Saturday, September 24, 2022

Chomsky – Chúng Ta Là Loài Sinh Vật Nào? (05)


Chúng Ta Là Loài Sinh Vật Nào?

(What Kind Of Creatures Are We?)

Noam Chomsky

(← ...  tiếp theo) 

 



Chúng ta là loài sinh vật nào?

 

4 | NHỮNG BÍ ẨN CỦA THIÊN NHIÊN: ĐƯỢC GIẤU KÍN SÂU XA THẾ NÀO?

         

TÊN GỌI cho chương này lấy từ những nhận xét của Hume về Isaac Newton, người ông đã gọi là “thiên tài lớn nhất và hiếm nhất từng xuất hiện cho sự tô điểm và sự hướng dẫn của chủng loại”. Trong phân đoán của Hume, thành tựu vĩ đại nhất của Newton là trong khi ông “có vẻ đã vén lên tấm màn che khỏi một số những bí ẩn của Tự Nhiên, ông đồng thời đã cho thấy những bất toàn của triết học cơ học [1]; và do đó đã đặt trả lại những bí mật cuối cùng của [Tự nhiên] về với sự tối tăm khó hiểu đó, chúng đã từng ở trong đó và sẽ mãi mãi ở trong đó”. Trên những lập trường khác nhau, những người khác cũng đã đi đến những kết luận tương tự. Locke, lấy thí dụ, đã nhận xét rằng chuyển động có những tác động “vốn chúng ta không cách nào hình dung chuyển động có khả năng tạo ra” – như Newton thực sự đã chứng minh không lâu trước đó. Theo đó, chúng ta vẫn còn trong “sự thiếu hiểu biết không thể chữa khỏi của những gì chúng ta mong muốn để biết” về vật chất và những tác động của nó, Locke đã kết luận, không có “khoa học của những vật thể nào [thì] trong tay với của chúng ta”, và chúng ta có thể chỉ gọi đến “sự tất định tùy tiện của Tác Nhân Khôn Ngoan-Tất Cả đó, người đã làm chúng là chúng, và vận hành chúng như chúng vận hành, trong một cách hoàn toàn vượt trên những hiểu biết yếu kém của chúng ta để thai nghén mường tượng được”. [2]

 

Tôi nghĩ rất đáng chú ý đến những kết luận loại như vậy, những lý do cho chúng, những xảy ra sau chúng, và những gì vốn lịch sử đề nghị về những quan tâm hiện tại và những thăm dò tìm biết trong triết học của não thức.[3]

 

Triết học cơ học vốn Newton đã làm suy yếu nền móng của nó thì dựa trên sự hiểu biết thực tiễn thông thường của chúng ta về bản chất và những tác động lẫn nhau của những đối tượng, trong phần lớn đã tất định từ trong gốc hay qua phát triển (của chúng), và có vẻ như phản xạ đem cho những thuộc tính được tri giác như sự bền bỉ dai dẳng của những đối tượng qua thời gian và không gian, và như một hệ luận, sự hợp nhất vững chặt. và liên tục của chúng; [4] và tương quan nhân quả qua tiếp xúc, một tính chất nền tảng đặc biệt của vật lý trực giác [5], “vật thể (khối vật chất đặc) [6], như mức độ chúng ta có thể hình dung, là chỉ có khả năng va đập và tác động vật thể , và chuyển động, theo như những ý tưởng đến cùng cực của chúng ta, là có khả năng để tạo ra không gì ngoài sự chuyển động”, như Locke đã thuận lý nêu lên tính chất đặc biệt của sự hiểu biết thực tiễn thông thường về thế giới – những giới hạn của “những ý tưởng” của chúng ta, trong ý hướng của ông. Lý thuyết đối ứng đã là khái niệm duy vật về thế giới vốn làm sinh động cách mạng khoa học, thế kỷ XVII, khái niệm về thế giới như một bộ máy, đơn thuần là một hình thức lớn hơn của những bộ máy tự động [7] vốn kích động sự tưởng tượng của những nhà tư tưởng thời bấy giờ, rất giống cách thức những cômputơ được pro-gram-sẵn ngày nay: những đồng hồ đặc biệt đáng chú ý, những sản phẩm nhân tạo được những người thợ điêu luyện bậc thầy chế tạo, như Jacques de Vaucanson bắt chước hành vi động vật và những chức năng nội quan như sự tiêu hóa, những bộ máy hoạt động bằng lực đẩy của hơi nước, vốn chơi những nhạc cụ và phát tiếng nói, khi có kích động từ người đi dạo qua, trong vườn vua. Triết học cơ học đã nhắm để gạt đi những hình thể bay vụt trong không, những thiện cảm và những ác cảm, và những ý tưởng thần bí siêu nhiên khác [8], và để giữ lấy những gì đã đặt vững vàng trong sự hiểu biết thực tiễn thông thường và có thể hiểu được với nó. Như đã phổ thông, Descartes đã tuyên bố đã giải thích những hiện tượng của thế giới vật chất trong những từ ngữ cơ học, trong khi cũng chứng minh rằng triết học cơ học thì không bao hàm-tất cả, không đi đến được lĩnh vực của não thức – một lần nữa, thuận hợp rất nhiều với diễn giải nhị nguyên trong kiến thức thực tiễnn thông thường về tự ngã và thế giới quanh chúng ta.

 

I. Bernard Cohen nhận xét rằng “có đầy rẫy chứng cớ trong PrincipiaOpticks của Newton cho thấy sự gắn bó toàn diện của ông với triết học cơ học Descartes”. [9] Từ “toàn diện” thì quan trọng. Newton đã chịu nhiều ảnh hưởng của triết học Plato-mới và của truyền thống luyện giả kim [10], và cũng của những hệ quả đáng ngại từ chinh những thăm dò của riêng ông. Từ những lý do như vậy, đôi khi ông đã sửa chữa sự phân đôi chặt chẽ hơn giữa vật chất và tinh thần của Descartes, sau khi gồm cả trong phần thứ hai “những tác năng tự nhiên trách nhiệm cho những chuyển động ‘mãnh liệt’ của hoạt động hóa học và điện học và có lẽ, ngay cả chuyển động với gia tốc trong tổng quát”, như Ernan McMullin cho thấy trong một phân tích cặn kẽ tiến hóa trong “vật lộn”của Newton với những nghịch lý và những câu hỏi nan giải, ông đã tìm giải quyết. Trong những lời của chính Newton, “tinh thần” có thể là nguyên nhân của tất cả chuyển động trong tự nhiên, gồm “năng lực của việc di chuyển cơ thể của chúng ta bằng những suy nghĩ của chúng ta” và “cùng một năng lực tương tự trong những sinh vật khác, [dù] việc này được thực hiện thế nào và bởi những luật gì, chúng ta không biết. Chúng ta không thể nói rằng tất cả tự nhiên thì không sống động”. [11]

 

Đi một bước xa hơn, Locke thêm rằng chúng ta không thể nói rằng thiên nhiên không suy nghĩ. Trong công thức đã đi vào lịch sử, như “sự đề nghị của Locke”, ông viết rằng “không biết có phải Vật chất có thể không được Gót làm ra để suy nghĩ hay không thì vượt hơn sức người có thể biết. Vì tôi thấy không có mâu thuẫn trong đó, rằng Hữu Thể Suy Nghĩ Vĩnh Cửu Đầu Tiên, hay đấng Tinh Thần Toàn Năng, nếu ông thích, sẽ đem cho những hệ thống nhất định nào đó của vật chất vô tri giác đã được tạo, đặt chúng vào nhau như ông nghĩ là thích hợp, một mức độ nào đó của cảm giác, tri giác và suy tưởng”. Thêm nữa, cũng giống như Gót đã chồng thêm những tác động không thể nghĩ tưởng được vào chuyển động, thì “cũng không nhiều xa vời hơn với sự thấu hiểu của chúng ta để thai nghén ý tưởng rằng Gót có thể, nếu ông thích, chồng thêm vào vật chất một khả năng của suy nghĩ, hơn là Gót sẽ chồng thêm vào một thực thể khác với một khả năng của suy nghĩ”. Do đó, không có bảo đảm cho việc đưa lên một thực thể thứ hai có yếu tính là tư tưởng. Và ở nơi nào khác, nó “không có sự mâu thuẫn [rằng Gót sẽ] đem cho một vài ‘gói ghém’ của vật chất, được phân bối như ông nghĩ là vừa vặn, một sức mạnh của suy nghĩ và chuyển động [vốn ] có thể thích hợp gọi là tinh thần, phân biệt ngược với vật chất không suy nghĩ ”, một cái nhìn vốn ông thấy “rất gớm ghiếc khó chịu với ý tưởng của vật chất vô tri giác” nhưng rằng chúng ta không thể bác bỏ, do sự thiếu hiểu biết không thể chữa được của chúng ta và những giới hạn của những ý tưởng của chúng ta (những khả năng nhận thức). Không có khái niệm có thể hiểu được của “vật chất” (vật thể, v.v.), chúng ta không thể loại bỏ khả năng của vật chất có suy nghĩ hay vật chất có sự sống, đặc biệt sau khi Newton đã làm suy hoại nền móng của sự hiểu biết thực tiễn thông thường (của chúng ta về nó). [12]

 

Đề nghị của Locke đã được tiếp tục đón nhận suốt trong thế kỷ XVIII, lên đến cao nhất trong tác phẩm quan trọng của Joseph Priestley, vốn chúng ta sẽ quay lại. Hume, trong Treatise, đã đạt đến kết luận rằng “chuyển động có thể là, và thực sự là, nguyên nhân của suy nghĩ và nhận thức”, sau khi bác bỏ những lập luận quen thuộc về sự khác biệt tuyệt đối trong loại và tính phân chia được, trên những nền tảng tổng quát rằng “chúng ta không bao giờ cảm nhận được bất kỳ liên kết nào xen kẽ giữa những nhân và những quả, và rằng ‘điều này chỉ bởi kinh nghiệm của chúng ta về sự trùng hợp không đổi của chúng, khiến chúng ta có thể đi đến được bất kỳ hiểu biết nào về liên hệ này”. Trong hình thức này hay hình thức khác, đã đi đến nhìn nhận rằng vì “tư tưởng, vốn được tạo ra trong não, không thể là-có nếu cơ quan này không có”, và thôi không có một lý do để hỏi về luận điểm của vật chất suy nghĩ, “là điều tất yếu để coi bộ óc như một cơ quan đặc biệt được thiết kế khác thường để tạo [suy nghĩ], như dạ dày và ruột được thiết kế để vận hành tiêu hóa, gan để lọc mật”, và theo cùng một cách như thế qua những cơ quan cơ thể. Giống như như thức ăn đi vào dạ dày và để lại trong nó những phẩm chất mới, [vì vậy] những ấn tượng đến não, qua những dây thần kinh; khi đó chúng đều cô lập và không mạch lạc. Cơ quan đi vào hoạt động; nó tác động lên chúng, và nhanh chông nó gửi trả chúng lại, đã đổi vào trong những ý tưởng, vốn ngôn ngữ của nét mặt và cử chỉ, hay những dấu hiệu của lời nói và chữ viết, biểu hiện ra bên ngoài. Khi đó, chúng ta kết luận với cùng chắc chắn, rằng bộ óc tiêu hóa, như nó đã làm, những ấn tượng, tức là, về mặt hữu cơ, nó làm sự tiết ra của suy nghĩ. [13]

