Thursday, November 24, 2011

Plato - Republic (7)


Plato
Republic









QUYỂN  6

Những triết gia đích thực là trái ngược với những người thông thường vẫn được gọi là triết gia. Những triết gia đích thực phải quán triệt những vấn đề quan trọng nhất (503e), những nội dung dẫn đến kiến thức về Thể dạng của cái Tốt (504e-505b). Socrates không thể giải thích trực tiếp điều này là gì, nhưng trong dụ ngôn Mặt trời và dụ ngôn Đường thẳng Phân Đoạn, ông cố gắng đem lại một giải thích gián tiếp về chúng (507a-511e).


Tóm tắt Quyển 6

(484a-502c) - Thừa nhận rằng chỉ những triết gia mới có thể có kiến ​​thức đích thực, hiển nhiên họ là những người có khả năng tốt nhất để hiểu biết và nắm giữ những gì là tốt đẹp cho thành phố, và như vậy là ở vị trí hay nhất để biết điều hành và cai trị thành phố như thế nào. Nếu như chúng ta chỉ biết là họ đạo hạnh - hay ít nhất không đứng thấp hơn những người khác về đạo đức – những người bạn của Socrates đồng ý, sau đó chúng ta có thể chắc chắn rằng họ là những người phù hợp nhất để cai trị. May mắn hơn, chúng ta còn biết đạo đức của triết gia vượt cao trên tất cả mọi người khác. Một triết gia yêu sự thật nhiều hơn bất cứ gì khác (“triết gia” có nghĩa là “người yêu sự thật, hay trí tuệ”), trọn vẹn linh hồn ông phấn đấu đuổi theo sự thật. Điều này có nghĩa là phần lý trí của linh hồn ông phải cai quản trong ông, có nghĩa linh hồn ông là công chính.

Adeimantus vẫn chưa bị thuyết phục. Không ai trong số những triết gia mà ông đã từng biết có được như Socrates mô tả. Hầu hết những triết gia là vô dụng, và những người không vô dụng thường có xu hướng ác độc đồi bại. Một cách ngạc nhiên, Socrates đồng ý với sự kết án của Adeimantus về những triết gia đương thời, nhưng ông lập luận rằng lớp những triết gia hiện nay đã không được nuôi dạy theo đúng cách. Người sinh ra với bản chất triết lý - can đảm, có đầu óc cao thượng, học hỏi thông minh, với những khả năng ký ức - nhanh chóng thành con mồi của gia đình và bạn bè, những người này hy vọng được hưởng lợi từ những quà tặng bẩm sinh của họ. Gia đình và bạn bè ăn bám của họ khuyến khích họ gia nhập chính trị cốt để giành lấy tiền và quyền. Vì vậy, họ bị kéo xa khỏi đời sống triết học. Ở chỗ trống của những triết gia có bản chất nhưng đã bị chệch hướng khỏi triết lý và bị hư hỏng, những người khác, những người thiếu bản chất triết học, vội vàng lấp đầy khoảng trống và xuất hiện thành những triết gia. trong khi thực sự họ không có quyền được gọi như thế. Những người này là ác độc đồi bại như Adeimantus nói trên.

Một số ít vốn là những triết gia tốt (những người bởi cách nào đó bản chất không bị hư hỏng, hoặc là vì họ đã sống lưu vong, hoặc sống trong một thành phố nhỏ, hoặc có sức khỏe kém, hoặc do một số những hoàn cảnh khác) bị xem là vô dụng, vì xã hội đã trở thành trái ngược – phản đề - với những lý tưởng chân chính. Socrates so sánh tình trạng với một con tàu, trên đó người chủ tàu bị bệnh lãng tai khó nghe, có thị lực kém, và thiếu kỹ năng đi biển. Tất cả những thủy thủ trên tàu tranh cãi với nhau về ai sẽ là thuyền trưởng, mặc dù họ không biết gì về hàng hải. Thay vì dựa trên bất kỳ kỹ năng nào, họ sử dụng bạo lực và thủ đoạn thông minh để được người chủ tàu chọn làm thuyền trưởng. Bất cứ ai thành công trong việc thuyết phục chủ tàu, được giao cầm lái con tàu, anh ta được đồng bọn gọi là một “hoa tiêu”, một “thuyền trưởng”, và “một trong những người hiểu biết về những con tàu”. Bất cứ ai khác bị gọi là “vô dụng”. Những thủy thủ này không hề có ý tưởng rằng có đó một nghề hàng hải, hoặc có đó một loại kiến ​​thức bất kỳ nào đó phải thành thạo để lái những con tàu. Qua câu chuyện này, Socrates chỉ ra rằng người thuyền trưởng chân chính -  người hiểu biết nghề hàng hải - sẽ bị những đồng hành như thế gọi là một kẻ “ngắm sao vô dụng”. Tình hình hiện tại ở Athens của Socrates là tương tự: không ai có bất kỳ một ý tưởng nào rằng có đấy một thứ kiến ​​thức đích thực để nên có lấy, một thứ khéo léo, một thứ kỹ năng để sống. Thay vào đó, tất cả mọi người cố gắng tranh dành vượt lên trước những người khác bằng thủ đoạn thông minh, thường không công bằng. Còn những triết gia tốt, ít ỏi trong đám đó, người quay hướng nhìn của mình về những Thể Dạng vĩnh cửu, và thật sự hiểu biết về những sự vật, bị xem là vô dụng.

Socrates kết luận, tất cả những gì chúng ta cần cho thành phố chúng ta có thể có được, là một nhà vua-triết gia thuộc loại như thế - một con người với đúng bản chất, cộng thêm được giáo dục theo đường lối đúng, và đi đến thấu triệt những thể dạng. Điều này, ông tin rằng, không phải tất cả là không thể.

(502d - đến hết) - Bây giờ, Socrates chuyển sang giai đoạn cuối cùng trong việc xây dựng một thành phố công chính: câu hỏi làm thế nào để đào tạo những nhà vua-triết gia.

Ông đã nhắc đến trong Quyển 3 rằng những người giám hộ đương còn được huấn luyện, phải là đối tượng của nhiều thử nghiệm, để lựa chọn những nhà cai trị từ trong số đó. Một trong những điểm thử nghiệm, ông nói với chúng ta lúc đó, là xem ai trung thành nhất với thành phố. Bây giờ chúng ta thấy rằng một điểm quan trọng khác nữa của những thử nghiệm này là để xác định ai là người trong số đó có thể chịu được khó khăn của chủ đề quan trọng nhất. Chủ đề quan trọng nhất cho một vị vua-triết gia, quay ra là nghiên cứuThể dạng của cái Tốt – ý tưởng về tự thân toàn thiện tối thượng – Trên thực tế, đó là sự hiểu biết Thể dạng của cái Tốt khi một ai đó đạt đến trình độ hiểu biết cao nhất, và như thế trở nên phù hợp để là một vị vua triết gia.

Socrates giải thích Thể dạng của cái Tốt không phải là những gì vẫn thông thường được chủ trương là tốt lành. Một số người nghĩ rằng cái Tốt cao nhất là sự thỏa mãn vui sướng, trong khi những người phức tạp hơn nghĩ rằng nó là kiến ​​thức đích thực. Trong thực tế, cả hai đều không phải, nhưng Socrates không thể thực sự nói trực tiếp nó là gì. Cách hay nhất mà ông có thể làm là cho một câu chuyện có nội dung ẩn dụ, tôi tạm gọi là một dụ ngôn - một câu chuyện kể về những gì tương tự nào khác để gợi ý đến chính điều muốn nói – hay nói như chính ông, trong trường hợp này, là nói về “những gì là con cái của cái Tốt, và giống như nó nhất”. Dụ ngôn này là đầu tiên trong một chuỗi ba dụ ngôn nổi tiếng và chứa những ẩn dụ có liên quan đến nhau, sẽ kéo sang quyển 7 tiếp theo - mặt trời, đường thẳng, và hang đá. Trong tiến trình phát triển ba ẩn dụ này, Socrates giải thích người thế nào là triết gia, trong khi khai mở nội dung lý thuyết siêu hình và tri thức luận của mình.

Mặt trời, Socrates nói với chúng ta, đối với lĩnh vực có thể nhìn thấy là tựa như những gì cái Tốt đối với lĩnh vực có thể hiểu được (lĩnh vực của những thể dạng), giống trong ba khía cạnh. Thứ nhất, trong khi mặt trời là nguồn gốc của ánh sáng, và do đó, có thể nhìn thấy trong lĩnh vực hữu hình, có tính có-thể-nhìn-thấy, cái Tốt là nguồn gốc của tính có thể hiểu. Thứ hai, mặt trời là có trách nhiệm đem cho chúng ta thị lực, vì chỉ do sự kết nhập của thứ gì đó giống-như-mặt trời vào trong nó mà mắt có khả năng nhìn thấy. Tương tự như vậy, cái Tốt cho chúng ta khả năng với kiến ​​thức. Cuối cùng, mặt trời có trách nhiệm trong sự tạo thành những sự vật hiện hữu (trở nên là “có” – thay vì không) trong lĩnh vực có thể nhìn thấy. Mặt trời quy định thời tiết, làm hoa nở, và làm những động vật sinh sản. Cái Tốt, phần nó là chịu trách nhiệm về sự hiện hữu của những thể dạng, cho những gì “đi-đến-hiện-hữu” trong lĩnh vực hiểu biết. Thể dạng của cái Tốt, Socrates nói, là “vượt quá tồn tại” - nó là nguyên nhân của tất cả hiện hữu.

