(Language and Mind)
Noam Chomsky
Chương 4
Dạng Thức Và Ý Nghĩa Trong
Những Ngôn Ngữ Tự Nhiên.
Khi nghiên cứu ngôn ngữ con
người, chúng ta đi đến gần sự hiểu biết sâu hơn vào những gì một số người có
thể gọi là “yếu tính con người”, những đặc tính phân biệt của não thức, như chúng ta biết cho đến
nay, là duy nhất với con người và không thể tách ra khỏi bất kỳ giai đoạn quan
trọng nào của sự hiện hữu con người, cá nhân hay xã hội. Do đó là sự lôi cuốn của nghiên cứu này, và cũng không kém, sự bế
tắc thất vọng của nó. Sự bế tắc thất vọng nổi lên từ sự kiện là mặc dù có nhiều
tiến bộ, chúng ta vẫn bất lực như trước đây trong việc giải quyết vấn đề cốt
lõi của ngôn ngữ loài người, vốn tôi cho là như thế này: sau khi đã thành thạo một ngôn ngữ, người ta có thể hiểu được một số vô hạn của những diễn đạt mới lạ với kinh nghiệm của mình, không có sự
giống nhau đơn giản nào về phương diện vật lý và không có bất kỳ cách tương tự
nào với những diễn đạt cấu thành kinh nghiệm ngôn ngữ của cá nhân; và người ta có thể, với khả năng ít nhiều, tạo ra những diễn đạt như
vậy vào một dịp thích hợp, bất chấp
sự mới lạ của chúng và độc lập với những hình thành kích thích có thể nhận ra
được, và được những người khác hiểu, những người cùng có khả năng vẫn còn bí ẩn
này. [1]
Theo ý hướng này, việc thông thường dùng ngôn ngữ là một hoạt động sáng tạo. Phương diện sáng tạo này của việc
thông thường dùng ngôn ngữ là một yếu tố nền tảng vốn phân biệt ngôn ngữ con
người với bất kỳ hệ thống truyền thông giao tiếp nào được biết của loài vật.
Điều quan trọng
để nhớ là sự sáng tạo của những diễn đạt ngôn ngữ vốn mới lạ nhưng ứng hợp là
cách thức thông thường của việc dùng ngôn ngữ. Nếu một cá nhân nào đó đã tự
giới hạn phần lớn vào một tập hợp hạn định của những mô thức ngôn ngữ, vào một
tập hợp của những phản ứng theo thông lệ với những hình thành kích thích, hay
vào những “tương tự” theo nghĩa của ngữ học thời nay, thì chúng ta sẽ coi người
này như bị tật nguyền về trí tuệ, vì giống với loài vật hơn giống với con
người. Người này sẽ ngay lập tức bị tách biệt với những người bình thường do
thiếu khả năng hiểu nói-viết ngôn ngữ thông thường hay dự phần vào nó trong
cách thông thường – cách thông thường là đổi mới, không bị những kích thích bên
ngoài điều khiển và phù hợp với những hoàn cảnh mới và luôn thay đổi. [2]
Hiểu biết rằng lời nói con
người có những đặc điểm độc đáo này phân biệt, không là mới lạ, nhưng là một
hiểu biết cần nhìn nhận và nhắc lại nhiều lần. Với mỗi tiến bộ khi chúng ta đạt
được trong việc hiểu cách thức ngôn ngữ, tư tưởng và hành vi hoạt động, chúng
ta có một khuynh hướng tin rằng chúng ta đã tìm được chìa để mở khỏa những phẩm
tính hiện ra như độc nhất của não thức. Những tiến bộ này là thực, nhưng tôi
nghĩ rằng một thẩm định thành thực, sẽ cho thấy rằng chúng còn xa với việc đem
cho một chìa khóa như vậy. Chúng ta không hiểu, và theo như tất cả những gì
chúng ta đã biết, chúng ta có thể không bao giờ đi đến hiểu được về những gì
khiến trí óc thông minh bình thường của con người có thể đem dùng ngôn ngữ như
một dụng cụ cho việc tự do diễn đạt suy nghĩ và cảm xúc; hay tương tự như vậy,
chúng ta không hiểu đầy đủ những phẩm tính nào của não thức có liên quan đến
những hoạt động sáng tạo của óc thông minh vốn điển hình, mặc dù không phải là
phải duy nhất và ngoại lệ, trong một hiện hữu của con người thực sự.
Tôi nghĩ rằng đây là một sự
kiện quan trọng để nhấn mạnh, không chỉ cho những nhà ngữ học và tâm lý học,
những người tập trung nghiên cứu vào những vấn đề này, nhưng hơn thế nữa, cho
những ai hy vọng để học một gì đó hữu ích trong công trình và suy nghĩ của họ
trong nghiên cứu ngôn ngữ và tư tưởng. Điều đặc biệt quan trọng là những giới
hạn về hiểu biết phải rõ ràng với những người tham dự giảng dạy, trong những
trường đại học, và ngay cả quan trọng hơn là trong những trường phổ thông. Có
những áp lực mạnh với việc đem dùng kỹ thuật giáo dục mới và soạn thảo chương trình và phương pháp giảng dạy theo những tiến bộ khoa học mới
nhất. Tự nó, không có
gì đáng phê bình. Tuy nhiên, là quan trọng để giữ tỉnh táo trước một nguy hiểm
thực sự: rằng kiến thức mới và kỹ thuật sẽ ấn định bản chất của những gì được
dạy và cách dạy, thay vì đóng góp vào việc hiện thực của những Mục đích giáo
dục vốn đã đặt trên những nền tảng khác và những điều kiện khác. Hãy để tôi nói
cụ thể. Kỹ thuật và ngay cả kỹ thuật hiện có sẵn sàng để nhanh chóng và hiệu
quả khắc sâu những động thái khéo léo trong viêc dạy ngôn ngữ, dạy số học và
những lĩnh vực khác. Do đó, có một cám dỗ thực sự để cấu trúc lại chương trình
giảng dạy theo những điều kiện được kỹ thuật mới ấn định. Và không quá khó để
đưa ra một lý lẽ hợp lý, dùng những khái niệm như “kiểm soát hành vi”, nâng cao
kỹ năng, v.v. Cũng không khó để xây dựng những thí nghiệm khách quan chắc chắn
chứng minh sự hiệu quả của những phương pháp loại như thế trong việc đạt được
những Mục đích nhất định đã đưa vào những thí nghiệm này. Nhưng những thành
công loại này sẽ không chứng minh rằng đã đạt được một Mục đích giáo dục quan
trọng. Chúng sẽ không chứng tỏ rằng điều quan trọng là phải tập trung vào việc
phát triển trong học sinh những động thái khéo léo. Những gì ít ỏi vốn chúng ta
biết về óc thông minh của con người ít nhất sẽ đề nghị một gì đó hoàn toàn
khác: rằng bằng thu nhỏ phạm vi và độ phức tạp của tài liệu được trình bày cho
não thức to mò tìm hiểu, bằng thiết lập hành vi theo những khuôn mẫu cố định,
những phương pháp này có thể gây tổn hại và bóp méo sự phát triển bình thường
của những khả năng sáng tạo. Tôi không muốn đi sâu vào vấn đề này. Tôi chắc
chắn rằng bất kỳ ai trong số quí vị cũng sẽ có thể tìm thấy những thí dụ từ
kinh nghiệm của chính mình. Là hoàn toàn thích ứng để cố gắng khai thác những
tiến bộ thực sự trong kiến thức, và trong một số lĩnh vực nghiên cứu nhất định,
là điều không thể tránh khỏi và hoàn toàn chính đáng rằng nghiên cứu phải được định
hướng bằng xem xét tính có thể có được cũng như những cân nhắc về sự quan trọng
cuối cùng. Cũng rất có thể xảy ra, nếu không nói là không thể tránh khỏi, rằng
những cân nhắc về tính có thể có được và sự quan trọng sẽ dẫn đến những con
đường khác nhau. Với những người mong muốn áp dụng những thành tựu của một
ngành học vào những vấn đề của một ngành học khác, điều quan trọng là phải làm
rõ bản chất chính xác không chỉ của những gì đã đạt được nhưng còn quan trọng
không kém là những giới hạn của những gì đã đạt được.
