Tuesday, September 6, 2022

Chomsky – Chúng Ta Là Loài Sinh Vật Nào? (01)

Chúng Ta Là Loài Sinh Vật Nào?

(What Kind Of Creatures Are We?)

Noam Chomsky





Giới thiệu

 

Avram Noam Chomsky (1928 -) rất nổi tiếng và được ngưỡng phục khắp thế giới vìngười sáng lập của ngành ngôn ngữ học thời nay, một trong những người sáng lập của ngành khoa học nhận thức, và có lẽ là nhà lý thuyết và bình luận chính trị được tìm đọc say sưa nhất của thời chúng ta. Trong những bài giảng này, ông trình bày những suy tưởng triết học trong đời về ba lĩnh vực vừa kể, vốn ông đã những đóng góp lớn lao trong hơn nửa thế kỷ qua.

 

Trong ngôn ngữ trong sáng, rõ ràng và không-chuyên môn, Chomsky trình bày chi tiết về năm mươi năm của phát triển khoa học trong nghiên cứu ngôn ngữ, phác lược công trình của chính ông đã như thế nào mang đến những kết luận về nguồn gốc của ngôn ngữ, những quan hệ chặt chẽ vốn ngôn ngữ mang đến cho tư tưởng, và cơ sở sinh học sau cùng của nó. Ông dẫn giải và phê bình nhiều lý thuyết có thể thay thế khác, chẳng hạn như những lý thuyết nhấn mạnh trên những phương diện xã hội, giao tiếp và quy chiếu của ngôn ngữ. Chomsky xem xét lại những khám phá mới về ngôn ngữ đã như thế nào vượt qua những gì trong quá khứ xem dường là những giả định rất khó giả quyết. Ông cũng điều tra phạm vi và những giới hạn bên ngoài của khả năng nhận thức con người và những gì não thức con người có thể nghiêm chỉnh điều tra, trong ánh sáng của lịch sử khoa học và suy tưởng triết học và kiến thức hiện nay. Đi từ ngôn ngữ và não thức sang xã hội và chính trị, ông kết luận với một thămkhám phá và biện minh triết học của một lập trường vốn ông mô tả nhưthuyết xã hội theo phái tự do, truy tìm những liên kết của nó với thuyết vô chính phủ và những ý tưởng của John Dewey và ngay cả với những ý tưởng của Marx và Mill, sau khi giảng giải rõ ràng sự phát triển về khái niệm của nó khỏi quá khứ lịch sử của chúng ta và sự liên hệ khẩn cấp đến những vấn đề của hiện tại.

 

Nhà xuất bản trường đại học Columbia

 


NỘI DUNG

LỜI TỰA

1 | NGÔN NGỮ LÀ GÌ?

2 | CHÚNG TA CÓ THỂ HIỂU ĐƯỢC GÌ?

3 | LỢI ÍCH CHUNG CHO TẤT CẢ LÀ GÌ?

4 | NHỮNG BÍ ẨN CỦA THIÊN NHIÊN: ĐƯỢC GIẤU KÍN SÂU XA THẾ NÀO?

GHI CHÚ

CHỈ MỤC

 

 

Chúng ta là loài sinh vật nào? [1]

 

Lời Tựa

(của Akeel Bilgrami)

 

Quyển sách này trình bày một đời suy tưởng của một nhà khoa học về ngôn ngữ trên những hàm ý lớn rộng hơn của công trình khoa học của ông. Tên quyển sách này, Chúng ta là loài sinh vật nào ?, có ý định nói rõ mức độ bao quát của chỉ những hàm ý lớn rộng. Chúng gồm một loạt những lĩnh vực lớn: ngôn ngữ học lý thuyết, khoa học nhận thức, triết học của khoa học, lịch sử của khoa học, sinh học tiến hóa, siêu hình học, lý thuyết của tri thức, triết học của ngôn ngữ và não thức, triết học đạo đức và chính trị, và dù vắn tắt, lý tưởng của giáo dục con người.

 

Chương 1 trình bày, rõ ràng và chính xác, những ý tưởng cơ bản của riêng Noam Chomsky trong ngôn ngữ học lý thuyết và khoa học nhận thức (cả hai lĩnh vực ông đã tuyệt đối giữ vai trò sáng lập trung tâm), ghi lại những tiến bộ đã đạt được trong những năm qua, nhưng ghi lại những tuyên bố với nhiều sốt sắng hơn, để dự kiến tiến bộ phải được thực hiện thế nào, và một lượng rất lớn công việc còn phải được làm như thế nào, ngay cả trong những lĩnh vực nền tảng nhất của ngành học. Những thay đổi tư tưởng trong những năm này cũng được ghi lại, một số nổi bật nhất trong chúng xảy ra chỉ mới trong mười năm qua, hay không lâu trước đó.

 

Chương sách bắt đầu bằng đem động lực cho câu hỏi báo trước trong nhan đề của nó, “Ngôn ngữ là gì?” cần cho chúng ta hỏi, vì nếu không là rõ ràng về ngôn ngữ là gì, không chỉ chúng ta sẽ không có những trả lời đúng cho những câu hỏi khác về những phương diện đặc biệt khác loại của ngôn ngữ (có lẽ ngay cả không thể đặt những câu hỏi đặc biệt đó vào khuôn khổ), nhưng chúng ta sẽ không thành công với việc điều tra hay ngay cả việc suy đoán hợp lệ chấp nhận được, về cơ sở sinh học và những nguồn gốc tiến hóa của ngôn ngữ.

 

Một truyền thống có từ thời Galileo và Descartes đã nhìn nhận đặc tính nền tảng nhất của ngôn ngữ, sau đó nó có sự trình bày chi tiết rõ ràng nhất trong Humboldt: “Ngôn ngữ thì hầu như đối mặt khác thường với một lĩnh vực vô tận và thực sự vô biên, yếu tính của tất cả những gì có thể được suy nghĩ. Do đó, nó phải đem dùng vô hạn những phương tiện hữu hạn, và có khả năng để làm như vậy, qua năng lực gây nên bản chất định tính của ngôn ngữ và tư tưởng. [2] Darwin cũng vậy, được trích dẫn như lập lại điều này trong một dạng không phức tạpđơn giản hơn, trong nội dung của những quan tâm về mặt tiến hóa về ngôn ngữ: “Những loài động vật thấp hơn, hoàn toàn khác với con người chỉ trong năng lực lớn hơn như vô hạn của việc kết hợp những âm thanh và ý tưởng đa dạng nhất với nhau của con người”. Điều đáng chú ý rằng có ba đặc tính nền tảng được Humboldt và Darwin quan sát ở đây. Thứ nhất, tuyên bố về một năng lực vô hạn ngụ trong một cơ sở hữu hạn; thứ hai, sự liên kết của những ý tưởng với âm thanh; và thứ ba, sự liên kết của ngôn ngữ với tư tưởng. Tất cả chúng đều tụ hợp trong những gì Chomsky tuyên bố ngay từ đầu như Thuộc Tính Cơ Bản của ngôn ngữ: “Mỗi ngôn ngữ đem cho một sắp xếp không giới hạn của những diễn đạt có cấu trúc theo hệ thống thứ bậc vốn nhận những diễn giải ở hai mặt giao tiếp, hệ thống phối hợp giác quan-vận động cho việc làm bày tỏ cảm xúc, (một hệ thống) khái niệm-có chủ đích cho những tiến trình tâm lý” [3].Yếu tố cấu trúc theo hệ thống thứ bậc đưa ra bằng chứng đặc điểm thứ nhất; mặt giao tiếp hệ thống phối hợp giác quan-vận động đưa ra bằng chứng thuộc tính đặc biệt thứ hai; và mặt giao tiếp khái niệm-có chủ đích, đưa ra bằng chứng thuộc tính đặc biệt thứ ba.

 

Những gì sẽ giải thích cho Thuộc tính Cơ bản này là một tiến trình tính toán. Ý nghĩa triết học của điều này là hai lớp: một lý thuyết của ngôn ngữ tất yếu là một ngữ pháp phát sinh [4], và lý thuyết thì tất yếu về một đối tượng vốn những cá nhân con người thì sở hữu, bên trong chủ thể cá nhân và cách trí óc hoạt động của nó (tức là, những yếu tố nội tại). Nó không là một lý thuyết về những âm thanh thốt ra bên ngoài, do đó cũng không là lý thuyết về một hiện tượng xã hội. Sự phân loại gọi tên để nắm được sự phân biệt vừa nói sau giữa những gì là cá nhân / bên trong/ chủ ý và những gì bên ngoài / xã hội là ngôn ngữ-Ingôn ngữ-E. [5] Chỉ một mình ngôn ngữ-I thì có thể là đối tượng của nghiên cứu khoa học, nhưng không là ngôn ngữ-E.[6] Và mặc dù nghiên cứu loại như vậy thì cuối cùng được đền trong một giải thích về sinh học, cho đến cuối cùng đó, khoa học nắm giữ được những hiện tượng ở một mức độ của trừu tượng từ sinh học và nói ở mức độ nhận thức của năng lực tính toán vốn thỏa mãn Thuộc Tính Cơ Bản.[7]

 

Một việc làm khác, tổng quát hơn, là để tìm ra những tính chất đặc biệt có chung nằm chìm bên dưới của tất cả những ngôn ngữ-I, vốn cũng được những thuộc tính sinh học tự nhiên đã phú cho con người xác định (một chủ đề có ý nghĩa rộng lớn hơn cho nhận thức trong tổng quát sẽ được thảo luận lại trong chương 2 ). Việc làm tổng quát hơn này được đảm nhận với hy vọng để tìm ra di sản sinh học vốn quyết định những hệ thống tạo sinh nào có thể dùng như ngôn ngữ-I. Nói khác đi, những ngôn ngữ có thể có của con người là gì?

 

Chomsky sau đó cho thấy rằng ngay sau khi việc nghiên cứu của những ngữ pháp phát sinh giải quyết Thuộc tính Cơ Bản của ngôn ngữ được thực sự đảm nhận, một số những khó hiểu ngạc nhiên đã nảy sinh, với những hàm ý xa-rộng. Một là “sự tùy thuộc cấu trúc” của những hoạt động thực hành ngôn ngữ: trong tất cả những xây dựng, trong tất cả những ngôn ngữ, những hoạt động này bất biến, luôn luôn dựa trên khoảng cách về cấu trúc hơn là trên ý niệm đơn giản hơn về xa gần đường thẳng theo đường thẳng. Những người học ngôn ngữ tự động biết điều này, không phải hướng dẫn. Có những bằng chứng từ khoa học thần kinh và tâm lý học thực nghiệm hỗ trợ cho điều này. Kết quả theo đến từ giả định rằng thứ tự (cấu trúc) thì chỉ đơn giản là không sẵn cho những hoạt động vốn phát sinh những diễn đạt có cấu trúc vốn được diễn giải ở mặt giao tiếp ý tưởng-khái niệm, cho suy nghĩ và tổ chức của hành động. Đến lượt nó, theo đến từ chính giả định tự nhiên rằng những ngôn ngữ-I đều là những hệ thống tạo sinh dựa trên hoạt động tính toán cơ bản nhất, vốn không-xắp xếp theo thứ tự. Những điều này và nhiều cân nhắc khác đem cho bằng chứng quan trọng đáng kể rằng thứ tự xa gần theo đường thẳng thì phụ trợ cho ngôn ngữ, không bao gồm trong cú pháp cốt lõi và ngữ nghĩa học. Cùng điều này thì đúng với những cách sắp xếp bên ngoài khác loại của ngôn ngữ ký hiệu, vốn hiện nay được biết là giống với ngôn ngữ nói một cách đáng chú ý trong cấu trúc, sự tiếp thu, cách dùng và ngay cả cả biểu thị thần kinh của nó. Giả định rằng những thuộc tính bên ngoài này phản ảnh những điều kiện do hệ thống phối hợp giác quan-vận động áp đặt. Sự chọn lựa của việc dùng thứ tự xa gần theo đường thẳng ngay cả không nảy sinh cho người học ngôn ngữ. thứ tự xa gần theo đường thẳng và những sắp xếp khác đều liên quan với những gì được nghe – tức là, hiện ra bên ngoài – nhưng không với những gì là suy nghĩ, vốn là bên trong.