Thể dạng của cái Tốt chịu trách nhiệm cho tất cả kiến ​​thức, sự thật, và cho não thức hiểu biết. Nó là nguyên nhân của hiện hữu của những Thể dạng trong lĩnh vực của nhận thức, và nguồn cho tất cả những gì là tốt, là đẹp trong lĩnh vực hữu hình. Không ngạc nhiên, sau đó, rằng đó là cùng đích của kiến ​​thức.

Tuy nhiên, đến khi chúng ta nghe dụ ngôn tiếp theo, chúng ta mới thực hiểuThể dạng của cái Tốt là quan trọng như thế nào với kiến ​​thức. Dụ ngônĐường thẳng Phân đoạn là có ý để minh họa những cách tiếp nhận thế giới, bốn cấp kiến ​​thức và quan điểm ​mở sẵn cho chúng ta. Hãy tưởng tượng, theo Socrates, một đoạn thẳng chia thành bốn đoạn ngắn hơn. Hai đoạn ngắn dưới cùng đại diện cho sự tiếp nhận của chúng ta với lĩnh vực có thể nhìn thấy, trong khi hai đoạn ngắn cao hơn đại diện cho tiếp nhận của chúng ta với lĩnh vực có thể hiểu biết.

Cấp thấp nhất của hoạt động nhận thức là trí tưởng tượng. Một người trong trạng thái của tưởng tượng xem những hình ảnh và những phản ánh là những sự vật chân thực nhất trên thế giới. Trong Quyển 10, chúng ta sẽ thấy nghệ thuật cũng thuộc về cấp này. Khi Plato nói đến tưởng tượng, chưa hẳn rõ ràng là gì, nhưng ông cho nhiều diễn giải.

Giai đoạn tiếp theo trên đoạn thẳng này là tin tưởng. Tin tưởng cũng hướng về lĩnh vực có thể nhìn thấy, nhưng nó tạo tiếp xúc với những sự vật thực. Một người trong giai đoạn này của tin tưởng cho rằng những cá thể riêng biệt người ấy cảm nhận được là những gì chân thực nhất trên thế giới.

Tiến cao thêm nữa trên đoạn thẳng, có hai cấp độ của kiến ​​thức: suy tưởng, và hiểu biết. Mặc dù suy tưởng đề cập trong những thể dạng, nhưng nó vẫn sử dụng những cảm nhận cá biệt như hình ảnh để trợ giúp lý luận của nó, như nhà hình học sử dụng hình ảnh của một tam giác để giúp họ lý luận về tính chất của tam giác. Suy tưởng cũng dựa trên những giả thuyết, là những giả định chưa được chứng minh. Đến cấp độ của hiểu biết, thôi không dùng những nạng chống này. Hiểu biết là một kỹ năng hoàn toàn trừu tượng. Lý luận của nó sử dụng chỉ những thể dạng, nó làm việc với một nguyên lý đầu tiên không giả định, đó là Thể dạng của cái Tốt.

Để đạt được hiểu biết, một cá nhân sử dụng những nạng chống đỡ cần thiết để suy nghĩ, tiến cao dần, nâng mình lên với biện chứng triết học hướng tớiThể dạng của cái Tốt. Khi một người đạt đến Thể dạng của cái Tốt, người ấy đã chạm vào nguyên lý đầu tiên của mình, một mệnh đề phổ quát làm cho tất cả những giả thuyết chưa được chứng minh thành không cần thiết. Bây giờ người ấy hiểu Thể dạng của cái Tốt, và cũng tất cả những thể dạng khác. Trong chớp mắt, người ấy đã đạt đến trình độ cao nhất của kiến ​​thức.

Phân tích:

(484a-502c) - Tiếp tục với việc bênh vực triết gia, Plato khẳng định trong phần này rằng triết gia không phải là chỉ là người sở hữu duy nhất của kiến​​thức, ông cũng là con người đạo đức nhất. Plato nêu lên sự liên kết của những triết gia với những thể dạng để xác định phẩm hạnh của triết gia. Bằng cách liên kết với những gì là trật tự và thiêng liêng (nghĩa là, những thể dạng), bản thân triết gia trở nên có trật tự và thiêng liêng trong linh hồn của mình. Ông mô phỏng linh hồn mình theo Thể dạng của cái Tốt.

Plato cũng cung cấp một giải thích trực giác hơn về  lý do tại sao triết gia là đạo đức. Vì tất cả những gì ông nỗ lực đều hướng về sự thật, nên những ham muốn khác của ông bị suy yếu. Ông không thực sự có săn đuổi về tiền bạc, danh dự, niềm vui, và những gì như vậy. Vắn tắt, ông đã không có bất kỳ một săn đuổi nào có thể dẫn đến hành vi vô đạo đức. Ông sẽ không bao giờ có động lực để ăn cắp, nói dối, khoe khoang, hành động mù quáng, hoặc bất cứ điều gì khác của loại này. Cảm xúc và ham muốn của ông không còn cung cấp một động lực mạnh mẽ hướng về tật xấu.

Mô tả này nghe như thể linh hồn của triết gia là trong một trạnh thái đơn điệu độc nhất chứ không phải là một trạng thái hài hòa. Lý trị cai trị, nên thèm muốn ngon miệng và tinh thần vắng mặt hoàn toàn. Tuy nhiên ở những chỗ khác, Plato nói rằng trong con người công chính thực sự vẫn giữ lại tất cả ba tập hợp của những ham muốn trong những hình thức mạnh mẽ. Mặc dù người ấy yêu sự thật nhất trong tất cả, nhưng ông ta cũng ham muốn niềm vui và vinh dự, dù một mức độ ít hơn. Những gì ở đây không rõ ràng có thể hợp với hình ảnh kể trên. Có lẽ chúng ta chỉ đơn giản có thể giả định Plato đã sử dụng ngôn ngữ mạnh mẽ khi ông nói về triết gia như thể ông đã không có mong muốn nào khác hơn so với những khao khát với sự thật. Nhưng nếu triết gia, quả vẫn giữ lại lòng yêu danh dự, tiền bạc và niềm vui đến một mức độ nhất định nào đó, vậy sau đó có gì bảo đảm với chúng ta rằng ông sẽ không bao giờ hành xử tàn ác? Câu trả lời có thể là: ngay cả khi những triết gia đôi khi có thể có những ham muốn có thể dẫn đến hành vi xấu xa, vì còn những phần khác của linh hồn ông chi phối, nhưng ông hiếm khi có hành vi như thế.

Tuy nhiên, một câu hỏi khác vẫn còn về đức hạnh của triết gia. Allan Bloom nêu lên rằng nó có vẻ như triết gia giữ đạo đức một cách rất khác lạ. Ông cư xử đức hạnh chủ yếu vì bận tâm với những ý tưởng, và không phải với những động lực, vốn chúng ta thường nghĩ là đánh dấu con người có đạo đức. Bloom nói, triết gia là dũng cảm, vì ông luôn bận tâm với thể dạng vĩnh cửu và hậu quả của chúng trong đời sống. Ông không phải là dũng cảm vì ông tuân hành những quy luật của thành phố về những gì là đáng sợ hãi và những gì không. Ông là chừng mực tiết độ vì ông có một tình yêu khát khao, quá độ vớị sự thật, không phải vì ông đã kiềm chế ham muốn của mình. Ông là công chính trong vấn đề tiền bạc, vì tiền chỉ đóng một vai trò nhỏ trong những gì ông muốn, và do đó, ông quan tâm rất ít về nó. Chúng ta không nhận được dấu hiệu cho thấy ông công chính trong tiền bạc vì ông quan tâm sâu xa về bổn phận của mỗi người.

Khởi đi từ quan sát này, Bloom chia đức hạnh thành hai loại: công dân và trí thức - và lập luận rằng chỉ những triết gia mới thuộc loại thứ hai. Những đức hạnh công dân nổi lên từ những nhu cầu của thành phố, những đặc điểm của chúng là trợ giúp vào trong mục tiêu bảo vệ thành phố và cư dân của nó. Những đức hạnh trí thức bắt nguồn từ những nhu cầu của triết học, chúng có những đặc điểm là giúp thêm trong việc đạt kiến ​​thức. Bloom cho rằng, trong xác định này Plato đã nhầm lẫn (hoặc có lẽ cố tình), khi Plato khẳng định triết gia là đạo đức theo nghĩa đầu tiên, trong khi triết gia chỉ thực sự có đạo đức theo nghĩa thứ hai.

Chúng ta có thể hỏi nhầm lẫn này quan trọng đến đâu, nếu thực sự là có nhầm lẫn. Nếu triết gia chỉ đạo đức theo nghĩa thứ hai, nhưng không phải nghĩa đầu tiên, điều đó có làm ông ta không còn thích hợp nữa để cai trị? Có vẻ như thể nó sẽ là. Sau cùng tất cả, nếu thiếu những đức hạnh công dân, không phải là sau đó ông thiếu những đức hạnh giúp ông hành động vì lợi ích của thành phố hay sao? Nhưng Plato thoát được câu hỏi này. Một nhà cai trị thực sự cần những loại đức hạnh nào? Miễn là chừng nào ông ta cư xử theo đạo đức, chúng ta cần gì phải quan tâm đến động cơ của ông? Nếu hành động của ông là duy nhất ra khỏi từ tình yêu của mình với sự khôn ngoan, chứ không phải tình yêu của mình với thành phố, tác động thế có làm tổn hạicho  gì thành phố trong bất kỳ cách nào đi nữa? Điều làm cho triết gia là người cai trị lý tưởng không phải là những đức hạnh của ông, nhưng kiến​​thức của ông. Vì vậy, miễn chứng nào nhân cách đạo đức của ông không đặt ra một đe dọa tích cực đến lợi ích của thành phố, chúng ta không nên bận tâm mình về nguồn những đức hạnh của triết gia.