 

Như Darwin đã đặt vấn đề một cách cô đọng, “Tại sao suy nghĩ, (với tinh cách) là một sự tiết ra của bộ óc, lại (xem là) kỳ diệu hơn trọng lực, một thuộc tính của vật chất?” [14]

 

Đặt những thẩm định qua bên, trong tổng quát, Newton đã tuân thủ với triết học cơ học nhưng cũng đã cho thấy “những không hoàn hảo” của nó, trong thực tế, ông đã phá đổ nó, dù đến cuối đời, ông đã tìm để mong thấy một đường lối nào đó để giải thích cho nguyên lý bí ẩn của tác động từ một khoảng xa, vốn ông đã buộc phải gọi đến để giải thích cho những hiện tượng cơ bản nhất của tự nhiên. Có lẽ, ông nghĩ, có thể có “một tinh thần tế vi nhất vốn tràn ngập và nằm ẩn dấu trong tất cả những vật thể rành rành hiển nhiên”, vốn cách nào đó sẽ đem lại một giải thích vật lý của lực hấp dẫn và lực liên kết và đem cho một vài hy vọng của việc cứu vãn một bức tranh có thể hiểu được của thế giới.[15]

 

Chúng ta không nên xem nhẹ, gạt bỏ những quan tâm của “thiên tài lớn nhất và hiếm nhất từng xuất hiện cho sự tô điểm và sự hướng dẫn của chủng loại”, hay của Galileo và Descartes, hay Locke và Hume. Hay của những nhà khoa học được tôn trọng nhất đương thời Newton, những người đã “rõ ràng chê trách [Newton] vì đã dẫn khoa học trở ngược về trong những con đường sai lầm vốn nó dường như đã nhất quyết bỏ rơi”, E.J. Dijksterhuis viết trong nghiên cứu cổ điển của bức tranh thế giới cơ học và sự sụp đổ của nó như một học thuyết có thực chất. Christiaan Huygens đã mô tả nguyên lý lực hấp dẫn của Newton như một “sự phi lý”. Gottfried Leibniz đã biện luận rằng Newton đã giới thiệu trở lại những ý tưởng thần bí, tương tự như những thiện cảm và những ác cảm của khoa học kinh viện vốn đã bị chế giễu nhiều, và đã không đem cho những giải thích vật lý nào cho những hiện tượng của thế giới vật chất.[16]

 

Newton đã phần lớn đồng ý với giới khoa học cùng thời ông. Ông viết rằng khái niệm tác động từ một khoảng cách thì “không thể nghĩ tưởng được”. Nó là “một sự Phi lý quá lớn đến mức tôi tin rằng không Người nào, người có một khả năng suy nghĩ trong những vấn đề triết học. lại có thể rơi vào đó”. [17] Bằng vào viện dẫn nó, chúng ta thú nhận rằng chúng ta không hiểu những hiện tượng của thế giới vật chất. Như McMullin nhận xét, “Qua từ ‘hiểu’ Newton vẫn có ý nói như những gì những phê bình ông muốn nói: ‘hiểu theo những thuật ngữ cơ học của tác động tiếp xúc’”. [18]

 

Lấy một tương đương trong thời nay, ý niệm phi lý của tác động ở một khoảng cách thì cũng không thể nghĩ tưởng được, như ý tưởng rằng “những trạng thái tâm lý là những trạng thái của não”, [19] một đưa lên thảo luận rằng “chúng ta không thực sự hiểu [bởi vì] chúng ta vẫn không có khả năng để hình thành một khái niệm trừu tượng về ý thức nổi lên trong vật chất như thế nào, ngay cả nếu chúng ta chắc chắn rằng nó có nổi lên”. [20] Tương tự, Newton đã không có khả năng để hình thành một khái niệm về cách những hiện tượng đơn giản nhất của tự nhiên có thể nổi lên trong vật chất như thế nào – và (tin rằng) chúng đã không như vậy, trên khái niệm về vật chất của ông, phiên bản lý thuyết về tự nhiên của sự hiểu biết thực tiễn thông thường. Locke và những người khác đã đồng ý, và Hume đã mang sự thất bại đó của ‘không thể thai nghén mường tượng’ đi thêm một bước xa hơn, qua kết luận rằng Newton đã đặt trả lại những bí mật cuối cùng của [Tự nhiên] về với sự tối tăm khó hiểu đó, chúng đã từng ở trong đó và sẽ mãi mãi ở trong đó” – một lập trường vốn chúng ta có thể giải thích, về thuyết tự nhiên[21], như một phỏng đoán về những giới hạn của những khả năng nhận thức con người. Trong ánh sáng của lịch sử, dường như có rất ít lý do để phải quan tâm về tính không thể nghĩ tưởng được của sự liên hệ não thức với bộ óc, hay về tính có thể tưởng tượng được hoàn toản, ít nhất trong sự tìm hiểu vào trong bản chất của thế giới. Cũng không có bất kỳ lý do nào cho những băn khoăn do dự về một “khoảng cách giải thích rõ” giữa vật chất và ý thức, ngoài những quan tâm về sự thống nhất vốn nổi lên qua những cố gắng để tìm hiểu thế giới. Và trừ khi vật chất được đem cho một vài ý nghĩa mới sau-Newton, lại còn ít lý do hơn để băn khoăn do dự về một “khoảng cách giải thích rõ” hơn trong những trường hợp ở đó có một số ý nghĩa rõ ràng với sự thu giảm nền tảng đã giả định. Cực đoan nhất của những quan tâm như vậy, và có lẽ là có ý nghĩa quan trọng nhất cho sự phát triển kế tiếp của khoa học, là khoảng cách giải thích rõ vốn Newton đã khai quật và để lại chưa được giải đáp, có thể là một bí ẩn vĩnh viễn với con người, như Hume đã phỏng đoán.[22]

 

Dĩ nhiên, khoa học đã không chấm dứt với sự sụp đổ của khái niệm của vật thể (vật chất, thể chất, v.v.). Đúng hơn, nó đã được tạo dựng lại hoàn toàn mới, với những câu hỏi của tính thai nghén mường tượng được và của tinh có thể hiểu được đã bị gạt bỏ vì không chứng minh được gì ngoại trừ những khả năng nhận thức của con người, dù kết luận đó đã mất một thời gian dài để trở thành được thiết lập vững chắc. Những giai đoạn sau của khoa học đã đem vào nhiều “những phi lý” hơn. Tính hợp thức của những bước đi thì được ấn định bởi những tiêu chuẩn của chiều sâu trong giải thích và của hỗ trợ thực nghiệm, nhưng không bởi tính thai nghén mường tượng được và tính có thể hiểu được của thế giới vốn được mô tả.

 

Thomas Kuhn nêu ý rằng “nó không, tôi nghĩ, trình bày sai những ý định của Newton như một nhà khoa học để tiếp tục rằng ông muốn viết một quyển Principles of Philosophy giống Descartes [tức là, khoa học thực] nhưng rằng việc ông không đủ khả năng để giải thích lực hấp dẫn đã buộc ông tự giới hạn đề tài của ông sang thành Mathematical Principles of Natural Philosophy [vốn] ngay cả đã không làm ra vẻ để giải thích tại sao vũ trụ vận hành như nó vận hành”, sau khi bỏ câu hỏi lại trong mù mờ không rõ. Vì những lý do như vậy, “đã 40 năm trước, vật lý học Newton đã vững vàng thế chỗ vật lý học Descartes, ngay cả trong những trường đại học Britain”, và một số nhà vật lý học tài nămg nhất của thế kỷ mười tám, đã tiếp tục tìm một giải thích theo cơ học-phân tử [23] cho lực hấp dẫn – nghĩa là những gì họ đã lấy để làm một giải thích vật lý – như chính Newton đã làm. Trong những năm sau đó, những người theo thuyết thực chứng duy nghiệm đã chê trách cả hai bên của tranh luận “vì sự ngu dại của họ trong việc mặc áo cho thuyết hình thức toán học [của lý thuyết vật lý] với ‘vải màu xám’ của một diễn giải vật lý”, một khái niệm vốn đã mất thực chất ý nghĩa.[24]

 

Câu nói nổi tiếng của Newton “Tôi không lập những giả thuyết” [25] xuất hiện trong nội dung này: sau khi nhìn nhận rằng ông đã thiếu khả năng tìm ra nguyên nhân vật lý của lực hấp dẫn, ông đã để vấn đề bỏ ngỏ. Ông nói thêm rằng “với chúng ta, lực hấp dẫn thực sự là-có – và hoạt động theo như những luật vốn chúng ta đã giải thích, và được dùng rất nhiều để giải thích cho tất cả những chuyển động của những thiên thể và của biển của chúng ta – là đủ”. Nhưng trong khi đồng ý rằng những nêu lên để suy nghĩ của ông là phi lý đến mức không một nhà khoa học nghiêm chỉnh nào có thể chấp nhận chúng được, ông đã tự bào chữa việc đổ lỗi cho ông, rằng ông đã quay trở lại về thuyết bí ẩn của phái Aristotle. Ông đã biện luận, những nguyên lý của ông đã không là huyền bí: “chỉ những nguyên nhân của chúng là huyền bí”; hay như ông hy vọng, vẫn đã chưa được khám phá trong những thuật ngữ vật lý, nghĩa là những thuật ngữ cơ học. Để lấy ra những nguyên lý tổng quát theo quy nạp từ những hiện tượng, ông tiếp tục, “và sau đó bảo cho chúng ta biết những thuộc tính của hoạt động của tất cả những khối vật chất hữu hình vật chất theo đến từ những nguyên lý hiển hiện đó thế nào, sẽ là một bước tiến rất lớn trong triết học, dù những nguyên nhân của những nguyên lý này vẫn đã chưa được khám phá”. [26]

 

Để thể viết lại rõ ràng hơn theo hướng nhìn tương tự ngày nay tôi đã nhắc, nó “sẽ là một bước tiến rất lớn trong khoa học để giải thích cho những phương diện tinh thần của thế giới trong những điều kiện của những nguyên lý biểu hiện ngay cả nếu những nguyên nhân của những nguyên lý này vẫn đã chưa được khám phá” – hay để đặt vấn đề phù hợp hơn với hoàn cảnh, ngay cả nếu sự thống nhất với những phương diện khác của khoa học đã chưa từng đạt được. Để tìm hiểu thêm hơn về những phương diện tinh thần của thế giới – hay hóa học, hay điện học, hay những phương diện khác – chúng ta nên cố gắng để khám phá “những nguyên lý biểu hiện” vốn một phần giải thích chúng, mặc dù những nguyên nhân của chúng vẫn còn phân ly với những gì chúng ta coi là những phương diện cơ bản hơn của khoa học. Khoảng cách (phân ly) có thể có nhiều lý do, trong số chúng, như đã nhiều lần từng được tìm ra, rằng cơ sở thu giảm được giả định đã bị hiểu sai, bao gồm cả vật lý học cốt lõi.

