gần đây về ngôn ngữ học”, Tập. 64, Số 2, ngày 2 tháng 2 năm 1967, trang 67–87. Hai phần sau chủ yếu dành cho việc phân tích quan trọng Chương 1 trong cuốn Aspects of the Theory of Syntax / Những phương diện của lý thuyết cú pháp của tôi (Cambridge, Mass.: MIT Press, 1965).]

[11] potential percepts: Trong nội dung trên, “percepts” là “diễn giải” hoặc “biểu thị  tinh thần” của thông tin giác quan, cụ thể là cách những kích thích ngôn ngữ như âm thanh lời nói hoặc ký hiệu viết được não thức tiến hành. Về cơ bản, percepts là những cấu trúc nhận thức được hình thành từ input giác quan, trong trường hợp này là ngôn ngữ. “Potential percepts” chỉ những “diễn giải có thể” hoặc những “cấu trúc ngôn ngữ có thể” do ngữ pháp của ngôn ngữ tạo ra. Những biểu thị  trừu tượng của câu này bao gồm những khía cạnh ngữ âm, ngữ nghĩa và cú pháp của chúng, cho thấy những cách khác nhau mà một câu có thể được hiểu trong một ngôn ngữ.

[12] [Vì ngôn ngữ không tồn tại khách quan ngoài sự thể hiện tâm lý của nó, nên chúng ta không cần phân biệt giữa “hệ thống tin tưởng”và “kiến thức”trong trường hợp này]

[13] Trong nội dung trên: (a) Những cấu trúc bậc nhất (hay “percept”) dùng để chỉ những cấu trúc ngôn ngữ có thể quan sát được, ngoài mặt – những âm thanh, ý nghĩa và dạng cú pháp thực sư mà chúng ta gặp phải khi dung ngôn ngữ. Đây là những cấu trúc ngoài mặt, vì chúng có thể được quan sát và nghiên cứu trực tiếp qua thực nghiệm và quan sát. (b) Những cấu trúc bậc hai dùng để chỉ những quy luật hay những nguyên tắc trừu tượng, cơ bản – như cấu trúc sâu – tạo ra những cấu trúc ngoài mặt này. Ở đây, ngữ pháp phát sinh đóng vai trò như cấu trúc bậc hai, cung cấp hệ thống nền tảng chi phối cách tạo ra những tiềm năng cấu trúc ngoài mặt. Nghiên cứu điều này đòi hỏi phải tập trung vào kiến ​​thức ngôn ngữ nội tại (đã nhập tâm) mà người nói sở hữu, thay vì dữ liệu ngôn ngữ có thể quan sát được ngay lập tức.

[14] Trong nội dung trên, hệ thống của biểu thị  nói về một khung cấu trúc tâm lý/tinh thần có trong ngôn ngữ của con người, hệ thống này tổ chức cách chúng ta nhận thức, hiểu và tiến hành những yếu tố ngôn ngữ, đặc biệt là trong cú pháp và ngữ âm. Hệ thống này định hình cách thông tin ngôn ngữ – như âm thanh, từ và câu – được tổ chức trong não thức cho phép chúng ta diễn giải và tạo ra ngôn ngữ có ý nghĩa một cách nhất quán trong những nội dung khác nhau. Theo Chomsky, cú pháp và ngữ âm hoạt động qua những biểu thị  cơ bản hoặc những cấu trúc trừu tượng, hướng dẫn việc hiểu và tạo câu. Hệ thống này gồm: (a) Một tập hợp những quy luật cơ bản tạo thành những cấu trúc sâu, (b) Những phép biến đổi ngữ pháp ánh xạ những cấu trúc sâu này thành những cấu trúc ngoài mặt và (c) Những quy luật ngữ âm gán những diễn giải ngữ âm cho những cấu trúc ngoài mặt. Về bản chất, hệ thống của biểu thị  này hoạt động như một tập hợp có tổ chức gồm những nguyên tắc bên trong ngữ pháp phát sinh. Nó hỗ trợ khả năng của chúng ta để tiến hành những input và output ngôn ngữ bằng chuyển đổi những âm thanh và những câu cơ bản thành những cấu trúc có ý nghĩa có thể được hiểu phổ quát bên trong những giới hạn tự nhiên của bất kỳ ngôn ngữ nào của con người.

[15] Sample

[16] [A. C. Fraser (ed.), trong bản in tiểu luận của Locke, Essay Concerning Human Understanding, 1894 (do Dover tái bản, 1959), tr. 38 của ấn bản Dover.]

[17] [Cf. bài viết của ông trong hội nghị chuyên môn trong Synthese, Vol. 17, số 1, tháng 3 năm 1967, tr. 24. Với dạng thức đối thoại trong bài viết của ông, thật khó để chắc chắn rằng người ta không hiểu sai lập trường của ông. Tuy nhiên, tôi thấy không có cách nào khác để giải thích những nhận xét này.]

[18] [Để biết một số thảo luận, xem bài viết của tôi “Những mô hình giải thích trong ngôn ngữ học”trong E. Nagel, P. Suppes, và A. Tarski, eds., Logic, Methodology, and Philosophy of Science (Stanford, Calif.: Stanford University Press, 1962). Để biết một số thảo luận gần đây và sâu rộng hơn, xem N. Chomsky và M. Halle, Sound Patterns of English / Mô hình âm thanh tiếng Anh (New York: Harper & Row, 1968), và những tài liệu tham khảo được trích dẫn ở đó, và bài viết của tôi “Một số thuộc tính chung của những quy luật âm vị, “Ngôn ngữ, Tập. 43, tháng 3 năm 1967, trang 102–28.]

[19] mitosis

[20] [N. Goodman, Structure of Appearance, tái bản lần thứ 2. (Indianapolis: Bobbs-Merrill, 1966), tr. 272. Sự phân biệt giữa Gruebleen và tiếng Anh mà tôi đang thảo luận không nên bị nhầm lẫn với sự phân biệt giả, đã bị J. Ullian bác bỏ một cách chính xác trên cách dùng khác của khái niệm “match/phù hợp”. Xem Philosophical Review, tháng 7 năm 1961.]