(502d-hết) - Plato tuyên bố không có cách nào để giải thích trực tiếp Thể dạng của cái Tốt, nhưng có lý do để tin rằng trong não thức ông, ông có một gì đó xem như là cái Tốt cao nhất. Nhiều học giả tin rằng cái Tốt đã được cho là đồng nhất với cái Một, cái Duy NhấtCái Một đại diện cho thống nhất, và sự thống nhất, đến phiên, liên quan chặt chẽ đến sự quyết tâm. Lợi thế của việc đọc hiểu này là nó giúp giải thích sự kết nối giữa nhận thức và thực tại. Không còn nghi ngờ gì nữa, một cái gì đó chỉ là một điều thực, một điều xác định, vì nó là một điều được thống nhất, là cái Một. Nếu đặc tính này thực sự cái Tốt, sau đó nó làm cho có ý nghĩa rằng cái Tốt chịu trách nhiệm cho tất cả thực tại. Không gì có thể là thực, có thể tồn tại, mà không có đặc tính này. Giúp thêm cho sự đọc hiểu lối này, có những điểm khác trong The Republic Plato nhấn mạnh vào tầm quan trọng của sự thống nhất trong linh hồn và trong thành phố, khi nhắc lại rằng một thành phố mà không có sự thống nhất thì không phải là một thành phố thực sự.

Một ứng viên nhiều khả năng cho Thể dạng của cái Tốt là sự hài hòa. Mặc dù Plato có khen ngợi sự thống nhất tại một số điểm trong The Republic, ông ca ngợi sự hài hòa, trật tự và cân bằng còn nhiều hơn nữa. Hài hòa giữa ba tầng lớp của xã hội làm cho một thành phố lành mạnh, công lý; và sự hài hòa trong linh hồn làm cho một tâm hồn khỏe mạnh, công chính. Khi nói về tính ưu việt của những thể dạng, ông thường nhắc đến trật tự tối cao của chúng, và giải thích rằng chúng làm cho triết gia đạo đức bằng cách gây cảm hứng về cùng một trật tự trong linh hồn của mình. Cái Tốt của mỗi sự vật có thể chỉ đơn giản là sự hòa hợp, trật tự, cân bằng, hoặc tương xứng tỷ lệ, tấ cả thích hợp với nó. Hòa hợp có thể có nghĩa là gì -  khi áp dụng với những thể dạng, vì những thể dạng không có những phần riêng biệt để hài hòa - là kém rõ ràng. Nhưng vì Plato không có thể rõ ràng được hơn trong quan điểm của ông rằng thể dạng là những sự vật trật tự nhất, ông hẳn đã phải nghĩ rằng có một số cách để hài hòa chúng. Có thể là sự lẫn lộn này - không có khả năng để hiểu làm thế nào về những thể dạng có thể có sự hài hòa hoặc trật tự - đã giữ Plato không có thể xác định Thể dạng của cái Tốt.

Trong dụ ngôn đường thẳng phân đoạn, giai đoạn khó khăn nhất để hiểu là sự tưởng tượng. Vì trong Quyển 9, Plato cho thấy nghệ thuật thuộc thể loại này, nhiều người đã hiểu trí tưởng tượng để chỉ một trạng thái của não thức, trong đó sản phẩm nghệ thuật được xem như là những gì thực nhất. Trạng thái này của não thức không phải là gượng gạo như nó có vẻ thế. Hãy tưởng tượng một người có được cảm giác về bản thân và về thế giới xung quanh mình từ những hình ảnh nhìn thấy trên ti vi hoặc trong những phim xi nê. (Trong thời của Plato, những hình thức nghệ thuật tương đương sẽ là thơ sử thi và bi kịch.) Một người như thế không khó để tưởng tượng ra. Chúng ta thậm chí có thể biết một người nào đó như thế .

Những học giả khác, mặc dù vậy, đã tự hỏi liệu Plato có cho rằng nghệ thuật thuộc thể loại của tưởng tượng. Có những hiểu biết khác về tưởng tượng mà không nhắc gì tất cả đến nghệ thuật. Một diễn dịch thuộc loại như vậy, tưởng tượng trỏ một trạng thái, trong đó nhận thức của chúng ta về thế giới là hoàn toàn không phê phán. Trong trạng thái này, chúng ta không cố gắng liên quan một nhận thức này với một nhận thức khác. Chúng ta thấy một phản ánh, và không phân biệt điều này với đối tượng mà nó phản ánh. Tin tưởng, sau đó, sẽ là giai đoạn mà trong đó chúng ta liên hệ những nhận thức của chúng ta, nhưng thất bại, không đặt chúng thành đối tượng với những phân tích phê phán. Một cách đọc liên hệ là gài tưởng tượng như là một trạng thái trong đó chúng ta không tìm cách giải thích, và tin tưởng như một trạng thái mà chúng ta tìm giải thích nhưng chỉ trong thuật ngữ cụ thể, chứ không phải những thuật ngữ phổ quát.

Tư tưởng và hiểu biết được nắm hiểu dễ dàng hơn, vì Plato rõ ràng hơn về chúng. Suy nghĩ là lý luận trừu tượng vốn sử dụng những hình ảnh và những giả định chưa được chứng minh. Hình học là ví dụ hoàn hảo. Trong lý luận về tính chất của tam giác, lấy ví dụ, nhà hình học dùng những hình vẽ những tam giác. Để chứng minh những định lý, họ cần phải kêu gọi đến những tiên đề nhất định được nhận là đúng mà không chứng minh. Lên đến hiểu biết, nó làm cho những tiên đề và những giả thuyết của suy tưởng thành không cần thiết nữa, bằng cách nắm bắt được một mệnh đề phổ quát duy nhất, trên đó có thể lấy làm cơ sở cho toàn bộ kiến ​​thức.





QUYỂN 6
(484a-511e)

SOCRATES kể tiếp tục:

SOCRATES: Vậy sau đó, những ai là triết gia, Glaucon, và những ai không phải là triết gia, qua một biện luận có phần dài và với nhiều cố gắng, đã cách nào đó được làm rõ ràng.
GLAUCON: Đó có lẽ vì không thể dễ dàng làm được bằng một biện luận ngắn hơn.
SOCRATES: Tôi cho rằng không. Tuy nhiên, ít nhất, tôi nghĩ rằng nội dung hẳn sẽ được thực hiện thậm chí còn rõ ràng hơn, nếu chúng ta đã thảo luận chỉ chủ đề đó, và không phải nhiều những thứ còn lại khác cho chúng ta thăm dò nếu chúng ta muốn khám phá sự khác biệt giữa đời sống công chính và đời sống bất công.

(Hiện hữu của Kallipolis: Những nhà vua-triết gia)