 

Những nhà sử học khoa học đã nhìn nhận rằng những chuyển dịch trí thức miễn cưỡng của Newton đã giải thích một cái nhìn mới của khoa học, trong đó mục tiêu thì không để tìm những giải thích cuối cùng nhưng để tìm những giải thích lý thuyết lý thuyết tốt nhất chúng ta có thể có, của những hiện tượng của kinh nghiệm và thí nghiệm. Những mục tiêu giới hạn hơn của Newton đã không là hoàn toàn mới. Chúng có những gốc trong một truyền thống khoa học sớm hơn trước đó vốn đã bỏ rơi sự tìm kiếm cho “những dao động điều hòa đầu tiên của những chuyển động tự nhiên” và những hiện tượng tự nhiên khác, sau khi tuân theo với cố gắng khiêm tốn hơn để phát triển sự giải thích lý thuyết tốt nhất chúng ta có thể có: những gì vốn Richard Popkin gọi là “thuyết hoài nghi xây dựng [27] … đã hình thành… chi tiết bởi [Marin] Mersenne và [Pierre] Gassendi”, sau này trong “thuyết hoài nghi giảm nhẹ” [28] của Hume. Trong khái niệm này, Popkin nói tiếp, khoa học tiến hành bằng “nghi ngờ những khả năng của chúng ta để tìm những nền móng cho kiến thức chúng ta, trong khi chấp nhận và nâng cao tự thân kiến thức” và sau khi nhìn nhận rằng “những bí mật của tự nhiên, của những sự vật-trong-tự thân, đều ẩn giấu mãi mãi với chúng ta “ – “khoa học với không có siêu hình học… vốn đã có một lịch sử lớn trong những thời gần đây hơn”. [29]

 

Khi tác động của những khám phá của Newton đã từ từ thấm nhập, việc hạ thấp như thế của những mục tiêu của nghiên cứu khoa học đã thành thông lệ. Những nhà khoa học đã buông bỏ ý tưởng sống động của cách mạng khoa học thời ban đầu: rằng thế giới sẽ là có thể hiểu được bằng trí tuệ của chúng ta. Nó là đủ (những cần thiết) để xây dựng những lý thuyết giải thích có thể hiểu được, một sự khác biệt gốc rễ. Vào thời điểm chúng ta đạt đến Analysis of Matter của Bertrand Russell, ông đã bác bỏ chính ý tưởng của một thế giới có thể hiểu được của chúng ta là “phi lý” và đặt từ “có thể hiểu được” nhiều lần trong ngoặc kép để nhấn mạnh sự phi lý của sự tìm kiếm. Ông viết: Những băn khoăn nghi ngờ về tác động ở một khoảng cách đã là “không nhiều gì hơn một tiên kiến” .Nếu tất cả thế giới được tạo thành từ những quả bóng bi-a, nó sẽ là những gì được gọi là ‘có thể hiểu được– tức là, nó sẽ không bao giờ làm chúng ta ngạc nhiên đủ để khiến chúng ta nhìn nhận rằng chúng ta không hiểu nó”. [30] Nhưng ngay cả không có ngạc nhiên bên ngoài, chúng ta nên nhìn nhận rằng chúng ta hiểu thế giới ít đến thế nào và cũng nên nhìn nhận rằng việc chúng ta có thể mường tượng hình dung thế giới vận hành như thế nào hay không thì không thành vấn đề. Vài năm sau, trong tác phẩm giới thiệu cổ điển của Paul Dirac về cơ học quantum, ông đã viết rằng khoa học vật lý thôi không còn tìm để đem cho những bức tranh của thế giới hoạt động như thế nào, tức là “một mô hình (khái niệm) hoạt động trên những đường (nguyên tắc/tiêu chuẩn) cơ bản cổ điển”, nhưng chỉ tìm kiếm để đem cho một “đường lối nhìn vào những luật nền tảng vốn làm tính tự nhất quán của chúng hiển nhiên”. Ông đã nhắc dẫn đến những kết luận không thể nghĩ tưởng được của vật lý quantum, nhưng có thể như sẵn sàng chỉ để nói rằng ngay cả những mô hình cơ học Newton cổ điển đã buông bỏ hy vọng của việc biện giải những hiện tượng tự nhiên có thể hiểu được, mục tiêu chính yếu của cách mạng khoa học hiện đại thời ban đầu, với những gốc rễ của nó trong sự hiểu biết thực tiễn thông thường. [31]

 

Điều là có ích để nhìn nhận đó đã là một sự thay đổi triệt để như thế nào, để bỏ rơi triết học cơ học, và với nó bất kỳ liên quan khoa học nào của những tin tưởng và những khái niệm hiểu biết thực tiễn thông thường của chúng ta, ngoại trừ như một điểm bắt đầu và thúc đẩy cho tìm hiểu. Peter Machamer, học giả chuyên về Galileo nhận xét rằng bởi tiếp nhận triết học cơ học và khởi đầu cách mạng khoa học hiện đại, Galileo đã “rèn đúc một mô hình mới của tính có thể hiểu được cho sự hiểu biết con người, [với] những tiêu chuẩn mới cho những giải thích mạch lạc trước sau của những hiện tượng tự nhiên” dựa trên khái niệm của thế giới như một cỗ máy công phu. Với Galileo, và những nhân vật dẫn đầu trong cách mạng khoa học hiện đại tổng quát ban đầu, sự hiểu biết thực đòi hỏi một mô hình cơ học, một máy móc được tạo ra với một mục đích cụ thể [32] vốn một người thợ điêu luyện có thể tạo dựng, do đó có thể hiểu được với chúng ta. Thế nên, Galileo đã gạt bỏ những lý thuyết theo thông lệ của thủy triều vì chúng ta không thể “lập lại [chúng] bằng những phương tiện của những máy móc nhân tạo thích ứng”. [33]

 

Mô hình của tính có thể hiểu được vốn đã ngự trị từ Galileo đến Newton và sau đó, có một hệ luận: khi thuyết cơ giới [34] thất bại, sự hiểu biết cũng thất bại. Những thiếu hụt thấy rõ ràng của giải thích cơ học cho sự gắn kết, lực hút và những hiện tượng khác cuối cùng đã đưa Galileo đến bác bỏ “giả định viển vông của việc hiểu biết tất cả mọi sự vật việc”. Còn tệ hơn, “không có một tác động đơn độc nào trong tự nhiên… đến mức khiến nhà lý thuyết thông minh nhất có thể đi đến một hiểu biết hoàn toàn về nó”. [35] Galileo đã hình thành một dạng thức rất mạnh mẽ của những gì vốn Daniel Stoljar gọi là “giả thuyết thiếu hiểu biết” trong điều tra kỹ lưỡng của ông vào trong những nghiên cứu ngày nay của những vấn đề triết học liên quan đến ý thức, kết luận rằng những nguồn gốc của chúng đều là về tri thức học và chúng được vượt qua hiệu quả bằng việc viện dẫn giả thuyết thiếu hiểu biết – vốn với Galileo, Newton, Locke, Hume, và những người khác, nó đã hơn là một giả thuyết và đã mở rộng, vượt khỏi vấn đề của ý thức, bao gồm những đúng thật khá tổng quát của tự nhiên.[36]

 

Mặc dù lạc quan hơn nhiều về những triển vọng cho giải thích cơ học so với Galileo, Descartes cũng thế, đã nhìn nhận những giới hạn của sự vươn đến trong nhận thức của chúng ta. Quy tắc 8 của Regulae viết: “Nếu trong một chuỗi của những vấn đề để xem xét, chúng ta đi đến một vấn đề vốn với nó trí tuệ của chúng ta không thể đạt đến một trực giác đủ tốt (để bắt đầu xem xét), chúng ta phải dừng lại ở đó; và chúng ta phải đừng xem xét những vấn đề khác tiếp sau đó , nhưng phải tránh việc làm cực nhọc vô ích”. Cụ thể, Descartes lý thuyết rằng những hoạt động của res cogitans [37] có thể nằm ngoài sự hiểu biết con người. Ông nghĩ rằng chúng ta có thể không “có đủ trí tuệ” để hiểu được những hoạt động của não thức, đặc biệt là việc dùng ngôn ngữ bình thường, với những phương diện sáng tạo của nó, thí dụ cốt lõi của ông: khả năng đem dùng của mỗi con người, nhưng không có cỗ máy-thú vật nào. để đem dùng ngôn ngữ trong những cách ứng hợp với những hoàn cảnh, nhưng không do chúng gây ra, và để hình thành và diễn đạt những suy nghĩ mạch lạc với không giới hạn, có thể “bị kích động hay có khuynh hướng” để nói trong những cách nhất định nào đó bởi những trường hợp bên trong và bên ngoài, nhưng không “bắt buộc” để làm như vậy, như những người đi theo ông đặt vấn đề. [38]

 

Tuy nhiên, Descartes đã tiếp tục, ngay cả nếu sự giải thích của việc dùng ngôn ngữ bình thường và những dạng thức khác của tự do và lựa chọn hành động hợp lý nhất quán nằm ngoài tầm với đến của nhận thức của chúng ta, rằng không có lý do để chất vấn tính xác thực của kinh nghiệm của chúng ta. Khá tổng quát, “ý chí tự do” là “sự việc cao quý nhất” chúng ta có, Descartes đã chủ trương rằng: “không có gì chúng ta hiểu hiển nhiên hơn và hoàn hảo hơn”, và “sẽ là điều phi lý” để nghi ngờ một gì vốn “chúng ta thấu hiểu một cách riêng tư và cá nhân, và có kinh nghiệm bên trong bản thân chúng ta “(rằng” những hành động tự do của con người [đều là] bất định “) chỉ vì nó mâu thuẫn với một gì khác, “vốn chúng ta biết phải là có bởi bản chất của nó thì không thể thấu hiểu được với chúng ta “(“sự xác định sẵn trước của thần linh”). [39]

 

Những suy nghĩ như vậy về giới hạn nhận thức không thuận hợp cho lắm với quan sát thỉnh thoảng của Descartes rằng lý trí của con người “là một dụng cụ phổ quát vốn nó có thể phục vụ cho tất cả những trường hợp xảy ra bất ngờ”, trong khi những cơ quan của động vật hay máy móc “cần một số thích ứng đặc biệt cho bất kỳ hành động cụ thể nào”. Nhưng hãy đặt điều đó qua bên và tiếp tục với những kết luận hợp lý hơn về những giới hạn nhận thức.

