(Language and Mind)
Noam Chomsky
Chương 3
Những đóng góp của ngữ học cho việc nghiên cứu não thức: tương lai
Trong thảo luận về quá khứ,
tôi đã nhắc đến hai truyền thống chính vốn đã làm giàu cho nghiên cứu ngôn ngữ
trong những đường lối riêng biệt và rất khác biệt của chúng; và trong bài giảng
cuối của tôi, tôi đã cố gắng đem cho một số chỉ dẫn về những đề tài xem dường
ngày nay đã thấy ở chân trời, khi một dạng tổng hợp giữa ngữ pháp triết học và
ngôn ngữ học cấu trúc bắt đầu hình thành. Mỗi truyền thống nghiên cứu và giả
thuyết chính vốn tôi dùng như một điểm viện dẫn đã liên kết với một phương pháp
nghiên cứu giải quyết biểu thị đặc điểm nhất định với những vấn đề của não thức;
chúng ta có thể nói một cách công bằng rằng mỗi truyền thống phát triển như một
nhánh chuyên biệt của tâm lý học thời bấy giờ, đóng góp những hiểu biết và lý
thuyết riêng biệt của nó vào sự hiểu biết rộng hơn về nhận thức của con người.
Có vẻ hơi nghịch lý để nói về
ngôn ngữ học cấu trúc theo cách này, xét đến thuyết phản-tâm lý hiếu chiến [1]
của nó. Nhưng nghịch lý sẽ giảm bớt khi chúng ta ghi nhận đến sự kiện là thuyết phản-tâm lý hiếu chiến này
không kém phần đúng với phần lớn tâm lý học đương thời, đặc biệt là với những
ngành vốn cho đến vài năm trước vẫn độc quyền nghiên cứu việc dùng và tiếp thu
ngôn ngữ. Suy cho cùng, chúng ta đang sống trong thời đại “khoa học hành vi”,
không phải “khoa học về não thức”. Tôi không muốn nghiên cứu quá nhiều về sự
đổi mới từ ngữ, nhưng tôi nghĩ rằng có một số ý nghĩa trong sự dễ dàng và sẵn
sàng vốn suy nghĩ thời nay về con người và xã hội chấp nhận danh hiệu “khoa học
hành vi”. [2]
Không một người tỉnh táo nào từng nghi ngờ rằng hành vi đem cho nhiều bằng
chứng cho nghiên cứu này – tất cả bằng chứng, nếu chúng ta giải thích “hành vi”
theo một nghĩa đủ lỏng lẻo. Nhưng từ ngữ “khoa học hành vi” đề nghị một sự thay
đổi không mấy tế nhị trong việc nhấn mạnh trên bản thân bằng chứng và tránh
xạnhững nguyên tắc cơ bản sâu xa hơn và những cấu trúc tâm lý trừu tượng có thể
được làm sáng tỏ bằng bằng chứng về hành vi. Cứ như thể khoa học tự nhiên được
mệnh danh là “khoa học của việc đọc thước đo”. Trong thực tế, chúng ta mong đợi
những gì ở khoa học tự nhiên trong một nền văn hóa đã hài lòng chấp nhận sự chỉ
định này cho những hoạt động của nó?
Khoa học hành vi đã quan tâm
nhiều đến dữ liệu và tổ chức dữ liệu, ngay cả nó còn được coi như một loại kỹ
thuật kiểm soát hành vi. Thuyết
phản-tâm lý trong ngữ học và trong triết học ngôn ngữ phù hợp với sự chuyển
hướng định hướng này. Như tôi đã nhắc đến trong bài giảng đầu tiên của mình,
tôi nghĩ rằng một đóng góp gián tiếp chính của ngôn ngữ học cấu trúc thời nay
là kết quả của sự thành công của nó trong việc đưa ra những giả định rõ ràng về
một phương pháp nghiên cứu giải quyết chống thuyết tâm lý, vận hành triệt để và theo thuyết hành vi với những hiện tượng ngôn ngữ. Bằng mở rộng
phương pháp nghiên cứu giải quyết này đến những giới hạn tự nhiên của nó, nó đã
đặt nền móng cho một sự chứng minh khá thuyết phục về sự thiếu sót của bất kỳ
phương pháp nghiên cứu giải quyết nào như vậy với những vấn đề của não thức.
Tổng quát hơn, tôi nghĩ rằng ý
nghĩa quan trọng lâu dài của nghiên cứu ngôn ngữ nằm Trong thực tế rằng trong
nghiên cứu này có thể đưa ra một kế hoạch phát triển tương đối sắc bén và rõ
ràng về một số câu hỏi trọng tâm của tâm lý học và đưa ra một khối lượng lớn
bằng chứng có liên qan với chúng. Hơn nữa, việc nghiên cứu ngôn ngữ, vào thời
điểm hiện tại, là độc nhất trong sự kết hợp nó giữa sự phong phú của dữ liệu và
dễ dàng phát triển kế hoạch chi tiết của những vấn đề cơ bản.
Dĩ nhiên, sẽ là ngớ ngẩn nếu
cố gắng tiên đoán tương lai của sự nghiên cứu, và người ta sẽ hiểu rằng tôi
không có ý định xem xét tựa đề phụ của bài giảng này một cách nghiêm chỉnh. Tuy
nhiên, thật công bằng khi cho rằng đóng góp chính của việc nghiên cứu ngôn ngữ
sẽ nằm ở sự hiểu biết vốn nó có thể mang lại về đặc điểm của những tiến trình
tâm lý cũng như những cấu trúc vốn chúng hình thành và vận dụng. Vì vậy, thay
vì giả thuyết về tiến trình nghiên cứu có thể xảy ra với những vấn đề đang được
chú trọng ngày nay, [3]
ở đây tôi sẽ tập trung vào một số vấn đề nảy sinh khi chúng ta cố gắng phát
triển nghiên cứu cấu trúc ngôn ngữ như một chương của tâm lý con người.
Hoàn toàn tự nhiên khi kỳ vọng
rằng quan tâm về ngôn ngữ sẽ
vẫn là trọng tâm trong nghiên cứu về bản chất con người, như trước đây. Bất cứ
ai quan tâm đến việc nghiên cứu bản chất con người và khả năng của con người bằng
cách nào đó phải hiểu được thực tế là tất cả con người bình thường đều có được
ngôn ngữ, trong khi việc tiếp nhận được ngay cả những điều cơ bản nhất của nó
là hoàn toàn vượt quá khả năng của một loài vượn thông minh khác – một thực tế
đã được nhấn mạnh, hoàn toàn chính xác, theo triết học Descartes. [4]
Nhiều người cho rằng những nghiên cứu thời nay sâu rộng về giao tiếp của loài
vật thách thức quan điểm cổ điển này; và hầu như mọi người đều nhìn nhận rằng
tồn tại vấn đề giải thích “sự tiến hóa” của ngôn ngữ con người từ hệ thống giao
tiếp của loài vật. Tuy nhiên, với tôi, việc xem xét cẩn thận những nghiên cứu
gần đây về thông tin giao tiếp của loài vật dường như không đem cho nhiều bằng
chứng hỗ trợ cho những giả định này. Đúng hơn, những nghiên cứu này chỉ đơn
giản đưa ra rõ ràng hơn mức độ vốn ngôn ngữ của con người xem có vẻ là một hiện
tượng độc đáo, không có sự tương đồng đáng kể trong thế giới loài vật. Nếu đúng
như vậy thì việc đặt ra vấn đề giải thích sự tiến hóa của ngôn ngữ loài người
từ những hệ thống thông tin giao tiếp nguyên thủy hơn xuất hiện ở những trình
độ khả năng trí thức thấp hơn là điều hoàn toàn vô nghĩa. Vấn đề này rất quan
trọng và tôi muốn bàn sâu hơn về nó một chút.
Giả định rằng ngôn ngữ của con người phát triển từ những hệ thống nguyên thủy hơn đã được Karl Popper phát triển một cách đáng chú ý trong Bài giảng Arthur Compton được xuất bản gần đây của ông, “Những đám mây và Đồng hồ”. Ông cố gắng cho thấy cách giải quyết những vấn đề về tự do ý chí và thuyết nhị nguyên của Descartes bằng phân tích “sự tiến hóa” này. Bây giờ tôi không quan tâm đến những kết luận triết học vốn ông lấy ra từ phân tích này, nhưng quan tâm đến giả định cơ bản rằng có một sự phát triển tiến hóa của ngôn ngữ từ những hệ thống đơn giản hơn thuộc loại vốn người ta khám phá ra ở những sinh vật khác. Popper biện luận rằng sự phát triển của ngôn ngữ trải qua nhiều giai đoạn, đặc biệt là “giai đoạn thấp hơn” trong đó cử chỉ tiếng nói được dùng để thể hiện trạng thái cảm xúc chẳng hạn, và “giai đoạn cao hơn” trong đó âm thanh khớp nối được dùng để thể hiện suy nghĩ. – theo từ ngữ của Popper, để mô tả và biện luận phê phán. Thảo luận của ông về những giai đoạn tiến hóa của ngôn ngữ đề nghị một dạng liên tục, nhưng trong thực tế, ông không thiết lập quan hệ nào giữa những giai đoạn thấp hơn và cao hơn và không nêu lên một hệ thống phân tích và lựa chọn qua đó tiến trình chuyển đổi có thể diễn ra từ giai đoạn này sang giai đoạn tiếp theo. Nói tóm lại, ông không đưa ra biện luận nào để chứng minh rằng những giai đoạn thuộc về một tiến trình tiến hóa duy nhất. Trong thực tế, rất khó để thấy được những gì liên kết những giai đoạn này (ngoại trừ cách dùng ẩn dụ của từ ngữ “ngôn ngữ”). Không có lý do gì để cho rằng những “khoảng trống” có thể được lấp đầy. Trong trường hợp này, không có cơ bản nào để giả định sự phát triển tiến hóa “cao hơn” từ những giai đoạn “thấp hơn” hơn là không có cơ bản nào để giả định sự phát triển tiến hóa từ thở đến đi lại; Có vẻ như những giai đoạn không có sự tương đồng đáng kể nào và dường như gồm những tiến trình và nguyên tắc hoàn toàn khác nhau.
Một thảo luận rõ ràng hơn về quan hệ giữa ngôn ngữ của con người và hệ thống giao tiếp của loài vật xuất hiện trong một thảo luận gần đây của nhà hành vi động vật học so sánh W.H. Thorpe. [5] Ông cho thấy rằng những loài có vú không phải con người có vẻ thiếu khả năng con người để bắt chước những âm thanh, và do đó người ta có thể đã hy vọng là loài chim (nhiều trong số chúng có khả năng này ở mức độ đáng chú ý) để là “nhóm lẽ ra có thể có khả năng để tiến hóa ngôn ngữ theo đúng nghĩa, nhưng không là loài vật có vú”. Thorpe không cho rằng ngôn ngữ của con người “tiến hóa” theo bất kỳ nghĩa chặt chẽ nào từ những hệ thống đơn giản hơn, nhưng ông biện luận rằng những thuộc tính biểu thị đặc điểm của ngôn ngữ con người có thể được tìm thấy trong những hệ thống giao tiếp của loài vật, mặc dù “hiện tại chúng ta không thể nói chắc chắn rằng tất cả chúng đều giống nhau”. hiện diện ở một loài động vật riêng biệt”. Những đặc điểm chung của ngôn ngữ con người và loài vật là những thuộc tính “có mục đích”, “cú pháp” và “mệnh đề”. Ngôn ngữ có tính mục đích “trong đó hầu như trong lời nói của con người luôn có một ý định rõ ràng là truyền đạt một gì đó cho người khác, thay đổi hành vi, suy nghĩ hay thái độ chung của người này với một hoàn cảnh”. Ngôn ngữ của con người có tính “cú pháp” ở chỗ lời nói-viết là sự thể hiện có tổ chức bên trong, có cấu trúc và mạch lạc. Nó mang tính “nêu lên” ở chỗ nó truyền tải thông tin. Theo nghĩa này, cả ngôn ngữ của con người và giao tiếp của loài vật đều có mục đích, cú pháp và mệnh đề.
Tất cả những điều này có thể đúng, nhưng nó có rất ít cơ bản, vì khi chúng ta chuyển sang mức độ trừu tượng vốn tại đó ngôn ngữ của con người và giao tiếp của loài vật gắn kết với nhau, hầu như tất cả những hành vi khác cũng được gồm. Hãy xem xét việc đi bộ: rõ ràng, đi bộ là hành vi có mục đích, theo nghĩa chung nhất là “có mục đích”. Việc đi bộ cũng mang tính “cú pháp” theo nghĩa vừa được định nghĩa, như trong thực tế, Karl Lashley đã cho thấy cách đây rất lâu trong thảo luận quan trọng của ông về trật tự nối tiếp trong hành vi vốn tôi đã nhắc đến trong bài giảng đầu tiên. [6] Hơn nữa, nó chắc chắn có thể có nhiều thông tin; chẳng hạn, tôi có thể báo hiệu sự quan tâm của mình đến việc đạt được một Mục đích nhất định bằng tốc độ hay cường độ bước đi của tôi.
Tình cờ thay, chính theo cách
này vốn những thí dụ về giao tiếp của loài vật vốn Thorpe trình bày lại mang
tính “mệnh đề”. Ông lấy thí dụ về bài hát của chim cổ đỏ châu Âu, trong đó tốc
độ xen kẽ âm vực cao và thấp báo hiệu ý định bảo vệ lãnh thổ của loài chim; tỷ
lệ luân phiên càng cao thì ý định bảo vệ lãnh thổ càng lớn. Thí dụ này thật đáng
chú ý, nhưng với tôi, nó cho thấy rất rõ sự vô vọng của cố gắng để liên hệ ngôn
ngữ của con người với giao tiếp của loài vật. Mọi hệ thống giao tiếp của loài
vật được biết đến (nếu chúng ta bỏ qua một số khoa học viễn tưởng về cá heo)
đều dùng một trong hai nguyên tắc cơ bản: hay nó gồm một số lượng tín hiệu cố
định, hữu hạn, mỗi tín hiệu liên quan với một phạm vi hành vi hay trạng thái
cảm xúc riêng biệt, như vậy được minh họa trong những nghiên cứu sâu rộng về
linh trưởng được những nhà khoa học Nhật Bản thực hiện trong nhiều năm qua; hay
nó dùng một số lượng cố định, hữu hạn những chiều ngôn ngữ, mỗi chiều đó được
liên kết với một chiều phi ngôn ngữ riêng biệt theo cách vốn việc lựa chọn một
điểm dọc theo chiều ngôn ngữ sẽ xác định và báo hiệu một điểm nhất định dọc
theo chiều phi ngôn ngữ liên quan. Nguyên tắc thứ hai là nguyên tắc được hiện
thực hóa trong thí dụ về tiếng chim hót của Thorpe. Tỷ lệ xen kẽ của âm vực cao
và thấp là một phương diện ngôn
ngữ tương quan với phương diện
phi ngôn ngữ của ý định bảo vệ một lãnh thổ. Con chim báo hiệu ý định bảo vệ
lãnh thổ của mình bằng chọn một điểm tương quan dọc theo chiều hướng ngôn ngữ
của sự thay đổi cao độ – dĩ nhiên, tôi dùng từ “chọn” một cách lỏng lẻo. Chiều
hướng ngôn ngữ là trừu tượng, nhưng nguyên tắc thì rõ ràng. Hệ thống liên lạc
thuộc loại thứ hai có phạm vi tín hiệu tiềm năng vô cùng lớn, giống như ngôn
ngữ của con người. Tuy nhiên, hệ thống phân tích và lựa chọn và nguyên tắc hoàn
toàn khác với hệ thống phân tích và lựa chọn và nguyên tắc vốn ngôn ngữ con
người dùng để diễn đạt vô hạn nhiều suy nghĩ, ý định, cảm xúc mới, v.v. Sẽ là
không đúng khi nói về sự “thiếu sót” của hệ thống động vật xét về phạm vi những
tín hiệu tiềm năng; thì ngược lại, vì hệ thống động vật nhìn nhận trên nguyên
tắc sự biến đổi liên tục dọc theo chiều hướng ngôn ngữ (trong chừng mức có thể
nói về “tính liên tục” trong trường hợp như vậy), trong khi ngôn ngữ của con
người là rời rạc. Do đó, vấn đề không là vấn đề “nhiều hơn” hay “ít hơn” nhưng
là vấn đề về một nguyên tắc tổ chức hoàn toàn khác. Khi tôi đưa ra một tuyên bố
tùy tiện nào đó bằng ngôn ngữ của con người – chẳng hạn như “sự trỗi dậy của
những tập đoàn siêu quốc gia gây ra những mối nguy hiểm mới cho tự do của con
người” – tôi không chọn một điểm dọc theo một phương diện ngôn ngữ nào đó để báo hiệu một điểm tương ứng dọc
theo một phương diện phi ngôn
ngữ liên quan, cũng không phải Tôi đang chọn một tín hiệu từ một tập hợp hành
vi hữu hạn, bẩm sinh hay học được.
Hơn nữa, thật sai lầm khi cho
rằng cách con người dùng ngôn ngữ là đặc trưng mang tính thông tin, trong thực
tế hay có mục đích. Ngôn ngữ của con người có thể được dùng để thông báo hay
đánh lừa, để làm rõ suy nghĩ của chính mình hay để thể hiện sự thông minh của
một người, hay đơn giản là để vui chơi. Nếu tôi nói vốn không quan tâm đến việc
sửa đổi hành vi hay suy nghĩ của bạn, thì tôi cũng không dùng ngôn ngữ ít hơn
nếu tôi nói những điều tương tự với mục đích như vậy. Nếu chúng ta hy vọng hiểu
được ngôn ngữ của con người và khả năng tâm lý vốn nó dựa vào, trước tiên chúng
ta phải hỏi nó là gì, nhưng không nó được dùng như thế nào và cho mục đích gì.
Khi hỏi ngôn ngữ của con người là gì, chúng ta nhận thấy không có sự tương đồng
đáng chú ý nào với hệ thống giao tiếp của loài vật. Không có gì có ích để nói
về hành vi hay suy nghĩ ở mức độ trừu tượng vốn ở đó sự giao tiếp giữa loài vật
và con người gắn kết với nhau. Những thí dụ về giao tiếp của loài vật đã được
kiểm tra cho đến nay có nhiều đặc điểm giống với hệ thống cử chỉ của con người
và có thể hợp lý nếu khám phá khả năng kết nối trực tiếp trong trường hợp này.
Nhưng có vẻ như ngôn ngữ của con người lại dựa trên những nguyên tắc hoàn toàn
khác. Tôi nghĩ đây là một điểm quan trọng, thường bị bỏ qua bởi những người
phương pháp nghiên cứu giải quyết ngôn ngữ con người như một hiện tượng sinh
học, tự nhiên; đặc biệt, vì những lý do này, có vẻ khá vô nghĩa khi giả thuyết
về sự tiến hóa của ngôn ngữ loài người từ những hệ thống đơn giản hơn – có lẽ
cũng vô lý như việc giả thuyết về “sự tiến hóa” của những nguyên tử từ những
đám mây của những hạt cơ bản.