GLAUCON: Vậy sau điều này đến điều gì đây?
SOCRATES: Còn điều nào khác nếu không là điều đến theo kế tiếp? Vì những triết gia là những người có khả năng để nắm bắt những gì là luôn luôn như nhau trong tất cả khía cạnh, trong khi những người không thể - những người đi lạc giữa nhiều những điều mà chúng biến đổi trong tất cả những loại đường lối - không phải là triết gia, ai trong hai nên là những nhà lãnh đạo của một thành phố?
GLAUCON: Một trả lời hợp lý để chúng ta đem cho sẽ là gì?
SOCRATES: Người nào trong số họ xem dường có khả năng bảo vệ những pháp luật và những thực hành của một thành phố nên được thiết lập như những người giám hộ.
GLAUCON: Đúng đó.
SOCRATES: Vì vậy, có phải trả lời cho câu hỏi dưới đây là rõ ràng không: một người giám hộ là người sẽ canh chừng trên một sự việc gì đó, nên mù hoặc nên có thị giác sắc bén?
GLAUCON: Dĩ nhiên là thế.
SOCRATES: Tốt, sau đó bạn có nghĩ rằng có bất kỳ sự khác biệt nào, giữa người mù và những người đó là người đang thực sự bị thiếu thốn kiến ​​thức về mỗi sự vật vốn là [1], và không có mô hình rõ rệt của nó trong linh hồn của họ - những người đó là người không thể nhìn ra xa, như những họa sĩ, đến cái gì là thực nhất, và không thể, bằng cách liên tục tham chiếu đến nó, và bằng cách nghiên cứu nó chính xác nhất như có thể, thiết lập ở đây trên mặt đất những quan điểm qui ước về cái đẹp, công chính, hoặc những điều tốt lành khi chúng cần được thiết lập, hoặc bảo vệ, và giữ gìn những điều đó vốn đã được thiết lập?
GLAUCON: Không, có Zeus chứng giám, giữa họ không có nhiều khác biệt.
SOCRATES: Có phải chúng ta sẽ bổ nhiệm những người mù này như những người giám hộ của chúng ta, sau đó, hoặc những ai là người biết mỗi sự vật vốn là, không thiếu kinh nghiệm hơn những người khác [2], và không thua kém họ trong bất kỳ phần khác nào của đức hạnh?
GLAUCON: Nó sẽ là phi lý để lựa chọn bất cứ ai ngoài những triết gia, nếu thực sự họ không thua kém trong những điều khác này. Vì chính lĩnh vực mà trong đó họ trỗi vượt thì đúng là một trong số quan trọng nhất.
SOCRATES: Không phải chúng ta nên giải thích, sau đó, làm thế nào cùng những con người có thể có cả hai tập hợp những phẩm chất?
GLAUCON: Chắc chắn.
SOCRATES: Vậy sau đó, như chúng ta đã nói ở bắt đầu thảo luận này, đầu tiên là cần thiết để hiểu được bản chất của những triết gia [3]. Và tôi nghĩ rằng nếu chúng ta có thể đồng ý đầy đủ về điều đó, chúng ta cũng sẽ đồng ý rằng cùng một người có thể có cả hai phẩm chất, và chỉ mình họ nên là những nhà lãnh đạo trong những thành phố.
GLAUCON: Như thế nào?
SOCRATES: Chúng ta hãy cùng đồng ý rằng những bản chất triết học luôn luôn yêu loại học tập vốn làm rõ ràng cho họ một số đặc tính của tồn tại [4] vốn luôn luôn , và không đi lạc lõng loanh quanh giữa gì-sắp-đếngì-đương-hoại-rữa.
GLAUCON: Vâng, chúng ta hãy.
SOCRATES: Và xa hơn, chúng ta hãy đồng ý rằng họ yêu thích nó tất cả, và không sẵn sàng từ bỏ bất kỳ phần nào, cho dù lớn hay nhỏ, quan trọng hoặc không quan trọng, giống đúng như những người yêu danh dự và những người đam mê, chúng ta đã mô tả trước đây [5].
GLAUCON: Đúng thế.
SOCRATES: Kế tiếp, hãy xem xét liệu có một đặc tính nữa họ phải có trong bản chất của họ hay không, nếu họ sẽ là cách chúng ta đã mô tả.
GLAUCON: Là gì?
SOCRATES: Sự chân thực, đó là nói rằng họ phải không bao giờ sẵn sàng tha thứ đựng sự giả trá trong bất kỳ hình thức nào. Ngược lại, họ phải ghét nó và có một tình cảm tự nhiên với sự thật.
GLAUCON: Họ có lẽ nên có đặc tính này.
SOCRATES: Nhưng không chỉ có lẽ, người bạn tôi ơi, nó là hoàn toàn thiết yếu cho một người đam mê tự nhiên yêu tất cả mọi thứ na ná hơi giống, hoặc có liên quan đến những đứa trẻ ông ta yêu.
GLAUCON: Điều đó đúng.
SOCRATES: Tốt, có thể nào bạn tìm thấy bất cứ điều gì liên quan mật thiết với sự khôn ngoan hơn là sự thật?
GLAUCON: Dĩ nhiên là không.
SOCRATES: Sau đó, có thể nào có được cùng bản chất là một triết gia (người yêu của khôn ngoan) và là người tình của sự dối trá?
GLAUCON: Chắc chắn là không.
SOCRATES: Vì vậy, ngay từ thơ ấu, một người yêu đích thực của sự học hỏi phải nỗ lực vượt trên tất cả cho sự thật của mọi loại.
GLAUCON: Tuyệt đối là thế.
SOCRATES: Nhưng thêm vào đấy, khi những ham muốn của một ai đó mạnh mẽ nghiêng theo một hướng, chúng ta chắc chắn biết rằng họ nghiêng về những hướng khác trở thành yếu hơn, giống như một dòng suối đã một phần nước chuyển vào một kênh khác.
GLAUCON: Tất nhiên.
SOCRATES: Sau đó, khi những mong muốn của một người tuôn chảy về sự học tập và tất cả mọi thứ thuộc loại đó, họ sẽ quan tâm, tôi tưởng tượng, với những vui thú mà linh hồn kinh nghiệm bởi chỉ chính nó, và sẽ thờ ơ với những vui thú vốn đến qua thể xác - nếu thực sự con người không phải là đóng vai giả tạo, nhưng là đúng thật một triết gia.
GLAUCON: Điều đó hoàn toàn không thể tránh.
SOCRATES: Một con người như thế sẽ là chừng mực, điều độ [6], sau đó, và không có cách nào là một người yêu của tiền bạc. Mặc dù, tiền bạc và những khoản chi tiêu lớn đi cùng với nó được tìm kiếm, vì lợi ích của những thứ mà người khác có thể lấy làm chuyện nghiêm trọng, nhưng ông ta thì không.
GLAUCON: Điều đó đúng.
SOCRATES: Và dĩ nhiên, cũng có điều này để cân nhắc khi bạn sẽ phán xét liệu bản chất là triết học hay không.
GLAUCON: Điều gì?
SOCRATES: Bạn không nên bỏ qua phần chia của nó trong sự thiếu phóng khoáng, hẹp hòi [7]; vì chắc chắn đầu-óc-nhỏ-mọn [8] là hoàn toàn không cân xứng với phẩm chất trong một linh hồn vốn luôn luôn vươn ra để nắm bắt lấy tất cả mọi sự vật như một toàn thể, cho dù là thuộc gót hay thuộc con người [9].
GLAUCON: Đó tuyệt đối đúng.
SOCRATES: Và bạn có tưởng tượng rằng một nhà tư tưởng có đầu óc cao rộng đủ để xem xét tất cả thời gian và tất cả hữu thể, sẽ xem đời sống con người là một sự việc rất quan trọng?
GLAUCON: Ông ta không thể có thể.
SOCRATES: Sau đó, ông ta sẽ chẳng xem cái chết là một điều khủng khiếp, sẽ cũng không?
GLAUCON: Ít nhất là không.
SOCRATES: Thế nên một kẻ hèn nhát và bản chất hẹp hòi, rõ ràng là không thể tham dự vào cùng triết học đích thực.
GLAUCON: Không, theo ý kiến ​​ tôi.
SOCRATES: Tốt, sau đó, có bất kỳ cách nào mà một người có trật tự, không là người yêu tiền bạc, hẹp hòi, không là một kẻ lừa đảo nói dối, hoặc một kẻ hèn nhát, có thể đi đến thương thảo khó khăn, hoặc là không công chính?
GLAUCON: Không có.
SOCRATES: Hơn nữa, khi bạn đang xem xét liệu một người nào đó có một linh hồn triết học hay không, bạn sẽ xem xét liệu ông ta là công chính và dịu dàng, ngay từ lúc ông ta còn trẻ, hoặc khó gần gũi, không ưa giao thiệp, và man rợ.
GLAUCON: Dĩ nhiên.
SOCRATES: Và bạn sẽ không bỏ qua điều này, tôi giả thử.
GLAUCON: Điều gì?
SOCRATES: Liệu ông ta là một người học chậm hay một người học nhanh hay không. Hay có phải bạn mong đợi một người nào đó yêu một một gì đó đủ nhiều khiến ông ta phải chịu đau và rất nhiều cố gắng khi làm điều đó, nhưng mang chỉ lại một đền đáp nhỏ?
GLAUCON: Không, nó không thể xảy ra.
SOCRATES: Điều gì sẽ xảy ra nếu ông không thể giữ lại được gì về những gì ông đã học được, vì ông hoàn toàn lãng trí? Có thể nào ông tránh khỏi trống rỗng về kiến ​​thức?
GLAUCON: Dĩ nhiên là không.
SOCRATES: Sau đó, nếu ông làm việc không đi đến đâu, không phải bạn nghĩ rằng cuối cùng ông ta bị buộc thành ghét chính bản thân mình và những gì ông đang làm?
GLAUCON: Dĩ nhiên.
SOCRATES: Thế nên chúng ta hãy đừng bao giờ bao gồm một người có một tâm lý [10] hay quên trong đám những ai là người đầy đủ tính triết lý; người mà chúng ta tìm nên có trí nhớ tốt.
GLAUCON: Tuyệt đối.
SOCRATES: Thêm nữa, chúng ta sẽ từ chối rằng một bản chất không-âm nhạc và khiếm nhã trâng tráo thì bị thu hút đến bất cứ gì ngay cạnh những gì là không-cân đối.
GLAUCON: Tất nhiên.
SOCRATES: Và có phải bạn nghĩ rằng sự thật là tương đồng với những gì là không-cân đối, hay với những gì là cân đối?
GLAUCON: Với những gì là cân đối.
SOCRATES: Sau đó, thêm vào với những điều khác đó, chúng ta hãy cùng tìm một não thức vốn có một ý thức tự nhiên về cân đối và phong nhã, một não thức có thiên hướng bẩm sinh làm nó dễ dàng dẫn đến thể dạng của mỗi sự vật vốn là.
GLAUCON: Đúng vậy.
SOCRATES: Tốt, sau đó, bạn có nghĩ rằng những thuộc tính mà chúng ta đã duyệt qua không phải là được kết nối với nhau, hoặc bất kỳ điều nào trong số chúng là trong bất kỳ cách nào không cần thiết với một linh hồn vốn sẽ có một nắm vững đầy đủ về sự là-gì? [11]
GLAUCON: Không, tất cả chúng là cần thiết tuyệt đối.
SOCRATES: Có bất kỳ sự phê bình nào bạn có thể tìm thấy, sau đó, về một theo đuổi rằng một con người không thể thực hành cho đầy đủ, trừ khi ông ta có trí nhớ tốt tự nhiên, học nhanh chóng, có đầu óc cao rộng, phong nhã, và là một người bạn và bà con thân thuộc với sự thật, công lý, can đảm và tiết độ?
GLAUCON: Ngay cả Momus [12] cũng không có thể phê bình một sự theo đuổi như thế.
SOCRATES: Tốt, sau đó, khi con người thuộc loại này, trong điều kiện toàn hảo vì giáo dục và giai đoạn của đời sống của họ, không phải bạn sẽ giao phó thành phố với chỉ mình họ?