 

Việc dùng ngôn ngữ một cách sáng tạo đã là một cơ bản cho những gì đã từng gọi là “biện luận về nhận thức học” cho thuyết nhị nguyên não thức-cơ thể và cũng cho những điều tra khoa học của phái Descartes trong vấn đề “những não thức khác” [40] – tôi tin là hợp lý hơn so với những tương tự thời nay, thường dựa trên sự hiểu sai một bài viết nổi tiếng của Alan Turing, một đề tài tôi sẽ đặt qua bên.[41]

 

Tôi nghĩ Desmond Clarke thì chính xác khi kết luận rằng “Descartes đã xác định việc dùng ngôn ngữ như thuộc tính hết sức quan trọng vốn phân biệt con người với những thành viên khác của vương quốc động vật và [rằng] ông đã khai triển luận chứng này trong hỗ trợ sự phân biệt thực của não thức và vật chất”. Tôi nghĩ ông cũng thuyết phục trong diễn giải dự án tổng quát của Descartes như chính yếu là “triết học tự nhiên” (khoa học), một cố gắng để đẩy giải thích cơ học đến những giới hạn của nó; và về phần Meditations “không như sự diễn đạt chính thức của triết học Descartes, như như một cố gắng không thành để hòa giải nghi ngờ về mặt gót học trong triết học tự nhiên của ông với một diễn đạt chính thức của siêu hình học kinh viện”. [42] Trong theo đuổi khoa học tự nhiên của ông, Descartes đã cố gắng để cho thấy giải thích cơ học đó đi đã được rất xa nhưng đã đến một rào cản không thể vượt qua, khi đối mặt với những hiện tượng tinh thần, như việc dùng ngôn ngữ một cách sáng tạo. Do đó, khá hợp thức, ông đã làm theo cách thức tiến hành khoa học tiêu chuẩn của việc tìm một số nguyên lý mới để giải thích cho những hiện tượng tâm lý như vậy – một tìm kiếm vốn mất đi một động lực chính khi giải thích cơ học đã được cho thấy rõ là thất bại cho mọi sự vật việc.

 

Clarke biện luận rằng “Thuyết nhị nguyên của Descartes đã là một diễn tả của sự mở rộng của khoảng trống lý thuyết giữa [vật lý Descartes] và những tường thuật của đời sống tinh thần vốn chúng ta hình thành từ viễn tượng con người trong ‘ngôi thứ nhất’ của suy nghĩ riêng tư của chúng ta”. Do đó, khoảng trống này là những kết quả từ “khái niệm nghèo nàn của vật chất” của Descartes và có thể được vượt qua bằng “việc bao gồm những thực thể lý thuyết mới vào trong khái niệm của một người về vật chất”. [43] Cho dù phỏng đoán sau có đúng hay không, nó không hoàn toàn nắm bắt được những khiếm khuyết của khoa học cổ điển từ Galileo qua Newton và sau đó. Khái niệm cơ bản về vật chất và chuyển động – dựa trên tính mường tượng hình dung được, tính có thể hiểu được và kiến thức thực tiễn thông thường – đã phải loại bỏ, và khoa học phải tiến hành trên một đường hướng mới hoàn toàn trong sư điều tra những hiện tượng đơn giản nhất của chuyển động và tất cả những phương diện khác của thế giới, gồm đời sống tinh thần.

 

Mặc dù việc dùng ngôn ngữ một cách sáng tạo mang tinh trung tâm với khoa học Descartes, nó đã chỉ là một minh họa của vấn đề tổng quát của ý chí và lựa chọn hành động thích hợp, vốn vẫn là bí ẩn với chúng ta như với những nhà khoa học thế kỷ 17, với tôi, có vẻ như bất chấp những lập luận phức tạp tinh vi ngược lại. Những vấn đề hiếm thấy ngay cả trong những chương trình thảo luận khoa học. Đã từng có công trình rất có giá trị về một sinh vật thực hiện một ý định cho hoạt động có tác động đồng bộ như thế nào – thí dụ, một người với lấy một cốc (nước) trên bàn như thế nào. Nhưng không ai đặt ra câu hỏi tại sao thực hiện ý định này, nhưng không ý định khác, ngoại trừ những sinh vật đơn giản nhất và những trường hợp đặc biệt của động lực. Phần lớn tương tự cũng đúng ngay cả với tri thức thị giác. Những nhà khoa học thần kinh về nhận thức Nancy Kanwisher và Paul Downing đã phê binh khảo cứu về một vấn đề Hermann von Helmholtz đã nêu lên, năm 1850: “Ngay cả khi mắt chúng ta không chuyển động, chúng ta vẫn có thể tập trung chú ý chúng ta trên những đối tượng khác nhau tùy ý, dẫn đến những kinh nghiệm tri giác rất khác nhau của cùng một trường thị giác”. Cụm từ “tùy ý” chỉ một lĩnh vực nằm ngoài sự tìm hiểu thực nghiệm nghiêm chỉnh, vẫn đã là bí ẩn cho Newton vào cuối đời ông, khi ông tiếp tục tìm kiếm một “tinh thần tinh tế” vốn nằm ẩn dấu trong tất cả những vật thể và điều đó có thể, không có “ sự phi lý”, giải thích cho những thuộc tính của lực hút và lực đẩy của chúng, cùng với bản chất và tác động của ánh sáng, cảm giác và cách” những thành viên của những cơ thể động vật di chuyển theo lệnh của ý chí” – tất cả những bí ẩn so sánh được cho Newton, có lẽ còn vượt xa hiểu biết của chúng ta.[44]

 

Đã trở thành thực hành thông thường trong những năm gần đây để mô tả vấn đề của ý thức như “vấn đề khó”, những vấn đề khác thì nằm trong tầm với của chúng ta, hiện giờ hay trong tương lai. Tôi nghĩ rằng có những lý do cho một số thuyết hoài nghi, đặc biệt khi chúng ta nhìn nhận hiểu biết, ngoài những hệ thống đơn giản nhất của tự nhiên, suy giảm đột ngột và nhanh chóng như thế nào. Để minh họa với một ít thí dụ, một bài phê binh của Eric Kandel và Larry Squire về tình trạng hiện tại của những cố gắng đã nhằm đến “phá vỡ những rào cản khoa học cho nghiên cứu của não bộ và não thức” kết luận rằng “khoa học thần kinh của những tiến trình nhận thức cao hơn thì chỉ mới bắt đầu”. [45] Charles Gallistel chỉ ra rằng chúng ta rõ ràng không hiểu hệ thống thần kinh tính toán thế nào”, hay ngay cả “những nền tảng của khả năng của nó để tính toán”, cho dù với “tập hợp nhỏ gồm những phép tính số học và lôgích vốn là nền tảng cho bất kỳ sự tính toán nào”. Sau khi xem xét và đánh giá lại những khả năng tính toán nổi bật chú ý của loài côn trùng, ông kết luận rằng là sai lầm để giả định rằng hệ thần kinh không thực hiện những phép tính ký hiệu phức tạp, vì “chúng ta không có khả năng, vẫn chưa hiểu hệ thần kinh tính toán thế nào ở mức tế bào và phân tử. …. Chúng ta không biết những tiến trình nào thuộc về tập hợp gồm hướng dẫn chi tiết cơ bản của hệ thần kinh – con số khiêm tốn của những hoạt động sơ đẳng đã sẵn có trong trong phần tạo dựng vật chất của bất kỳ dụng cụ cômputơ nào”. [46] Semir Zeki, người lạc quan về những triển vọng cho việc đưa khoa học thần kinh sang tác động ngay cả trên tinh sáng tạo trong nghệ thuật thị giác, dẫu vậy, nhắc nhở chúng ta rằng “bộ óc kết hợp những phản ứng của những tế bào đặc biệt để chỉ định một đường thẳng liên tục theo chiều dọc như thế nào, là một bí ẩn vốn thần kinh học vẫn chưa giải đáp được”, hay ngay cả một đường thẳng thì được phân biệt với những đường khác hay với thị giác xung quanh như thế nào. Những câu hỏi truyền thống cơ bản đều không có ngay cả trong những chương trình thảo luận khảo cứu, và ngay cả những câu hỏi đơn giản vốn có thể trong tầm với thì vẫn còn nản lòng khó hiểu.[47]

 

Là điều thông thường để khẳng định rằng “tâm lý thần kinh là sinh lý thần kinh ở một mức độ cao hơn”. Để nói cho vui thì ý tưởng có lý, nhưng hiện tại, chỉ như một hướng dẫn để tìm hiểu, với không nhiều tự tin về “sinh lý học thần kinh” sẽ chứng tỏ là về những gì. Tương tự, còn quá sớm để chủ trương rằng “Điều là hiển nhiên thực nghiệm rằng những trạng thái của ý thức đều là hệ quả tất yếu của hoạt động (xảy ra của) tế bào thần kinh”. Hiểu được còn quá ít về hoạt động chức năng của bộ óc.[48]

 

Lịch sử cũng gợi ý thận trọng. Trong khoa học hiện đại buổi đầu, bản chất của chuyển động là “vấn đề khó”. ”Những chuyển động của dao động điều hòa quanh một vị trí cố định hay những huyển động co dãn” là “tảng đá cứng trong Triết học”, Sir William Petty đã nhận xét, sau khi nêu lên những ý tưởng tương tự dó vốn chẳng bao lâu đã được Newton phát triển phong phú hơn nhiều”. “Vấn đề khó” là những khối vật chất có vẻ như ‘yên tĩnh’ với giác quan chúng ta, nhưng lại trong một trạng thái ‘xung động’, với “một cố gắng mạnh mẽ để vội vã bay thoát hay lùi tránh lẫn nhau”, trong những lời của Robert Boyle. Ông cảm thấy vấn đề này cũng mù mờ như “Nguyên nhân và Bản chất” của lực hấp dẫn, do đó ủng hộ tin tưởng của ông vào “một Tác giả thông minh hay người Đặt định của những sự vật việc” [49]. Ngay cả Voltaire, người theo Newton hoài nghi, đã biện luận rằng khả năng con người để “tạo một chuyển động” ở chỗ không có gì để cho thấy rằng “có một gót như vị đã ban chuyển động” cho vật chất, và “cho đến giờ chúng ta vẫn chưa mường tượng hình dung được vật chất là gì”, ngay cả còn không biết nếu có bất kỳ “vật thể cứng đặc (chất rắn) nào trong vũ trụ” hay không. Locke bỏ rơi, đã giao lại cho những bàn tay thần thánh “lực hấp dẫn của vật chất hướng tới vật chất, trong những cách nào đó, tôi không thể nghĩ tưởng nổi”. Kant đã diễn dịch lại “vấn đề khó”, sau khi lập luận rằng để đi đến những kết luận của ông, Newton đã buộc phải khéo léo “giả định rằng mọi vật chất đều thực hành động lực này [của lực hút phổ quát] đơn giản như vật chất và bởi yếu tinh của nó”; bằng việc gạt bỏ sự giả định, ông “tự không nhất quán”, vướng mắc trong một mâu thuẫn. Do đó, như đã tuyên bố, Newton đã không thực sự để “những nhà vật lý hoàn toàn tự do để giải thích tính có thể có của lực hút loại giống như vậy vì họ có thể thấy là tốt, với không trộn lẫn những mệnh đề của ông với trò chơi (đưa ra) những giả thuyết của họ”. Đúng hơn, “khái niệm vật chất được thu giảm thành không-gì, nhưng chỉ những lực chuyển động…. Lực hấp dẫn về yếu tính với mọi vật chất là tác động tức thời của vật chất này lên vật chất khác trong không gian rỗng” , một khái niệm vốn có thể đã từng bị những nhân vật vĩ đại của khoa học thế kỷ XVII ghét cay ghét đắng”, Những bậc thầy loại như thế, như Huygenius Vĩ đại , và vị có một không hai, Newton”, theo lời của Locke. [50]

 

“Những vấn đề khó” của thời đó đã không được giải quyết; đúng hơn chúng đã bị bỏ rơi, vì theo thời gian, khoa học đã chuyển sang hướng sau-Newton khiêm tốn hơn của nó. Friedrich Lange, trong tác phẩm kinh điển của ông về lịch sử thuyết duy vật thế kỷ 19, đã nhận xét rằng chúng ta đã quá tự quen thuộc với ý niệm trừu tượng về lực, hay đúng hơn là một ý niệm lơ lửng trong một sự tối tăm khó hiểu bí ẩn giữa sự trừu tượng và sự hiểu biết hữu hình cụ thể, khiến chúng ta thội không thấy khó khăn gì trong việc làm một hạt vật chất này tác động lên hạt khác với không tiếp xúc trưc tiếp ,… qua khoảng không vốn không có bất kỳ nối kết vật chất nào. Những nhà toán học và vật lý học vĩ đại của thế kỷ XVII đã bỏ đi quá xa từ những ý tưởng loại như vậy. Cho đến nay họ đều là những người theo Thuyết duy vật chân chính theo nghĩa của Thuyết duy vật thời cổ khiến họ họ coi việc tiếp xúc trực tiếp là một điều kiện của tác động.

