Tuesday, September 6, 2022

Chomsky – Chúng Ta Là Loài Sinh Vật Nào?

Chúng Ta Là Loài Sinh Vật Nào?

(What Kind Of Creatures Are We?)

Noam Chomsky






Giới thiệu

 

Avram Noam Chomsky (1928 -) hết sức nổi tiếng và được ngưỡng mộ khắp  thế giới như người sáng lập của ngành ngôn ngữ học thời nay, một trong những người sáng lập của ngành khoa học nhận thức, và có lẽ là nhà lý luận và bình luận chính trị được tìm đọc nhiều nhất trong thời chúng ta. Trong những bài giảng này, ông trình bày những suy tưởng triết học của cả một đời về ba lĩnh vực nghiên cứu này, vốn ông đã có những đóng góp lớn lao trong hơn nửa thế kỷ qua.

 

Trong ngôn ngữ trong sáng, rõ ràng và không chuyên môn, Chomsky trình bày chi tiết về năm mươi năm của phát triển khoa học trong nghiên cứu ngôn ngữ, phác lược công trình của chính ông đã như thế nào mang đến những kết luận về nguồn gốc của ngôn ngữ, những quan hệ chặt chẽ vốn ngôn ngữ mang đến cho tư tưởng, và cơ sở sinh học sau cùng của nó. Ông dẫn giải và phê bình nhiều lý thuyết có thể thay thế khác, chẳng hạn như những lý thuyết nhấn mạnh trên những phương diện xã hội, giao tiếp và quy chiếu của ngôn ngữ. Chomsky xem xét lại những khám phá mới về ngôn ngữ vượt qua những gì trong quá khứ đã được cho là khó khăn như thế nào. Ông cũng khảo sát phạm vi bên ngoài và những giới hạn của khả năng nhận thức con người và những gì trí óc con người có thể thực sự nghiên cứu, dưới ánh sáng của lịch sử khoa học và suy tưởng triết học và kiến thức hiện nay. Đi từ ngôn ngữ và não thức sang xã hội và chính trị, ông kết luận với một khám phá tìm kiếm và biện minh triết học của một lập trường ông mô tả như thuyết xã hội theo phái tự do, truy tìm những liên kết của nó với thuyết vô chính phủ và những ý tưởng của John Dewey và ngay cả với những ý tưởng của Marx và Mill, sau khi chứng minh sự phát triển khái niệm của nó ra khỏi quá khứ lịch sử của chúng ta và liên hệ cấp thiết đến những vấn đề của hiện tại.

 

Nhà xuất bản trường đại học Columbia

 

 

NỘI DUNG

LỜI NÓI ĐẦU

1 | NGÔN NGỮ LÀ GÌ?

2 | CHÚNG TA CÓ THỂ HIỂU ĐƯỢC GÌ?

3 | LỢI ÍCH CHUNG CHO TẤT CẢ LÀ GÌ?

4 | NHỮNG BÍ ẨN CỦA THIÊN NHIÊN: ĐƯỢC GIẤU KÍN SÂU XA THẾ NÀO?

GHI CHÚ

CHỈ MỤC

 

Chúng Ta Là Loài Sinh Vật Nào? [1]

 

 

Lời Nói Đầu

 

Quyển sách này trình bày suy tưởng của cả một đời của một nhà khoa học về ngôn ngữ trên những hàm ý lớn rộng hơn của công trình khoa học của ông. Tên quyển sách này, Chúng ta là Loài Sinh Vật nào ?, truyền đạt chỉ những kết luận mở rộng nhận được thì hiểu như thế nào. Chúng gồm một loạt những lĩnh vực lớn: ngôn ngữ học lý thuyết, khoa học nhận thức, triết học của khoa học, lịch sử của khoa học, sinh học tiến hóa, siêu hình học, lý thuyết của tri thức, triết học của ngôn ngữ và não thức, triết học đạo đức và chính trị, và dù vắn tắt, ngay cả lý tưởng của giáo dục con người.