 

Ông sau đó cho thấy rằng những kết luận này phù hợp rất đúng với những gì được biết ít ỏi về nguồn gốc của ngôn ngữ. Hệ thống phối hợp giác quan-vận động “dường như đã có chỗ đứng từ rất lâu trước khi ngôn ngữ xuất hiện”, và dường như có ít sự thích ứng đặc biệt cho ngôn ngữ. Những thuộc tính nhận thức thuộc những loại rất sâu xa hơn so với của những loài vượn-người, hoặc đoán chừng có thể cũng của những hominin không-phải người, đều nội tại với ngôn ngữ. Loài vượn-người có hệ thống cử chỉ đủ đề để tạo âm thanh, và hệ thống thính giác đủ cho sự nhận thức của tiếng nói; nhưng không giống như trẻ sơ sinh của con người, chúng ‘hiểu’ tiếng nói như chỉ là tiếng ồn, và ngay cả khi được dạy rất lâu, cũng không thể đạt được ngay cả những sơ đẳng của ngôn ngữ ‘ra dấu’ của con người. Aristotle nói rằng ngôn ngữ là “âm thanh với ý nghĩa”, nhưng những suy nghĩ cân nhắc vừa nêu lên, dấu hiệu chỉ định gián tiếp cho Chomsky rằng những điều xét trước trong khẩu hiệu có thể được đảo ngược và đúng hơn ngôn ngữ sẽ được hiểu là “ý nghĩa với âm thanh”. Trong trường hợp điều này xảy ra như người theo thuyết Plato (một gì đã được Jerrold Katz nồng nhiệt tuyên truyền), cần phải giữ vững đừng quên rằng với Chomsky, “ý nghĩa” ở đây thì có chủ định như một phạm trù trước sau tâm lý (cuối cùng là sinh học) và do đó hoàn toàn không là những thuật ngữ Plato được làm cụ thể hơn.

 

Đến lượt, những kết luận như vậy tăng hỗ trợ cho tuyên bố đưa ra đã từ lâu của Chomsky rằng ngôn ngữ thì không để được hiểu như nó khắp nơi được hiểu giữa những nhà triết học, những nhà nhân loại học và những người khác – như trong một số định nghĩa đã gắn buộc với sự truyền đạt thông tin. Nếu sự biểu hiện ra bên ngoài của ngôn ngữ là thứ yếu, và sự gắn buộc của ngôn ngữ với tư tưởng là chính yếu, khi đó truyền đạt thông tin không thể là trung tâm cho bất kỳ trả lời nào với câu hỏi vốn chương này đặt ra: Ngôn ngữ là gì? Thật vậy, như ông nói, có lý do để nghĩ rằng hầu hết ngôn ngữ / tư tưởng thì hoàn toàn không hướng ra bên ngoài. Nếu một người nào đó hiểu vững chắc rằng ngôn ngữ thì không do con người thiết kế cho một mục đích cụ thể,, nhưng là phần tự nhiên sinh vật có sẵn của họ, khi đó việc lấy ngôn ngữ như một đối tượng của nghiên cứu, cho dù khoa học hay triết học, có thể phải có ở đó một sụt thay đổi quan trọng đáng kể trong những tiếp cận về phương pháp của chúng ta.

 

Trích dẫn từ Darwin vốn Chomsky tán thành, có nói rằng những gì là nền tảng về ngôn ngữ là một “năng lực của việc liên kết với nhau những âm thanh và những ý tưởng đa dạng nhất”. Trừ sự kiện, như chúng ta đã nhắc, rằng âm thanh (cùng với những phương thức của sự hướng ra bên ngoài khác) đã bị đặt xuống thứ yếu, giải thích lý thuyết của riêng Chomsky về Thuộc tính Cơ bản đã lấy điểm này trong Darwin, cho là đúng – mặc dù có lẽ không chính xác như từ dùng, vì liên kết thì không thật đúng trong việc mô tả hoạt động trung tâm vốn giải thích đưa ra. Dẫu vậy, sự liên kết xảy ra, ngay cả trong điều kiện cổ điển (chuông, thức ăn), và Chomsky nổi tiếng đã bác bỏ những giải thích của nhà tâm lý học hành vi về ngôn ngữ. Hơn nữa, những liên kết giữa hai đối tượng, như ngay cả những nhà tâm lý học không-hành vi hiểu sự liên kết, có thể hàm ý rằng thứ tự của những đối tượng thì quan trọng trong một cách thức vốn sức nặng lớn hơn nhiều đặt trên những hình thức phù hợp cho sự diễn dịch ngữ nghĩa ở mặt giao tiếp khái niệm-chủ định (thay vì mặt giao tiếp hệ thống phối hợp giác quan-vận động) thiết lập nó thì không. Vì vậy, tránh xa từ “liên kết” gây hiểu lầm của Darwin cho những gì chính Darwin muốn nói, nhữngChomsky có trong tư tưởng là để làm trung tâm rằng chúng ta là duy nhất trong sự sở hữu khả năng “để đặt vào với nhau” những ý tưởng và những yếu tố cú pháp. Và khái niệm nền tảng này về ngôn ngữ thì lập lại trong giải thích lý thuyết của Thuộc Tính Cơ Bản, trong đó hoạt động quan trọng chủ yếu được cho tên là Hợp Nhất, vốncó thể hoạt động bên ngoài trên hai đối tượng riêng biệt để tạo ra một đối tượng khác, hoặc có thể hoạt động bên trong từ bên trong một đối tượng để tạo một đối tượng khác, tự động tạo ra thuộc tính phổ biến của “sự chuyển dịch” (những cụm từ nghe ở một chỗ nhưng cũng hiểu ở một chỗ khác) trong dạng thích hợp cho sự diễn dịch ngữ nghĩa phức tạp.

 

Chúng được gọi là Hợp Nhất Bên Ngoài và Hợp Nhất Bên Trong [8], và tôn trọng tính đơn giản trong phương pháp khoa học, có thể áp dụng trong ngôn ngữ học như trong bất kỳ nơi nào khác, bảo rằng chúng ta giữ những hoạt động cơ bản ở mức tối thiểu này, và không làm nảy nở những hoạt động trong việc giải thích sức mạnh tính toán vốn ngăn cấm Thuộc tính Cơ bản. Sau khi làm việc qua một số thí dụ để trình bày ngôn ngữ thiết kế thế nào ở mức tối ưu củanếu chúng ta gắn bó với lệnh cấm về phương pháp này, Chomsky trình bày những thay đổi trong những cái nhìn của ông, chẳng hạn như về hiện tượng của sự “chuyển dịch”, vốn ông đã từng coi như một sự “không hoàn hảo”, nhưng bây giờ, nếu một người giữ chính xác với những giả định về phương pháp luận đơn giản nhất như vừa nhắc đến, thì là mộtvốn đơn giản để được mong đợi.

 

Chương này kết thúc với một cố gắng táo bạo để khai thác những điểm cuối cùng này về phương pháp để đem hai câu hỏi xem dường khác loại vào cùng với nhau: Chúng ta sẽ đem giải thích nào cho Thuộc tính Cơ bản? Ngôn ngữ đã nảy sinh như thế nào và khi nào? Sự hợp dòng này của sự đơn giản của những giả định trong việc giải thích cho Thuộc tính Cơ bản và sự xác nhận kèm theo của sự sắp xếp tối ưu của ngôn ngữ có thể giúp để đem thực chất cho những gì là giả thuyết hợp lý nhất trên bằng chứng giới hạn chúng ta có được về những nguồn gốc của ngôn ngữ: rằng ngôn ngữ đã không nảy sinh dần dần, nhưng đột ngột (và tương đối gần đây). Một “nhảy vọt tới trước” đột ngột như vậy, giờ đây nó có thể được suy đoán, đã có lẽ gây nên bởi “một một chút mắc nối lại dây thần kinh của bộ óc [khiến] đã đem lại sự Hợp nhất, một cách tự nhiên trong hình thức đơn giản nhất của nó, cung cấp cơ sở cho sự suy nghĩ sáng tạo và không giới hạn”, cho đến điểm đó đã không có.

 

Chương 2, “Chúng ta có thể hiểu được gì ?”, đã kết hợp một số những kết luận này bằng trước tiên giải thích chi tiết trên một chủ đề trung tâm khác trong công trình của Chomsky: những giới hạn của nhận thức con người.

 

Có một câu nói chúng ta tất cả đều dùng rất thường: “phạm vi và những giới hạn của…” Chomsky rất coi trọng nó và cho nó một khai triển bất ngờ gây thay đổi quan điểm quan trọng trong việc khai triển chi tiết sự hiểu biết của ông về những khả năng nhận thức của chúng ta. Những khả năng này, trong phạm vi của chúng đều rộng hơn và sâu hơn so với bất kỳ loài sinh vật nào khác chúng ta biết, đều như thế một phần chúng cũng đều chịu những giới hạn, những giới hạn thuộc vào bản chất của chúng ta, như tên gọi của quyển sách nêu lên, loại sinh vật vốn chúng ta thuộc về – đặc biệt, sự kiện rằng những khả năng nhận thức của chúng ta có một cơ bản sinh học.

 

Chúng ta đã ngấm ngầm bắt gặp điểm này trong chương 1, dù ở đó đã giới hạn vào khả năng con người cho ngôn ngữ. Giải thích lý thuyết của ngôn ngữ đã trình bày ở đó đã giả định sẵn khái niệm này của những giới hạn – đó là, giả định sẵn rằng chúng ta đều được ban cho về di truyền với những cấu trúc bẩm sinh vốn cung ứng cho chúng ta khả năng độc đáo cho ngôn ngữ, những cấu trúc vốn đồng thời thúc dục ngôn ngữ nào cho chúng ta, ở đó những ngôn ngữ-I nào thể có. Đó là cho sự mô tả đặc điểm của những cấu trúc bẩm sinh này, vốn thuật ngữ kỹ thuật “UG” [9] đã được trù định, và nó nằm trong khuôn khổ của phạm vi và những giới hạn do sự ban cho trong di truyền này đặt định khiến ngôn ngữ như một khả năng tính toán được giải thích trong giải thích tạo sinh đã tóm tắt trước đó.

 

Những gì là đúng của ngôn ngữ thì chỉ là một trường hợp đặc biệt của một tập hợp hoàn toàn tổng quát của những phạm vi và những giới hạn vốn đến từ sự kiện của tư cách những sinh vật với một hệ tâm-sinh lý. Ý tưởng dường như không nêu lên tranh luận khi đi đến khả năng thể chất: những gì làm chúng ta thích hợp để bước đi giới hạn chúng ta, vì vậy chúng ta không thích hợp để luồn trượt như rắn.[10] Chomsky nghĩ rằng là tiên kiến để phủ nhận rằng những gì là hiển nhiên trong trường hợp của những khả năng thể chất như vậy thì không hiển nhiên (như những tranh luận không ngừng quanh những ý tưởng bẩm sinh vốn sẽ dấu hiệu chỉ định gián tiếp) trong trường hợp của những khả năng nhận thức. Để sở hữu một số khả năng nhận thức nhất thiết có nghĩa là những khả năng nhận thức khác có thể bị thiếu, những khả năng nhận thức mà những loại chủ thể trí óc khác có thể hình dung được. Chỉ khi chúng ta bỏ qua thực tế sinh học của chúng ta khi chúng ta nghiên cứu nhận thức của con người, chúng ta sẽ cố gắng phủ nhận những giới hạn này. Và chương 2 tiếp tục xem xét một cách khá tổng quát câu hỏi về những giới hạn như vậy với khả năng nhận thức của chúng ta, vượt ngoài phạm vi cụ thể của ngôn ngữ, mặc dù quay trở lại ở nhiều điểm khác nhau để một lần nữa rút ra kết luận về ngôn ngữ.

 

thăm dò thành quả về phương pháp của ý tưởng này về những giới hạn nhận thức, bằng trước tiên nhắc lại một phân biệt, Chomsky đã đưa ra cách đây gần 50 năm, giữa “những vấn đề” và “những bí ẩn”. Nhắc lại cách hiểu của Peirce về phương pháp khoa học và sự phát triển khoa học vốn viện dẫn khái niệm lấy đi’ [11], vốn đặt những giới hạn trên những gì được kể như những giả thuyết có thể chấp nhận được”, ông lập luận rằng những cấu trúc bẩm sinh được xác định bởi di truyền sẵncủa chúng ta đặt những giới hạn cho những câu hỏi chúng ta có thể hình thành. Những câu hỏi mà chúng ta có thể hình thành, dễ dàng theo dõi được, gọi là “những vấn đề”, nhưng với những giới hạn nhiều đến mức có thể có, trong đó sự hình thành của chúng, thì sẽ có những sự việc vượt ngoài khả năng nhận thức của chúng ta; đến mức độ vốn ngay cả chúng ta có thể nghĩ về chúng, với những khuôn khổ khái niệm và kiến thức hiện tại của chúng ta, chúng ta sẽ thấy mình không thể hình thành chúng trong một cách thức vốn một hình thức của tìm hiểu khoa học về chúng có thể dễ dàng theo dõi được. Những sự việc này ông gọi là “những bí ẩn”. Tên gọi của quyển sách này, Chúng Ta Là Loài Sinh Vật Nào? thì được nó trực tiếp trả lời, vì những loài sinh vật khác, với một bẩm sinh sinh học khác với của chúng ta, có thể có khả năng để hình thành những vấn đề vẫn còn là những bí ẩn với chúng ta. Vì vậy, với Chomsky, nếu không phải với Peirce (người, khi nói về những giả thuyết có thể chấp nhận được, có thể đã cho nó một vai trò ít quyết định hơn với sự kiện của tư thế là những sinh vật của chúng ta), [12] sự phân biệt giữa “những vấn đề” và “những bí ẩn” cấu trúc sinh vật-tương quan.