 

Sự chuyển đổi qua thời gian này là “một trong những bước ngoặt quan trọng nhất trong toàn bộ lịch sử của thuyết Duy Vật”, tước đi nhiều ý nghĩa của học thuyết, nếu có.. Newton đã không chỉ nhập cùng những nhà khoa học lớn trong thời ông khi nhìn “lý thuyết hiện hành phổ biến đương thời về actio in distans (tác động từ xa) … đơn giản như phi lý, [nhưng] cũng đã cảm thấy chính ông có bổn phận, trong năm 1717, trong lời tựa bản in thứ hai quyển Optics của ông, để bày tỏ phản đối [quan điểm] “của những người theo ông, những người đã” đi quá xa về phần tuyên bố lực hấp dẫn để là một lực nền tảng của vật chất”, sau khi không cần “giải thích cơ học nào thêm về sự va chạm dữ dội của những hạt (vật chất) không thể ước định, đánh giá được”. Lange kết luận rằng “giòng chảy lịch sử đã loại bỏ nguyên nhân vật chất không được biết này [vốn đã làm khó khăn Newton], và đã đặt chính luật toán học trong hàng ngũ của những nguyên nhân vật lý”. Thế nên, “những gì Newton đã chủ trương là một phi lý quá lớn khiến không nhà tư tưởng triết học nào có thể giải thích được nó, đã được những người sau coi là rất giá trị như sự khám phá vĩ đại về sự hài hòa của vũ trụ của Newton!” [51] Những kết luận là phổ biến trong lịch sử khoa học. Năm mươi năm trước, Alexandre Koyré đã nhận xét rằng mặc dù có sự ngần ngại khi chấp nhận kết luận, Newton đã cho thấy rõ ràng rằng “một mẫu thức duy vật thuần túy của tự nhiên thì tuyệt đối không thể có (và một vật lý thuần túy duy vật hay cơ học, như của Lucretius hay của Descartes, thì cũng tuyệt đối không thể có)”; Vật lý toán của ông đã đòi hỏi sự “chấp nhận vào trong khối kiến thức khoa học của những “sự kiện” không thể hiểu được và không thể giải thích được, do thuyết duy nghiệm đã áp đặt trên chúng ta”, bởi những gì được quan sát và những kết luận của chúng ta từ những quan sát này.[52]

 

George Coyne mô tả nó như “nghịch lý rằng sự nổi lên của thuyết duy vật như một triết học trong thế kỷ 17 và 18 được gán cho sự ra đời của khoa học hiện đại, khi trong thực tế, vật chất như một khái niệm có khả năng tạo kết quả mong muốn thì đã bị loại bỏ khỏi nói viết bàn luận khoa học” với sự sụp đổ của triết học cơ học.[53] Cũng nghịch lý là ảnh hưởng của việc Gilbert Ryle chế giễu “bóng ma trong cỗ máy”, hoàn toàn khác với sự chính xác của sự diễn dịch những khái niệm Descartes của ông. Đó đã là cỗ máy vốn Newton đã làm phép ‘trừ tà ma’, sau khi để hồn ma vẫn nguyên vẹn”. “Vấn đề khó” của những người duy vật đã biến mất, và đã có rất ít tiến bộ đáng chú ý trong việc giải quyết những “vấn đề khó” khác vốn đã dường như không kém phần bí ẩn với Descartes, Newton, Locke và những nhân vật hàng đầu khác.

 

Bản in thứ ba (tiếng England) của lịch sử triết học duy vật với nhiều mở rộng của Lange xuất hiện năm 1925, có một giới thiệu của Bertrand Russell, không lâu sau khi ông xuất bản Analysis of Matter. Phát triển thuyết nhất nguyên trung lập của ông, Russell tiếp tục đẩy xa hơn thuyết hoài nghi về vật chất của thế kỷ XVII và XVIII, và sự nhìn nhận của tính hợp lý đáng tin cậy (hay cho một vài tính tất yếu) của vật chất suy nghĩ [54]. Russell cho rằng có “ba mức độ xếp hạng tính chắc chắn. Mức độ cao nhất thuộc về những tri giác của riêng tôi; mức độ thứ hai với những tri giác của những người khác; mức độ thứ ba với những biến cố vốn không là những tri giác của bất kỳ ai”, những xây dựng của não thức đã thiết lập trong giòng chảy của cố gắng để làm cho có ý nghĩa về những gì chúng ta tri giác. Do đó, ông kết luận: “Một mảnh của vật chất là một cấu trúc lôgích đã tạo dựng của những biến cố [như vậy]. Chúng ta không biết gì về “tính chất nội tại” của những thực thể được cấu tạo về tinh thần như vậy, vì vậy “không có nền đứng cho quan điểm rằng những tri giác không thể là những biến cố vật chất”. Để khoa học đem lại thông tin có ích, nó không thể bị giới hạn trong kiến thức cấu trúc của những thuộc tính lôgic loại như thế đó. Đúng hơn, “thế giới của vật lý [vốn chúng ta tạo dựng], theo một nghĩa nào đó, phải không gián đoạn với thế giới của những tri giác của chúng ta, vì nó là thế giới nói sau vốn cung ứng bằng chứng cho những định luật của vật lý học”. Arthur Eddington đã biện luận, không lâu trước đó, về những tri giác cần thiết cho việc làm này – có lẽ chỉ là đọc những số đo – “đều không được biết là có bất kỳ tính chất nội tại nào vốn trong đó những biến cố vật lý không thể có, vì chúng ta không biết bất kỳ tính chất nội tại nào không thể hòa giải được với những thuộc tính lôgích vốn vật lý học gán cho những biến cố vật chất”. Theo đó, “những gì gọi là những biến cố ‘tinh thần’ ... là phần của vật chất của thế giới vật chất”. Vật lý học tự nó chỉ tìm khám phá “khung cấu trúc (bộ xương) nhân quả của thế giới, [trong khi việc nghiên cứu] những tri giác chỉ trong phương diện tri thức của chúng; những phương diện khác của chúng nằm ngoài lĩnh vực của nó” – dù chúng ta nhìn nhận sự hiện hữu của chúng, trong thực tế, ở mức cao nhất của chắc chắn.[55]

 

Câu hỏi thách đố khó hiểu và cơ bản nhắc lại một đối thoại cổ điển giữa trí tuệ và giác quan, trong đó trí tuệ nói rằng màu sắc, vị ngọt và những tương tự đều chỉ là quy ước trong khi trong thực tại chỉ có những atom và khoảng không, và những giác quan đã trả lời: “Não thức khốn khổ, có phải bạn đang lấy bằng chứng từ chúng tôi, qua chúng sẽ bạn lật đổ chúng tôi? Chiến thắng của bạn là sự sụp đổ của riêng bạn”. [56]

 

Để minh họa kết luận của ông, Russell bảo chúng ta nghĩ về trường hợp của một nhà vật lý mù, người hiểu biết toàn bộ vật lý học nhưng không có “hiểu biết vốn những người [có mắt nhìn] có”, thí dụ, về phẩm tính của màu xanh dương. Trong phê duyệt những vấn đề liên quan, Daniel Stoljar và Yujin Nagasawa gọi đây là “kiến thức trực giác”, như khác biệt với “lập luận kiến thức”, Frank Jackson đã trình bày thí dụ lấy lại từ Russell: trong trường hợp này, nhà vật lý (Mary) “học hiểu mọi sự vật việc có đó để biết về bản chất vật chất của thế giới”, đương khi bị giam hãm trong một căn phòng trắng-đen, nhưng khi được thả ra “sẽ học hiểu được những gì giống như trông thấy một gì màu đỏ thì giống như thế nào”. [57]

 

Có một số lượng sách và bài viết đáng kể tìm kiếm để trốn tránh biện luận. Một nêu lên phổ thông dù đã bàn cãi là những gì Mary thiếu thì không là kiến thức của thế giới vốn chúng ta có, nhưng một phạm vi của những khả năng, một loại của “biết làm”. Điều đó xem dường vô ích, phần vì có một yếu tố nhận thức không thu giảm được trong “biết làm”, vốn vượt quá những khả năng; nhưng cũng vì những loại lý do vốn Hume đã bàn luận trong kết nối với những phán đoán đạo đức. Ông đã nhận xét, vì những loại lý do này đều không bị giới hạn trong phạm vi và áp dụng được cho những tình cảnh mới, chúng phải được dựa trên một loạt hữu hạn của những nguyên tắc tổng quát (hơn nữa, vốn chúng là phần của bản chất chúng ta, dù chúng nằm ngoài “những bản năng nguyên thủy” chúng ta có chung với những loài vật) . Kiến thức vốn chúng ta có nhưng Mary thiếu là một khối kiến thức không rơi vào bên trong sự phân đôi giữa biết-làm/ biết-gì đó: nó là kiến thức của – kiến thức của những quy luật và những nguyên tắc vốn mang lại những khả năng không giới hạn để hành động thích hợp. Tất cả điều này nhiều phần là vô thức và ý thức không tiếp cận được, như trong trường hợp của kiến thức của những quy luật của ngôn ngữ, thị giác, và những tương tự. Tôi nghĩ rằng những kết luận như vậy đã bị Willard Van Orman Quine, John Searle và nhiều người khác bác bỏ như một vấn đề nguyên tắc, nhưng không thuyết phục hay ngay cả không nhất quán.[58]

 

Kiến thức trực giác của Russell đưa ông đến kết luận rằng vật lý học có những giới hạn: kinh nghiệm trong tổng quát nằm “ngoài tầm nhìn của nó”, ngoài ra những phương diện nhận thức vốn cung cấp bằng chứng thực nghiệm, dù cùng với những biến cố tâm lý khác, kinh nghiệm là “phần của vật chất của thế giới vật lý”, một câu nói vốn có vẻ có nghĩa không gì khác hơn “phần của thế giới”. Chúng ta phải có “một diễn giải của vật lý học vốn đem cho một vị trí đúng cho những tri giác”, Russell đã chủ trương, hoặc nó không có cơ bản duy nghiệm. Lập luận kiến thức của Jackson đưa ông đến kết luận rằng “thuyết vật chất thì sai” [59]. Hay trong một bản in sau này, rằng để là hợp lệ “thuyết duy vật [như] một thuyết siêu hình” phải kết hợp “câu chuyện tâm lý về thế giới của chúng ta”; “câu chuyện về thế giới của chúng ta được kể thuần túy trong những từ ngữ vật chất [phải] đem khả năng cho người ta để suy luận bản chất hiện tượng của những trạng thái tâm lý”. [60] Nhưng sự việc đó thì không là thông tin có ích đến khi một số khái niệm rõ ràng của thuyết vật chất / thuyết duy vật được đem cho. Những diễn giải cổ điển khi đã biến mất, những khái niệm của khối vật chất , vật chất, thể chất đều hầu như không khác gì hơn những chỉ định danh dự cho những gì thì ít nhiều đã hiểu ở một khoảnh khắc cụ thể nào đó trong thời gian, với những ranh giới mềm dẻo và không đảm bảo rằng sẽ không có duyệt xét lại triệt để nào ở phía trước, ngay cả trong lõi của nó. Nếu thế, lập luận kiến thức chỉ cho thấy (với Russell) rằng vật lý học do con người xây dựng có những giới hạn, hay Mary đã không biết tất cả vật lý học (bà đã không rút ra những kết luận đúng từ việc đọc những số đo của Eddington).

