(Language
and Mind)
Noam
Chomsky
Chương 5
Bản chất cấu trúc và qui luật
của ngôn ngữ
Những thuộc tính tổng quát của
ngôn ngữ
Dù đã có nhiều thế hệ nghiên cứu học thuật
thành quả, những câu hỏi bài viết này nói đến có thể nhận được chỉ những trả
lời khá dọ dẫm, không chắc chắn. Chỉ một số ít ngôn ngữ được nghiên cứu và mô
tả chi tiết, với phân tích toàn diện về cấu trúc, ngữ pháp và cách dùng, và chỉ
có những phương diện đã chọn
lọc của ngôn ngữ đã từng được nghiên cứu với đủ thận trọng và thành công để đem
bằng chứng hỗ trợ cho những kết luận của một bản chất tổng quát. Tuy nhiên, với
một mức độ tự tin nào đó, vẫn là có thể nói đại cương về những thuộc tính và
những điều kiện nhất định vốn phân biệt những ngôn ngữ con người giữa những hệ
thống tùy tiện của vận dụng về dấu hiệu, truyền thông giao tiếp và tự biểu
hiện.
Năng lực và hiệu năng
Ở mức độ mô tả thô sơ nhất, chúng ta có thể
nói rằng một ngôn ngữ liên kết âm thanh và ý nghĩa trong một cách thức đặc thù.
Trên nguyên tắc, thành thạo một ngôn ngữ là có khả năng để hiểu những gì được
nói và để tạo ra một dấu hiệu với một diễn giải ngữ nghĩa có chủ định. Nhưng ngoài sự không rõ ràng, còn có một sự mơ hồ nghiêm trọng trong sự mô tả đặc điểm thô sơ này về khả năng thành thạo nắm vững ngôn
ngữ. Rõ ràng là những câu có ý
nghĩa nội tại được những quy luật ngôn ngữ xác định và một người với khả năng
thành thạo, làm chủ ngôn ngữ, trong một cách nào đó, đã nhập tâm hệ thống của
những quy luật vốn xác định, cả hình dạng ngữ âm của câu nói và nội dung ngữ
nghĩa nội tại của nó – rằng người này có đã phát triển những gì vốn chúng ta sẽ
nói đến như một năng lực ngôn ngữ cụ thể [1].
Tuy nhiên, cũng rõ ràng như thế, rằng việc thực sự dùng ngôn ngữ được quan sát
này – hiệu năng thực sự trong việc dùng ngôn ngữ cụ thể, [2]
– không chỉ đơn giản phản ảnh những kết nối âm thanh-ý nghĩa nội tại được hệ
thống những quy luật ngôn ngữ thiết lập. Hiệu năng cũng gồm nhiều yếu tố khác.
Chúng ta không giải thích những gì được nói khi có mặt chúng ta chỉ bằng việc
áp dụng những nguyên tắc ngôn ngữ xác định những thuộc tính ngữ âm và ngữ nghĩa
của một lời nói [3].
Những tin tưởng ngoài-ngôn ngữ liên quan với người nói và hoàn cảnh đóng một
vai trò nền tảng trong việc xác định lời nói được tạo ra, được xác định và được
hiểu như thế nào. Hơn nữa, hiệu năng ngôn ngữ còn được những nguyên tắc của cấu
trúc về nhận thức chi phối (thí dụ, bởi những giới hạn về ký ức) vốn nói cho
đúng, chúng không là những phương diện của ngôn ngữ.
Khi đó, để nghiên cứu một ngôn
ngữ, chúng ta phải cố gắng tách rời một mớ của những yếu tố vốn tác động qua
lại với năng lực nằm chìm bên dưới để xác định
năng lực thực sự; từ chuyên môn “năng lực” để chỉ khả năng của người nói-nghe lý tưởng để
liên kết âm thanh và ý nghĩa theo đúng những quy luật của ngôn ngữ của người
này. Ngữ pháp của một ngôn ngữ, như một mô hình cho năng lực được lý tưởng hóa,
[4]
thiết lập một liên hệ nhất định giữa âm thanh và ý nghĩa – giữa những biểu thị
ngữ âm và ngữ nghĩa. Chúng ta có thể nói rằng ngữ pháp của ngôn ngữ L phát
sinh (tạo ra) một tập hợp của những cặp (s, I), trong đó, s là
biểu thị ngữ âm của một tín hiệu nhất định, [5]
và I là diễn giải ngữ nghĩa được những quy luật của ngôn ngữ gán cho tín
hiệu này. Khám phá ngữ pháp này là mục đích chính yếu của việc nghiên cứu ngôn
ngữ của một ngôn ngữ cụ thể. [6]
Lý thuyết tổng quát của cấu
trúc ngôn ngữ thì quan tâm với việc khám phá những điều kiện vốn bất kỳ ngữ
pháp nào loại như vậy phải đáp ứng. Lý thuyết tổng quát này sẽ quan tâm với
những điều kiện thuộc ba loại: điều kiện về lớp của những biểu thị ngữ âm được
chấp nhận, lớp của những biểu thị ngữ nghĩa được chấp nhận và hệ thống của
những quy luật vốn phát sinh những biểu thị ngữ âm và ngữ nghĩa đã ghép thành
cặp. Trong cả ba phương diện,
những ngôn ngữ con người đều phải tuân theo những điều kiện giới hạn nghiêm
ngặt. Không có khó khăn gì trong việc xây dựng những hệ
thống không đáp ứng những điều kiện này và do đó là không đủ điều kiện là ngôn ngữ
tiềm năng của con người mặc dù thực tế là chúng liên kết âm thanh và ý nghĩa
theo một cách nhất định nào đó. Những ngôn
ngữ con người đều là những hệ thống thuộc một loại rất đặc thù. Không có sự cần
thiết tiên nghiệm nào cho một hệ thống liên hệ âm thanh và ý nghĩa để là thuộc
loại này. Khi bài viết này tiếp tục, chúng ta sẽ nhắc đến một số điều kiện giới
hạn cao xem có vẻ là những thuộc tính thiết yếu của ngôn ngữ con người.
Một ngữ pháp phát sinh một tập
hợp nhất định của những cặp (s, I), trong đó s là một biểu thị ngữ âm, và I là
diễn giải ngữ nghĩa liên kết của nó. Tương tự, chúng ta có thể nghĩ về một mô
hình hiệu năng như sự liên hệ âm thanh và ý nghĩa trong một cách cụ thể.
Thí dụ: một mô hình nhận thức, PM, có thể được mô tả, như trong hình 1,
như một hệ thống phân tích và lựa chọn vốn chấp nhận một tín hiệu làm input (cùng với nhiều những gì khác) và
gán những biểu thị ngữ pháp nhiều loại khác nhau như “output”. [7]
1
Một vấn đề trung tâm cho tâm
lý học là để khám phá những đặc điểm của một hệ thống PM thuộc loại này. Rõ
ràng, trong việc hiểu một tín hiệu, một người nghe sẽ đưa
ra thông tin về cấu trúc ngôn ngữ của người
này. Nói cách khác, mô hình PM hợp thành ngữ pháp G của một ngôn ngữ. Việc nghiên cứu
cách hiểu những câu – vấn đề tổng quát của nhận thức lời nói – rõ ràng phải nằm
trong những giới hạn hẹp, trừ khi nó dùng thuộc tính cơ bản này của một mô hình
nhận thức. Nhưng điều quan trọng là phải phân biệt rõ ràng giữa chức năng và
thuộc tính của mô hình nhận thức PM và mô hình năng lực G vốn nó kết hợp. Cả G
và PM đều liên quan với âm thanh và ý nghĩa; nhưng PM dùng nhiều thông tin nằm
ngoài liên hệ âm thanh-ý nghĩa nội tại được ngữ pháp G xác định, và nó hoạt
động dưới những ràng buộc về ký ức, thời gian và việc tổ chức những phương sách
nhận thức vốn không phải là những vấn đề của ngữ pháp. Tương ứng, mặc dù chúng
ta có thể mô tả ngữ pháp G như một hệ thống những tiến trình và quy luật áp
dụng theo một trật tự nhất định để liên hệ âm thanh và ý nghĩa, nhưng chúng ta
không có quyền coi đây như một mô tả của những hành động liên tiếp của một mô
hình hiệu năng như PM – trong thực tế, sẽ là hoàn toàn phi lý nếu làm như vậy.
Những gì chúng ta đã nói về những mô hình nhận thức cũng có thể áp dụng tương
tự cho những mô hình phát sinh. [8]
Những quy luật ngữ pháp tạo ra những biểu thị ngữ âm của những tín hiệu với
những diễn giải ngữ nghĩa của chúng không cấu thành một mô hình cho việc tạo ra
những câu, mặc dù bất kỳ mô hình nào như vậy đều phải kết hợp với hệ thống của những
quy luật ngữ pháp. Nếu những sự phân biệt đơn giản này bị bỏ qua, chắc chắn sẽ dẫn
đến sự nhầm lẫn lớn. [9]
Trong bài viết này, chú ý thì
tập trung trên năng lực và những ngữ pháp vốn biểu thị đặc điểm cho năng lực đó;
khi nói đến sự diễn giải ngữ nghĩa và ngữ âm của những câu, chúng ta hoàn toàn
chỉ nhắc đến những biểu thị lý tưởng được hệ thống nằm chìm bên dưới này xác
định. Hiệu năng đem cho dữ liệu cho sự nghiên cứu của năng lực ngôn ngữ . Năng
lực, theo nghĩa vừa mô tả, là một trong nhiều yếu tố tác động qua lại để xác
định hiệu năng. Trong tổng quát, chúng ta mong đợi rằng khi nghiên cứu về hành
vi của một sinh vật phức tạp, cần phải cô lập những hệ thống độc lập nằm chìm
bên dưới như hệ thống của năng lực ngôn ngữ, mỗi hệ thống với cấu trúc nội tại
của nó, để chú ý riêng biệt.
Những bước đầu hướng tới một
nghiên cứu về năng lực
Quay sang nghiên cứu về năng lực
nằm chìm bên dưới, trước tiên chúng ta hãy ghi nhận một số ít những thuộc tính rất
hiển nhiên của ngữ pháp của một ngôn ngữ con người. Trước hết, hoàn toàn rõ
ràng rằng tập hợp của những những cặp biểu thị ngữ âm và ngữ nghĩa do ngữ pháp phát
sinh sẽ là vô hạn. Không có ngôn ngữ con người nào, trong đó, trên thực tế hay
trên nguyên tắc, có thể chỉ định một câu nhất định là câu dài nhất có ý nghĩa
trong ngôn ngữ này. Ngữ pháp của bất kỳ ngôn ngữ nào đều chứa những hệ thống
phân tích và lựa chọn khiến nó có thể hình thành những câu có mức độ phức tạp
tùy tiện, với mỗi câu có cách diễn giải ngữ nghĩa nội tại của nó. Điều quan
trọng là phải nhận ra rằng đây không chỉ là sự tinh tế về lôgích. Việc dùng
ngôn ngữ thông thường, một cách thiết yếu, dựa vào tính không giới hạn này, vào
sự kiện là ngôn ngữ chứa đựng những hệ thống phân tích và lựa chọn cho việc tạo
ra những câu có mức độ phức tạp tùy ý. Việc lập lại của những câu là một hiếm;
hoi sự đổi mới, trong thuận hợp với ngữ pháp của ngôn ngữ, là quy luật trong hiệu
năng thông thường hàng ngày. Ý tưởng cho rằng một người có một “kho tàng ngôn
từ” – một kho những lời nói-viết vốn người này tạo ra theo “thói quen” vào một
dịp thích hợp – là một huyền thoại, hoàn toàn trái ngược với cách dùng ngôn ngữ
được quan sát. Cũng không thể gắn bất kỳ nội dung nào vào quan điểm cho rằng
người nói có một kho “mẫu” vốn người này chèn những từ hay hình vị vào đó.
Những quan niệm như vậy có thể áp dụng cho những lời chào hỏi, một vài câu nói
sáo rỗng, v.v., nhưng chúng hoàn toàn trình bày sai cách thông thường dùng ngôn ngữ, như người
đọc có thể dễ dàng thuyết phục chính mình bằng quan sát không tiên kiến[10].
Để khám phá ngữ pháp của một số
người dùng ngôn ngữ, chúng ta phải bắt đầu bằng việc thu thập thông tin liên
quan với sự giải thích những câu của người này, về cấu trúc ngữ nghĩa, ngữ pháp
và ngữ âm vốn người này gán cho chúng. Thí dụ, với việc học tiếng Anh, điều
quan trọng là phải khám phá những sự kiện như sau. Hãy xem xét những “khung câu”
2 và những từ “persuaded/thuyết phục”,
“expected /mong đợi” và “happened / đã xảy ra”:
[11]
2 a. John
– Bill that he should leave / John – Bill rằng ông ấy nên rời
đi
b. John – Bill to leave John – Bill
rời đi
c. John – to leave / John – rời đi
d. It is – that Bill will leave / Đó là – Bill sẽ rời đi
Từ “persuaded” có thể được
chèn vào a và b, nhưng không được chèn vào c hay d; “expected” có thể được chèn
vào b, c, d, nhưng không được chèn vào a; “happened” chỉ có thể được chèn vào
c. Chèn “persuaded” vào a, chúng ta sẽ có một câu mơ hồ, diễn giải của nó tùy thuộc
vào ám chỉ đến “he”; theo một cách diễn giải, câu này gần như là một cách diễn
đạt lại của b, với “persuaded” được chèn vào. Khi “expected” xuất hiện trong b
và c, quan hệ chủ ngữ-động từ giữ nguyên giữa “Bill” và “leave” trong b, nhưng
giữa “John” và “leave” trong c. Câu “John happened to leave” có nghĩa gần giống
như “It happened that John left”, nhưng “John expected to leave” thậm chí không
phải là cách diễn đạt lại từ xa của “It expected that John left”. Những sự kiện
như thế này có thể được phát biểu trong nhiều cách và chúng ta có thể dùng một
hay nhiều kỹ thuật để bảo đảm tính chính xác của chúng. Đây là những sự kiện về
năng lực của người nói tiếng Anh. Chúng có thể được dùng
như một cơ bản cho việc khám phá ngữ pháp nhập tâm (có sẵn bên trong) của người
đó.
