Monday, November 28, 2011

Plato - Republic (8)

Plato
The Republic 

(Πλάτων - Πολιτεία)







QUYỂN 7

Quyển 7 bắt đầu với câu chuyện nổi tiếng Dụ ngôn Cái Hang [1], với mục đích đi cùng với dụ ngôn Mặt trờidụ ngôn Đường thẳng Phân Đoạn, ở cuối quyển 6 trước đó (517b), bằng cách minh họa những ảnh hưởng của giáo dục trên linh hồn (514a). Thảo luận về giáo dục của những triết gia vẫn tiếp tục. Giáo dục trẻ em bắt đầu với huấn luyện âm nhạc và thể dục và toán học sơ cấp (535a-537b) theo sau là hai hoặc ba năm thể dục bắt buộc (537b-c), mười năm của giáo dục trong khoa học toán học (537c-d, 522c-531d), năm năm huấn luyện về biện chứng (537d-540a, 531e-535a), và mười lăm năm huấn luyện chính trị thực hành (539e-540a). Sau khi được giáo dục như vậy, người thụ nhận nó sẵn sàng để nhìn thấy cái Tốt tự thân và là những nhà vua-triết gia (540a).




Dụ Ngôn Mặt Trời, Đường Thẳng Phân Đoạn, và Cái Hang


Giải thích ý tưởng của ông về một nhà vua-triết gia, Plato gọi đến ba dụ ngôn liên tiếp, ở cuối quyển 6 và đầu quyển 7;  để nói rõ những lý thuyết siêu hình và tri thức luận về tầm quan trọng của vai trò không thể thay thế được của triết học trong chính trị. Sự tương tự của mặt trời làm sáng tỏ khái niệm về Thể dạng của cái Tốt, đối tượng mong ước tối cao của nhà-vua-triết-gia. Đường thẳng Phân đoạn minh họa bốn bậc khác nhau của hoạt động nhận thức vốn có của con người có khả năng, và mức cao nhất trong đó chỉ những nhà vua-triết gia mới đạt được. Dụ ngôn Cái Hang cho thấy ảnh hưởng của giáo dục trên linh hồn con người, thể hiện qua cách chúng ta chuyển dịch từng chặng như từng bậc thang, của những hoạt động nhận thức.

Trong dụ ngôn Cái Hang, Plato yêu cầu chúng ta tưởng tượng hoạt cảnh sau đây: Một nhóm người đã sống dưới đất trong một chỗ như hang ngầm, từ khi sinh ra, tất cả chưa bao giờ từng nhìn thấy bất kỳ ánh sáng ban ngày nào. Những người này bị trói một cách khiến họ không thể quay nhìn sang hai bên hoặc phía sau họ, nhưng chỉ thẳng phía trước. Đằng sau họ là một ngọn lửa cháy trên cao, giữa ngọn lửa và họ còn có một bức tường cao lưng chừng che khuất một lối đi. Nhô cao vượt trên tường này là những hình tượng nhiều loại khác nhau, do một nhóm người khác vận chuyển, họ đi lại, trò chuyện sau bước tường này, nhóm người này bị tường che khuất nên dưới thấp nhìn lên không thấy. Vì lửa chiếu, những hình tượng nhô cao khỏi tường thấp che lối đi, đã phóng thành những hình bóng mờ tối chiếu trên tường hang trước mặt những người tù. Tương tự như những con rối của những người làm nghề múa rối. Những người tù ngồi nhìn và đoán những câu chuyện từ những hình bóng trên tường hang này, và vì đây là tất cả những gì mà họ từng có thể nhìn thấy, họ tin rằng những hình bóng này là những gì hiện thực nhất trên thế giới. Khi họ nói chuyện với nhau về “người”, “phụ nữ”, “cây cối”, “con ngựa”, và những thứ như vậy, họ chỉ nói về những hình bóng in trên tường hang tối đương thấy trước mặt.