Tôi đã nhắc một lúc trước, rằng phuong diện sáng tạo của việc dùng ngôn ngữ
một cách bình thường thì không là một khám phá mới. Nó đem cho lý thuyết về não
thức của Descartes một chống đỡ quan trọng, trong nghiên cứu của ông về những
giới hạn của giải thích cơ học. Điều sau, đến phiên nó, đem cho một yếu tố
quyết định quan trọng trong xây dựng triết lý chính trị và xã hội chống-độc
đoán của Thời kỳ Khai sáng. Và thực sự, ngay cả đã có một số cố gắng để nhằm
tìm ra lý thuyết về tính sáng tạo nghệ thuật trên phương diện sáng tạo của việc dùng ngôn ngữ một cách bình
thường. Schlegel, chẳng hạn, biện luận rằng thi ca có một vị trí độc nhất trong
số những nghệ thuật, ông khẳng định một sự kiện được minh họa bằng việc dùng từ
ngữ “thi ca” để chỉ yếu tố tưởng tượng sáng tạo trong bất kỳ cố gắng để nghệ
thuật nào, chẳng hạn, chẳng hạn, khi từ ngữ “âm nhạc”, được dùng như ẩn dụ để
chỉ yếu tố cảm xúc giác quan. Để giải thích sự bất cân xứng này, ông nhận xét
rằng mọi phương thức biểu thị nghệ thuật đều dùng một phương tiện nhất định và
phương tiện của thơ – ngôn ngữ – là duy nhất trong ý hướng rằng ngôn ngữ, như
một sự biểu hiện của tinh thần/tâm lý con người thay vì là một sản phẩm của tự
nhiên, là vô biên. trong phạm vi và được xây dựng trên cơ bản nguyên tắc lập
lại cùng quy luật với những kết quả trước: cho phép mỗi sáng tạo làm cơ bản cho
một hành động sáng tạo mới. Do đó, là vị trí trung tâm trong số những loại hình
nghệ thuật có phương tiện là ngôn ngữ.
Tin tưởng rằng ngôn ngữ, với
phương diện sáng tạo vốn có của nó, là một sở hữu độc đáo của con người, dĩ
nhiên không phải là không bị thách thức. Một nhà giải thích triết học phái
Descartes, Antoine Le Grand, đã nhắc đến ý kiến ”của một số người ở Đông Ấn,
những người cho rằng loài vượn và loài khỉ baboon, vốn một lượng lớn sống với
họ, được thấm nhuần sự hiểu biết, và rằng chúng có thể nói nhưng sẽ không nói
vì sợ bị lao động, bắt phải làm việc”. Nếu có một biện luận nghiêm trang hơn để
hỗ trợ tuyên bố rằng khả năng ngôn ngữ của con người được chia sẻ với những
loài linh trưởng khác, thì tôi không biết. Thực sư, bất kỳ bằng chứng nào nếu
chúng ta có dường như đều hỗ trợ quan điểm rằng khả năng tiếp nhận và dùng ngôn
ngữ một biểu thị khả năng đặc biệt của loài người, rằng có những nguyên tắc rất
sâu xa và giới hạn xác định bản chất của ngôn ngữ con người và bắt nguồn từ
tính chất riêng đặc biệt của não thức con người. Rõ ràng là những lập luận liên
quan đến giả thuyết này không thể là dứt khoát hoặc có tính kết luận, nhưng đối
với tôi, mặc dù vậy, ngay cả trong giai đoạn hiểu biết hiện tại của chúng ta,
bằng chứng vẫn không phải là không đáng kể.
Có nhiều câu hỏi hay động lực
có thể dẫn người ta đến thực hiện một nghiên cứu về ngôn ngữ. Với tôi, tôi chủ
yếu bị thu hút bởi khả năng của việc học được một gì đó, từ sự nghiên cứu ngôn
ngữ, vốn sẽ làm sáng tỏ những thuộc tính vốn có của não thức con người. Hiện
tại chúng ta không thể nói bất cứ một gì thông tin cụ thể về việc dùng ngôn ngữ
thông thường một cách sáng tạo. Nhưng tôi nghĩ rằng chúng ta đang dần dần hiểu
được những tiến trình tinh thần cho phép ngôn ngữ được dùng một cách sáng tạo,
cho phép nó hoạt động như một dụng cụ đầy khả năng cho suy nghĩ và biểu thị tự
do. Những hệ thống phân tích và lựa chọn này là những gì giúp cá nhân có thể
hình thành những ý tưởng độc đáo và truyền đạt chúng trong những cách linh
hoạt, sáng tạo. Nói lại từ một quan điểm cá nhân, với tôi, phương diện lôi cuốn đáng chú ý nhất
của công trình đương thời về ngữ pháp là những cố gắng để hình thành những
nguyên tắc tổ chức của ngôn ngữ, vốn người ta nêu lên, là những phản ảnh phổ
quát của những thuộc tính của não thức; và cố gắng để cho thấy rằng dựa trên
giả định này, một số sự kiện nhất định về những ngôn ngữ riêng biệt có thể được
giải thích. Nhìn theo cách này, ngữ học thì đơn giản là một phần của tâm lý con
người: lĩnh vực tìm để xác định bản chất của những khả năng tâm lý con người và
nghiên cứu cách thức vận dụng những khả năng này. Nhiều nhà tâm lý học sẽ bác
bỏ một sự mô tả đặc tính của ngành học của họ trong những từ ngữ này, nhưng với
tôi, phản ứng này dường như cho thấy sự thiếu sót nghiêm trọng trong quan niệm
của họ về tâm lý học, chứ không là một thiếu xót trong chính sự hình thành đó.
Trong mọi trường hợp, với tôi, dường như đây là những từ ngữ thích hợp để đặt ra
những Mục đích của ngữ học đương thời và để thảo luận về những thành tựu cũng
như những thất bại của nó.
Tôi nghĩ bây giờ có thể đưa ra
một số đề nghị khá rõ ràng về tổ chức của ngôn ngữ con người và đặt chúng vào
thử nghiệm thực nghiệm. Lý thuyết của ngữ pháp chuyển đổi-phát sinh [3],
như nó đang phát triển theo những con đường khác nhau và đôi khi mâu thuẫn, đã
đưa ra những đề nghị như vậy; và trong vài năm qua đã có một số công trình rất
hiệu quả và mang tính đề nghị nhằm cố gắng cải tiến và tái cấu trúc những hình
thành này về những tiến trình và cấu trúc làm nền tảng cho ngôn ngữ con người.
Lý thuyết ngữ pháp bận tâm với
câu hỏi: Bản chất kiến thức của một người về ngôn ngữ của người này là gì, kiến
thức đem cho người này khả năng để dùng ngôn ngữ trong cách thông thường, sáng
tạo? Một người biết một ngôn ngữ, người đã thành thạo một hệ thống gồm những
quy luật vốn gán âm thanh với ý nghĩa trong một cách xác định cho một lớp vô
hạn của những câu có thể có. Như thế, mỗi ngôn ngữ gồm (một phần) của một cặp
nhất định của âm thanh và ý nghĩa trên một phạm vi vô hạn. Dĩ nhiên, cá nhân
người biết ngôn ngữ không có ý thức về việc làm chủ những quy luật này hay của
việc đem dùng chúng, cũng như không có lý do nào để giả dịnh rằng kiến thức về
những quy luật ngôn ngữ này có thể được đưa lên hữu thức. Qua xem xét tự thân
những suy nghĩ và cảm xúc, một người có thể tích lũy những bằng chứng nhiều
loại khác nhau về liên hệ âm thanh – ý nghĩa được những quy luật ngôn ngữ vốn
người này thông thạo xác định; không có lý do gì để giả định rằng người này có
thể vượt xa nhiều hơn mức độ dữ liệu ngoài mặt này, để khám phá những quy luật
và nguyên tắc này vốn xác định quan hệ giữa âm thanh và ý nghĩa, qua tự xem xét
những suy nghĩ và cảm xúc. Đúng hơn, việc khám phá những quy luật và nguyên lý
này là một vấn đề điển hình của khoa học. Chúng ta có một sưu tập dữ liệu liên
quan với sự tương ứng giữa âm thanh và ý nghĩa, dạng thức và sự diễn giải những
biểu thị ngôn ngữ, trong nhiều ngôn ngữ khác nhau. Chúng ta cố gắng để xác định,
với mỗi ngôn ngữ, một hệ thống quy luật vốn sẽ giải thích cho dữ liệu đó. Sâu
xa hơn, chúng ta cố gắng để thiết lập những nguyên tắc vốn chi phối sự hình
thành của những hệ thống quy luật như vậy, cho bất kỳ ngôn ngữ nào của con
người.