Theo những gì chúng ta biết,
việc sở hữu ngôn ngữ của con người có liên quan với một loại tổ chức tâm lý
riêng biệt chứ không chỉ đơn giản là mức độ thông minh cao hơn. Dường như không
có căn cứ nào cho quan điểm cho rằng ngôn ngữ của con người chỉ đơn giản là một
thí dụ phức tạp hơn của một gì đó được tìm thấy ở nơi khác trong thế giới loài
vật. Điều này đặt ra một vấn đề cho nhà sinh vật học, vì nếu đúng thì đó là một
thí dụ về “sự xuất hiện” thực sự – sự xuất hiện của một hiện tượng khác biệt về
chất ở một giai đoạn riêng biệt của sự phức tạp của tổ chức. Sự nhìn nhận thực
tế này, mặc dù được trình bày dưới những từ ngữ hoàn toàn khác nhau, là điều đã
thúc đẩy phần lớn nghiên cứu cổ điển về ngôn ngữ bởi những người vốn quan tâm hàng đầu của họ là bản chất
của não thức. Và với tôi, ngày nay dường như không có cách nào tốt hơn và hứa
hẹn hơn để khám phá những thuộc tính thiết yếu và đặc biệt của óc thông minh
con người hơn là qua việc khảo sát chi tiết cấu trúc sở hữu độc nhất vô nhị này
của con người. Khi đó, một phỏng đoán hợp lý là nếu những ngữ pháp phát sinh
đầy đủ về phương diện thực nghiệm có thể được xây dựng và những nguyên tắc phổ
quát chi phối cấu trúc và tổ chức của chúng được xác định, thì đây sẽ là một
đóng góp quan trọng cho tâm lý con người, theo những cách vốn tôi sẽ trình bày
trực tiếp một cách chi tiết. .
Trong tiến trình giảng dạy,
tôi đã nhắc đến một số ý tưởng cổ điển liên quan với cấu trúc ngôn ngữ và những
cố gắng để đương thời nhằm đào sâu và mở rộng chúng. Có vẻ rõ ràng là chúng ta
phải coi khả năng ngôn ngữ – kiến thức của một ngôn ngữ – như một hệ thống trừu
tượng làm nền tảng cho hành vi, một hệ thống được cấu thành bởi những quy luật
tác động qua lại để xác định dạng thức và ý nghĩa nội tại của vô số câu. Một hệ
thống như vậy – một ngữ pháp phát sinh – đem cho một cách giải thích ý tưởng
của Humboldt về “dạng thức của ngôn ngữ”, vốn trong một nhận xét khó hiểu nhưng
mang tính gợi mở trong tác phẩm vĩ đại để lại sau khi chết của ông, Über die
Verschiedenheit des Menschlichen Sprachbaues, Humboldt định nghĩa là “cái
không đổi và không thay đổi”. hệ thống những tiến trình làm nền tảng cho hành
động tâm lý nhằm nâng cao những tín hiệu được tổ chức có cấu trúc khớp nối để
thể hiện ý nghĩ”. Ngữ pháp như vậy định nghĩa một ngôn ngữ theo nghĩa
Humboldtian, riêng biệt là “một hệ thống được tạo sự lập lại cùng quy luật với
những kết quả trước:, trong đó những quy luật sinh ra là cố định và bất biến,
nhưng phạm vi và cách thức riêng biệt vốn chúng được áp dụng vẫn hoàn toàn
không được xác định”.
Trong mỗi ngữ pháp như vậy đều
có những yếu tố riêng biệt, mang phong cách riêng, việc lựa chọn những yếu tố
đó sẽ quyết định một ngôn ngữ riêng biệt của con người; và có những yếu tố phổ
quát chung, những điều kiện về dạng thức và tổ chức của bất kỳ ngôn ngữ nào của
con người, hình thành nên đề tài cho việc nghiên cứu “ngữ pháp phổ quát”. Trong
số những nguyên tắc của ngữ pháp phổ quát có những nguyên tắc tôi đã thảo luận
trong bài giảng trước – thí dụ, những nguyên tắc phân biệt cấu trúc sâu và cấu
trúc ngoài mặt và giới hạn lớp những phép biến đổi cú pháp có liên quan với chúng.
Nhân tiện, hãy Lưu ý rằng sự hiện hữu của những nguyên tắc xác định của ngữ
pháp phổ quát có thể tạo điều kiện cho sự phát triển của lĩnh vực mới của ngữ
học toán học, một lĩnh vực nghiên cứu trừu tượng về lớp những hệ thống phát
sinh đáp ứng những điều kiện đặt ra trong ngữ pháp phổ quát. Khảo sát này nhằm
mục đích xây dựng những thuộc tính dạng thức của bất kỳ ngôn ngữ nào có thể có
của con người. Lĩnh vực này đang ở giai đoạn sơ khai; Chỉ trong mười năm qua,
khả năng của một doanh nghiệp như vậy mới được hình dung. Nó có một số kết quả
ban đầu đầy hứa hẹn và nó đề nghị một hướng có thể có được cho nghiên cứu trong
tương lai có thể được chứng minh là có sự quan trọng lớn. Do đó, ngữ học toán
học dường như hiện đang ở một vị trí thuận lợi duy nhất, trong số những phương
pháp nghiên cứu giải quyết toán học trong khoa học tâm lý và xã hội, để phát
triển không chỉ đơn giản như một lý thuyết về dữ liệu nhưng còn là nghiên cứu
về những nguyên tắc và cấu trúc trừu tượng cao quyết định tính chất. của những
tiến trình tâm lý của con
người. Trong trường hợp này, những tiến trình tâm lý được nhắc đến là những
tiến trình liên quan với việc tổ chức một lĩnh vực kiến thức riêng biệt của con
người, riêng biệt là kiến thức về ngôn ngữ.
Lý thuyết về ngữ pháp phát
sinh, cả đặc thù và phổ quát, cho thấy một lỗ hổng khái niệm trong lý thuyết
tâm lý học vốn tôi tin là đáng được nhắc đến. Tâm lý học được coi như “khoa học
hành vi” liên quan với hành vi và việc tiếp nhận hay kiểm soát hành vi. Nó
không có khái niệm tương ứng với “khả năng”, theo nghĩa khả năng được biểu thị
đặc điểm bởi một ngữ pháp phát sinh. Lý thuyết học tập đã tự giới hạn ở một
khái niệm hạn hẹp và chắc chắn là không đầy đủ về những gì được học – riêng
biệt là một hệ thống kết nối kích thích-phản ứng, một mạng lưới những liên kết,
một tập hợp những hạng mục hành vi, một Hệ thống thứ bậc thói quen hay một hệ
thống những khuynh hướng phản ứng. theo một cách riêng biệt dưới những điều
kiện kích thích có thể xác định được.[7]
Trong chừng mức tâm lý học hành vi đã được áp dụng vào giáo dục hay trị liệu,
nó đã tự giới hạn tương ứng vào khái niệm “những gì được học”. Nhưng một ngữ
pháp phát sinh không thể được mô tả bằng những từ ngữ này. Điều cần thiết,
ngoài khái niệm hành vi và học tập, là khái niệm về những gì được học – khái
niệm về khả năng – nằm ngoài giới hạn khái niệm của lý thuyết tâm lý hành vi.
Giống như phần lớn ngữ học thời nay và triết học ngôn ngữ thời nay, tâm lý học
hành vi đã chấp nhận một cách khá có ý thức những giới hạn về phương diện
phương pháp không cho phép nghiên cứu những hệ thống có tính phức tạp và trừu
tượng cần thiết. [8]
Một đóng góp quan trọng trong tương lai của việc nghiên cứu ngôn ngữ với tâm lý
học đại cương có thể là tập trung chú ý vào khoảng trống khái niệm này và chứng
minh làm thế nào nó có thể được lấp đầy bằng xây dựng một hệ thống khả năng cơ
bản trong một lĩnh vực trí thức con người.
Có một ý nghĩa rõ ràng rằng
bất kỳ phương diện nào của tâm
lý học đều dựa trên việc nhận xét hành vi. Nhưng hoàn toàn không hiển nhiên
rằng việc nghiên cứu tiến trình học tập nên tiến hành trực tiếp đến việc khảo
sát những yếu tố kiểm soát hành vi hay những điều kiện vốn theo đó một “kho
tàng hành vi” được thiết lập. Đầu tiên cần xác định những đặc điểm quan trọng
của tiết mục hành vi này, những nguyên tắc tổ chức nó. Một nghiên cứu có ý
nghĩa về việc học chỉ có thể được tiến hành sau khi nhiệm vụ sơ bộ này được
thực hiện và dẫn đến một lý thuyết được xác nhận hợp lý về khả năng cơ bản –
trong trường hợp ngôn ngữ, đến việc hình thành ngữ pháp phát sinh làm nền tảng
cho việc dùng ngôn ngữ được nhận xét. . Một nghiên cứu như vậy sẽ liên quan với
quan hệ giữa dữ liệu có sẵn với sinh vật và khả năng vốn sinh vật có được; chỉ
trong phạm vi vốn sự trừu tượng hóa khả năng đã thành công – trong trường hợp ngôn
ngữ, ở mức độ vốn ngữ pháp được quy định là “thích hợp về phương diện mô tả”
theo nghĩa được mô tả trong Bài giảng 2 – thì việc nghiên cứu học tập mới có
thể hy vọng đạt được những kết quả có ý nghĩa. Nếu, trong một lĩnh vực nào đó,
việc tổ chức những tiết mục hành vi khá tầm thường và sơ đẳng, thì sẽ không có
hại gì nếu tránh giai đoạn trung gian của việc xây dựng lý thuyết, trong đó
chúng ta cố gắng mô tả chính xác khả năng đạt được. Nhưng người ta không thể
tin rằng điều này sẽ xảy ra, và trong việc nghiên cứu ngôn ngữ thì chắc chắn
điều đó không xảy ra. Với sự mô tả phong phú hơn và đầy đủ hơn về “những gì
được học” – về khả năng cơ bản tạo nên “trạng thái cuối cùng” của sinh vật đang
được nghiên cứu – có thể phương pháp nghiên cứu giải quyết nhiệm vụ xây dựng
một lý thuyết về học tập sẽ ít phức tạp hơn nhiều. bị giới hạn về phạm vi so
với tâm lý học hành vi thời nay đã được chứng minh. Chắc chắn là vô nghĩa khi
chấp nhận những giới hạn về phương diện phương pháp ngăn cản phương pháp nghiên
cứu giải quyết như vậy với những vấn đề học tập.
Có những lĩnh vực khả năng nào
khác của con người vốn người ta có thể hy vọng phát triển một lý thuyết hiệu
quả, tương tự như ngữ pháp phát sinh? Mặc dù đây là một câu hỏi rất quan trọng
nhưng ngày nay có rất ít điều có thể nói về nó. Thí dụ, người ta có thể xem xét
vấn đề làm thế nào một người có được một khái niệm nhất định về không gian ba
chiều, hay một “lý thuyết ngầm về hành động của con người” theo những từ ngữ
tương tự. Một nghiên cứu như vậy sẽ bắt đầu với cố gắng để mô tả lý thuyết nằm
chìm bên dưới làm nền tảng cho hiệu năng thực tế và sau đó sẽ chuyển sang vấn
đề lý thuyết này phát triển như thế nào trong những điều kiện thời gian và
quyền truy cập dữ liệu nhất định – nghĩa là hệ thống kết quả của tin tưởng được
xác định bởi sự tác động qua lại của dữ liệu có sẵn, “thủ tục heuristic” và
lược đồ bẩm sinh giới hạn và tạo điều kiện cho dạng thức của hệ thống thu được.
Hiện tại, đây chỉ là bản phác thảo của một chương trình nghiên cứu.
Đã có một số cố gắng để nghiên
cứu cấu trúc của những hệ thống giống ngôn ngữ khác – thí dụ như nghiên cứu về
hệ thống họ hàng và phân loại dân gian. Nhưng ít nhất cho đến nay, chưa có gì
được tìm ra ngay cả có thể so sánh được với ngôn ngữ trong những lĩnh vực này.
Theo hiểu biết của tôi, không ai dành nhiều tâm huyết cho vấn đề này hơn
Lévi-Strauss. Thí dụ, quyển sách gần đây của ông về những phân loại tâm lý
nguyên thủy [9] là
một cố gắng để nghiêm chỉnh và sâu xa nhằm giải quyết vấn đề này. Tuy nhiên,
tôi không thấy có thể đưa ra kết luận gì từ việc nghiên cứu tài liệu của ông
ngoài thực tế là não thức man rợ cố gắng áp đặt một tổ chức nào đó lên thế giới
vật chất – vốn con người phân loại, nếu họ thực hiện bất kỳ hành động tâm lý
nào. Riêng biệt, phê bình nổi tiếng của LéviStrauss về thuyết vật tổ dường như
chỉ rút gọn lại kết luận này một chút.
Lévi-Strauss mô hình hóa những
nghiên cứu về mình một cách khá có ý thức về ngôn ngữ học cấu trúc, đặc biệt là
về công trình của Troubetzkoy và Jakobson. Ông nhấn mạnh nhiều lần và hoàn toàn
chính xác rằng người ta không thể đơn giản áp dụng những tiến trình tương tự
như tiến trình phân tích âm vị cho những hệ thống con của xã hội và văn hóa.
Đúng hơn, ông quan tâm đến những cấu trúc “nơi chúng có thể được tìm thấy. . .
trong hệ thống thân tộc, hệ tư tưởng chính trị, thần thoại, nghi lễ, nghệ
thuật”, v.v. [10]
và ông mong muốn xem xét những thuộc tính dạng thức của những cấu trúc này theo
cách riêng của chúng. Nhưng cần phải có một số dè dặt khi ngôn ngữ học cấu trúc
được dùng như một mô hình theo cách này. Trước hết, cấu trúc của một hệ thống
âm vị học rất ít được quan tâm với tư cách là một đối tượng dạng thức; không có
gì có ý nghĩa để nói, từ quan điểm dạng thức, về một tập hợp gồm bốn mươi phần
tử lẻ được phân loại chéo theo tám hay mười đặc điểm. Sự quan trọng của âm vị
học cấu trúc thuyết, được phát
triển bởi Troubetzkoy, Jakobson và những người khác, không nằm ở những thuộc
tính dạng thức của hệ thống âm vị vốn ở thực tế là một số lượng khá nhỏ những
đặc điểm có thể được xác định bằng những từ ngữ độc lập, tuyệt với ngôn ngữ
dường như đem cho cơ bản cho việc tổ chức tất cả những hệ thống âm vị học.
Thành tựu của âm vị học cấu trúc là cho thấy rằng những quy luật âm vị học của
rất nhiều ngôn ngữ áp dụng cho những loại yếu tố có thể được mô tả một cách đơn
giản theo những đặc điểm này; sự thay đổi lịch sử đó ảnh hưởng đến những giai
cấp đó một cách thống nhất; và việc tổ chức những đặc điểm đóng vai trò cơ bản
trong việc dùng và tiếp thu ngôn ngữ. Đây là một khám phá có sự quan trọng lớn
nhất và nó đem cho nền tảng cho phần lớn ngữ học đương thời. Nhưng nếu chúng ta
loại bỏ tập hợp những tính năng phổ quát riêng biệt và những hệ thống quy luật
vốn chúng hoạt động thì hầu như không còn ý nghĩa gì nữa.
Hơn nữa, ở một mức độ ngày
càng lớn hơn, công trình nghiên cứu hiện nay về âm vị học đang chứng minh rằng
sự phong phú thực sự của những hệ thống âm vị học không nằm ở những mẫu cấu
trúc của âm vị vốn nằm ở những hệ thống quy luật phức tạp vốn qua đó những mẫu
này được hình thành, sửa đổi và trau chuốt. [11]
Những mô hình cấu trúc nảy sinh ở những giai đoạn phái sinh khác nhau là một
loại hiện tượng phụ. Hệ thống những quy luật âm vị học dùng những đặc điểm phổ
quát một cách cơ bản [12],
nhưng với tôi, dường như chính những thuộc tính của hệ thống quy luật đó mới
thực sự làm sáng tỏ bản chất riêng biệt của tổ chức ngôn ngữ. Thí dụ, dường như
có những điều kiện rất chung, chẳng hạn như nguyên tắc sắp xếp tuần hoàn (đã
thảo luận trong bài giảng trước) và những điều kiện khác vẫn trừu tượng hơn, chi
phối việc áp dụng những quy luật này, đồng thời có nhiều câu hỏi đáng chú ý và
chưa được giải quyết như đến việc lựa chọn những quy luật được xác định như thế
nào bởi những quan hệ nội tại, phổ biến giữa những đặc điểm. Hơn nữa, ý tưởng
nghiên cứu toán học về cấu trúc ngôn ngữ, vốn Lévi-Strauss thỉnh thoảng ám chỉ,
chỉ trở nên có ý nghĩa khi người ta xem xét những hệ thống quy luật với khả
năng tạo ra vô hạn. Không có gì để nói về cấu trúc trừu tượng của những mẫu
hình khác nhau xuất hiện ở những giai đoạn phái sinh khác nhau. Nếu điều này
đúng thì người ta không thể mong đợi bản thân âm vị học cấu trúc sẽ đem cho một
mô hình có ích cho việc nghiên cứu những hệ thống văn hóa và xã hội khác.
Nhìn tổng quát, với tôi, hiện
tại, vấn đề mở rộng những khái niệm về cấu trúc ngôn ngữ sang những hệ thống
nhận thức khác dường như không là một trạng thái quá hứa hẹn, mặc dù rõ ràng là
còn quá sớm để bi quan.
Trước khi chuyển sang những ý
nghĩa chung của việc nghiên cứu khả năng ngôn ngữ và riêng biệt hơn là đến
những kết luận về ngữ pháp phổ quát, cần bảo đảm vị thế của những kết luận này
dưới ánh sáng của kiến thức hiện tại về tính đa dạng có thể có của ngôn ngữ.
Trong bài giảng đầu tiên của mình, tôi đã trích dẫn nhận xét của William Dwight
Whitney về những gì vốn ông gọi là “sự đa dạng vô tận của lời nói con người”,
sự đa dạng vô biên vốn ông duy trì, làm suy yếu những tuyên bố của ngữ pháp
triết học với sự liên quan với tâm lý.