Chúng ta hãy xem xét tình
trạng của những quan sát như vậy cẩn thận hơn một chút. Những quan sát này thực
sự ảnh hưởng trực tiếp đến output của một mô hình nhận thức như 1; chúng liên
quan đến những cấu trúc được người nghe gán cho những tín hiệu. Đặc điểm của
chúng ta về output của 1 là một cấu trúc dựa trên bằng chứng thuộc loại này.
Sau đó, bản thân mô hình nhận thức PM là một cấu trúc bậc hai. Trừu tượng hóa
thêm, chúng ta có thể nghiên cứu ngữ pháp tạo nên một thành phần cơ bản của 1
như một cấu trúc bậc ba. Do đó, bằng chứng được trích dẫn trong đoạn trước thực
sự chỉ có tác động gián tiếp đến ngữ pháp. Nói cách khác, chúng ta phải giả
định trước tính hợp lệ, có thể chấp nhận của mỗi trừu tượng hóa. Có vẻ như
không có nhiều câu hỏi về tính hợp lệ, có thể chấp nhận được của mỗi sự trừu tượng
hóa. trong những trường hợp như thế này, và có một khối lượng rất lớn của bằng
chứng thuộc loại đã trích dẫn. Một lần nữa, chúng ta lưu ý rằng lý tưởng hóa
theo kiểu vừa mô tả là không thể tránh khỏi nếu một cấu trúc sinh vật phức tạp
được nghiên cứu một cách nghiêm chỉnh. Tiến trình trừu tượng hóa này có thể
được thực hiện thêm một bước nữa. Hãy xem xét một mô hình thu thập AM vốn dùng
dữ liệu ngôn ngữ để khám phá ngữ pháp của ngôn ngữ vốn dữ liệu này có liên
quan.
3
Chính xác mô mô hình phân tích lựa chọn cấu
trúc ngữ pháp AM chọn một ngữ pháp như thế nào sẽ được xác định bởi cấu trúc
bên trong của nó, bởi những phương pháp phân tích có sẵn cho nó và bởi những
ràng buộc ban đầu vốn nó áp đặt lên bất kỳ ngữ pháp nào có thể có. Nếu chúng ta
được đem cho thông tin về việc ghép đôi của dữ liệu ngôn ngữ và những ngữ pháp,
chúng ta có thể cố gắng xác định bản chất của mô hình phân tích lựa chọn cấu
trúc ngữ pháp AM. Mặc dù đây không là những từ ngữ đã được dùng nhưng ngữ học
luôn quan tâm đến câu hỏi này. Thế nên, ngữ học cấu trúc thời nay đã cố gắng
phát triển những phương pháp của phân tích của một bản chất tổng quát, độc lập
với bất kỳ ngôn ngữ cụ thể nào, và một truyền thống lâu đời hơn và hiện nay
phần lớn đã bị lãng quên đã cố gắng để phát triển một hệ thống của những giới
hạn phổ quát vốn bất kỳ ngữ pháp nào cũng phải đáp ứng. Chúng ta có thể mô tả
cả hai cố gắng để này như bận tâm với cấu trúc bên trong của mô hình phân tích
lựa chọn AM, với khái niệm bẩm sinh của “ngôn ngữ con người” vốn làm cho sự
tiếp thu ngôn ngữ thành có thể được. [12]
Ngữ Pháp Phổ Quát
Bây giờ chúng ta hãy quay sang
việc nghiên cứu năng lực nằm chìm bên dưới và xem xét vấn đề tổng quát của một
cặp âm thanh-ý nghĩa có thể được thiết lập như thế nào. Như một mở đầu cho
nghiên cứu này của ngữ pháp phổ quát, chúng ta phải hỏi những âm thanh và những
ý nghĩa được biểu thị như thế nào. Vì chúng ta quan tâm đến những ngôn ngữ của
con người trong tổng quát, nên những hệ thống biểu thị như vậy phải độc lập với
bất kỳ ngôn ngữ cụ thể nào. Nói cách khác, chúng ta phải phát triển một ngữ âm
học phổ quát và một ngữ nghĩa học phổ quát để phân định tập hợp tương ứng của
những tín hiệu có thể có, và tập hợp những biểu thị ngữ nghĩa có thể có cho bất
kỳ ngôn ngữ nào của con người. Sau đó, có thể nói về một ngôn ngữ như một cặp
của những tín hiệu cụ thể với những diễn giải ngữ nghĩa và nghiên cứu những quy
luật thiết lập cặp ghép đôi này. Xem xét lại của chúng ta về những thuộc tính
tổng quát của ngôn ngữ do đó tự nhiên được chia thành ba phần: thảo luận về ngữ
âm học phổ quát, ngữ nghĩa học phổ quát và hệ thống bao quát của ngữ pháp phổ
quát: Hai đề tài đầu tiên gồm việc thể hiện dạng thức lý tưởng hóa và nội dung
ngữ nghĩa; lý thuyết của ngữ pháp phổ quát giải quyết với những hệ thống phân
tích và lựa chọn được dùng trong những ngôn ngữ tự nhiên để xác định dạng thức
của một câu và nội dung ngữ nghĩa của nó.
Sự quan trọng của việc phát
triển một ngữ nghĩa học phổ quát và ngữ âm học phổ quát, theo nghĩa của đoạn
văn ở trên, đã được nhìn nhận rõ ràng từ rất lâu trước khi ngữ học thời nay
phát triển. Thí dụ, Bishop Wilkins trong Essay Towards a Real Character and
a Philosophical Language (1668)/ Tiểu luận Hướng tới một Cá tính thực và
một ngôn ngữ triết học (1668) đã cố gắng phát triển một bảng chữ cái ngữ âm
phổ quát và một danh mục phổ quát của những khái niệm theo đó những tín hiệu và
diễn giải ngữ nghĩa cho bất kỳ ngôn ngữ nào đều có thể được biểu thị tương ứng.
Bảng chữ cái ngữ âm dựa trên một hệ thống những thuộc tính ngữ âm được phát
triển về phương diện điểm và cách thức phát âm. Mỗi ký hiệu ngữ âm có thể được
phân tích dưới dạng một tập hợp những thuộc tính đó; theo từ ngữ thời nay, nó
có thể được phân tích như một tập hợp gồm những đặc điểm cụ thể. Hơn nữa, người
ta ngầm giả định rằng tín hiệu vật lý được xác định, theo những nguyên tắc độc
lập với ngôn ngữ, từ sự biểu thị của nó dưới dạng những ký hiệu ngữ âm. Những
khái niệm được nêu lên như những đơn vị diễn giải ngữ nghĩa cũng có thể được
phân tích thành những thuộc tính cố định (những đặc điểm ngữ nghĩa) thuộc một
số loại, thí dụ, thực thể sống-không sống, hữu giác- -vô tri giác
(animate-inanimate), tuyệt đối-tương đối (relational-absolute), tác nhân-dụng
cụ (agent-instrument) v.v. Người ta ngầm giả định rằng cách giải thích ngữ
nghĩa của một câu được xác định bởi những nguyên tắc phổ quát, độc lập với ngôn
ngữ khỏi những khái niệm có trong cách phát âm và cách thức chúng liên quan về
phương diện ngữ pháp (thí dụ, như chủ ngữ-vị ngữ). [13]
Mặc dù có những thiếu xót trong việc thực hiện trong những nghiên cứu tiên
phong như nghiên cứu của Wilkins là hiển nhiên, nhưng phương pháp nghiên cứu
giải quyết tổng quát là hợp lý. Lý thuyết về ngữ âm học phổ quát đã được theo
đuổi một cách tích cực theo những hướng vừa nêu lên với những thành công đáng
kể; ngược lại, lý thuyết song song về ngữ nghĩa học phổ quát lại được nghiên
cứu rất ít.
Ngữ Pháp Phổ Quát: Ngữ Âm Học
Phổ Quát
Lý thuyết của ngữ âm học phổ
quát cố gắng thiết lập một bảng chữ cái ngữ âm phổ quát và một hệ thống của
những quy luật. Bảng chữ cái định nghĩa tập hợp của những tín hiệu có thể có, lấy
ra từ chúng những tín hiệu của một ngôn ngữ cụ thể. Nếu lý thuyết này chính
xác, mỗi tín hiệu của một ngôn ngữ có thể được biểu thị dưới dạng một chuỗi của
những ký hiệu của hệ thống chữ cái về ngữ âm. Giả định hai sự kiện vật lý được
biểu thị dưới dạng cùng một chuỗi. Khi đó, trong bất kỳ ngôn ngữ nào, chúng
phải là những lập lại của nhau. [14]
Mặt khác, hai sự kiện vật lý có thể được người nói ngôn ngữ này coi như sự lập
lại và người nói ngôn ngữ khác coi như không lập lại. Trong trường hợp này,
bảng chữ cái phổ quát phải đem cho phương tiện để phân biệt chúng. Việc biểu
thị theo bảng chữ cái phổ quát sẽ đem cho bất kỳ thông tin nào cần thiết để xác
định tín hiệu có thể được tạo ra như thế nào, đồng thời, nó sẽ tương ứng với một
mức độ tinh tế của sự biểu thị về nhận thức. Tuy nhiên, chúng ta nhấn mạnh một
lần nữa rằng hiệu năng thực sự liên quan với những yếu tố khác yếu tố khác,
ngoài sự biểu thị ngữ âm lý tưởng.
Những ký hiệu của bảng chữ cái
ngữ âm phổ quát không là “yếu tố cơ bản” của lý thuyết ngữ âm học phổ quát.
Đúng hơn, những yếu tố cơ bản này gồm những gì được gọi là những đặc điểm
phân biệt (ngữ âm), những thuộc tính như rung tiếng (nói với thanh
quản rung hay không), lưỡi đưa ra trước hay sau, nhấn tiếng (trọng âm), v.v. [15]
Mỗi đặc điểm này có thể được coi như một thang đo trong đó hai hay nhiều giá
trị có thể được phân biệt (cần phân biệt bao nhiêu giá trị là một câu hỏi mở,
nhưng con số này dường như khá nhỏ với mỗi đặc điểm). Một ký hiệu của bảng chữ
cái ngữ âm thì tương ứng được coi như một tập hợp những đặc điểm, mỗi đặc điểm
có một giá trị xác định. Khi đó, một tín hiệu được biểu thị dưới dạng một chuỗi
những tập hợp như vậy.
Ba thuộc tính hiển nhiên của
ngôn ngữ được phản ảnh trong một lý thuyết về ngữ âm thuộc loại này. Đầu tiên
là tính rời rạc của nó – sự kiện là chỉ một số hữu hạn xác định của những tín
hiệu với độ dài bất kỳ đem cho mới có thể là những không lập lại. Thuộc tính
thứ hai là tính không giới hạn của ngôn ngữ – sự kiện là một tín hiệu có thể có
độ dài tùy ý, do đó một ngôn ngữ sẽ chứa vô hạn những tín hiệu đã diễn giải ngữ
nghĩa. Ngoài những thuộc tính hình thức này, một lý thuyết ngữ âm thuộc loại
này phản ảnh sự kiện là hai đoạn của một tín hiệu, được biểu thị bằng hai ký
hiệu của bảng chữ cái phổ quát, có thể giống nhau trong một số phương diện nhất định và khác biệt trong
những phương diện khác; và thêm
nữa, có một số lượng cố định của những chiều hướng giống nhau và khác biệt như
vậy và một số lượng cố định những điểm có ý nghĩa có thể có dọc theo những chiều hướng này. Do đó, những đoạn khởi đầu của pin và bin
[16]
khác nhau nhìn về tiếng nói và hơi thở nhưng không (đáng kể) về điểm phát âm;
hai phụ âm của cocoa không khác nhau về điểm phát âm cũng như cách phát
âm nhưng chỉ khác nhau về hơi thở; vân vân.
Điều quan trọng cần lưu ý là những
đặc điểm phân biệt đưa lên trong lý thuyết ngữ âm phổ quát là tuyệt đối theo
một số ý hướng nhưng lại tương đối theo những ý hướng khác. Chúng là tuyệt đối trong
ý ý hướng là chúng cố định cho mọi ngôn ngữ. Nếu chúng ta muốn dùng những đặc
điểm này để xác định chính xác một âm thanh lời nói, cách chúng ta gán giá trị
của chúng phải nhất quán và phổ biến. Tuy nhiên, những đặc điểm này cũng có thể
là tương đối khi chúng ta nghĩ về cách những ngôn ngữ phân biệt giữa những âm
thanh khác nhau. Thí dụ, hãy xem xét một đặc điểm liên quan đến mức độ phát ra
âm thanh trong miệng (hãy tưởng tượng ba vị trí được dán nhãn là 1, 2 và 3).