Và Adeimantus trả lời:

Không ai, Socrates, sẽ có khả năng mâu thuẫn với những tuyên bố này của ông. Nhưng dẫu thế, ở đây là khá nhiều kinh nghiệm người ta có trên bất cứ dịp nào trong đó họ nghe những loại gồm những điều ông đang nói: họ nghĩ rằng vì họ thiếu kinh nghiệm trong việc hỏi và đáp những câu hỏi, họ bị dẫn lệch đi một chút bởi từng luận chứng ở mọi câu hỏi, và như thế, khi những một-chút này được cộng chung vào nhau ở cuối của thảo luận, một bước sai lạc lớn hiện ra mà nó là trái ngược với những gì họ đã nói ở lúc khởi đầu. Giống như người không chuyên môn, không có tay nghề, người cuối cùng bị mắc bẫy của những người chơi cờ checker thông minh, và không thể đi thêm nước cờ, họ cũng cuối cùng bị mắc bẫy, và không có gì để nói trong loại khác biệt này của môn cờ checker, vốn không chơi bằng những quân cờ, nhưng bằng những ngôn từ. Tuy thế, họ không nghiêng thêm hơn một chút sang phía nghĩ rằng những gì ông tuyên bố là đúng. Tôi nói điều này liên hệ đến trường hợp hiện tại. Ông thấy đấy, một ai đó bây giờ cũng có thể nói rằng ông ta không thể tìm thấy những từ để chống lại ông, như ông hỏi mỗi câu hỏi của ông. Tuy nhiên, khi đi đến những sự kiện chứ không phải là những từ ngữ, người ấy thấy rằng tất cả những ai là người thực hành triết lý - không phải là những người chỉ đơn thuần nhúng mình vào trong nó khi vẫn còn trẻ để hoàn tất giáo dục của họ, và sau đó buông rơi nó, nhưng những người tiếp tục trong nó trong một thời gian dài hơn - phần lớn trở thành lập dị, không phải nói là xấu hoàn toàn, trong khi những người xem dường như tốt nhất lại đóng vai vô dụng với thành phố vì sự theo đuổi vốn ông đã đề nghị.