Bây giờ Plato yêu cầu chúng ta tưởng tượng có một trong những người tù được gỡ khỏi xiềng xích, và có thể quay lại nhìn vào ngọn lửa và chính những hình tượng. Sau đau đớn và ngờ vực ban đầu, cuối cùng người tù này nhận ra rằng tất cả những sự vật này là “thực” hơn so với những hình bóng ông ta đã luôn luôn cho là những gì thực nhất, và ông hiểu lý do ngọn lửa và những hình tượng đã cùng nhau như thế nào tạo những hình bóng trên tường hang tối, vốn chúng là bản sao của những sự vật thực sự. Bây giờ ông thừa nhận những hình tượng và ngọn lửa là những gì thực nhất trên thế giới.

Tiếp theo, cũng người tù này, được kéo ra khỏi hang, đi lên thế giới bên trên. Lúc đầu, ông bị lóa mắt bởi ánh sáng ngoài trời, khiến ông chỉ có thể nhìn vào những hình bóng, sau đó ông có thể nhìn những  hình ảnh của sự vật in hình phản chiếu trong nước, đến cuối cùng mới nhìn được những đối tượng thực -  cây, hoa, nhà cửa, và những đối tượng vật lý khác. Ông thấy chúng là còn thực hơn so với những hình tượng trong hang, và những đối tượng cũ đó chỉ là những bản sao của những sự vật đương thấy giờ đây ngoài trời này.

Cuối cùng, khi mắt của người tù đã hoàn toàn điều chỉnh với độ sáng, ông ngước mắt nhìn lên bầu trời, đêm rồi ngày, và nhìn vào mặt trời. Ông hiểu rằng mặt trời là nguyên nhân của tất cả mọi thứ ông nhìn thấy quanh mình - của ánh sáng, năng lực thị giác của mình, sự hiện hữu của hoa, cây xanh, và tất cả những đối tượng khác.

Những giai đoạn kể trên của người tù trải qua trong dụ ngôn Cái Hang tương ứng với những mức độ khác nhau trên đường thẳng trong dụ ngôn Đường thẳng Phân đoạn. Đầu tiên, đường thẳng (đúng hơn đoạn thẳng) được chia thành hai nửa không bằng nhau: một là lĩnh vực có thể nhìn thấy được (mà chúng ta có thể nắm bắt với những giác quan của chúng ta) và một kia là lĩnh vực có thể hiểu biết (mà chúng ta chỉ có thể nắm bắt với não thức). Khi người tù còn trong hang, ông là trong lĩnh vực có thể nhìn thấy. Khi ông đi lên, vào ánh sáng ban ngày, ông đi vào lĩnh vực có thể hiểu biết.

Nấc thang thấp nhất trên dòng nhận thức này, là trí tưởng tượng. Trong hang, điều này được biểu hiện như những người tù bị xích chặt chân và cổ, do đó chỉ có thể nhìn thấy những hình bóng trên tường hang trước mặt. Những gì ở đấy ông tiếp nhận là chân thực nhất nhưng là không chân thực chút nào tất cả, chúng là những hình trong tối, không gì khác hơn chỉ đơn giản là những ảnh. Những hình bóng được hiểu nghĩa như đại diện cho những hình ảnh trong nghệ thuật. Một người bị mắc kẹt trong giai đoạn trí tưởng tượng trong sự phát triển của mình, nhận những gì là chân lý từ thơ, anh hùng ca, và sân khấu, hoặc những hư cấu khác. Ông lấy ra quan điểm của mình về con người và về thế giới từ những hình thức nghệ thuật như thế, chứ không phải là từ sự nhìn thẳng vào thế giới thực tại trực tiếp.

Khi người tù giải phóng chính mình và nhìn vào những bức tượng, ông đạt đến giai đoạn tiếp theo trên con đường của Đường thẳng Phân đoạn: giai đoạn tin tưởng. Những bức tượng có nghĩa là tương ứng với những đối tượng thực sự của cảm giác thực của chúng ta - người thực, cây thực, hoa thực, và vân vân. Con người trong giai đoạn tin tưởng của nhận thức, vẫn còn – tin tưởng- vẫn nhầm lẫn nhận lấy những cảm thức trước những cá thể đặc thù này như là những gì chân thực nhất.