 

Chương 1 trình bày, rõ ràng và chính xác, những ý tưởng cơ bản của riêng Noam Chomsky trong ngôn ngữ học lý thuyết và khoa học nhận thức (cả hai lĩnh vực ông đã tuyệt đối giữ vai trò sáng lập trung tâm), ghi lại những tiến bộ đã đạt được trong những năm qua, nhưng ghi lại với nhiều sốt sắng hơn, những tuyên bố đó để dự kiến tiến bộ phải được thực hiện thế nào, và một lượng rất lớn công việc còn phải được làm như thế nào, ngay cả trong những lĩnh vực nền tảng nhất của ngành học. Những thay đổi tư tưởng trong những năm này cũng được ghi lại, một số nổi bật nhất trong chúng xảy ra chỉ mới trong mười năm qua hay không lâu trước đó.

 

Chương sách bắt đầu bằng việc đem động lực cho câu hỏi báo trước trong nhan đề của nó, “Ngôn ngữ là gì?” cần cho chúng ta hỏi, vì nếu không là rõ ràng về ngôn ngữ là gì, không chỉ chúng ta sẽ không có những trả lời đúng cho những câu hỏi khác về những phương diện đặc biệt khác loại của ngôn ngữ (có lẽ ngay cả không thể đặt những câu hỏi đặc biệt đó vào khuôn khổ), nhưng chúng ta sẽ không thành công với việc điều tra hoặc ngay cả việc suy đoán hợp lệ chấp nhận được, về cơ sở sinh học và những nguồn gốc tiến hóa của ngôn ngữ.

 

Một truyền thống có từ thời Galileo và Descartes đã nhìn nhận đặc tính nền tảng nhất của ngôn ngữ, sau đó có được sự trình bày chi tiết nhất củatrong Humboldt: “Ngôn ngữ thì hoàn toàn đối mặt khác thường bởi một lĩnh vực bất tận và thực sự vô biên, yếu tính của tất cả những gì có thể được suy nghĩ. Do đó, nó phải đem dùng vô hạn những phương tiện hữu hạn, và có khả năng để làm như vậy, qua năng lực vốn làm ra bản chất định tính của ngôn ngữ và tư tưởng. [2] Darwin cũng vậy, được trích dẫn như lập lại điều này trong một dạng không phức tạpđơn giản hơn, trong nội dung của những quan tâm về mặt tiến hóa về ngôn ngữ: “Những loài động vật thấp hơn, hoàn toàn khác với con người chỉ trong năng lực lớn hơn như vô hạn của việc kết hợp những âm thanh và ý tưởng đa dạng nhất với nhau của con người”. Điều đáng chú ý rằng có ba đặc tính nền tảng được Humboldt và Darwin quan sát ở đây. Thứ nhất, tuyên bố về một năng lực vô hạn ngụ trong một cơ sở hữu hạn; thứ hai, sự liên kết của những ý tưởng với âm thanh; và thứ ba, sự liên kết của ngôn ngữ với tư tưởng. Tất cả chúng đều tụ hợp trong những gì Chomsky tuyên bố ngay từ đầu như Thuộc Tính Cơ Bản của ngôn ngữ: “Mỗi ngôn ngữ đem cho một sắp xếp không giới hạn của những diễn đạt có cấu trúc theo hệ thống thứ bậc vốn nhận những diễn giải ở hai mặt giao tiếp, hệ thống phối hợp giác quan-vận động cho việc làm bày tỏ cảm xúc, (một hệ thống) khái niệm-có chủ đích cho những tiến trình tâm lý” [3].Yếu tố cấu trúc theo hệ thống thứ bậc đưa ra bằng chứng đặc điểm thứ nhất; mặt giao tiếp hệ thống phối hợp giác quan-vận động đưa ra bằng chứng thuộc tính đặc biệt thứ hai; và mặt giao tiếp khái niệm-có chủ đích, đưa ra bằng chứng thuộc tính đặc biệt thứ ba.