Hệ thống những quy luật xác
định quan hệ âm thanh-ý nghĩa cho một ngôn ngữ nhất định có thể được gọi là
“ngữ pháp” – hay nói theo thuật ngữ chuyên môn hơn là “ngữ pháp phát sinh” –
của ngôn ngữ này. Nói rằng một ngữ pháp “phát sinh” một tập hợp nhất định của
những cấu trúc thì chỉ đơn giản nói rằng nó chỉ định tập hợp này theo một cách
chính xác. Theo nghĩa này, chúng ta có thể nói rằng ngữ pháp của một ngôn ngữ
tạo ra một tập hợp vô hạn những “mô tả cấu trúc”, mỗi mô tả cấu trúc là một đối
tượng trừu tượng thuộc loại nào đó xác định một âm thanh riêng biệt, một ý
nghĩa riêng biệt và bất kỳ thuộc tính và cấu hình dạng thức nào phục vụ làm
trung gian cho quan hệ giữa âm thanh và ý nghĩa. Lấy thí dụ, ngữ pháp tiếng Anh
phát sinh những mô tả cấu trúc cho những câu tôi đang nói; hay, lấy một trường
hợp đơn giản hơn để minh họa, ngữ pháp tiếng Anh sẽ phát sinh một mô tả về cấu
trúc cho mỗi câu sau:
1 John
is certain that Bill will leave / John thì
chắc chắn rằng Bill sẽ rời đi.
2 John
is certain to leave /John thì chắc chắn sẽ rời
đi.
Mỗi người trong chúng ta đều đã nắm vững và bên trong tự thể hiện một hệ thống ngữ pháp vốn
gán những mô tả cấu trúc cho những câu này; chúng ta dùng kiến thức này, hoàn
toàn không có nhận thức hay ngay cả không có khả năng nhận thức, để tạo ra
những câu này hay hiểu chúng khi chúng được người khác tạo ra. Những mô tả cấu trúc gồm một biểu thị ngữ âm của những câu và sự chỉ định về ý nghĩa của chúng. Trong trường hợp
của những thí dụ được trích dẫn 1 và 2, những mô tả cấu trúc phải truyền đạt sơ
bộ thông tin sau: chúng phải cho thấy rằng trong trường hợp 1, một trạng thái
tâm lý nhất định (cụ thể là chắc chắn rằng Bill sẽ rời đi) được gán cho John;
trong khi trong trường hợp 2, một thuộc tính lôgích nhất định (cụ thể là thuộc
tính chắc chắn) được gán cho mệnh đề rằng John sẽ rời đi. Mặc dù có sự tương
đồng bề ngoài về hình thức của hai câu này, những mô tả cấu trúc do ngữ pháp
tạo ra phải cho thấy rằng ý nghĩa của chúng rất khác nhau: một mô tả gán trạng
thái tâm lý cho John, mô tả kia gán một thuộc tính lôgích cho một mệnh đề
trừu tượng. Câu thứ hai có thể được diễn
giải theo một dạng thức rất khác:
3 That
John will leave is certain / Việc John
sẽ rời đi thì chắc chắn.
Câu đầu tiên không có diễn
giải như vậy. Trong diễn giải 3, người ta có thể nói “dạng lôgích” của 2 được
biểu lộ trực tiếp hơn.Những quan hệ ngữ pháp trong câu 2 và 3 rất giống nhau,
mặc dù có sự khác biệt về dạng thức ngoài mặt; những quan hệ ngữ pháp ở câu 1
và 2 rất khác nhau, mặc dù dạng thức ngoài mặt có sự giống nhau. Những sự kiện
như vậy đem cho điểm khởi đầu cho một nghiên cứu của cấu trúc ngữ pháp của
tiếng Anh – và tổng quát hơn, cho sự khảo sát những thuộc tính tổng quát của
ngôn ngữ con người.
Để tiếp tục thảo luận thêm về
những thuộc tính của ngôn ngữ, hãy để tôi giới thiệu từ ngữ “cấu trúc ngoài
mặt” để chỉ sự thể hiện của những cụm từ cấu thành một biểu thức ngôn ngữ và
những phân loại vốn những cụm từ này thuộc về. Trong câu 1, những cụm từ thuộc
cấu trúc ngoài mặt gồm: “that Bill will go”, là một mệnh đề đầy đủ; cụm danh từ
“Bill” và “John”; những cụm động từ “will leave” và “is certain that Bill will leave”, v.v. Ở câu 2, cấu trúc ngoài mặt gồm những
cụm động từ “to leave” và “is certain to leave”; nhưng cấu
trúc bề ngoài của câu 2 không gồm mệnh đề có dạng “John
will leave”, mặc dù mệnh đề này thể hiện
một phần ý nghĩa của “John is certain to leave” và xuất hiện như một cụm từ trong cấu trúc
ngoài mặt của cách diễn giải của nó, “that John will leave is certain”. Trong ý hướng này, cấu trúc ngoài mặt không
tất yếu đem cho một dấu hiệu chỉ định chính xác về cấu trúc và những quan hệ
xác định ý nghĩa của câu; Trong trường hợp câu 2, “John
is certain to leave”, cấu trúc bề ngoài không chỉ
định rằng mệnh đề “John will leave” thể hiện một phần ý nghĩa của câu – mặc dù trong
hai thí dụ kia, vốn tôi đã đưa ra cấu trúc ngoài mặt khá gần với việc cho thấy
những quan hệ có ý nghĩa về phương diện ngữ nghĩa.
Tiếp tục, hãy để tôi giới
thiệu thêm từ ngữ chuyên môn “cấu trúc sâu” để chỉ cách trình bày những cụm từ
đóng vai trò trung tâm hơn trong việc diễn giải ngữ nghĩa của một câu. Trong
trường hợp 1 và 3, cấu trúc sâu có thể không khác biệt lắm so với cấu trúc
ngoài mặt. Trong trường hợp 2, cấu trúc sâu sẽ rất khác với cấu trúc ngoài mặt,
ở chỗ nó sẽ gồm một số mệnh đề loại như “John
will leave” và vị từ “is certain” được áp dụng cho mệnh đề
này, mặc dù không có gì thuộc loại này xuất hiện trong cấu trúc ngoài mặt.
Trong tổng quát, ngoài những thí dụ đơn giản nhất, những cấu trúc ngoài mặt của
câu rất khác với những cấu trúc sâu của chúng.
Ngữ pháp tiếng Anh sẽ phát
sinh (tạo ra) , cho mỗi câu, một cấu trúc sâu và sẽ chứa những quy luật cho
thấy cấu trúc sâu này liên quan như thế nào với cấu trúc ngoài mặt. Những quy
luật thể hiện quan hệ giữa cấu trúc sâu và cấu trúc ngoài mặt gọi là “những
chuyển đổi về ngữ pháp”. Do đó có từ ngữ “ngữ pháp chuyển đổi-phát sinh”.
Ngoài những quy luật xác định cấu trúc sâu, cấu trúc ngoài mặt và quan hệ giữa
chúng, ngữ pháp tiếng Anh còn chứa những quy luật khác liên quan với những “đối
tượng cú pháp” này (cụ thể, là những cấu trúc ngoài mặt và sâu được ghép đôi
với nhau) với những biểu thị ngữ âm về một mặt, và biểu thị ý nghĩa về phương
diện kia. Một người đã tiếp nhận kiến thức về tiếng Anh đã nhập tâm những quy
luật này và dùng chúng, khi người này hiểu hay tạo ra những câu vừa đưa ra làm
thí dụ và một phạm vi vô hạn gồm những câu khác.