Nhưng khi ông đi lên, đặt chân vào thế giới bên trên, ông thấy rằng thậm chí còn có những gì đó còn thực hơn nữa: những thể dạng, vốn những cá thể đặc thù là những bản sao không hoàn hảo từ chúng mà ra. Giờ đây, ông ở giai đoạn suy tưởng trong tiến trình nhận thức của mình. Ông có thể lý luận về những thể dạng, nhưng không phải hoàn toàn trừu tượng. Ông sử dụng những hình ảnh và những giả định chưa chứng minh như những nạng chống.

Cuối cùng, ông hướng lên cao nhìn vào mặt trời, tượng trưng cho thể dạng tối thượng, Thể dạng của cái Tốt. Thể dạng của cái Tốt (Thiện) là nguyên nhân của tất cả những thể dạng khác, và là nguồn gốc của tất cả sự Tốt, Thật, và Đẹp trong thế giới. Nó là đối tượng cuối cùng của kiến ​​thức. Một khi người tù đã nắm hiểu được Thể dạng của cái Tốt, ông đã đạt đến giai đoạn cao nhất của nhận thức: sự hiểu biết. Ông không còn có bất cứ nhu cầu nào với những hình ảnh, hoặc giả thuyết chưa chứng minh để giúp thêm trong lý luận của mình. Khi đạt đến Thể dạng của cái Tốt, ông đi đến nguyên lý đầu tiên của triết học vốn nó giải thích tất cả mọi thứ mà không cần phải dựa vào bất kỳ giả định hoặc hình ảnh nào. Giờ đây, ông có thể sử dụng hiểu biết này có nguồn gốc từ sự thấu hiểu Thể dạng của cái Tốt để chuyển đổi tất cả những suy nghĩ trước đây của ông vào sự hiểu biết đích thực - ông có thể hiểu tất cả những thể dạng. Chỉ có những triết gia mới có thể đạt tới giai đoạn này, và đó là lý do tại sao chỉ có ông mới xứng hợp để cai trị những thành phố.

Plato không thể cung cấp chi tiết trực tiếp về Thể dạng của cái Tốt, và thay vào đó chỉ minh họa ý tưởng của ông bằng cách so sánh nó với Mặt trời. Thể dạng của cái Tốt khi so với lĩnh vực có thể nhận thức, ông tuyên bố, như mặt trời so với lĩnh vực có thể nhìn thấy. (Trong ẩn dụ, ngọn lửa trong hang đại diện cho mặt trời.) Trước hết, cũng giống như mặt trời cung cấp ánh sáng và tầm nhìn trong lĩnh vực có thể nhìn thấy, Thể dạng của cái Tốt là nguồn gốc của tính có thể hiểu được. Mặt trời làm cho có thể có thị giác, và tương tự, Thể dạng của cái Tốt chịu trách nhiệm về năng lực của chúng ta với kiến ​​thức. Mặt trời là nguyên nhân tạo thành những sự vật xuất hiện trong thế giới hữu hình, nó quy định thời tiết, làm cho hoa nở, ảnh hưởng đến động vật sinh sản, và những tương tự như vậy. Thể dạng của cái Tốt chịu trách nhiệm về sự hiện hữu của những thể dạng, làm chúng đi đến có trong thế giới có thể hiểu được, trong lĩnh vực có thể nhận thức.

QUYỂN  7
(514a-541b)





(Dụ ngôn Cái Hang)

SOCRATES kể tiếp tục:

SOCRATES: Tiếp theo, sau đó, so sánh hiệu quả của giáo dục và của thiếu giáo dục trên bản chất của chúng ta với một kinh nghiệm như thế này. Hãy tưởng tượng những con người sống trong một chốn ở ngầm dưới lòng đất, giống cái hang, với một chỗ ra vào dọc một đường dài đi lên khoảng mở ra ánh sáng, và rộng ngang bằng chính cái hang. Đã ở đó từ thơ ấu, cổ và chân bị xiềng chặt, nên họ cố định cùng một chỗ, chỉ có thể nhìn về trước, vì bị xiềng ngăn không xoay đầu được. Ở trên cao và xa về phía sau lưng họ, có một ngọn lửa cháy đem cho ánh sáng. Giữa những tù nhân và ngọn lửa, có một con đường xây cao kéo ngang. Hãy tưởng tượng rằng dọc con đường này, có một bức tường xây thấp - giống như màn chắn ở trước những người xem múa rối, và bên trên đó, những người múa rối cho thấy những con rối của họ.
GLAUCON: Tôi đương tưởng tượng ra nó.
SOCRATES: Cũng tưởng tượng, sau đó, rằng dọc sau tường này, có những người mang theo những vật tạo tác nhiều loại phong phú khác nhau, giương chúng cao quá tường – những tượng người và những động vật khác, làm bằng đá, gỗ, và mọi thứ vật liệu. Và như bạn sẽ dự đoán, một số người mang chúng nói chuyện và một số im lặng.
GLAUCON: Nó là một hình ảnh kỳ lạ ông đang mô tả, và những tù nhân kỳ lạ.
SOCRATES: Họ giống như chúng ta. Ý tôi là, trước hết, bạn có nghĩ rằng ngoài bản thân họ và người này cạnh người kia, những tù nhân này đã từng nhìn thấy bất cứ gì khác ngoài những hình bóng vốn lửa chiếu hắt lên bước tường hang đối mặt với họ không?
GLAUCON: Làm thế nào họ có thể thế, nếu họ phải giữ đầu của họ bất động suốt đời?
SOCRATES: Thế còn về những sự vật được mang đi dọc theo bức tường? Không phải là cũng đúng như thế nói về phương diện họ bận tâm?
GLAUCON: Dĩ nhiên.
SOCRATES: Và nếu họ có thể tham gia thảo luận người này với người kia, không phải bạn nghĩ rằng những tên gọi giả định nếu họ sẽ sử dụng, được ứng với những sự vật họ nhìn thấy diễn qua trước mặt họ?
GLAUCON: Họ sẽ phải thế.
SOCRATES: Thế còn nếu như nhà tù của họ cũng có một tiếng dội từ bức tường đối mặt với họ? Khi một trong những người mang vác những đồ vật đi dọc theo bức tường đã nói, bạn có nghĩ họ sẽ tin bất cứ điều gì khác hơn là những hình bóng ở phía trước họ đã nói?
GLAUCON: Tôi không tin, có Zeus chứng giám.
SOCRATES: Tất cả như thế, sau đó, những gì tù nhân sẽ nhận như thực tại thực, là không gì khác hơn những hình bóng của những vật tạo tác này.
GLAUCON: Điều đó hoàn toàn không thể tránh.
SOCRATES: Hãy xem xét, sau đó, khi được gỡ khỏi trói và được chữa khỏi sự ngu dại vốn họ sẽ tự nhiên giống như, nếu một một gì đó giống như điều này có xảy ra với họ. Khi một người được tự do và đột nhiên buộc phải đứng lên, quay cổ quanh mình, đi bộ, và nhìn lên hướng về phía ánh sáng, anh ta sẽ đau đớn vì làm tất cả những điều này, và không có khả năng thấy những sự vật vốn những hình bóng của nó anh đã từng thấy trước đây, vì lửa sáng nhấp nháy. Bạn nghĩ anh ta sẽ nói gì nếu chúng ta nói với anh rằng những gì anh đã nhìn thấy trước đây là ngớ ngẩn vô nghĩa, nhưng rằng giờ đây — vì anh gần gũi hơn một chút với những gì , và được quay hướng về những sự vật vốn hơn - anh thấy chính xác hơn? Và đặc biệt, nếu chúng ta chỉ vào mỗi những sự vật đi ngang qua và buộc anh trả lời mỗi chúng là gì, bạn không nghĩ rằng anh sẽ bối rối và tin rằng những sự vật anh đã nhìn thấy trước đó là thực sự thật hơn so với những gì anh đang được chỉ cho thấy?
GLAUCON: Phần lớn là thế.
SOCRATES: Và nếu như anh bị buộc phải nhìn vào chính ánh sáng, không phải mắt anh bị đau, và không phải anh sẽ quay lộn lại, và trốn chạy hướng về những sự vật anh có khả năng nhìn thấy, và tin rằng chúng là thực sự rõ ràng hơn so với những gì anh đang được chỉ cho thấy?
GLAUCON: Anh sẽ.