Khi tôi đã nghe anh ta xong hết, tôi nói:
Có phải bạn nghĩ những gì những người này nói là sai?
ADEIMANTUS: Tôi không biết. Nhưng tôi sẽ hân hạnh nghe những gì ông nghĩ.
SOCRATES: Bạn sẽ nghe rằng - với tôi, họ xem dường nói sự thật.
ADEIMANTUS: Làm sao, sau đó, có thể là đúng để nói rằng sẽ không có chấm dứt với những xấu ác trong những thành phố chúng ta cho đến khi nào những triết gia - người chúng ta đồng ý là vô dụng với những thành phố - cai trị trong chúng?
SOCRATES: Câu hỏi bạn hỏi cần được trả lời bằng những phương tiện của một hình ảnh [13].
ADEIMANTUS: Và ông, dĩ nhiên, không thường quen nói trong những hình ảnh!
SOCRATES: Thế đấy! Sau khi đẩy cho tôi với một tuyên bố vốn là khó khăn để thiết lập như thế, có phải bạn đương chế nhạo tôi nữa chăng? Dù sao đi nữa, lắng nghe tôi kể hình ảnh, và bạn sẽ cảm kích tất cả hơn nữa tôi phải chọn lọc như thế nào để tạo nên những hình ảnh. Những gì những triết gia tài giỏi nhất có kinh nghiệm trong liên hệ với những thành phố thì quá khó để gánh vác nên không có một kinh nghiệm duy nhất nào giống như nó. Về mặt ngược lại, một người phải xây dựng hình ảnh riêng và sự bào chữa riêng của mình về những triết gia này từ nhiều nguồn, giống đúng như những họa sĩ vẽ những con nửa-dê-nửa-hươu-núi [14] bằng cách kết hợp những nét đặc thù của những sự vật khác nhau.
Hãy tưởng tượng, sau đó, những loại sư việc sau đây xảy ra trên một hoặc nhiều con tàu. Người chủ tàu thì cao hơn và mạnh hơn tất cả mọi người khác trên tàu. Tuy nhiên, ông bị bệnh lãng tai, mắt ông hơi cận thị, và kiến thức tương ứng của ông về đi biển là thiếu xót. Những thủy thủ đương cãi vã với nhau về cương vị thuyền trưởng [15]. Mỗi người trong họ đều nghĩ rằng mình nên làm thuyền trưởng con tàu, mặc dù anh ta chưa từng được học kỹ năng, và không thể nhắc tên người thày dạy của mình, hoặc thời gian nào, nếu như anh ta đã có học nghề đó. Thật vậy, họ còn đi xa hơn và tuyên bố rằng nghề đó không thể dạy được chút nào tất cả, và thậm chí còn sẵn sàng cắt ra từng mảnh bất cứ người nào nói rằng nó là có thể. Họ luôn luôn tạo thành đám đông bao quanh chính người chủ tàu, cầu xin ông ta, và làm tất cả mọi thứ có thể làm được để ông ta trao bánh lái con tàu cho họ. Và đôi khi, nếu họ không thuyết phục được ông ta, và những người khác thành công, họ giết hoặc ném những người khác đó xuống biển. Sau đó, khi đã vô hiệu hóa người chủ tàu cao thượng của họ với thuốc mê mandragora [16] hoặc rượu uống, hoặc bằng một vài cách khác, họ cai trị con tàu, phần rượu trong khối hàng hóa con tàu đem uống hết, và tiệc tùng no nê, và làm thứ hải hành bạn sẽ mong đợi với những người loại như vậy. Ngoài ra, họ ca tụng bất cứ một ai là thông minh trong việc thuyết phục hoặc ép buộc chủ tàu để cho họ cai trị, gọi anh này là một “thủy thủ”, một “thuyền trưởng tay nghề cao“, và “một người chuyên môn về tàu”, trong khi gạt bỏ bất cứ ai nào khác như là một kẻ vô dụng, chẳng nên tích sự gì. Họ không hiểu rằng một thuyền trưởng thực phải chú ý đến những mùa trong năm, bầu trời, những vì sao, những luồng gió, và tất cả những điều vốn gắn chặt với kỹ năng của ông ta, nếu ông ta thực sự sẽ là người chuyên môn về chỉ huy điều khiển một con tàu. Về phần như thế nào ông sẽ trở thành thuyền trưởng của con tàu, cho dù người ta muốn ông ta hay không, họ không nghĩ rằng là có thể có được kỹ năng, hoặc thực tập được về ứng dụng kỹ năng này, cùng một lúc như là kỹ năng của nghề thuyền trưởng. Khi như thế là những gì xảy ra trên những con tàu, bạn không nghĩ rằng một thuyền trưởng thực sự sẽ chắc chắn bị gọi là một “kẻ ngắm sao”, một “kẻ vô dụng chỉ nói như khướu”, và một kẻ “chẳng nên tích sự gì” bởi những ai là người đi trên con thuyền được cai quản như thế?
ADEIMANTUS: Tôi chắc chắn.
SOCRATES: Tôi không nghĩ rằng bạn cần phải xem xét hình ảnh để thấy sự tương đồng với những thành phố và chúng có tâm trạng thế nào với những triết gia thực sự, nhưng bạn đã hiểu ý tôi nói rồi.
ADEIMANTUS: Thực vậy, tôi hiểu.
SOCRATES: Trước tiên hãy dạy hình ảnh này, sau đó, với ai là người ngạc nhiên rằng những triết gia không được tôn vinh trong những thành phố, và hãy cố gắng thuyết phục người ấy rằng nó sẽ là đáng ngạc nhiên hơn rất nhiều nếu như họ đã được vinh danh.
ADEIMANTUS: Tôi sẽ.
SOCRATES: Hơn nữa, cố gắng thuyết phục người ấy rằng bạn đang nói sự thật, khi bạn nói rằng triết gia tốt nhất trong số họ là vô dụng với dám đông quần chúng. Nhưng bảo anh ta hãy đổ trách nhiêm về sự vô dụng của họ với những người không đem họ sử dụng, không phải với những triết gia tốt đó. Bạn thấy, không phải là điều hợp tự nhiên để cho thuyền trưởng đi cầu xin những thủy thủ hãy chịu sự quản trị của ông ta, cũng như không phải là tự nhiên để người khôn ngoan đến gõ cửa những nhà giàu có. Con người đã đưa ra mảnh ngụy biện đó đã nói dối [17]. Điều gì là thật sự tự nhiên - với người bệnh, dù giàu hay nghèo, là đi đến cửa những y sĩ, và cho bất cứ ai có nhu cầu muốn được cai trị đi đến những cửa của một trong những người có thể cai trị người ấy. Không phải là người cai trị - nếu ông thực sự là có bất kỳ chỗ dùng nào  - để cầu xin những đối tượng hãy chấp nhận sự cai trị của ông. Bảo cho người ấy, anh ta sẽ không sai lầm nếu anh thấy có giống nhau giữa những nhà cầm quyền chính trị hiện tại của chúng ta với những thủy thủ, chúng ta vừa đề cập một chút trước đây, và người được những thủy thủ gọi là ngắm sao vô dụng với thuyền trưởng thực sự của con tàu.
ADEIMANTUS: Đó là hoàn toàn đúng.
SOCRATES: Vì những lý do như thế, sau đó, và trong những trường hợp này, không phải là dễ dàng cho sự theo đuổi tốt nhất vốn nó được vinh danh, với những người có những theo đuổi của họ nhưng lại rất đối ngịch với. Tuy nhiên, cho đến nay vu khống lớn nhất và nghiêm trọng nhất mang lại trên triết lý là từ những người tuyên xưng mình thực hành nó - những người mà công tố viên của triết học tuyên bố, như bạn nói, rằng đa số những người là người lôi triết học ra để bận bịu với nó là hoàn toàn xấu, trong khi những người tốt nhất là vô dụng. Và tôi đã thừa nhận rằng những gì bạn nói là sự thật, phải không?
ADEIMANTUS: Đúng.
SOCRATES: Bây giờ không phải là chúng ta đã giải thích lý do tại sao những người tốt là vô dụng?
ADEIMANTUS: Chúng ta chắc chắn đã.
SOCRATES: Kế tiếp, bạn có muốn chúng ta thảo luận về lý do tại sao một số lớn hơn không thể tránh khỏi là xấu, và cố gắng để cho thấy, nếu chúng ta có thể, rằng triết học cũng không phải chịu trách nhiệm về điều này?
ADEIMANTUS: Chắc chắn.
SOCRATES: Vậy chúng ta hãy cùng bắt đầu cuộc nói chuyện của chúng ta bằng nhớ lại điểm khởi hành của sự mô tả của chúng ta về bản chất của một người nào đó phải có, nếu ông ta là trở nên một người đáng đề cao và tốt. Trước hết tất cả, nếu bạn còn nhớ, ông ta được sự thật dẫn dắt, và ông phải đi theo nó hết lòng và dứt khoát, đến khổ để cố tránh tư cách một kẻ mạo danh lừa dối, với không có phần chia nào tất cả trong triết học thực sự.
ADEIMANTUS: Đó là những gì chúng ta đã nói.
SOCRATES: Tốt, không phải chỉ sự kiện ấy thôi là hoàn toàn trái với tin tưởng hiện đang có về ông ta?
ADEIMANTUS: Nó chắc chắn là.
SOCRATES: Vì vậy, sẽ không phải là hợp lý, sau đó, để chúng ta thỉnh cầu khi bào chữa cho ông ta, rằng một người yêu thực sự của sự học tập tự nhiên hết sức cố gắng để hiểu sự-vật là-gì? [18] Ông không nấn ná ở mỗi những điều đã được tin là, nhưng tiếp tục đi tới, không mất đi hoặc giảm bớt đam mê của mình, cho đến khi ông nắm lấy những gì bản chất của tự thân mỗi sự vật [19], với phần của linh hồn ông ta đã trang bị để nắm bắt một điều thuộc loại đó, vì quan hệ họ hàng của linh hồn ông với nó. Một khi ông đã bị kéo lại gần nó, giao hợp với những gì thực-là, và đã sinh sản ra sự hiểu biết và sự thật, ông biết, sống thực, được nuôi dưỡng, - và ở thời điểm đó, nhưng không trước đó - là được nhẹ cơn đau đẻ của mình [20].
ADEIMANTUS: Không gì có thể có lý hơn.
SOCRATES: Tốt, sau đó, một người thuộc loại như thế sẽ yêu sự giả dối, hoặc hoàn toàn ngược lại, đối với thói đời thời thượng, ông ta sẽ ghét nó?
ADEIMANTUS: Ông ta sẽ ghét nó.
SOCRATES: Và nếu sự thật đi dẫn đường, chúng ta sẽ không bao giờ nói, tôi tưởng tượng, rằng một dàn hợp xướng của những tệ nạn có thể theo sau chân nó.
ADEIMANTUS: Dĩ nhiên là không.
SOCRATES: Ngược lại, theo sau nó là một nhân cách khỏe mạnh và công chính, và những điều độ đi kèm với nó.
ADEIMANTUS: Đúng vậy.
SOCRATES: Những gì cần là có đấy, sau đó, đi trở lại từ đầu và buộc phần còn lại của dàn hợp xướng của bản chất triết học phải xếp hàng lại tất cả một lần nữa? Bạn chắc chắn nhớ rằng lòng can đảm, đầu óc cao rộng, học hỏi dễ dàng, và một trí nhớ tốt, tất cả thuộc về những triết gia. Sau đó, bạn phản đối rằng dù bất cứ ai cũng sẽ buộc phải đồng ý với những gì chúng ta đang nói, nhưng mà nếu ông ta bỏ những luận chứng sang một bên, và xem xét chính những người mà luận chứng nói về họ, ông ta sẽ nói rằng một số những người ông nhìn thấy là vô dụng, trong khi phần lớn họ là hoàn toàn xấu. Khi cố gắng để khám phá lý do của sự vu khống này, bây giờ chúng ta đã đến câu hỏi này: tại sao phần lớn trong số họ là xấu? Và đó là lý do tại sao chúng ta một lần nữa lại nêu lên bản chất của những triết gia đích thực và xác định những gì nhất thiết phải có được.
ADEIMANTUS: Đúng thế.