Những nhà ngữ pháp triết học
thường cho rằng những ngôn ngữ khác nhau rất ít trong cấu trúc sâu của chúng,
mặc dù có thể có sự khác biệt lớn trong những biểu hiện ngoài mặt. Do đó, theo
quan điểm này, có một cấu trúc cơ bản của những quan hệ và phân loại ngữ pháp,
và một số phương diện nhất định
trong suy nghĩ và tâm lý con người về cơ bản là bất biến giữa những ngôn ngữ,
mặc dù những ngôn ngữ có thể khác nhau về việc chúng thể hiện những quan hệ ngữ
pháp một cách chính thức bằng biến tố hay trật tự từ, Thí dụ. Hơn nữa, một khảo
sát về công việc của họ cho thấy rằng những nguyên tắc lập lại cùng quy luật
với những kết quả trước: cơ bản tạo ra cấu trúc sâu được cho là bị giới hạn
theo một số cách nhất định – thí dụ, theo điều kiện là những cấu trúc mới chỉ
được hình thành bằng chèn “nội dung mệnh đề” mới, những cấu trúc mới bản thân
chúng tương ứng với những câu đơn giản thực tế, ở những vị trí cố định trong
những cấu trúc đã được hình thành sẵn. Tương tự như vậy, những phép biến đổi
ngữ pháp hình thành những cấu trúc ngoài mặt qua việc sắp xếp lại thứ tự, dấu
chấm lửng và những phép biến đổi cú pháp dạng thức khác phải tự đáp ứng những
điều kiện chung cố định nhất định, chẳng hạn như những điều kiện đã thảo luận
trong bài giảng trước. Nói tóm lại, những lý thuyết về ngữ pháp triết học và
những công trình phát triển gần đây hơn của những lý thuyết này đưa ra giả định
rằng những ngôn ngữ sẽ khác nhau rất ít, mặc dù có sự đa dạng đáng kể trong
cách nhận thức bề ngoài, khi chúng ta khám phá những cấu trúc sâu hơn của chúng
và khám phá những hệ thống phân tích và lựa chọn và nguyên tắc cơ bản của
chúng.
Thật đáng chú ý khi nhận thấy
rằng giả định này vẫn tồn tại ngay cả sáng sủa thời kỳ phong trào lãng mạn Đức, dĩ nhiên, thuyết này bận tâm nhiều đến sự đa dạng của những nền văn hóa và
nhiều khả năng phong phú cho sự phát triển trí thức của con người. Do đó,
Wilhelm von Humboldt, người hiện được nhớ đến nhiều nhất với những ý tưởng liên
quan với sự đa dạng của ngôn ngữ và sự liên kết của những cấu trúc ngôn ngữ đa
dạng với những “thế giới quan” khác nhau, tuy nhiên vẫn khẳng định chắc chắn
rằng bên dưới bất kỳ ngôn ngữ nào của con người, chúng ta sẽ tìm thấy một hệ
thống mang tính phổ quát. , điều đó chỉ đơn giản thể hiện những thuộc tính trí
thức độc đáo của con người. Vì lý do này, ông có thể duy trì quan điểm duy lý
rằng ngôn ngữ không thực sự được học – chắc chắn không được dạy – vốn phát
triển “từ bên trong”, theo một cách cơ bản được xác định trước, khi tồn tại
những điều kiện môi trường thích hợp. Ông biện luận rằng người ta không thể
thực sự dạy ngôn ngữ đầu tiên vốn chỉ có thể “đem cho sợi chỉ để ngôn ngữ đó sẽ
phát triển theo cách riêng của nó” bằng những tiến trình giống như sự trưởng
thành hơn là học tập. Yếu tố Platon này trong tư tưởng của Humboldt là một yếu
tố có sức lan tỏa; với Humboldt, việc nêu lên một lý thuyết “học tập” về cơ bản
theo thuyết Platon cũng là điều
tự nhiên cũng như với Rousseau, ông đã đưa ra lời phê phán của mình về những
thể chế xã hội mang tính áp bức dựa trên quan niệm về quyền tự do của con người
xuất phát từ những giả định nghiêm ngặt của Descartes liên quan với những giới
hạn của sự giải thích máy móc theo khoa học. Và trong tổng quát, có vẻ phù hợp
để hiểu cả tâm lý học và ngữ học của thời kỳ lãng mạn phần lớn là sự phát triển
tự nhiên của những quan niệm duy lý. [13]
Vấn đề được Whitney nêu ra
chống lại Humboldt và ngữ pháp triết học trong tổng quát có ý nghĩa rất lớn với
những tác động của ngữ học với tâm lý con người trong tổng quát. Rõ ràng, những
hàm ý này chỉ có thể thực sự có ảnh hưởng sâu rộng nếu quan điểm duy lý về cơ
bản là đúng, trong trường hợp đó, cấu trúc của ngôn ngữ có thể thực sự đóng vai
trò như một “tấm gương suy nghĩ” ở cả phương
diện riêng biệt và phổ quát của nó. Người ta tin rằng nhân chủng học
thời nay đã xác định sự sai lầm trong những giả định của những nhà ngữ pháp phổ
quát duy lý bằng chứng minh qua nghiên cứu thực nghiệm rằng những ngôn ngữ
trong thực tế có thể thể hiện sự đa dạng rộng rãi nhất. Những tuyên bố của
Whitney về sự đa dạng của ngôn ngữ được nhắc lại sáng sủa thời nay; Thí dụ,
Martin Joos chỉ đơn giản thể hiện sự hiểu biết thông thường khi ông đưa ra kết
luận cơ bản của ngữ học nhân học thời nay là “những ngôn ngữ có thể khác nhau
vốn không có giới hạn về mức độ hay hướng đi”.[14]
Với tôi, tin tưởng rằng ngữ
học nhân học đã phá hủy những giả định về ngữ pháp phổ quát dường như khá sai
lầm ở hai phương diện quan
trọng. Đầu tiên, nó diễn giải sai quan điểm của ngữ pháp duy lý cổ điển, vốn
cho rằng những ngôn ngữ chỉ giống nhau ở mức độ sâu hơn, mức độ vốn những quan
hệ ngữ pháp được thể hiện và ở đó những tiến trình đem cho phương diện sáng tạo của việc dùng ngôn
ngữ được tìm thấy. Thứ hai, tin tưởng này hiểu sai một cách nghiêm trọng những
tìm ra của ngữ học nhân học, trong thực tế, đã tự giới hạn gần như hoàn toàn ở
những phương diện khá hời hợt
của cấu trúc ngôn ngữ.
Nói điều này không là phê phán
ngữ học nhân học, một lĩnh vực đang phải đối mặt với những vấn đề thu hút của
chính nó – đặc biệt là vấn đề thu thập ít nhất một số ghi chép về những ngôn
ngữ đang biến mất nhanh chóng của thế giới nguyên thủy. Tuy nhiên, điều quan
trọng là phải ghi nhớ giới hạn cơ bản này với những thành tựu của nó trong việc
xem xét ánh sáng vốn nó có thể làm sáng tỏ những luận điểm của ngữ pháp phổ
quát. Những nghiên cứu nhân học (như nghiên cứu ngôn ngữ cấu trúc trong tổng
quát) không cố gắng khám phá cốt lõi cơ bản của những tiến trình tạo sinh trong
ngôn ngữ – nghĩa là những tiến trình xác định những mức độ cấu trúc sâu hơn và
tạo thành những phương tiện có hệ thống để tạo ra những loại câu luôn mới lạ.
Do đó, rõ ràng là chúng không thể có bất kỳ liên quan thực sự nào đến giả định
cổ điển rằng những tiến trình tạo sinh cơ bản này chỉ khác nhau một chút giữa
những ngôn ngữ. Trong thực tế, những bằng chứng hiện có đề nghị rằng nếu ngữ
pháp phổ quát có những thiếu xót nghiêm trọng, như thực tế là theo quan điểm
thời nay, thì những thiếu xót này nằm ở việc không nhận ra bản chất trừu tượng
của cấu trúc ngôn ngữ và không áp đặt đủ mạnh mẽ và giới hạn. điều kiện về dạng
thức của bất kỳ ngôn ngữ của con người. Và một đặc điểm biểu thị đặc điểm của
công việc nghiên cứu ngữ học hiện nay là quan
tâm của nó với những ngôn ngữ phổ quát thuộc loại chỉ có thể được tìm ra
qua nghiên cứu chi tiết về những ngôn ngữ riêng biệt, những phổ quát chi phối
những thuộc tính của ngôn ngữ vốn đơn giản là không thể phương pháp nghiên cứu
giải quyết được để nghiên cứu trong khung cấu trúc khái niệm giới hạn đã được
được chấp nhận, thường vì những lý do rất chính đáng, trong phạm vi ngữ học
nhân học.
Tôi nghĩ rằng nếu chúng ta xem
xét vấn đề cổ điển của tâm lý học, vấn đề giải thích kiến thức của con người,
chúng ta không thể tránh khỏi sự khác biệt to lớn giữa kiến thức và kinh nghiệm
– trong trường hợp ngôn ngữ, giữa ngữ pháp phát sinh thể hiện khả năng ngôn ngữ
của con người. người nói tiếng mẹ đẻ và những dữ liệu ít ỏi, thoái hóa trên cơ
bản đó người này đã xây dựng nên ngữ pháp này cho chính mình. Trên nguyên tắc,
lý thuyết học tập phải giải quyết được vấn đề này; nhưng trong thực tế, nó
tránh được vấn đề vì khoảng cách về khái niệm vốn tôi đã nhắc đến trước đó. Vấn
đề ngay cả không thể được trình bày theo bất kỳ cách hợp lý nào cho đến khi
chúng ta phát triển khái niệm khả năng, bên cạnh những khái niệm về học tập và
hành vi, đồng thời áp dụng khái niệm này trong một số lĩnh vực. Thực tế là khái
niệm này cho đến nay đã được phát triển rộng rãi và chỉ được áp dụng trong
nghiên cứu ngôn ngữ của con người. Chỉ trong lĩnh vực này chúng ta mới có ít
nhất những bước đầu tiên hướng tới giải thích về khả năng, riêng biệt là những
ngữ pháp phát sinh rời rạc đã được xây dựng cho những ngôn ngữ riêng biệt. Khi
nghiên cứu ngôn ngữ tiến triển, chúng ta có thể tin tưởng rằng những ngữ pháp
này sẽ được mở rộng về phạm vi và chiều sâu, mặc dù sẽ khó có gì ngạc nhiên nếu
những nêu lên đầu tiên bị tìm ra là sai lầm về cơ bản.
Trong chừng mức chúng ta có
được sự gần đúng tạm thời đầu tiên với một ngữ pháp phát sinh cho một số ngôn
ngữ, lần đầu tiên chúng ta có thể hình thành một cách có ích vấn đề về nguồn
gốc của tri thức. Nói cách khác, chúng ta có thể đặt câu hỏi, Cấu trúc ban đầu
nào phải được gán cho não thức để cho phép nó xây dựng một ngữ pháp như vậy từ
dữ liệu của ý nghĩa? Một số điều kiện thực nghiệm phải được đáp ứng bởi bất kỳ
giả định nào như vậy về cấu trúc bẩm sinh đều khá rõ ràng. Do đó, nó xem có vẻ
là khả năng biểu thị đặc điểm của loài, về cơ bản là độc lập với óc thông minh
và chúng ta có thể ước tính khá tốt về lượng dữ liệu cần thiết để hoàn thành
thành công nhiệm vụ. chúng ta biết rằng những ngữ pháp được xây dựng trong thực
tế chỉ khác nhau một chút giữa những người nói cùng một ngôn ngữ, mặc dù có sự
khác biệt lớn không chỉ về óc thông minh nhưng còn về những điều kiện tiếp thu
ngôn ngữ. Là những người tham dự vào một nền văn hóa nhất định, chúng ta đương
nhiên nhận thức được những khác biệt to lớn trong khả năng dùng ngôn ngữ, kiến
thức về từ vựng, v.v., xuất phát từ sự khác biệt về khả năng bản địa và từ sự
khác biệt về điều kiện tiếp nhận; dĩ nhiên chúng ta ít chú ý hơn đến những điểm
tương đồng và kiến thức chung, những điều vốn chúng ta coi như đương nhiên.
Nhưng nếu chúng ta cố gắng thiết lập được khoảng cách tâm lý cần thiết, nếu
chúng ta thực sự so sánh những ngữ pháp tổng quát phải được quy định cho những
người nói cùng một ngôn ngữ khác nhau, chúng ta sẽ thấy rằng những điểm tương
đồng vốn chúng ta cho là hiển nhiên là khá rõ ràng và rằng sự khác biệt là rất
ít và cận biên. Hơn nữa, có vẻ như những phương ngữ nhìn bề ngoài khá xa, ngay
cả hầu như không thể hiểu được khi tiếp xúc lần đầu, có chung cốt lõi trung tâm
rộng lớn là những quy luật và tiến trình chung và khác nhau rất ít về cấu trúc
cơ bản, dường như vẫn bất biến qua những thời đại lịch sử lâu dài. Hơn nữa,
chúng ta tìm ra một hệ thống nguyên tắc đáng kể không khác nhau giữa những ngôn
ngữ và theo như chúng ta biết, hoàn toàn không liên quan.
Những vấn đề trung tâm trong
lĩnh vực này là những vấn đề thực nghiệm, ít nhất trên nguyên tắc, khá đơn
giản, khó giải quyết một cách thỏa đáng. chúng ta phải đưa ra một cấu trúc bẩm
sinh đủ phong phú để giải thích sự khác biệt giữa kinh nghiệm và kiến thức, một
cấu trúc có thể giải thích cho việc xây dựng những ngữ pháp phát sinh được
chứng minh bằng thực nghiệm trong những giới hạn nhất định về thời gian và
quyền truy cập vào dữ liệu. Đồng thời, cấu trúc tâm lý bẩm sinh được mặc nhiên
công nhận này không được quá phong phú và giới hạn đến mức loại trừ một số ngôn
ngữ đã biết. Nói cách khác, có giới hạn trên và giới hạn dưới về mức độ và tính
chất chính xác của sự phức tạp có thể được coi như cấu trúc tâm lý bẩm sinh.
Hoàn cảnh thực tế đủ mơ hồ để có chỗ cho nhiều quan điểm khác nhau về bản chất
thực sự của cấu trúc tâm lý bẩm sinh giúp khả năng tiếp thu ngôn ngữ này trở
nên có thể có được. Tuy nhiên, với tôi, dường như không còn nghi ngờ gì nữa
rằng đây là một vấn đề thực nghiệm, một vấn đề có thể được giải quyết bằng tiến
hành theo những đường hướng vốn tôi vừa phác thảo đại khái.
Ước tính của riêng tôi về hoàn
cảnh này là vấn đề thực sự của ngày mai là việc khám phá ra một giả định đủ
phong phú về cấu trúc bẩm sinh nhưng không việc tìm ra một giả định đủ đơn giản
hay cơ bản để trở nên “hợp lý”. Theo như tôi thấy, không có khái niệm hợp lý
nào về “tính hợp lý”, không có hiểu biết sâu xa tiên nghiệm nào về những cấu
trúc bẩm sinh nào được cho phép, có thể hướng dẫn việc tìm kiếm một “giả định
đủ cơ bản”. Sẽ chỉ là thuyết
giáo điều nếu không có lý lẽ hay bằng chứng nào cho rằng cấu trúc bẩm sinh của
não thức đơn giản hơn những hệ thống sinh học khác, cũng như sẽ chỉ là thuyết giáo điều khi nhấn mạnh rằng
tổ chức của não thức nhất thiết phải tuân theo những nguyên tắc nhất định đã
được xác định trước khi nghiên cứu. và được duy trì bất chấp mọi tìm ra thực
nghiệm. Tôi nghĩ rằng việc nghiên cứu những vấn đề của não thức chắc chắn đã bị
cản trở bởi một loại thuyết tiên nghiệm vốn những vấn đề này thường được phương
pháp nghiên cứu giải quyết. Đặc biệt, những giả định theo thuyết kinh nghiệm đã chi phối việc
nghiên cứu sự tiếp nhận kiến thức trong nhiều năm, với tôi, dường như được chấp
nhận hoàn toàn không có sự bảo đảm và không có địa vị đặc biệt nào trong số rất
nhiều khả năng vốn người ta có thể tưởng tượng về cách thức hoạt động của não
thức.
Về vấn đề này, thật sáng tỏ
khi theo dõi tranh luận đã nảy sinh kể từ khi những quan điểm vốn tôi vừa phác
thảo được đưa ra cách đây vài năm như một chương trình nghiên cứu – tôi phải
nói rằng, vì quan điểm này đã được phục hồi, bởi vì ở một mức độ đáng kể, nó
Phương pháp nghiên cứu giải quyết duy lý truyền thống, hiện nay đã được khuếch
đại, mài giũa và làm rõ hơn nhiều về phương diện những kết luận mang tính thăm
dò đã đạt được trong nghiên cứu gần đây về khả năng ngôn ngữ . Hai triết gia Mỹ
xuất sắc, Nelson Goodman và Hilary Putnam, gần đây đã có những đóng góp cho
thảo luận này – theo quan điểm của tôi, cả hai đều có quan niệm sai lầm, nhưng
mang tính hướng dẫn về những quan niệm sai lầm vốn họ bộc lộ.[15]
Cách giải quyết câu hỏi của
Goodman trước tiên gặp phải sự hiểu lầm mang tính lịch sử và thứ hai là do
không thể trình bày một cách chính xác bản chất chính xác của vấn đề tiếp nhận
kiến thức. Sự hiểu lầm mang tính lịch sử của ông liên quan với vấn đề giữa Locke
và người vốn Locke nghĩ rằng ông đang chỉ trích trong thảo luận về những ý
tưởng bẩm sinh. Theo Goodman, “Locke đã tạo ra . . . thấy rõ ràng” rằng học
thuyết về những ý tưởng bẩm sinh là “sai lầm hay vô nghĩa”. Tuy nhiên, trong
thực tế, phê bình của Locke ít liên quan với bất kỳ học thuyết quen thuộc nào
của thế kỷ XVII. Những biện luận vốn Locke đưa ra đã được xem xét và giải quyết
một cách khá thỏa đáng trong những thảo luận đầu thế kỷ XVII về những ý tưởng
bẩm sinh, thí dụ như của Lord Herbert và Descartes, cả hai đều coi đương nhiên
rằng hệ thống những ý tưởng và nguyên tắc bẩm sinh sẽ không hoạt động trừ khi
có sự kích thích thích hợp. Vì lý do này, những biện luận của Locke, không có
biện luận nào trong số đó nhận thức được tình trạng này, là không có sức thuyết
phục; [16]
vì lý do nào đó, ông đã tránh né những vấn đề đã được thảo luận trong nửa thế
kỷ trước. Hơn nữa, như Leibnitz đã nhận xét, việc Locke sẵn lòng dùng nguyên
tắc “phản ảnh” khiến cho gần như không thể phân biệt được phương pháp nghiên cứu
giải quyết của ông với phương pháp nghiên cứu giải quyết của những người theo thuyết duy lý, ngoại trừ việc ông
không thực hiện ngay cả những bước vốn những người tiền nhiệm nêu lên nhằm xác
định đặc điểm của nguyên tắc này.
Tuy nhiên, gạt những vấn đề
lịch sử sang một bên, tôi nghĩ rằng Goodman cũng hiểu sai vấn đề thực chất. Ông
biện luận rằng việc học ngôn ngữ đầu tiên không thực sự gây ra vấn đề gì, bởi
vì trước khi học ngôn ngữ đầu tiên, đứa trẻ đã có được những kiến thức cơ bản
về hệ thống biểu tượng trong cách ứng xử thông thường với môi trường. Do đó,
việc học ngôn ngữ thứ nhất tương tự như việc học ngôn ngữ thứ hai ở chỗ bước cơ
bản đã được thực hiện và những chi tiết có thể được xây dựng trong khung cấu
trúc khái niệm đã có sẵn. Biện luận này có thể có sức thuyết phục nào đó nếu nó
có thể cho thấy rằng những thuộc tính riêng biệt của ngữ pháp – thí dụ, sự phân
biệt cấu trúc sâu và ngoài mặt, những thuộc tính riêng biệt của những biến đổi
ngữ pháp, những nguyên tắc sắp xếp quy luật, v.v. – đều hiện diện trong một số
trường hợp. hình thành trong những “hệ thống biểu tượng” tiền ngôn ngữ đã có
sẵn này. Nhưng vì không có một chút lý do nào để tin rằng điều này là như vậy
nên biện luận này sụp đổ. Nó dựa trên sự lập lờ tương tự như đã thảo luận trước
đó liên quan với biện luận rằng ngôn ngữ phát triển từ giao tiếp của loài vật.