SOCRATES: Và nếu có một ai dùng sức lôi anh ta xa khỏi nơi đó, theo dọc lối thô dốc đi lên, và không buông anh ra cho đến khi người ấy đã kéo anh vào vùng ánh sáng mặt trời, sẽ không phải anh bị đau đớn và giận dữ vì bị đối xử cách đó? Và khi anh đã đi vào vùng sáng, không phải mắt anh chứa đầy ánh sáng mặt trời, và không có khả năng nhìn thấy lấy được dù chỉ một trong những sự vật giờ đây cho biết là thực thật sự?
GLAUCON: Không, anh ta sẽ không thể - ít nhất không phải ngay lập tức.
SOCRATES: Anh ta sẽ cần thời gian để điều chỉnh, tôi giả định thế, nếu như anh ta rồi sẽ nhìn xem mọi thứ trong thế giới bên trên. Lúc đầu, anh sẽ dễ dàng nhất nhìn thấy những hình bóng, sau đó những hình ảnh của những người và những sự vật khác in trong nước, sau đó chính những sự vật. Từ những điều này, sẽ dễ dàng hơn để anh ta tiếp tục nhìn đến những sự vật trên bầu trời và chính bầu trời ban đêm, ngắm nhìn ánh sáng của những vì sao và của mặt trăng, hơn là lúc ban ngày, ngắm nhìn mặt trời và ánh sáng của mặt trời.
GLAUCON: Dĩ nhiên.
SOCRATES: Cuối cùng, tôi cho rằng, anh sẽ có thể nhìn thấy mặt trời - không phải những phản chiếu của nó trong nước, hoặc trong một số chỗ xa lạ khác, nhưng chỉ mặt trời chính nó trong chỗ riêng của nó -  và có thể nhìn vào nó và xem thấy nó giống như là gì. 
GLAUCON: Anh ta sẽ phải.
SOCRATES: Sau thế, anh sẽ có khả năng rồi để kết luận về nó, rằng nó đem cho những mùa và những năm, cai quản tất cả mọi thứ trong thế giới hữu hình, và một cách nào đó là nguyên nhân của tất cả những sự vật mà anh và những đồng bạn của anh trước đã quen nhìn thấy.
GLAUCON: Điều đó rõ ràng sẽ là bước tiếp theo của anh.
SOCRATES: Thế còn khi anh ta tự mình nhớ lại chốn cư ngụ đầu tiên thì sao? những gì đã nhận là sự khôn ngoan ở đó, và những bạn tù của anh? Không phải là bạn nghĩ rằng anh sẽ đếm mình là sung sướng vì sự thay đổi, và thương hại những người kia?
GLAUCON: Chắc chắn.
SOCRATES: Và nếu như đã có những vinh dự, những ca ngợi, hoặc những giải thưởng giữa đám họ cho ai là người tinh mắt nhất trong việc nhận diện những hình bóng khi chúng đi qua; và có khả năng tốt nhất để nhớ cái gì thường đến trước, cái gì đến sau, và cái gì đến đồng thời; và ai là người có khả năng nhất như thế để đoán trước tương lai, bạn có nghĩ rằng con người của chúng ta sẽ mong muốn những phần thưởng này, hoặc ghen tị với những người trong đám tù nhân là người đã được vinh danh và nắm giữ quyền năng? Hay có phải bạn nghĩ rằng anh ta sẽ cùng với Homer cảm thấy rằng anh thà thích hơn nhiều để “làm lụng trên mặt đất như một nông nô cho một người khác, một người không có tài sản riêng” [2], và trải qua bất kỳ những đau khổ nào, hơn là chia sẻ những tin tưởng của họ và sống như họ?
GLAUCON: Vâng, tôi nghĩ rằng anh ta thà chịu đựng bất cứ điều gì hơn sống giống như thế.
SOCRATES: Hãy cũng xem xét việc này nữa, sau đó. Nếu người này đi trở lại xuống hang và ngồi xuống chính chỗ của mình, không phải là mắt của anh sẽ đầy tối đen, vừa thình lình rời khỏi ánh mặt trời như thế?
GLAUCON: Chắc chắn.
SOCRATES: Bây giờ, nếu anh lại phải thi đua với những tù nhân vĩnh viễn về sự nhận ra những hình bóng, trong khi thị lực của anh vẫn còn mờ và trước khi mắt của anh được phục hồi, và nếu thời gian cần thiết để điều chỉnh là không ngắn, không phải là anh ta sẽ gây cười bị chế nhạo? Không phải là sẽ nói về anh là trở lại từ hành trình đi lên của anh, với đôi mắt anh bị hủy hoại, và ngay cả nó không đáng bõ công để cố gắng đi trở lên trên? Và về phần bất cứ ai là người cố gắng giải thoát những tù nhân, và dẫn họ đi trở lên trên, nếu họ bằng cách nào đó họ có thể bắt được người này, không phải họ sẽ giết người này?
GLAUCON: Họ chắc chắn sẽ làm thế.