Trong một ngôn ngữ (hãy gọi là L1), hai âm thanh khác nhau giữa vị trí 1 và 2
có thể được coi là hoàn toàn khác nhau (không lặp lại), trong khi những âm
thanh khác nhau giữa vị trí 2 và 3 có thể không được coi là riêng biệt. Trong
một ngôn ngữ khác (L2), điều ngược lại có thể đúng – vị trí 2 và 3 được coi là
khác nhau, nhưng 1 và 2 thì không. Theo cách này, mặc dù thang đo (1, 2, 3) là
tuyệt đối, cách mỗi ngôn ngữ diễn giải và dùng những vị trí này để phân biệt âm
thanh là tương đối. Mỗi ngôn ngữ sẽ dùng đặc điểm trước – sau để phân biệt những
không lặp lại, nhưng giá trị tuyệt đối 2 là “trước” trong ngôn ngữ này sẽ là “sau”
trong ngôn ngữ kia.
Ngoài hệ thống những đặc điểm
riêng biệt, một lý thuyết ngữ âm phổ quát cũng sẽ cố gắng xây dựng một số quy
luật chi phối những trình tự được phép và sự đa dạng được phép của lựa chọn
trong một ngôn ngữ cụ thể. Thí dụ, Jakobson đã quan sát thấy rằng không có ngôn
ngữ nào dùng cả đặc điểm môi hóa và đặc điểm vòm miệng hóa để phân biệt những từ
không lặp lại, và ông đã đề xuất một công thức tổng quát hơn theo đó hai đặc
điểm này có thể được coi là những biến thể của một đặc điểm trừu tượng hơn. Những
khái quát hóa theo kiểu này – đặc biệt là khi chúng có thể được hỗ trợ bởi lập
luận hợp lý – có thể được đề xuất như những quy luật ngữ âm phổ quát.Ngoài việc
xác định những đặc điểm này, một lý thuyết phổ quát về âm thanh lời nói cũng cố
gắng xác định những quy tắc hoặc mô hình chi phối cách những đặc điểm này có
thể được kết hợp trong một ngôn ngữ cụ thể. Thí dụ, nhà ngôn ngữ học Roman
Jakobson lưu ý rằng không có ngôn ngữ nào dùng hai đặc điểm tương tự nhau – một
đặc điểm liên quan đến việc làm tròn môi (labialization / môi hóa) và một đặc
điểm khác liên quan đến vị trí của âm thanh ở phía sau miệng (velarization /vòm
mềm hoá) – để phân biệt âm thanh. Ông cho rằng hai đặc điểm này thực sự có thể
là những biến thể của một đặc điểm cơ bản, tổng quát hơn. Những mô hình như thế
này, đặc biệt là khi chúng được hỗ trợ bởi những lập luận logic, có thể được
coi là những quy luật phổ quát về cách những âm thanh lời nói hoạt động trong
tất cả những ngôn ngữ.
Ngữ Pháp Phổ Quát: Ngữ Nghĩa
Học Phổ Quát
Mặc dù ngữ âm học phổ quát là
một môn học được phát triển khá nhiều, nhưng ngữ nghĩa học phổ quát lại không
thể nói như vậy. Ở đây cũng vậy, chúng ta có thể hy vọng thiết lập được một hệ
thống phổ quát gồm những đặc điểm và quy luật ngữ nghĩa liên quan với quan hệ
qua lại và sự đa dạng được phép của chúng. Trong thực tế, vấn đề xác định những
đặc điểm và quy luật như vậy một lần nữa trở thành đề tài được nghiên cứu
nghiêm chỉnh trong vài năm qua, [17]
và có một số hứa hẹn về sự phát triển hiệu quả. Có thể thấy ngay rằng việc phân
tích những khái niệm dưới dạng những đặc điểm như tính sống động, hành động,
v.v. (xem trang 107), sẽ khó có thể đầy đủ và một số đặc điểm nhất định vẫn
phải trừu tượng hơn. Thí dụ, trong tiếng Anh, cụm từ “a good knife / một con
dao tốt” có nghĩa là “một con dao sắc”. Do đó, khái niệm “con dao” phải được
xác định một phần dưới dạng những đặc điểm liên quan với những chức năng biểu
thị đặc điểm (không chỉ những thuộc tính vật lý) và dưới dạng “đặc điểm thẩm
định/lượng giá” trừu tượng [18]
được xác định bởi những từ bổ nghĩa như “tốt”, “tệ hại”, v.v. Chỉ bằng phân
tích như vậy, quan hệ ngữ nghĩa giữa “đây là một con sắc” và “con dao này cắt rất
sắc” mới có thể thiết lập được. Ngược lại, không có liên quan của “đây là một
con dao tốt để đào” với “con dao này cắt rất sắc” cho thấy rằng việc giải thích
ngữ nghĩa của một câu được xác định bởi những quan hệ ngữ pháp thuộc một loại vốn
không thể nào rõ ràng sáng sủa.[19]
Như trong trường hợp của ngữ
âm học phổ quát, chúng ta có thể hy vọng thiết lập được những nguyên tắc tổng
quát liên quan với những hệ thống khái niệm khả dĩ có thể được biểu thị bằng
ngôn ngữ của con người và những liên hệ nội tại có thể tồn tại giữa chúng. Với
việc khám phá ra những nguyên tắc như vậy, ngữ nghĩa học phổ quát sẽ trở thành
một môn học có thực chất.
Ngữ Pháp Phổ Quát: Cú Pháp Học
Phổ Quát
Giả định rằng đã sắp có. một
lý thuyết thỏa đáng của ngữ âm học phổ quát và ngữ nghĩa học phổ quát. Sau đó,
chúng ta có thể định nghĩa ngôn ngữ là một tập hợp những câu, trong đó một câu
là một loại đặc thù của từng cặp âm thanh-ý nghĩa, và tiếp tục nghiên cứu những
hệ thống quy luật xác định ngôn ngữ của con người. Nhưng trong thực tế, chỉ lý
thuyết của ngữ âm học phổ quát mới được thiết lập đủ vững chãi để hỗ trợ cho hoạt
động này. Do đó, chúng ta phải giải quyết việc nghiên cứu của cấu trúc ngôn ngữ
trong một cách thức gián tiếp hơn một chút.
Chú ý rằng mặc dù khái niệm “biểu
thị ngữ nghĩa” tự nó thì còn rất chưa rõ ràng, tuy nhiên, chúng ta có thể tìm
thấy vô số những điều kiện thực nghiệm khiến một giải thích của khái niệm này
phải đáp ứng. Thí dụ, hãy xem xét câu sau:
4 What disturbed John was being
disregarded by everyone. /
Những gì khiến John phiền hà là bị mọi người phớt
lờ.
Trước hết, rõ ràng là cách
diễn đạt này có hai diễn giải khác nhau. Trong một diễn giải, nó có nghĩa là
John đã cảm thấy phiền hà vì sự kiện là mọi người đã phớt lờ ông. Trong diễn giải
thứ hai, nó có nghĩa là mọi người đã phớt lờ những sự việc vốn làm John phiền
hà. Theo cách đầu tiên, có một quan hệ ngữ pháp nhất định giữa “phớt lờ” và “John”,
cụ thể là quan hệ tương tự giữa những đơn vị này trong “Everyone disregarded
John” (quan hệ “động từ-tân ngữ”). Theo cách thứ hai, cả điều này lẫn bất kỳ
quan hệ có ý nghĩa ngữ pháp nào khác đều không có giữa “sự phớt lờ” và “John”.
Mặt khác, nếu chúng ta chèn từ “our” vào giữa “was” và “being”, thì câu sẽ rõ
ràng và không có quan hệ ngữ pháp nào giữa “disregard” và “John”, mặc dù quan
hệ động từ-tân ngữ hiện nay nằm giữa “disregarded” và “we” (một yếu tố tiềm ẩn của
“our”). [20]
Những thí dụ về loại này có
thể được khai triển đến vô tận. Chúng đem cho những điều kiện của tính đầy đủ
vốn khái niệm “diễn giải ngữ nghĩa” phải đáp ứng (thí dụ, những quan hệ của
diễn giải và hàm ý và tính mơ hồ phải được phản ảnh chính xác), và chúng minh
họa rõ ràng một số cách trong đó những diễn giải ngữ nghĩa của những biểu thức
ngôn ngữ. phải được xác định từ những phần liên hệ về ngữ pháp của chúng.
Từ những cân nhắc như vậy,
chúng ta được dẫn dắt để xây dựng một mục tiêu trước mắt hạn chế hơn nhưng khá
quan trọng cho nghiên cứu cấu trúc ngôn ngữ.Vẫn coi ngôn ngữ là một tập hợp những
câu, chúng ta hãy coi mỗi “câu” trừu tượng là một cặp cụ thể của một biểu thị ngữ âm với một cấu trúc trừu
tượng thuộc loại nào đó (chúng ta hãy gọi nó là một cấu trúc sâu) vốn kết
hợp thông tin liên quan đến diễn giải ngữ nghĩa. Sau đó, chúng ta có thể nghiên
cứu hệ thống những quy luật xác định sự ghép đôi này, trong một ngôn ngữ cụ thể,
và những đặc điểm tổng quát của những quy luật như vậy. Dự án này sẽ là quan
trọng cho đến mức rằng những cấu trúc sâu bên dưới này thực sự đem cho một cách
để đáp ứng những điều kiện thực nghiệm về diễn giải ngữ nghĩa. Lý thuyết ngữ
nghĩa, khi nó tiến triển, khi đó sẽ đem cho những phương tiện để làm phong phú
thêm những cấu trúc sâu và việc liên kết những diễn giải ngữ nghĩa với chúng. Ý
nghĩa thực nghiệm của một lý thuyết đầy đủ về ngữ pháp, gồm một ngữ âm học, ngữ
nghĩa học và cú pháp phổ quát, sẽ tùy thuộc một phần vào mức độ vốn những điều
kiện diễn giải ngữ nghĩa có thể được thỏa mãn bằng dùng một cách hệ thống những
phương pháp kỹ thuật và những nguyên tắc vốn lý thuyết này đem cho.
Tóm tắt những nhận xét này,
chúng ta hãy thiết lập khung cấu trúc khái niệm sau đây để nghiên cứu cấu trúc
ngôn ngữ. Ngữ pháp của một ngôn ngữ là một hệ thống những quy luật xác
định một cặp nhất định của âm thanh và ý nghĩa. Nó gồm một thành phần cú
pháp, một thành phần ngữ nghĩa và một thành phần âm vị. Thành
phần cú pháp xác định một lớp (vô hạn) nhất định của những đối tượng trừu tượng
(D, S), trong đó D là cấu trúc sâu và S là cấu trúc ngoài
mặt. Cấu trúc sâu chứa tất cả thông tin liên quan với sự diễn giải ngữ nghĩa;
cấu trúc ngoài mặt, tất cả thông tin liên quan với sự diễn giải ngữ âm. Những
thành phần ngữ nghĩa và âm vị đều thuần túy là diễn giải. Thành phần trước gán những diễn
giải ngữ nghĩa cho những cấu trúc sâu; thành phần sau gán những diễn giải ngữ
âm cho những cấu trúc ngoài mặt. Do đó, ngữ pháp như một toàn bộ liên quan với
những diễn giải ngữ nghĩa và ngữ âm, sự liên kết này được trung gian bởi những
quy luật của thành phần cú pháp vốn xác định những cấu trúc ngoài mặt và sâu
được ghép cặp. Dĩ nhiên, việc nghiên cứu ba thành phần sẽ có tính tích hợp cao;
mỗi thành phần có thể được nghiên cứu ở mức độ mà nó rõ ràng về những điều kiện
nào những thành phần khác áp đặt lên nó.
Diễn giải này nên được nhìn như
một nỗ lực ban đầu, sơ bộ, chưa chính thức để mô tả chủ đề. Khi chúng ta phát
triển một lý thuyết chính xác của cấu trúc ngữ pháp – thí dụ, phiên bản cụ thể
của lý thuyết ngữ pháp chuyển đổi được phác vẽ dưới đây – chúng ta sẽ đem cho một
nghĩa chuyên môn cho những từ ngữ “cấu trúc sâu” và “cấu trúc ngoài mặt” và
theo những từ ngữ chuyên môn này. nghĩa, sau đó chúng ta có thể nêu lên câu hỏi
thực nghiệm (không phải khái niệm) về việc những cấu trúc sâu và ngoài mặt đóng
góp và xác định những diễn giải ngữ nghĩa và ngữ âm như thế nào. Theo nghĩa
chuyên môn được đưa ra cho những khái niệm về cấu trúc ngoài mặt và sâu trong
lý thuyết được nêu dưới đây, với tôi, dường như thông tin hiện tại đề nghị rằng
cấu trúc ngoài mặt hoàn toàn quyết định việc diễn giải ngữ âm và cấu trúc sâu
đó hoàn toàn quyết định một số phương
diện có ý nghĩa cao độ của việc diễn giải ngữ nghĩa. Nhưng sự lỏng lẻo
của từ ngữ sau khiến cho một phát biểu rõ ràng hơn không thể thực hiện được.
Trong thực tế, tôi nghĩ rằng việc giải thích duy lý từ ngữ “diễn giải ngữ nghĩa”
sẽ dẫn đến kết luận rằng cấu trúc ngoài mặt cũng đóng góp một cách giới hạn
nhưng quan trọng vào việc diễn giải ngữ nghĩa, nhưng tôi sẽ không nói thêm về
vấn đề này ở đây.