Trong trường hợp đó, như chúng ta đã nhận xét, biện luận xoay quanh cách dùng
ẩn dụ của từ ngữ “ngôn ngữ”. Trong trường hợp của Goodman, biện luận này hoàn
toàn dựa trên cách dùng mơ hồ từ ngữ “hệ thống ký hiệu” và nó sụp đổ ngay khi
chúng ta cố gắng gán cho từ ngữ này một ý nghĩa chính xác. Nếu có thể cho thấy
rằng những hệ thống biểu tượng tiền ngôn ngữ này có chung một số thuộc tính
quan trọng nhất định với ngôn ngữ tự nhiên, thì chúng ta có thể biện luận rằng
những thuộc tính này của ngôn ngữ tự nhiên có được bằng phép loại suy. Dĩ
nhiên, khi đó chúng ta sẽ phải đối mặt với vấn đề giải thích những hệ thống
biểu tượng tiền ngôn ngữ đã phát triển những thuộc tính này như thế nào. Nhưng
vì chưa ai thành công trong việc cho thấy rằng những thuộc tính cơ bản của ngôn
ngữ tự nhiên – thí dụ như những thuộc tính được thảo luận trong Bài giảng 2 –
xuất hiện trong những hệ thống ký hiệu tiền ngôn ngữ hay bất kỳ hệ thống nào
khác, nên vấn đề thứ hai không nảy sinh.
Theo Goodman, lý do tại sao
vấn đề học ngôn ngữ thứ hai khác với vấn đề học ngôn ngữ thứ nhất là vì “một
khi có sẵn một ngôn ngữ”, nó “có thể được dùng để đưa ra giải thích và hướng
dẫn”. Sau đó, ông tiếp tục biện luận rằng “sự tiếp thu ngôn ngữ ban đầu là tiếp
nhận một hệ thống ký hiệu thứ cấp” và khá ngang bằng với sự tiếp thu ngôn ngữ
thứ hai thông thường. Những hệ thống biểu tượng chính vốn ông nhắc đến là
“những hệ thống biểu tượng tiền ngôn ngữ thô sơ trong đó những cử chỉ, những sự
kiện cảm giác và nhận thức thuộc mọi loại đều hoạt động như những dấu hiệu”.
Nhưng rõ ràng là những hệ thống biểu tượng tiền ngôn ngữ này không thể “được
dùng để giải thích và hướng dẫn” theo cách ngôn ngữ thứ nhất có thể được dùng
trong giảng dạy ngôn ngữ thứ hai. Vì vậy, ngay cả trên cơ bản của riêng mình,
biện luận của Goodman vẫn không mạch lạc.
Goodman khẳng định rằng “tuyên
bố vốn chúng ta đang thảo luận không thể được kiểm tra bằng thực nghiệm ngay cả
khi chúng ta có một thí dụ được nhìn nhận về ngôn ngữ ‘xấu’” và rằng “tuyên bố
này ngay cả còn chưa được đưa ra ở mức độ trích dẫn một thuộc tính tổng quát
duy nhất của ngôn ngữ ‘xấu’”. ‘ ngôn ngữ. Kết luận đầu tiên trong số này là
đúng, theo nghĩa “thử nghiệm thực nghiệm” của ông, tức là một thử nghiệm trong
đó chúng ta “tiếp nhận một đứa trẻ sơ sinh khi mới sinh, cách ly nó khỏi mọi
ảnh hưởng của nền văn hóa gắn liền với ngôn ngữ của chúng ta và cố gắng khắc
sâu nó bằng một trong những kết luận đó”. của những ngôn ngữ nhân tạo ‘xấu’”.
Rõ ràng điều này là không có thể có được. Nhưng không có lý do gì khiến chúng
ta phải thất vọng trước việc không thể thực hiện được một cuộc thử nghiệm như
thế này. Có nhiều cách khác – thí dụ, những cách được thảo luận trong Bài giảng
2 và những tài liệu tham khảo được trích dẫn ở đó – trong đó có thể thu được
bằng chứng liên quan với những thuộc tính của ngữ pháp và những kết luận liên
quan với những thuộc tính tổng quát của những ngữ pháp đó có thể được đưa vào
kiểm tra thực nghiệm. Bất kỳ kết luận nào như vậy đều xác định ngay lập tức,
đúng hay sai, một số thuộc tính nhất định của ngôn ngữ “xấu”. Vì có hàng tá bài
báo và sách cố gắng hình thành những thuộc tính như vậy nên khẳng định thứ hai
của ông, rằng không có “một thuộc tính tổng quát nào của những ngôn ngữ ‘xấu’”
được hình thành, khá đáng ngạc nhiên. Người ta có thể cố chứng tỏ rằng những cố
gắng để này là sai lầm hay đáng nghi ngờ, nhưng người ta khó có thể nghiêm
chỉnh khẳng định rằng chúng không tồn tại. Bất kỳ công thức nào về một nguyên
tắc ngữ pháp phổ quát đều đưa ra một khẳng định mang tính thực nghiệm mạnh mẽ,
có thể bị bác bỏ bằng tìm ra những trường hợp phản biện trong một số ngôn ngữ
của con người, theo hướng thảo luận trong Bài giảng 2. Trong ngữ học, cũng như
trong bất kỳ lĩnh vực nào khác, nó chỉ là theo những cách gián tiếp như thế này
vốn người ta có thể hy vọng tìm thấy bằng chứng hỗ trợ những giả thuyết không
tầm thường. Những thử nghiệm trực tiếp nhậnộc loại vốn Goodman nhắc đến hiếm
khi có thể thực hiện được, một vấn đề có thể đáng tiếc nhưng vẫn là đặc điểm
của hầu hết những nghiên cứu.
Tại một thời điểm, Goodman đã
nhận xét một cách chính xác rằng mặc dù “với một số sự kiện đáng chú ý, tôi
không có giải thích nào khác. . . riêng điều đó không thể hiện sự chấp nhận bất
kỳ lý thuyết nào được đưa ra; vì lý thuyết có thể tệ hơn là không có. Việc
không thể giải thích một sự thật không buộc tôi phải chấp nhận một lý thuyết
khó hiểu và khó hiểu về bản chất”. Nhưng bây giờ hãy xem xét lý thuyết về những
ý tưởng bẩm sinh vốn Goodman coi như “về bản chất là đáng ghê tởm và không thể
hiểu được”. Đầu tiên, hãy Lưu ý rằng lý thuyết này rõ ràng không là “không thể
hiểu được” theo cách nói của ông. Vì vậy, trong bài viết này, ông dường như sẵn
sàng chấp nhận quan điểm rằng theo một nghĩa nào đó, não thức trưởng thành chứa
đựng những ý tưởng; thì rõ ràng không là “không thể hiểu được” rằng một số ý
tưởng này đã “được cấy vào não thức như một thiết bị nguyên bản”, theo cách
dùng cách nói của ông. Và nếu chúng ta quay sang học thuyết thực tế được phát triển
trong triết học duy lý, thay vì bức tranh biếm họa của Locke, thì lý thuyết này
càng trở nên dễ hiểu hơn. Không có gì khó hiểu khi quan điểm cho rằng sự kích
thích tạo cơ hội cho não thức áp dụng một số nguyên tắc diễn giải bẩm sinh,
những khái niệm nhất định xuất phát từ chính “sức mạnh của sự hiểu biết”, từ
khả năng suy nghĩ nhưng không trực tiếp từ những đối tượng bên ngoài. Lấy một
thí dụ từ Descartes ( Reply to Objections, V):
Khi lần đầu
tiên chúng ta nhìn thấy một hình tam giác được vẽ trên giấy, hình này không thể
cho chúng ta thấy một hình tam giác thực sự phải được hình thành như thế nào,
theo cách vốn những nhà hình học xem xét nó, bởi vì hình tam giác thực sự được
chứa đựng trong hình này, giống như bức tượng. của Thủy ngân được chứa trong một
khối gỗ thô. Nhưng bởi vì chúng ta đã có sẵn trong mình ý tưởng về một hình tam
giác thực sự và nó có thể dễ dàng hình dung trong não thức chúng ta hơn là hình
tam giác phức tạp hơn được vẽ trên giấy, do đó, khi nhìn thấy hình tổng hợp,
chúng ta không hiểu được nó. chính nó, vốn đúng hơn là tam giác đích thực.[17]
Theo nghĩa này, ý tưởng về
hình tam giác là bẩm sinh. Chắc chắn khái niệm này có thể hiểu được; chẳng hạn,
sẽ không có khó khăn gì trong việc prôgram cho một Máy cômputơ phản ứng với
những kích thích theo những hướng này (mặc dù điều này sẽ không làm Descartes
vui lòng, vì những lý do khác). Tương tự, trên nguyên tắc, không có khó khăn gì
trong việc prôgram một Máy cômputơ với lược đồ giới hạn chặt chẽ dạng thức của
một ngữ pháp tổng quát, với tiến trình thẩm định giá trị những ngữ pháp có dạng
đã cho, với kỹ thuật xác định xem dữ liệu đã cho có tương hợp với ngữ pháp của
dạng thức nhất định, với cấu trúc con cố định của những thực thể (chẳng hạn như
những đặc điểm đặc biệt), quy luật và nguyên tắc, v.v. – nói tóm lại, với một
loại ngữ pháp phổ quát đã được nêu lên trong những năm gần đây. Vì những lý do
vốn tôi đã nhắc đến, tôi tin rằng những nêu lên này có thể được coi như một sự
phát triển hơn nữa của học thuyết duy lý cổ điển, như là sự trình bày chi tiết
một số ý tưởng chính của nó liên quan với ngôn ngữ và não thức . Dĩ nhiên, một
lý thuyết như vậy sẽ “ghê tởm” với những người chấp nhận học thuyết theo thuyết kinh nghiệm và coi nó là miễn
nhiễm với câu hỏi hay thách thức. Với tôi, có vẻ như đây chính là trọng tâm của
vấn đề. [18]
Bài viết của Putnam (xem ghi
chú 13) nhắc đến trực tiếp hơn đến những điểm đang được nhắc đến, nhưng với
tôi, dường như những biện luận của ông cũng không có tính thuyết phục, vì một
số giả định không chính xác vốn ông đưa ra về bản chất của những ngữ pháp thu
được. Putnam giả định rằng ở mức độ ngữ âm học, thuộc tính duy nhất được nêu
lên trong ngữ pháp phổ quát là một ngôn ngữ có “một danh sách ngắn những âm
vị”. Ông biện luận rằng đây không là điểm tương đồng giữa những ngôn ngữ đòi
hỏi những giả thuyết giải thích phức tạp. Kết luận là đúng; giả định là khá sai
lầm. Trong thực tế, như tôi đã cho thấy nhiều lần, những giả thuyết thực nghiệm
rất mạnh mẽ đã được nêu lên liên quan với việc lựa chọn riêng biệt những đặc
điểm phổ quát, những điều kiện về dạng thức và tổ chức những quy luật âm vị,
những điều kiện áp dụng quy luật, v.v. Nếu những nêu lên này đúng hay gần đúng,
thì “sự tương đồng giữa những ngôn ngữ” ở mức độ cấu trúc âm thanh thực sự rất
đáng chú ý và không thể giải thích đơn giản bằng những giả định về dung lượng
ký ức, như Putnam đề nghị.
Trên mức độ cấu trúc âm thanh,
Putnam giả định rằng thuộc tính quan trọng duy nhất của ngôn ngữ là chúng có
tên riêng, ngữ pháp có chứa thành phần cấu trúc cụm từ và có những quy luật
“viết tắt” những câu do thành phần cấu trúc cụm từ tạo ra. Ông cho rằng bản
chất của thành phần cấu trúc cụm từ được xác định bởi sự hiện hữu của tên riêng;
rằng sự hiện hữu của thành phần cấu trúc cụm từ được giải thích bởi thực tế là
“tất cả những thước đo tự nhiên về độ phức tạp của al-gô-rít – kích thước của
bảng máy, độ dài tính toán, thời gian và không gian cần thiết cho tính toán –
đều dẫn đến . . . kết quả”; rằng những hệ thống cấu trúc cụm từ đem cho “những
al-gô-rít ‘đơn giản nhất’ cho hầu hết mọi hệ thống máy cômputơ”, do đó cũng
“dành cho những ‘hệ thống máy cômputơ’ phát triển tự nhiên”; và không có gì
đáng ngạc nhiên khi thực tế là những ngôn ngữ đều có quy luật viết tắt.
Mỗi kết luận trong số ba kết
luận đều liên quan với một giả định sai lầm. Từ thực tế là một hệ thống cấu
trúc cụm từ chứa những tên riêng, người ta hầu như không thể kết luận gì về
những phân loại khác của nó. Trong thực tế, hiện tại có nhiều tranh luận về
những thuộc tính tổng quát của hệ thống cấu trúc cụm từ cơ bản dành cho ngôn
ngữ tự nhiên; tranh chấp ít nhất không được giải quyết bằng sự hiện hữu của tên
riêng.
Với điểm thứ hai, điều đơn
giản là không đúng khi cho rằng tất cả những thước đo về độ phức tạp và tốc độ
tính toán đều dẫn đến những quy luật cấu trúc cụm từ là “al-gô-rít đơn giản
nhất có thể”. Những kết quả hiện có duy nhất ngay cả có liên quan gián tiếp cho
thấy rằng ngữ pháp cấu trúc-cụm từ không ngữ cảnh (một mô hình hợp lý cho những
quy luật tạo ra cấu trúc sâu, khi chúng ta loại trừ những đơn vị thông tin từ
vựng và những điều kiện phân phối vốn chúng đáp ứng) nhận được cách diễn giải
theo lý thuyết tự động dưới dạng lưu trữ đẩy xuống không xác định automata,
nhưng điều sau hầu như không là một khái niệm “tự nhiên” xét theo quan điểm
“tính đơn giản của al-gô-rít”, v.v. [19]
Trong thực tế, có thể biện luận rằng khái niệm tương tự nhưng không liên quan
chính thức về tự động hóa xác định theo thời gian thực thì “tự nhiên” hơn nhiều
về phương diện điều kiện thời gian và không gian trong tính toán.[20]
Tuy nhiên, việc theo đuổi đề
tài này là vô nghĩa, bởi vì điều đang bị đe dọa không là tính “đơn giản” của
ngữ pháp cấu trúc-cụm từ nhưng là ngữ pháp chuyển đổi với thành phần cấu trúc
cụm từ đóng vai trò tạo ra những cấu trúc sâu. Và hoàn toàn không có khái niệm
toán học nào về “dễ tính toán” hay “tính đơn giản của al-gô-rít” ngay cả còn đề
nghị mơ hồ rằng những hệ thống như vậy có thể có một số lợi thế so với những loại
máy tự động đã được thực sự nghiên cứu theo quan điểm này – thí dụ, automata
với trạng thái hữu hạn, automata với giới hạn tuyến tính, v.v. Khái niệm cơ bản
của “hoạt động tùy thuộc vào cấu trúc” ngay cả đã chưa từng bao giờ được xem
xét trong một khái niệm toán học chặt chẽ. Nguồn gốc của sự lẫn lộn này là một
quan niệm sai lầm của Putnam về bản chất của sự biến đổi ngữ pháp. Chúng không
là những quy luật “viết tắt” câu; đúng hơn, chúng là những hoạt động hình thành
những cấu trúc ngoài mặt từ những cấu trúc sâu bên dưới, theo những cách như
được minh họa trong bài giảng trước và những tài liệu tham khảo được trích dẫn
ở đó. [21]
Do đó, để cho thấy rằng những ngữ pháp chuyển đổi là “đơn giản nhất có thể có”,
người ta sẽ phải chứng minh rằng hệ thống máy cômputơ “tối ưu” sẽ lấy một chuỗi
ký hiệu làm input và xác định cấu
trúc ngoài mặt, cấu trúc sâu bên dưới của nó và chuỗi những phép biến đổi cú
pháp có liên quan với chúng. Không có gì thuộc loại này được cho thấy; trong
thực tế, ngay cả câu hỏi thì chưa bao giờ được nêu lên.
Putnam biện luận rằng ngay cả
khi tìm ra những đồng nhất đáng kể giữa những ngôn ngữ, thì sẽ có một cách giải
thích đơn giản hơn giả thuyết về một ngữ pháp phổ quát bẩm sinh, cụ thể là
nguồn gốc chung của chúng. Nhưng nêu lên này liên quan với một hiểu lầm nghiêm
trọng về vấn đề đang bàn luận. Ngữ pháp của một ngôn ngữ phải được khám phá từ
dữ liệu đã được đem cho đứa trẻ. Như đã ghi nhận trước đó, vấn đề thực nghiệm
là tìm ra một giả thuyết về cấu trúc ban đầu đủ phong phú để giải thích sự kiện
rằng một ngữ pháp riêng biệt được trẻ xây dựng, nhưng không quá phong phú đến
mức bị làm sai lệch bởi tính đa dạng đã biết của ngôn ngữ. Những câu hỏi về
nguồn gốc chung có tiềm năng liên quan với vấn đề thực nghiệm này chỉ ở một phương diện: nếu những ngôn ngữ hiện
tại không là một “mẫu hợp lý” của “những ngôn ngữ có thể có” thì chúng ta có
thể bị dẫn đến sai lầm khi nêu lên một lược đồ quá hẹp cho ngữ pháp phổ quát.