 

là một phần rất quan trọng của bức tranh này về phương pháp rằng chúng ta nên học để bớt căng thẳng với sự kiện của những giới hạn về nhận thức của chúng ta và những “bí ẩn” vốn chúng không tránh khỏi buộc chúng ta phải thừa nhận. Chương cuối của tập sách này, “Những Bí Ẩn Của Tự Nhiên”, duyệt qua những thời điểm quan trọng trong lịch sử của khoa học để rút ra bài học về phương pháp nghên cứu này.

 

Một thời điểm mấu chốt là khi Newton lật ngược những giả định cơ học-tiếp xúc [13] của khoa học thời nay lúc ban đầu vốn đã trước ông, và đưa ra một khái niệm về lực hấp dẫn làm suy yếu những quan niệm có trước đó về vật chất, chuyển động và quan hệ nhân quả, vốn đã là những củng cố khoa học cho sự hiểu biết thông thường của chúng ta (có lẽ đã được những giới hạn nhận thức của sinh học của chúng ta xác định) về thế giới của những đối tượng. Chomsky cho thấy rằng cùng với Newton, một khuôn khổ mới đã xuất hiện trong đó – dưới ánh sáng của những giới hạn đó – một gì đó không thể mường tượng được đã được đưa ra. Chính Newton cũng thừa nhận điều không thể mường tượng được này, ngay cả còn gọi nó là một điều phi lý, và không ai sau đó kể từ Newton, đã làm bất cứ gì để đền bù cho chỉ những đánh giá này. Thay vào đó, điều phi lý đã đơn giản được đưa vào bức tranh khoa học của chúng ta về thế giới. Newton không bao giờ để nó ngăn cản ông, xây dựng những định luật giải thích và làm ngơ sự thiếu xót của môt hiểu biết sâu hơn nằm chìm bên dưới, nếu chúng ta có nó, vốn sẽ làm cho có ý nghĩa những gì đã có, bởi những thừa nhận này về phần của ông (và của những người khác), đã được mô tả như một sức mạnh “ma thuật siêu nhiên”. Nó đã đủ để xây dựng những lý thuyết có thể hiểu được về thế giới. Và để làm như vậy, không cần thiết phải tìm thấy thế giới có thể hiểu được trong ý hướng sâu xa hơn vốn giới hạn nhận thức của chúng ta làm nản lòng.

 

Những nhà tư tưởng tiếp theo (đặc biệt là Priestley, đáng chú ý như một nhà bình luận sắc sảo và thấu hiểu nhất) đã làm rõ ràng cái nhìn này về phương pháp và đã rút ra những hệ quả cho những vấn đề trong triết học của não thức vốn làm những triết gia ngày nay thao thức, nhưng nếu như họ nhận lấy những gì Priestley đem cho, điều đó đã có thể khiến họ xem xét lại những gì họ trình bày như vấn đề cơ thể-não thức, hay “vấn đề khó” của ý thức [14]. Những triết gia có một khuynh hướng dán nhãn cho một số vấn đề như “khó” đặc biệt duy nhất, nhưng yên nghỉ thỏa mãn trong sự ghi chép bực bội đó. Chomsky gọi đúng đến tình trạng này để trước hết cho thấy rằng không có gì duy nhất về việc tìm thấy một gì đó “khó” trong đúng cách này. Thế nên, thí dụ, những gì sự giới thiệu của “lực hấp dẫn” đã làm trong vật lý đã được hình thành là ‘khó’ cũng đúng như sau thời Newton, gồm cả chính Newton. [15] Ý nghĩa quan trọng của điều này đối với những gì gọi là vấn đề cơ thể-não thức là nó đem nghi ngờ đặt trong câu hỏi liệu nó còn có thể – kể từ Newton – ngay cả được hình thành nhất quán nữa hay không. Sự giới thiệu ban đầu gây-lo lắng về một gì đó “bí ẩn” như “lực hấp dẫn” cuối cùng đã trở thành thiết yếu với sự hiểu biết của chúng ta về những vật thể và sự tác động không tiếp xúc lẫn nhau của chúng, và vì vậy nó đơn giản đã được đưa vào thành phần của khoa học – quả thực, như ý nghĩa thông thường mới của khoa học. Từ điều này, nếu có bất cứ một gì, chúng ta sẽ kết luận về triết học rằng mọi sự vật việc đều là không-vật chất, vì vậy không có gì có thể còn lại rõ ràng của một vấn đề não thức/cơ thể. Trong một sự đảo ngược hùng hồn đáng nhớ của khẩu hiệu của Ryle, Chomsky nói rằng khác xa với bóng ma đã bị đưa vào quên lãng, bộ máy đã bị vứt bỏ nhưng bóng ma vẫn còn nguyên vẹn. Đối với ý thức, khuynh hướng của triết gia để đòi hỏi rằng phần lớn của trạng thái tâm lý của chúng ta là ý thức, một khuynh hướng rõ ràng như khác biệt trong những triết gia như Quine và Searle, được đem vào vấn đề bằng nhìn vào những hoạt động của những khả năng có qui luật ràng buộc của cả ngôn ngữ và thị giác. Chomsky cảm thấy vững chắc đặc biệt về điều này, vì ngay cả phần lớn của suy nghĩ có ý thức của chúng ta đều có tác động qua lại ảnh hưởng lẫn nhau với những phương diện của não thức vốn bị che giấu khỏi ý thức, và do đó, việc giới hạn bản thân với những gì là ý thức sẽ cản trở một sự hiểu biết khoa học của ngay cả não thức ý thức.[16]

 

Với bận tâm của ông với một giải thích khoa học, Chomsky cũng quan tâm để cho thấy rằng một số những đường lối của suy nghĩ về ngôn ngữ, và nói rộng hơn về tưởng, đều không hợpvề mặt khoa học. Đặc biệt, có một thảo luận đã kéo dài về những yếu tố cơ bản độc lập [17] của sự tính toán. Sau khi nhắc đến đến những điểm đã thiết lập trong chương 1, ông cho thấy rằng chúng đã được mô tả nhầm lẫn như những “từ” và như những “đơn vị từ vựng” [18] trong văn học bởi vì – khi chúng được đưa vào trong mặt giao tiếp khái niệm-có chủ đích, vốn đã được cho thấy là chính yếu, ngược lại với mặt giao tiếp hệ thống phối hợp giác quan-vận động – chúng không được những tiến trình của sự biểu hiện ra bên ngoài xây dựng. Ngay cả còn ngạc nhiên hơn cho những triết gia là tuyên bố rằng, ngoại trừ một số trường hợp ngoại lệ được quy định rõ ràng trong toán học và khoa học, chúng không có bất kỳ thuộc tính viện dẫn nào và không được nghĩ như mang theo những quan hệ cấu thành với những đối tượng độc lập với não thức trong thế giới bên ngoài. Ngôn ngữ-I , vốn là khái niệm của ngôn ngữ duy nhất có thể giải thích được về mặt khoa học, như thế là hoàn toàn nội tại. Điểm này được thămqua một thảo luận của những quan điểm lịch sử, chẳng hạn như quan điểm của Aristotle và Hume, và qua thảo luận về những thí dụ của những những yếu tố cơ bản độc lập như vậy, từ tương đối cụ thể như “ngôi nhà” và “Paris” đến tương đối trừu tượng như “con người” và “sự vật”. Việc viện dẫn hoặc nghĩa đen hay nghĩa chính của một từ thì được những thảo luận này cho thấy là quá tùy theo ngữ cảnh để có thể mang nghiên cứu khoa học và nên được xem như liên quan với việc dùng ngôn ngữ nào hơn là với một phương diện cấu thành của chính ngôn ngữ. Tất cả điều này dẫn đến một phân loại khác với phân loại được thấy giữa những triết gia, sau khi loại bỏ gần như tất cả những gì họ có trong não thức bằng “Ngữ nghĩa học” vói ‘Ngữ dụng học ’ [19].

 

Những kết luận này đều liên quan đến câu hỏi của nguồn gốc của ngôn ngữ. Những tín hiệu của những động vật với nhau đã do những kết hợp trực tiếp vốn chúng có với những đối tượng trong thế giới bên ngoài. Sẽ không hiểu biết chúng nếu một trong những kết hợp nhân quả này bị loại bỏ, trong khi ngược lại gánh nặng của thảo luận trước đã là để cho thấy chính xác rằng không có những kết hợp nhân quả cấu thành nào như vậy với một thực tại độc lập với não thức cho những những yếu tố cơ bản độc lập của sự tính toán của con người. Điều này đem cho thêm lý do để kết luận rằng loài sinh vật vốn chúng ta thuộc về, đã có được loại khả năng cho ngôn ngữ và suy nghĩ vốn chúng ta có được, sẽ được một giải thích về tiến hóa thuộc loại đã trình bày trong chương 1 hơn là những gì Chomsky, sau khi trích dẫn Lewontin trong chương 2, mô tả như việc “kể chuyện” về sự tiến hóa dần dần từ những tổ tiên sáng tạo của chúng ta, một phương thức giải thích vốn người ta sẽ lấy làm thích thú, chỉ nếu người ấy không đặt đủ ưu tiên và chú ý khoa học đến bản chất được giải thích của những đặc điểm quan sát được trong cá thể qua sự biểu hiện của những gen; [20]. Nó cũng là sự kể chuyện một phần, như trích dẫn Lewontin đã nói, vì “không may, khó quá!” của việc khôngtiếp cận với bất kỳ bằng chứng nào, có thể dựa những giải thích này trên đó. Chúng bị che dấu khỏi sự tiếp cận nhận thức con người, một dạng khác của giới hạn của chúng ta.

 

Thế nên, những giới hạn trên sự nhận thức của chúng ta là không thể tránh được vì nhiều loại những lý do, chính yếu trong chúng là việc quá quan trọng với sự kiện hoàn toàn tuyệt đối rằng chúng ta đều là những sinh vật. Không giống Locke, Priestley, Hume, Russell, Peirce và Lewontin, những người được ngưỡng mộ của chương này, hiển nhiên nhấtHilbert (“Tuyệt đối không có những vấn đề không-thể-giải được”) [21] và phần nhiều triết học thời nay, hiểu ngầm hơn, phủ nhận rằng có những bí ẩn, do đó phủ nhận một sự đúng thực hầu như hiển nhiên dựa trên thực tế tuyệt đối này. Điều hết sức đáng chú ý là Chomsky, sau khi trình bày tất cả những điều này, dẫn đến một kết hợp thú vị của những thái độ với nó. Mặt khác, chính ý tưởng về những giới hạn nhận thức vốn đưa con người chúng ta đến với “những bí ẩn”, vốn những loại chủ thể khác có thể tìm thấy là theo dõi kiểm soát được hoàn hảo, là một cam kết với nhữngnhững nhà triết học gọi là siêu hình học duy thực. Như ông nói, “Với những đúng thực hầu như hiển nhiên ẩn, điều không thể tưởng tượng được với tôi không là không có tiêu chuẩn cho những gì có thể hiện hữu”. Nhưng mặt khác, lấy dấu hiệu chỉ định gián tiếp của ông từ Newton, thái độ của ông, một khi điều này được thừa nhận, trước sau người theo thuyết thực dụng. Chỉ vì những gì chúng ta nghiên cứu, thế giới, có thể cuối cùng không thể hiểu được, không có nghĩa là chúng ta sẽ bị ngăn cấm với cố gắng để tạo ra những lý thuyết khoa học có thể hiểu được về thế giới. Chomsky nói, ngay cả khái niệm về hành động tự do của con người, có thể vượt ngoài bất kỳ khái niệm nào chúng ta có được (quan trọng là tính xác định và sự ngẫu nhiên) một ngày nào đó có thể trở thành theo dõi kiểm soát được về khoa học, mặc dù hiện tại chúng ta còn rất xa với bất cứ gì giống như sự hiểu biết đó. Điều này hoàn toàn khác với thái độ của Kant, người đã tuyên bố tự do để có thể suy nghĩ được, nhưng không bao giờ biết được. Giống như Peirce và trước ông là Newton, và không như Kant, Chomsky không muốn thuyết bí ẩn của chính ông và sự nhất quyết của chính ông với những giới hạn của những khả năng nhận thức của chúng ta, như Peirce đã từng nói, đặt “những rào cản trên con đường dẫn đến tri thức”.