 

Để làm sống lại một gì vốn giống như một “vấn đề cơ thể-não thức”, điều là cần thiết để mô tả tính chất đặc biệt của thuyết vật chất (vật chất, v.v.) trong một vài thời thức sau-Newton, hay để biện luận rằng vấn đề nổi lên ngay cả nếu những khái niệm đều bị bỏ rơi. Cả hai giải quyết đã được từng theo đuổi. Tôi sẽ trở lại những thí dụ hiện tại. Một giải quyết cận khác là gạt bỏ vấn đề cơ thể-não thức và để giải quyết luận chứng kiến thức trực giác như một vấn đề của khoa học tự nhiên. Thuật lại thí nghiệm tưởng tượng của Russell, chúng ta có thể nói rằng, giống như tất cả loài động vật, chúng ta có những khả năng nội tại vốn tự phản đem cho chúng ta với những gì những những nhà động vật học nghiên cứu hành vi động vật trong môi trường sống tự nhiên của chúng gọi là Umwelt, một thế giới của kinh nghiệm, khác biệt với chúng ta và với loài ong – trong thực tế, khác biệt giữa con người, tùy thuộc trên những gì họ hiểu biết. Đó là lý do quang tuyến học là một ngành y khoa chuyên môn. Galileo đã nhìn thấy những vệ tinh của Jupiter qua kính viễn vọng sơ khai của ông, nhưng những người ông tìm cách thuyết phục chỉ có thể nhìn thấy sự phóng đại của những vật thể trên mặt đất và đã coi kính thiên văn của ông như một trò ảo thuật (ít nhất nếu sự dựng lại của lịch sử của Paul Feyerabend là đúng). Những gì tôi nghe như tiếng ồn được những đứa cháu tuổi teen của tôi cảm nhận như âm nhạc, ở một mức độ khá sơ khai của kinh nghiệm nhận thức. Và khá tổng quát như vậy.

 

Với tính cách là những sinh vật biết tự suy nghĩ, không giống những sinh vật khác, chúng ta tiếp tục tìm kiếm để có được một hiểu biết sâu xa hơn về những hiện tượng của kinh nghiệm. Những thực hành này đã gọi là huyền thoại, hay pháp thuật, hay triết học, hay khoa học. Chúng vén mở lên không chỉ cho thấy rằng thế giới của kinh nghiệm thì tự nó phức tạp và biến đổi đến cao độ, kết quả từ sự tác động lẫn nhau của nhiều yếu tố, nhưng còn rằng những phương thức của diễn giải vốn cảm thức trực giác thông thường đem cho không đứng vững trước phân tích, do đó những mục tiêu của khoa học phải thấp hơn theo cách thức đã nhìn nhận trong khoa học thời sau-Newton. Từ điểm nhìn này, không có khoa học khách quan từ một viễn cảnh của nhân vật ngôi thứ ba, nhưng chỉ từ những viễn cảnh của nhân vật ngôi thứ nhất khác nhau, phù hợp đủ chặt chẽ giữa những con người, như thế khiến có thể đạt được thỏa thuận trong một phạm vi rộng lớn với cần mẫn và hợp tác tìm hiểu. Là những sinh vật muốn tìm biết cũng như tự biết suy nghi, nếu chúng ta có thể xây dựng một trình độ của hiểu biết lý thuyết trong một số lĩnh vực, chúng ta cố gắng thống nhất nó với những nhánh khác của tìm hiểu, sự thu giảm là một có thể có nhưng không là một duy nhất.

 

Chúng ta có thể đoán trước rằng sự truy cầu của chúng ta có thể thất bại, vì một lý do, vì những khả năng có chung của chúng ta về cơ bản của hiểu biết và giải thích có những giới hạn – một phát biểu đúng thực hiển nhiên nhưng đôi khi bị chế nhạo một cách thiếu suy nghĩ như “thuyết bí ẩn”, dù không bởi Descartes và Hume, trong số những điều khác. Có thể là những khả năng lực nhận thức bẩm sinh này không dẫn chúng ta vượt quá một số hiểu biết về khung cấu trúc nhân quả về thế giới của Russell (và đủ về nhận thức để kết hợp bằng chứng bên trong khung cấu trúc tinh thần này), và đó là một câu hỏi còn chờ giải đáp, rằng có thể đạt được nhiều đến đâu trong số đó. Trong nguyên tắc, những giới hạn có thể trở thành những đề tài của điều tra thực nghiệm vào trong bản chất của những gì vốn chúng ta có thể gọi là “khả năng hình thành-khoa học”, một “cơ quan tinh thần” khác. Đây là những đề tài đáng chú ý, nhưng những vấn đề đều khác biệt với vấn đề cơ thể-não thức truyền thống, vốn đã ‘tan biến’ sau Newton, hay từ câu hỏi của những phương diện tinh thần của thế giới, gồm kinh nghiệm trực tiếp, liên quan thế nào đến não, một trong nhiều vấn đề của sự thống nhất vốn nảy sinh trong những ngành khoa học.

 

Vắn tắt, nếu chúng ta là những cấu trúc sinh vật, không là những thiên thần, phần lớn những gì chúng ta tìm để hiểu có thể nằm ngoài những giới hạn nhận thức của chúng ta – có thể một hiểu biết thực về bất cứ gì, như Galileo đã kết luận, và Newton trong một ý hướng nào đó đã chứng minh. Rằng nhận thức đạt đến có những giới hạn thì không chỉ là một phát biểu đúng thực hiển nhiên nhưng cũng là một may mắn: nếu không có những giới hạn với óc thông minh của con người, nó sẽ thiếu cấu trúc bên trong và do đó sẽ không có phạm vi: chúng ta không thể đạt được gì qua việc tìm hiểu. Những điểm cơ bản đã được Charles Sanders Peirce diễn tả rõ ràng trong thảo luận của ông về sự cần thiết cho sự thiên phú bẩm sinh vốn “đặt một giới hạn trên những giả thuyết có thể chấp nhận được” nếu kiến thức thì để được thu nhận. [61] Tương tự như vậy nếu một hợp tử (zygote) không có thêm hướng dẫn di truyền nào nữa để giới hạn đường phát triển của nó, hay nhất là nó sẽ lớn dậy thành một sinh vật được hình thành chỉ bởi luật vật lý, giống như một bông tuyết, không có sự sống.

 

Chúng ta có thể nghĩ về khoa học tự nhiên như một loại của hội tụ ngẫu nhiên giữa những khả năng nhận thức của chúng ta và những gì đúng thực ít nhiều của thế giới tự nhiên. Không có lý do để tin rằng con người có thể giải quyết mọi vấn đề vốn họ đặt ra hay ngay cả rằng họ có thể thành hình những câu hỏi đúng; chúng có thể đơn giản là thiếu những dụng cụ khái niệm, giống như loài chuột không thể đối phó được với một mê cung hoàn toàn xác định bởi sự phân bố của những số nguyên tố.

 

Những kết luận tổng quát của Russell, với tôi, dường như đi đúng hướng. Tôi nghĩ rằng công thức có thể được cải thiện đơn giản bằng bỏ những từ “vật chất” và “vật lý”. Kể từ cách mạng Newton, chúng ta nói về thế giới “vật chất” cũng nhiều như chúng ta nói về sự đúng thực “thực”: để nhấn mạnh, nhưng không thêm gì vào. Chúng ta có thể phân biệt những phương diện khác nhau của thế giới – thí dụ hóa học, điện học, kinh nghiệm và phần còn lại – và sau đó chúng ta có thể tìm hiểu những nguyên lý cơ bản của chúng và những quan hệ của chúng với những hệ thống khác, những vấn đề của sự thống nhất.

 

 

 

Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ nhất

(Sep/2022)

(Còn tiếp ... )

 

http://chuyendaudau.blogspot.com/

http://chuyendaudau.wordpress.com

 



[1] mechanical philosophy: từ cổ – ‘triết học cơ học’, thời Newton, khoa học vẫn thường được coi như một ‘triết học’ của thế giới tự nhiên. Triết học cơ học nói trên nay là khoa học về cơ học, hay Cơ Học, hay cơ học Newton (phân biệt với cơ học quantum). tôi giữ ‘triết học cơ học’ như dịch theo nguyên bản, để giữ ý của Chomsky. khi ông nói về cơ học như một tư tưởng triết học trong thời Newton, thế kỷ 18.

[2] [David Hume, The History of England (1756), 6: chương 71; John Locke, An Essay Concerning Human Understanding (1689), quyển 4, chương 3. Dĩ nhiên, lý do của Locke không phải của Hume nhưng dựa trên những ranh giới của “những ý tưởng đơn giản chúng ta nhận được từ cảm giác và ngẫm nghĩ”, vốn ngăn cản chúng ta với sự hiểu biết bản chất của cơ thể hay não thức (tinh thần).]

David Hume, Lịch sử nước Anh (1756), 6: chương 71; John Locke, Một bài luận về sự hiểu biết của con người (1689),

[3] Triết học cơ học là một khái niệm lý thuyết theo đó những hiện tượng tự nhiên nên được giải thích bằng việc viện dẫn cấu trúc của những vật thể được tạo thành từ những khối vật chất (vật thể) mở rộng trong chuyển động. Vào đầu thế kỷ XVII, những nhà triết học tự nhiên như Beeckman, Descartes, Hobbes, Gassendi đã cổ vũ cho một giải thích những hiện tượng tự nhiên dựa trên hình dạng, kích thước và chuyển động của những phần mở rộng của những cơ thể (vật chất), do đó đổi mới triết học tự nhiên. Nói cách khác, triết học cơ học kêu gọi đến những gì gọi là những phẩm tính chính của những vật thể, tức là kích thước, hình dạng và chuyển động, những phẩm chất phụ (như màu sắc, tính lưu động, v.v.) được giảm xuống thành những tác động cảm nhận được, do những phẩm chất chính đó tạo ra. (thường nhất ở mức độ nhìn thấy được)

[4] [Renée Baillargeon, “Innate Ideas Revisited: For a Principle of Persistence in Infants’ Physical Reasoning,” Perspectives on Psychological Science 3 (2008): 2–13.]