Giải thích này nên được nhìn như
một nỗ lực ban đầu, sơ bộ để mô tả chủ đề. Một khi chúng ta phát triển được một
hiểu biết chính xác hơn về ngữ pháp được cấu trúc thế nào – chẳng hạn như phiên
bản cụ thể của ngữ pháp được mô tả sau– chúng ta sẽ gán nghĩa chính xác cho
những thuật ngữ như cấu trúc sâu và cấu trúc ngoài mặt. Dùng những định nghĩa
chính xác này, sau đó chúng ta có thể đặt ra những câu hỏi thực tiễn (không chỉ
như những câu hỏi lý thuyết) về cách hai cấp độ cấu trúc này ảnh hưởng hoặc xác
định nghĩa của câu và cách chúng phát âm khi nói. Dựa trên cách những thuật ngữ
này được định nghĩa trong lý thuyết được nêu sau, bằng chứng hiện tại cho thấy
cấu trúc ngoài mặt hoàn toàn xác định cách phát âm của một câu, trong khi cấu
trúc sâu chịu trách nhiệm cho một số phương diện quan trọng của ý nghĩa của một
câu. Tuy nhiên, ý tưởng về “ý nghĩa” rất phức tạp và linh hoạt đến mức khó có
thể đưa ra một tuyên bố chắc chắn hơn. Trên thực tế, tôi nghĩ rằng một định
nghĩa tinh tế hơn về “ý nghĩa” sẽ cho thấy cấu trúc ngoài mặt cũng đóng một vai
trò nhỏ hơn nhưng vẫn quan trọng trong việc định hình ý nghĩa của một câu – nhưng
tôi sẽ không đi sâu vào chi tiết về điều đó ở đây.
Ngữ pháp phổ quát có thể được
định nghĩa như sự nghiên cứu của những điều kiện vốn những ngữ pháp của tất cả
những ngôn ngữ loài người phải đáp ứng. Ngữ nghĩa học phổ quát (cách ý nghĩa
được cấu trúc) và ngữ âm học phổ quát (cách âm thanh được cấu trúc), theo nghĩa
đã mô tả ở trước, khi đó sẽ là một phần của ngữ pháp phổ quát. Theo định nghĩa
như vậy, ngữ pháp phổ quát thì không gì khác hơn lý thuyết của cấu trúc ngôn
ngữ. Điều này có vẻ phù hợp với cách dùng truyền thống. Tuy nhiên, chỉ một số
phương diện nhất định của ngữ pháp phổ quát mới đã được nghiên cứu cho đến tận
gần đây. Đặc biệt, vấn đề của việc hình thành những điều kiện vốn những quy
luật cú pháp, ngữ âm và ngữ nghĩa phải đáp ứng đã không được nêu lên trong bất
kỳ đường lối rõ ràng nào trong ngữ học truyền thống, mặc dù những bước gợi ý và
không tầm thường hướng tới sự nghiên cứu của vấn đề này đều ngầm định trong
nhiều công trình truyền thống [21]
Một ngữ pháp thuộc loại đã mô
tả ở trước, vốn cố gắng đẻ mô tả đặc điểm trong một cách rõ ràng liên hệ nội
tại của hình thức ngữ âm và nội dung ngữ nghĩa trong một ngôn ngữ cụ thể, có
thể được gọi là một ngữ pháp phát sinh [22],
để phân biệt nó với những mô tả có mục đích khác (thí dụ: những ngữ pháp sư
phạm). Trong ý định, ít nhất, những ngữ pháp học thuật truyền thống đều là những
ngữ pháp phát sinh, mặc dù chúng còn xa mới đạt đến mục đích của việc xác định những
câu được hình thành hay được diễn giải như thế nào. Một ngữ pháp truyền thống
tốt đem cho một trưng bày đầy đủ của những ngoại lệ với những quy luật, nhưng
nó chỉ cung cấp những ám chỉ và những thí dụ để minh họa những cấu trúc thông
thường (trừ những trường hợp tầm thường – thí dụ, những mô hình biến tố [23]).
Đã được giả định ngầm rằng người đọc thông minh sẽ dùng “trực giác ngôn ngữ”
của người này – kiến thức tiềm ẩn, vô thức của người này về ngữ pháp phổ quát –
để xác định những cấu trúc thông thường từ những thí dụ và nhận xét đã được
trình bày. Bản thân ngữ pháp không diễn đạt những quy luật sâu xa của ngôn ngữ.
Do đó, cho mục đích của sự nghiên cứu của cấu trúc ngôn ngữ, cụ thể hay phổ
quát, những ngữ pháp như vậy có giá trị giới hạn. Cần phải mở rộng chúng thành
ngữ pháp phát sinh đầy đủ nếu sự nghiên cứu của cấu trúc ngôn ngữ muốn tiến tới
điểm mà nó giải quyết triệt để những quy luật và nguyên tắc tổng quát. Tuy
nhiên, điều quan trọng là phải nhận thức được sự kiện rằng bản thân khái niệm “ngữ
pháp phát sinh” thì không là một sáng kiến rất lớn. Sự kiện rằng mọi ngôn ngữ
đều “dùng vô hạn những phương tiện hữu hạn” (Wilhelm von Humboldt) đã được hiểu
từ lâu. Công trình hiện đại về ngữ pháp phát sinh chỉ đơn giản là một cố gắng
để dem cho một giải thích rõ ràng về cách những phương tiện hữu hạn này được
dùng vô hạn trong những ngôn ngữ cụ thể và khám phá những đặc tính sâu hơn định
nghĩa “ngôn ngữ của con người”, nói tổng quát (tức là những thuộc tính cấu
thành ngữ pháp phổ quát).
Cho đến giờ, chúng ta chỉ quan
tâm đến việc làm rõ những khái niệm và đặt những mục đích. Bây giờ chúng ta hãy
chuyển sang vấn đề của việc hình thành những giả thuyết của ngữ pháp phổ quát.
Cấu Trúc Của Thành Phần Âm Vị
Thành phần cú pháp của một ngữ
pháp phát sinh định nghĩa (phát sinh) một tập hợp vô hạn của những cặp (D,
S), trong đó D là một cấu trúc sâu và S là một cấu trúc ngoài
mặt; những thành phần diễn giải của ngữ pháp gán một biểu thị ngữ nghĩa cho D
và một biểu thị ngữ âm cho S.
Đầu tiên chúng ta hãy xem xét
vấn đề của việc gán những biểu thị ngữ âm cho những cấu trúc ngoài mặt. Như
trong thảo luận ở trước về ngữ âm học phổ quát, chúng ta lấy một biểu thị ngữ
âm để là một chuỗi của những ký hiệu của bảng chữ cái ngữ âm phổ quát, mỗi ký
hiệu được phân tích vào thành những đặc điểm cụ thể với những giá trị riêng
biệt. Phát biểu cùng một ý tưởng hơi khác một chút, chúng ta có thể nghĩ một biểu
thị ngữ âm như một ma trận trong đó những hàng tương ứng với những đặc điểm của
hệ thống phổ quát, những cột tương ứng với những phân đoạn liên tiếp (những ký
hiệu của bảng chữ cái ngữ âm) và mỗi đơn vị là một số nguyên xác định giá trị
của một phân đoạn cụ thể đối với đặc điểm đang xét. Sau đó, vấn đề của chúng ta
là xác định thông tin nào phải chứa trong cấu trúc ngoài mặt và cách những quy
luật của thành phần ngữ âm của ngữ pháp dùng thông tin này để chỉ định một ma
trận ngữ âm thuộc loại vừa mô tả.
Hãy xem xét lại thí dụ 4, mà
chúng ta lặp lại trong thí dụ 5 để dễ tham khảo:
5 What # disturb-ed # John # was #
be-ing # dis-regard-ed # by # every-one.
Những gì # làm phiền # John # đã bị # mọi người # phớt
lờ #.
Một cách đơn giản, như một xấp
xỉ tương đương đầu tiên, cho dễ hiểu, [24]
chúng ta có thể nghĩ câu 5 như một chuỗi của những từ hình thành “what”, “disturb”,
“ed”, “John”, “was”, “be”, “ing”, “dis”, “regard”, “ed, “by”, “every”, “one”, với những mối nối được biểu thị bằng ký hiệu #
và – ở những vị trí được chỉ ra trong 5. Những mối nối này xác định cách thức
kết hợp những từ hình thành; chúng đem cho thông tin được những quy luật diễn
giải của thành phần âm vị đòi hỏi. Trong thực tế, một điểm nối phải được phân
tích dưới dạng một tập hợp những đặc điểm, nghĩa là dưới dạng một ma trận một-cột-duy
nhất [25]
trong đó những hàng tương ứng với những đặc điểm nhất định của hệ thống mối nối
và mỗi mục là một trong hai giá trị vốn chúng ta có thể biểu thị như + hoặc –.
Tương tự như vậy, mỗi từ hình thành sẽ được phân tích như một ma trận trong đó những
cột đại diện cho những phân đoạn liên tiếp, những hàng tương ứng với những đặc
điểm phân loại nhất định và mỗi giá trị là + hoặc –. Do đó, toàn bộ câu 5
có thể được coi là một ma trận đơn với những giá trị + và –. [26]
Những đặc điểm phân loại gồm
những đặc điểm phổ quát của hệ thống ngữ âm, cùng với những đặc điểm dấu phụ
[27]
vốn trong bản chất chỉ ra những ngoại lệ với những quy luật. Do đó, ma trận
tương ứng với “what”, trong phương ngữ mà biểu diễn ngữ âm tương ứng là [wat],
sẽ chứa ba phân đoạn, phân đoạn đầu tiên được chỉ định như một âm lướt môi (một
âm thanh được tạo ra bằng môi), phân đoạn thứ hai như một nguyên âm thấp không
làm tròn, phân đoạn thứ ba như một phụ âm dừng răng vô thanh (một âm thanh được
tạo ra bằng cách chạm lưỡi vào răng). (những chi tiết chuyên môn này được đưa
ra hoàn toàn dưới dạng những giá trị + và – của những đặc điểm do hệ thống ngữ
âm phổ quát cung cấp). Những quy luật của thành phần ngữ âm, trong trường hợp
này, sẽ chuyển đổi những chi tiết kỹ thuật này dưới dạng những giá trị + và –
thành một chi tiết kỹ thuật hơn dưới dạng những số nguyên, trong đó giá trị của
mỗi phân đoạn liên quan đến những đặc điểm ngữ âm (thí dụ: độ cao lưỡi, mức độ
hít vào, v.v.) được chỉ ra ở bất kỳ mức độ chính xác nào theo yêu cầu của lý
thuyết giả định về ngữ âm phổ quát và với bất kỳ phạm vi biến thể nào được ngôn
ngữ cho phép. Trong ví dụ này, những giá trị đã gán sẽ làm cho việc phân chia
thành hai giá trị + và – chính xác hơn, theo khuôn khổ ma trận nằm chìm cho “what”
trong 5.
Tuy nhiên, thí dụ vừa dẫn thì đơn
giản khác thường. Trong tổng quát, những quy luật của thành phần âm vị sẽ không
chỉ đem cho một mô tả chi tiết rõ hơn về sự phân chia nằm chìm bên dưới vào thành
những giá trị + và – nhưng cũng sẽ thay đổi đáng kể những giá trị và có thể
chèn, xóa hay sắp xếp lại những phân đoạn. Thí dụ: từ hình thành “by” sẽ được
biểu thị bằng một ma trận nằm chìm gồm hai cột, cột thứ hai được chỉ định là
nguyên âm cao phía trước (chi tiết mô tả những đặc điểm ngôn ngữ được đem cho ra
dưới dạng những giá trị của những chức năng). Tuy nhiên, ma trận ngữ âm tương
ứng sẽ gồm ba cột, cột thứ hai được xác định như nguyên âm sau thấp và cột thứ
ba như một thanh trượt vòm miệng (những chi tiết mô tả ở đây như là những giá
trị của những giá trị toàn bộ trong một ma trận ngữ âm). [28]
Khi đó, cấu trúc ngoài mặt của
5 được biểu thị dưới dạng ma trận trong đó một trong hai giá trị xuất hiện
trong mỗi đơn vị. Việc chỉ có hai giá trị có thể xuất hiện cho thấy ma trận nằm
chìm này thực sự phục vụ chức năng phân loại thuần túy. Mỗi câu được phân loại
theo cách để phân biệt nó với tất cả những câu khác và theo cách để xác định
xem những quy luật của thành phần âm vị gán những giá trị ngữ âm vị trí riêng
biệt như thế nào. Do đó, chúng ta thấy rằng những đặc điểm cụ thể của hệ thống ngữ
âm học phổ quát có một chức năng phân loại trong ma trận nằm chìm cấu thành một
phần cấu trúc ngoài mặt, và chức năng ngữ âm trong ma trận cấu thành biểu thị
ngữ âm của câu đang được nhắc đến. Chỉ ở chức năng trước mới có những đặc điểm
phân biệt nhị phân thống nhất; chỉ ở phần sau chúng mới nhận được sự giải thích
vật lý trực tiếp.