 

Những gì sẽ giải thích cho Thuộc tính Cơ bản này là một tiến trình tính toán. Ý nghĩa triết học của điều này có hai lớp: một lý thuyết của ngôn ngữ tất yếu là một ngữ pháp tạo sinh [4], và lý thuyết thì tất yếu về một đối tượng vốn cá nhân con người sở hữu, bên trong chủ thể cá nhân và trí lực của nó (tức là, những yếu tố nội tại). Nó không là một lý thuyết về những âm thanh thốt ra bên ngoài, do đó cũng không là lý thuyết về một hiện tượng xã hội. Sự phân loại gọi tên để nắm được sự phân biệt vừa nói giữa những gì là cá nhân / bên trong/ chủ ý và những gì bên ngoài / xã hội là ngôn ngữ-Ingôn ngữ-E. [5] Chỉ riêng ngôn ngữ-I có thể là đối tượng của nghiên cứu khoa học, nhưng không là ngôn ngữ-E.[6] Và mặc dù nghiên cứu loại như vậy thì cuối cùng để được đền trong một giải thích sinh học, cho đến cuối cùng đó, khoa học nắm giữ được những hiện tượng ở một mức độ trừu tượng từ sinh học và nói ở mức độ nhận thức của năng lực tính toán vốn thỏa mãn Thuộc Tính Cơ Bản.[7]

 

Một việc làm khác, tổng quát hơn, là để tìm ra những tính chất đặc biệt có chung nằm chìm bên dưới của tất cả những ngôn ngữ-I, vốn cũng được những thuộc tính sinh học tự nhiên đã phú cho con người xác định (một chủ đề có ý nghĩa rộng lớn hơn cho nhận thức trong tổng quát sẽ được thảo luận lại trong chương 2 ). Việc làm tổng quát hơn này được đảm nhận với hy vọng để tìm ra di sản sinh học vốn quyết định những hệ thống tạo sinh nào có thể dùng như ngôn ngữ-I. Nói khác đi, những ngôn ngữ có thể có của con người là gì?

 

Chomsky sau đó cho thấy rằng ngay sau khi việc nghiên cứu của những ngữ pháp tạo sinh giải quyết Thuộc tính Cơ Bản của ngôn ngữ được thực sự đảm nhận, một số những khó hiểu ngạc nhiên đã nảy sinh, với những hàm ý xa-rộng. Một là “sự tùy thuộc cấu trúc” của những hoạt động thực hành ngôn ngữ: trong tất cả những xây dựng, trong tất cả những ngôn ngữ, những hoạt động này bất biến, luôn luôn dựa trên khoảng cách về cấu trúc hơn là trên ý niệm đơn giản hơn về khoảng cách xa gần tính theo đường thẳng. Những người học ngôn ngữ biết điều này tự động, không phải hướng dẫn. Có những bằng chứng từ khoa học thần kinh và tâm lý học thực nghiệm hỗ trợ cho điều này. Kết quả theo đến từ giả định rằng trật tự (cấu trúc) thì chỉ đơn giản là không sẵn cho những hoạt động vốn phát sinh những diễn đạt có cấu trúc vốn được diễn giải ở mặt giao tiếp ý tưởng-khái niệm, cho suy nghĩ và tổ chức của hành động. Đến lượt nó, theo đến từ chính giả định tự nhiên rằng những ngôn ngữ-I đều là những hệ thống tạo sinh dựa trên hoạt động tính toán cơ bản nhất, vốn không-xắp xếp trật tự. Những điều này và nhiều cân nhắc khác đem cho bằng chứng quan trọng đáng kể rằng trật tự theo khoảng cách xa gần thì phụ trợ cho ngôn ngữ, không bao gồm trong cú pháp cốt lõi và ngữ nghĩa học. Cùng điều này thì đúng với những cách sắp xếp bên ngoài khác loại của ngôn ngữ ký hiệu, vốn hiện nay được biết là giống với ngôn ngữ nói một cách đáng chú ý trong cấu trúc, sự tiếp thu, sử dụng và ngay cả cả biểu thị thần kinh của nó. Giả định rằng những thuộc tính bên ngoài này phản ảnh những điều kiện do hệ thống phối hợp giác quan-vận động áp đặt. Sự lhọn lựa của việc dùng trật tự theo khoảng cách xa gần ngay cả không nảy sinh cho người học ngôn ngữ. Trật tự theo khoảng cách xa gần và những sắp xếp khác đều liên quan với những gì được nghe – tức là, hiện bên ngoài – nhưng không với những gì là suy nghĩ, vốn là bên trong.