[21] “Gruebleen” là một ngôn ngữ giả tưởng do Nelson Goodman tạo ra, trong đó những vị ngữ “grue” và “bleen” thay thế cho “green” và “blue”.Grue và bleen là những vị ngữ phụ thuộc thời gian; nghĩa của chúng thay đổi tùy thuộc vào việc những đối tượng được kiểm tra trước hay sau thời điểm t đã chỉ định. Điều này trái ngược với những vị ngữ ngôn ngữ tự nhiên như green và blue, không phụ thuộc vào thời gian trong cách sử dụng tự nhiên (tức là, việc một đối tượng có màu xanh lá cây không phụ thuộc vào thời điểm nó được quan sát). Goodman dùng thí dụ này để đặt câu hỏi tại sao một số vị ngữ (như “green”) được coi là tự nhiên trong khi những vị ngữ khác (như “grue”) thì không. Chomsky phê bình – đây là một vấn đề bên lề, “Gruebleen” là một thí dụ hẹp và nhân tạo, nói đến một vấn đề tương đối không quan trọng, không đáng kể so với những quan tâm trung tâm hoặc cơ bản hơn. Chomsky muốn nhấn mạnh những đặc tính sâu sắc, phổ quát của ngôn ngữ tự nhiên giúp phân biệt chúng với những ngôn ngữ nhân tạo như Gruebleen.

[22] The speculative psychology = chie lý thuyết không thực nghiệm

[23] quan điểm đơn giản hóa và có lẽ là bóp méo của Locke về lý thuyết về những ý tưởng bẩm sinh

[24] Những lập luận của Goodman và phản hồi của Chomsky ở trên xoay quanh hai chủ đề chính: bản chất của những ý tưởng bẩm sinh và vấn đề tiếp thu ngôn ngữ.

(a)     Phê bình của Goodman: Goodman bắt đầu bằng cách phê bình ý tưởng về những ý tưởng bẩm sinh, đồng ý với quan điểm bác bỏ khái niệm này của Locke. Ông tin rằng học thuyết về những ý tưởng bẩm sinh là vô nghĩa hoặc sai, đặc biệt là ở “hình thức thô thiển nhất” của nó, khi nó cho rằng những ý tưởng tồn tại trong não thức trước bất kỳ kinh nghiệm nào. Goodman cũng lập luận rằng việc tiếp thu ngôn ngữ không phải là vấn đề như thường được mô tả. Ông cho rằng khi một người học được một ngôn ngữ, việc tiếp thu những ngôn ngữ khác trở nên dễ dàng hơn vì hệ thống biểu tượng nền tảng đã có sẵn. Theo Goodman, học ngôn ngữ đầu tiên chỉ đơn giản là tiếp thu một hệ thống biểu tượng thứ cấp, dựa trên những kinh nghiệm tiền-ngôn ngữ như cử chỉ và những hiện tượng giác quan

Goodman cũng phản đối ý tưởng cho rằng những cấu trúc nhận thức bẩm sinh có thể được kiểm tra theo kinh nghiệm. Ông tin rằng những tuyên bố về ngôn ngữ “xấu” hoặc ngôn ngữ thiếu một số đặc điểm ngữ pháp nhất định không được hỗ trợ đầy đủ bằng chứng. Theo quan điểm của ông, rất khó để kiểm tra những lý thuyết như vậy bằng thực nghiệm, đặc biệt là khi nghiên cứu những ngôn ngữ được xây dựng nhân tạo.

(a)     Phản hồi của Chomsky: Chomsky phản bác phê bình của Goodman bằng cách chỉ ra một số hiểu lầm. Đầu tiên, ông lập luận rằng Goodman đã hiểu sai tranh luận lịch sử giữa Locke và những người theo chủ nghĩa duy lý như Descartes. Trong khi Locke bác bỏ ý tưởng về những ý tưởng bẩm sinh, Chomsky khẳng định rằng Locke đã hiểu sai cách những người theo chủ nghĩa duy lý nhìn nhận chúng. Đối với những nhà tư tưởng như Descartes, những ý tưởng bẩm sinh không nhất thiết phải là có ý thức / hữu thức (conscious) nhưng là có tính chất định hướng (dispositional = chỉ một phẩm chất hoặc đặc điểm không phải lúc nào cũng rõ ràng nhưng có thể biểu hiện trong một số điều kiện hoặc kích thích nhất định. Trong lập luận của Chomsky, khi ông mô tả những ý tưởng hoặc cấu trúc bẩm sinh là có “tính khuynh hướng”, ông có ý nói rằng những cấu trúc này vốn có trong não thức nhưng không phải lúc nào cũng hoạt động hoặc có thể nhìn thấy cho đến khi những điều kiện phù hợp (như tiếp xúc với ngôn ngữ) kích động việc đem dùng hoặc biểu hiện của chúng. Chúng là những đặc điểm tiềm năng hướng dẫn sự phát triển của kiến ​​thức và kinh nghiệm), nghĩa là chúng định hình kinh nghiệm của chúng ta mà không cần phải tiếp cận trực tiếp với não thức. Chomsky tin rằng những cấu trúc bẩm sinh này là cần thiết để giải thích tiến trình tiếp thu ngôn ngữ.

Về tiến trình tiếp thu ngôn ngữ, Chomsky lập luận rằng Goodman đã đơn giản hóa vấn đề quá mức. Ông không đồng ý với ý tưởng của Goodman rằng tiến trình tiếp thu ngôn ngữ đầu tiên chỉ là sự phát triển của một hệ thống ký hiệu thứ cấp. Chomsky nhấn mạnh rằng trẻ em không chỉ học ngôn ngữ từ những hệ thống ký hiệu đã tồn tại từ trước mà chúng phải “phát minh lại” ngữ pháp từ đầu. Tiến trình này đòi hỏi những cấu trúc nhận thức bẩm sinh, đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu cách trẻ em có thể tiếp thu những quy luật ngữ pháp phức tạp từ lượng thông tin input  hạn chế

Chomsky cũng phản hồi quan điểm của Goodman về thử nghiệm thực nghiệm. Mặc dù ông đồng ý rằng những thử nghiệm trực tiếp về tiến trình tiếp thu ngôn ngữ có thể khó khăn, nhưng ông lập luận rằng vẫn có thể thu thập được bằng chứng gián tiếp. Những nhà ngôn ngữ học có thể kiểm tra những giả thuyết bằng cách xem xét cách ngôn ngữ hoạt động và cách trẻ em học chúng. Theo Chomsky, có nhiều nghiên cứu và bằng chứng đáng kể ủng hộ ý tưởng rằng tiến trình tiếp thu ngôn ngữ được thúc đẩy bởi những cấu trúc bẩm sinh, giống như ngữ pháp phổ quát.

Chomsky tin rằng phê bình của Goodman dựa trên sự hiểu lầm về cả lịch sử tư tưởng duy lý và bản chất của tiến trình tiếp thu ngôn ngữ. Trong khi Goodman cho rằng tiến trình tiếp thu ngôn ngữ rất dễ dàng khi một người đã học được một ngôn ngữ, Chomsky vẫn cho rằng tiến trình tiếp thu ngôn ngữ đầu tiên là một tiến trình phức tạp hơn nhiều, đòi hỏi những cấu trúc nhận thức bẩm sinh. Chomsky lập luận rằng những cấu trúc này rất cần thiết để hiểu cách trẻ em tiếp thu ngôn ngữ nhanh chóng và hiệu quả, khiến cho lý thuyết về ngữ pháp phổ quát vừa hợp lý vừa có thể kiểm chứng được về phương diện khoa học.