Ma trận phân loại nằm chìm cơ
bản vừa mô tả không cung cấp hết tất cả thông tin cần thiết theo những quy luật
âm vị học diễn giải. Ngoài ra, cần phải biết câu được chia thành những cụm từ
có kích thước khác nhau như thế nào và chúng là những loại cụm từ nào. Thí dụ,
trong trường hợp câu 5, việc giải thích âm vị học đòi hỏi thông tin rằng rằng “disturb”
và “disregard” là động từ, rằng “what annoying John” là cụm danh từ, rằng “John
was being” không phải là cụm từ, v.v.. Thông tin liên quan có thể được chỉ ra
bằng cách đặt câu trong một ngoặc vuông có nhãn thích hợp. [29]
Đơn vị nằm trong cặp ngoặc vuông [A and] A sẽ được gọi như một cụm
từ thuộc phân loại A. Thí dụ, chuỗi “what # confused #
John” trong câu 5 sẽ được đặt trong ngoặc vuông [NP,] NP, cho biết rằng đó là một
cụm danh từ; từ hình thành “disturb” sẽ được đặt trong ngoặc vuông [V,] V, cho
biết rằng đó là một động từ; toàn bộ cụm từ 5 sẽ được đặt trong ngoặc vuông
[S,]S, cho biết rằng đó là một câu; chuỗi “John was being” sẽ không được đặt
trong ngoặc vuông, vì nó không phải là cụm từ nào cả. Để lấy một thí dụ cực kỳ
đơn giản, câu “John nhìn thấy Bill” có thể được biểu thị theo cách sau đây như
một cấu trúc ngoài mặt, trong đó mỗi giá trị được biểu thị theo kiểu chính tả
được xem như một ma trận phân loại:
6 [S [NP [N John] N] NP [VP [V saw] V [NP [N Bill] N] NP] VP] S
Biểu thị này
chỉ định rằng “John” và “Bill” là những danh từ (N’s) và “saw” là một động từ
(V); thêm nữa, “John” và “Bill” là những cụm danh từ (NP’s); rằng “saw Bill” là
một cụm động từ (VP); và rằng “John saw Bill” là một câu (S). Có vẻ như việc giải thích một
câu bằng thành phần âm vị của ngữ pháp luôn luôn đòi hỏi thông tin vốn có thể
được trình bày theo cách vừa mô tả. Do đó, chúng ta qui định rằng cấu trúc
ngoài mặt của một câu là một khung dấu ngoặc vuông được dán nhãn thích hợp của
một ma trận phân loại gồm những từ hình thành và những mối nối.
Thành phần âm vị của một ngữ
pháp chuyển đổi một cấu trúc ngoài mặt thành một biểu thị ngữ âm. Bây giờ chúng
ta đã đưa ra một đặc tả sơ bộ về những khái niệm “cấu trúc ngoài mặt” và “những
biểu thị ngữ âm”. Việc còn lại là mô tả những quy luật của thành phần âm vị và
cách thức chúng được tổ chức.
Bằng chứng hiện có đề nghị
rằng những quy luật của thành phần âm vị được sắp xếp tuyến tính theo trình tự
R1 , . . . Rn và chuỗi của những quy luật này áp dụng
theo kiểu tuần hoàn cho cấu trúc ngoài mặt theo cách sau. Trong chu kỳ áp dụng
đầu tiên, những quy luật R1 , . . . Rn áp dụng theo thứ
tự này cho phần liên tục tối đa của cấu trúc ngoài mặt không chứa dấu ngoặc
vuông bên trong. Sau khi áp dụng cuối cùng của những quy luật này, dấu ngoặc
vuông trong cùng sẽ bị xóa và chu kỳ áp dụng thứ hai được bắt đầu. Trong chu kỳ
này, những quy luật lại được áp dụng theo thứ tự đã cho cho phần liên tục tối
đa của cấu trúc ngoài mặt không chứa dấu ngoặc vuông bên trong. Dấu ngoặc vuông
trong cùng sau đó sẽ bị xóa và chu kỳ thứ ba được bắt đầu. Tiến trình tiếp tục
cho đến khi đạt đến miền tối đa của những tiến trình âm vị (trong trường hợp
đơn giản là toàn bộ câu). Một số quy luật nhất định bị giới hạn áp dụng ở mức
độ ranh giới từ – chúng chỉ áp dụng trong chu kỳ khi miền ứng dụng là một từ
đầy đủ. Những quy luật khác có thể tự do lập lại ở mọi giai đoạn của ứng dụng. Chú
ý rằng nguyên tắc của chu kỳ ứng dụng phù hợp chặt chẽ với sự hiểu biết trực
giác của chúng ta. Trong thực tế, nó tuyên bố rằng có một hệ thống cố định của
những quy luật vốn xác định hình dạng của những đơn vị lớn từ từ hình thành (lý
tưởng) của những phần cấu thành của chúng.
Chúng ta có thể minh họa
nguyên tắc của áp dụng chu kỳ với một số quy luật gán trọng âm trong tiếng Anh [30]. Có vẻ như một sự kiện là mặc dù những biểu thị
ngữ âm của tiếng Anh phải cho phép năm hay sáu giá trị khác nhau dọc theo đặc
điểm phân biệt của trọng âm, tuy nhiên, tất cả những phân đoạn đều có thể không
được đánh dấu nhìn về mặt gán trọng âm trong cấu trúc ngoài mặt – nghĩa là,
trọng âm không có chức năng phân loại (ngoại trừ rất ít) như một tính năng đặc
biệt của tiếng Anh [31].
Những mẫu thức “đánh trọng âm” phức tạp của biểu thị ngữ âm được xác định bởi
những quy luật như 7 và 8. [32]
7. Gán
trọng âm chính cho nguyên âm ngoài cùng bên trái trong hai nguyên âm chính được
nhấn mạnh, trong những danh từ.
8. Gán
trọng âm chính cho đỉnh trọng âm ngoài cùng bên phải, ở đó một nguyên âm V là là
một đỉnh trọng âm trong một miền nhất định nếu miền này không chứa nguyên âm
nào được nhấn mạnh hơn V.
Quy luật 7 áp dụng cho những danh
từ có hai trọng âm chính; quy luật 8 áp dụng cho bất kỳ một đơn vị thuộc loại nào
khác. Những quy luật áp dụng theo thứ tự 7, 8, theo chu kỳ được mô tả ở trên.
Theo quy ước, khi trọng âm chính được ấn định ở một vị trí nhất định thì tất cả
những trọng âm khác đều bị yếu đi bởi một (mức độ). Chú ý rằng nếu một miền
không chứa nguyên âm nhấn mạnh thì quy luật 8 sẽ gán trọng âm chính cho nguyên
âm ngoài cùng bên phải của nó.
Để minh họa những quy luật
này, trước tiên hãy xem xét cấu trúc ngoài mặt câu 6. Theo nguyên tắc tổng quát
của ứng dụng chu kỳ, quy luật 7 và 8 áp dụng trước tiên cho những đơn vị trong
cùng [N John]N, [V saw]V và [N Bill] N.
Quy luật 7 không áp dụng được;
quy luật 8 áp dụng, gán trọng âm chính cho nguyên âm đơn trong mỗi trường hợp.
Sau đó, những ngoặc đơn trong cùng sẽ bị xóa. Chu kỳ tiếp theo giải quyết những
đơn vị {1} = [NP John ] NP và {1} = [NP Bill ] NP và chỉ cần gán lại trọng âm
chính cho nguyên âm đơn, theo quy luật 8 Sau đó, những ngoặc đơn trong cùng sẽ
bị xóa và chúng ta có đơn vị { 1 1} = [VP Saw Bill] VP như phạm vi áp dụng của
những quy luật.
Quy luật 7 một lần nữa không
áp dụng được, vì đây không phải là danh từ; quy luật 8 gán trọng âm chính cho
nguyên âm “Bill”, làm yếu trọng âm ở “saw” thành thứ cấp. Những ngoặc trong
cùng bị xóa đi, và chúng ta có đơn vị {1 2 1 } = [NP John[s John saw Bill ]s
như phạm vi áp dụng.
Quy luật 7 một lần nữa không
áp dụng được, và quy luật 8 gán trọng âm chính cho “Bill”, làm yếu những trọng
âm khác và đem cho {2 1 3 } = “John saw Bill” vốn có thể được chấp nhận như một
biểu thị lý tưởng của sự phức tạp của việc gán trọng âm.
Bây giờ hãy xem xét thí dụ
phức tạp hơn một chút “John’s black-board eraser”. Trong lần áp dụng đầu tiên của chu kỳ, quy
luật 7 và 8 áp dụng cho những đơn vị trong ngoặc trong cùng “John,” “black,” “board,” “erase”; quy luật 7 không thể áp dụng được và quy luật 8 chỉ
định trọng âm chính trong từng trường hợp cho nguyên âm ngoài cùng bên phải
(nguyên âm duy nhất, trong ba nguyên âm đầu tiên). Chu kỳ tiếp theo liên quan
với những đơn vị “John’s” và “cục tẩy” và còn trống. [33]
Phạm vi áp dụng cho chu kỳ tiếp theo là {1 1} = [N black board ]N. Là một danh
từ, đơn vị này tuân theo quy luật 7, quy luật này gán trọng âm chính cho “black”,
làm yếu trọng âm trên “board” thành thứ cấp. Những dấu ngoặc trong cùng bị xóa
và phạm vi áp dụng cho chu kỳ tiếp theo là {1 2 1} = [N black board eraser ]N.
Một lần nữa, quy luật 7 được áp dụng, gán trọng âm chính cho “black” và làm yếu
tất cả những trọng âm khác đi một. Trong chu kỳ cuối cùng, phạm vi áp dụng {1 1
3 2} của những quy luật là [NP John’s black board eraser ]NP. Quy luật 7 không
áp dụng được vì đây là cụm danh từ đầy đủ. Quy luật 8 gán trọng âm chính cho
nguyên âm chính nhấn mạnh ở ngoài cùng bên phải, làm yếu tất cả những nguyên âm
khác và đưa ra {2 1 4 3} = “ John’s black board eraser .” Theo cách này, biểu
thị ngữ âm phức tạp được xác định bởi những quy luật rất đơn giản và có động cơ
độc lập, áp dụng theo nguyên tắc chung của chu kỳ.
Thí dụ này là biểu thị đặc
điểm và minh họa một số điểm quan trọng. Ngữ pháp tiếng Anh phải chứa quy luật
7 để giải thích sự kiện là mẫu thức hay sự thay đổi trong mức độ gán trọng âm đang
giảm trong trường hợp danh từ “blackboard” và phải chứa quy luật 8 để giải
thích cho sự tăng lên của mẫu thức hay sự thay đổi trong mức độ gán trọng âm
của cụm từ “black board” ( “board which is black”). Nguyên tắc củachu kỳ, một
cách nghiêm ngặt, không phải là phần của ngữ pháp tiếng Anh nhưng đúng hơn là
một nguyên tắc của ngữ pháp phổ quát vốn xác định việc áp dụng những quy luật
cụ thể của tiếng Anh hoặc bất kỳ ngôn ngữ nào khác, bất kể những quy luật này
có thể là gì. Trong trường hợp minh họa, nguyên tắc tổng quát của ứng dụng chu
kỳ chỉ định một mẫu thức hay sự thay đổi trong mức độ gán trọng âm, như đã chỉ
ra. Được trang bị nguyên tắc chu kỳ và hai quy luật 7 và 8, một người sẽ biết [34]
mẫu thức hay sự thay đổi trong mức độ gán trọng âm thích hợp cho “John’s
blackboard eraser” và vô số những cách diễn đạt khác mà họ có thể chưa từng
nghe trước đây. Đây là một thí dụ đơn giản về thuộc tính tổng quát của ngôn
ngữ; một số nguyên tắc phổ quát nhất định phải tương quan với những quy luật
cụ thể để xác định dạng thức (và ý nghĩa) của những biểu thức ngôn ngữ hoàn
toàn mới.
Thí dụ này cũng hỗ trợ cho một
giả thuyết có phần nào tế nhị khó thấy và sâu rộng hơn một chút. Không có nhiều
nghi ngờ rằng những hiện tượng như mẫu thức hay sự thay đổi trong mức độ gán
trọng âm trong tiếng Anh là một thực tại về nhận thức; thí dụ, những người quan
sát có chuyên môn sẽ đạt được một mức độ đồng ý cao trong việc ghi chép những nói-viết
mới trong ngôn ngữ mẹ đẻ của họ. Tuy nhiên, có rất ít lý do để cho rằng những
mẫu thức hay sự thay đổi trong mức độ gán trọng âm này đại diện cho một thực tại
vật lý. Rất có thể những mẫu thức hay sự thay đổi trong mức độ gán trọng âm
không được biểu diễn trong tín hiệu vật lý giống như bất kỳ chi tiết nào được
nhận thức. Không có nghịch lý nào trong điều này. Nếu chỉ có hai mức độ của trọng
âm được phân biệt trong tín hiệu vật lý, thì người đang học tiếng Anh sẽ có đủ
bằng chứng để xây dựng những quy luật 7 và 8 (thí dụ, với sự tương phản “blackboard”,
“black board”). Sau khi giả định rằng người này biết nguyên lý của chu kỳ,
người này sẽ có thể nhận thức được mẫu thức hay sự thay đổi trong mức độ gán
trọng âm của “John's blackboard eraser” ngay cả khi nếu nó không là thuộc tính
vật lý của tín hiệu. Bằng chứng hiện có mạnh mẽ cho thấy rằng đây là mô tả
chính xác của trọng âm được nhận thức trong tiếng Anh như thế nào.