SOCRATES: Bây giờ những gì chúng ta phải làm là xem xét những cách thức bản chất này bị làm hư hỏng, trong phần lớn những trường hợp nó bị phá hủy hoàn toàn như thế nào, trong khi một số nhỏ lại thoát – đây chính là những trường hợp bị gọi là vô dụng, chứ không phải là xấu. Tiếp theo sau đó, chúng ta phải xem xét những ai là người bắt chước bản chất này và chấp nhận theo đuổi nó. Chúng ta phải nhìn thấy những bản chất gì linh hồn có nó để đem vào một theo đuổi vốn là quá có giá trị và quá cao cho chúng – những linh hồn, vì thường đánh những nốt sai, đem cho triết học tai tiếng mà bạn cho biết đã có với các tất cả mọi người ở khắp mọi nơi.
ADEIMANTUS: Ông muốn nói đến những loại băng hoại nào?
SOCRATES: Tôi sẽ cố gắng giải thích chúng cho bạn nếu tôi có thể. Tôi tưởng tượng rằng tất cả mọi người sẽ đồng ý với chúng ta về điều này: loại bản chất vốn nó sở hữu tất cả các phẩm chất chúng ta vừa quy định cho ai là người sẽ là một triết gia hoàn chỉnh, thì hiếm khi thấy giữa những con người, và sẽ có số ít những người sở hữu nó. Hay bạn không nghĩ thế?
ADEIMANTUS: Tôi chắc chắn nghĩ thế.
SOCRATES: Vậy sau đó, hãy xem xét có bao nhiêu nguồn gốc lớn của hủy diệt cho số ít đó?
ADEIMANTUS: Chúng là gì?
SOCRATES: Điều đáng ngạc nhiên nhất trong tất cả khi nghe là mỗi một trong những điều trong bản chất mà chúng ta ca ngợi đó, có xu hướng làm hư hỏng linh hồn có nó, và kéo linh hồn đi xa khỏi triết học. Tôi muốn nói đến can đảm, tiết độ, và những thứ khác chúng ta đã đề cập.
ADEIMANTUS: Điều đó nghe quả lạ lùng.
SOCRATES: Hơn nữa, thêm vào những điều đó, tất cả những điều được gọi là những điều tốt cũng làm hư hỏng nó và kéo nó đi xa - đẹp, giàu có, sức mạnh thể chất, những liên kết gia đình mạnh mẽ trong thành phố, và tất cả những gì đi kèm với những điều này. Bạn hiểu mô hình tổng quát của những điều mà tôi muốn nói?
ADEIMANTUS: Tôi hiểu, và tôi sẽ vui để có được một hiểu biết chính xác hơn về nó.
SOCRATES: Nắm lấy nguyên tắc tổng quát cho chính xác và vấn đề sẽ trở nên rõ ràng với bạn, và những gì tôi nói về nó trước đây sẽ không có vẻ kỳ lạ.
ADEIMANTUS: Ông nói tôi nắm bắt cái gì?
SOCRATES: Trong trường hợp của tất cả mọi thứ hạt giống hoặc sự vật lớn dậy, cho dù là thực vật hoặc động vật, chúng ta biết rằng nếu nó thất bại không có được thức ăn, khí hậu, hoặc vị trí phù hợp cho nó, sau đó càng cường tráng hơn bao nhiêu, nó càng thiếu hụt hơn về những phẩm chất thích đáng với nó. Vì chắc chắn xấu thì trái ngược với tốt, hơn là với không-tốt.
ADEIMANTUS: Dĩ nhiên.
SOCRATES: Thế nên, tôi giả định nó là hợp lý cho rằng bản chất tốt nhất rơi rụng đi tồitệ hơn so với một bản chất kém hơn, vì không được nuôi dưỡng cho thích hợp.
ADEIMANTUS: Nó là.
SOCRATES: Tốt, sau đó, Adeimantus, không phải là chúng ta cũng sẽ nói rằng nếu những linh hồn với những bản tính tốt nhất nhận một giáo dục xấu, chúng trở nên xấu khác thường? Hay có phải bạn nghĩ rằng những bất công lớn nhất và xấu ác không pha trộn, bắt nguồn từ một bản chất thấp kém, chứ không phải là trong một bản chất cường tráng nhưng đã bị hư hỏng qua dưỡng dục của nó? Hay là một bản chất yếu có từng bao giờ chịu trách nhiệm về những điều tốt đẹp lớn lao hay những điều xấu xa lớn lao?
ADEIMANTUS: Không, ông là đúng.
SOCRATES: Tốt, sau đó, nếu bản chất chúng ta đề nghị cho những triết gia xảy ra là nhận được hướng dẫn thích hợp, tôi tưởng tượng nó chắc chắn sẽ lớn lên đạt được mọi đức hạnh. Nhưng nếu nó không được gieo hạt, trồng và nuôi lớn trong một môi trường thích hợp, nó sẽ phát triển hoàn toàn theo cách ngược lại, trừ khi một vài gót đi đến giúp đỡ nó. Hay có phải bạn cũng thế, tin như đám quần chúng, rằng một số giới trẻ bị những sophist làm hư hỏng – rằng có những sophist, cá nhân tư nhân, những người làm hư hỏng chúng đến một mức độ đáng kể? Nhưng đúng hơn, không phải là chính người là người nói điều này, là sophist vĩ đại nhất của tất cả, là người giáo dục hiệu quả nhất, và đào tạo những người già lẫn trẻ đúng như thứ mà họ mong muốn hay không?
ADEIMANTUS: Họ làm điều đó lúc nào?
SOCRATES: Khi nhiều người trong số họ ngồi cùng với nhau trong những hội đồng, tòa án, nhà hát, trại quân, hoặc bất kỳ tụ tập nào của một đa số công chúng, và với một náo động lớn, phản đối quá đáng với một số trong những điều đã được nói hoặc làm, sau đó chấp thuận quá đáng với những điều khác, la hét và vỗ tay; và khi nào, thêm vào ngoài chính những người này, những núi đá và chính không gian xung quanh dội tiếng vang, và làm tăng gấp đôi náo động của hoan hô hay đả đảo của họ. Trong một tình huống như thế, bạn nghĩ thế nào – như câu tục ngữ nói - tim của một người trẻ bị ảnh hưởng? [21] Làm thế nào để rồi đây dù cho bất cứ loại giáo dục cá nhân nào anh ta nhận được sẽ giữ cho anh ta vững vàng mạnh mẽ, và không bị khen ngợi và khiển trách loại như thế cuốn đi, và không bị trôi đi bởi lũ lụt đến bất cứ nơi nào nó trôi đi, khiến anh sẽ gọi cùng những sự vật là đẹp hay xấu, giống như những đám người này, thực hành những gì họ thực hành, và trở nên giống như họ?
ADEIMANTUS: Sự thúc ép phải làm như vậy sẽ là rất lớn lao, Socrates.
SOCRATES:  Thế nhưng chúng ta đã vẫn chưa đề cập đến sự thúc ép lớn nhất của tất cả.
ADEIMANTUS: Đó là gì?
SOCRATES: Đó là những gì những nhà giáo dục và những sophist này áp đặt bằng những hành động của họ nếu những lời nói của họ thất bại không thuyết phục được. Hoặc bạn không biết rằng họ trừng phạt bất cứ ai là người là không chịu bị thuyết phục, với tước quyền công dân, tước quyền bầu cử, tiền phạt, hoặc giết chết?
ADEIMANTUS: Họ chắc chắn làm.
SOCRATES: Có sophist nào khác, sau đó, hoặc có loại những truyện trò tư nhân nào khác bạn nghĩ rằng sẽ phản đối những điều này và chứng minh mạnh mẽ hơn được không?
ADEIMANTUS: Không, tôi tưởng tượng.
SOCRATES: Không, thực vậy, thậm chí chỉ cố phản đối thử cũng sẽ là rất ngu dại. Bạn thấy, giờ đây không có, chưa bao giờ từng có, cũng chẳng bao giờ sẽ có, một nhân vật có quan điểm về đức hạnh đi trái với giáo dục những người này cung cấp. Tôi muốn nói là một nhân vật bằng xương thịt, bạn đồng chí ơi – chứ còn gót, như tục ngữ nói, là một ngoại lệ vớ qui luật. Bạn có thể chắc chắn rằng nếu bất cứ điều gì được cứu vớt và quay ra thành tốt đẹp trong những hệ thống chính trị tồn tại hiện nay, bạn sẽ không nhầm lẫn khi nói rằng sự phù hộ hay mệnh thần linh đã cứu nó.
ADEIMANTUS: Đó là những gì tôi nghĩ, cũng thế nữa.
SOCRATES: Tốt, sau đó, bạn cũng nên đồng ý điều này.
ADEIMANTUS: Điều gì?
SOCRATES: Mỗi những người làm việc theo lối tính-công-ăn-lương, tư nhân này - những người mà những người (làm chính trị) này gọi là những sophist và xem là đối thủ của họ về kỹ năng [22] - họ không dạy bất cứ điều gì khác hơn là những quan điểm xác quyết, vốn đám đông quần chúng đã chủ trương khi họ hội họp với nhau, và điều này ông gọi là sự khôn ngoan. Nó cũng giống đúng như một người nào đó đã học được những đam mê và ham muốn của một con thú khổng lồ và mạnh mẽ, vốn ông ta đương nuôi dạy - tiếp cận và đối xử với nó như thế nào, khi nó là khó khăn nhất hay ngoan ngoãn nhất để đối phó với, và những gì khiến nó như vậy, những âm thanh nào nó thốt ra trong mỗi điều kiện nào, và giọng nó nói có thanh âm êm dịu hay giận dữ với điều kiện đó. Sau khi học được tất cả điều này qua gắn bó và dành thời gian [23] với con thú, ông gọi điều này là sự khôn ngoan, gom nhặt thông tin [24] của ông lại cùng với nhau như thể nó đã là một kỹ năng, và bắt đầu đem nó ra dạy. Không biết gì trong thực tại về những gì mà những tin tưởng hoặc ham muốn này là cao quí hoặc đáng xấu hổ, tốt hay xấu, công chính hoặc không công bằng, ông đã sử dụng tất cả những thuật ngữ này trong sự phù hợp với những tin tưởng của con thú to lớn này - gọi những điều nó ham thích là tốt và những điều nó tức giận là xấu. Ông không có giải thích nào khác để đem cho họ, ngoại trừ gọi tất cả mọi thứ ông bắt buộc phải làm là công chính, và cao quí, không bao giờ từng thấy những bản chất của sự thiết yếu và sự tốt đẹp thực sự khác nhau, và không có khả năng để giải thích nó cho bất cứ ai. Bạn không nghĩ hay sao, có Zeus chứng giám, rằng một người nào giống thế sẽ làm một nhà giáo dục kỳ lạ?
ADEIMANTUS: Tôi có, thực vậy.
SOCRATES: Sau đó, có phải người này xem dường có bất kỳ khác biệt nào với một ai là người tin rằng sự khôn ngoan là sự hiểu biết những đam mê và những thích thú của quần chúng – đám dân chúng hỗn tạp đủ mọi loại - những người hội họp với nhau, bất kể về phương diện hội họa, âm nhạc, hay chính trị, cho vấn đề đó? Vì nếu một người cộng tác với quần chúng và trưng bày thơ của ông hoặc một vài tác phẩm nào khác từ kỹ năng khéo léo với họ, hoặc dịch vụ của ông với thành phố, và đem cho họ ưu thế làm chủ hơn ông ta đến bất kỳ một mức độ còn vượt quá những gì không thể tránh, ông sẽ là dưới sự ép buộc của Diomedean [25], như nó được người ta gọi thế, để tạo ra những sự vật mà họ chấp nhận. Nhưng những sự vật như vậy là tốt và đẹp thực sự,-  bạn đã có bao giờ nghe bất cứ ai trình bày một luận cứ cho kết luận đó rằng đó không phải là hoàn toàn vô lý?
ADEIMANTUS: Không có, và tôi không cho rằng tôi sẽ không bao giờ.
SOCRATES: Vì vậy, sau đó, giữ tất cả thế đó trong não thức, hãy nhớ lại câu hỏi trước đây của chúng ta: có thể nào đám đông đảo – đám đa số - trong bất kỳ cách nào rộng rãi cho phép, hay chấp nhận rằng cái đẹp tự thân (như trái ngược với nhiều những sự vật đẹp), hoặc mỗi một sự vật tự thân (như trái ngược với nhiều tương ứng những sự vật), hiện hữu?