Bằng chứng hỗ trợ phương pháp
nghiên cứu giải quyết này được đem cho bởi quan sát rằng những thuộc tính có ý
nghĩa đáng chú ý của câu tiếng Anh có thể được giải thích trực tiếp qua lămg
kính của những cấu trúc sâu được gán cho chúng. Vì vậy, hãy xem xét lại hai câu
1 (“John is certain that Bill will leave”) và 2 (“John
is certain to leave”). Hãy nhớ rằng trong trường
hợp câu đầu tiên, cấu trúc sâu và cấu trúc ngoài mặt hầu như giống hệt nhau,
trong khi trong trường hợp câu thứ hai, chúng rất khác nhau. Cũng hãy quan sát
rằng trong trường hợp câu đầu tiên, có một cụm từ danh từ tương ứng, cụ thể là
“John’s certainty that Bill will leave (surprised
me)/John chắc chắn rằng Bill sẽ
rời đi (làm tôi ngạc nhiên)”; nhưng trong trường hợp câu thứ hai, không có cụm
từ danh từ tương ứng. Chúng ta không thể nói “John’s
certainty to leave surprised me /Việc John
chắc chắn ra đi đã làm tôi ngạc nhiên”. Tôi cho rằng cụm danh từ sau có thể
hiểu được, nhưng nó không được hình thành đúng cách trong tiếng Anh. Người nói
tiếng Anh có thể dễ dàng nhận thức được sự thật này, mặc dù lý do của nó rất có
thể họ sẽ không hiểu, nằm ngoài tầm với của người nói. Sự kiện này là một trường
hợp đặc biệt của một thuộc tính rất tổng quát của tiếng Anh: cụ thể là , những
cụm danh từ thì có tương ứng với những câu rất gần trong dạng thức ngoài mặt
với cấu trúc sâu, nhưng không tương ứng với những câu trong dạng thức ngoài mặt
xa với cấu trúc sâu. Do đó, “ John is certain that Bill will
leave “, thì gần trong dạng thức
ngoài mặt với cấu trúc sâu của nó, tương ứng với cụm từ danh từ “John’s certainty that Bill will leave”; nhưng không có cụm từ nào như “John’s certainty to leave”, tương ứng
với “John is certain to leave”, vốn xa với cấu trúc sâu của nó.[4]
Những khái niệm “gần” và “xa” có thể được làm rõ ràng hoàn toàn. Khi chúng ta chỉ định chúng rõ ràng, chúng ta có một giải thích cho sự kiện rằng
những sự danh từ hóa [5]
tồn tại trong một số trường hợp nhất định nhưng không trong những trường hợp khác – mặc dù chúng tồn tại
trong những trường hợp khác này, nhưng chúng thường hoàn toàn dễ hiểu. Giải
thích xoay quanh khái niệm về cấu trúc sâu: trong thực tế, nó nói rằng những
danh từ hóa phải phản ảnh những thuộc tính của cấu trúc sâu. Có rất nhiều thí
dụ minh họa hiện tượng này. Những gì là quan trọng là bằng chứng nó đem cho để
hỗ trợ cái nhìn rằng là những cấu trúc sâu vốn thường rất trừu tượng thì tồn
tại, và đóng một vai trò trung tâm trong những tiến trình ngữ pháp vốn chúng ta
dùng trong việc tạo ra và diễn giải những câu. Khi đó, những sự kiện như vậy hỗ
trợ giả thuyết rằng những cấu trúc sâu thuộc loại được nêu lên trong ngữ pháp
chuyển đổi-phát sinh đều là những cấu trúc tâm lý thực. Những cấu trúc sâu này,
cùng với những quy luật chuyển đổi kết nối chúng với những cấu trúc ngoài mặt
và những quy luật thêm vào, liên kết cả cấu trúc sâu và ngoài mặt với âm thanh
và ý nghĩa, tạo nên một tập hợp những quy luật vốn một người nắm vững khi đã
học được một ngôn ngữ. Cùng nhau, chúng tạo thành cốt lõi của kiến thức ngôn
ngữ của một người, vốn người này chủ động dùng khi nói và hiểu.
Những thí dụ tôi đã đem cho
đến giờ minh họa vai trò của cấu trúc sâu trong việc xác định ý nghĩa, và cho
thấy rằng ngay cả trong những trường hợp rất đơn giản, cấu trúc sâu có thể xa
cách với dạng thức ngoài mặt. Có rất nhiều bằng chứng cho thấy rằng dạng thức
ngữ âm của một câu được xác định bởi cấu trúc ngoài mặt của nó, bởi những
nguyên tắc thuộc loại hết sức đáng chú ý và phức tạp nhưng tôi sẽ không cố gắng
thảo luận ở đây. Từ bằng chứng như vậy, là công bằng để kết luận rằng cấu trúc
ngoài mặt quyết định dạng thức ngữ âm và những quan hệ ngữ pháp được thể hiện
trong cấu trúc sâu là những gì vốn quyết định ý nghĩa. Thêm nữa, như đã ghi
nhận, có một số tiến trình ngữ pháp nhất định, chẳng hạn như tiến trình danh từ
hóa, chỉ có thể được phát biểu trong những điều kiện của những cấu trúc sâu
trừu tượng.
Tuy nhiên, vấn đề trở nên phức
tạp hơn. bởi sự kiện là cấu trúc ngoài mặt cũng đóng một vai trò trong việc xác
định sự diễn giải ngữ nghĩa. [6]
Nghiên cứu về vấn đề này là một trong những phương diện tạo tranh luận nhất trong công việc hiện tại, và,
trong ý kiến của tôi, có nhiều phần là một trong những vấn đề sẽ có thành quả
nhất. Như một minh họa, hãy xem xét một số thuộc tính của thì hiện tại hoàn
thành trong tiếng Anh – thí dụ: những câu như “John
has lived in Princeton”. Một đặc điểm đáng chú ý và
hiếm khi được quan sát của phương diện
này là trong những trường hợp như vậy, nó mang giả định rằng chủ thể thì còn
sống. Vì vậy, là thuận hợp khi tôi nói “I
have lived in Princeton” nhưng khi
biết rằng Einstein đã chết, tôi sẽ không nói “Einstein
has lived in Princeton”. Đúng hơn, tôi sẽ nói “Einstein lived in Princeton”. (Như luôn
luôn, có những phức tạp, nhưng câu này chính xác như là tạm/gần đúng đầu tiên.)
Nhưng bây giờ hãy xem xét những dạng thức chủ động và thụ động với phương diện của thì hiện tại hoàn
thành. Biết rằng John đã chết và Bill còn sống, tôi có thể nói “Bill has often been visited by John /Bill thường được John đến thăm”, nhưng không nói
“John has often visited Bill /John thường đến thăm Bill”; đúng hơn, nói “John often visited Bill”. Tôi có
thể nói “I have been taught physics by Einstein”, nhưng không “Einstein
has taught me physics”; đúng hơn “Einstein taught me physics”. Trong
tổng quát, thì chủ động và thụ động thì đồng nghĩa và về cơ bản có cấu trúc sâu
giống nhau. Nhưng trong những trường hợp này, những dạng chủ động và thụ động
khác nhau ở những tiền giả định vốn chúng thể hiện; nói đơn giản, giả
định-trước là người được chủ thể biểu thị ngoài mặt thì còn sống. Về phương
diện này, cấu trúc ngoài mặt góp phần tạo nên ý nghĩa của câu ở chỗ nó liên
quan với việc xác định những gì được giả định-trước trong cách dùng của một
câu.
Xa hơn nữa, hãy quan sát rằng
tình cảnh sẽ khác khi chúng ta có một chủ ngữ nối. Do đó, xét đến việc Hilary
còn sống và Marco Polo đã chết, thì đúng là phải nói “Hilary
has climbed Mt. Everest” nhưng
không nói “Marco Polo has climbed Mt. Everestt”; nhưng đúng hơn, lại nữa, là “Marco Polo climbed Mt. Everest”. (Một lần
nữa, tôi bỏ qua một số chi tiết quá tỉ mỉ và phức tạp.) Nhưng bây giờ hãy xem
câu “Marco Polo and Hilary (among others) have climbed
Mt. Everest /Marco Polo và Hilary (trong
số những người khác) đã leo lên đỉnh Everest”. Trong trường hợp này, không có
giả định-trước rõ ràng nào cho thấy Marco Polo còn sống, cũng như không có giả
định nào trong câu thụ động “Mt. Everest has been climbed by
Marco Polo (among others)/Mt. Everest
đã được chinh phục bởi Marco Polo (trong số những người khác)”.
Hãy ghi nhận thêm rằng trường
hợp sẽ thay đổi đáng kể khi chúng ta chuyển từ ngữ điệu bình thường, như trong
trường hợp tôi vừa đưa ra, sang một đường nét ngữ điệu chứa đựng một nhấn mạnh
tương phản hay biểu cảm. Tác động của ngữ điệu như vậy với giả định-trước thì
khá phức tạp. Hãy để tôi minh họa bằng một trường hợp đơn giản. Hãy xem câu
“The Yankees play Red Sox in Boston”. Với ngữ điệu bình thường, trọng âm chính
và cao độ cao nhất là từ “Boston” và câu này có thể là trả lời cho những câu
hỏi như “where did the Yankees play the Red Sox?” Yanke đã đấu với Red Sox ở đâu?” (“ở Boston”); “what did the Yankees do??” (“they played the Red Sox in Boston”); “what happened?” (“The
Yankees played the red sox in Boston.”). Nhưng
giả định rằng sự nhấn mạnh tương phản được đặt vào “Red Sox” thì chúng ta có
“The Yankees play the Red Sox in Boston”. Bây giờ, câu này chỉ có thể là trả
lời cho “Who did the Yankees play in Boston?” Lưu ý rằng câu này giả định rằng đội Yankees
đấu với hội nào đó ở Boston; nếu hoàn toàn không có đấu bóng rổ nào thì sẽ
không đúng, không chỉ sai khi nói “Đội Yankees chơi Red Sox ở Boston”. Ngược
lại, nếu không có đấu bóng rổ nào cả, thì nói “The Yankees play Red Sox in
Boston” là sai, nhưng không là không đúng, với ngữ điệu bình thường. Do đó,
trọng âm tương phản mang một giả định theo nghĩa vốn ngữ điệu bình thường không
có, mặc dù ngữ điệu bình thường cũng mang một giả định theo nghĩa khác; do đó sẽ
là không đúng khi trả lời câu hỏi “Who played the Red Sox in Boston?” với “The Yankees play the Red Sox in Boston”
(ngữ điệu bình thường). Tính chất tương tự của trọng âm tương phản được thể
hiện qua những gì gọi là cấu trúc câu lệch. Do đó, câu “It was the Yankees who played the Red Sox in Boston” có trọng âm chính với “Yankees” và giả định rằng
hội nào đó đã đấu với Red Sox ở Boston. Câu nói đó thì không đúng, không chỉ
sai, nếu không hề có đấu bóng rổ nào cả. Những hiện tượng này thường bị bỏ qua
khi vai trò ngữ nghĩa của nhấn mạnh tương phản đã được ghi nhận.