Điều quan trọng là để thấy
rằng không có gì bí ẩn trong mô tả này. Trên nguyên tắc, sẽ không có vấn đề gì
khi thiết kế một máy tự động dùng những quy luật 7 và 8, những quy luật cú pháp
tiếng Anh và nguyên tắc của chu kỳ biến đổi để gán một mẫu thức hay sự thay đổi
trong mức độ gán trọng âm nhiều cấp ngay cả cho một cách phát âm trong đó trọng
âm không được biểu thị chút nào (thí dụ, một câu được đánh vần bằng chính tả
thông thường). Máy tự động sẽ dùng những quy luật cú pháp để xác định cấu trúc
ngoài mặt của cách phát âm, sau đó sẽ áp dụng những quy luật 7 và 8, theo
nguyên tắc của chu kỳ, để xác định mẫu thức hay sự thay đổi trong mức độ gán
trọng âm nhiều cấp. Lấy một máy tự động như vậy như một xấp xỉ gần đúng đầu
tiên cho mô hình cho sự nhận biết tiếng nói (xem 1, trang 103), chúng ta có thể
nêu lên rằng người nghe dùng những thuộc tính được chọn lọc nhất định của tín
hiệu vật lý để xác định câu nào của ngôn ngữ được tạo ra và gán cho nó là một
cấu trúc sâu và ngoài mặt. Với sự chú ý cẩn thận, sau đó người này sẽ có thể “nghe”
mẫu thức hay sự thay đổi trong mức độ gán trọng âm được ấn định bởi thành phần
âm vị trong ngữ pháp của người này, cho dù nó có tương ứng với bất kỳ thuộc
tính vật lý nào của tín hiệu được trình bày hay không. Một giải thích loại như
vậy về nhận thức lời nói giả định, nói một cách rộng rãi rằng việc giải thích
cú pháp của một lời nói-viết có thể là điều kiện tiên quyết để “nghe” cách biểu
thị ngữ âm của nó một cách chi tiết; nó bác bỏ giả định rằng nhận thức lời nói đòi
hỏi phân tích đầy đủ về dạng ngữ âm, sau đó là phân tích đầy đủ về cấu trúc cú
pháp, sau đó là giải thích ngữ nghĩa, cũng như giả định rằng dạng ngữ âm được
nhận biết là sự thể hiện chính xác từng điểm của tín hiệu. Nhưng cần phải nhớ
rằng không có gì cho thấy rằng một trong những giả định bị bác bỏ là đúng, cũng
như không có những gì bí ẩn trong quan điểm vừa nêu bác bỏ những giả định này.
Trong thực tế, quan điểm vừa nêu là rất hợp lý, vì nó có thể bác bỏ khẳng định
rằng một số thuộc tính vật lý hiện tại không thể tìm ra được của những lời
nói-viết được xác định với độ chính xác vượt xa mọi sự việc có thể chứng minh
được bằng thực nghiệm ngay cả trong những điều kiện lý tưởng, và nó có thể giải
thích cho nhận thức về nhấn mạnh về mẫu thức hay sự thay đổi trong mức độ gán
trọng âm của những lời nói-viết mới [35]
dựa trên giả định rất đơn giản rằng những quy luật 7 và 8 cũng như nguyên tắc
tổng quát của việc áp dụng theo chu kỳ đều có sẵn với hệ thống nhận thức.
Còn rất nhiều điều để nói về
giá trị tương đối của những loại mô hình nhận thức khác nhau. Thay vì theo đuổi
đề tài này, chúng ta hãy xem xét thêm giả thuyết cho rằng quy luật 7 và 8, cũng
như nguyên tắc áp dụng theo chu kỳ, có sẵn trong hệ thống nhận thức và được
dùng theo cách được nêu lên. Rõ ràng là quy luật 7 và 8 có thể được học từ
những thí dụ đơn giản về mẫu thức hay sự thay đổi trong mức độ gán trọng âm lên
và xuống (thí dụ: “bảng đen” tương phản với “bảng đen”). Nhưng sau đó câu hỏi
được đặt ra: làm thế nào một người học được nguyên tắc áp dụng theo chu kỳ?
Trước khi đối mặt với câu hỏi này, cần phải giải quyết một câu hỏi có trước nó
một cách hợp lý: tại sao lại cho rằng nguyên tắc này đã được học? Có nhiều bằng
chứng cho thấy nguyên tắc này đã được dùng, nhưng từ đó không có nghĩa là nó đã
được học. Trong thực tế, rất khó để hình dung ra nguyên lý như vậy có thể được
tất cả người nói học một cách đồng đều như thế nào, và cũng không rõ liệu có đủ
bằng chứng trong tín hiệu vật lý để chứng minh cho nguyên lý này hay không.. Do
đó, kết luận hợp lý nhất có vẻ là nguyên tắc này hoàn toàn không được học vốn
đúng hơn nó chỉ đơn giản là phần của thiết bị khái niệm vốn người học mang theo
khi thực hiện nhiệm vụ tiếp thu ngôn ngữ. Một biện luận tương tự có thể được
đưa ra với những nguyên tắc khác của ngữ pháp phổ quát.
Một lần nữa hãy chú ý rằng
không có gì đáng ngạc nhiên trong một kết luận như vậy. Trên nguyên tắc, sẽ
không có khó khăn gì trong việc thiết kế một máy tự động kết hợp những nguyên
tắc ngữ pháp phổ quát và đưa chúng vào dùng để xác định xem ngôn ngữ nào có thể
là ngôn ngữ vốn nó tiếp xúc. Một cách tiên nghiệm, không có lý do nào để cho
rằng bản thân những nguyên tắc này là do học được hơn là giả định rằng một
người học cách diễn giải những kích thích thị giác theo đường thẳng, góc, mẫu
thức hay sự thay đổi trong mức độ gán trọng âm, khoảng cách, hay, về vấn đề đó,
người này học cách có hai cánh tay. Đó hoàn toàn là một câu hỏi về sự kiện thực
nghiệm; hiện tại, không có thông tin nào thuộc loại ngoại ngữ tổng quát có thể
được dùng để hỗ trợ cho giả định rằng một nguyên tắc nào đó của ngữ pháp phổ
quát là có thể được học, hay nó là bẩm sinh, hay (theo cách nào đó) cả hai. Nếu
bằng chứng ngôn ngữ dường như đề nghị rằng một số nguyên tắc không được học hỏi,
thì không có lý do gì để thấy kết luận này là nghịch lý hay đáng ngạc nhiên.
Quay lại với việc xây dựng chi
tiết của những nguyên tắc của ngữ pháp phổ quát, có vẻ rằng thành phần ngữ âm
của một ngữ pháp gồm một chuỗi của những quy luật áp dụng một cách theo chu kỳ
(áp dụng nhiều lần theo thứ tự hoặc trình tự cụ thể, từng lớp một, ở mỗi mức độ
cấu trúc), như vừa mô tả, để gán một biểu diễn ngữ âm cho một cấu trúc ngoài mặt.
Biểu thị ngữ âm là một ma trận của những chi tiết kỹ thuật chỉ rõ những đặc
điểm ngữ âm của âm thanh, chẳng hạn như phát âm, cách phát âm và trọng âm. Mặt
khác, cấu trúc ngoài mặt là một biểu diễn trừu tượng sắp xếp những thành tố
hình thành (hình vị hoặc từ) bằng cách dùng dấu ngoặc và gắn nhãn chúng bằng những
đặc điểm phân biệt theo phân loại (ví dụ: [+Danh từ], [+Động từ]). Những bằng chứng hiện có ủng
hộ những giả định này và chúng giúp giải thích nhiều hiện tượng ngữ âm kỳ lạ mà
nếu không có chúng có vẻ khó hiểu. Biểu thị ngữ âm là một ma trận của những đặc
điểm kỹ thuật về đặc điểm ngữ âm và cấu trúc ngoài mặt là một dấu ngoặc vuông được
dán nhãn tương ứng của những từ hình thành, bản thân chúng được biểu diễn theo
cách đánh dấu những đặc điểm phân biệt theo phân loại. Những bằng chứng hiện có
hỗ trợ cho những giả định này; chúng cung cấp cơ sở để giải thích nhiều đặc
điểm kỳ lạ của sự kiện ngữ âm.
Điều quan trọng cần lưu ý là
không có sự cần thiết tiên nghiệm nào đối với thành phần ngữ âm của một ngữ
pháp để có chỉ đúng những thuộc tính này. Những giả định này về ngữ pháp phổ
quát giới hạn lớp ngôn ngữ có thể có của con người thành một tập hợp con rất
đặc biệt của tập hợp những “ngôn ngữ” có thể tưởng tượng được. Những bằng chứng
hiện có cho chúng ta thấy rằng những giả định này liên quan với mô hình thu
nhận ngôn ngữ AM của hình 3, (trang 106 - ở trước), nghĩa là chúng tạo thành
một phần của sơ đồ mà trẻ em mang đến cho vấn đề học ngôn ngữ. Việc sơ đồ này
phải khá phức tạp và rất giới hạn có vẻ rất hiển nhiên. Nếu không, việc tiếp
thu ngôn ngữ, trong giới hạn thời gian, khả năng thực tập giải quyết và tính
biến đổi đã biết theo kinh nghiệm, sẽ là một bí ẩn, sẽ là một bí ẩn không thể vượt
qua. . Những cân nhắc thuộc loại được đề cập trong phần thảo luận trước có liên
quan trực tiếp đến vấn đề xác định bản chất của những cơ chế bẩm sinh này và do
đó, đáng được nghiên cứu và chú ý cực kỳ cẩn thận.
Cấu trúc của thành phần ngữ
nghĩa
Bây giờ chúng ta hãy xem xét
thành phần diễn giải thứ hai của ngữ pháp phát sinh, hệ thống những quy luật
chuyển đổi một cấu trúc sâu thành một biểu thị ngữ nghĩa thể hiện ý nghĩa nội
tại của câu đang được nhắc đến. Mặc dù nhiều phương diện của việc diễn giải ngữ nghĩa vẫn còn khá mơ hồ,
nhưng vẫn hoàn toàn có thể tiến hành nghiên cứu trực tiếp lý thuyết về những
cấu trúc sâu và cách diễn giải chúng, cũng như một số thuộc tính nhất định của
thành phần ngữ nghĩa có vẻ khá rõ ràng. Đặc biệt, như chúng ta đã ghi nhận
trước đó, nhiều điều kiện thực nghiệm về diễn giải ngữ nghĩa có thể được hình
thành một cách rõ ràng. Thí dụ, chúng ta biết câu 4 trên, trang 110, phải được gán ít nhất hai cách biểu thị ngữ nghĩa
và một trong số đó về cơ bản phải giống với cách diễn giải được gán cho cả 9 và
10.
9 Being
disregarded by everyone disturbed John.
10 The fact that everyone disregarded John disturbed him [36]
Hơn nữa, rõ ràng là cách biểu
thị ngữ nghĩa của một câu tùy thuộc vào cách biểu thị những phần của nó, như
trong trường hợp song song của diễn giải ngữ âm. Thí dụ, trong trường hợp của
10, rõ ràng là việc giải thích ngữ nghĩa một phần tùy thuộc vào cách giải thích
ngữ nghĩa của “Everyone disregarded John”; nếu câu sau được thay thế ở câu 10 bằng “Life seemed to pass John by”, thì cách
diễn giải toàn bộ sẽ bị thay đổi theo một cách cố định. Điều này rất rõ ràng và
nó đề nghị rằng một nguyên tắc giống như nguyên tắc ứng dụng chu kỳ trong âm vị
học nên được áp dụng trong thành phần ngữ nghĩa.
Một cái nhìn cẩn thận hơn một
chút về vấn đề này sẽ cho thấy rằng việc giải thích ngữ nghĩa phải trừu tượng
hơn đáng kể so với việc giải thích âm vị học với khái niệm “bộ phận cấu thành”.
Do đó, cách giải thích “Everyone disregarded John” không chỉ làm cơ bản cho 10
nhưng còn cả 9 và 4, và theo cùng cách tương tự. Nhưng cả 4 và 9 đều không chứa
“everyone disregarded John” như một phần cấu thành, cũng như 10. Nói cách
khác, những cấu trúc sâu bên dưới số 9 và 10 đều phải giống hệt (hay rất giống)
với một trong hai cấu trúc sâu bên dưới số 4, mặc dù có sự khác biệt lớn về cấu
trúc ngoài mặt và dạng thức ngữ âm. Do đó, trong tổng quát, chúng ta không thể
mong đợi cấu trúc sâu sẽ rất gần với cấu trúc ngoài mặt.
Trong trường hợp của một câu
như 6 ( “John saw Bill”), có rất ít sự khác biệt giữa cấu trúc sâu và cấu trúc
ngoài mặt. Diễn giải ngữ nghĩa sẽ không xa mục tiêu, trong trường hợp này, nếu
nó khá song song với diễn giải ngữ âm. Do đó, diễn giải của “saw Bill” có thể
được suy ra từ diễn giải của “saw”22 và của “Bill”, và diễn giải của 6 có thể
được xác định từ diễn giải của “John” và của “saw Bill”. Để thực hiện diễn giải
như vậy, chúng ta phải biết không chỉ cách đóng ngoặc của 6 thành những thành
phần, mà còn phải biết những quan hệ ngữ pháp được biểu thị; nghĩa là, chúng ta
phải biết rằng “Bill” là tân ngữ trực tiếp của “saw” và quan hệ chủ ngữ-vị ngữ
giữ nguyên giữa “John” và “saw Bill” trong “John saw Bill”. Tương tự như vậy,
trong trường hợp phức tạp hơn một chút là “John saw Bill leave”, chúng ta phải
biết rằng quan hệ chủ ngữ-vị ngữ giữ nguyên giữa “John” và “saw Bill leave” và
giữa “Bill” và “leave”.