[5] intuitive physics: Vật lý trực giác tìm hiểu xem người không có một kiến thức từ trường học về vật lý hiểu bằng trực giác những hiện tượng vật lý như thế nào

[6] bodies: trong Newton = khối vật chất đặc đã dịch quen là vật thể ('body' là một tập hợp gồm những hạt (particle). Do đó, những định luật của Newton có thể áp dụng cho những hạt riêng lẻ trong một vật thể rắn, sau đó tổng hợp trên một vật thể (khối vật chất rắn) để xem chúng liên quan như thế nào đến sự chuyển động của những vật thể.)

[7] automata: máy tự động, những sự vật tự chuyển động. Triết lý cơ học của Descartes đã đưa ra ý tưởng về phản xạ để giải thích hành vi của những loài vật. Quan niệm của ông về động vật coi chúng như những cỗ máy thuần vật chất điều khiển bằng phản xạ, không có khả năng trí tuệ,. Chúng được xem như những automata/cỗ máy tự động. Ý tưởng rằng hành vi của động vật hoàn toàn là phản xạ, quan điểm rằng loài vật chỉ là những cỗ máy thuần vật chất, không có lý trí và tinh thần (linh hồn), biện luận cho tin tưởng rằng chúng không biết đau khổ hay cảm xúc (như con người), nên chúng không là những đối tượng đạo đức.

Descartes tuyên bố đã giải thích những hiện tượng của thế giới vật chất trong những những thuật ngữ của triết học cơ học, đồng thời chứng minh rằng chúng không bao gồm tất cả, không chạm tới lĩnh vực của não thức. Do đó, quan điểm của ông đã đưa ra một nguyên lý mới để giải thích cho những gì nằm ngoài tầm với của triết học cơ học, và nó hoàn toàn phù hợp với phương pháp khoa học thông thường, nhưng không phải khoa học Descartes đang làm việc trong khuôn khổ triết học của thực thể, vì vậy nguyên lý mới là tinh thần (não thức), là thực thể thứ hai. Sau đó, có một vấn đề khoa học ông và những người khác đối diện để phải xác định đặc tính của tinh thần và xác định cách thức tinh thần tác động hỗ tương với vật chất (cơ thể). Đó là vấn đề về cơ thể-não thức (Tinhh thần/Vật chất trong thuyết Nhị Nguyên, triết học Descartes)

[8] từ truyền thống giáo dục giảng dạy trong những tu viện Kitô (Scholasticism), vẫn gọi là ‘triết hoc’ kinh viện, nhưng đúng hơn, là một tập hợp những tư tưởng (phần lớn từ triết học Aristotles) nhiều phần gót học hơn triết học.

[9] [I. Bernard Cohen, Revolution in Science (Cambridge, Mass.: Harvard University Press, 1985), 155.]

[10] alchemy: thuật luyện giả kim: một thứ tiền-khoa học về hóa học thời trung cổ và lý thuyết suy đoán có mục đích là biến đổi kim loại cơ bản (chì, đồng) thành vàng bạc, khám phá ra một phương pháp chữa bệnh vạn năng và khám phá một phương pháp kéo dài tuổi thọ.

[11] [Ernan McMullin, Newton on Matter and Activity (Notre Dame, Ind.: Notre Dame University Press, 1978), 52ff. McMullin kết luận rằng vì Newton đã giao động trong cách dùng những từ ngữ “mechanical,” “spirit,” và những từ khác, là “lầm lạc … để coi Newton là một người khai triển của ‘triết học cơ học’”(73). ]

[12] [Locke, Essay Concerning Human Understanding; và thư tín trao đổi với Edward Stillingfleet, đã dẫn trong Ben Lazare Mijuskovic, The Achilles of Rationalist Arguments (The Hague:Nijhoff, 1974), 73. Về sự tiến triển của “đề nghị của Locke” trong suốt thế kỷ XVIII, lên cao nhất trong tác phẩm của Joseph Priestley (sẽ thảo luận sau) , xem John Yolton, Thinking Matter:Materialism in Eighteenth-Century Britain (Minneapolis:University of Minnesota Press, 1983).]

[13] [Pierre-Jean-George Cabanis, On the Relations Between the Physical and Moral Aspects of Man, vol. 1 (1802; Baltimore: Johns Hopkins University Press, 1981).]

[15] [Isaac Newton, Principia, General Scholium (1713).]

[16] [E. J. Dijksterhuis, The Mechanization of the World Picture: Pythagoras to Newton, bản dich. C. Dikshoorn (Oxford: Clarendon Press, 1961; in lại., Princeton, N.J.: Princeton University Press, 1986), 479–80.]

[17] [Ibid., 488; Isaac Newton to Richard Bentley, 1693, trong Newton: Philosophical Writings, ed. Andrew Janiak (Cambridge: Cambridge University Press, 2004), 102–3.]

[18] [Để có phân tích chi tiết hơn, xem McMullin, Newton on Matter and Activity, chương 3.]

[19] The Mind/Brain Identity Theory: Thuyết đồng nhất não thức/não bộ chủ trương rằng những trạng thái và những tiến trình của não thức đều giống hệt với những trạng thái và tiến trình của bộ não. Nói cho chính xác, không nhất thiết phải chủ trương rằng não thức thì là một/đồng nhất với bộ não. Thông thường , chúng ta dùng hoán đổi ‘Cô ấy có một não thức tốt’ và ‘Cô ấy có một bộ óc tốt’ nhưng chúng ta sẽ không nói rằng ‘ não thức của cô ấy nặng khoảng 1,3 kg’. Việc xác định não thức và não bộ là vấn đề xác định những tiến trình và có lẽ là những trạng thái của não thức và não bộ. Hãy xem xét một kinh nghiệm đau đớn, hay nhìn thấy một gì đó, hay có một hình ảnh tâm lý. Thuyết đồng nhất não thức/não bộ có tác dụng rằng những kinh nghiệm này chỉ là những tiến trình của bộ óc, không chỉ là có tương quan song hanh với những tiến trình của bộ óc. (Smart, J. J. C., "The Mind/Brain Identity Theory", The Stanford Encyclopedia of Philosophy (Winter 2022 Edition)

[20] [Thomas Nagel, “Searle: Why We Are Not Computers,” trong Other Minds: Critical Essays, 1969–1994 (New York: Oxford University Press, 1995), 106.]

[21] naturalism

[22] [Để biết những quan điểm khác nhau về “khoảng cách lý giải”, Galen Strawson et al., Consciousness and Its Place in Nature: Does Physicalism Entail Panpsychism? ed. Anthony Freeman (Charlottesville, Va.: Imprint Academic, 2006).]

[23] mechanical-corpuscular

[24] [Thomas Kuhn, The Copernican Revolution: Planetary Astronomy in the Development of Western Thought (New York: Random House, 1957), 259; Heinrich Hertz, được trích dẫn trong McMullin, Newton on Matter and Activity, 124.]

[25] hypotheses non fingo: “Cho đến nay, chúng ta đã giải thích những hiện tượng của bầu trời và biển (thủy triều) của chúng ta bằng sức mạnh của lực hấp dẫn, nhưng vẫn chưa xác định được nguyên nhân của sức mạnh này… Tôi đã có khả năng để khám phá được nguyên nhân của những thuộc tính của lực hấp dẫn đó từ những hiện tượng, và tôi không lập những giả thuyết [hypotheses non fingo]; vì bất cứ gì không được suy ra từ hiện tượng đều được gọi là giả thuyết; và những giả thuyết, dù là siêu hình hay vật lý, dù có tính chất huyền bí hay máy móc, đều không có chỗ trong triết học thực nghiệm….” (Philosophiae Naturalis Principia Mathematica, 1687)

[26] [Dijksterhuis, Mechanization of the World Picture, 489.]

[27] constructive skepticism

[28] mitigated skepticism

[29] [Richard H. Popkin, The History of Scepticism from Erasmus to Spinoza (Berkeley: University of California Press, 1979), 139–40, 213.]

[30] [Bertrand Russell, Analysis of Matter (New York: Harcourt, Brace, 1927; repr., New York: Dover, 1954), 18–19, 162.]

[31] [Paul Dirac, Principles of Quantum Mechanics (Oxford: Clarendon Press, 1930), 10. Tôi cảm ơn John Frampton về dẫn nhắc này.]

[32] device

[33] [Peter Machamer, “Introduction” và “Galileo’s Machines, His Mathematics, and His Experiments,” trong The Cambridge Companion to Galileo, ed. Peter Machamer (Cambridge: Cambridge University Press, 1998), 17, 69.]

[34] mechanism

[35] [Trích dẫn trong Pietro Redondi, “From Galileo to Augustine,” trong sđd., 175–210.]

[36] [Daniel Stoljar, Ignorance and Imagination: The Epistemic Origin of the Problem of Consciousness (Oxford: Oxford University Press, 2006). Nhớ rằng Newton đã hy vọng có thể sẽ có một giải thích khoa học (cơ học) cho vấn đề vật chất và chuyển động

[37] res cogitans: “sự vật việc suy nghĩ (Latin) René Descartes dùng để chỉ lĩnh vực tinh thần, phân biệt với lĩnh vưc vật chất (res extensa/ sự vật việc mở rộng). Tuy nhiên, theo cách dùng của Descartes, rõ ràng là res extensa và res cogitans đều là thực thể (res). Cốt yếu là Descartes cho rằng chúng có thể tồn tại độc lập với nhau. Res – thực thể là những gì không có quan hệ phụ thuộc với bất kỳ gì khác. Do đó ở đây, trực tiếp chúng ta có thuyết nhị nguyên tinh thần / vật chất ; theo nghĩa là chúng hoàn toàn phân biệt và không có tác động qua lại.

[38] [Về những đề tài này, xem Noam Chomsky, Cartesian Linguistics: A Chapter in the History of Rationalist Thought, xuất bản lần thứ 3, có phần giới thiệu, James McGilvray (Cambridge: Nhà xuất bản Đại học Cambridge, 2009); và Chomsky, Language and Mind (New York: Harcourt, Brace & World, 1968), chương. 1. Lưu ý rằng những quan tâm vượt quá tính bất định của hành động tự do, như đặc biệt rõ ràng trong những chương trình thực nghiệm của Géraud de Cordemoy và những người khác về “những não thức khác” (xem Cartesian Linguistics)].

[39] [René Descartes viết cho Queen Christina of Sweden, 1647, trong Principia Philosophiæ, vol. 8 of Oeuvres de Descartes, ed. Charles Adam and Paul Tannery (Paris: Cerf, 1905). Về thảo luận, xem Tad Schmaltz, Malebranche’s Theory of the Soul: A Cartesian Interpretation (New York: Oxford University Press, 1996), 204ff.]

[40] Vấn đề những những não thức khác là câu hỏi làm thế nào chúng ta có thể chắc chắn rằng những người khác cũng có đời sống tinh thần như chúng ta, khi chúng ta chỉ có thể suy luận từ hành vi thấy bên ngoài và lời chứng của những người khác rằng đây là trường hợp xảy ra.