 

Ông sau đó cho thấy rằng những kết luận này phù hợp rất đúng với những gì ít ỏi được biết về nguồn gốc của ngôn ngữ. Hệ thống phối hợp giác quan-vận động “dường như đã có chỗ đứng từ rất lâu trước khi ngôn ngữ xuất hiện”, và dường như có ít sự thích ứng đặc biệt cho ngôn ngữ. Những thuộc tính nhận thức thuộc những loại rất sâu xa hơn so với của những loài vượn-người, hoặc đoán chừng có thể cũng của những hominin không-phải người, đều nội tại với ngôn ngữ. Loài vượn-người có hệ thống cử chỉ đủ đề để tạo âm thanh, và hệ thống thính giác đủ cho sự nhận thức của tiếng nói; nhưng không giống như trẻ sơ sinh của con người, chúng ‘hiểu’ tiếng nói như chỉ là tiếng ồn, và ngay cả khi được dạy rất lâu, cũng không thể đạt được ngay cả những sơ đẳng của ngôn ngữ ‘ra dấu’ của con người. Aristotle nói rằng ngôn ngữ là “âm thanh với ý nghĩa”, nhưng những suy nghĩ cân nhắc vừa nêu lên, gợi ý cho Chomsky rằng những điều xét trước trong khẩu hiệu có thể được đảo ngược và đúng hơn ngôn ngữ sẽ được hiểu là “ý nghĩa với âm thanh”. Trong trường hợp điều này xảy ra như người theo thuyết Plato (một gì đã được Jerrold Katz nồng nhiệt tuyên truyền), cần phải giữ vững đừng quên rằng với Chomsky, “ý nghĩa” ở đây thì có chủ định như một phạm trù trước sau tâm lý (cuối cùng là sinh học) và do đó hoàn toàn không là những thuật ngữ Plato được làm cụ thể hơn.

 

Đến lượt, những kết luận như vậy tăng hỗ trợ cho tuyên bố đưa ra đã từ lâu của Chomsky rằng ngôn ngữ thì không để được hiểu như nó khắp nơi được hiểu giữa những nhà triết học, những nhà nhân loại học và những người khác – như trong một số định nghĩa đã gắn buộc với sự truyền đạt thông tin. Nếu sự biểu hiện ra bên ngoài của ngôn ngữ là thứ yếu, và sự gắn buộc của ngôn ngữ với tư tưởng là chính yếu, khi đó truyền đạt thông tin không thể là trung tâm cho bất kỳ trả lời nào với câu hỏi vốn chương này đặt ra: Ngôn ngữ là gì? Thật vậy, như ông nói, có lý do để nghĩ rằng hầu hết ngôn ngữ / tư tưởng thì hoàn toàn không hướng ra bên ngoài. Nếu một người nào đó vững chắc hiểu rằng ngôn ngữ thì không do con người hình thành cho một mục đích cụ thể,, nhưng là phần tự nhiên sinh vật có sẵn của họ, khi đó việc lấy ngôn ngữ như một đối tượng của nghiên cứu, cho dù khoa học hay triết học, có thể phải có ở đó một sụt thay đổi quan trọng đáng kể trong những tiếp cận về phương pháp của chúng ta.

 