 

Chương 3, “Lợi ích chung cho tất cả là gì ?”, nhấc bỏ sự giới hạn trên những bản chất của chúng ta, nhìn trong những điều kiện của những khả năng cá nhân (cho ngôn ngữ và nhận thức), và nhìn chúng ta như những sinh vật xã hội, tìm để thăm dò những gì là công ích, và những xếp đặt chính trị. và kinh tế nào thúc đẩy hay cản trở nó.

 

Những khuôn mặt của phong trào ‘Khai sáng phóng lớn trong sự theo đuổi những câu hỏi này, dù những gì Chomsky nghĩ về phong trào Khai sáng thì chứa đựng nhiều, gồm những khuôn mặt “tự do” quen thuộc của Adam Smith [22] và Mill cũng như những khuôn mặt trong một truyền thống mở rộng của phong trào Lãng mạn, như Humboldt và Marx. Và diễn giải của nó cũng rất bao gồm, nhấn mạnh không chỉ phương diện của Smith vốn thường bị hầu hết những nhà phê bình tự do và cấp tiến của ông cũng như những người bảo thủ sùng tín của ông im tiếng lấp liếm, nhưng cũng những nguyên lý vốn để cho phong trào Khai sáng được nhìn như một đi trước mở đường của một truyền thống vô chính phủ sau này ở Europe cũng như John Dewey ở America.

 

Điểm khởi hành của những dò hỏi này, trong thực tế, là theo thuyết cá nhân và đã nối với những chương sách trước. Ngay cả bên trong những giới hạn đã xác định về sinh học của chúng, những khả năng sáng tạo vốn mỗi cá nhân có được (và vốn đã thảo luận trong chương 1, trong lĩnh vực đặc biệt của ngôn ngữ ) đều chính xác là loại của những sư vật việc vốn sự phát triển đầy đủ của nó làm những cá nhân ‘n hoa’ như những chủ thể. Câu hỏi xã hội của lợi ích chung nhất thiết đi vào, khi người ta hỏi những loại định chế nào cản trở sự phát triển giống như thế bên trong mỗi cá nhân. Những cấu trúc cơ bản xã hội như chủ nghĩa tư bản vốn nhấn mạnh lợi ích cá nhân thì cản trở hơn là khuyến khích sự phát triển những khả năng cá nhân. Cả những chỉ trích gắt gao sống động của Smith về những gì là sự phân công lao động làm phá hủy tính cá nhân sáng tạo của chúng ta và những lời gay gắt của Dewey trên cái cái bóng do quyền lợi doanh nghiệp phủ lên mọi phương diện của đời sống xã hội công cộng và cá nhân, đều được viện dẫn để thiết lập điều này. Truyền thống của chủ nghĩa vô chính phủ (từ Bakunin đến Rudolph Rocker và chủ nghĩa công đoàn-vô chính phủ [23] trong thời kỳ Nội chiến ở Spain) kết hợp những ý tưởng của thuyết xã hội với những nguyên tắc tự do của phong trào Khai sáng cổ điển để xây dựng một lý tưởng – của lao động hợp tác, sự kiểm soát của công nhân với công trường nhà máy và những phương tiện của sản xuất, và đời sống xã hội quanh những hiệp hội tự nguyện – vốn nếu được thực hiện, sẽ cuốn trôi những trở ngại cho mục đích của sự phát triển con người vốn xuất phát từ cả thuyết tư bản thị trường tự do và những khuynh hướng Bolshevik đến một “bộ máy quan liêu đỏ” [24]. Những ý tưởng của Dewey về giáo dục cho thấy, bằng tương phản với phần lớn thực hành thời nay thấy trong những cơ sở giáo dục, mục tiêu phát triển con người có thể được theo đuổi tốt nhất ngay từ tuổi thơ như thế nào.

 

Có những mô tả cảm động về việc bao nhiêu của những lý tưởng này đãtrung tâm cho sự tuyên truyền tích cực của một phạm vị rộng lớn của những phong trào cơ sở – từ truyền thống nghị viện cấp tiến ban đầu ở England thế kỷ XVII đến những ‘cô gái trong nhà máy’ và những thợ thủ công vốn Norman Ware đã viết trong nghiên cứu của ông về những thợ thuyền kỹ nghệ trong truyền thống US, đến những nhà gót học giải phóng theo truyền thống Kitô ở Trung-Mỹ [25] . Những truyền thống lao động dân chủ lâu đời này được đối chiếu trong một số chi tiết với một cách hiểu khác về dân chủ, trong một truyền thống bắt đầu ở US với những hạn hẹp nghiêm nhặt “quý tộc” của Madison về ainhững người có thể đứng cai trị và được hiện đại hóa trong cái nhìn của những ý tưởng về dân chủ của Walter Lippmann về sự cai trị của giới “chuyên môn”, diễn tả theo lối US của thuyết tiên phong của thuyết Lenin, – như Chomsky nói rõ khi xem qua kết quả những cuộc thăm dò về những vấn đề quan trọng khác nhau, chẳng hạn như chăm sóc sức khỏe – đảm bảo rằng những gì người dân muốn hầu như không bao giờ đem vào chương trình bàn luận về những hoạt động của chính trị “dân chủ”. Dĩ nhiên, hiểu biết vừa nói sau về dân chủ chi phối sự thực hành của những xã hội và chính phủ trong phần lớn của thế giới phương Tây, và Chomsky rất muốn cho thấy rằng ngay cả trong sự tồi tệ nhất của nó, nó không bao giờ từ bỏ tuyên bố theo đuổi những lý tưởng cao đẹp của lợi ích chung cho tất cả, cho thấy lợi ích chung cho tất cả thì phổ quát như thế nào trong một cách hoàn toàn nghịch lý: nó được rao giảng như được áp dụng cho tất cả mọi người, ngay cả khi khắp mọi nơi, nó bị những người được nói là đại diện tất cả vi phạm, ngoại trừ những aingười hầu hết đuổi theo những lợi ích của một số nhỏ.

 

Nhận điểm khởi hành nền tảng trong tính sáng tạo con người và sự quan trọng của sự bừng nở không bị cản trở của nó, Chomsky nghiêng sang thuyết vô chính phủ thì không có gì ngạc nhiên, và cách ông đưa ra điểm khởi hành đã luôn đểtuyên bố, như ông lập lại trong bài giảng này, rằng bất kỳ hình thức ép buộc nào vốn cản trở nó (tính sáng tạo con người) thì không bao giờ có thể được coi là đương nhiên. Nó cần một biện minh. Tất cả những xếp đặt với quyền lực cưỡng chế, gồm cả nhà nước trung ương, phải luôn luôn được biện minh. Vị trí giả định là chúng thì không được biện minh – cho đến khi và trừ khi chúng thực là như vậy. Và với tương lai không doán trước được của “những bãi cạn của chủ nghĩa tư bản” (cụm từ của ông) [26] ở cùng khắp mọi nơi thế giới, quả thực có một biện minh cho khái niệm của nhà nước bảo vệ một số lượng lớn gồm những người bị đẩy ra ngoài rìa xã hội (lập lại chính Smith , người nghĩ rằng chỉ có nhà nước mới có thể làm nhẹ đi đời sống áp bức vốn những sức mạnh tư bản công nghệ áp đặt trên giới lao động), [27] rất khác với tình trạng thực tế trong hầu hết những xã hội, như Dewey được trích dẫn đã nói, phần lớn thực hiện sự đấu thầu của những tập đoàn và khi làm như vậy loại bỏ yếu tố xã hội thuyết khỏi thuyết vô chính phủ và cho phép chỉ yếu tố tự do – như một kết quả của nó, nền dân chủ trở thành “chế độ dân chủ mới “ (đối sánh với “chủ thuyết tự do-mới”), trong đó nếu một người bị nghèo đói thì đó là vì, như Hobbes có thể đã nói, người ấy đã chọn để làm như vậy. Thế nên, để quay lưng lại với điều này và biện minh cho nhà nước như đem cho những bảo vệ cho những người đang chịu đựng khổ sở dưới chế độ tư bản, khác xa với chủ thuyết vô chính phủ, là một sự áp dụng nhất quán của những nguyên tắc của nó trong những trường hợp lịch sử dự phòng cóa thể bất ngờ xảy ra, một điểm mà Chomsky trình bày với một ẩn dụ kỳ diệu rằng ông nói. ông đã mượn từ phong trào công nhân nông thôn ở Brazil và mở rộng – ẩn dụ về một “cái lồng sắt” có những nền của nó mà người ta cố gắng mở rộng khi người ta cố gắng giảm bớt sức mạnh cưỡng chế của nhà nước, ngay cả khi cái lồng bảo vệ người ta khỏi những thế lực phá hoại bên ngoài cái lồng, những sức mạnh khiến chúng ta trở nên yếu ớt, và nghèo khó và bị lạc lõng , không nói gì đến việc khiến hành tinh của chúng ta thành không thể ở được.

 

Tôi đã cố gắng hết mức, đến sức tôi có thể, để tóm tắt một quyển sách có sự phức tạp và sức mạnh trí thức độ sâu dày kiến thức và tính khởi nguyên của nó không thể nào nắm bắt được trong một giản lược tổng quát – vì vậy, một thực hiện và nhiệm vụ có thể cuối cùng không giúp đượccho người đọc. Nhưng nhữngtôi sẽ nói, không cần tạm dừng hay điều kiện, là rằng đã có rất nhiều thích thú và chỉ dẫn kiến thức trong sự thực hiện, khiến tôi không thể làm gì hay hơn là yêu cầu độc giả hãy nghiên cứu quyển sách cho chính mình – không chỉ vì những phẩm chất tôi vừa nhắc, nhưng còn vì sự nghiêm trọng tuyệt đối của mục đích của nó liên quan đến những câu hỏi sâu xa nhất trong triết học và khoa học và trên hết là tính nhân văn rộng lớn của nó.

 

Akeel Bilgrami

Chủ biên Tủ sách Những Chủ Đề Triết Họ, nhà xuất bản trường đại học Columbia

Triết gia, giáo sư triết học, Đại học Columbia

 

 

Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ nhất

(Sep/2022)

(Còn tiếp ... )

http://chuyendaudau.blogspot.com/

http://chuyendaudau.wordpress.com

 



[1] Dịch theo Noam Chomsky. What kind of creatures are we? New York, NY: Columbia University Press, 2015.

Những chú thích trong ngoặc vuông [... ] dịch theo nguyên bản.

Những chú thích khác, với những sai lầm nếu có, là của tôi, sẽ tìm chữa sau. Tôi đặt trọng tâm chú ý trên tư tưởng, triết học của Chomsky

 

[2] [Cho tất cả những tài liệu tham khảo, hãy xem những chương trong đó có trích dẫn. Về quan hệ giữa ngôn ngữ và tư tưởng, Chomsky, mặc dù bây giờ ông nghĩ nó thậm chí còn gần hơn ông đã nghĩ, nhưng không nghĩ cần phải khẳng định một gì đó mạnh mẽ như “bản sắc định tính “giữa chúng, như Humboldt đã làm. Descartes và Darwin, những người cũng nhắc đến trong thảo luận của Chomsky về quan hệ này, đã không đi xa đến vậy.]

[3] Mô-đun ngôn ngữ (The language module), còn gọi là khả năng ngôn ngữ (faculty of language) là một cấu trúc giả định trong bộ óc con người, được cho là chứa những năng lực bẩm sinh về ngôn ngữ, Noam Chomsky đưa ra đầu tiên. Khả năng ngôn ngữ gồm hệ thống phối hợp giác quan-vận động (sensorimotor), hệ thống khái niệm-chủ định (conceptual-intentional system), và hệ thống máy móc tính toán (the computational mechanisms).