[25] rank behaviorists = “những người theo chủ nghĩa hành vi nghiêm ngặt” hoặc “những người theo chủ nghĩa hành vi truyền thống”, những người chỉ tập trung vào hành vi có thể quan sát được và bác bỏ những trạng thái tinh thần bên trong.

[26] Explanatory Models in Linguistics: một bài viết quan trọng – đã xuất bản như một phần của biên bản của Hội nghị năm 1964 về quan hệ giữa những khía cạnh ngôn ngữ và tâm lý của ngôn ngữ / Conference on the Interrelations of the Linguistic and Psychological Aspects of Language, được tổ chức tại Đại học Maryland. Đây là một tiểu luận có ảnh hưởng của Noam Chomsky, trong đó ông thảo luận về bản chất của lý thuyết ngôn ngữ và cách lý thuyết này có thể giải thích cấu trúc của ngôn ngữ. Trong tiểu luận này, Chomsky đề cập đến đòi hỏi về một lý thuyết ngôn ngữ không chỉ mô tả dữ liệu ngôn ngữ mà còn giải thích những hệ thống phân tích và lựa chọn nhận thức cơ bản liên quan đến việc tiếp nhận và sử dụng ngôn ngữ. Một trong những ý tưởng chính trong tác phẩm này là khái niệm “ generative grammar”, cho rằng con người có một khả năng bẩm sinh, về sinh học để tạo ra và hiểu ngôn ngữ. Chomsky phê bình những thuyết ngôn ngữ trước đó và ủng hộ một cách nghiên cuaue giải quyết chính thức và cấu trúc hơn để hiểu ngôn ngữ, tập trung vào những tiến trình tâm lý đằng sau tiến trình tạo và hiểu ngôn ngữ. Cụm từ “ Explanatory Models /Những Mô hình giải thích” chỉ mục tiêu rộng hơn của Chomsky là phát triển những mô hình có thể giải thích lý do ngôn ngữ có cấu trúc như vậy, đặc biệt là nhìn về phương diện ngữ pháp phổ quát và những cơ cấu nhận thức làm nền tảng cho việc học và nói-hiểu một ngôn ngữ.

[27] [Không phải ngẫu nhiên chút nào. Mặc dù điều này hầu như không quan trọng ở đây, nhưng có vẻ như nhiều ngôn ngữ không có những tên riêng như một hạng loại nguyên thủy nhưng thay vào đó hình thành tên riêng bằng những tiến trình của sự tạo phức hợp bằng lập lại cùng quy tắc: thuộc loại phức tạp. Thí dụ, xem G. H. Matthews, Hidatsa Syntax (The Hague: Mouton, 1965), trang 191 f.]

[28] [Thí dụ, xem S. Peters và R. Ritchie, “Về năng lực sáng tạo của những ngữ pháp chuyển đổi”, Information Sciences (sắp xuất bản); và JP Kimball, “Những vị ngữ có thể xác định được dựa trên những dẫn xuất chuyển đổi bằng cách giao thoa với những ngôn ngữ thông thường”, Information and Control, Tập. 2, 1967, trang 177–95.

[29] [Để biết một số luận đoán về vấn đề này, xem G. A. Miller và N. Chomsky, “Mô hình tài chính của người dùng ngôn ngữ”, Phần II, trong RD Luce, R. Bush, và E. Galanter, eds., Handbook of Mathematical Psychology (New York) : Wiley, 1963), Tập. II

[30] A fair sample = ‘mẫu đại diện’ có nghĩa là một tập hợp tiêu biểu đại diện những ngôn ngữ phản ảnh đầy đủ những cấu trúc ngôn ngữ có thể có. Nếu mẫu bị thiên vị hoặc không đầy đủ, nó có thể dẫn đến một lý thuyết hẹp hoặc không chính xác về ngữ pháp phổ quát.

[31] Surprising linguistic universals: Những phổ quát về ngôn ngữ đáng ngạc nhiên – chỉ những đặc điểm hoặc nguyên tắc ngôn ngữ được tìm thấy nhất quán trong tất cả những ngôn ngữ của con người và không dễ dàng giải thích được bằng ngẫu nhiên hoặc tiếp xúc văn hóa/lịch sử. Những phổ quát về ngôn ngữ này gợi ý những cấu trúc sâu xa, cơ bản trong ngôn ngữ của con người mà có thể không dễ nhận thấy ngay lập tức. Thí dụ có thể bao gồm những quy luật cấu trúc, chẳng hạn như cách những cụm từ và câu được sắp xếp, hoặc cách một số tiến trình ngữ pháp nhất định áp dụng nhất quán trên những ngôn ngữ.

Trong nội dung trên, những “phổ quát về ngôn ngữ đáng ngạc nhiên” này là những hiện tượng được giải thích tốt nhất bằng cách giả định sự hiện hữu của một ngữ pháp phổ quát bẩm sinh – một khả năng nhận thức đặc thù của loài người, được tích hợp sẵn để tiếp thu ngôn ngữ – thay vì bằng những giải thích đơn giản hơn như nguồn gốc lịch sử chung của những ngôn ngữ. Thí dụ, những quy luật chi phối sự liên kết của những cụm từ danh từ với những cấu trúc cơ sở hoặc ứng dụng tuần hoàn của những quy luật ngữ âm được trích dẫn là những phổ quát về ngôn ngữ như vậy.

The cyclic application of phonological rules: Ứng dụng tuần hoàn của những quy luật âm vị học đề cập đến một nguyên tắc trong ngôn ngữ học, trong đó những quy luật ngữ âm học – những quy luật chi phối cách âm thanh được thay đổi một cách có hệ thống trong một ngôn ngữ – được áp dụng theo cách phân cấp, từng bước trên những cấp độ khác nhau của cấu trúc ngôn ngữ, chẳng hạn như hình vị, từ và cụm từ. Những quy luật này là “tuần hoàn” vì chúng được áp dụng lặp đi lặp lại ở mỗi cấp độ cấu trúc, bắt đầu bằng những đơn vị nhỏ hơn (như gốc hoặc hình vị) và tiến tới những đơn vị lớn hơn (như cụm từ hoặc câu).