Tuy nhiên, như tôi đã nhắc đến trước đó, vấn đề thực nghiệm vốn chúng ta gặp phải
ngày nay là chưa ai có thể nghĩ ra một giả thuyết ban đầu đủ phong phú để giải
thích cho việc đứa trẻ tiếp nhận được ngữ pháp vốn rõ ràng là chúng ta đã dẫn
đến gán cho nó. khi chúng ta cố gắng giải thích khả năng dùng ngôn ngữ theo
cách thông thường của nó. Giả định về nguồn gốc chung không đóng góp gì vào
việc giải thích làm thế nào có thể đạt được thành tựu này. Nói tóm lại, ngôn
ngữ được “tái tạo” mỗi khi nó được học, và vấn đề thực nghiệm vốn lý thuyết về
học tập ngôn ngữ phải đối mặt là sự phát minh này của ngữ pháp này có thể diễn
ra như thế nào.[22]
Putnam thực sự đối mặt với vấn
đề này và đề nghị rằng có thể có “những phương sách học tập nhiều-mục đích tổng
quát” giúp đạt được thành tích này. Dĩ nhiên, đây là một câu hỏi thực nghiệm
liệu những thuộc tính của “khả năng ngôn ngữ” là biểu thị đặc điểm cho ngôn ngữ
hay chỉ đơn thuần là một trường hợp riêng biệt của những khả năng trí thức tổng
quát hơn nhiều (hay những phương sách học tập). Đây là một vấn đề đã được thảo
luận trước đó trong bài giảng này, một cách không thuyết phục và trong một nội
dung hơi khác. Putnam nhìn nhận rằng chỉ có “phương sách học tập” chung là mang
tính bẩm sinh nhưng không đưa ra cơ bản nào cho giả định thực nghiệm này. Như
tôi đã biện luận trước đó, có thể theo đuổi một phương pháp nghiên cứu giải
quyết phi giáo điều với vấn đề này vốn không cần dựa vào những giả định không
thể tranh luận thuộc loại này – nghĩa là qua việc khảo sát những lĩnh vực riêng
biệt của khả năng con người, chẳng hạn như ngôn ngữ, sau đó là cố gắng để đưa
ra một giả thuyết. sẽ giải thích cho sự phát triển của khả năng này. Nếu qua
khảo sát như vậy, chúng ta tìm ra rằng những “phương sách học tập” giống nhau
là đủ để giải thích cho sự phát triển khả năng trong những lĩnh vực khác nhau,
thì chúng ta sẽ có lý do để tin rằng giả định của Putnam là đúng. Nếu chúng ta
tìm ra rằng những cấu trúc bẩm sinh được giả định là khác nhau tùy theo từng
trường hợp, thì kết luận hợp lý duy nhất sẽ là một mô hình trí thức phải gồm
những “khả năng” riêng biệt với những thuộc tính duy nhất hay duy nhất một
phần. Tôi không thể hiểu làm thế nào vốn bất cứ ai có thể kiên quyết nhấn mạnh
trên kết luận này hay kết luận kia dựa trên những bằng chứng hiện có cho chúng
ta. Nhưng có một điều khá rõ ràng: Putnam không có lý do gì để biện minh cho
kết luận cuối cùng của mình, rằng “việc viện dẫn ‘Tính bẩm sinh’ chỉ làm trì
hoãn vấn đề học tập; nó không giải quyết được”. Việc viện dẫn một cách biểu thị
bẩm sinh của ngữ pháp phổ quát sẽ giải quyết được vấn đề học tập, nếu đúng rằng
đây là cơ bản cho sự tiếp thu ngôn ngữ, thì nó cũng có thể như vậy. Mặt khác,
nếu có những phương sách học tập chung nhằm đạt được kiến thức ngữ pháp, thì
việc đưa ra một ngữ pháp phổ quát bẩm sinh sẽ không “trì hoãn” vấn đề học tập
vốn thay vào đó sẽ đưa ra một giải pháp không chính xác cho vấn đề này. Vấn đề
này là vấn đề thực nghiệm về sự thật hay giả, không là vấn đề phương pháp luận
về những trạng thái khảo sát. [23]
Tóm lại, với tôi, có vẻ như cả
Goodman và Putnam đều không đưa ra một biện luận phản biện nghiêm chỉnh nào với
những nêu lên liên quan với cấu trúc tâm lý bẩm sinh đã được nâng cao (dĩ nhiên
là tạm thời, phù hợp với những giả thuyết thực nghiệm) hay nêu lên một phương
pháp nghiên cứu giải quyết thay thế hợp lý, với nội dung thực nghiệm, để giải quyết
vấn đề này. vấn đề tiếp nhận kiến thức.
Giả định độ chính xác đại khái
của những kết luận vốn ngày nay có vẻ hợp lý, thật hợp lý khi cho rằng ngữ pháp
phát sinh là một hệ thống gồm hàng trăm quy luật thuộc nhiều loại khác nhau,
được tổ chức theo những nguyên tắc cố định nhất định về trật tự và khả năng áp
dụng và chứa đựng một cấu trúc con cố định nhất định. cùng với những nguyên tắc
tổ chức chung, là chung cho tất cả những ngôn ngữ. Không có một “tính tự nhiên”
tiên nghiệm nào với một hệ thống như vậy, cũng như không có cấu trúc chi tiết
nào của vỏ não thị giác. Không ai từng suy nghĩ nghiêm chỉnh về vấn đề dạng
thức hóa những thủ tục quy nạp hay “những phương pháp heuristic” lại có thể đặt
nhiều hy vọng rằng một hệ thống như một ngữ pháp phát sinh có thể được xây dựng
bằng những phương pháp tổng quát.
Theo hiểu biết của tôi, nêu
lên thực chất duy nhất để giải quyết vấn đề tiếp nhận kiến thức ngôn ngữ là
quan niệm duy lý vốn tôi đã vạch ra. Nhắc lại: Giả định rằng chúng ta gán cho
não thức , như một thuộc tính bẩm sinh, Lý thuyết tổng quát về ngôn ngữ vốn
chúng ta gọi là “ngữ pháp phổ quát”. Lý thuyết này gồm những nguyên tắc vốn tôi
đã thảo luận trong bài giảng trước và nhiều nguyên tắc khác cùng loại, và nó
chỉ rõ một hệ thống con quy luật nhất định đem cho cấu trúc khung cho bất kỳ
ngôn ngữ nào và nhiều điều kiện khác nhau, dạng thức và nội dung, vốn bất kỳ sự
phát triển thêm nào ngữ pháp phải đáp ứng. Do đó, lý thuyết về ngữ pháp phổ
quát đem cho một lược đồ vốn bất kỳ ngữ pháp riêng biệt nào cũng phải tuân
theo. Hơn nữa, Giả định rằng chúng ta có thể làm cho lược đồ này đủ giới hạn để
rất ít ngữ pháp phù hợp với lược đồ sẽ phù hợp với dữ liệu ít ỏi và thoái hóa
thực sự có sẵn cho người học ngôn ngữ. Khi đó, nhiệm vụ của người này là tìm
kiếm trong số những ngữ pháp có thể có và chọn ra một ngữ pháp không bị dữ liệu
có sẵn chắc chắn bác bỏ. Điều vốn người học ngôn ngữ phải đối mặt, theo những
giả định này, không là nhiệm vụ bất có thể có được trong việc phát minh ra một
lý thuyết có cấu trúc phức tạp và trừu tượng cao trên cơ bản dữ liệu suy biến,
nhưng là nhiệm vụ dễ quản lý hơn nhiều là xác định xem những dữ liệu này thuộc
về cái này hay cái khác của một ngôn ngữ. tập hợp những ngôn ngữ tiềm năng khá
giới hạn.
Sau đó, nhiệm vụ của nhà tâm
lý học được chia thành nhiều nhiệm vụ nhỏ. Đầu tiên là khám phá lược đồ bẩm
sinh biểu thị đặc điểm cho lớp ngôn ngữ tiềm năng – xác định “bản chất” của
ngôn ngữ con người. Nhiệm vụ phụ này thuộc về nhánh tâm lý con người được gọi
là ngữ học; đó là vấn đề của ngữ pháp phổ quát truyền thống, của lý thuyết ngôn
ngữ đương thời. Nhiệm vụ phụ thứ hai là nghiên cứu chi tiết về thuộc tính thực
tế của sự kích thích và sự tác động qua lại giữa sinh vật và môi trường để đưa
hệ thống phân tích và lựa chọn nhận thức bẩm sinh vào hoạt động. Đây là một
nghiên cứu hiện đang được thực hiện bởi một số nhà tâm lý học và nó đặc biệt
tích cực ngay tại Berkeley. Nó đã dẫn đến những kết luận đáng chú ý và mang
tính đề nghị. Người ta có thể hy vọng rằng nghiên cứu như vậy sẽ vén lên cho
thấy một chuỗi những giai đoạn trưởng thành, cuối cùng dẫn đến một ngữ pháp
phát sinh đầy đủ.[24]
Nhiệm vụ thứ ba là xác định ý
nghĩa của một giả thuyết về ngữ pháp phát sinh của một ngôn ngữ là “nhất quán”
với dữ liệu về ý nghĩa. Lưu ý rằng sẽ là một sự đơn giản hóa quá mức nếu Giả
định rằng một đứa trẻ phải khám phá một ngữ pháp tổng quát có tính đến tất cả
dữ liệu ngôn ngữ đã được đem cho cho nó và “chiếu” dữ liệu đó vào vô số quan hệ
âm thanh-ý nghĩa nằm chìm bên dưới. Ngoài việc đạt được điều này, người này
cũng phải phân biệt dữ liệu của ý nghĩa thành những lời nói-viết đưa ra bằng
chứng trực tiếp về đặc điểm của ngữ pháp cơ bản và những dữ liệu phải bị bác bỏ
bởi giả thuyết vốn người này chọn là không đúng dạng thức, sai lệch, rời rạc và
sớm. Rõ ràng, mọi người đều thành công trong việc thực hiện nhiệm vụ phân biệt
này – tất cả chúng ta đều biết, trong giới hạn nhất quán có thể chấp nhận được,
câu nào được hình thành tốt và có thể giải thích theo nghĩa đen, và câu nào phải
được hiểu là ẩn dụ, rời rạc và lệch lạc theo nhiều chiều có thể. Tôi nghi ngờ
rằng nó đã được thẩm định giá trị đầy đủ ở mức độ nào, điều này làm phức tạp
vấn đề tính toán sự tiếp thu ngôn ngữ. Nói một cách chính thức, người học phải
chọn một giả thuyết liên quan với ngôn ngữ vốn người này tiếp xúc để bác bỏ
phần lớn dữ liệu vốn giả thuyết này dựa vào. Một lần nữa, thật hợp lý khi cho
rằng điều này chỉ có thể thực hiện được nếu phạm vi của những giả thuyết có thể
dùng được là khá giới hạn – nếu lược đồ bẩm sinh của ngữ pháp phổ quát có tính
giới hạn cao. Sau đó, nhiệm vụ phụ thứ ba là nghiên cứu những gì chúng ta có
thể coi như vấn đề “xác nhận” – trong nội dung này, vấn đề về quan hệ nào phải
có giữa một ngữ pháp tiềm năng và một tập hợp dữ liệu để ngữ pháp này được xác
nhận là lý thuyết thực tế của ngôn ngữ được nhắc đến.
Tôi đã mô tả vấn đề tiếp nhận
kiến thức ngôn ngữ theo những từ ngữ quen thuộc hơn trong nội dung nhận thức
luận hơn là nội dung tâm lý, nhưng tôi nghĩ rằng điều này khá phù hợp. Nói một
cách chính thức, việc tiếp nhận “kiến thức thông thường” – thí dụ như kiến thức
của một ngôn ngữ – không khác gì việc xây dựng lý thuyết thuộc loại trừu tượng
nhất. Giả thuyết về sự phát triển trong tương lai của môn học, với tôi, dường
như không có khả năng xảy ra, vì những lý do tôi đã nhắc đến, rằng lý thuyết
học tập sẽ tiến triển bằng thiết lập một tập hợp những giả thuyết có thể được
xác định một cách bẩm sinh, xác định những điều kiện tác động qua lại khiến não
thức đưa ra. những giả thuyết từ tập hợp này và ấn định những điều kiện theo đó
một giả thuyết như vậy được xác nhận – và, có lẽ, theo đó phần lớn dữ liệu bị
bác bỏ vì không liên quan vì lý do này hay lý do khác.
Cách mô tả hoàn cảnh như vậy
không quá ngạc nhiên với những người quen thuộc với lịch sử tâm lý học tại
Berkeley, nơi vốn xét cho cùng, Edward Tolman đã đặt tên cho tòa nhà tâm lý
học; nhưng tôi muốn nhấn mạnh rằng những giả thuyết vốn tôi đang thảo luận khác
biệt về phương diện chất lượng về độ phức tạp và phức tạp với bất kỳ những gì
đã được xem xét trong những thảo luận cổ điển về học tập. Như tôi đã nhấn mạnh
nhiều lần, dường như có rất ít sự tương đồng có ích giữa lý thuyết ngữ pháp vốn
một người đã tiếp nhận và lý thuyết đó đem cho nền tảng cho việc dùng ngôn ngữ
thông thường, sáng tạo của người này và bất kỳ hệ thống nhận thức nào khác cho
đến nay vẫn bị cô lập. và mô tả; tương tự như vậy, có rất ít sự tương tự có ích
giữa lược đồ ngữ pháp phổ quát vốn tôi tin rằng chúng ta phải gán cho não thức
như một thuộc tính bẩm sinh và bất kỳ hệ thống tổ chức tâm lý nào khác đã biết.
Rất có thể việc thiếu tính tương tự chứng tỏ sự thiếu hiểu biết của chúng ta về
những phương diện khác của chức
năng tâm lý, hơn là sự độc đáo tuyệt đối của cấu trúc ngôn ngữ; nhưng thực tế
là hiện tại chúng ta không có lý do khách quan nào để cho rằng điều này là
đúng.
Cách tôi mô tả sự tiếp nhận
kiến thức ngôn ngữ gợi nhớ đến một bài giảng rất đáng chú ý và khá bị bỏ quên
của Charles Sanders Peirce hơn 50 năm trước, trong đó ông đã phát triển một số
quan niệm khá giống nhau về sự tiếp nhận kiến thức trong tổng quát. [25] Peirce biện luận rằng giới hạn chung của óc thông minh con người hẹp
hơn nhiều so với những gì có thể được nêu lên bởi những giả định lãng mạn về
khả năng hoàn hảo vô hạn của con người (hay, vì vấn đề đó, được nêu lên bởi
những quan niệm “thực dụng” của chính ông về tiến trình tiến bộ khoa học trong
nghiên cứu triết học nổi tiếng hơn của ông). Ông cho rằng những giới hạn bẩm
sinh với những giả thuyết có thể chấp nhận được là điều kiện tiên quyết để xây
dựng lý thuyết thành công và “bản năng đoán” đưa ra những giả thuyết chỉ dùng
những tiến trình quy nạp cho “hành động khắc phục”.
Peirce khẳng định trong bài
giảng này rằng lịch sử của khoa học sơ khai cho thấy rằng một gì đó gần đúng
với một lý thuyết đúng đã được tìm ra một cách dễ dàng và nhanh chóng đáng kể,
trên cơ bản dữ liệu rất thiếu sót, ngay khi gặp phải một số vấn đề nhất định;
ông Lưu ý rằng “có rất ít những phỏng đoán vốn những thiên tài vượt trội phải
thực hiện trước khi họ đoán đúng những quy luật tự nhiên”. Và ông hỏi, “Làm thế
nào vốn người đó lại có khuynh hướng tin vào lý thuyết đúng đắn đó? Bạn không
thể nói rằng điều đó xảy ra một cách tình cờ, bởi vì khả năng xảy ra quá lớn
với một lý thuyết đúng đắn duy nhất sáng sủa hai mươi hay ba mươi nghìn năm vốn
con người là một động vật có suy nghĩ, từng xuất hiện trong đầu bất kỳ ai”.
Ngoài ra, khả năng ngay cả còn lớn hơn là chống lại lý thuyết thực sự của từng
ngôn ngữ từng xuất hiện trong đầu mọi đứa trẻ bốn tuổi. Tiếp tục với Peirce:
“não thức của con người có khả năng thích ứng tự nhiên với việc tưởng tượng ra
một số loại lý thuyết đúng đắn. . . Nếu con người không có năng khiếu về não
thức thích ứng với yêu cầu của mình thì người này sẽ không thể thu được bất kỳ
kiến thức nào”. Tương ứng, trong trường hợp hiện tại của chúng ta, có vẻ như
kiến thức của một ngôn ngữ – một ngữ pháp – chỉ có thể đạt được bởi một sinh
vật được “định sẵn” với những giới hạn nghiêm ngặt về dạng thức ngữ pháp. Giới
hạn bẩm sinh này là điều kiện tiên quyết, theo nghĩa Kant, với kinh nghiệm ngôn
ngữ, và nó xem có vẻ là yếu tố quan trọng trong việc xác định tiến trình và kết
quả của việc học ngôn ngữ. Khi mới sinh ra, đứa trẻ không thể biết mình sẽ học
ngôn ngữ nào, nhưng nó phải biết rằng ngữ pháp của ngôn ngữ đó phải thuộc một
dạng được xác định trước và loại trừ nhiều ngôn ngữ có thể tưởng tượng được.
Sau khi lựa chọn một giả thuyết được phép, người này có thể dùng bằng chứng quy
nạp để thực hiện hành động khắc phục, xác nhận hay bác bỏ lựa chọn của mình.
Một khi giả thuyết đã được xác nhận đầy đủ, đứa trẻ sẽ biết ngôn ngữ được xác
định bởi giả thuyết này; do đó, kiến thức của người này vượt xa kinh nghiệm của
người này và, trong thực tế, khiến người này coi phần lớn dữ liệu kinh nghiệm
là thiếu xót và lệch lạc.
Peirce coi những tiến trình
quy nạp là khá ngoài lề với sự tiếp nhận kiến thức; theo cách nói của ông, “Quy
nạp không có tính độc đáo vốn chỉ kiểm tra một đề nghị đã được đưa ra”. Để hiểu
cách thu thập kiến thức, theo quan điểm duy lý vốn Peirce đã vạch ra, chúng ta
phải thâm nhập vào những bí ẩn của những gì vốn ông gọi là “suy luận nắm bắt”,
và chúng ta phải khám phá ra điều “đưa ra quy luật cho việc suy luận nắm bắt và
do đó đặt ra giới hạn cho những giả thuyết có thể chấp nhận được”. Peirce khẳng
định rằng việc tìm kiếm những nguyên tắc suy luận nắm bắt dẫn chúng ta đến việc
nghiên cứu những ý tưởng bẩm sinh, vốn đem cho cấu trúc bản năng cho óc thông
minh của con người. Nhưng Peirce không là người theo thuyết nhị nguyên theo
nghĩa của Descartes; ông biện luận (theo ý kiến của tôi không thuyết phục lắm)
rằng có một sự tương đồng đáng kể giữa óc thông minh của con người, với những
giới hạn bắt chước của nó, và bản năng động vật. Vì vậy, ông khẳng định rằng
con người đã khám phá ra một số lý thuyết đúng đắn chỉ vì “bản năng của người
này ngay từ đầu hẳn đã có những khuynh hướng nhất định để suy nghĩ thực sự” về
một số vấn đề riêng biệt; tương tự, “Bạn không thể nghiêm chỉnh nghĩ rằng mỗi
con gà con mới nở đều phải lục lọi tất cả những lý thuyết có thể có cho đến khi
nảy ra ý tưởng hay là nhặt thứ gì đó lên và ăn nó. Ngược lại, bạn cho rằng con
gà có ý tưởng bẩm sinh để làm việc này; nghĩa là nó có thể nghĩ về điều này,
nhưng không có khả năng suy nghĩ những gì khác. . . Nhưng nếu bạn định nghĩ
rằng mọi con gà tội nghiệp đều có khuynh hướng bẩm sinh hướng tới một chân lý
tích cực, thì tại sao bạn lại nghĩ chỉ riêng con người món quà này lại bị từ
chối?”