SOCRATES: Glaucon thân mến của tôi, hình ảnh này phải được gắn vừa vặn cùng nhau như một toàn bộ với những gì chúng ta đã nói trước đây [3]. Lĩnh vực hiển lộ ra cho thấy qua thị giác nên so sánh giống như chỗ ở nhà tù, và ánh sáng của ngọn lửa bên trong nó như năng lực của mặt trời. Và nếu bạn nghĩ về hành trình đi lên, và sự nhìn thấy những sự vật bên trên như hành trình đi lên của linh hồn đến lĩnh vực có thể nhận thức, bạn sẽ không nhầm lẫn ý định của tôi - vì đó là những gì bạn muốn nghe nói đến. Chỉ có gót mới biết liệu nó là sự thật hay không. Nhưng đây là như thế nào những hiện tượng này xem ra với tôi: trong lĩnh vực có thể biết được, điều cuối cùng được nhìn thấy là thể dạng của sự tốt lành, và nó chỉ có thể được nhìn thấy với hết sức vất vả và chịu khó nhọc. Tuy nhiên, một khi người ta đã thấy nó, người ta phải suy luận rằng nó là nguyên nhân của tất cả những gì là chính xác và đẹp trong bất cứ điều gì, rằng trong lĩnh vực có thể nhìn thấy, nó tạo ra cả hai, vừa ánh sáng và nguồn sáng, và trong lĩnh vực có thể nhận thức, nó điều khiển và cung cấp sự thật và sự hiểu biết; và rằng bất cứ ai là người hành động một cách hợp lý trong đời tư hay chốn công phải nhìn thấy nó.
GLAUCON: Tôi đồng ý, đến mức tôi có khả năng.
SOCRATES: Tiếp nào, sau đó, và tham gia với tôi trong suy nghĩ xa hơn này: bạn không nên ngạc nhiên rằng những ai là người đã đến được điểm này là không sẵn lòng còn muốn bận bịu với những công việc của con người, nhưng trái lại, những linh hồn họ luôn luôn thiết tha muốn dành nhiều thời giờ của họ ở phía bên trên. Ý tôi là, chắc chắn đó là những gì chúng ta mong đợi, nếu thực sự hình ảnh tôi đã mô tả trước đây ở chỗ này cũng là chính xác.
GLAUCON: Đó là những gì chúng ta sẽ chờ xảy ra.
SOCRATES: Thế còn khi một ai đó, sau khi nhìn thấy những sự vật siêu phàm, đi đến nhìn vào những tà ác của đời sống con người thì sao? Bạn có nghĩ rằng đó là ngạc nhiên rằng ông ta cư xử vụng về và hiện ra hoàn toàn vô lý đáng cười, - nếu trong khi thị giác của ông vẫn còn mờ, và ông vẫn chưa trở nên quen với bóng tối xung quanh ông – ông bị bắt buộc, hoặc là trong những tòa án, hoặc ở những nơi nào khác, để tranh đua về những hình bóng của công lý, hoặc về những tượng hình mà chúng là những cái bóng; và tranh cãi lối những điều này được nhận hiểu bởi những người chưa bao giờ nhìn thấy chính bản thân công lý?
GLAUCON: Nó không phải là đáng ngạc nhiên gì cả.
SOCRATES: Ngược lại, bất cứ ai với bất kỳ ý thức nào, ở bất kỳ mức nào, sẽ nhớ rằng mắt có thể bị lẫn lộn trong hai cách và từ hai nguyên nhân: khi chúng thay đổi từ sáng vào tối, hoặc từ tối đi ra sáng. Nếu anh ta giữ trong não thức rằng cùng một điều áp dụng cho linh hồn, sau đó khi thấy một linh hồn bị xáo động và không thể nhìn thấy một gì đó, ông sẽ không cười một cách phi lý. Thay vào đó, ông sẽ xem liệu có phải nó đã đến từ một đời sống sáng hơn và đã bị mờ đi vì còn chưa trở nên quen thuộc với bóng tối, hoặc từ sự thiếu hiểu biết lớn hơn đi vào ánh sáng nhiều hơn và bị kinh ngạc vì sự chói sáng tăng lên. Sau đó, ông sẽ xem linh hồn đầu tiên là sung sướng trong kinh nghiệm và đời sống của nó, và thương hại cho linh hồn nói sau. Nhưng thậm chí nếu ông ta muốn chế giễu nó, ít nhất chế giễu của ông nó sẽ làm cho ông ta bớt vô lý đáng cười hơn, so với chế giễu một linh hồn đã đến từ ánh sáng bên trên.
GLAUCON: Đó là một tuyên bố hoàn toàn hợp lý.
SOCRATES: Sau đó, đây là chúng ta phải suy nghĩ về những vấn đề này thế nào, nếu đó là đúng: giáo dục không phải là những gì một số người khoe khoang tuyên bố nó là. Họ giả định nói rằng họ có thể đặt kiến thức vào trong những linh hồn nào thiếu nó, như thể họ có thể đặt thị giác vào trong những con mắt mù.
GLAUCON: Vâng, họ có nói như thế.