[4] Ngữ Pháp Phát Sinh

(a)

Generative Grammar: Ngữ Pháp Phát Sinh (Tàu dịch: 生成文法 – sinh thành văn pháp) – tôi tạm dùng từ phát sinh, theo tôi gần nguyên ý hơn – dù đã dịch phổ biến là tạo sinh, generative grammar là một khái niệm cơ bản trong lý thuyết ngữ học Chomsky, – [nó không được ‘sinh’ hay ‘tạo’ ra, đúng hơn nó ‘phát’ ra hay ‘khởi’ lên, như những tiếng hát thốt lên tự nhiên thành những lời ca, vô thức theo một luật hòa âm (harmony), thành vô hạn những kết cấu dài ngắn tùy ý (những bài hát/khúc nhạc). Một số nghiên cứu tâm lý trẻ sơ sinh, cho thấy chúng có một số sở thích hay nhạy cảm bẩm sinh với âm thanh. Chúng cũng phản ứng tốt, thích nghe những những âm thuận tai, hợp hòa âm (consonant), hơn là những -âm nghịch tai, không hợp hoà âm (dissonant)] là một lý thuyết ngữ pháp cho rằng ngôn ngữ của con người được định hình bởi một set những nguyên tắc cơ bản là một phần của bộ óc con người (và ngay cả có sẵn trong não của trẻ nhỏ). Theo những nhà ngôn ngữ học như Chomsky, ngữ pháp phổ quát’ (universal grammar) này đến từ khả năng ngôn ngữ bẩm sinh của chúng ta. Noam Chomsky, người đưa ra chính của ngữ pháp phát sinh, tin rằng ông đã tìm thấy bằng chứng ngôn ngữ rằng những cấu trúc cú pháp không được học nhưng được đứa trẻ tiếp thu từ ngữ pháp phổ quát. Trong Linguistics for Non-Linguists: A Primer with Practice, Frank Parker và Kathryn Riley lập luận rằng ngữ pháp phát sinh là một loại kiến thức vô thức cho phép một người, bất kể họ nói ngôn ngữ nào, có thể hình thành những câu nóiđúng. (‘Nói đơn giản, ngữ pháp phát sinh là một lý thuyết về khả năng ngôn ngữ: một mô hình của hệ thống tâm lý của tri thức vô thức làm cơ sở cho khả năng của người nói trong việc tạo ra và giải thích những phát biểu trong một ngôn ngữ ... Một cách cố gắng để hiểu quan điểm của Chomsky là nghĩ về một ngữ pháp phát sinh, cơ bản như một định nghĩa về khả năng: một set gồm những tiêu chuẩn vốn những cấu trúc ngôn ngữ phải đáp ứng để được phán đoán như có thể chấp nhận được)

(b)

Từ giữa những năm 1950 trở đi, Noam Chomsky đã thiết lập một số mục tiêu vốn tiếp tục định hướng tiến trình của nghiên cứu ngôn ngữ cho đến ngày nay. Trung tâm của tiếp cận của Chomsky là khái niệm của câu hình thành tốt (well-formed sentence).. Bất kỳ lý thuyết nào có khả năng tạo ra những câu được hình thành tốt và gạt bỏ những câu không-hình thành tốt, đều được xem như Ngữ Pháp Phát Sinh . Chúng ta sẽ xem xét những câu, sau đó xem xét một khái niệm trung tâm, khái niệm về khả năng, và cuối cùng xem xét những thành phần của Ngữ Pháp Phát Sinh. Trước tiên hãy xem xét những câu , lý thuyết cú pháp đơn giản nhất có thể tưởng tượng được là một ngữ pháp bao gồm một danh sách tất cả những câu được hình thành tốt của một ngôn ngữ . Tuy nhiên, một danh sách như vậy sẽ quá dài, vì có vô số câu nói (trong tiếng England, hay tiếng Việt), nên số câu trong một ngôn ngữ là vô hạn. (#câu = vô hạn).

Hai nguyên tắc tạo nên đặc điểm không giới hạn này của ngôn ngữ tự nhiên.Nguyên tắc đầu tiên là sáng tạo. Nói và diễn đạt ngay những gì trông thấy lần đầu tiên và và nghe hiểu những gì chưa từng nghe nói trước đó. Tính cách sáng tạo này cho thấy ngôn ngữ không thể học được đơn giản bằng bắt chước, nhưng đúng hơn là ngôn ngữ được tiếp nhận dựa trên những nguyên tắc trừu tượng, Chomskymột số nhà ngôn ngữ học thậm chí còn cho rằng những nguyên tắc này là bẩm sinh. Nguyên tắc thứ hai được gọi là tự lập lại. Những ngôn ngữ tự nhiên điển hình cho phép những cấu trúc có những xuất hiện của những phần tử được lập lại. Hiện tượng này được định nghĩa như sự tự lập lại theo tính toán hay kết hợp. Bất kỳ cố gắng mô tả nào về những cấu trúc dài thêm lên như vậy bằng cách liệt kê những yếu tố trong chúng, đều gặp vấn đề là không có giới hạn với độ dài của những cấu trúc câu như vậy . Tuy nhiên, với một hệ thống quy luật rất đơn giản, có thể mô tả được tính chất tự lập lại của ngôn ngữ tự nhiên. Lấy thí dụ về sự tự lập lại này. Lập lại đầu tiên gọi là phối hợp câu hay cụm danh từ (S, NP). Chúng ta có những thí dụ như “Giáp thấy Ất Ất thấy Bính và Bính thấy Đinh, vân vân và vân vân...’ như thế câu này có thể kéo dài mãi mãi, không dứt, lập đi lập lai dạng ‘X thấy Y’ và chúng ta áp dụng sự lập đi lập lại theo cùng một quy luật phố hợp (S, NP).. Một thí dụ khác là lập lại bằng liệt kê thuật từ/tĩnh tù hay sự lập đi lập lại. Chúng ta có những thí dụ như ‘ngôi nhà gạch xám, chơ vơ, trên sườn đồi, giữa những cây thông già, trong chiều tà, trông buồn bã, ....’ đối với những tính từ và thậm chí nhiều hơn nữa trên thuật từ cuối cùng được gọi là phần đính kèm câu mệnh đề (PP-attachment). Thí dụ,cbắt đầu với cụm danh từ:

‘ quả bóng’

bước tiếp theo, đặt quả bóng vào hộp, vì vậy chúng ta có câu mệnh đề từ đầu tiên

‘ quả bóng trong hộp’

sau đó hãy tiếp tục với

‘ quả bóng trong hộp dưới bàn’

tốt và ở đây chúng ta có thể tiếp tục

‘ quả bóng trong hộp dưới bàn có đèn’…

và không có giới hạn về số lượng những câu mệnh đề có thể được gắn vào cấu trúc này và quy luật khá đơn giản. Mặc dù số lượng câu là vô hạn, nhưng không phải tất cả những câu dùng trong trò chuyện con người đều được đưa vào bên trong một lý thuyết ngữ pháp. Qua khéo léo chọn lựa, một mức độ cụ thể của sự trừu tượng được nói đến như khả năng. Như một người nói tiếng mẹ đẻ , chúng ta có khả năng làm được nhiều những phán đoán trực giác về tiếng nói của mình, chúng ta không cần phải tham khảo những sách ngữ pháp, cũng như không phải dò hỏi một nhóm người khác nói cùng tiếng mẹ đẻ, nhưng thay vào đó, bằng vào việc biết một ngôn ngữ, chúng ta biết câu nào được hình thành tốt, và ngược lại. Đây khả năng. Hai thành phần cấu thành cốt lõi của một Ngữ Pháp Phát Sinh và chúng tác động lẫn nhau:Thành phần thứ nhất là thành phần cấu trúc cụm từ, nhiệm vụ trung tâm của nó là mô tả cấu trúc của tất cả những câu được hình thành tốt của một ngôn ngữ. Để đạt được mục tiêu này, cần có một hệ thống quy luật xác định rõ ràng, vì vậy cần những quy luật trong thành phần này kết hợp tất cả những phân loại liên tiếp vào thành những đơn vị lớn hơn. Cách tiếp cận này nhận được sự hỗ trợ thực nghiệm bằng phương tiện của một số lượng lớn những kiểm nghiệm cấu trúc có một truyền thống lâu dài, từ những hệ thống đầu tiên của những năm 1950 cho đến lược đồ cú pháp x-bar phức tạp ngày nay.

Thành phần thứ hai là từ vựng (lexicon). Từ vựng tác động với thành phần cấu trúc cụm từ và chứa thông tin về những mục từ vựng (hay hình thức từ vựnglexemes) của một ngôn ngữ, gồm những phương diện cú pháp và ngữ nghĩa hình thái học âm vị học. Toàn bộ hệ thống hoạt động như sau: thành phần cấu trúc cụm từ chứa một set giới hạn gồm những qui luật, vốn có thể tạo ra những cấu trúc câu cơ bản với chúng. Những cấu trúc này được phép bằng những phương tiện của thông tin từ vựng; nói cách khác, từ vựng cung cấp những mục từ vựng trên cơ sở thông tin của chúng vốn những cấu trúc câu cơ bản có thể được tạo ra cùng với nhau, thành phần cấu trúc cụm từ trong từ vựng tạo thành cốt lõi của bất kỳ ngữ pháp phát sinh hiện đại nào. Ngữ Pháp Phát Sinh không chỉ đem cho một mô tả của cấu trúc của một ngôn ngữ, nhung còn tìm cách để giải thích những hiện tượng sau: (1) Nhận thức ngôn ngữ: con người hiểu và tạo ra lời nói như thế nào. (2) Sự tiếp thu ngôn ngữ: những gì diễn ra trong não thức sơ sinh khi trẻ con học tiếng mẹ đẻ. (3) Sự biến thể ngôn ngữ: tại sao ngôn ngữ thay đổi trong những gì đang diễn ra dưới bề mặt của sự khác loại ngôn ngữ.

Như một kết quả của những thảo luận về những hiện tượng này, có vẻ hợp lý để tuyên bố rằng ngôn ngữ giống như một bản năng vốn chúng ta có được và dùng nó trong tiềm thức. Cốt lõi của tiến trình này là nhữngnhiều nhà ngôn ngữ học nói đến như ngữ pháp phổ quát .

[5] E-language: external languagengôn ngữ bên ngoài : ngôn ngữ truyền tải và có chung trong thế giới hoặc cộng đồng. I-language : internal language – ngôn ngữ bên trong: ngôn ngữ được nhận thức và hiểu trong từng cá nhân.Theo Chomsky, ngôn ngữ bên ngoài là một gì đó trừu tượng đem ra bên ngoài từ bộ máy thực sự của não thức chúng ta, ngôn ngữ bên trong là cơ chế vật chất của bộ óc chúng ta.

[6] [Mặc dù Chomsky nhắc đến ngôn ngữ-E theo cách tương phản với ngôn ngữ-I, nhưng ông nghi ngờ tính mạch lạc của chính ý tưởng và do đó không biết chúng có tồn tại hay không. Trong một số những luận văn của ông, ông phê bình những giả định cơ bản nhất vốn những triết gia đưa ra về tính mạch lạc của chúng, khi đưa ra những giải thích về chúng.

[7] [Khi chủ ý đưa ra điểm này về sự nghiên cứu ở một mức độ trừu tượng với một cái nhìn đến một giải thích cuối cùng trong những điều kiện của não bộ, Chomsky cho thấy tiếp cận thì không khác hơn như thế nào trong nghiên cứu khoa học của ngôn ngữ, lấy thí dụ, với trong hoạt động định chỗ hay đường đi của côn trùng. Trong một công trình khác, Chomsky trích dẫn một số tiến bộ vốn có thể làm được trong sự tìm hiểu vào trong những nền tảng cơ bản sinh học, nhưng cũng trích dẫn như thế nào có thể có một số những giả định sai về nền tảng đã của được những nhà khoa học não bộ về đối tượng nghiên cứu là gì. Về điểm cuối cùng này, xem tham khảo của ông về tác phẩm của Charles Gallistel trong chương 2.]