Không ai đã nhận thách thức
của Peirce để phát triển một lý thuyết về suy luận nắm bắt, để xác định những
nguyên tắc giới hạn những giả thuyết có thể chấp nhận được hay trình bày chúng
theo một trật tự nhất định. Ngay cả ngày nay, đây vẫn là một nhiệm vụ cho tương
lai. Đó là một nhiệm vụ không cần phải thực hiện nếu học thuyết tâm lý học theo
thuyết kinh nghiệm có thể được
chứng minh; do đó, điều quan trọng là phải đưa học thuyết này vào phân tích hợp
lý, như đã được thực hiện một phần trong nghiên cứu ngôn ngữ. Tôi muốn nhắc lại
rằng đó là công lao to lớn của ngôn ngữ học cấu trúc, cũng như lý thuyết học
tập của Hullian trong những giai đoạn đầu của nó và của một số sự phát triển
thời nay khác, đã đưa ra dạng thức chính xác cho một số giả định theo thuyết kinh nghiệm nhất định. [26]
Khi bước này được thực hiện, Sự thiết xót của những hệ thống phân tích và lựa
chọn được đưa ra đã được chứng minh rõ ràng, và, ít nhất là trong trường hợp
ngôn ngữ, chúng ta ngay cả có thể bắt đầu hiểu tại sao bất kỳ phương pháp nào
thuộc loại này đều phải thất bại – thí dụ, vì trên nguyên tắc, chúng không thể
đem cho những thuộc tính cấu trúc sâu và những hoạt động trừu tượng của ngữ
pháp dạng thức. Giả thuyết về tương lai, tôi nghĩ không có khả năng là đặc điểm
giáo điều của khung cấu trúc khái niệm thuyết
kinh nghiệm tổng quát và sự thiết xót của nó với óc thông minh của con người và
loài vật sẽ dần dần trở nên rõ ràng hơn dưới dạng những nhận thức riêng biệt,
chẳng hạn như ngữ học phân loại, lý thuyết học tập theo thuyết hành vi và những mô hình nhận thức. ,[27]
những phương pháp heuristic, và “những phương pháp giải quyết vấn đề tổng quát”
của những người đam mê “trí thức nhân tạo” đầu tiên, liên tiếp bị bác bỏ trên
cơ bản thực nghiệm khi chúng được làm chính xác và trên cơ bản trống rỗng khi
chúng bị bỏ mặc mơ hồ. Và – Giả định dự đoán này là chính xác – thì sẽ có thể thực
hiện một nghiên cứu tổng quát về giới hạn và khả năng của óc thông minh con
người, để phát triển một lôgích suy luận nắm bắt theo Peirce.
Tâm lý học thời nay không
thiếu những sáng kiến như vậy. Nghiên cứu thời nay về ngữ pháp phát sinh và cấu
trúc nền tảng phổ quát cũng như những nguyên tắc quản lý của nó là một trong
những biểu hiện như vậy. Liên quan chặt chẽ là nghiên cứu về cơ bản sinh học
của ngôn ngữ con người, một nghiên cứu vốn Eric Lenneberg đã có những đóng góp
đáng kể. [28]
Thật thu hút khi thấy sự phát triển song song trong công trình rất quan trọng
của Piaget và những người khác quan tâm đến “nhận thức luận di truyền”, nhưng
Tôi không chắc chắn rằng điều này là chính xác. Chẳng hạn, tôi không rõ những
gì vốn Piaget lấy làm cơ bản cho sự chuyển đổi từ một trong những giai đoạn vốn
ông ấy thảo luận sang giai đoạn tiếp theo, cao hơn. Hơn nữa, có một khả năng
được nêu lên bởi công trình gần đây của Mehler và Bever, [29]
rằng những kết quả nổi tiếng xứng đáng về bảo tồn nói riêng có thể không chứng minh
được những giai đoạn phát triển trí thức liên tiếp theo nghĩa được thảo luận
bởi Piaget và những đồng nghiệp của ông, nhưng một những gì đó khá khác biệt.
Nếu những kết quả sơ bộ của Mehler và Bever là đúng, thì “giai đoạn cuối cùng”
trong đó việc bảo tồn được hiểu một cách đúng đắn đã được thực hiện ở giai đoạn
phát triển rất sớm. Sau đó, đứa trẻ phát triển một kỹ thuật heuristic phần lớn
phù hợp nhưng lại thất bại trong những điều kiện của thí nghiệm bảo toàn. Sau
đó, ông đã điều chỉnh thành công kỹ thuật này và một lần nữa đưa ra những phán
đoán chính xác trong thí nghiệm bảo toàn. Nếu phân tích này đúng thì những gì
chúng ta đang nhận xét không là sự nối tiếp nhau của những giai đoạn phát triển
trí thức, theo nghĩa của Piaget, nhưng là sự tiến bộ chậm chạp trong việc đưa
những kỹ thuật heuristic phù hợp với những khái niệm chung luôn tồn tại. Đây là
những lựa chọn thay thế đáng chú ý; dù thế nào đi nữa, kết quả có thể có những
tác động quan trọng với những đề tài vốn chúng ta đang xem xét.
Tôi nghĩ, điểm còn rõ ràng hơn
nữa là những phát triển trong hành vi động vật học so sánh trong ba mươi năm
qua, và một số công trình nghiên cứu hiện nay về tâm lý học thực nghiệm và sinh
lý học. Người ta có thể trích dẫn nhiều thí dụ: thí dụ, trong loại sau, tác
phẩm của Bower đề nghị một cơ bản bẩm sinh cho những hằng số nhận thức; những
nghiên cứu tại phòng thí nghiệm linh trưởng Wisconsin về hệ thống phân tích và
lựa chọn giải phóng bẩm sinh phức tạp ở khỉ rhesus; công trình của Hubel,
Barlow và những người khác về hệ thống phân tích và lựa chọn phân tích đặc biệt
cao ở trung tâm vỏ não phía dưới của động vật có vú; và một số nghiên cứu có
thể so sánh về những sinh vật bậc thấp (thí dụ, công trình tuyệt diệu của
Lettvin và những cộng sự của ông về tầm nhìn của ếch). Hiện nay có bằng chứng
xác đáng từ những nghiên cứu như vậy cho thấy nhận thức về đường thẳng, góc,
chuyển động và những tính chất phức tạp khác của thế giới vật chất đều dựa trên
tổ chức bẩm sinh của hệ thần kinh.
Ít nhất trong một số trường
hợp, những cấu trúc gắn liền này sẽ thoái hóa trừ khi có sự kích thích thích
hợp ở giai đoạn đầu đời, nhưng mặc dù kinh nghiệm đó là cần thiết để cho phép
những hệ thống phân tích và lựa chọn bẩm sinh hoạt động, không có lý do gì để
tin rằng nó có nhiều hơn thế. tác động biên đến việc xác định cách chúng hoạt
động để tổ chức kinh nghiệm. Hơn nữa, không có gì cho thấy những gì đã được
khám phá cho đến nay nằm gần giới hạn về độ phức tạp của những cấu trúc bẩm
sinh. Những kỹ thuật cơ bản để khám phá những hệ thống phân tích và lựa chọn
thần kinh chỉ mới có vài năm và không thể dự đoán mức độ riêng biệt và phức tạp
sẽ được chứng minh khi chúng được áp dụng rộng rãi. Hiện tại, có vẻ như hầu hết
những sinh vật phức tạp đều có những dạng tổ chức cảm giác và nhận thức đặc
biệt cao gắn liền với Umwelt và cách sống của sinh vật đó. Có rất ít lý do để
nghi ngờ rằng những gì đúng với những sinh vật bậc thấp cũng đúng với con
người. Đặc biệt trong trường hợp ngôn ngữ, người ta mong đợi một quan hệ chặt
chẽ giữa những thuộc tính bẩm sinh của suy nghĩ và những đặc điểm của cấu trúc
ngôn ngữ; vì ngôn ngữ xét cho cùng không tồn tại ngoài sự biểu hiện tâm lý của
nó. Bất kỳ thuộc tính nào vốn nó có đều phải là những thuộc tính được trao cho
nó bởi những tiến trình trí thức bẩm sinh của sinh vật đã phát minh ra nó và
phát minh ra nó một lần nữa sau mỗi thế hệ tiếp theo, cùng với bất kỳ thuộc
tính nào gắn liền với những điều kiện dùng nó. Một lần nữa, vì lý do này, có vẻ
như ngôn ngữ nên là một dụng cụ thăm dò rõ ràng nhất để khám phá tổ chức của
những tiến trình tâm lý.
Chuyển sang hành vi động vật
học so sánh, thật đáng chú ý khi Lưu ý rằng một trong những động lực sớm nhất
của nó là hy vọng rằng qua “việc nghiên cứu về tiên nghiệm, về những giả thuyết
hoạt động bẩm sinh hiện diện trong những sinh vật dưới con người”, người ta có
thể làm sáng tỏ về một hành vi động vật học so sánh. những dạng thức suy nghĩ
tiên nghiệm của con người. Cách trình bày ý định này được trích dẫn từ một bài
viết ban đầu và ít được biết đến của Konrad Lorenz. [30]
Lorenz tiếp tục bày tỏ những quan điểm rất giống với những quan điểm vốn Peirce
đã bày tỏ một thế hệ trước đó. Ông duy trì:
Một người
quen thuộc với những phương thức phản ứng bẩm sinh của những sinh vật dưới nhân
loại có thể dễ dàng đưa ra giả thuyết rằng tiên nghiệm là do sự khác biệt di
truyền của hệ thần kinh trung ương đã trở thành biểu thị đặc điểm của loài, tạo
ra những khuynh hướng di truyền để suy nghĩ dưới những dạng thức nhất định. . .
Chắc chắn Hume đã sai khi ông muốn lấy ra tất cả những gì tiên nghiệm từ những gì
vốn những giác quan đem cho cho kinh nghiệm, cũng sai như Wundt hay Helmholtz,
những người chỉ giải thích nó như một sự trừu tượng từ kinh nghiệm trước đó. Sự
thích ứng của tiên nghiệm với thế giới thực không bắt nguồn từ “kinh nghiệm”
hơn là sự thích ứng của vây cá với những thuộc tính của nước. Giống như hình
dạng của vây được đưa ra một cách tiên nghiệm, trước bất kỳ sự giao dịch cá
nhân nào của cá con với nước, và cũng giống như dạng thức này tạo nên sự giao
dịch này, những dạng thức nhận thức và cảm nhận của chúng ta cũng vậy. những
phân loại trong quan hệ của chúng với sự giao dịch của chúng ta với thế giới
thực bên ngoài qua kinh nghiệm. Trong trường hợp loài vật, chúng ta nhận thấy
những giới hạn riêng biệt với những dạng thức kinh nghiệm có thể có với chúng.
Chúng ta tin rằng chúng ta có thể chứng minh quan hệ di truyền và chức năng gần
gũi nhất giữa loài động vật tiên nghiệm này và con người tiên nghiệm của chúng
ta. Ngược lại với Hume, chúng ta tin, giống như Kant, rằng một khoa học “thuần
túy” về những dạng suy nghĩ bẩm sinh của con người, độc lập với mọi kinh
nghiệm, là có thể thực hiện được.
Theo hiểu biết của tôi, Peirce
là người độc đáo và duy nhất trong việc nhấn mạnh vấn đề nghịên cứu những quy
luật giới hạn loại lý thuyết có thể có được. Dĩ nhiên, khái niệm suy luận nắm
bắt của ông, giống như khái niệm tiên nghiệm sinh học của Lorenz, mang đậm
hương vị Kant, và tất cả đều xuất phát từ tâm lý duy lý vốn quan tâm đến những
dạng thức, giới hạn và nguyên tắc đem cho “những gân và mối liên hệ” cho con
người. tư tưởng đó làm nền tảng cho “lượng kiến thức vô hạn vốn không phải lúc
nào chúng ta cũng ý thức được” vốn Leibnitz đã nói. Do đó, điều hoàn toàn tự
nhiên là chúng ta nên liên kết những sự phát triển này với sự hồi sinh của ngữ
pháp triết học, phát triển từ cùng một mảnh đất như một cố gắng để khá hiệu quả
và chính đáng nhằm khám phá một phương
diện cơ bản của trí thức con người.
Trong thảo luận gần đây, những
mô hình và nhận xét bắt nguồn từ hành vi động vật học thường được coi như đem
cho hỗ trợ sinh học, hay ít nhất là tương tự, cho những phương pháp phương pháp
nghiên cứu giải quyết mới trong nghiên cứu óc thông minh của con người. Tôi
trích dẫn những nhận xét này của Lorenz chủ yếu để chứng tỏ rằng tài liệu tham
khảo này không làm sai lệch quan điểm của ít nhất một số người sáng lập lĩnh
vực tâm lý học so sánh này.
Cần phải thận trọng một lời khi
nhắc đến Lorenz, giờ đây người này đã được Robert Ardrey và Joseph Alsop tìm ra
và được phổ biến như một nhà tiên tri về sự diệt vong. Với tôi, có vẻ như quan
điểm của Lorenz về sự hung hãn của con người đã được một số người trình bày của
ông mở rộng đến mức gần như vô lý. Không còn nghi ngờ gì nữa, có những khuynh
hướng bẩm sinh trong cấu tạo tâm linh con người dẫn đến sự hung hăng trong
những điều kiện văn hóa và xã hội riêng biệt. Nhưng có rất ít lý do để cho rằng
những khuynh hướng này chiếm ưu thế đến mức khiến chúng ta mãi mãi chao đảo bên
bờ vực của một cuộc chiến tranh Hobbesian chống lại tất cả – vì, tình cờ thay,
Lorenz ít nhất cũng nhận thức đầy đủ, nếu tôi đọc đúng. Thuyết hoài nghi chắc chắn sẽ xuất hiện khi học thuyết về “sự
hung hăng cố hữu” của con người xuất hiện trong một xã hội đề cao tính cạnh
tranh, trong một nền văn minh nổi bật bởi sự tàn bạo của cuộc tấn công vốn nó
gây ra nhằm vào những dân tộc kém may mắn hơn. Công bằng vốn nói thì sự nhiệt
tình với quan điểm tò mò này về bản chất con người là do thực tế và lôgích ở
mức độ nào và nó chỉ phản ảnh mức độ giới hạn vốn trình độ văn hóa trong tổng
quát đã tiến bộ kể từ thời Clive và những nhà thám hiểm người Bồ Đào Nha. đã
dạy ý nghĩa của sự tàn bạo thực sự cho những chủng tộc thấp kém cản đường họ.
Trong mọi trường hợp, tôi
không muốn những gì tôi đang nói bị nhầm lẫn với những cố gắng để hoàn toàn
khác nhằm làm sống lại một lý thuyết về bản năng con người. Với tôi, điều có vẻ
quan trọng trong đạo đức học là cố gắng để khám phá những thuộc tính bẩm sinh
quyết định cách thức tiếp nhận kiến thức và đặc điểm của kiến thức này. Quay
trở lại đề tài này, chúng ta phải xem xét một câu hỏi khác: làm thế nào não
thức con người có được cấu trúc bẩm sinh vốn chúng ta được dẫn dắt để gán cho
nó? Không quá ngạc nhiên khi Lorenz cho rằng đây đơn giản là vấn đề chọn lọc tự
nhiên. Peirce đưa ra một giả thuyết khá khác, biện luận rằng “thiên nhiên đã
bồi đắp cho não thức con người những ý tưởng vốn khi những ý tưởng này lớn lên
sẽ giống với cha của chúng, Tự nhiên”. Con người “được đem cho những tin tưởng
tự nhiên nhất định là đúng” bởi vì “những sự đồng nhất nhất định. . . ngự trị
khắp vũ trụ, và não thức lý luận tự nó là sản phẩm của vũ trụ này. Do đó, những
quy luật tương tự này, do sự tất yếu hợp lý, được tích hợp vào bản thể của
chính người này”. Ở đây, có vẻ như rõ ràng rằng biện luận của Peirce hoàn toàn
không có sức thuyết phục và nó mang lại rất ít sự cải thiện so với sự hài hòa
đã được thiết lập trước vốn nó được cho là có ý định thay thế. Việc não thức là
sản phẩm của những quy luật tự nhiên không có nghĩa là nó được trang bị để hiểu
những quy luật này hay phương pháp nghiên cứu giải quyết chúng bằng “suy luận
nắm bắt”. Sẽ không có khó khăn gì trong việc thiết kế một thiết bị (chẳng hạn
như prôgram Máy cômputơ) là sản phẩm của quy luật tự nhiên, nhưng, với dữ liệu
nhất định, sẽ dẫn đến bất kỳ lý thuyết vô lý tùy tiện nào để “giải thích” những
dữ liệu này.
Trong thực tế, những tiến
trình vốn não thức con người đạt được mức độ phức tạp hiện tại và dạng thức tổ
chức bẩm sinh riêng biệt của nó là một điều hoàn toàn bí ẩn, cũng giống như
những câu hỏi tương tự về tổ chức thể chất hay tâm lý của bất kỳ sinh vật phức
tạp nào khác. Hoàn toàn an toàn khi cho rằng sự phát triển này là do “chọn lọc
tự nhiên”, miễn là chúng ta nhận ra rằng khẳng định này không có cơ bản thực
chất, rằng nó chẳng có ý nghĩa gì hơn ngoài tin tưởng rằng có một số giải thích
theo thuyết tự nhiên cho những
hiện tượng này. Vấn đề giải thích sự phát triển tiến hóa, theo một cách nào đó,
khá giống vấn đề giải thích sự suy luận nắm bắt thành công. Những quy luật xác
định khả năng đột biến thành công và bản chất của những sinh vật phức tạp cũng
chưa được biết đến như những quy luật xác định sự lựa chọn những giả thuyết. [31]
Không có kiến thức về những quy luật xác định tổ chức và cấu trúc của những hệ
thống sinh học phức tạp, thì việc nghiên cứu cũng là vô nghĩa. hãy hỏi “xác
suất” để não thức con người đạt đến trạng thái hiện tại là bao nhiêu cũng như
khi tìm hiểu “xác suất” vốn một lý thuyết vật lý riêng biệt sẽ được phát minh
ra. Và, như chúng ta đã ghi nhận, thật là vô ích khi giả thuyết về những quy
luật học tập cho đến khi chúng ta có một số dấu hiệu về loại kiến thức nào có
thể đạt được – trong trường hợp ngôn ngữ, một số dấu hiệu về những giới hạn với
tập hợp những ngữ pháp tiềm năng.
Khi nghiên cứu sự tiến hóa của
não thức, chúng ta không thể đoán được ở mức độ nào có những lựa chọn thay thế có
thể có được về phương diện vật lý cho ngữ pháp phát sinh chuyển đổi, với một
sinh vật đáp ứng một số điều kiện vật lý khác biểu thị đặc điểm của con người.
Có thể hình dung là không có – hay rất ít – trong trường hợp đó, việc nói về sự
phát triển của khả năng ngôn ngữ là điều không cần thiết. Tuy nhiên, sự trống
rỗng của sự giả thuyết như vậy không liên quan cách này hay cách khác đến những
phương diện của vấn đề trí thức
có thể được theo đuổi một cách hợp lý. Với tôi, hiện tại, những phương diện này là những vấn đề được
minh họa trong trường hợp ngôn ngữ bằng việc nghiên cứu bản chất, cách dùng và
việc tiếp nhận khả năng ngôn ngữ .