Lê Dọn Bàn tạm dịch - bản nháp thứ nhất
(Nov/2011)




[1] Trước đây tôi đã tạm dịch, nhưng chỉ phần của ngụ ngôn này – xem Plato - Dụ Ngôn Cái Hang.
Hang: Hốc trong núi, hay lỗ giống vật đào dưới đất để ở (hang beo) – Động: hang trong núi (KhaiTríTiếnĐức) – trong chữ Tàu, - Động: Hang, hố. Trong các bản tiếng Anh, từ “Cave”: để chỉ một cấu trúc địa chất thường gồm một khoảng trống ngầm dưới đất nhưng có lối thông lên với mặt đất liền hoặc với  biển.
Ở trên – theo Socrates mô tả cho Glaucon là một chỗ “underground, cavelike dwelling” (“οἰκήσει σπηλαιώδει”),– “một chỗ trú ở dưới đất, giống như cái hang” – nghĩa là không phải một cái hang, hay động tự nhiên nào cả. Vậy tạm gọi là “Cái Hang” có lẽ gần ý hơn. Sống trong hang còn có ý, giai đoạn chưa văn minh,  ý thức theo lối thấy sao tin vậy.
[2] Odyssey 11.489–90. Bóng ma của Achilles nói những lời này với Odysseus, người xuống thăm cõi âm của Hades. Plato xem, hay so sánh, những người trú ẩn dưới hang như những người chết.
[3] tức hai dụ ngôn ở chương  6 trước.