Trích dẫn Chomsky lấy từ Darwin với tán thành, nói rằng những gì là nền tảng về ngôn ngữ là một “năng lực của việc liên kết những âm thanh và những ý tưởng đa dạng nhất với nhau”. Trừ sự kiện, như chúng ta đã nhắc, rằng âm thanh (cùng với những phương thức của sự hướng ra bên ngoài khác) đã bị đặt xuống thứ yếu, giải thích lý thuyết của riêng Chomsky về Thuộc tính Cơ bản đã lấy điểm này trong Darwin cho là đúng – mặc dù có lẽ không chính xác như từ dùng, vì liên kết thì không thật đúng trong việc mô tả hoạt động trung tâm vốn giải thích đưa ra. Dẫu vậy, sự liên kết xảy ra, ngay cả trong điều kiện cổ điển (chuông, thức ăn), và Chomsky nổi tiếng đã bác bỏ những giải thích của nhà tâm lý học hành vi về ngôn ngữ. Hơn nữa, những liên kết giữa hai đối tượng, như ngay cả những nhà tâm lý học không-hành vi hiểu sự liên kết, có thể hàm ý rằng trật tự của những đối tượng thì quan trọng trong một cách thức vốn sức nặng lớn hơn nhiều đặt trên những hình thức phù hợp cho sự diễn dịch ngữ nghĩa ở mặt giao tiếp khái niệm-chủ định (thay vì mặt giao tiếp hệ thống phối hợp giác quan-vận động) thiết lập nó thì không. Vì vậy, tránh xa từ “liên kết” gây hiểu lầm của Darwin cho những gì chính Darwin muốn nói, nhữngChomsky có trong tư tưởng là để làm trung tâm rằng chúng ta là duy nhất trong sự sở hữu khả năng “để đặt vào với nhau” những ý tưởng và những yếu tố cú pháp. Và khái niệm nền tảng này về ngôn ngữ thì lập lại trong giải thích lý thuyết của Thuộc Tính Cơ Bản, trong đó hoạt động quan trọng chủ yếu được cho tên là Hợp nhất, vốncó thể hoạt động bên ngoài trên hai đối tượng riêng biệt để tạo ra một đối tượng khác, hoặc có thể hoạt động bên trong từ bên trong một đối tượng để tạo một đối tượng khác, tự động tạo ra thuộc tính phổ biến của “sự chuyển dịch” (những cụm từ được nghe ở một chỗ nhưng cũng được hiểu ở một chỗ khác) trong dạng thích hợp cho sự diễn dịch ngữ nghĩa phức tạp.

 

Chúng được gọi là Hợp nhất Bên ngoài và Hợp nhất Bên trong [8], và tôn trọng tính đơn giản trong phương pháp khoa học, có thể áp dụng trong ngôn ngữ học như trong bất kỳ nơi nào khác, ra lệnh rằng chúng ta giữ những hoạt động cơ bản ở mức tối thiểu này, và không làm nảy nở những hoạt động trong việc giải thích sức mạnh tính toán vốn ngăn cấm Thuộc tính Cơ bản. Làm việc qua một số ví dụ để trình bày ngôn ngữ thiết kế thế nào ở mức tối ưu củanếu chúng ta tuân theo mệnh lệnh này về phương pháp, Chomsky trình bày những thay đổi trong những cái nhìn của riêng chính ông, chẳng hạn như về hiện tượng của sự “chuyển dịch”, vốn ông đã từng coi là một “không hoàn hảo”, nhưng bây giờ, nếu một người duy trì một cách chính xác những giả định về phương pháp luận đơn giản nhất như vừa nhắc đến, thì đó là mộtvốn có thể được mong đợiđơn giản.

 

Chương này kết thúc với một nỗ lực táo bạo để khai thác những điểm cuối cùng này về phương pháp để đem hai câu hỏi xem dường khác loại vào cùng với nhau: Giải thích nào của Thuộc tính Cơ bản chúng ta sẽ đem cho? Ngôn ngữ đã nảy sinh như thế nào và khi nào? Sự hợp dòng này của sự đơn giản của những giả định trong việc giải thích cho Thuộc tính Cơ bản và sự xác nhận kèm theo của sự sắp xếp tối ưu của ngôn ngữ có thể giúp để đem thực chất cho những gì là giả thuyết hợp lý nhất trên bằng chứng giới hạn chúng ta có được về những nguồn gốc của ngôn ngữ: rằng ngôn ngữ đã không nảy sinh dần dần, nhưng đột ngột (và tương đối gần đây). Một “nhảy vọt tới trước” đột ngột như vậy, giờ đây nó có thể được suy đoán, đã có lẽ gây nên bởi “một một chút mắc nối lại dây thần kinh của bộ óc [khiến] đã đem lại sự Hợp nhất, một cách tự nhiên trong hình thức đơn giản nhất của nó, cung cấp cơ sở cho sự suy nghĩ sáng tạo và không giới hạn”, cho đến điểm đó đã không có.

 

Chương 2, “Chúng ta có thể hiểu được gì ? , củng cố một số kết luận này bằng việc trước tiên giải thích chi tiết trên một chủ đề trung tâm khác trong tác phẩm của Chomsky: những giới hạn của nhận thức con người.