[8] External & Internal Merge

[9] Ngữ Pháp Phổ Quát

(a)

Universal Grammar (UG) : Ngữ Pháp Phổ Quát là hệ thống lý thuyết hay giả thuyết về những phạm trù, hoạt động và nguyên tắc có chung trong tất cả những ngôn ngữ của con người, và được coi là bẩm sinh. Sau những năm 1980, thuật ngữ này thường được viết hoa, và còn được gọi là Universal Grammar Theory/Lý thuyết Ngữ pháp Phổ quát. Noam Chomsky giải thích, “UG được coi là tập hợp những thuộc tính, điều kiện hay bất cứ gì cấu thành ‘trạng thái ban đầu’ của người học ngôn ngữ, do đó là cơ sở trên đó phát triển kiến thức của một ngôn ngữ. (Rules and Representations. Columbia University Press, 1980)) “Không nên nhầm lẫn UG với ngôn ngữ phổ quát,” Elena Lombardi lưu ý, “hoặc với cấu trúc sâu xa của ngôn ngữ, hay ngay cả với chính ngữ pháp” (The Syntax of Desire, 2007). Như Chomsky đã nhận xét, “UG không phải là một ngữ pháp, nhưng đúng hơn là một lý thuyết của những ngữ pháp, một loại lý thuyết của lý thuyết, hay sự sắp xếp và trình bày theo một hệ thống của ngữ pháp” (Language and Responsibility, 1979).

(b)

Khái niệm Ngữ Pháp Phổ Quát không chỉ dẫn đến một hiểu biết sáng tạo của ngôn ngữ học, những ý tưởng, triết học và lịch sử, nhưng cũng dẫn đến một hiểu biết của bản chất con người, giá trị của sự hiện hữu của con người, và sự khác biệt giữa loài người và những loài sinh vật khác. Khoảng giữa thế kỷ 20, Noam Chomsky đã nêu một lý thuyết cho rằng bộ óc của chúng ta được ‘hàn-nối-kết mạch’ chặt chẽ với một khuôn mẫu tâm lý cho sự học hỏi ngữ pháp và chúng ta dựa vào mô-đun ngữ pháp bẩm sinh này để có được ngôn ngữ. Lý thuyết về UG của ông sẽ cố gắng xác định một set những quy luật áp dụng được cho tất cả những ngôn ngữ, thiết yếu phơi bày một sự thống nhất ẩn dấu vốn nằm chìm như co bản cho sự đa dạng rộng lớn ngoài mặt của khoảng 7.000 ngôn ngữ trên thế giới. UG đã là một bước đột phá triệt để so với những tiếp cận không chính thức phổ biến hơn vào thời điểm đó. Những tiếp cận truyền thống dựa quá nhiều trên sự thông minh của người nói và thất bại, không giải thích được một số hiện tượng ngôn ngữ. Những tiếp cận theo thuyết cấu trúc có phạm vi quá hạn chế, tập trung quá nhiều vào những hình thái và những âm vị và đã không kể đến sự thông minh của người nói. Trong Aspects of the Theory of Syntax,1965, Chomsky đã thu hút sự chú ý đến tất cả những phức tạp bao gồm trong việc trở thành một người nói thành thạo của một ngôn ngữ. Hình thức đầu tiên của thuyết UG của ông đã pha trộn hai khuynh hưỡng mới nổi trong sinh hoạt trí thức phương Tây: ý tưởng rằng ngôn ngữ có cả: (a) một cấu trúc tính toán và (b) có gốc trong sinh học con người. Ông nêu lên rằng ngôn ngữ chúng ta dùng để thông tin trong đời sống hàng ngày hoạt động trong cùng cách thức như ngôn ngữ cômputơ dựa trên toán học, đồng thời ông cho rằng UG là một thành phần bẩm sinh của não thức con người với những nền tảng sinh học sâu xa.

(c)

UG có lẽ là ý tưởng nổi tiếng nhất của Chomsky. Chủ yếu là tin tưởng rằng khả năng đem dùng ngôn ngữ là phần của cấu tạo về gen của chúng ta. Trước khi Chomsky nêu lên ý tưởng này, quan điểm phổ biến đã là ngôn ngữ được học thông qua một tiến trình của làm thử và chữa sai – một đứa trẻ sẽ quan sát cha mẹ chúng chỉ vào những sự vật việc và cố gắng bắt chược lập lại những phát âm tương ứng. Chomsky đã chỉ ra rằng quan điểm ngôn ngữ theo thuyết hành vi này không thể giải thích được thực tại là hầu hết những câu nói đều lần đầu tiên được nói ra – mô hình tiếp thu ngôn ngữ ‘trỏ vào và lập lại không thể giải thích cho vô tận khác loại của những câu nói có thể được tạo ra. (Nếu quan điểm của nhà hành vi học này là đúng, thì về lý thuyết, có thể dạy ngôn ngữ cho một loài động vật thông minh.) Chomsky nêu lên rằng một khả năng về ngôn ngữ thì bẩm sinh, và tất cả những gì người học ngôn ngữ phải học là những âm tùy tiện ngẫu nhiên vốn chúng ta dùng cho những từ và những cấu trúc sắp xếp theo đường thẳng hay trong những bước tuần tự (thứ tự của những từ) vốn những ngôn ngữ khác nhau dùng để tạo ra những câu nói. Ông lập luận rằng ngoài những khác biệt bề ngoài này, tất cả những ngôn ngữ đều giống nhau về cơ bản. Khái niệm này đến nay đã được giằng co thảo luận từ lâu và rất nhiều người đã chỉ trích nó và chỉ ra những vấn đề, nhưng trong suy nghĩ của tôi , nó vẫn có vẻ khá hợp lý, đặc biệt là trong so sánh với những giải pháp thay thế tôi thấy đã được đưa ra. Những bác bỏ tôi hiểu xem dường như tấn công vào chữ nghĩa diễn đạt của hình thức hiện tại của lý thuyết hơn là ý tưởng trung tâm đằng sau nó. Ý tưởng quan trọng nhất đến từ khái niệm của UG là ý kiến cho rằng ngôn ngữ không thực sự là một gì đã học được nhưng là một gì vốn lớn dậy. Giống như khả năng thị giác, khả năng ngôn ngữ là bẩm sinh và phát triển cùng với phần còn lại của cơ thể. Theo đó, ngôn ngữ không phải là thứ có thể được 'dạy' theo nghĩa truyền thống của từ đó. Trẻ nhỏ tiếp thu ngôn ngữ với rất ít hướng dẫn.

(d)

UG của những năm 1960, ban đầu đã dựa trên cấu trúc tiềm ẩn của những ngôn ngữ nói của những nhà ngôn ngữ học, những người đã phát triển lý thuyết vốn mang ý nghĩa với hầu hết những ngôn ngữ Europe. Chương trình UG hoạt động trên những khoanhngôn ngữ như danh từ và những cụm động từ, do đó, để định nghĩa những quy luật có thể được áp dụng hay biến đổi những cụm từ đó. Tuy nhiên, những ngoại lệ đã không phù hợp với đề cương thiết lập đã bắt đầu xuất hiện, thách thức ý tưởng ban đầu của một ngữ pháp phổ quát này. Thí dụ, tiếng Urdu dùng những chủ ngữ trong câu theo cách không giống với nhiều ngôn ngữ Europe. Ngoài ra, những ngôn ngữ bản địa của Australia như tiếng Warlpiri phân tán danh từ và những cụm động từ trong suốt câu. Những ngoại lệ này đã rất khó khăn để thuận hợp với tiếp cận UG và dẫn đến một loạt những sửa đổi của lý thuyết vào những năm 1980. Thay vì một UG duy nhất cho tất cả những ngôn ngữ trên thế giới, hình thức mới của lý thuyết được thiết lập để xác định những nguyên tắc phổ quát, chẳng hạn như bất kỳ cấu trúc X nào cũng phải có thuộc tính Y, cộng với những nhân tố chi phối cấu trúc của ngôn ngữ. Những nguyên tắc này được thể hiện khác nhau trong mỗi ngôn ngữ và ngày nay tác động với văn hóa để tạo ra những nhân tố khác nhau .Chúng ta hãy lấy một thí dụ ngoài ngôn ngữ để minh họa cách tiếp cận những nguyên tắc và nhân tố này. Một nguyên tắc có thể tìm thấy trong thế giới của chúng ta là tất cả mọi nước đều có những đường xá lưu thông đi lại , và vấn đề là trên đường đi tới phía trước thì giữ lề nào. Vì vậy, ở đây chúng ta có một nhân tố có thể được liên kết với mỗi quốc gia, + (giữ bên phải/đúng cách) cho người đi giữ lề bên tay phải, và – (giữ bêb trái) cho người đi giữ lề bên trái. Có một nguyên tắc trong ngôn ngữ, những câu tường thuật tiêu chuẩn thường có một chủ ngữ rõ ràng, ngay cả khi chủ ngữ đó là một đại từ. Nguyên tắc này đúng với tiếng England và tiếng Germany trong đó những câu không có chủ ngữ đại từ và đúng ngữ pháp. Ngược lại, những ngôn ngữ như tiếng Italy hay tiếng Spain có thể tạo những câu đúng ngữ pháp nhưng không cần có những chủ ngữ riêng biệt. Nhân tố này đã được biết như nhân tố pro-drop (pro-drop parameter). Người ta nói – đối với tiếng tiếng England và tiếng Germany, nơi không thể bỏ đại từ là chuộng-nhân tố (pro parameter) và bỏ-nhân tố (drop parameter) với tiếng Italy hay iếng Spain. Ý tưởng là ngay khi một đứa trẻ gặp một vài câu thuộc loại này, nhân tố pro-drop này sẽ được thiết lập, và trẻ sẽ biết liệu chúng có thể bỏ chủ ngữ trong những câu này hay không.

(e)

Sửa đổi gần đây nhất của UG, vào năm 2002, khi Chomsky và những đồng nghiệp của ông xuất bản một bài báo khoa học, trong đó họ mô tả một UG chỉ gồm một tính năng là tự lập lại theo tính toán hay kết hợp (computational recursion or merge). Trong ngôn ngữ học, ứng dụng cốt lõi của sự lập lại những cụm từ trong những cụm từ . Chomsky đưa ra một phương thức, kết hợp không giới hạn (Unbounded Merge), vốn kết hợp một cách tự lập lại những từ để tạo ra những cụm từ lớn hơn. Thí dụ:

{Ất, {nói, {Giáp, {đã nghĩ, {Bính, {đã, {mệt mỏi và xúc động}}}}} }}.

Theo quan điểm của Chomsky, sự tiến hóa của kết hợp không giới hạn là khởi nguyên của ngôn ngữ:

Bên trong một nhóm nhỏ nào đó vốn từ đó chúng ta là những hậu duệ, một cá nhân nào đó, đã có một sự mắc nối lại dây thần kinh trong óc, gọi người này là Prometheus, tạo ra hoạt động kết hợp không giới hạn, áp dụng cho những khái niệm có những thuộc tính phức tạp (và ít được hiểu rõ)… Ngôn ngữ của Prometheus cung cấp cho người này một chuỗi vô hạn của những diễn đạt có cấu trúc. (Chomsky, 2010)

Noam Chomsky tin rằng phép tự lập lại là một thuộc tính nhận thức cơ bản của ngôn ngữmột phần của “ngữ pháp phổ quát” của con người, giải thích cho sự nhanh chóng tiếp thu ngôn ngữ. Tự lập lại này không nên hiểu đơn giản là xếp chen thêm vào những mệnh đề đến vô tận. Khá nhiều loài động vật có thể lập đi lặp lại cùng một âm thanh hoặc chuỗi âm thanh. thí dụ: một loài linh trưởng (không phải người) có thể gọi đi gọi lại – kêu báo động – tên gọi ‘con sư tử’ mà không đòi hỏi tự lập lại, và chim hót lập đi lập lại cùng một cụm từ phức tạp. Thay vào đó, điều (được giả định là) phân biệt sự tự lập lại của ngôn ngữ con người với sự lặp lại hoặc lặp lại đơn giản là việc đặt chen vào trong một cấu trúc (câu) bên trong một cấu trúc khác cùng loại. Đó là, để dùng ký hiệu hình thức:

S -> NP VP

VP -> V S

Vì thế:

[Ất tin [Mùi nghĩ [Ất đẹp trai]]]

Sự thay đổi mới này trong mô hình cho phép một số lượng giới hạn của những từ và quy luật để được kết hợp để tạo một số lượng vô giới hạn của những câu, Chomsky cũng nêu lên rằng khả năng tự lập lại này có thể đã phát sinh từ một đột biến gen duy nhất, trong khoảng từ 100.000 đến 50.000 năm trước, là những gì đặt ngôn ngữ.đứng ngoài những loại tiến trình nhận thức khác, chẳng hạn như sự phân loại và sự nhận thức tương quan/liên hệ.