Để minh họa thêm vai trò của
cấu trúc ngoài mặt trong việc xác định ý nghĩa, hãy xem xét những câu như sau:
“John is tall for a pygmy / John cao so với một người pygmy”. Câu này giả
định rằng John là một người pygmy, và rằng những người pygmies
đều có khuynh hướng là lùn, thấp;
do đó, với kiến thức của chúng ta về người Watusi, sẽ là bất thường nếu nói “John is tall for a Watusi”. Mặt khác,
hãy xem xét những gì sẽ xảy ra khi chúng ta thêm từ “Ngay cả” vào câu. Thêm nó
trước “John” chúng ta sẽ thấy: “Even John is tall for a pygmy”. Một lần nữa, giả định-trước là John là một
người lùn và những người pygmy đều thấp. Nhưng hãy xét câu : “John is tall even for a pygmy”. Điều này
giả định rằng người pygmy đều cao; do đó, đây là một câu kỳ lạ, dựa trên kiến
thức của chúng ta về những sự kiện, khi so sánh với câu “John is tall even for a Watusi,”“, câu này
thì hoàn toàn ổn. Vấn đề là vị trí của “even” trong câu “John is tall for a pygmy” xác định
giả định-trước về chiều cao trung bình của những người pygmies.
Nhưng vị trí của từ “even” lại
là vấn đề về cấu trúc ngoài mặt. chúng ta có thể thấy điều này từ sự kiện là từ
“even” có thể xuất hiện cùng với những cụm từ không có bất kỳ sự thể hiện nào ở
mức độ cấu trúc sâu: Thí dụ, hãy xem xét câu “John
isn’t certain to leave at 10; in fact, he isn’t even certain to leave at all”. Ở đây, từ “even” được liên kết với “certain to leave”, một cụm
từ, như đã ghi nhận trước đó, không xuất hiện ở mức độ cấu trúc sâu. Do đó,
trong trường hợp này, những thuộc tính của cấu trúc ngoài mặt cũng đóng một vai
trò trong việc xác định những gì được giả định-trước trong một câu nhất định.
Vai trò của cấu trúc ngoài mặt
trong việc xác định ý nghĩa một lần nữa được minh họa bằng hiện tượng của đại
từ hóa [7].
[8]
Do đó, nếu tôi nói “Each of the men hates his
brothers” thì từ “his” có thể ám chỉ
một trong số những người đó; nhưng nếu tôi nói “The
men each hate his brothers” thì từ
“his” phải ám chỉ một người khác nào, không được nói đến trong câu. Tuy nhiên,
bằng chứng rõ ràng là “each of the men” và “the men each” đều xuất phát từ cùng một cấu trúc sâu. Tương tự
như vậy, người ta đã lưu ý rằng vị trí nhấn mạnh đóng vai trò quan trọng trong
việc xác định đại danh từ viện dẫn. Hãy xem xét bài phát biểu sau: “John washed the car; I was afraid someone else would do it”. Câu này ngụ ý rằng tôi đã hy vọng John sẽ rửa
xe và tôi rất vui vì người này đã làm như vậy. Nhưng bây giờ hãy xem xét câu
sau: “John washed the car; I was afraid someone else
would do it.”. Với nhấn mạnh trên từ “afraid”, câu này hàm ý rằng tôi hy
vọng John đã không rửa xe. Việc nhắc đến “someone
else” thì khác nhau trong hai
trường hợp. Có nhiều thí dụ khác minh họa vai trò của cấu trúc ngoài mặt trong
việc xác định đại từ viện dẫn
Để làm vấn đề phức tạp thêm
nữa, cấu trúc sâu cũng đóng một vai trò trong việc xác định đại từ viện dẫn. Vì
vậy, hãy xem xét câu “John appeared to Bill to like him”. Ở đây, đại từ “him” có thể ám chỉ Bill nhưng
không John. So sánh câu “John appealed to Bill to like him”. Ở đây, đại từ có thể ám chỉ John nhưng không
Bill. Vì vậy, chúng ta có thể nói “John appealed to Mary to like him”, nhưng không “John có vẻ thích ông với Mary”,
trong đó “ông” ám chỉ “John”; mặt khác, chúng ta có thể nói “John tỏ ra thích
Mary với Mary”, nhưng không “John appeared to Mary to like
him,”“, trong đó “her” ám chỉ Mary.
Tương tự, trong “John appealed to Bill to like himself,”, đại từ phản thân ám chỉ Bill; nhưng trong câu
“John appeared to Bill to like himself”, nó ám chỉ John. Những câu này gần giống nhau
về cấu trúc ngoài mặt; chính sự khác biệt trong cấu trúc sâu sẽ quyết định việc
viện dẫn đại từ.
Do đó, đại từ viện dẫn tùy thuộc trên cả cấu trúc sâu và
ngoài mặt. Một người biết tiếng Anh đã nắm vững một hệ thống của những quy luật
vốn đem dùng những thuộc tính của cấu trúc sâu và ngoài mặt để xác định đại từ
viện dẫn Lại nữa, người này không thể tự tìm biết những quy luật này qua tự xem
xét những suy nghĩ và cảm xúc bên trong. Thực sự, những quy luật này vẫn đều
chưa được biết, dù một vài những thuộc tính của chúng thì rõ ràng.
Tóm lại: ngữ pháp phát sinh
của một ngôn ngữ chỉ định một tập hợp vô hạn của những mô tả cấu trúc, mỗi mô
tả chứa một cấu trúc sâu, một cấu trúc ngoài mặt, một biểu thị ngữ âm, một biểu
thị ngữ nghĩa và những cấu trúc dạng thức khác. Những quy luật liên quan với
cấu trúc sâu và ngoài mặt – những gì được gọi là “những chuyển đổi ngữ pháp” –
đã từng được nghiên cứu chi tiết và được hiểu khá rõ ràng. Những quy luật liên
hệ cấu trúc ngoài mặt và sự biểu thị ngữ âm cũng được hiểu khá rõ (mặc dù tôi
không muốn ám chỉ rằng vấn đề này thì không còn tranh luận nữa: khác xa với
thế). Dường như cả hai, cấu trúc sâu và ngoài mặt đều tham dự vào sự xác định
của ý nghĩa. Cấu trúc sâu đem cho những quan hệ ngữ pháp của vị ngữ , bổ ngữ [9],
v.v., tham dự vào việc xác định ý nghĩa. Mặt khác, có vẻ như những vấn đề về
trọng tâm và giả định-trước, đề tài và nhận xét, phạm vi của những yếu tố
lôgích và viện dẫn đại từ được xác định, ít nhất một phần, bởi cấu trúc ngoài
mặt. Những quy luật liên hệ những cấu trúc cú pháp với những biểu thị ý nghĩa
vẫn chưa được hiểu rõ. Thực sự, khái niệm “biểu thị ý nghĩa” hay “biểu thị ngữ
nghĩa” bản thân nó đã gây nhiều tranh luận.