Ghi nhận rằng ít nhất trong
những trường hợp đơn giản như 6, chúng ta đã có sẵn một hệ thống phân tích và
lựa chọn biểu thị những quan hệ ngữ pháp thuộc loại cần thiết cho việc diễn
giải ngữ nghĩa. Giả định rằng chúng ta định nghĩa quan hệ chủ ngữ của là quan
hệ giữa một cụm danh từ và một câu vốn nó là thành phần trực tiếp [37]
và quan hệ vị ngữ-of là quan hệ giữa một cụm động từ và một câu vốn nó là thành
phần trực tiếp. Khi đó, quan hệ chủ ngữ-vị ngữ có thể được định nghĩa là quan
hệ giữa chủ ngữ của câu và vị ngữ của câu này. Do đó, trong những từ ngữ này, “John”
là chủ ngữ và “saw Bill (leave)” là vị ngữ của “John đã thấy Bill (leave)” và
quan hệ chủ ngữ-vị ngữ được duy trì giữa cả hai. Theo cách tương tự, chúng ta
có thể định nghĩa quan hệ tân ngữ trực tiếp (theo thành phần trực tiếp của động
từ và cụm danh từ trong cụm động từ) và những đối tượng khác một cách hoàn toàn
phù hợp và thỏa đáng. Nhưng bây giờ quay trở lại 6, nhận xét này ngụ ý rằng dấu
ngoặc vuông có nhãn phân loại ngữ pháp sẽ đóng vai trò là cấu trúc sâu (giống
như dấu ngoặc vuông có nhãn phân loại ngữ pháp sẽ đóng vai trò là cấu trúc
ngoài mặt); nó chỉ chứa thông tin về khu vực bầu cử và về những quan hệ ngữ
pháp cần thiết cho việc giải thích ngữ nghĩa.
Chúng ta ghi nhận rằng trong “John saw Bill leave”, quan hệ
chủ ngữ-vị ngữ được duy trì giữa “Bill” và “leave”, cũng như giữa “John” và “saw
Bill left”. Nếu 6 hoặc một cái gì đó rất giống nó – ví dụ, hãy xem chú thích 22
– được coi là cấu trúc sâu, với những quan hệ ngữ pháp được định nghĩa như
trước đó, thì cấu trúc sâu của “John saw Bill leave” sẽ phải giống như 11
(nhiều chi tiết bị lược bỏ):
11 [ S [NP John ] NP [VP [V saw ] V [S [NP Bill] NP [VP [V leave ] V ] VP ] S ] VP ] S
Dấu ngoặc vuông có nhãn phân
loại ngữ pháp 11 thể hiện quan hệ chủ ngữ-vị ngữ giữa “John” và “saw Bill left”
và giữa “Bill” và “leave”, theo yêu cầu. Chuyển sang một thí dụ phức tạp hơn
một chút, mỗi câu 9 và 10 (cũng như 4 theo một cách diễn giải) sẽ phải chứa một
số thứ như 12 trong cấu trúc sâu:
12 [S [NP eveyone ] NP [VP [ V disregard ] V [NP John ] NP ] VP ] S
Nếu yêu cầu này được đáp ứng,
thì chúng ta sẽ có thể giải thích sự kiện là, rõ ràng, ý nghĩa của số 4 (= “what disturbed John was being disregarded by everyone”) theo cách giải thích của số 9 (= “being disregarded by everyone disturbed John”) được xác định một phần bởi sự kiện là quan hệ
tân ngữ trực tiếp giữa “disregard” và “John” cũng như quan hệ chủ ngữ-vị ngữ
giữa “mọi người” và “disregards John”, mặc dù sự kiện là những quan hệ này
không hề tồn tại. cách được chỉ ra trong cấu trúc ngoài mặt ở phần 4 hay 9.
Từ nhiều những thí dụ như vậy,
chúng ta đi đến khái niệm sau đây về cách thức hoạt động của thành phần ngữ
nghĩa. Thành phần diễn giải này của ngữ pháp phát sinh đầy đủ áp dụng cho một
cấu trúc sâu và gán cho nó một biểu thị ngữ nghĩa, được hình thành theo những
khái niệm vẫn còn khá mơ hồ về ngữ nghĩa phổ quát. cấu trúc sâu là một khung
được gắn nhãn của những phần tử “mang ý nghĩa” tối thiểu. Những quy luật diễn
giải áp dụng theo chu kỳ, xác định cách diễn giải ngữ nghĩa của cụm từ X của
cấu trúc sâu từ cách diễn giải ngữ nghĩa của những thành phần trực tiếp của X
và quan hệ ngữ pháp được biểu thị trong cấu hình này của X và những bộ phận của
nó.
Ít nhất, về phương diện bề
ngoài, hai thành phần diễn giải của ngữ pháp khá giống nhau về cách chúng hoạt
động và chúng áp dụng cho những đối tượng có cùng loại về cơ bản (dấu ngoặc
vuông có nhãn phân loại ngữ pháp). Nhưng cấu trúc sâu của một câu, trong những
trường hợp không tầm thường, sẽ hoàn toàn khác với cấu trúc ngoài mặt của nó.
Lưu ý rằng rằng nếu những khái niệm “cụm danh từ”, “cụm
động từ”, “câu”, “động từ” có thể nhận được thuộc tính độc lập với ngôn ngữ
trong ngữ pháp phổ quát, thì những quan hệ ngữ pháp được xác định ở trên (tương
tự, những quan hệ khác vốn chúng ta có thể định nghĩa theo cùng một cách) cũng
sẽ nhận được một thuộc tính phổ quát. Có vẻ
như điều này có thể xảy ra, và một số phương pháp nghiên cứu giải quyết tổng
quát nhất định với việc mô tả đặc điểm như vậy có vẻ rõ ràng (xem trang 139).
Sau đó, chúng ta có thể đặt ra câu hỏi liệu thành phần ngữ nghĩa của một ngữ
pháp có chứa những quy luật cụ thể như quy luật 7 và 8 của thành phần âm vị của
tiếng Anh hay không, hay nói cách khác, liệu những nguyên tắc diễn giải ngữ
nghĩa về cơ bản có thuộc về ngữ pháp phổ quát hay không. Tuy nhiên, chúng ta sẽ
gác những câu hỏi này và những câu hỏi khác liên quan với thành phần ngữ nghĩa
sang một bên, và chuyển sang thảo luận tiếp theo về thành phần không diễn giải
của ngữ pháp – vốn chúng ta gọi là “thành phần cú pháp” của nó. Ghi nhận rằng
như trong trường hợp thành phần âm vị, trong chừng mức những nguyên tắc giải
thích có thể được gán cho ngữ pháp phổ quát nhưng không riêng biệt, có rất ít
lý do để cho rằng chúng có thể học được hay trên nguyên tắc chúng có thể học
được.
(Aug/2024)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1] a specific linguistic competence
[2] performance: hiệu năng: việc thực sự dùng ngôn ngữ trong những hoàn cảnh
tình thực tại, trong khi competence = năng lực nói về sự hiểu biết lý thuyết và khả năng biểu
đạt tâm lý về những quy luật và cấu trúc ngôn ngữ vốn một người nói lý tưởng có
được cho chính mình.
[3] an utterance = một
lời nói có thể bao gồm bất kỳ điều gì được viết cũng như được nói. Trong
ngôn ngữ học, “lời nói” ám chỉ bất kỳ phân đoạn ngôn ngữ nào, dù được nói hay
viết, được tạo ra bởi một hành động truyền thông giao tiếp duy nhất. Đây có thể
là một từ, cụm từ, câu hoặc thậm chí là một đoạn văn bản dài hơn.
[4] [Từ ngữ “ngữ
pháp”thường được dùng một cách mơ hồ để chỉ cả hệ thống quy luật đã được hấp
thụ vô thức và mô tả của nhà ngôn ngữ học về nó.]
[5] [Nói chính
xác hơn, một loại tín hiệu nhất định là sự lập lại lẫn nhau, theo nghĩa mà
chúng ta sẽ quay trở lại sau đó.]
[6] Định nghĩa của Chomsky: nhấn mạnh rằng ngữ pháp của
một ngôn ngữ đại diện cho một dạng lý tưởng của kiến thức ngôn ngữ, gồm
những quy luật và cấu trúc kết nối âm thanh (biểu thị ngữ âm) với ý nghĩa (biểu
thị ngữ nghĩa). Mô hình năng lực lý tưởng này tập trung vào sự hiểu biết hoàn
hảo, lý thuyết về một ngôn ngữ, bỏ qua những yếu tố thực tế như những lỗi hoặc những ảnh hưởng bên ngoài. Về cơ bản,
nó mô tả cách âm thanh và ý nghĩa được ghép nối một cách có hệ thống theo những
quy luật bên trong của ngôn ngữ.
[7] performance model: mô hình hiệu năng: Cách
ngôn ngữ được tạo ra và hiểu trong hành động. liên quan đến cách một người tạo ra và diễn giải
câu trong những hoàn cảnh thực, liên hệ âm thanh và ý nghĩa trong tiến trình
dùng ngôn ngữ thực tế. perceptual model mô hình nhận thức: Cách những tín hiệu đưa vào ngôn
ngữ được tiếp nhận và tiến
hành giải quyết. tập trung cụ thể vào cách chúng ta nhận thức ngôn ngữ – cách chúng ta tiếp
nhận và giải quyết input của ngôn ngữ, như âm thanh, và cách chúng ta gán những
cấu trúc ngữ pháp và ý nghĩa cho input đó. Nó mô tả những hệ thống phân tích và
lựa chọn vốn chúng ta nhận ra và diễn giải âm thanh hoặc tín hiệu của ngôn ngữ.
[8] Production models: mô hình phát sinh: Những hệ thống nhận thức áp dụng những qui luật đó trong thực hành để tạo ra lời nói hoặc văn bản. Mô
hình phát sinh nói về những hệ thống hoặc khuôn khổ giải thích cách mọi người
tạo ra ngôn ngữ, tức là cách họ xây dựng và diễn đạt những câu trong giao tiếp
thời gian thực tại.
Những mô hình này mô tả những tiến trình nhận thức liên quan đến việc tạo ra
lời nói, gồm lựa chọn từ, xây dựng những câu ngữ pháp và chuyển đổi chúng thành
âm thanh lời nói. Không
giống như những mô hình nhận thức, tập trung vào cách chúng ta nhận thức và
hiểu input ngôn ngữ, những Mô hình phát sinh tiến hành giải quyết phía output –
cách một người chuyển đổi suy nghĩ và ý nghĩa thành ngôn ngữ nói hoặc viết. Tóm lược – ba mô hình ở trên:
1. Mô hình nhận thức:
Những mô hình này tập trung vào cách ngôn ngữ được người nghe nhận thức và
hiểu. Chúng giải thích những hệ thống phân tích và lựa chọn để diễn giải input nói
hoặc viết.
2. Mô hình hiệu năng:
Những mô hình này tập trung vào kiến thức nội tại về ngữ pháp của ngôn ngữ,
gồm những qui luật và cấu trúc. Chúng mô tả hệ thống trừu tượng chi phối những quan
hệ âm thanh-ý nghĩa.
3. Mô hình phát sinh:
Những mô hình này nhấn mạnh cách ngôn ngữ được tạo ra theo thời gian thực, cho
dù thông qua nói hay viết. Chúng giải thích những tiến trình liên quan đến việc xây dựng và diễn đạt câu
bằng ngữ pháp cơ bản.
Tóm lại, những mô hình nhận thức liên quan đến việc
hiểu ngôn ngữ, những mô hình hiệu năng giải quyết kiến thức về ngữ pháp và
những Mô hình phát sinh tập trung vào việc tạo ra ngôn ngữ.
[9] “Ngữ pháp G”đề cập đến tập hợp những quy luật và
tiến trình nội tại mà một người vô thức tuân theo để hiểu và tạo ra ngôn ngữ.
Nó xác định cách âm thanh (biểu thị ngữ âm) được kết nối với ý nghĩa (diễn giải
ngữ nghĩa) và chi phối cấu trúc của ngôn ngữ. Trong nội dung này, G đại diện
cho hệ thống ngữ pháp trừu tượng tổ chức cách âm thanh và ý nghĩa liên quan,
độc lập với những yếu tố bên ngoài như trí nhớ hoặc hạn chế về thời gian. Nói một cách đơn giản hơn, ngữ
pháp G là khuôn khổ nền tảng xác định cách những câu được cấu trúc và diễn giải
trong một ngôn ngữ cụ thể. Ngữ pháp G trong nội dung này dành riêng cho một ngôn ngữ cụ thể, nhưng
nó liên quan đến Ngữ pháp phổ quát (UG) trong lý thuyết của Chomsky. Ngữ pháp phổ quát (UG) đề cập đến
tập hợp những nguyên tắc và cấu trúc cơ bản vốn có ở tất cả con người, tạo
thành nền tảng để học bất kỳ ngôn ngữ nào. UG là khuôn khổ lý thuyết chi phối
những đặc tính phổ quát của tất cả những ngôn ngữ, trong khi Ngữ pháp G là tập
hợp những quy luật cụ thể cho một ngôn ngữ cụ thể mà một cá nhân đã tiếp thu,
dựa trên UG.