Tuy nhiên, giống như hình thức của lý thuyết này năm 1960, có một thí dụ phản lại: trong ngôn ngữ Piraha, thổ dân Amazon. Everett (2009) bày tỏ sự hoài nghi đối với luận điểm này từ những khảo cứu ngôn ngữ Piraha, của chính ông, trong tiếng nói Piraha, dường như không có sự thể hiện của sự tự lập lại cú pháp. Chomsky và những học giả đồng minh đã trả lời lập luận của Everett qua lập luận rằng tiềm năng nhận thức đối với sự tự lập lại vẫn tồn tại và nó không nhất thiết phải áp dụng cho tất cả những ngôn ngữ. Những người bảo vệ UG đưa ra so sánh tượng tự rằng những nhân tố và nguyên tắc phổ quát giống như vị giác của chúng ta, trong khi văn hóa và địa lý có thể tạo ra những biến thể trong những món ăn trên thế giới, tuy nhiên tất cả chúng ta đều được sinh ra với một set cơ bản gồm những vị chua, ngọt, mặn, đắng, v.v. Chỉ vì một nền văn hóa thiếu muối để nêm thức ăn không có nghĩa là những người trong nền văn hóa đó thiếu khả năng nếm vị mặn nhu muối. tương tự như vậy, họ sẽ nói chỉ vì một ngôn ngữ thiếu cấu trúc tự lập lại, điều này không có nghĩa là những người nói ngôn ngữ đó thiếu khả năng của tự lập lại trong ngôn ngữ. Dòng suy luận này làm một ngữ pháp phổ quát thành khó kiểm nghiệm trong thực tại, và góp phần vào những bất cập thực nghiệm tổng thể của lý thuyết. Nhiều nhà nghiên cứu trở nên ngày càng không hài lòng với một tiếp cận ngôn ngữ hoàn toàn chính thức như UG. Với ngày càng nhiều bằng chứng phản bác lý thuyết của Chomsky, một sự chuyển đổi về mô hình có thể đang diễn ra.

[10] [Tôi lấy thí dụ này từ Carol Rovane. xem Carol Rovane and Akeel Bilgrami, “Mind, Language, and the Limits of Inquiry,” trong The Cambridge Companion to Chomsky, ed. James McGilvray (Cambridge: Cambridge University Press, 2005), 181–203.]

[11] abduction: Thuật ngữ ‘abduction (dẫn đi; bắt đi, mang đi, lấy đi, ở đây có nghĩa là kéo dãn ra xa (to draw away, như phản nghĩa của ‘adduction (thu về gần)), nên tôi tạm dịch nôm na là lấy đi. Charles Sanders Peirce (1839-1914), thường được coi là người sáng lập chủ nghĩa thực dụng, đặt ra trong công trình nghiên cứu lôgich của khoa học của ông. Ông đưa nó vào để chỉ một kiểu suy luận không là suy luận diễn dịch, và cũng khác với suy luận quy nạp quen thuộc. Suy Luận Lấy Đi này thường bắt đầu với một tập hợp không đầy đủ của những quan sát (nhiều nhưng không đủ tất cả những trường hợp), và di đến một giải thích có thể xảy ra nhất và thích hợp nhất với tập hợp đó. Suy luận lấy đi mang cho quyết định vẫn làm hàng ngày vốn thích hợp nhất với thông tin giới hạn có được trong tay, thường không đầy đủ. Ba suy luận chúng ta dùng thường ngày là; (a) Suy luận diễn dịch, hay diễn dịch, là đưa ra suy luận dựa trên những dữ kiện hoặc tiền đề đã được chấp nhận rộng rãi. (b) Suy luận quy nạp, hay quy nạp, là đưa ra một suy luận dựa trên một quan sát, thường là một gì điển hình hay tiêu biểu. (c) Suy luận lấy đi (Abduction = ‘bắt đi, lấy đi’) nói trên – là lấy ra một kết luận có thể xảy ra nhất từ những gì đang biết giới hạn. Lấy Đi và Quy Nạp là những hình thức lập luận để dẫn đến kết luận từ những thông tin không đầy đủ. Qui nạp, tức là suy ra những thuộc tính của những set của những cá thể từ những thuộc tính của những cá thể, đã được Aristotle phân loại, trong khi thuật ngữ lấy đi được Peirce đưa ra vào cuối thể kỉ 19, để suy diễn những giải thích cho những hiện tượng quan sát được. Peirce đã phát triển hai cách nhìn về suy luận lấy đi, một dựa trên những tam đoạn luận (syllogisms), một dựa trên mô thức suy luận ẩn chìm cơ bản (underlying inferential pattern).

Trong suy luận lấy đi, tiền đề chính là hiển nhiên, nhưng những tiền đề phụ đều là những có thể, và do đó kết luận chỉ có thể xảy ra. Khác với suy luận diễn dịch có kết luận tất yếu (từ những tiền đề tổng quát hoặc phổ quát) và suy luận quy nạp có kết luận kết quả của một sự tổng quát hóa từ những cụ thể. Nói cách khác, nó có nghĩa là hình thành một khái quát trên những gì đã biết hoặc quan sát được. Phương pháp suy luận thứ ba, suy luận lấy đi có thể định nghĩa nhưmột tam đoạn luận’ trong đó tiền đề chính là hiển nhiên nhưng tiền đề phụ thì không, do đó kết luận là những gì chỉ có thể xảy ra. Trong cơ bản, nó liên quan đến việc hình thành một kết luận từ nhữngđã biết nhưng giới hạn. Cả ba từ 'deduction', 'induction' và 'abduction' đều có gốc ‘ducere trong Latin, có nghĩa là ‘dẫn đến’ Tiền tố de-có nghĩa là ‘từ’ và suy luận diễn dịch bắt nguồn từ những tuyên bố hoặc sự kiện được chấp nhận chung. Tiền tố in-có nghĩa là ‘đến’ hoặc ‘hướng đến’, và suy luận quy nạp dẫn chúng ta đến một sự khái quát hóa. Tiền tố ab- có nghĩa là ‘lấy đi’, và trong suy luận lấy đi, chúng ta lấy đi giải thích có thể xảy ra nhất và thích hợp nhất. Suy luận lấy đi, còn được gọi là “suy luận để đưa ra giải thích tốt nhất” là một dạng suy luận lôgích tìm kiếm giả thuyết có khả năng nhất để giải thích sự vật việc gì đó. Mặc dù người ta có thể không ý thức, nhưng mọi người luôn dùng suy luận lấy đi để đưa ra những phỏng đoán dựa trên hiểu biết hoặc hình thành những giả thuyết về lý do một sự việc hoặc sự kiện nhất định diễn ra. Khi chúng ta dùng suy luận lấy đi, những gì chúng ta suy luận không nhất thiết phảiđúng hay tất yếu. Thí dụ:

Cỏ ướt (quan sát), do đó, trời có thể mưa đêm qua (giả thuyết khả dĩ nhất).

Ở đây, chúng ta có thể thấy giả thuyết “trời phải mưa đêm qua” được đưa ra như thế nào, là một suy luận đến từ một quan sát không đầy đủ của sự kiện. Trong thực tế, người thực hiện quan sát đã không tự mình chứng kiến ​​rằng trời đã mưa đêm hôm qua. Thay vào đó, người ấy dùng suy luận, hay dùng lôgích của Suy Luận Lấy Đi để đưa ra một giải thích, là giải thích tốt nhất có thể có, cho kết luận đã cho. Cho rằng cỏ ướt (kết luận), có lẽ là do đêm qua trời đã mưa (giả thuyết). Lưu ý rằng mặc dù có thể có một số giải thích thay thế khác cho sự kiện quan sát cỏ ướt; chẳng hạn như có thể người này không biết hay quên rằng vườn có vòi tưới nước tự động và nó đã mở sáng sớm hôm nay, hay đơn giản hơn, cỏ ướt có thể vì đêm qua trời nhiều sương. Điều này cho thấy suy luận lấy đi đôi khi có thể dẫn đến giả định hoặc giải thích không chính xác về lý do của một sự vật việc gì đó đã xảy ra.

[12] [Ở đây sẽ phải thêm cho đủ rằng Chomsky, ở cuối chương này, thực sự thảo luận một lập luận trong Peirce vốn gọi đến những những cân nhắc về sinh học — cụ thể là những cân nhắc về tiến hóa dựa trên sự chọn lọc tự nhiên (vốn ông thấy hoàn toàn sai lầm). Điều này cho thấy rằng chính Peirce đã có phần nào mơ hồ về việc có nên xem tuyên bố nói chung về phương pháp luận của ông về những giả thuyết có thể chấp nhận được và những giới hạn đối với chúng là do bản chất sinh học của chúng ta hay không.]

[13] Contact mechanics

[14] The hard problem /easy problems: Sự phân biệt giữa ‘vấn đề dễ’ và ‘vấn đề khó’ của ý thức (từ David Chalmers, thừa hưởng từ di sản của the mind-body problem: sự phân biêt vật chất/tinh thần nhắc đến nhiều trong Descartes). Vấn đề dễlà việc hiểu cách não (và cơ thể) hình thành ý thức, nhận thức, học tập và tâm lý hành vi như thế nào. Vấn đề ‘khó’ là việc hiểu tại sao và như thế nào vốn bất kỳ điều gì trong số này lại liên quan với ý thức: tại sao chúng ta không chỉ là những người máy (bộ máy không hồn), hoặc những thây ma triết học, không có một ‘vũ trụ bên trong’ nào? Những vấn đề dễ của ý thức là những vấn đề có thể tiếp nhận những phương pháp tiêu chuẩn của khoa học nhận thức, theo đó một hiện tượng được giải thích trong những thuật ngữ của cơ cấu tính toán , hay cơ cấu thần kinh. Những vấn đề khó là những vấn đề dường như không tiếp nhận tác động hoặc ảnh hưởng của.những phương pháp đó.

The mind-body problem Vấn đề não thức/cơ thể Con người có (hoặc dường như có) cả những thuộc tính vật chất và những thuộc tính tinh thần. Con người có (hoặc dường như có) loại thuộc tính được quy cho khoa học vật lý. Những thuộc tính vật lý này gồm kích thước, trọng lượng, hình dạng, màu sắc, chuyển động qua không gian và thời gian, v.v. Nhưng chúng cũng có (hoặc dường như có) những thuộc tính tinh thần, vốn chúng ta không quy cho những đối tượng vật chất điển hình. Những thuộc tính này liên quan đến ý thức (bao gồm cả kinh nghiệm tri giác, kinh nghiệm cảm xúc, và nhiều những sự việc khác), chủ ý (gồm tin tưởng, ước muốn và nhiều những sự việc khác), và chúng đều được một chủ thể hay một tự ngã sở hữu. Những thuộc tính vật lý là công khai, trong ý hướng về nguyên tắc, chúng đều có thể được bất kỳ ai quan sát như nhau. Một số tính chất vật lý – như của một electron – hoàn toàn không thể quan sát được trực tiếp, nhưng chúng có sẵn cho tất cả mọi người, ở cùng một mức độ, với những dụng cụ và kỹ thuật khoa học. Điều này thì không đúng với những thuộc tính tinh thần. Tôi có thể nói và hiểu một người đang chịu đau đớn qua hành vi biểu hiện của người ấy, nhưng chỉ người này mới có thể cảm nhận trực tiếp được đau đớn đó. Tương tự, chỉ A biết một cái gì đó trông như thế nào đối với A, và tôi chỉ có thể phỏng đoán. Những sự kiện tinh thần ý thức là riêng tư với chủ thể, người có một đặc quyền tiếp cận chúng thuộc loại không ai có được về phần thể chất.

Vấn đề não thức/cơ thể (hay tâm/vật; tinh thần/vật chất, hồn/xác, ...) đến từ chính sự bận tâm về quan hệ giữa hai tập hợp gồm những tính chất nói trên. Vấn đề não thức/cơ thể thể phân tích thành một số thành tố. (a) Câu hỏi bản thể học: Những trạng thái tinh thần là gì và những trạng thái vật chất là gì? Có phải một lớp này (những trạng thái) là lớp phụ của lớp kia, khiến tất cả những trạng thái tinh thần đều là vật chất, hay ngược lại? Hay những trạng thái tinh thần và những trạng thái thể chất hoàn toàn khác biệt? (b) Câu hỏi nhân quả: những trạng thái vật chất có ảnh hưởng đến những trạng thái tinh thần không? Những trạng thái tinh thần có ảnh hưởng đến những trạng thái vật chất không? Nếu có, ảnh hưởng thế nào?