 

Có một thành ngữ chúng ta đã dùng thường xuyên: “phạm vi và giới hạn của…” Chomsky rất coi trọng nó và cho nó một khai triển bất ngờ gây thay đổi quan điểm quan trọng trong việc khai triển chi tiết sự hiểu biết của ông về những khả năng nhận thức của chúng ta. Những khả năng này, trong phạm vi của chúng đều rộng hơn và sâu hơn so với bất kỳ loài sinh vật nào khác chúng ta được biết, như thế nguyên nhân một phần là chúng cũng chịu những giới hạn, những giới hạn là do bản chất của chúng ta, như tên gọi của quyển sách nêu lên, hạy loại sinh vật.vốn chúng ta – đặc biệt, sự kiện rằng những khả năng nhận thức của chúng ta có một cơ sở sinh học.

 

Chúng ta đã ngầm hiểu về điểm này trong chương 1, mặc dù ở đó nó đặc biệt giới hạn với khả năng ngôn ngữ của con người. Giải thích lý thuyết của ngôn ngữ đã trình bày ở đó đã giả định sẵn khái niệm này của những giới hạn – nghĩa là, giả định sẵn rằng chúng ta đều được ban cho trong di truyền với những cấu trúc bẩm sinh vốn cung ứng cho chúng ta khả năng độc đáo cho ngôn ngữ, những cấu trúc vốn đồng thời giới hạn những gì là ngôn ngữ cho chúng ta, có thể có ngôn ngữ-I nào. Đó la cho sự mô tả đặc điểm của những cấu trúc bẩm sinh này, đã trù định thuật ngữ kỹ thuật “UG” [9], và nó nằm trong khuôn khổ của phạm vi và giới hạn do thiên phú di truyền này đặt định khiến ngôn ngữ như một khả năng tính toán được giải thích trong giải thích tạo sinh đã tóm tắt trước đó.



Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ nhất

(Sep/2022)

(Còn tiếp... )

http://chuyendaudau.blogspot.com/

http://chuyendaudau.wordpress.com




[1] Dịch theo Noam Chomsky. What kind of creatures are we? New York, NY: Columbia University Press, 2015.

Những chú thích trong ngoặc vuông [ ... ] dịch theo nguyên bản.

Những chú thích khác, với những sai lầm nếu có, là của tôi, sẽ tìm chữa sau

 

[2] [Cho tất cả những tài liệu tham khảo, hãy xem những chương trong đó có trích dẫn. Về quan hệ giữa ngôn ngữ và tư tưởng, Chomsky, mặc dù bây giờ ông nghĩ nó thậm chí còn gần hơn ông đã nghĩ, nhưng không nghĩ cần phải khẳng định một gì đó mạnh mẽ như “bản sắc định tính “ giữa chúng, như Humboldt đã làm. Descartes và Darwin, những người cũng nhắc đến trong thảo luận của Chomsky về quan hệ này, đã không đi xa đến vậy.]

[3] Mô-đun ngôn ngữ (The language module), còn gọi là khả năng ngôn ngữ (faculty of language) là một cấu trúc giả định trong bộ óc con người, được cho là chứa những năng lực bẩm sinh về ngôn ngữ, Noam Chomsky đưa ra đầu tiên. Khả năng ngôn ngữ gồm hệ thống phối hợp giác quan-vận động (sensorimotor), hệ thống khái niệm-chủ định (conceptual-intentional system), và hệ thống máy móc tính toán (the computational mechanisms).