[32] [Xem EH Lenneberg, Biological Foundations of Language / Cơ bản sinh học của ngôn ngữ (New York: Wiley, 1967), để có bằng chứng liên quan đến vấn đề này

[33] [Hay vì giả định của ông rằng “những hàm trọng số/ weighting functions” được nêu lên trong ngữ pháp phổ quát cấu thành nên “loại sự kiện . . . [mà]. . . lý thuyết học tập cố gắng giải thích; không phải là giải thích đang được tìm kiếm”. Không ai có thể nói rằng cơ bản di truyền cho sự phát triển của cánh tay chứ không phải cánh bay trong phôi người là “loại sự kiện vốn lý thuyết học tập cố gắng để giải thích” chứ không phải là cơ bản để giải thích những sự kiện khác về hành vi con người. Câu hỏi liệu hàm trọng số có được học hay không, hay nó là cơ bản cho việc học hay không, là một câu hỏi thực nghiệm. Không có lý do dù nhỏ nhất nào để giả định rằng, tiên nghiệm, rằng nó được giải thích bằng việc học tập chứ không phải bởi năng khiếu di truyền, hay sự kết hợp nào đó của cả hai. Có những điểm nhỏ khác trong thảo luận của Putnam cần một vài nhận xét Thí dụ, ông khẳng định rằng vì một số mơ hồ nhất định “đòi hỏi hướng dẫn để tìm ra”, nên “tuyên bố rằng ngữ pháp ‘giải thích khả năng để nhận ra những mơ hồ’ . . . thiếu ý nghĩa hoặc sức thuyết phục mà Chomsky dành cho nó”. Nhưng ông hiểu sai tuyên bố liên quan đến năng lực chứ không phải hiệu suất. Những gì ngữ pháp giải thích là tại sao “the shooting of the hunters / sự bắn giết của những người thợ săn” (thí dụ mà ông trích dẫn) có thể được hiểu với những người thợ săn là chủ ngữ hoặc tân ngữ nhưng trong “the growth of corn /sự phát triển của cây ngô”, chúng ta chỉ có thể hiểu hiểu “ngô”là chủ ngữ (giải thích, trong trường hợp này, bật lên quan hệ của danh từ hóa với những cấu trúc sâu, đã ghi nhận trước đó). Vấn đề huấn luyện không liên quan. Vấn đề huấn luyện không còn quan trọng nữa. Vấn đề ở đây là tương quan giữa âm thanh -ý nghĩa có liên quan đến hiệu suất nhưng chỉ là một trong nhiều yếu tố. Putnam cũng trình bày sai biện luận cho rằng quan hệ chủ động-thụ động có tính chất biến đổi. Không chỉ đơn thuần là người nói biết chúng có liên quan với nhau. Rõ ràng điều đó thật vô lý; Người nói cũng biết rằng “Ngày mai John sẽ rời đi”và “John sẽ rời đi ba ngày sau ngày hôm kia”có liên quan với nhau, nhưng điều này không ngụ ý rằng có một quan hệ chuyển đổi giữa hai điều này. Biện luận cú pháp được đưa ra ở nhiều nơi trong văn học. Thí dụ, xem Syntactic Structurescủa tôi (The Hague: Mouton, 1957); Aspects of the Theory of Syntax.]

[34] Phản hồi những lập luận của Hilary Putnam, Chomsky phê bình những giả định của Putnam liên quan đến việc tiếp thu ngôn ngữ. Putnam hạ thấp tính phức tạp của ngôn ngữ, lập luận rằng những đặc điểm chung của ngôn ngữ, chẳng hạn như âm vị và những thành phần cấu trúc cụm từ, có thể được giải thích bằng những đặc tính nhận thức chung như khả năng ghi nhớ và tính đơn giản của những al-gô-rít tính toán. Tuy nhiên, Chomsky cho rằng những giải thích của Putnam bỏ qua những cấu trúc ngữ pháp phong phú và cụ thể mà trẻ em phải tiếp thu, không thể chỉ giải thích bằng những giới hạn về nhận thức.

Chomsky bác bỏ tuyên bố của Putnam rằng sự hiện diện của những tên riêng và những quy luật cấu trúc cụm từ trong ngôn ngữ là do hiệu quả tính toán tự nhiên, lập luận rằng tính phức tạp của cấu trúc ngôn ngữ vượt ra ngoài những gì có thể giải thích bằng những mô hình máy tính điện toán tổng quát. Ông khẳng định rằng những phép biến đổi trong ngữ pháp không chỉ là những từ viết tắt của câu, như Putnam nêu lên, nhưng là những hoạt động phức tạp tạo ra những cấu trúc ngoài mặt từ những cấu trúc sâu, không thể dễ dàng giải thích bằng những lý thuyết máy tính điện toán đơn giản.

Hơn nữa, Chomsky bác bỏ giải thích thay thế của Putnam rằng những phổ quát trong ngôn ngữ có thể phát sinh từ nguồn gốc chung của những ngôn ngữ. Chomsky lập luận rằng vấn đề tiếp thu ngôn ngữ là về việc hiểu cách trẻ tiếp thu ngữ pháp cụ thể từ dữ liệu có sẵn, chứ không phải về nguồn gốc của ngôn ngữ. Ông nhấn mạnh rằng việc Putnam tập trung vào tính dễ học ngôn ngữ là không liên quan, vì vấn đề thực sự là cách trẻ học những cấu trúc ngữ pháp phức tạp từ lượng thông tin input giới hạn.

Cuối cùng, Chomsky phê bình đề nghị của Putnam rằng việc tiếp thu ngôn ngữ có thể được giải thích bằng những phương sách học tập tổng quát thay vì ngữ pháp phổ quát bẩm sinh. Chomsky tin rằng quan điểm này đơn giản hóa vấn đề quá mức, vì sự phức tạp của việc tiếp thu ngôn ngữ có thể đòi hỏi những khả năng bẩm sinh riêng biệt. Ông chủ trương rằng việc khơi dậy những biểu thị  ngữ pháp bẩm sinh cung cấp một giải pháp hợp lý cho việc học ngôn ngữ, trong khi những phương sách học tập tổng quát có thể không đủ để giải thích bản chất phong phú của việc tiếp thu ngôn ngữ. Tranh luận vẫn trong duy nghiệm, nhưng Chomsky lập luận rằng việc dùng những cấu trúc bẩm sinh giúp giải quyết vấn đề hiệu quả hơn là dựa vào những phương sách nhận thức tổng quát.

[35] Henry Hiż (1917–1999): nhà toán học, nhà logic học và nhà khoa học máy tính người Mỹ gốc Poland, người có công trình nghiên cứu về ngôn ngữ học điện toán và hệ thống ngôn ngữ học hình thức đã thúc đẩy dịch máy và tiến hành ngôn ngữ tự nhiên.

[36] [Trong Current Issues in Linguistic Theory / Những vấn đề hiện tại về lý thuyết ngôn ngữ học của tôi (The Hague: Mouton, 1964), Phần 1; Aspects of the Theory of Syntax /Những phương diện của Lý thuyết Cú pháp, Chương 1, Mục 8; Cartesian Linguistics / Ngôn ngữ học Descartes (New York: Harper & Row, 1966).]