David Chalmers đã ghép chữ và cho tên gọi ‘vấn đề khó (khoảng 1995) mới đây, nhưng vấn đề này không hoàn toàn mới, nhưng đã vẫn là yếu tố then chốt của vấn đề não thức/cơ thể có từ lâu nói trên. Tuy nhiên, Chalmers được xem như người chủ yếu trong việc làm bùng lên những thảo luận về đề tài. Vấn đề nảy sinh vì ‘ý thức hiện tượng’, ý thức như được nêu trong câu hỏi của ‘chủ thể sẽ giống như thế nào, đã thất bại trước sự giải thích tiêu chuẩn theo chức năng vốn đã thành công ở những chỗ khác trong tâm lý học . Tất cả những hiện tượng tâm lý như học tập, suy luận và ghi nhớ đều có thể được giải thích trong những thuật ngữ của việc đóng đúng vai trò chức năng Nếu một hệ thống (tâm lý) làm điều đúng, nếu nó thay đổi hành vi một cách thích hợp để đáp ứng với kích thích của môi trường, nó được giảit hích, hiểu và coi như việc học tập của hệ thống đó. Việc chỉ định những chức năng này cho chúng ta biết học tập là gì và cho phép chúng ta thấy những tiến trình của não có thể đóng vai trò học tập này như thế nào. Nhưng theo Chalmers: ‘Điều làm cho vấn đề khó trở nên khó khăn và gần như duy nhất là nó vượt ngoài những vấn đề về sự thực hiện của những chức năng. Để thấy điều này, hãy lưu ý rằng ngay cả khi chúng ta đã giải thích sự thực hiện của tất cả những chức năng nhận thức và hành vi trong lĩnh vực gần với kinh nghiệm – phân biệt tri giác, phân loại, hồi tưởng, thuật lại bằng lời nói – vẫn có thể vẫn còn một câu hỏi chưa được trả lời: Tại sao việc thực hiện của những chức năng này đềukinh nghiệm đi kèm?’. Chalmers giải thích sự tồn tại dai dẳng của câu hỏi này bằng lập luận chống lại sự có thể có của một ‘giải thích thu giảm cho ý thức hiện tượng. Một giải thích thu giảm Ví dụ, gen có thể được giải thích trong những thuật ngữ DNA như sau:

Gen = đơn vị của di truyền. (Bằng phân tích.)

Những vùng của DNA = đơn vị của di truyền. (Bằng điều tra thực nghiệm.)

Do đó, gen = những vùng của DNA. (Bằng 1, 2)

Chalmers cho rằng về nguyên tắc, những giải thích thu giảm như vậy thì sẵn sàng cho tất cả những hiện tượng tự nhiên khác, nhưng không cho ý thức. Đây là vấn đề khó. Theo Chalmers, lý do khiến sự giải thích thu giảm không thành công với ý thức vì nó không thể được phân tích về chức năng. Điều này được chứng minh bằng sự tưởng tượng liên tục của những gì Chalmers gọi là ‘những thây ma’ (zombies) những sinh vật có cơ thể (và chức năng) giống hệt như chúng ta, nhưng thiếu ý thức — ngay cả với một loạt những phân tích chức năng đã đem cho. Nếu chúng ta có một phân tích chấp nhận được về chức năng của ý thức, thì những thây ma như vậy không thể tưởng tượng được.Thiếu một phân tích chức năng cũng được thấy qua sự tưởng tượng liên tục của quang phổ (có lẽ đối với tôi khi nhìn thấy màu xanh lá cây thì là những gì giống như khi bạn nhìn thấy màu đỏ). Nếu ý thức thực sự có thể được nêu lên những đặc tính tiêu biểu về chức năng, những vấn đề khó sẽ biến mất. Vì chúng vẫn bám chặt vào những triết gia , nhà khoa học, nên chúng ta có thể kết luận rằng ý thức không có đặc điểm chức năng nào. Chalmers tuyên bố, với sự lựa chọn nghiêm trọng sau đây: hoặc loại bỏ ý thức (nó hoàn toàn không tồn tại) hoặc thêm ý thức vào bản thể học của chúng ta như một đặc điểm không thể thu giảm của thực tại, cũng như lực hấp dẫn và trường điện từ. Dù cách nào, chúng ta cũng phải đối mặt với một vấn đề bản thể học đặc biệt, một vấn đề không thể giải quyết bằng những phương pháp thu giảm rút gọn thông thường.

[15] [Và trước Newton, chuyển động đã được William Petty và những người khác xem như ‘vấn đề khó’.]

[16] Đó là một điều gì đó như bí ẩn về ý thức của con người. Không ai biết nó là gì, hay nó đến từ đâu, tại sao chúng ta lại có nó. Những nhà khoa học có thể nhìn vào thế giới vật chất và hiểu cách thức nó vận hành theo những quy luật và cách thức một sự vật việc ‘gây ra (hay đúng hơn xảy ra trước sau liên quan với) một sự vật việc khác, giống như trong một cỗ máy. Đó là cỗ máy. Nhưng không ai hiểu ý thức (như có trong chính cỗ máy này) là gì. Ý thức như một bóng ma. Theo nghĩa rộng hơn, bóng ma có thể là một ẩn dụ cho tất cả những gì chúng ta không hiểu. Trong thực tế, một số sự vật việc chúng ta có thể sẽ không bao giờ hiểu được, bởi vì chúng có thể nằm ngoài khả năng nhận thức của chúng ta, ngay cả với khoa học và những phương pháp/dụng cụ của nó. Bao gồm cả ý thức của chính chúng ta. Vì bộ óc người sống với ứng xử tâm lý thì khó để học và hiểu. Nhưng chắc chắn những nhà khoa học sẽ tìm một cách để nghiên cứu sâu kỹ hơn bộ óc người sống và chúng ta có thể tìm hiểu thêm hơn về liên hệ giữa cỗ máy và bóng ma. Nhưng có nhiều phần chắc chắn rằng sẽ không bao giờ có thể hiểu thấu được ý thức đến từ đâu. Những nhà khoa học dù có thể khám phá được vị trí chính xác trong bộ óc, nơi có những hoạt động ý thức dang diễn ra và quan sát não thức. Nhưng điều này vẫn không cho chúng ta biết bất cứ một gì về lý do chúng ta có một cảm giác sống của chủ thể kinh nghiệm, và điều đó đến từ đâu. Điều đó có nghĩa là bóng ma như vẫn còn nguyên vẹn, như ý Chomsky nhắc ở trên.. Cũng thêm cho rõ những gì giải thích trên là theo quan điểm nhị nguyên (tiêu biểu là Descartes – cho rằng có hai loại thực thể: vật chất, những gì trong không gian mở rộng, và tinh thần, những gì trong suy nghĩ). Vấn đề dễ và vấn đề khó trong triết học não thức đã nêu lên từ chính quan điểm nhị nguyên này.

[17] atomic elements

[18] words & lexical items

[19] pragmatics

[20] phenotype

[21] Ông nói về những vấn đề toán học

[22] [Chomsky đã là người đầu tiên nhấn mạnh mặt này của Smith từ nhiều mười năm trước, một mặt của ông vốn đã được theo đuổi nghiên cứu với nhiều chi tiết gần đây trong trong khảo luận, bới bình luân Emma Rothschildand bới Amartya Sen]

[23] Anarcho-Syndicalism & Anarchism: Noam Chomsky là người theo Chủ Nghĩa Vô Chính Phủ công khai.Trong một phỏng vấn năm 2013, Chomsky giải thích cách ông nhìn chủ nghĩa vô chính phủ và vai trò của nó:

“Chính yếu, [Chủ Nghĩa Vô Chính Phủ] là một khuynh hướng vốn thiếu tin tưởng tích cực nghi ngờ về sự thống trị, quyền lực và đẳng cấp. Nó tìm kiếm những cấu trúc của đẳng cấp và sự thống trị trong đời sống con người trên phạm vi toàn bộ, kéo dài, tạm nói, từ tổ chức tộc trưởng gia đình, chẳng hạn, đến những hệ thống đế quốc, và nó hỏi không biết những hệ thống đó có hợp lý chính đáng hay không. Quyền lực của chúng thì không là tự biện minh. Chúng phải đưa ra một lý do cho điều đó, một biện minh. Và nếu chúng không thể biện minh cho uy quyền, thế lực và sự kiểm soát đó, vốn là trường hợp thường thấy, khi đó uy quyền sẽ nên bị triệt phá và thay thế bằng một gì tự do hơn và công bằng hơn. Và, như tôi hiểu, tình trạng vô chính phủ chính là khunh hướng đó. Nó mang những hình thức khác nhau vào những thời điểm khác nhau”.

 

Tự nhậnmột người theo Chủ Nghĩa Vô Chính Phủ, Chomsky nói rằng ông không tin những thể chế và hệ thống vốn làm nền móng cho xã hội của chúng ta là công bằng. Chủ yếu, đây là cốt lõi của thuyết vô chính phủ; hệ thống (chính trị, xã hội) hiện có thì bất chính và phải bị tháo dỡ để được thay thế bằng một gì đó tốt hơn. Văn hóa đại chúng phổ thông chỉ cho thấy một khuynh hướng chú trọng vào (lật đổ) phần phải tháo dỡ hơn là (phê bình) phần bất chính. Như thế Chomsky ủng hộ gì như một thay thế cho hệ thống hiện tại? Đây là chỗ phần chủ nghĩa công đoàn (syndicalism) của chủ nghĩa công đoàn-vô chính phủ (anarcho-syndicalism) đi vào. Chomsky và những người khác trong trường phái tư tưởng của ông lập luận rằng chủ nghĩa tư bản vốn có tính bóc lột và nguy hiểm: một công nhân thuê bán sức lao động của họ cho ai đó ở đẳng cấp cao hơn trong hệ thống phân cấp – một chủ doanh nghiệp, tạm nói – những người, nhằm tối đa hóa lợi nhuận của mình, thì được thúc đẩy để làm ngơ tác động của công việc kinh doanh của họ với xã hội quanh họ. Chomsky lập luận,thay vào đó, những người lao động và những đồng nghiệp nên tổ chức thành những công đoàn và công(hoặc hiệp hội), mỗi tổ chức như thế đưa ra những quyết định tập thể dưới một hình thức của dân chủ trực tiếp. Tuy nhiên, lập luận của Chomsky, giống như lập luận của nhiều triết gia, thường không đi sâu vào trong thực chất của vấn đề là nếumột thế giới như vậy nó sẽ thực sự được vận hành thế nào. Trong thời kỳ Nội chiến ở Spain, chỉ trong thời gian ngắn, tám triệu người Catalonia đã thực sự thành lập một xã hội vô chính phủ. Không có đẳng cấp thứ bậc xã hội, chinh trị; những nông trại, nhà máy và doanh nghiệp đều được những nông dân, công nhân của chúng, bình đẳng cai quản và điều khiển. George Orwell (chiến đấu cho những người vô chính phủ ở đây) đã mô tả tình trạng vô chính phủ ở Catalonia bằng những từ ngữ rực rỡ. Nhưng chỉ được 10 tháng, xã hội theo chủ nghĩa công đoàn vô chính phủ đã nhanh chóng giải thể, sau khi bị những người theo chủ nghĩa Stalin phá hoại.Trong lịch sử – Mohandas Gandhi từng được mô tả là một người theo chủ nghĩa hòa bình vô chính phủ (anarcho-pacifist). Noam Chomsky như vậy là một người theo chủ nghĩa công đoàn vô chính phủ (anarcho-syndicalist)

[24] red bureaucracy

[25] liberation theologians: những nhà gót học giải phóng: trong phong trào tôn giáo phát sinh từ hội nhà thờ Catô Roma, cuối thế kỷ 20 và tập trung ở châu Mỹ Latinh. Nó chủ trương ‘dấn thân, nhập thế’, áp dụng giáo thuyết Kivào những vấn đề chính trị và dân sự cốt lõi của những cộng đồng bị gạt ra bên lề xã hội, chính trị hoặc kinh tế, tiêu biểu bằng việc giúp đỡ giới nghèo khổ và bị áp bức.

[26] “Classical liberalism was wrecked on the shoals of capitalism” – “Chủ nghĩa tự do cổ điển đã bị đắm (tàu) trên những bãi cạn của chủ nghĩa tư bản”

[27] [Người ta có thể thêm rằng có những vấn đề trong đó nhà nước có thể được biện minh, vì nó có thể bảo vệ không chỉ những người bị thiệt thòi ngoài rìa và nghèo khổ trong xã hội, nhưng còn bảo vệ tất cả mọi người khỏi sự điên rồ và diệt vong của chính họ, chẳng hạn như những vấn đề môi trường, và nói chung là bảo vệ những công dân khỏi rác rưởi văn hóa và sự thống khổ cô đơn về tâm lý (vấn đề “lạc lõng/xa lạ/vong thân” ,...) vốn tác động những xã hội tư bản.]