Hoàn toàn là không rõ ràng
rằng có thể có sự phân biệt chặt chẽ giữa đóng góp của ngữ pháp vào xác định ý
nghĩa và đóng góp của những gì gọi là “những cân nhắc thực tiễn”, những câu hỏi
về sự kiện, tin tưởng và nội dung của lời nói-viết . Có lẽ điều đáng nhắc lại
là đúng hơn những câu hỏi tương tự có thể nêu lên về khái niệm “biểu thị ngữ
âm”. [10]
Mặc dù biểu thị ngữ âm là một trong những ý tưởng đã thiết lập vững chắc và ít
tranh luận nhất trong lý thuyết ngôn ngữ, chúng ta vẫn có thể đặt câu hỏi liệu
nó có thực sự là một khái niệm trừu tượng hợp lệ hay không. Hiểu sâu hơn về
cách dùng ngôn ngữ có thể cho thấy những yếu tố ngoài cấu trúc ngữ pháp đóng
một vai trò thiết yếu trong việc định hình cả cách chúng ta nhận thức ngôn ngữ
và hình thức vật lý của nó – âm thanh thực tế và cách phát âm của ngôn ngữ nói.
Những yếu tố này có thể gắn chặt với những quy luật chính thức vốn kết nối cấu
trúc ngoài mặt với hình thức ngữ âm đến mức việc cố gắng tách chúng ra sẽ dẫn đến
một hiểu biết bị bóp méo.
Cho đến nay, việc nghiên cứu
ngôn ngữ đã tiến triển trên cơ bản của một sự trừu tượng hóa nhất định: cụ thể
là chúng ta trừu tượng hóa những điều kiện dùng ngôn ngữ và xem xét những cấu
trúc chính thức cũng như những hoạt động chính thức liên kết chúng. Trong số những cấu trúc
chính thức này có cấu trúc cú pháp, cụ thể là cấu trúc ngoài mặt và cấu trúc
sâu (những quy luật cú pháp cơ bản so với sự sắp xếp có
thể nhìn thấy của những từ)( (những phương diện âm thanh và ý nghĩa của ngôn ngữ) ; và cả những biểu thị ngữ âm và ngữ nghĩa vốn
chúng ta coi như những đối tượng chính thức nhất định liên quan với cấu trúc cú
pháp bằng những phép biến đổi cú pháp nhất định đã xác định rõ ràng [11].
Tiến trình này của sự trừu tượng hóa thì chính đáng, không hề không hợp lệ,
nhưng người ta phải hiểu rằng nó thể hiện một cái nhìn (cá nhân), một giả
thuyết về bản chất của não thức, vốn không là một tiên nghiệm hiển nhiên. Nó
diễn dạt giả thuyết làm việc, rằng chúng ta có thể tiến hành với việc nghiên cứu
về “kiến thức về ngôn ngữ” – những gì đã thường gọi là “khả năng về ngôn ngữ “
– tron sự trừu tượng hóa từ những vấn đề của việc dùng ngôn ngữ như thế nào.
Giả thuyết làm việc được biện minh bằng sự thành công đạt được khi đem áp dụng
nó. Người ta đã học được rất nhiều điều về hệ thống những tiến trình và chức
năng hoạt động trong ngôn ngữ, và tôi có thể nói, về bản chất của não thức,
trên cơ bản của giả thuyết này. Nhưng chúng ta phải nhận thức được rằng, ít
nhất một phần, phương pháp nghiên cứu giải quyết ngôn ngữ này bị ép buộc trên
chúng ta bới sự kiện là những khái niệm của chúng ta đã khiến chúng ta thất bại
khi chúng ta cố gắng để nghiên cứu cách dùng ngôn ngữ. Chúng ta đã giản lược về
những sáo rỗng hay về những nhận xét, mặc dù có thể khá lôi cuốn đáng chú ý,
nhưng không phù hợp cho việc nghiên cứu một cách hệ thống bằng những dụng cụ
trí thức hiện có sẵn cho chúng ta. Mặt khác, chúng ta có thể mang đến cho việc
nghiên cứu những dạng thức cấu trúc và những quan hệ của chúng, một lượng giàu
có của kinh nghiệm và hiểu biết. Có thể tại điểm này chúng ta đang đối mặt với
một vấn đề mâu thuẫn ở đây giữa những gì có ý nghĩa quan trọng (hiểu cách dùng ngôn ngữ) và điều gì có thể làm được (phân
tích những cấu trúc chính thức). Tôi không
tin rằng đây là trường hợp, nhưng điều đó thì có thể. có Tôi cảm thấy khá tự
tin rằng sự trừu tượng hóa việc nghiên cứu những hệ thống của những tiến trình
và chức năng hoạt động trong ngôn ngữ là phù hợp; sự tự tin của tôi nảy sinh từ
sự kiện là nhiều kết quả khá đã đạt được trên cơ bản sự trừu tượng này. Tuy
nhiên, cần thận trọng. Có thể bước tiến lớn tiếp theo trong nghiên cứu ngôn ngữ
sẽ đòi hỏi phải tạo ra những dụng cụ trí thức mới cho phép chúng ta xem xét
nhiều câu hỏi khác nhau vốn đã từng ném vào thùng rác của “ngữ dụng học”, để chúng ta có thể tiến
hành nghiên cứu những câu hỏi vốn chúng ta biết cách hình thành trong một cách
thức dễ hiểu.
Như đã ghi nhận, tôi nghĩ rằng
sự trừu tượng hóa khả năng ngôn ngữ là chính đáng. Để đi xa hơn, tôi tin rằng
sự bất lực của tâm lý học thời nay trong việc thấu hiểu những vấn đề của trí
tuệ thông minh con người, ít nhất một phần là do nó không sẵn sàng thực hiện
nghiên cứu về những cấu trúc trừu tượng và những hệ thống những tiến trình và
chức năng ngôn ngữ của não thức. Chú ý rằng phương pháp nghiên cứu giải quyết
cấu trúc ngôn ngữ vốn tôi vừa phác thảo vốn bắt nguồn từ những truyền thống lâu
đời, phản ánh những nguyên tắc cổ điển. Tôi nghĩ không là bóp méo để nói rằng
phương pháp nghiên cứu giải quyết này đưa ra một quan điểm vốn thừa hưởng công
trình rất quan trọng của những nhà ngữ pháp phổ quát thế kỷ XVII và XVIII, và
quan điểm đó đã được phát triển, trong nhiều đường lối khác nhau, trong triết
học duy lý và lãng mạn về ngôn ngữ và não thức. Phương pháp nghiên cứu giải
quyết, trong nhiều đường lối, khác với quan niệm hiện đại hơn vốn theo tôi là
khá sai lầm, khi cho rằng kiến thức ngôn ngữ có thể được coi như một hệ thống
những thói quen, hay trong dạng những kết nối kích thích-phản ứng, những nguyên
tắc “tương tự” và “khái quát hóa”. và những khái niệm khác đã được khám phá
trong ngữ học và tâm lý học thế kỷ 20, và đã phát triển từ những suy đoán duy
nghiệm truyền thống. Tôi tin rằng sự thiếu sót tai hại nghiêm trọng của tất cả
những phương pháp nghiên cứu giải quyết như vậy xuất phát từ việc chúng không
sẵn sàng thực hiện nghiên cứu trừu tượng về khả năng ngôn ngữ . Nếu những ngành
khoa học vật lý tự giới hạn mình bởi những giới hạn về phương pháp tương tự, thì
chúng ta vẫn đang ở trong kỷ nguyên thiên văn học của người Babylon.
Một khái niệm truyền thống đã
xuất hiện trở lại trong những nghiên cứu gần đây là “ngữ pháp phổ quát” và tôi
muốn kết thúc bằng nói ngắn gọn về chủ đề này.. Có hai loại bằng chứng cho thấy
rằng những điều kiện dạng thức sâu xa đều được đáp ứng bởi ngữ pháp của tất cả
những ngôn ngữ. Loại bằng chứng đầu tiên được sự nghiên cứu nhiều loại ngôn ngữ
đem cho. Trong cố gắng để xây dựng những ngữ pháp phát sinh cho những ngôn ngữ
thuộc nhiều loại khác nhau, những nhà nghiên cứu đã nhiều lần dẫn đến những giả
định khá giống nhau về dạng thức và tổ chức của những hệ thống phát sinh như
vậy. Nhưng một loại bằng chứng thuyết phục hơn về ngữ pháp phổ quát được sự
nghiên cứu một ngôn ngữ duy nhất. đem cho. Thoạt nghe có vẻ nghịch lý rằng tập
trung nghiên cứu vào chỉ một ngôn ngữ sẽ đem cho bằng chứng lien quan với ngữ
pháp phổ quát, nhưng nếu suy nghĩ một chút về vấn đề này thì đây là một hệ quả
rất tự nhiên.