[37] weighting function: hàm trọng số: một phương pháp hoặc quy luật gán những mức độ quan trọng khác nhau cho những yếu tố hoặc input khác nhau trong tiến trình, ảnh hưởng đến cách đưa ra quyết định hoặc học những mẫu. Trong bối cảnh này, từ ngữ “hàm” tương tự như nghĩa toán học của nó nhưng không giống hệt. Nó đề cập đến một quy luật hoặc quy trình có hệ thống gán mức độ quan trọng (trọng số) cho những yếu tố nhất định, giống như cách một hàm toán học ánh xạ input thành output.

Hàm trọng số trong tiến trình tiếp thu ngôn ngữ: Về phương diện khái niệm hoạt động giống như một hàm toán học nhưng trừu tượng hơn.Nó gán “trọng số” (mức độ quan trọng) cho những input ngôn ngữ dựa trên những yếu tố như tần suất hoặc mức độ liên quan. Thí dụ: Nếu một đứa trẻ nghe từ “chó” 50 lần và “mèo” 10 lần, hàm trọng số có thể gán mức độ quan trọng cao hơn cho “chó”, giúp trẻ tập trung vào việc học từ đó trước. Thí dụ trong tiến trình tiếp thu ngôn ngữ: Một đứa trẻ có thể gặp nhiều cấu trúc câu khác nhau. Hàm trọng số có thể gán mức độ quan trọng cao hơn (mức “trọng số” cao hơn) cho những mẫu thường xuyên xảy ra (thí dụ: “Chủ ngữ-Động từ-Tân ngữ” trong tiếng Anh) so với những mẫu hiếm hoặc bất quy luật. Điều này giúp trẻ ưu tiên học những cấu trúc phổ biến nhất trước.

Một hàm trọng số, giống như một hàm toán học, gán những giá trị (trọng số) một cách có hệ thống cho những yếu tố, giúp não thức tập trung vào những gì có liên quan hoặc quan trọng nhất trong một bối cảnh nhất định. Tuy nhiên, trong tiến trình tiếp thu ngôn ngữ, nó hoạt động trừu tượng như một phần của những tiến trình nhận thức chứ không phải là một công thức toán học cụ thể.

[38] “The shooting of the hunters= Việc bắn những người thợ săn: câu này mag ý rằng chính những người thợ săn đã bị bắn. Những người thợ săn là mục tiêu của việc bắn, họ bị bắn,

“The hunters' act of shooting” = Hành động bắn của những người thợ săn: Điều này ám chỉ rằng những người thợ săn là những người thực hiện việc bắn. Những người thợ săn là những người thực hiện hành động, làm việc này

[39] Tôi tóm lược những gì trong những đoạn trên – giữa Hiż và Chomsky – như một tranh luận chi tiết về lý thuyết ngôn ngữ, tập trung vào những chủ đề như năng lực, hiệu năng, ngữ pháp phổ quát và phương pháp luận.

(a) Hiż cho rằng việc Chomsky tập trung vào “năng lực” hàm ý rằng “tự xem xét những suy nghĩ và cảm xúc cùa chính một người (nhìn vào bên trong để xem xét những suy nghĩ, cảm xúc hoặc kinh nghiệm của chính minh) – như một nguồn chính yếu của kiến thức ngôn ngữ. Chomsky phản bác điều này bằng thừa nhận rằng tự xem xét những suy nghĩ và cảm xúc cùa chính một người thực sự là nguồn dữ liệu có giá trị nhưng nhấn mạnh rằng nó không gắn liền với nghiên cứu về năng lực. Ông lập luận rằng trong khi bằng chứng từ tự xem xét những suy nghĩ và cảm xúc cùa chính một người có thể được thay thế bằng những tiến trình vận hành hoặc thí nghiệm, thì những phương pháp thay thế này vẫn phải phù hợp với dữ liệu từ tự xem xét những suy nghĩ và cảm xúc cùa chính một người để đảm bảo tính hợp lệ.

(b) Hiż thấy là nghịch lý khi Chomsky tách biệt kiến ​​thức thực sự của người nói (năng lực) khỏi sự hiểu biết được tường thuật của họ về kiến ​​thức đó. Chomsky bác bỏ điều này bằng giải thích rằng năng lực đề cập đến hệ thống quy luậtcơ bản (ngữ pháp phát sinh) mà người nói vô thức dùng, trong khi hiệu năng liên quan đến những yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến cách áp dụng kiến ​​thức này. Ông nhấn mạnh rằng người nói có thể đưa ra những tường thuật không chính xác về kiến ​​thức ngôn ngữ của họ, điều này khiến sự khác biệt giữa năng lực và hiệu năng trở nên cần thiết và không nghịch lý.

(c) Về ngữ pháp phổ quát, Hiż cho rằng Chomsky cho rằng nó đồng nghĩa với một lý thuyết của sự tiếp thu ngôn ngữ. Chomsky bác bỏ giải thích này, nói rõ rằng ngữ pháp phổ quát chỉ là một thành phần của một lý thuyết như vậy. Sự tiếp thu ngôn ngữ liên quan đến những yếu tố khác, gồm khả năng của trẻ em để xây dựng ngôn ngữ, làm cho tinh tế hơn những giả thuyết ngôn ngữ dựa trên dữ liệu input (là khi trẻ em học một ngôn ngữ, chúng không chỉ ghi nhớ những từ và quy luật, nhưng còn chủ động tìm ra những mô hình và đưa ra những phỏng đoán (giả thuyết) về cách ngôn ngữ hoạt động. Khi nghe thêm nhiều thí dụ (dữ liệu input), chúng điều chỉnh và làm những phỏng đoán này cho tốt hơn, cho đến khi chúng phát triển được sự hiểu biết vững chắc về cấu trúc của ngôn ngữ.). Ông bảo vệ “mô hình tức thời” của ông về tiến trình tiếp thu năng lực như một phỏng chững hợp lý gần đúng đầu tiên, ngay cả khi nó không tính đến đầy đủ tác động hỗ tương giữa những giả thuyết và dữ liệu trong tiến trình học tập. Chomsky cho rằng thành công cuối cùng của mô hình này phải được đánh giá bằng khả năng của nó để đem cho những hiểu biết sâu xa để giải thích.

(d) Hiż phê bình những tài liệu tham khảo của Chomsky về những lý thuyết cổ điển về ngôn ngữ và não thức, gọi chúng là “hành trang lịch sử gây nhầm lẫn và gây hiểu lầm”. Chomsky không đồng ý, lập luận rằng những đóng góp từ tâm lý học và ngôn ngữ học duy lý vẫn có liên quan và vẫn có thể cung cấp những hiểu biết có giá trị. Mặc dù thừa nhận rằng những tài liệu tham khảo lịch sử như vậy không bắt buộc đối với mọi người, ông nhấn mạnh rằng chúng hữu ích cho những ai muốn tiếp nhận chúng.