Có một vấn đề cuối cùng đáng
được bình luận. Tôi đã dùng từ ngữ tâm
lý học một cách khá tự do, nhưng hoàn toàn không thành kiến với câu hỏi
những gì có thể là sự thực hiện vật lý của những hệ thống phân tích và lựa chọn
trừu tượng được mặc nhiên công nhận để giải thích những hiện tượng hành vi hay
sự tiếp nhận kiến thức. chúng ta không bị giới hạn, như Descartes, phải đưa ra
giả thuyết về thực thể thứ hai khi chúng ta tiến hành giải quyết những hiện
tượng không thể diễn đạt được dưới dạng vật chất đang chuyển động, theo nghĩa
của ông. Cũng không có ích gì khi theo đuổi câu hỏi về sự song hành giữa tâm
sinh lý trong liên hệ này. Một câu hỏi đáng chú ý là liệu hoạt động và sự tiến
hóa của não thức con người có thể được điều chỉnh trong khung cấu trúc khái
niệm giải thích vật lý, như quan niệm hiện nay, hay liệu có những nguyên tắc
mới, hiện chưa được biết đến, phải được viện dẫn, có lẽ những nguyên tắc chỉ
xuất hiện ở những mức độ cao hơn. của tổ chức hơn bây giờ có thể được đưa ra để
khảo sát thực tế. Tuy nhiên, chúng ta có thể khá chắc chắn rằng sẽ có một giải
thích vật lý cho những hiện tượng đang được nhắc đến, nếu chúng có thể được
giải thích, vì một lý do từ ngữ nhàm chán, riêng biệt là khái niệm “sự giải
thích vật lý” chắc chắn sẽ được mở rộng sang kết hợp bất cứ những gì được tìm
ra trong lĩnh vực này, chính xác như nó đã được mở rộng để chứa lực hấp dẫn và
lực điện từ, những hạt không có khối lượng, cũng như nhiều thực thể và tiến
trình khác có thể đã xúc phạm đến nhận thức chung của những thế hệ trước. Nhưng
có vẻ như rõ ràng rằng vấn đề này không cần phải trì hoãn việc nghiên cứu những
đề tài hiện đang được mở rộng để nghiên cứu, và dường như việc giả thuyết về
những vấn đề quá xa vời với sự hiểu biết hiện tại là vô ích.
Tôi đã cố gắng đề nghị rằng
việc nghiên cứu ngôn ngữ có thể rất tốt, như người ta thường cho là theo truyền
thống, mang lại một quan điểm hết sức thuận lợi cho việc nghiên cứu những tiến
trình tâm lý của con người. Phương diện sáng tạo của việc dùng
ngôn ngữ, khi được nghiên cứu một cách cẩn thận và tôn trọng sự thật, cho thấy
rằng những quan niệm hiện tại về thói quen và sự khái quát hóa, như những yếu
tố quyết định hành vi hay kiến thức, là khá thiết xót. Tính trừu tượng của cấu
trúc ngôn ngữ làm vững mạnh thêm kết luận này và nó đề nghị thêm rằng trong cả
nhận thức và học tập, não thức đóng vai trò tích cực trong việc xác định thuộc
tính của kiến thức thu được. Nghiên cứu thực nghiệm về những ngôn ngữ phổ quát
đã dẫn đến việc hình thành những giả thuyết có tính giới hạn cao và, tôi tin,
khá hợp lý liên quan với sự đa dạng có thể có của ngôn ngữ con người, những giả
thuyết góp phần vào cố gắng để phát triển một lý thuyết về sự tiếp nhận kiến
thức nhằm tạo ra vị trí thích hợp cho những ngôn ngữ nội tại. hoạt động tâm lý.
Với tôi, có vẻ như việc nghiên cứu ngôn ngữ nên chiếm một vị trí trung tâm
trong tâm lý học trong tổng quát.
Chắc chắn những câu hỏi cổ điển
về ngôn ngữ và não thức không nhận được giải pháp cuối cùng, hay ngay cả là đề
nghị về một giải pháp cuối cùng, từ công việc đang được tích cực theo đuổi ngày
nay. Tuy nhiên, những vấn đề này có thể được trình bày theo những cách mới và
được nhìn nhận dưới một góc độ mới. Với tôi, lần đầu tiên sau nhiều năm, có một
cơ hội thực sự nào đó để đạt được tiến bộ đáng kể trong việc nghiên cứu sự đóng
góp của não thức vào nhận thức và cơ bản bẩm sinh cho sự tiếp nhận kiến thức.
Tuy nhiên, ở nhiều phương diện,
chúng ta vẫn chưa thực hiện được phương pháp nghiên cứu giải quyết đầu tiên để
có được trả lời thực sự cho những bài toán cổ điển. Thí dụ, những vấn đề trọng
tâm liên quan với phương diện
sáng tạo của việc dùng ngôn ngữ vẫn không thể phương pháp nghiên cứu giải quyết
được như trước đây. Và việc nghiên cứu ngữ nghĩa phổ quát, chắc chắn rất quan
trọng với việc nghiên cứu đầy đủ về cấu trúc ngôn ngữ, hầu như không tiến triển
kể từ thời trung cổ. Nhiều lĩnh vực quan trọng khác có thể được nhắc đến ở
những lĩnh vực có tiến độ chậm hay không có. Đã có tiến bộ thực sự trong việc
nghiên cứu những hệ thống phân tích và lựa chọn của ngôn ngữ, những nguyên tắc
dạng thức giúp tạo ra phương diện
sáng tạo của việc dùng ngôn ngữ và quyết định dạng thức ngữ âm cũng như nội dung
ngữ nghĩa của những lời nói-viết . Sự hiểu biết của chúng ta về những hệ thống
phân tích và lựa chọn này, dù chỉ còn rời rạc, với tôi dường như có ý nghĩa
thực sự với việc nghiên cứu tâm lý con người. Bằng theo đuổi những loại nghiên
cứu hiện có vẻ có thể có được và bằng tập trung chú ý vào một số vấn đề hiện có
thể phương pháp nghiên cứu giải quyết được để nghiên cứu, chúng ta có thể trình
bày một cách chi tiết những tính toán phức tạp và trừu tượng xác định một phần
bản chất của nhận thức và thuộc tính của kiến thức vốn chúng ta có thể tiếp
nhận – những cách diễn giải hiện tượng rất riêng biệt, ở mức độ lớn, nằm ngoài
ý thức và khả năng điều khiển của chúng ta và có thể chỉ có ở con người.
Lê Dọn Bàn tạm dịch
– bản nháp thứ nhất
(Aug/2024)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1] anti-psychologism – Thuyết phản tâm lý là một thuật ngữ liên quan đến
nhiều nhà tư tưởng và phong trào khác nhau, đặc biệt là vào đầu đến giữa thế kỷ
20. Nó đề cập đến việc bác bỏ những giải thích về tâm lý trong những lĩnh vực
như ngôn ngữ học, nơi ngôn ngữ học cấu trúc tách biệt khỏi những lý thuyết tâm
lý. Thay vào đó, nó tập trung vào những cấu trúc và những quy luật của ngôn ngữ, ưu tiên những mô
hình ngôn ngữ có thể quan sát được hơn những diễn giải tâm lý chủ quan.
[2] Behavioral science = khoa học
hành vi –
Thuyết hành
vi: Sự trỗi dậy của thuyết hành
vi trong tâm lý học vào đầu đến giữa thế kỷ 20, đặc biệt là qua B.F. Skinner
(1904-1990), đã góp phần vào thuyết phản tâm lý trong ngôn ngữ học bằng
cách nhấn mạnh vào hành vi có thể quan sát được hơn là trạng thái hoặc tiến trình tinh thần.
[3] [Một số vấn
đề như vậy có thể được liệt kê – thí dụ, vấn đề làm thế nào nội dung nội tại
của những đặc điểm ngữ âm quyết định chức năng của những quy luật âm vị học,
vai trò của những điều kiện dạng thức phổ quát trong việc giới hạn sự lựa chọn
ngữ pháp và cách giải thích thực nghiệm về những ngữ pháp đó, những quan hệ của
cấu trúc cú pháp và ngữ nghĩa, bản chất của ngữ nghĩa phổ quát, những mô hình
hoạt động kết hợp những ngữ pháp phát sinh, v.v.]
[4] [Những nỗ lực hiện đại nhằm huấn
luyện loài vượn về hành vi
vốn những nhà nghiên cứu nhìn như giống-với-ngôn ngữ
xác nhận sự bất lực này, mặc dù có thể những thất bại này là do kỹ thuật điều
kiện hóa hành vi và do đó cho thấy ít về khả năng thực sự của loài vật. Thí dụ,
hãy xem tường trình của C. B.
Ferster, “Arithmetic Behavior in Chimpanzees,”, trong Scientific American,
tháng 5 năm 1964, trang 98–106. Ferster đã cố gắng dạy chimpanzee ghép những số nhị phân 001, . . .111 với những tập
hợp từ một đến bảy đối tượng. Ông báo cáo rằng cần phải thực hiện hàng trăm
nghìn lần thử để đạt được độ chính xác 95 phần trăm, ngay cả trong nhiệm vụ tầm
thường này. Tất nhiên, ngay cả ở giai đoạn này, loài vượn vẫn chưa học được
nguyên lý số học nhị phân; Thí dụ, chúng sẽ không thể khớp đúng một số nhị phân bốn chữ số,
và có lẽ, chúng cũng sẽ
làm tệ như vậy trong thí nghiệm nếu nó liên quan đến một sự liên kết tùy ý giữa
những số nhị phân với những tập hợp thay vì sự liên kết được xác định bởi
nguyên tắc ký hiệu nhị phân. Ferster bỏ qua điểm quan trọng này và do đó lầm lẫn kết luận, rằng ông đã dạy những cơ bản về hành vi
biểu tượng. Sự nhầm lẫn này càng trầm trọng hơn khi ông định nghĩa ngôn ngữ là “một
tập hợp những kích thích biểu tượng kiểm soát hành vi”và khi ông tin rằng “hiệu
quả”của ngôn ngữ phát sinh từ sự kiện là những
tiếng nói “kiểm soát những biểu thị gần như
giống hệt nhau ở người nói và người nghe”.]
[5] [WH Thorpe, “Tiếng
kêu và giao tiếp của động vật”, trong FL Darley, chủ biên, Brain Mechanisms Underlying
Speech and Language / Hệ thống phân tích và lựa chọn não bộ cơ bản trong lời nói và ngôn ngữ
(New York:
Grune và Stratton, 1967), trang 2–10 và những thảo luận trên trang 19 và 84–
85.]
[6] [KS Lashley, “Vấn
đề về trật tự nối tiếp trong hành vi”, trong LA Jeffress, chủ biên, Cerebral Mechanisms in Behavior /Hệ thống
phân tích và lựa chọn não trong hành vi (New York: Wiley, 1951), trang
112–36.]
[7] [Giới hạn này
được bộc lộ, chẳng hạn, trong những tuyên bố như thế này của W. M.Wiest, trong “Những
phê bình gần đây về thuyết hành
vi và học tập”, trong Psychological Bulletin, Tập. 67, Số 3, 1967, trang
214–25: “Một minh chứng thực nghiệm. . . rằng một đứa trẻ đã học được những quy
luật ngữ pháp sẽ thể hiện khả năng diễn đạt bằng lời nói được gọi là ‘nói ra
những quy luật ngữ pháp’. Nhiều giáo viên trường ngữ pháp chứng thực rằng khả
năng này thường không đạt được nếu không được đào tạo đặc biệt. Người ta ngay
cả có thể nói khá đúng ngữ pháp mà không cần học những quy luật ngữ pháp theo
đúng nghĩa đen”. Việc Wiest không thể hình dung được một nghĩa khác mà theo đó
đứa trẻ có thể được cho là đã học những quy luật ngữ pháp là minh chứng cho
khoảng trống khái niệm mà chúng ta đang thảo luận. Vì ông từ chối xem xét câu
hỏi học được những gì và làm rõ khái niệm này trước khi hỏi nó được học như thế
nào, nên ông chỉ có thể hình dung “ngữ pháp”là “sự đều đặn về hành vi trong
việc hiểu và tạo ra lời nói”– một đặc điểm được coi như hoàn toàn trống rỗng,
như hiện tại, không có “sự đều đặn về hành vi”nào liên quan đến (chứ đừng nói
đến “trong”) việc hiểu và tạo ra lời nói. Người ta không thể tranh luận với
mong muốn của một số nhà khảo sát nghiên cứu “việc tiếp nhận và duy trì những
sự xuất hiện thực tế của hành vi bằng lời nói”(ibid.). Vẫn còn phải chứng minh
rằng nghiên cứu này có liên quan gì đó đến việc nghiên cứu ngôn ngữ. Cho đến
bây giờ, tôi thấy không có dấu hiệu nào cho thấy tuyên bố này có thể được chứng
minh. ]
[8] [Xem bài viết
của tôi, “Một số giả định thực nghiệm trong triết học ngôn ngữ thời nay”, trong
S. Morgenbesser, P. Suppes, và M. White, eds., Essays in Honor of Ernest
Nagel (New York: St. Martin’s, 1969), để thảo luận về tác phẩm của Quine và
Wittgenstein từ quan điểm này.]
[9] [C.
Lévi-Strauss, The Savage Mind / Não Thức Man Rợ (Chicago: Nhà xuất bản
Đại học Chicago, 1967).]
[10] [C.
Lévi-Strauss, Structural Anthropology/Nhân Chủng Học Cấu Trúc (New York:
Sách cơ bản, 1963), tr. 85].
[11] [Xem thảo
luận trong bài giảng trước và những tài liệu tham khảo được trích dẫn ở đó].
[12] [Bản thân
việc nghiên cứu những đặc điểm phổ quát cũng có sự thay đổi đáng kể. Xem N.
Chomsky và M. Halle, The Sound Pattern of English (New York: Harper
& Row, 1968), Chương 7, để biết những thảo luận gần đây.]
[13] [Về một số
thảo luận về những vấn đề này, xem Cartesian Linguistics/ Ngôn ngữ học
Descartes của tôi (New York: Harper & Row, 1966).]
[14] [M. Joos,
ed., Readings in Linguistics,/ Bài đọc trong Ngôn ngữ học, tái bản lần
thứ 4. (Chicago: Nhà xuất bản Đại học Chicago, 1966), tr. 228. Điều này được
coi như “Truyền thống Boas”. Ngôn ngữ học Mỹ, Joos khẳng định, “đã có hướng đi
quyết định khi quyết định rằng một ngôn ngữ bản địa có thể được mô tả mà không
cần bất kỳ lược đồ tồn tại nào về ngôn ngữ đó phải là gì. . “. (trang 1). Tất
nhiên điều này không thể đúng theo nghĩa đen – bản thân những quy trình phân
tích thể hiện một giả thuyết liên quan đến tính đa dạng có thể có của ngôn ngữ.
Nhưng tuy nhiên, có rất nhiều sự công bằng trong cách miêu tả tính cách của
Joos.]
[15] [N. Goodman, “Lý
lẽ nhận thức luận”và H. Putnam, “Giả thuyết bẩm sinh và những mô hình giải
thích trong ngôn ngữ học”. Cùng với một bài báo của tôi, chúng đã được trình
bày tại Hội nghị chuyên môn về những ý tưởng bẩm sinh của Hiệp hội Triết học
nước Mỹ và Hội thảo chuyên đề về Triết học Khoa học ở Boston vào tháng 12 năm
1966. Ba tiểu luận xuất hiện trong Synthèse, Tập. 17, Số 1, 1967, trang 2–28,
và trong RS Cohen và WM Wartofsky, eds., Boston Studies in the Philosophy of
Science, Vol. III (New York: Nhân văn, 1968), trang 81–107. Một thảo luận sâu
rộng hơn về những bài viết của Putnam và Goodman, cùng với một số bài viết
khác, xuất hiện trong phần đóng góp của tôi cho hội nghị chuyên môn “Ngôn ngữ
học và Triết học”, Đại học New York, tháng 4 năm 1968, trong S. Hook, chủ biên,
Triết học và Ngôn ngữ (New York: Nhà xuất bản Đại học New York, 1969). Bài viết
được tái bản trong tập này.]
[16] [Nhận xét này
là một điều phổ biến. Thí dụ, xem bình luận của A. C. Fraser trong bản in Essay Concerning Human
Understanding của Locke, 1894 (do Dover tái bản, 1959), ghi chú 1 và 2, Chương 1 (trang 38 của
bản in Dover). Như Fraser ghi nhận, quan điểm của Descartes là một quan điểm “lập
luận của Locke luôn không đạt được. . . Locke tấn công [giả thuyết về những ý
tưởng bẩm sinh] . . . ở dạng thô thiển nhất mà không có người ủng hộ nổi tiếng
nào tán thành”. Goodman có quyền tự do dùng từ ngữ “ý tưởng bẩm sinh”phù hợp
với cách giải thích sai lầm của Locke về học thuyết nếu ông muốn, nhưng không
buộc tội “ngụy biện”như ông làm, khi những người khác xem xét và phát triển học
thuyết duy lý theo dạng thức mà nó thực sự hiện hữu. được trình bày.]
[17] [ES Haldane
và GRT Ross, eds., Nhũng tác phẩm triết học của Descartes, 1911 (do
Dover tái bản, 1955). Trích dẫn và những nhận xét trước đó xuất hiện trong phần
đóng góp của tôi cho Hội nghị chuyên môn Về Những Ý Tưởng Bẩm Sinh vào tháng 12
năm 1966 (xem ghi chú 13).
[18]
Goodman cho rằng việc học ngôn ngữ đầu tiên không thực sự khó khăn vì trẻ em đã
có sẵn một “hệ thống biểu tượng” cơ bản trước khi bắt đầu học ngôn ngữ. Ông tin
rằng những tác động qua lại ban đầu của trẻ em với thế giới – qua cử chỉ, kinh
nghiệm giác quan và những hình thức biểu thị biểu tượng khác – tạo nên nền tảng
cho việc học ngôn ngữ. Ông lập luận rằng điều này khiến việc tiếp thu ngôn ngữ
đầu tiên tương tự như việc học ngôn ngữ thứ hai. Theo Goodman, khi trẻ đã tiếp
thu được một ngôn ngữ, việc học ngôn ngữ khác trở nên dễ dàng hơn vì trẻ đã có
sẵn một hệ thống biểu tượng. Ông cũng bác bỏ ý tưởng về những ý tưởng hoặc khái
niệm bẩm sinh, lập luận rằng những ý tưởng này không thể được kiểm tra trực tiếp.
Do đó, ông bác bỏ lý thuyết về ngữ pháp phổ quát bẩm sinh, tin rằng lý thuyết
như vậy không có giá trị khoa học do không thể kiểm tra thực nghiệm.
Chomsky phản bác lập luận của Goodman bằng
cách nhấn mạnh rằng việc học một ngôn ngữ phức tạp hơn nhiều so với những gì
Goodman nêu lên. Ông không đồng ý rằng những kinh nghiệm ban đầu của trẻ em
cung cấp cho chúng một hệ thống biểu tượng gần giống với cấu trúc ngôn ngữ.