[41] [Noam Chomsky, “Turing on the ‘Imitation Game,’” trong The Turing Test: Verbal Behavior as the Hallmark of Intelligence, ed. Stuart Schieber (Cambridge, Mass.: MIT Press, 2004),317–21]

[42] [Desmond Clarke, Descartes’s Theory of Mind (Oxford: Clarendon Press, 2003), 12. Cũng xem Rene Descartes to Marin Mersenne, 1641, về mục đích của Meditations, trích dẫn trong Margaret Wilson, Descartes (Boston: Routledge and Kegan Paul,1978), 2.]

[43] [Clarke, Descartes’s Theory of Mind, 258]

[44] [Nancy Kanwisher and Paul Downing, “Separating the Wheat from the Chaff ,” Science, October 2, 1998, 57–58; Newton, General Scholium.]

[45] [Eric R. Kandel and Larry R. Squire, “Neuroscience,” Science, November 10, 2000, 1113–20.]

[46] [Charles R. Gallistel, “Neurons and Memory,” in Conversations in the Cognitive Neurosciences, ed. Michael S. Gazzaniga (Cambridge, Mass.: MIT Press, 1997), 71–89; Gallistel, “Symbolic Processes in the Insect Brain,” in An Invitation to Cognitive Science, vol. 4, Methods, Models, and Conceptual Issues, ed. Don Scarborough and Saul Sternberg, 2nd ed. (Cambridge, Mass.: MIT Press, 1998), 1–51.]

[47] [Semir Zeki, “Art and the Brain,” Daedalus 127, no. 2 (1998): 71–104]

[48] [Nagel, “Searle,” 106. Cho một vài ghi chú thận trọng về “sự phân tách biệt lô gích sắc bén giữa hệ thần kinh và phần còn lại của sinh vật”, xem Charles Rockland, “The Nematode as a Model Complex System” (working paper [LIDS-WP-1865], Laboratory for Information and Decisions Systems, MIT, April 14, 1989), 30.]

[49] ‘an intelligent Author or Disposer of Things’

[50] [John Henry, “Occult Qualities and the Experimental Philosophy: Active Principles in Pre-Newtonian Matter Theory,” History of Science 24 (1986): 335–81; Alan Kors, “The Atheism of D’Holbach and Naigeon,” in Atheism from the Reformation to the Enlightenment, ed. Michael Hunger and David Wootton (Oxford: Clarendon Press, 1992), 273–300; Locke, Essay Concerning Human Understanding; Yolton, Thinking Matter, 199. Về Voltaire và Kant, xem McMullin, Newton on Matter and Activity, 113, 122–23 (from Kant, Metaphysical Foundations of Natural Science [1786]); Michael Friedman, “Kant and Newton: Why Gravity Is Essential to Matter,” in Philosophical Perspectives on Newtonian Science, ed. Phillip Bricker and R. I. G. Hughes (Cambridge, Mass.: MIT Press, 1990), 185–202; và Howard Stein, “On Locke, ‘the Great Huygenius, and the Incomparable Mr. Newton,’” trong sđd., 17–48. Friedman lập luận rằng không có mâu thuẫn giữa Newton và Kant vì chúng không có nghĩa giống nhau khi nói “bản chất”, Kant sau khi đã loại bỏ siêu hình học của Newton và đưa ra quan điểm tri thức học trong “cách mạng Copernicus trong siêu hình học.]

[51] [Friedrich Lange, Geschichte des Materialismus und Kritik seiner Bedeutung in der Gegenwart (1865), 3rd expanded ed. translated as The History of Materialism and Criticism of Its Present Importance (London: Kegan Paul, Trench, Trubner, 1925).] Xem bản tạm dịch của tôi (phần đầu) trên blog này: Lange – Lịch Sử Triết Học Duy Vật

https://chuyendaudau.blogspot.com/2019/02/lange-lich-su-triet-hoc-duy-vat-01.html

[52] [Alexandre Koyré, From the Closed World to the Infinite Universe (Baltimore: Johns Hopkins University Press, 1958), 210.]

[53] [George V. Coyne, “The Scientific Venture and Materialism: False Premises,” in Space or Spaces as Paradigms of Mental Categories (Milan: Fondazione Carlo Erba, 2000), 7–19.]

[54] thinking matter: câu hỏi - vật chất có thể suy nghĩ được không? Đây là phần tổng quát hơn của tranh luận, rằng liệu hồn người (tinh thần/tâm lý) có phải là vật chất hay không; và liệu vật chất có thể suy nghĩ hay không. Thuyết duy vật có đã từ lâu (Democritus), nhưng vào thế kỷ XVII, có những luận thuyết mới về bản chất của tinh thần, và đặc biệt, về bản chất của tinh thần/tâm lý của động vật. Điều này một phần đến từ sự tách biệt khô cứng giữa tinh thần và vật chất, trong triết học Descartes và từ phản ứng với quan điểm này, và một phần từ sự phát triển của thuyết Epicurus, thế kỷ 17 ở France. Chẳng hạn trong Gassendi, khẳng định rằng có một hồn vật chất trong động vật và một hồn phi vật chất trong con người, nhưng về sau, trong những bản viết dấu tên đã bỏ qua những gì gọi là hồn người/tâm lý/tinh thần, và tuyên bố rằng hồn người chỉ là vật chất.

[55] [Russell, Analysis of Matter, chương 37. Russell Russell đã không tìm ra những khái niệm trong phương diện nhận thức của chúng được đồng hóa vào “khung cấu trúc nhân quả của thế giới” như thế nào, khiến ông mở ngỏ cho một phản biện của nhà toán học Max Newman (Russell to Newman, April 24, 1928, in The Autobiography of Bertrand Russell, vol. 2, 1914–1944 [Boston: Little Brown, 1967]).

[56] [Democritus, trích dẫn trong Erwin Schrödinger, Nature and the Greeks (Cambridge: Cambridge University Press, 1954), 89. Tôi cám ơn Jean Bricmont về trích dẫn này.]

Democritus, đã được gọi là ‘người xuất sắc nhất trong những triết gia’. Ông khai triển thuyết atom (atomism) của người thày học là Leucippus (5th c. BCE), thuyết triết học duy vật nguyên thủy, cho rằng thế giới vật chất tạo dựng từ những atom – Thí dụ, những gì chúng ta thấy; con mèo và con chó, con chó và hoa hồng, chúng chỉ là những cách khác nhau của xếp đặt cùng một vật chất cơ bản, những atom, trong không gian. Thuyết triết học này đặc biệt giống với những thuyết khoa học ngày nay về atom (xuất hiện trở lại vào khoảng những năm 1800). Democritus tin rằng não thức của chúng ta được cung cấp những ý tưởng dựa trên kinh nghiệm của chúng ta về những sự vật việc chúng ta thấy, sờ, ngửi, nếm và nghe – bới kinh nghiệm giác quan của chúng ta về thế giới vật chất. Trong bài viết của ông, ông cho những giác quan quan trọng hơn não thức. Khi tư tưởng khoa học hiện đại đã bắt đầu phát triển 400 năm trước, công trình của những nhà khoa học như Galileo và Newton đều đã lấy khởi hứng từ những ý tưởng của Democritus. Bertrand Russell, một người ngưỡng mộ Democritus, đã nói về ông trong Philosophy and Politics (1947):“[ông] chủ yếu nổi tiếng như người sáng lập thuyết atom…Tuy nhiên, thuyết atom của ông chỉ là một phần trong triết học tổng quát của ông. Ông là một người theo thuyết duy vật, một người theo thuyết tất định, một nhà tư tưởng tự do (không tôn giáo, một người theo thuyết thực dụng, không thích những đam mê mạnh mẽ, một người tin vào thuyết tiến hóa, cả thiên văn học và sinh học. Giống như những người có cùng quan điểm vào thế kỷ 18, Democritus là một nhà dân chủ nồng nhiệt…”

[57] [Daniel Stoljar và Yujin Nagasawa, “Introduction,” trong There’s Something About Mary: Essays on Phenomenal Consciousness and Frank Jackson’s Knowledge Argument, ed. Peter Ludlow, Yujin Nagasawa, and Daniel Stoljar (Cambridge, Mass.: MIT Press, 2004), 1–36.]

[58] [Về Hume, xem John Mikhail, “Rawls’ Linguistic Analogy: A Study of the ‘Generative Grammar’ Model of Moral Theory Described của John Rawls trong A Theory of Justice” (Ph.D. diss., Cornell University, 2000); Mikhail, Elements of Moral Cognition: Rawls’ Linguistic Analogy and the Cognitive Science of Moral and Legal Judgment (Cambridge: Cambridge University Press, 2011); và Mikhail, “Universal Moral Grammar: Theory, Evidence, and the Future,” Trends in Cognitive Sciences 11, no. 4 (2007): 143–52. Về sự không liên quan (và khi nó được hình thành, ngay cả không nhất quán) của học thuyết “khả năng tiếp cận với ý thức”, xem Noam Chomsky, Reflections on Language (New York: Pantheon, 1975); Chomsky, Rules and Representations (New York: Columbia University Press, 1980); và Chomsky, New Horizons in the Study of Language and Mind (Cambridge: Cambridge University Press, 2000). ). Về những quy luật của nhận thức thị giác, ý thức không thể tiếp cận được trong những trường hợp đáng chú ý, hãy xem On the rules of visual perception, inaccessible to consciousness in the interesting cases, see Donald D. Hoffman, Visual Intelligence: How We Create What We See (New York: Norton, 1998).]

[59] physicalism: thuyết vật chất, là luận điểm cho rằng mọi sự vật việc đều là vật chất. Luận điểm thường được coi là một luận điểm siêu hình, song song với luận điểm được cho là của Thales, rằng mọi sự vật việc đều là nước, hoặc thuyết duy ý của Berkeley, rằng mọi sự vật việc đều là tinh thần. Ý tưởng tổng quát là bản chất của thế giới thực (tức là vũ trụ và mọi sự vật việc trong đó) tuân theo một điều kiện nhất định, điều kiện của ‘hữu thể vật chất’. Tất nhiên, những nhà vật lý học không phủ nhận rằng thế giới có thể chứa nhiều vật phẩm thoạt nhìn có vẻ không phải là vật chất — những vật phẩm có bản chất sinh học, tâm lý học, đạo đức học, xã hội học hay toán học. Tuy nhiên, họ vẫn nhấn mạnh rằng xét cho cùng thì những vật phẩm đó là vật chất, hay ít nhất là mang một quan hệ quan trọng với vật chất. (theo Stanford Encyclopedia of Philosophy)

[60] [Frank Jackson, “What Mary Didn’t Know” and “Postscript,” in There’s Something About Mary, ed. Ludlow, Nagasawa, and Stoljar, xv–xix, 410–42.]

[61] [Charles S. Peirce, “The Logic of Abduction,” in Essays in the Philosophy of Science, ed. V. Tomas (New York: Liberal Arts Press, 1957). Cho sự thảo luận về những đề nghị của Peirce, và những ngụy biện viện dẫn sự chọn lọc tự nhiên đã dẫn ông đến tin tưởng vô căn cứ (và không thể tin được) rằng “bản năng đoán” của chúng ta dẫn chúng ta đến những lý thuyết chân chính, xem Chomsky, Language and Mind, 90ff.]