(e) Một điểm gây tranh luận khác là phê bình của Hiż rằng Chomsky dựa những ý tưởng của ông về ngữ pháp phổ quát vào một số quá ít những ngôn ngữ thay vì xem xét một tập hợp những trường hợp lớn rộng hơn. Chomsky thừa nhận rằng nghiên cứu nhiều ngôn ngữ hơn là lý tưởng, nhưng lập luận rằng những nghiên cứu chuyên môn, chi tiết về từng ngôn ngữ sẽ mang lại những hiểu biết có ý nghĩa hơn về ngữ pháp phổ quát, so với những nghien cứu hời hợt, khảo sát nông cạn của nhiều ngôn ngữ. Chomsky thách thức những người chỉ trích ông đưa ra những thí dụ cụ thể về dữ liệu mâu thuẫn với lý thuyết của ông. Ông lập luận rằng việc chỉ đơn giản đưa ra những sưu tập dữ liệu lớn có thể phù hợp với bất kỳ lý thuyết nào là vô nghĩa và không thúc đẩy sự hiểu biết về ngữ pháp phổ quát.

(f) Hiż nêu lên rằng khả năng những nguyên tắc ngữ pháp phổ quát có thể phản ánh một nguồn gốc lịch sử chung của những ngôn ngữ thay vì những cấu trúc nhận thức bẩm sinh. Chomsky bác bỏ giả thuyết này, khẳng định rằng nó thiếu giá trị giải thích và không giải thích được nguyên nhân của những đặc tính của ngữ pháp phổ quát.

(g) Thảo luận cũng đề cập đến tuyên bố của Hiż rằng những quyết định về những phần cụ thể của ngữ pháp được xác định bởi “tính hữu ích nội tại” của chúng. Chomsky thừa nhận rằng ông không hiểu Hiż muốn nói gì với thuật ngữ này. Ông làm rõ rằng khái niệm “tính đơn giản của ngữ pháp” của ông đề cập đến một hàm trọng số được xác định theo kinh nghiệm, chọn ngữ pháp dựa trên tính thuận hợp tương ứng của chúng với dữ liệu. Ông lập luận rằng khái niệm này không liên quan đến ý tưởng triết học rộng hơn về tính đơn giản trong khoa học. Thay vào đó, nó đóng một vai trò cụ thể trong lý thuyết ngôn ngữ học, tương tự như cách một hằng số vật lý hoạt động trong khoa học thực nghiệm.

(h) Hiż cho rằng ngôn ngữ học sẽ được hưởng lợi từ những hoạt động kỹ thuật thực nghiêm (phương pháp hoặc thủ tục khách quan, có thể đo lường được để xác định xem một câu có đúng ngữ pháp hay không, không cần dựa vào trực giác hoặc phán đoán chủ quan của một người) để xác định ngữ pháp, độc lập với tự xem xét những suy nghĩ và cảm xúc cùa chính một người . Chomsky thừa nhận tiềm năng của những phương pháp như vậy nhưng lập luận rằng chúng phải phù hợp với bằng chứng tự xem xét những suy nghĩ và cảm xúc cùa chính một người để đảm bảo độ tin cậy. Ông tin rằng những thách thức hiện tại trong ngôn ngữ học không bắt nguồn từ việc thiếu dữ liệu chính xác mà từ việc lĩnh vực này không có khả năng cung cấp những giải thích thỏa đáng cho dữ liệu đã được hiểu rõ.

Qua những biện luận trên, Chomsky bảo vệ phương pháp nghiên cứu giải quyết của ông là dựa trên bằng chứng thực nghiệm và có sức mạnh giải thích. Ông nhấn mạnh sự quan trọng của phương pháp tự xem xét những suy nghĩ và cảm xúc cùa chính một người, những nghiên cứu ngôn ngữ chi tiết và những hiểu biết lịch sử, đồng thời bác bỏ những cách giải thích quá đơn giản về những lý thuyết của mình. Ngược lại, Hiż phê bình sự phụ thuộc của Chomsky vào dữ liệu hạn chế, đặt câu hỏi về những giả định phương pháp luận của ông và ủng hộ việc thu thập dữ liệu rộng hơn và những hoạt động kỹ thuật thực nghiêm. Dùnhững bất đồng, cả hai đều chia sẻ quan tâm về việc thúc đẩy lý thuyết ngôn ngữ qua tiến trình nghiên cứu nghiêm ngặt và có ý nghĩa.

[40] knowing that & knowing how : “Biết rằng” để nói về kiến ​​thức rõ ràng, thực tế (biết gì?) – nhận thức về những sự kiện, chân lý hoặc mệnh đề cụ thể (thí dụ: “Tôi biết rằng Hà Nội là thủ đô của Việt Nam”). “Biết cách” để nói về kiến ​​thức thực tế, mang tính thủ tục, thực hành (biết cách thế nào?) – khả năng thực hiện công việc hay kỹ năng (thí dụ: “Tôi biết cách đi xe đạp” hoặc “Tôi biết nói và hiểu tiếng Lào”).

[41] “Knowledge of language is not a skill, a set of habits, or anything of the sort” = tquan điểm của ông là kiến ​​thức ngôn ngữ không chỉ là những gì học được qua thực hành lập đi lập lại hoặc có được như một loạt những hành động máy móc, như một kỹ năng như đi xe đạp hay chơi một nhạc cụ.Đối với Chomsky, kiến ​​thức ngôn ngữ (hay năng lực) đề cập đến một cấu trúc nhận thức bẩm sinh trong não thức cho phép con người tạo ra và hiểu một vô hạn những câu nói viết, ngay cả những câu mà họ chưa từng nghe trước đây. Kiến thức này không phải là kết quả của thói quen hoặc tiến trình thực hành đã học, nhưng là phần cơ bản của nhận thức con người.Trái ngược với quan điểm cho rằng ngôn ngữ là một kỹ năng hoặc một hành vi đã học, Chomsky lập luận rằng năng lực ngôn ngữ là một năng lực trừu tượng, tâm lý, làm nền tảng cho khả năng hiểu và tạo ngôn ngữ của chúng ta. Không thể giải thích đầy đủ chỉ bằng cách biết một tập hợp những quy luật hoặc có một tập hợp của những kỹ năng. Do đó, đối với ông, kiến ​​thức ngôn ngữ khác với thói quen hoặc khả năng đã học, thường có được qua kinh nghiệm và thực hành.