[4] generative grammar: Ngữ pháp tạo sinh (Tàu dịch: 生成文法 – sinh thành văn pháp) – tôi tạm dùng từ tạo sinh nay đã phổ thông – dù đã có dịch là phát sinh, theo tôi gần ý tác giả hơn) là một lý thuyết ngữ pháp cho rằng ngôn ngữ của con người được định hình bởi một tập hợp những nguyên tắc cơ bản là một phần của bộ não con người (và ngay cả có sẵn trong não của trẻ nhỏ). Theo những nhà ngôn ngữ học như Chomsky, ngữ pháp phổ quát’ (universal grammar) này đến từ khả năng ngôn ngữ bẩm sinh của chúng ta. Noam Chomsky, người đưa ra chính của ngữ pháp tạo sinh, tin rằng ông đã tìm thấy bằng chứng ngôn ngữ rằng những cấu trúc cú pháp không được học nhưng được đứa trẻ tiếp thu từ ngữ pháp phổ quát. Trong Linguistics for Non-Linguists: A Primer with Practice, Frank Parker và Kathryn Riley lập luận rằng ngữ pháp tạo sinh là một loại kiến thức vô thức cho phép một người, bất kể họ nói ngôn ngữ nào, có thể hình thành những câu nóiđúng. (‘Nói đơn giản, ngữ pháp tạo sinh là một lý thuyết về khả năng ngôn ngữ: một mô hình của hệ thống tâm lý của tri thức vô thức làm cơ sở cho khả năng của người nói trong tạo ra và giải thích những phát biểu trong một ngôn ngữ ... Một cách cố gắng để hiểu quan điểm của Chomsky là nghĩ về một ngữ pháp tạo sinh, cơ bản như một định nghĩa về khả năng: một set gồm những tiêu chuẩn vốn những cấu trúc ngôn ngữ phải đáp ứng để được phán đoán như có thể chấp nhận được)

[5] E-language: external languagengôn ngữ bên ngoài : ngôn ngữ truyền tải và có chung trong thế giới hoặc cộng đồng. I-language : internal language – ngôn ngữ bên trong: ngôn ngữ được nhận thức và hiểu trong từng cá nhân.Theo Chomsky, ngôn ngữ bên ngoài là một gì đó trừu tượng đem ra bên ngoài từ bộ máy thực sự của não thức chúng ta, ngôn ngữ bên trong là cơ chế vật chất của bộ óc chúng ta.

[6] [Mặc dù Chomsky nhắc đến ngôn ngữ-E theo cách tương phản với ngôn ngữ-I, nhưng ông nghi ngờ tính mạch lạc của chính ý tưởng và do đó không biết chúng có tồn tại hay không. Trong một số những luận văn của ông, ông phê bình những giả định cơ bản nhất vốn những triết gia đưa ra về tính mạch lạc của chúng, khi đưa ra những giải thích về chúng.

[7] [Khi chủ ý đưa ra điểm này về sự nghiên cứu ở một mức độ trừu tượng với một cái nhìn đến một giải thích cuối cùng trong những điều kiện của não bộ, Chomsky cho thấy tiếp cận thì không khác hơn như thế nào trong nghiên cứu khoa học của ngôn ngữ, lấy thí dụ, với trong hoạt động định chỗ hay đường đi của côn trùng. Trong một công trình khác, Chomsky trích dẫn một số tiến bộ vốn có thể làm được trong sự tìm hiểu vào trong những nền tảng cơ bản sinh học, nhưng cũng trích dẫn như thế nào có thể có một số những giả định sai về nền tảng đã của được những nhà khoa học não bộ về đối tượng nghiên cứu là gì. Về điểm cuối cùng này, xem tham khảo của ông về tác phẩm của Charles Gallistel trong chương 2.]

[8] External & Internal Merge

[9] Universal Grammar (UG) : Ngữ Pháp Phổ Quát là hệ thống lý thuyết hoặc giả thuyết về những phạm trù, hoạt động và nguyên tắc có chung trong tất cả những ngôn ngữ của con người, và được coi là bẩm sinh. Sau những năm 1980, thuật ngữ này thường được viết hoa, và còn được gọi là Universal Grammar Theory/Lý thuyết Ngữ pháp Phổ quát. Noam Chomsky giải thích, “UG được coi là tập hợp những thuộc tính, điều kiện hoặc bất cứ gì cấu thành ‘trạng thái ban đầu’ của người học ngôn ngữ, do đó là cơ sở trên đó phát triển kiến thức của một ngôn ngữ. (Rules and Representations. Columbia University Press, 1980)) “Không nên nhầm lẫn UG với ngôn ngữ phổ quát,” Elena Lombardi lưu ý, “hoặc với cấu trúc sâu xa của ngôn ngữ, hoặc ngay cả với chính ngữ pháp” (The Syntax of Desire, 2007). Như Chomsky đã nhận xét, “UG không phải là một ngữ pháp, nhưng đúng hơn là một lý thuyết của những ngữ pháp, một loại lý thuyết của lý thuyết, hay sự sắp xếp và trình bày theo một hệ thống của ngữ pháp” (Language and Responsibility 1979).