Thay vào đó, Chomsky lập luận rằng trẻ em phải “phát minh lại” ngữ pháp từ đầu
khi chúng học. Ông giải thích rằng tiến trình này đặt ra cái mà ông gọi là “vấn
đề thực nghiệm” – thách thức trong việc giải thích cách trẻ em tiếp thu ngữ
pháp phức tạp như vậy với input ngôn ngữ hạn chế và thường không hoàn hảo.
Chomsky tin rằng kỳ tích này là có thể vì trẻ em có sẵn khả năng nhận thức bẩm
sinh hoặc cấu trúc tinh thần hướng dẫn chúng xây dựng ngôn ngữ. Ông bảo vệ lý
thuyết ngữ pháp phổ quát, cho rằng con người sinh ra đã có những dụng cụ tinh
thần cho ngôn ngữ. Những dụng cụ bẩm sinh này giúp trẻ em diễn giải và sắp xếp
ngôn ngữ mà chúng tiếp xúc, cho phép chúng xây dựng những hệ thống ngữ pháp phức
tạp từ input hạn chế.
Trong khi Goodman bác bỏ ý tưởng về những
cấu trúc bẩm sinh, Chomsky lập luận rằng ngữ pháp phổ quát là điều cần thiết để
giải thích cách trẻ em có thể học những hệ thống ngôn ngữ phức tạp như vậy với
dữ liệu không đầy đủ.
Ông thừa nhận rằng những thí nghiệm trực tiếp về tiến trình tiếp thu ngôn ngữ
là một thách thức, nhưng chỉ ra rằng có những cách khác để thu thập bằng chứng
hỗ trợ cho lý thuyết này. Chomsky cho rằng chúng ta vẫn có thể kiểm tra những
lý thuyết ngôn ngữ một cách gián tiếp, qua những quan sát về cách ngôn ngữ hoạt
động và cách trẻ em tiếp thu ngôn ngữ.
Tóm lại, Goodman coi việc tiếp thu ngôn ngữ
đầu tiên là sự mở rộng của những hệ thống biểu tượng đã tồn tại từ trước mà trẻ
em đã có, trong khi Chomsky lập luận rằng việc tiếp thu ngôn ngữ là một tiến
trình phức tạp đòi hỏi những cấu trúc bẩm sinh để giải thích cách trẻ em có thể
tiếp thu ngữ pháp từ input hạn chế. Đối với Chomsky, lý thuyết về ngữ pháp phổ
quát là cách duy nhất để giải thích khả năng đáng chú ý này.
[19]
Context-Free Phrase Structure Grammars:Ngữ pháp cấu trúc-cụm từ không
theo ngữ cảnh (CFPSG) là một loại khuôn khổ ngữ pháp cụ thể được dùng để mô tả
cú pháp của ngôn ngữ. Chúng là một tập hợp con của Ngữ pháp cấu trúc-cụm từ và
đặc biệt hiệu quả trong việc nắm bắt những cấu trúc phân cấp và sự tạo phức hợp bằng lập lại
cùng quy luật trong ngôn ngữ của con người. Sau đây là ý nghĩa của thuật ngữ
này theo cách đơn giản hơn:
- Không
theo ngữ cảnh: những
quy luật xây dựng cụm từ hoặc câu được áp dụng phổ biến, bất kể ngữ cảnh xung
quanh. Thí dụ, cụm danh từ (NP) luôn có thể được mở rộng thành “Det + Danh từ”
(như “con mèo”) bất kể nó xuất hiện ở đâu trong câu.
- Ngữ
pháp cấu trúc cụm từ: hệ
thống những quy luật xác định cách chia câu thành những thành phần nhỏ hơn (như
cụm từ và từ). Thí dụ:
S → NP + VP
Một câu (S) bao gồm một cụm danh từ (NP)
và một cụm động từ (VP).
Thí dụ:
Dùng những quy luật không theo ngữ cảnh,
chúng ta có thể định nghĩa:
S → NP VP
NP → Det N
VP → V NP
Det → “the”
N → “cat” | “dog”
V → “chased”
Từ những quy luật này, chúng ta có thể tạo
ra một câu như:
“The cat chased the dog.”
Quan trọng:
CFPSG được dùng rộng rãi trong ngôn ngữ học
tính toán (thí dụ: trình phân tích cú pháp ngôn ngữ điện toán). Những ngữ pháp này là trọng tâm của lý thuyết ngữ pháp
phát sinh của Chomsky và được dùng để mô hình hóa bản chất phân cấp và sự tạo
phức hợp bằng lập lại cùng quy luật của ngôn ngữ con người.Chúng
là nền tảng trong hệ thống phân cấp ngữ pháp của Chomsky và đóng vai trò là cơ
sở để hiểu những ngữ pháp phức tạp hơn như ngữ pháp nhạy cảm với ngữ cảnh. Chúng là một mô hình mạnh
mẽ nhưng hạn chế vì chúng không thể giải quyết tất cả những phức tạp của ngôn ngữ tự
nhiên (thí dụ: một số viện dãn
chéo hoặc ý nghĩa phụ thuộc vào ngữ cảnh).
[20] [Để thảo luận
về những vấn đề này, xem “Thuộc tính dạng thức của ngữ pháp”của tôi trong R.D.
Luce, R. Bush, và E. Galanter, eds., Handbook of Mathematical Psychology,
Vol. II (New York: Wiley, 1963). Để thảo luận sâu hơn về khung lý thuyết
automata, xem RJ Nelson, Introduction
to Automata (New York:
Wiley, 1968). Trình bày chi tiết về những thuộc tính của ngữ pháp không theo
ngữ cảnh được trình bày trong S. Ginsburg, The Mathematical Theory of Context-Free Languages /Lý thuyết
toán học về ngôn ngữ không theo ngữ cảnh (New York: McGraw-Hill, 1966). Đã có
một số nghiên cứu về tốc độ tính toán, tính đơn giản của thuật toán, v.v.,
nhưng không có nghiên cứu nào liên quan đến vấn đề đang được thảo luận.]
[21] [Xem chú
thích 10 của Bài giảng 2, tr. 29, để nhận xét thêm..]
[22]
Putnam cho rằng điểm tương đồng giữa những ngôn ngữ có thể được giải thích bằng
nguồn gốc chung của chúng, thay vì ngữ pháp phổ quát bẩm sinh. Tuy nhiên,
Chomsky phản bác lại điều này bằng nhấn mạnh rằng vấn đề cốt lõi không nằm ở
nguồn gốc của ngôn ngữ,
nhưng nằm
ở cách trẻ em tiếp thu ngữ pháp phức tạp mặc dù tiếp nhận được thông tin (những gì được nghe) hạn
hẹp, và
thường không hoàn hảo. Trẻ em “phát minh lại” ngữ pháp mỗi khi chùng học một ngôn ngữ, xây dựng
sự hiểu biết phong phú và có hệ thống dù không được dạy rõ ràng tất
cả những quy luật. Tiến trình này chỉ ra “vấn đề thực nghiệm” của Chomsky: trẻ
em xây dựng những hệ thống ngữ pháp phức tạp từ dữ liệu không đầy đủ và không
hoàn chỉnh như thế nào?
Điều này liên quan trực tiếp đến the
Poverty of the Stimulus /Sự nghèo
nàn của những tác nhân kích
thích (POS),
mà Chomsky dùng để hỗ trợ cho ý tưởng về một ngữ pháp phổ quát bẩm
sinh. Vấn đề POS cho thấy một nghịch lý: những gì trẻ em nhận được về ngôn ngữ của
trẻ em ((inpput) ) thì không
đủ, thường không thiếu xót và
sai lạc, không
hoàn chỉnh, nhưng chúng lại phát triển được những ngữ pháp (trong ngôn gữ mẹ để) theo-quy luật, phức tạp, ở tuổi rất nhỏ.
Thí dụ, trẻ em học những ngôn ngữ khác nhau như tiếng Nhật và tiếng Anh, nhưng vẫn có thể đạt được một trình độ ngữ pháp tương tự
nhau, mặc dù những dữ liệu tiếp nhận
và cấu trúc khác nhau.
Chomsky lập luận rằng cách duy nhất để giải
quyết vấn đề POS là
qua thuyết ngữ pháp phổ quát – một tập hợp những nguyên tắc ngôn ngữ phổ quát, bẩm sinh đã được gài đặt sẵn trong não người (Ông dùng từ “Hardwired” = “innate”, “inborn” hay “pre-programmed
– tôi dich là progam sẵn , hay program trước. Những từ này này cho thấy rằng một
khả năng hoặc cấu trúc cụ thể vốn có trong não hoặc tâm lý, thay vì được học hoặc
phát triển qua kinh nghiệm. Trong lý thuyết của Chomsky, nó đề cập đến ý tưởng
rằng ngữ pháp phổ quát là một phần tự nhiên của nhận thức con người ngay từ khi
sinh ra). Khung bẩm sinh này cho phép trẻ em lấp đầy
khoảng trống của input không hoàn hảo và “tái tạo” ngữ pháp bằng cách tận dụng
khả năng nhận thức bên trong của chúng. Khả năng làm như vậy, bất chấp những hạn
chế của input, nhấn mạnh sự cần thiết của một cấu trúc nhận thức bẩm sinh cho
phép tiếp thu ngữ pháp.
Vấn đề thực nghiệm mà Chomsky nêu ra không
chỉ là về sự hiện hữu của ngữ pháp phổ quát, mà còn về cách nó cho phép trẻ em
tiếp thu những ngữ pháp cụ thể mặc dù chỉ được tiếp xúc không đủ với dữ liệu ngôn ngữ. Lý
thuyết ngữ pháp phổ quát giúp giải thích cách trẻ em khái quát hóa và cấu trúc
ngôn ngữ mà chúng tiếp xúc, ngay cả khi ngôn ngữ đó không đầy đủ hoặc không nhất
quán.
Để giải quyết vấn đề này, lý thuyết tiếp
thu ngôn ngữ phải cân bằng hai đòi hỏi
chính:
(a) Nó
phải đủ phong phú để giải thích tiến trình tiếp thu ngữ pháp: Khung ngôn ngữ
ban đầu phải đủ phức tạp để cho phép trẻ em xây dựng một ngữ pháp cụ thể từ những gì nhận được hạn chế.
(b) Nó
không được quá phong phú: Cấu trúc bẩm sinh phải cho phép linh hoạt để giải
thích sự đa dạng của những ngôn ngữ. Nếu quá cứng nhắc, nó sẽ không giải thích
được sự khác biệt lớn giữa những ngôn ngữ của con người.
Tóm lại, lập luận của Chomsky là Sự nghèo
nàn của những tác nhân kích
thích làm
nổi bật lý do tại sao giải thích của Putnam về “nguồn gốc chung” là không đủ.
Thách thức cốt lõi không phải là nguồn gốc của ngôn ngữ, nhưng là khả năng tiếp thu ngữ
pháp của trẻ em trong điều kiện nghèo nàn. Lý thuyết về ngữ pháp phổ quát đưa
ra giải pháp bằng cách đưa ra một khuôn khổ ngôn ngữ bẩm sinh giải thích cho cả
cấu trúc trẻ em tiếp thu và sự đa dạng của những ngôn ngữ mà chúng có thể gặp
phải.
[23] [Thật ngạc
nhiên khi thấy Putnam nhắc đến một cách miệt thị đến “cuộc nói chuyện mơ hồ về
‘những loại giả thuyết’ – và ‘hàm trọng số’”trong tiến trình thảo luận về “những
chiến lược học tập chung”. Hiện tại, câu sau chỉ là một cụm từ không có bất kỳ
nội dung nào có thể mô tả được. Mặt khác, có một tài liệu đáng kể trình bày chi
tiết những thuộc tính của những loại giả thuyết và hàm trọng số mà Putnam nhắc
đến. Do đó, chiếc giày dường như nằm ở chân bên kia trong trường hợp này]
[24] [Không có khả
năng là việc nghiên cứu chi tiết về loại này sẽ cho thấy rằng quan niệm về ngữ
pháp phổ quát như một lược đồ luận bẩm sinh chỉ có giá trị như một sự gần đúng
đầu tiên; rằng, trong thực tế, một lược đồ bẩm sinh thuộc loại tổng quát hơn cho
phép hình thành những “ngữ pháp”dự kiến mà chính chúng quyết định cách giải
thích bằng chứng sau này, dẫn đến việc đưa ra những định đề về ngữ pháp phong
phú hơn, v.v. Cho đến nay tôi vẫn đang thảo luận về sự tiếp thu ngôn ngữ với
giả định rõ ràng là sai lầm rằng đó là một tiến trình diễn ra tức thời. Có rất
nhiều câu hỏi thích thú nảy sinh khi chúng ta xem xét tiến trình này kéo dài
theo thời gian như thế nào. Để biết một số thảo luận liên quan đến những vấn đề
về âm vị học, xem bài viết của tôi “Âm vị học và cách đọc”trong H. Levin, chủ
biên, Nghiên cứu cơ bản về cách đọc. Cũng ghi nhận rằng không cần thiết phải
giả định, ngay cả trong phép tính gần đúng đầu tiên, rằng “rất ít ngữ pháp phù
hợp với lược đồ”sẽ có sẵn cho người học ngôn ngữ. Chỉ cần giả định rằng những
ngữ pháp phù hợp với dữ liệu sẽ bị “phân tán”theo quy trình thẩm định giá trị
là đủ.]
[25] [CS Peirce, “The Logic of Abduction / Logic của
việc suy luận nắm bắt”, trong V. Tomas, chủ biên, Peirce’s Essays in the Philosophy of Science / Những tiểu
luận về triết học khoa học của Peirce (New York: Nhà xuất bản nghệ thuật tự do,
1957).
[26] [Ngược lại, lý giải về sự tiếp
thu ngôn ngữ do B. F. Skinner trình bày trong Hành vi ngôn từ của ông (New York:
Appleton-Century-Crofts, 1957) với tôi dường như không có nội dung hay rõ ràng
là sai, tùy thuộc vào việc người ta diễn giải nó theo nghĩa ẩn dụ hay nghĩa đen
( xem bài thẩm định giá trị của tôi về quyển sách này trong Ngôn ngữ, Tập 35,
Số 1, 1959, trang 26–58). Sẽ khá phù hợp khi một lý thuyết bị bác bỏ ở dạng
mạnh để thay thế nó bằng một biến thể yếu hơn. Tuy nhiên, không thường xuyên
bước này dẫn đến chỗ trống. Với tôi, sự phổ biến của khái niệm “sự tăng cường”của
Skinner sau sự sụp đổ ảo của lý thuyết Hullian, xem có vẻ là một trường hợp
điển hình. (Ghi nhận rằng những khái niệm của Skinnerian có thể được xác định
rõ ràng và có thể dẫn đến những kết quả thích thú, trong một tình huống thử
nghiệm cụ thể – vấn đề là “phép suy rộng”của Skinnerian cho một loại trường hợp
rộng hơn.) Một thí dụ khác xuất hiện trong K. Salzinger, “Vấn đề về lớp phản
hồi trong hành vi bằng lời nói”, trong K. Salzinger và S. Salzinger, biên tập, Research
in Verbal Behavior and Some Neurophysiological Implications /Nghiên cứu về hành vi bằng lời nói và một số hàm ý sinh lý thần kinh (New York:
Academic Press, 1967), trang 35–54. Salzinger lập
luận rằng George Miller không có lý khi phê bình lý thuyết học tập vì nó không
có khả năng giải thích năng suất ngôn ngữ – tức là khả năng của người nói trong
việc xác định một chuỗi từ mà ông chưa từng nghe, cho dù đó có phải là một
chuỗi từ hay không. câu đã hình thành và ý nghĩa của nó. Ông lập luận rằng
khiếm khuyết này có thể được khắc phục bằng cách dùng khái niệm “lớp phản hồi”.
Đúng, không thể mỗi phản hồi đều được làm vững mạnh thêm, nhưng lớp những câu
có thể chấp nhận được tạo thành một lớp phản hồi, giống như tập hợp những thanh
nhấn trong một thí nghiệm cụ thể của Skinnerian. Thật không may, đây là đoạn
dài dòng trống rỗng cho đến khi điều kiện xác định tư cách thành viên trong lớp
này được thiết lập. Nếu điều kiện liên quan đến khái niệm “tạo ra bởi một ngữ
pháp nhất định”thì chúng ta sẽ quay lại điểm bắt đầu. Salzinger cũng hiểu sai
những cố gắng để đem cho một bài kiểm tra thử nghiệm nhằm phân biệt những chuỗi
ngữ pháp với những chuỗi không ngữ pháp. Ông tuyên bố rằng những thử nghiệm như
vậy đã không xác nhận được sự phân chia như vậy và do đó, rõ ràng kết luận rằng
sự khác biệt không tồn tại. Rõ ràng, sự thất bại chỉ ra rằng những cuộc thử
nghiệm không hiệu quả. Người ta có thể phát minh ra vô số bài kiểm tra không
đưa ra được một số phân loại nhất định. Chắc chắn bản thân việc phân loại không
có vấn đề gì. Do đó, Salzinger sẽ đồng ý, ngoài mọi thử nghiệm thử nghiệm có
thể được nghĩ ra, rằng những câu trong chú thích này có chung một thuộc tính
quan trọng không chứa tập hợp những chuỗi từ được hình thành bằng cách đọc từng
câu này, từng từ một, từ phải sang trái.
[27] [Để thảo
luận về những hệ thống như vậy và những giới hạn của chúng, xem M. Minsky và S.
Papert, Perceptions and Pattern Certification, Artificial Intelligence
Memo No. 140, MAC-M-358, Project MAC, Cambridge, Mass., Tháng 9 năm 1967
[28] [Xem E.H. Lenneberg, Biological
Foundations of Language / Cơ bản
sinh học của ngôn ngữ (New York: Wiley, 1967). Đóng góp của tôi cho tập sách
này, “Bản chất dạng thức của ngôn ngữ”, xuất hiện ở bài viết thứ năm trong
quyển sách này.
[29] [Xem J.
Mehler và TG Bever, “Năng lực nhận thức của trẻ nhỏ”, Khoa học, Tập. 158, số
3797, tháng 10 năm 1967, trang 141–42.
[30] [K. Lorenz, “Kants
Lehre vom apriorischen in Lichte gegenwärtiger Biologie”, trong Blätter für
Deutsche Philosophie, Vol. ngày 15 tháng 1 năm 1941, trang 94–125. Tôi mang
ơn Donald Walker của Tập đoàn MITER, Bedford, Mass., vì đã giúp tôi chú ý đến
bài báo này.]
[31] [Người ta đã
lập luận trên cơ bản thống kê – qua việc so sánh tốc độ đột biến đã biết với số
lượng biến đổi khổng lồ có thể tưởng tượng được của nhiễm sắc thể và những bộ
phận của chúng – rằng những quy luật như vậy phải tồn tại và phải giới hạn rất
nhiều những khả năng có thể thực hiện được. Xem những bài viết của Eden,
Schützenberger, và Gavadan trong Những thách thức toán học với cách giải thích
tiến hóa theo thuyết Tân Darwin, Chuyên khảo chuyên đề Wistar số 5, 1967.]