[42] Hay thực hành, thực tập, nói theo, bắt chước

[43] resourceful empiricism: “thuyết duy nghiệm linh hoạt” để chỉ một dạng được sửa đổi và linh hoạt hơn của thuyết duy nghiệm vốn bao gồm những nguyên tắc tiến bộ hơn, như những cấu trúc hoặc hệ thống phân tích và lựa chọn bẩm sinh (như “thuyết sơ đồ bẩm sinh” của Chomsky), để giải thích những hiện tượng như quá trình tiếp thu ngôn ngữ. Điều này khác với thuyết duy nghiệm cổ điển, chỉ tập trung vào việc học thông qua kinh nghiệm và input bên ngoài.Harman định nghĩa lại thuyết duy nghiệm để làm cho nó dễ thích nghi hơn bằng cách kết hợp những nguyên tắc hoặc hệ thống phân tích và lựa chọn cụ thể (như thuyết sơ đồ bẩm sinh của Chomsky) được thiết kế cho những nhiệm vụ cụ thể, như học ngôn ngữ. Tuy nhiên, Chomsky chỉ trích định nghĩa lại này, cho rằng nó ít được chú ý, vì nó làm thuyết duy nghiệm trở nên quá rộng đến mức không thể chứng minh được là sai. Theo quan điểm của Chomsky, một khuôn khổ như vậy mất đi ý nghĩa vì nó có thể giải thích cho bất cứ gì, bất kể sự thật là gì.

[44] [Harman nhận xét chính xác rằng tôi bỏ qua “tài liệu triết học khổng lồ về quy nạp”và chỉ giới hạn bản thân mình vào việc nghiên cứu những tiến trình của ngôn ngữ học phân loại như “những nêu lên duy nhất đủ rõ ràng để hỗ trợ nghiên cứu nghiêm chỉnh”. Tuy nhiên, ông không chỉ ra rằng bất cứ điều gì trong tài liệu về quy nạp đều liên quan đến những vấn đề mà tôi đang xem xét. Lý do là không có gì cả. Những tài liệu về quy nạp khá thích thú, nhưng nó lại nhắc đến những câu hỏi hoàn toàn khác nhau. Nó ngay cả không gợi ý về những thủ tục phân tích hay thu thập tin tưởng hay xác nhận sẽ khắc phục được những vấn đề mà tôi đã thảo luận. Chẳng hạn, không có tài liệu nào về quy nạp đem cho bất kỳ cái nhìn sâu xa nào về cách những nguyên tắc được trích dẫn ở trên làm thí dụ (chu trình của những quy luật âm vị học hay quy luật danh từ hóa) có thể đạt được “bằng quy nạp”từ dữ liệu có sẵn. Nhưng chính những câu hỏi như thế này mới phải đối mặt trong tiến trình nghiên cứu sự tiếp thu ngôn ngữ.]

[45] [Hai điểm nhỏ trong liên hệ này. Harman chỉ thấy “liên hệ lịch sử mong manh”giữa những thủ tục phân đoạn và phân loại với ngữ pháp cấu trúc cụm từ. Sự kết nối thực sự gần gũi hơn nhiều. Zellig Harris, trong Methods in Structural Linguistics / Phương pháp trong ngôn ngữ học cấu trúc (Chicago: Nhà xuất bản Đại học Chicago, 1951), đã cố gắng chỉ ra cách dùng có hệ thống những tiến trình như vậy, được khuếch đại bằng một bước quy nạp đơn giản, sẽ dẫn đến một bộ quy luật có thể được coi như tạo ra một tập hợp vô hạn những câu. Một tập hợp những công thức “hình vị thành cách phát âm”của Harris, mặc dù không hoàn toàn giống với ngữ pháp cấu trúc cụm từ, nhưng lại khá giống nhau. Khái niệm “ngữ pháp cấu trúc cụm từ”được thiết kế rõ ràng để thể hiện hệ thống phong phú nhất có thể được mong đợi một cách hợp lý từ việc áp dụng những thủ tục kiểu Harris vào kho ngữ liệu. Harris, và những nhà phương pháp luận khác của thập niên 1940, đang phát triển một phương pháp nghiên cứu giải quyết phân tích ngôn ngữ mà ít nhất người ta có thể theo dõi đến Saussure. Thứ hai, Harman khá đúng khi chỉ ra rằng khi tôi nhắc đến “những nêu lên [theo thuyết kinh nghiệm] duy nhất đủ rõ ràng để hỗ trợ cho nghiên cứu nghiêm chỉnh”, tôi đã bỏ qua việc nhắc đến phương pháp nghiên cứu những quan hệ đồng thời của Harris’ và Hi˙z. Ông cảm thấy rằng phương pháp này “có tâm lý tương tự như những thủ tục phân loại”. Tôi không thấy có ích gì khi tranh luận điều này, bằng cách này hay cách khác. Trong bất kỳ trường hợp nào, tôi không biết có lý do gì để cho rằng những tiến trình như vậy có thể dẫn đến hay ngay cả có thể đem cho bằng chứng ủng hộ hay chống lại giả thuyết về một ngữ pháp phát sinh.]

[46] Tóm lược những ý tưởng quan trọng và lập luận chính ở trên:

Chomsky thảo luận về quan hệ giữa ngôn ngữ học và triết học, nhấn mạnh những phương pháp và quan tâm tương tự của chúng. Ông lập luận rằng trong khi ngôn ngữ học có thể cung cấp những hiểu biết hữu ích cho triết học, thì vẫn có những giới hạn về mức độ mà mỗi lĩnh vực có thể hưởng lợi trực tiếp từ những phát hiện của lĩnh vực kia. Chomsky, qua đó, trình bày những lý thuyết ngôn ngữ học của ông, đặc biệt là những ý tưởng của ông về cấu trúc sâu và ngoài mặt trong ngôn ngữ thông thường, và vai trò của những nguyên tắc ngôn ngữ bẩm sinh trong tiến trình tiếp thu ngôn ngữ.

Những ý tưởng và lập luận chính:

(a)     Cấu trúc sâu và ngoài mặt: Chomsky nêu lên rằng mọi ngôn ngữ của con người đều tạo ra những cấu trúc ngoài mặt từ những cấu trúc sâu trừu tượng hơn qua những phép biến đổi ngữ pháp. Cấu trúc sâu tiết lộ nhiều hơn về cách diễn giải ngữ nghĩa so với cấu trúc ngoài mặt.

(b)    Ngữ nghĩa phổ quát: Chomsky nêu lên một hệ thống của ngữ nghĩa học phổ quát vốn chỉ định lớp của những biểu thị  ngữ nghĩa có thể có cho những ngôn ngữ tự nhiên, tương tự như cách ngữ âm học phổ quát chỉ định những biểu thị  ngữ âm. Chomsky lập luận rằng cấu trúc ngoài mặt không thể đóng góp vào ý nghĩa; ý nghĩa phải được xác định bởi cấu trúc sâu bên dưới biểu thức.