Đoạn trên đi sâu vào những khía cạnh cơ bản của lý thuyết ngữ pháp phát sinh của
Noam Chomsky. Ngữ pháp phát sinh của Chomsky tập trung vào khái niệm rằng khả
năng tạo ra và hiểu ngôn ngữ của chúng ta dựa trên một tập hợp những quy luật
và nguyên tắc cơ bản—được gọi là ngữ pháp G—điều chỉnh cách thức liên kết giữa
âm thanh và ý nghĩa. Trong khuôn khổ của Chomsky, năng lực đề cập đến kiến thức lý thuyết,
lý tưởng về những quy luật ngữ pháp này mà người nói có. Điều này trái ngược
với hiệu năng, tức là cách kiến thức này thực sự được dùng trong những tình cảnh thực tế, chịu ảnh hưởng của những
yếu tố như trí nhớ, sự chú ý và ngữ cảnh.
Đoạn trên nêu bật sự khác biệt giữa mô hình năng lực (G) và mô hình hiệu năng (PM). Mô hình năng lực liên quan
đến những quy luật và cấu trúc trừu tượng của ngôn ngữ, trong khi mô hình hiệu
năng tính
đến những ràng buộc trong thế giới thực và thông tin bổ sung tác động đến cách
ngôn ngữ thực sự được dùng và hiểu. Sự
khác biệt này là nền tảng của ngữ pháp phát sinh của Chomsky, vì nó tách biệt
những quy luật lý tưởng của ngôn ngữ khỏi việc sử dụng thực tế những quy luật
đó trong thông tin giao
tiếp hàng ngày.
[10] [Hay bằng một
số tính toán đơn giản về số lượng câu và “mẫu”có thể cần thiết, để đảm bảo tính
thỏa đáng về phương diện thực nghiệm, trong những tiết mục như vậy. Để biết một
số nhận xét liên quan, xem G. A. Miller, E. Galanter, và K. H. Pribram, Plans
and the Structure of Behavior (New York: Holt, Rinehart và Winston, 1960),
trang 145 f.; G. A. Miller và N. Chomsky, “Mô hình tài chính của người dùng
ngôn ngữ”, trong R. D. Luce, R. Bush, và E. Galanter, eds., Handbook of Mathematical Psychology/ Sổ tay tâm
lý học toán học (New York: Wiley, 1963), Tập. II, tr. 430.]
[11] sentence frames: “khung câu” là mẫu câu hoặc khuôn mẫu có chỗ trống để chèn từ hoặc cụm từ
vào nhằm phân tích ngữ pháp và ý nghĩa.
[12] [Rõ ràng, sự
hiện hữu của cấu trúc tâm lý bẩm sinh không phải là một vấn đề tranh luận.
Những gì chúng ta có thể đặt câu hỏi là – nó đúng là gì và nó đặc biệt với ngôn
ngữ ở mức độ nào.]
[13] [Giả định này
không được nêu rõ ràng ở Wilkins nhưng được phát triển trong những tác phẩm
khác ở thế kỷ XVII và XVIII. Xem Cartesian
Linguistics/ Ngôn ngữ học Descartes của tôi (New York: Harper
& Row, 1966) để tham khảo và thảo luận. ]
[14] [Trong một ý
hướng thích hợp của sự lập lại. Do đó, bất kỳ hai tín hiệu vật lý nào cũng khác
biệt trong một cách nào đó, nhưng một số khác biệt không liên quan trong một
ngôn ngữ cụ thể và những khác biệt khác không liên quan trong bất kỳ ngôn ngữ
nào. ]
[15] [Một lý
thuyết về những đặc điểm khác biệt về ngữ âm được phát triển trong R. Jakobson,
G. Fant và M. Halle, Preliminaries to Speech
Analysis / Sơ bộ về phân tích tiếng nói, bản in thứ 2
(Cambridge, Mass.: MIT. Press, 1963). Chúng tôi nghĩ rằng một phiên bản sửa đổi
và cải tiến xuất hiện trong N. Chomsky và M. Halle, Mô hình âm thanh của tiếng
Anh (New York: Harper & Row, 1968). ]
[16] [Hãy nhận
xét rằng mặc dù thứ tự của những phân đoạn ngữ âm là một thực tế quan trọng,
nhưng không có lý do gì để cho rằng sự kiện vật lý được biểu thị bằng một chuỗi
ký hiệu ngữ âm cụ thể có thể được phân tích thành những phần kế tiếp nhau, mỗi
phần gắn liền với một ký hiệu cụ thể.]
pin và bin là thí dụ về cặp tối thiểu trong ngữ âm. Một cặp tối thiểu
là một cặp từ chỉ khác nhau ở một đặc điểm riêng biệt và sự khác biệt này làm
thay đổi nghĩa của những từ. Trong trường hợp này:
Sự khác biệt giữa pin và bin nằm ở cách phát âm:
(a) Âm đầu trong pin ([p]) là vô thanh (được tạo ra mà không làm rung dây thanh
quản). (b) Âm đầu trong bin ([b]) là hữu thanh (được tạo ra bằng cách rung dây
thanh quản). Điều này khiến pin và bin trở thành thí dụ về một cặp
tối thiểu minh họa cho chiều hướng ngữ âm của cách phát âm.
[17] [Xem J. Katz,
The Philosophy of Language /Triết học ngôn ngữ (New York: Harper &
Row, 1965), để ôn lại một số tác phẩm gần đây. Để có một góc nhìn khác, xem U.
Weinreich, “Khám phá lý thuyết ngữ nghĩa”, trong TA Sebeok, chủ biên, Current Trends in Linguistics, / Những khuynh
hướng hiện tại trong ngôn ngữ học, Tập. III của Linguistic
Theory/ Lý thuyết ngôn ngữ học (The Hague: Mouton,
1966); và để có những nhận xét về vấn đề này cũng như sự phát triển sâu rộng
hơn của đề tài, xem J. Katz, Semantic Theory (New York: Harper &
Row, Nhà xuất bản, 1972). Ngoài ra, gần đây đã có khá nhiều nghiên cứu về ngữ
nghĩa mô tả, một số trong đó mang tính gợi ý với những vấn đề được thảo luận ở
đây.. 11 Xem Chomsky, Descartes Linguistics, để thảo luận.
[18] [Để thảo luận
về khái niệm này, xem J. Katz, “Lý thuyết ngữ nghĩa và ý nghĩa của ‘Tốt’”, Journal of Philosophy/ Tạp chí Triết học, Tập. 61, số
23, 1964]
[19] “this is a good knife for digging with”, “this is a good knife” , “this
knife cuts well”
[20] What disturbed John was our
being disregarded by everyone
[21] [Xem Chomsky,
Descartes Linguistics, cho thảo luận]
[22] [Xem tr.
91. Trong tổng quát, có thể nói rằng một tập hợp của những quy luật vốn định
nghĩa bằng lập lại cùng quy luật với những kết quả trước cho một tập hợp vô hạn
những đối tượng có thể được cho là tạo ra tập hợp này này. Do đó, có thể nói
rằng một tập hợp những tiên đề và quy luật suy luận về số học sẽ tạo ra một tập
hợp những chứng minh và một tập hợp những định lý về số học (những dòng cuối
cùng của những chứng minh). Tương tự, một ngữ pháp (phát sinh) có thể được cho
là tạo ra một tập hợp những mô tả cấu trúc, lý tưởng nhất là mỗi mô tả đó kết hợp
một cấu trúc sâu, một cấu trúc ngoài mặt, một diễn giải ngữ nghĩa (của cấu trúc
sâu) và một diễn giải ngữ âm (của cấu trúc ngoài mặt).]
[23] inflectional paradigms: những từ thay đổi hình thức của chúng để thể hiện
những đặc điểm ngữ pháp khác nhau, như thì, trạng thái, thể, ngôi, số, giới
tính,...
[24] [Phân tích
được trình bày ở đây nhằm mục đích trình bày sẽ phải được làm cho tốt hơn để
bảo đảm tính thỏa đáng về phương diện thực nghiệm.]
[25] single-column matrix
[26] [Ghi nhận
rằng mỗi hai công thức liên tiếp được phân tách bằng một điểm nối, điều này là
cần thiết nếu việc biểu thị số 5 dưới dạng một ma trận duy nhất nhằm bảo toàn
cấu trúc công thức. Với mục đích hiện tại, chúng ta có thể coi mỗi phân đoạn
của một dạng thức là không được đánh dấu cho tất cả những đặc điểm liên kết và
mỗi điểm nối là không được đánh dấu cho mỗi đặc điểm hình thành.]
[27] diacritic
[28] [Lý do cho
phân tích này vượt ra ngoài phạm vi của thảo luận này. Để biết thêm chi tiết,
xem Chomsky và Halle, Sound Pattern of English.
[29] Theo nghĩa hiển nhiên. Vì vậy
[A. . . [B. . .] B . . . [C . . .] C . . .] thí dụ: a sẽ là dấu ngoặc vuông
thích hợp của chuỗi . . . xét về những dấu ngoặc vuông có nhãn chỉ định phạm
trù ngữ pháp [a ,] a , [b ,] b , [c ,] c , nhưng cả hai điều sau đây đều không
phải là dấu ngoặc vuông thích hợp:
[ A . . . [B. . .] A ; [A. . . [B. . .] A . . .] B]
[30] stress assignment : luật “đánh dấu nhấn” – trọng âm: Sự nhấn mạnh được đặt vào một âm
tiết cụ thể trong một từ (ví dụ, trong “record”, trọng âm nằm ở âm tiết đầu
tiên ở dạng danh từ: RE-cord, nhưng ở âm tiết thứ hai ở dạng động từ: re-CORD).
[31] Trong khi những biểu thị ngữ âm (dạng nói thực tế) của tiếng Anh
yêu cầu năm hoặc sáu cấp độ hoặc mức độ nhấn khác nhau (ví dụ: nhấn chính, nhấn
phụ, âm tiết không nhấn, v.v.), thì cấu trúc ngoài mặt (dạng cơ bản trước khi
áp dụng những quy luật ngữ âm) không đánh dấu rõ ràng trọng âm trên những âm tiết. Nói đơn giản
hơn: Biểu thị ngữ âm có sự phân biệt rõ ràng về trọng âm mà chúng ta nghe thấy
trong ngôn ngữ nói. Tuy nhiên, trong cấu trúc ngoài mặt (một biểu thị trừu tượng
hơn của một câu hoặc từ), trọng âm không được đánh dấu hoặc chỉ định một cách cố
hữu. Những mẫu trọng âm được xác định sau đó bởi những quy luật ngữ âm trong
quá trình chuyển đổi cấu trúc ngoài mặt thành biểu thị ngữ âm. Ví dụ: Trong từ “banana”,
chúng ta nghe thấy trọng âm ở âm tiết thứ hai (ba-NA-na). Trọng âm này là một
phần của biểu thị ngữ âm, nhưng trong cấu trúc ngoài mặt, trọng âm có thể không
được chỉ ra – nó “không được đánh dấu”
và những quy luật chỉ định trọng âm sẽ xác định dáu nhấn nằm ở đâu.
[32] [Những điều
này được đơn giản hóa nhằm mục đích giải thích. Xem Chomsky và Halle, Sound
Pattern of English, cho một giải thích chính xác hơn. Chú ý rằng trong phần
trình bày này, Chúng ta đang dùng từ ngữ “áp dụng”một cách mơ hồ, theo nghĩa “có
sẵn để áp dụng”và cũng theo nghĩa “thực sự sửa đổi trình tự đang được xem xét”.]
[34] [Như trước đây,
chúng ta đề cập đến “kiến thức ngầm” hoặc “kiến thức tiềm ẩn”, có lẽ có thể được
đưa vào ý thức với sự chú ý thích đáng nhưng chắc chắn không được trình bày với
“trực giác không hướng dẫn”.]
[35] [Và những phương diện khác. Trong thực tế, biện
luận này tổng quát hơn nhiều. Cần phải nhớ rằng khả năng nhận biết lời nói
thường bị suy giảm ở mức tối thiểu, hay hoàn toàn không bị suy giảm, ngay cả do
tín hiệu bị biến dạng đáng kể, một sự kiện khó có thể dung hòa với quan điểm
cho rằng phân tích ngữ âm một cách chi tiết là điều kiện tiên quyết để phân
tích cấu trúc cú pháp và ngữ nghĩa.]
[36] [Số sau lại
mơ hồ theo một cách hoàn toàn khác với số 4, tùy thuộc vào việc ám chỉ “người
này”. Trong suốt tiến trình, Chúng ta sẽ cho rằng nó nhắc đến John.]
[37] [Cụm từ X là
thành phần trực tiếp của cụm từ Y chứa X nếu không có cụm từ Z nào chứa X và
được chứa trong Y. Như vậy, cụm danh từ “John”là thành phần trực tiếp của câu “John
saw Bill”[ được phân tích như trong 6], nhưng cụm danh từ “Bill”thì không, được
chứa trong cụm từ xen vào “saw Bill”. “John đã thấy”không phải là thành phần
trực tiếp của câu, vì nó không phải là một cụm từ; “John”không phải là thành
phần trực tiếp của “John saw”, vì từ sau không phải là một cụm từ. Ghi nhận
rằng những định nghĩa được nêu lên ở đây cho những chức năng và quan hệ ngữ
pháp chỉ có ý nghĩa khi bị giới hạn ở những cấu trúc sâu trong tổng quát.]