Để thấy điều này, hãy xem xét
vấn đề của việc xác định khả năng tâm lý giúp cho sự tiếp thu ngôn ngữ trở nên
có thể được. Nếu việc nghiên cứu ngữ pháp – về khả năng ngôn ngữ – liên quan
với một sự trừu tượng hóa việc dùng ngôn ngữ, thì việc nghiên cứu những khả
năng tâm lý vốn giúp khả năng tiếp nhận ngữ pháp có thể liên quan thêm một bước
nữa về một mức độ trừu tượng hơn. Tôi thấy không có sai lầm trong việc này.
chúng ta có thể hình thành vấn đề của xác định những đặc điểm nội tại của một
hệ thống phân tích và lựa chọn có những thuộc tính chưa xác định, chấp nhận
loại dữ liệu có sẵn cho trẻ học ngôn ngữ đầu tiên làm “input” và tạo ra “output”
ngữ pháp tổng quát của ngôn ngữ đó. “output” trong trường hợp này là ngữ pháp
được thể hiện bên trong, việc nắm vững ngữ pháp này cấu thành kiến thức về ngôn
ngữ. Nếu chúng ta cam kết nghiên cứu cấu trúc nội tại của một hệ thống phân
tích và lựa chọn tiếp thu ngôn ngữ vốn không giáo điều hay thành kiến, thì
chúng ta sẽ đi đến những kết luận, dĩ nhiên chỉ là dự kiến, với tôi vẫn có vẻ
quan trọng và có cơ bản hợp lý.
Chúng ta phải gán cho hệ thống
phân tích và lựa chọn này đủ cấu trúc để ngữ pháp có thể được xây dựng trong
những giới hạn về thời gian và dữ liệu có sẵn theo kinh nghiệm, đồng thời chúng
ta phải đáp ứng điều kiện thực nghiệm vốn những người nói cùng một ngôn ngữ
khác nhau, với kinh nghiệm và trình độ đào tạo khác nhau đôi chút, vẫn có được
ngữ pháp tương tự nhau một cách đáng kể, như chúng ta có thể xác định từ mức độ
dễ dàng vốn họ giao tiếp và sự tương ứng giữa họ trong việc giải thích những
câu nói mới. Điều trực tiếp hiển nhiên là dữ liệu sẵn có cho trẻ em thì khá
giới hạn – số giây đồng hồ trong đời của đứa trẻ, nếu tính ra, thì rất nhỏ so
với phạm vi của những câu nói đứa trẻ có thể hiểu ngay và có thể tạo ra trong
phương thức ứng hợp. Sau khi có một số kiến thức về những đặc điểm của ngữ pháp
đã thu nhận được và những giới hạn của dữ liệu có sẵn, chúng ta có thể xây dựng
những giả thuyết thực nghiệm khá hợp lý và khá mạnh mẽ liên quan đến cấu trúc
bên trong của hệ thống phân tích và lựa chọn tiếp thu ngôn ngữ xây dựng nên ngữ
pháp được giả định từ dữ liệu đã cho. Khi nghiên cứu chi tiết câu hỏi này, tôi
tin rằng, chúng ta đã gán cho hệ thống phân tích và lựa chọn này một hệ thống
ràng buộc rất phong phú về dạng thức của một ngữ pháp có thể có, nếu không,
không thể giải thích được cách trẻ em đi đến xây dựng được những loại ngữ pháp
có vẻ đầy đủ phù hợp về kinh nghiệm trong trong những điều kiện về thời gian và
cơ hội tiếp nhận dữ liệu nhất định. Nhưng nếu chúng ta giả định thêm rằng trẻ
em không có khuynh hướng di truyền để học một ngôn ngữ này thay vì ngôn ngữ
khác, thì kết luận chúng ta đạt được về hệ thống phân tích và lựa chọn tiếp thu
ngôn ngữ là những kết luận liên quan với ngữ pháp phổ quát. Những kết luận này,
lấy thí dụ, có thể là sai lầm, bị bác bỏ bằng cho thấy rằng chúng thất bại,
không giải thích được cho việc xây dựng ngữ pháp của những ngôn ngữ khác. Và
những kết luận này sẽ được xác nhận thêm nếu chúng dùng để giải thích những sự
kiện về những ngôn ngữ khác. Với tôi, dòng biện luận này có vẻ rất hợp lý trong
một đướng lối tổng quát, và khi theo đuổi chi tiết, nó dẫn chúng ta đến những
giả thuyết thực nghiệm mạnh mẽ quan tâm với ngữ pháp phổ quát, ngay cả từ việc
nghiên cứu một ngôn ngữ riêng biệt cụ thể.
Tôi đã thảo luận một phương pháp
nghiên cứu giải quyết để nghiên cứu ngôn ngữ vốn nghiên cứu này là một nhánh
của lý thuyết tâm lý học con người. Mục đích của nó là khám
phá và làm rõ những năng lực tinh thần vốn giúp
một người có thể học và dùng một ngôn ngữ. Theo những gì chúng ta biết, những
khả năng này chỉ có ở con người và không có sự tương đồng đáng kể nào trong bất
kỳ cấu trúc sinh vật nào khác. Nếu những kết luận của khảo cứu này có chính
xác, dù chỉ phần nào, thì con người phải đã được ban cho một tập hợp của những
thuộc tính tâm lý rất phong phú và rõ ràng để xác định một dạng ngôn ngữ riêng
biệt trên cơ bản dữ liệu rất sơ sài và khá thiếu hụt. Hơn nữa, họ dùng ngôn ngữ
được thể hiện trong đầu một cách rất sáng tạo, bị ràng buộc bởi những quy luật
của nó nhưng có thể tự do diễn đạt những suy nghĩ mới liên quan với kinh nghiệm
trong quá khứ hay cảm giác hiện tại chỉ theo một cách xa vời và trừu tượng. Nếu
điều này đúng thì sẽ không có hy vọng gì trong việc nghiên cứu về việc “kiểm
soát” hành vi của con người bằng những điều kiện kích thích, lịch trình làm
vững mạnh thêm, thiết lập những cấu trúc thói quen, những mô hình của hành vi,
v.v. Dĩ nhiên, người ta có thể thiết kế một môi trường giới hạn trong đó sự
kiểm soát như vậy và những mô hình như vậy có thể được thể hiện, nhưng không có
lý do nào để giả định rằng người ta biết được nhiều hơn về phạm vi của những
tiềm năng con người bằng những phương pháp như vậy hơn là những gì có thể học
được bằng quan sát con người trong một môi trường như một nhà tù hay một đạo
quân – hay trong nhiều lớp học. Những thuộc tính thiết yếu của não thức con
người sẽ luôn trốn thoát sự nghiên cứu như vậy. Và nếu có thể tha thứ cho một
nhận xét cá nhân “ngoài chuyên môn” cuối cùng của tôi, tôi
thực sự hài lòng với kết quả này.
(Aug/2024)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1] Đây là một phát
biểu quan trọng – tôi diễn lại nôm na như sau – Khi
một người đã học một ngôn ngữ, họ có thể hiểu vô số câu mới mà họ chưa từng
nghe trước đây, mặc dù những câu này trông không giống hoặc nghe không giống
bất kỳ câu nào họ từng kinh nghiệm trước đây. Họ cũng có thể tạo ra những câu
mới khi cần, ngay cả khi họ chưa từng nói chúng trước đây, không cần bất kỳ tín
hiệu cụ thể nào từ môi trường của họ. Những người khác biết cùng một ngôn ngữ
cũng có thể hiểu những câu mới này. Khả năng hiểu và tạo ra những cách diễn đạt
mới này vẫn là một phương lôi cuốn và vẫn còn bí ẩn về cách ngôn ngữ của con người hoạt động.
Đây là nội dung của khái
niệm the Poverty of the Stimulus /Sự nghèo nàn của những tác nhân kích
thích của
Chomsky. Lập luận rằng input ngôn ngữ (tác nhân kích
thích) mà trẻ em nhận được là không đủ để giải thích cho khả năng hiểu và tạo
ra – output – vô số câu mới của chúng. Mặc dù chỉ có tiếp xúc hạn hẹp, trẻ em nhanh chóng học được
những cấu trúc ngôn ngữ phức tạp mà chúng không thể học đầy đủ nếu chỉ bằng cách nghe những thí dụ. Điều này chỉ ra rằng phải có
một số khả năng hoặc cấu trúc ngôn ngữ bẩm sinh trong não thức con người cho phép chúng ta vượt
ngoài những kích thích mà chúng ta kinh nghiệm. Trong đoạn văn, Chomsky nhấn mạnh
cách mọi người có thể hiểu và tạo ra những câu mà họ chưa từng nghe trước đây,
điều này phù hợp với ý tưởng này: năng lực ngôn ngữ của chúng ta vượt ngoài
những gì chúng ta được dạy trực tiếp hoặc tiếp xúc.