(c)     Nguyên lý ngôn ngữ bẩm sinh: Chomsky lập luận rằng tiến trình tiếp thu ngôn ngữ gồm một sơ đồ bẩm sinh cho phép trẻ em phát triển một ngữ pháp phong phú và rất cụ thể từ dữ liệu giới hạn. Ông đưa ra cấu trúc bẩm sinh này như một giả thuyết duy nghiệm để giải thích tính đồng nhất, tính đặc thù và sự phong phú của ngữ pháp được người học ngôn ngữ xây dựng và đem dùng.

(d)    Phê bình những thuyết duy nghiệm: Chomsky phê bình những thuyết duy nghiệm, lập luận rằng chúng không giải thích được sự phức tạp của tiến trình tiếp thu ngôn ngữ và vai trò của những nguyên lý bẩm sinh. Phương pháp nghiên cứu giải quyết duy lý của Chomsky cho rằng não thức có tổ chức nội tại đóng một vai trò quan trọng trong nhận thức và tiến trình tiếp thu ngôn ngữ.

(e)     Ý nghĩa triết học: Những kết luận từ ngôn ngữ học có ý nghĩa đối với lý thuyết tâm lý, hỗ trợ cho lý thuyết duy lý về những tiến trình tâm. Chomsky lập luận rằng những kết luận này có liên quan đến triết học, đặc biệt là trong việc hiểu cách thức tiếp thu kiến ​​thức và bản chất của kiến ​​thức của con người.

(f)     Quan hệ giữa Triết học và Ngôn ngữ học Chomsky nhấn mạnh rằng trong khi ngôn ngữ học và triết học có chung những phương pháp và quan tâm, chúng hoạt động với những bộ máy khái niệm khác nhau. Ngôn ngữ học tập trung vào cấu trúc và những quy luật của ngôn ngữ, trong khi triết học giải quyết những câu hỏi rộng hơn về kiến ​​thức, nhân quả và bản chất của thực tại. Chomsky cho rằng ngôn ngữ học có thể cung cấp những hiểu biết sâu sa về những câu hỏi triết học về ngôn ngữ và não thức, nhưng cũng nêu bật những giới hạn của sự trao đổi trực tiếp giữa hai lĩnh vực.

(g)    Phê bình và bảo vệ những ý tưởng của Chomsky: Chomsky đề cập đến những phê bình từ những nhà triết học như Goodman và Putnam, bảo vệ ý tưởng của chính ông về những nguyên tắc ngôn ngữ bẩm sinh và vai trò của những cấu trúc sâu trong diễn giải ngữ nghĩa. Chomsky lập luận rằng những nguyên tắc này không chỉ là những giới hạn mà còn cho phép tiếp thu kiến ​​thức ngôn ngữ phức tạp từ dữ liệu giới hạn. Chomsky cũng bác bỏ ý tưởng rằng việc tiếp thu ngôn ngữ chỉ có thể được giải thích bằng những phương sách học tập tổng quát, nhấn mạnh đến đòi hỏi cho những nguyên tắc ngôn ngữ bẩm sinh.

Chomsky kết luận rằng mặc dù ngôn ngữ học có thể không cung cấp một kỹ thuật mới cho triết học phân tích, nhưng nó có thể làm sáng tỏ và chứng minh những kết luận về kiến ​​thức của con người liên quan đến những vấn đề cổ điển trong triết học về não thức. Điều này cho thấy tiềm năng hợp tác hiệu quả giữa ngôn ngữ học và triết học trong việc hiểu biết bản chất của ngôn ngữ và nhận thức.

[47] Tiểu luận cung cấp một duyệt xét chi tiết về lý thuyết ngôn ngữ của Noam Chomsky, nhấn mạnh những hàm ý sâu sa cho sự hiểu biết về não thức con người và những liên hệ của nó với thuyết duy lý và thuyết duy nghiệm. Trọng tâm công trình của Chomsky là khái niệm của những nguyên tắc bẩm sinh, thường được gọi là ngữ pháp phổ quát, vốn đóng vai trò như nền tảng cho kiến ​​thức của con người, đặc biệt trong tiến trình tiếp thu ngôn ngữ. Người ta tin rằng những nguyên tắc này được cài đặt sẵn trong não người, hoạt động như một khung kiến trúc để diễn giải và tổ chức những input ngôn ngữ.

Mặc dù khung kiến trúc của Chomsky có nguồn gốc trong thuyết duy lý, nó cũng nhìn nhận vai trò quan trọng của kinh nghiệm trong việc định hình kiến ​​thức. Những gì nhận được từ môi trường ngôn ngữ tác động với những cấu trúc bẩm sinh này, cho phép phát triển những ngôn ngữ riêng biêt, cụ thể. Tổng hợp lập trường duy lý và duy nghiệm này làm nổi bật tác động hỗ tương sống động giữa những cấu trúc và hệ thống phân tích và lựa chọn của não và dữ liệu kinh nghiệm bên ngoài. Thay vì đối lập nhau, những phương pháp nghiên cứu giải quyết này bổ sung nhau, tạo thành một một cấu trúc thống nhất và kết nối chặt chẽ, tích hợp những ý tưởng và yếu tố khác nhau thành một tổng thể nhất quán, để hiểu ngôn ngữ và nhận thức.

Chomsky tích hợp những yếu tố duy lý và kinh nghiệm đã tạo một mô hình ngôn ngữ học mang tính cách mạng vượt xa bản thân ngôn ngữ học truyền thống. Phương pháp luận của ông không chỉ phân tích cấu trúc và chức năng của ngôn ngữ nhưng còn giải quyết những câu hỏi triết học lớn rộng hơn về bản chất của kiến ​​thức, nhận thức và não thức. Bằng thu hẹp khoảng cách giữa những ngành học này, công trình của ông đã cung cấp những phương pháp mới để giải quyết cả hiện tượng ngôn ngữ và những vấn đề triết học cơ bản. Trong thế kỷ qua, lý thuyết của Chomsky đã biến đổi việc nghiên cứu ngôn ngữ và nhận thức, gây ra tranh luận sâu rộng và ảnh hưởng đến những lĩnh vực như tâm lý học, trí tuệ nhân tạo và khoa học nhận thức. Tổng hợp của ông về truyền thống duy lý và duy nghiệm vẫn là nền tảng của tư tưởng hiện đại, cung cấp một khuôn khổ để tiếp tục khám phá quan hệ phức tạp giữa những cấu trúc bẩm sinh và học tập theo kinh nghiệm. Tác động lâu dài của những ý tưởng của Chomsky nhấn mạnh những ý nghĩa mang tính cách mạng của chúng trong việc tìm hiểu não thức con người.