[2] Form and meaning: Trong nội dung này, “Form / dạng thức”chỉ cấu trúc hoặc hình
dạng của những biểu thức ngôn ngữ, chẳng hạn như sự sắp xếp những từ, cú pháp
và ngữ pháp tạo cho ngôn ngữ một mô hình dễ nhận biết. Nó trái ngược với “meaning
/ ý
nghĩa”, ám chỉ những khái niệm hoặc ý tưởng được ngôn ngữ truyền đạt. Cùng
nhau, dạng thức và ý nghĩa trong ngôn ngữ tạo ra một hệ thống trong đó những
biểu đạt có
cấu trúc (dạng thức) được dung để truyền đạt những ý tưởng hoặc diễn giải cụ thể (ý nghĩa).
[3] transformational-generative grammar: ngữ pháp chuyển đổi-phát sinh: lý
thuyết ngôn ngữ do Noam Chomsky phát triển. Nó nhằm mục đích mô tả những qui
luật và cấu trúc cơ bản cú pháp của một ngôn ngữ, tập trung vào cách những câu
được tạo ra từ một tập hợp những qui luật cơ bản. Trong khuôn khổ này, “phát
sinh”đề cập đến khả năng tạo ra vô số câu đúng ngữ pháp từ một tập hợp những
qui luật hạn chế, trong khi “chuyển đổi”đề cập đến tiến trình mà những cấu trúc câu khác nhau có thể được
suy ra từ những qui luật cơ bản này, chẳng hạn như chuyển đổi một câu tường thuật
thành một câu hỏi hoặc một dạng bị động. Lý thuyết này giúp giải thích tính
linh hoạt và sáng tạo trong cách sử dụng ngôn ngữ của con người. Về bản chất, ngữ pháp chuyển
đổi-phát sinh là một phương pháp trong generative grammar /ngữ pháp phát sinh nhằm giải thích cách những câu cụ thể được suy ra và nó hỗ trợ ý tưởng
về UG / ngữ
pháp phổ quát bằng cách chứng minh cách những ngôn ngữ khác nhau
có thể được giải thích qua những nguyên tắc cơ bản chung.
[4] Trong đoạn trên, Noam Chomsky giới thiệu và giải
thích những khái niệm “cấu trúc ngoài mặt”và “cấu trúc sâu”trong nội dung ngữ pháp chuyển đổi-phát sinh: Tôi tóm
tắt những điểm chính của ông: (a) Cấu trúc ngoài mặt: Đây là sự sắp xếp thực tế của những cụm từ và những loại cụm từ trong
một câu. Lấy thí dụ, trong câu “John is certain that Bill will leave /John chắc chắn rằng Bill sẽ đi”, cấu trúc ngoài mặt gồm những
cụm từ như “that Bill will leave”(rằng Bill sẽ đi), “Bill”(Bill), “John”(John),
“will leave”(sẽ đi), và “is certain that Bill will leave”(chắc chắn rằng Bill
sẽ đi). (b) Cấu
Trúc Sâu: Đây
là một biểu thị trừu tượng hơn của một câu, đóng vai trò trung tâm trong việc
xác định ý nghĩa của câu. Trong câu “John is certain to leave”(John chắc chắn
sẽ đi), cấu trúc sâu gồm mệnh đề “John will leave”(John sẽ đi), mệnh đề này
không xuất hiện rõ ràng trong cấu trúc ngoài mặt nhưng là cần thiết để hiểu ý
nghĩa. (c) Quan
Hệ Giữa Cấu trúc ngoài mặt và Cấu Trúc Sâu: Chomsky lập luận rằng trong khi
cấu trúc ngoài mặt và cấu trúc sâu có thể tương tự trong những câu đơn giản,
chúng có thể khác nhau đáng kể trong những câu phức tạp hơn. Ngữ pháp của một
ngôn ngữ gồm những quy luật (gọi là “biến đổi ngữ pháp”) liên kết cấu trúc sâu
với cấu trúc ngoài mặt. (d) Bằng Chứng cho Cấu Trúc Sâu: Chomsky cung cấp bằng chứng cho sự hiện hữu của cấu trúc sâu bằng cách
chỉ ra rằng một số hiện tượng ngôn ngữ, như việc hình thành những cụm danh từ,
phụ thuộc vào chúng. Lấy thí dụ, chúng ta có thể có “John's certainty that Bill
will leave”(sự chắc chắn của John rằng Bill sẽ đi) nhưng không thể có “John's
certainty to leave”(sự chắc chắn của John sẽ đi), vì cấu trúc ngoài mặt của câu
sau quá xa so với cấu trúc sâu của nó. (e) Cấu Trúc Sâu Là Cấu Trúc Tâm lý
Chomsky kết luận rằng cấu trúc sâu, cùng với những
quy luật liên kết chúng với cấu trúc ngoài mặt và biểu thị âm thanh và ý nghĩa,
là những cấu trúc tâm lý thực sự mà một người hấp thụ khi học một ngôn ngữ.
những cấu trúc và quy luật này tạo nên kiến thức của người đó về ngôn ngữ và
được dùng trong việc nói và hiểu. Chomsky lập luận cho một phân tích ngôn ngữ vượt ra ngoài những gì hiển
nhiên ngay lập tức (cấu trúc ngoài mặt) đến một mức độ sâu hơn, trừu tượng hơn
(cấu trúc sâu) giúp giải thích những tính chất khác nhau của ngôn ngữ và ý
nghĩa.
[5] Nominalizations: danh từ hóa: danh từ hoặc cụm danh từ được hình thành từ động
từ, tính từ hoặc mệnh đề,
[6] [Tôi thảo luận vấn
đề này chi tiết trong “Cấu trúc sâu và diễn giải ngữ nghĩa”, trong R. Jakobson
và S. Kawamoto, biên tập, Studies in General and Oriental Linguistics, tập kỷ niệm
của Hiro Hattori, commemorative volume for Shiro Hattori, TEC Corporation for
Language and Educational Research, Tokyo, 1970.]
[7] pronominalization – đại danh
từ hóa : tiến trình chuyển đổi ngôn ngữ, thay thế danh từ hoặc cụm danh từ bằng đại từ. Trong ngôn ngữ
học, đại danh từ hóa giúp minh họa cách ngôn ngữ quản lý viện dẫn và sự gắn kết
giữa những câu và trong
nói-viết, vì nó có thể thay đổi dựa trên những yếu tố như quy luật ngữ pháp, cấu
trúc câu và ngữ cảnh.
[8] [Những thí dụ sau
đây là của Ray Dougherty, Adrian Akmajian và Ray Jackendoff. Xem bài viết của
tôi trong Jakobson và Kawamoto, chủ biên, Studies in General and Oriental
Linguistics, để tham khảo.
[9] predication, modification
[10] phonetic representation.Trong ngôn ngữ học, biểu thị ngữ âm là sự phiên âm chi tiết
những âm thực tế (hoặc “âm vị”) của lời nói. Nó ghi lại cách những từ được phát
âm và cảm nhận một cách cụ thể. Phiên âm này bao gồm những chi tiết về cách
phát âm của từng âm trong một từ, chẳng hạn như vị trí của lưỡi, môi và những đặc
điểm khác của đường âm thanh. Thí dụ, trong tiếng Việt, từ “mèo”có biểu thị ngữ
âm phân tích những âm thực tế phát ra khi nói từ này như sau:
[m]: âm mũi hai môi, nơi hai môi chạm nhau để tạo ra âm “m.”
[ɛː]: âm nguyên âm trước, mở vừa, ký hiệu là “e”với phát âm dài (giống
âm “e”trong từ “bed”của tiếng Anh nhưng kéo dài hơn).
[w]: âm bán nguyên âm hay trượt, nơi môi tạo thành hình tròn để phát
ra âm trượt cuối cùng.
Vì vậy, biểu
thị ngữ âm của từ “mèo”trong bảng ký hiệu ngữ âm quốc tế (IPA) sẽ là [mɛːw].
Phiên âm này giúp nắm bắt chính xác những âm của từ “mèo”khi phát âm trong tiếng
Việt.
[11] Trong nội dung này, formal (structures and formal
operations): chính thức: đề cập đến những phương diện về cấu trúc, dựa trên quy luật và hệ thống của ngôn ngữ. Nó nhấn mạnh những đặc điểm khách quan có thể
được xác định, phân tích và hoạt động rõ ràng trong khuôn khổ khoa học hoặc toán học. Vì vậy, “cấu trúc chính thức”và “hoạt động chính thức”liên quan đến cú pháp, ngữ âm và
ngữ nghĩa, có thể được biểu thị bằng những mô hình, quy luật hoặc công thức cụ thể.