ADEIMANTUS: Không, ít nhất.
SOCRATES: Nó là không thể, sau đó, cho đa số là thành thông thái triết học.
ADEIMANTUS: Không thể nào.
SOCRATES: Và như vậy, ai là người thực hành triết lý chắc chắn không tránh khỏi bị họ gièm pha, miệt thị?
ADEIMANTUS: Chắc chắn không thể tránh.
SOCRATES: Và cũng bởi những cá nhân liên kết với đám đông đa số và muốn làm vui lòng họ.
ADEIMANTUS: Rõ ràng.
SOCRATES: Trên cơ sở những sự kiện này, sau đó, bạn có nhìn thấy bất kỳ cách nào để bảo tồn bản chất triết học và giữ cho chắc chắn rằng nó sẽ tiếp tục thực hành triết lý và đi đến cuối? Hãy xem xét câu hỏi dưới ánh sáng của những gì chúng ta đã nói trước đây. Chúng ta đồng ý rằng dễ dàng trong việc học tập, một trí nhớ tốt, can đảm, và đầu óc cao rộng thuộc về bản chất triết học.
ADEIMANTUS: Đúng.
SOCRATES: Ngay từ khởi đầu, sau đó, sẽ không phải một người nào như thế đó sẽ đứng đầu trong số những trẻ em về tất cả mọi thứ, đặc biệt là nếu bản chất của thể xác nó phù hợp với của linh hồn nó?
ADEIMANTUS: Dĩ nhiên, nó sẽ.
SOCRATES: Vì vậy, khi đứa trẻ lớn lên, tôi tưởng tượng, gia đình và công dân đồng bào của anh ấy sẽ muốn làm cách dùng anh trong liên hệ với những công việc của của riêng họ.
ADEIMANTUS: Chắc chắn.
SOCRATES: Họ sẽ quì xuống trên đầu gối của họ, cầu xin đặc ân từ anh và tôn vinh anh ấy, tâng bốc trước khi thời gian xảy đến về quyền lực sẽ là của anh ấy, vì vậy để bảo đảm giữ cho bản thân chính họ.
ADEIMANTUS: Đó thường là những gì xảy ra, ít nhất.
SOCRATES: Bạn nghĩ gì về một người như thế sẽ làm trong những trường hợp giống như thế - đặc biệt nếu xảy ra anh ta sẽ là từ một thành phố lớn, nơi anh giàu có và quý phái, và nếu anh ta là người đẹp trai và vóc dáng cũng cao lớn nữa? Sẽ không phải là một kỳ vọng không thực tế rót đầy anh ta, và tự nghĩ mình có khả năng quản lý công việc, không chỉ của dân Hylạp, nhưng cũng cả của những dân man rợ ngoại quốc nữa? Và không phải là anh ta sẽ tự tâng bốc mình lên những đỉnh hết sức cao, như là kết quả, và là tràn ngập với tuyên xưng và tự hào trống rỗng, vô nghĩa? [26]
ADEIMANTUS: Anh ấy chắc chắn sẽ.
SOCRATES: Bây giờ, giả sử có một người nào đó nhẹ nhàng tiếp cận một người trẻ trong trạng thái đó của não thức và bảo anh sự thật: rằng anh không có thông minh khôn ngoan, mặc dù anh cần nó, và rằng nó không thể thu hoạch được, trừ khi anh làm việc như một nô lệ để đạt được nó. Bạn có nghĩ rằng sẽ là dễ dàng để anh ta để nghe thông điệp đó qua những tệ nạn bao quanh anh ta?
ADEIMANTUS: Còn xa mới thế được.
SOCRATES: Và giả sử rằng, vì bản chất cao quý của mình và mối quan hệ đồng cảm tự nhiên với những luận chứng như vậy, anh ta bằng cách nào đó nhìn thấy vấn đề, và quay sang bị triết học thu hút. Chúng ta phải giả sử gì với những người này rằng họ sẽ làm gì nếu họ tin rằng họ đang mất đi những dịch vụ và đồng hành của anh ta? Có bất cứ điều gì mà họ sẽ không làm, hoặc nói, nhìn về phía anh ta, để ngăn chặn anh ta tránh khỏi, đừng bị thuyết phục? Hoặc có bất cứ điều gì mà họ sẽ không làm, hoặc nói, nhìn về phía anh ta, để ngăn chặn anh ta đừng thành công, cho dù đó là trong những âm mưu riêng tư, hoặc những vụ xử nơi tòa án công cộng? [27]
ADEIMANTUS: Chắc chắn không.
SOCRATES: Sau đó, có bất kỳ một cơ hội nào mà một người như thế sẽ thực hành triết lý?
ADEIMANTUS: Tuyệt không.
SOCRATES: Bạn có thấy không, sau đó, chúng ta đã không sai khi nói rằng một bản chất triết học được nuôi dạy lớn lên một cách tệ hại, chính những thành phần đích thực của nó - cùng với những điều khác được gọi là những tốt đẹp, loại như giàu có và tất cả những thứ cung cấp cùng thuộc loại như thế - trong cách nào đó là nguyên nhân của việc nó bỏ rơi xa khỏi theo đuổi?
ADEIMANTUS: Không, chúng ta không sai. Những gì chúng ta đã nói là đúng.
SOCRATES: Đó bạn đúng đấy, sau đó, người bạn tuyệt vời! Đó là mức độ của loại gồm phá hủy và tham nhũng mà bản chất thích hợp nhất để cho sự theo đuổi cao quý nhất trải qua. Và một bản chất loại như vậy, dù sao đi nữa, là một xuất hiện hiếm hoi, chúng ta tuyên bố. Hơn nữa, những ai sở hữu nó là những người làm những điều tồi tệ nhất với những thành phố và những cá nhân, và cũng có thể - nếu xảy ra họ được cuốn đi theo lối đó vì dòng nước– làm điều tốt đẹp bậc nhất. Vì bản chất nhỏ nhoi không bao giờ làm được bất cứ điều gì lớn lao, hoặc cho cá nhân hoặc cho một thành phố.
ADEIMANTUS: Điều đó rất đúng.
SOCRATES: Như thế, khi những người này, người mà triết học là thích hợp nhất với họ, buông rơi xa khỏi nàng triết học, để nàng bơ vơ và góa bụa, và bản thân họ sống một cuộc sống không thích hợp và không đúng thật. Sau đó những người khác, những người không xứng đáng với nàng, đến với nàng như một đứa trẻ mồ côi, không liên hệ họ hàng ruột thịt nào, và làm xấu hổ nàng. Họ là những người chịu trách nhiệm về những khiển trách mà bạn nói được ném lên triết học bởi những kẻ miệt thị nàng – rằng một số những phối ngẫu của nàng là vô dụng, trong khi đa số đáng hứng chịu nhiều những xấu tệ.
ADEIMANTUS: Vâng, đó là những gì họ nói.
SOCRATES: Và đó là một điều hợp lý để nói. Vì những con người nhỏ bé không giá trị thực, họ thấy vị trí này trở nên bỏ trống, mặc dù nó tràn ngập với những khen thưởng và tuyên xưng đẹp đẽ, và như những tù nhân trốn thoát nhà tù và chọn trú ẩn trong một đền thờ  - vui sướng nhảy vọt từ những kỹ năng của họ đến với triết học. Đây là những người tinh vi nhất trong tài khéo kỹ thuật nhỏ mọn của mình. Bạn thấy, ít nhất là trong so sánh với những kỹ năng khác, và ngay cả trong trạng thái hiện tại của của nó, triết học vẫn có một danh tiếng lớn rộng hơn. Và đó là những gì nhiều người hướng đến, những người có bản chất khiếm khuyết, có linh hồn câu thúc gò bó và hư hỏng bởi những công việc tay chân khi cơ thể của họ bị cong oằn biến dạng vì kỹ năng và nghề nghiệp của họ. Không phải đó là những gì sẽ xảy ra không thể tránh?
ADEIMANTUS: Chắc chắn.
SOCRATES: Bạn có nghĩ rằng họ trông không có một chút khác biệt nào hơn, với một anh thợ rèn hói đầu đứng đầu, người đã vớ một số tiền, và mới được thả ra khỏi nhà tù của chủ nợ, đã tắm rửa, khoác lên mình một chiếc áo choàng mới, tỉnh giấc như một chú rể, và sắp sửa kết hôn với con gái của ông chủ vì cô ấy nghèo và bị bỏ rơi?
ADEIMANTUS: Họ không khác nhau gì tất cả.
SOCRATES: Loại những con cái nào họ có khả năng sinh đẻ, sau đó? Không phải con cái của họ là khốn khổ bất hợp pháp?
ADEIMANTUS: Không tránh khỏi.
SOCRATES: Thế còn khi những người không có giá trị xứng đáng về giáo dục tiếp cận triết học và giao thiệp với nàng theo một cách bất xứng với nàng thì sao? Những loại suy nghĩ và tin tưởng nào chúng ta có thể nói họ sẽ sinh nở ra? Không phải chúng sẽ là những gì thực sự và thích đáng được gọi là những lý thuyết sophist, vì chúng không có gì nguyên thủy hoặc thật sự khôn ngoan về chúng?
ADEIMANTUS: Tuyệt đối.
SOCRATES: Như thế sau đó vẫn còn lại, Adeimantus, chỉ có một nhóm rất nhỏ những người kết giao với triết học trong một lối vốn là xứng đáng với nàng: một nhân cách được nuôi dạy khéo léo và cao thượng, có lẽ, thành tựu vì sống lưu vong, người giữ đúng với bản chất mình, và vẫn ở lại với triết học vì không có ai đến làm hư hỏng ông ta, hoặc một linh hồn lớn sống trong một thành phố nhỏ, một người khinh thường công việc của thành phố và nhìn xa vượt ngoài phạm vi chúng. Một số rất ít có lẽ có thể đi đến triết học từ những nghề kỹ thuật khác mà những người này khinh thường là đúng vì họ có bản chất tốt. Và một số có thể bị giữ lại vì giây cương ràng buộc vốn kiềm chế người bạn của chúng ta Theages [28] - bạn thấy, anh ta đáp ứng tất cả những điều kiện cần thiết khác để làm cho anh ta buông rơi khỏi triết học, nhưng thể chất bệnh tật của anh đã giữ anh đứng ngoài chính trị và ngăn ngừa nó. Cuối cùng, trường hợp của riêng tôi là hầu như không đáng nhắc đến – dấu hiệu quỉ thần của tôi [29] - vì tôi không giả định là nó từng xảy ra với bất cứ ai nào khác, hoặc với chỉ một số ít người trước đó. Bây giờ, những người đã trở thành thành viên của nhóm nhỏ này, đã nếm trải ngọt ngào và may mắn dường nào khi có một sở hữu triết lý. Đồng thời, họ cũng đã nhìn thấy sự điên cuồng của quần chúng và nhận thức rằng không có gì lành mạnh, để nói như thế, trong những vấn đề công cộng, và rằng không có đồng minh nào dù có giúp đỡ mà nhà quán quân của công lý lại có thể tồn tại; thay vào đó ông sẽ bị hư hoại trước khi ông có thể làm lợi ích hoặc là cho thành phố của họ hoặc bạn bè của ông, và là vô dụng cả hai, với bản thân và với những người khác - giống như một người đã rơi xuống giữ một đám những con thú hoang, và vừa không sẵn lòng nhập bọn cùng chúng để làm điều bất công, cũng không đủ mạnh để một mình chống lại thói dã man tổng quát. Nhận tất cả những điều này vào trong tính toán của ông, ông giữ yên lặng và làm việc riêng của mình, giống như một người nào đó tìm trú ẩn dưới một bức tường nhỏ để tránh một cơn bão bụi hoặc mưa đá bị gió bốc tung đến. Khi thấy những người khác ngập tràn với sự vô luật pháp, triết gia thì hài lòng nếu ông ta bằng cách nào đó có thể dẫn dắt cuộc sống hiện tại của mình tinh khiết không bất chính, và không những hành vi không đạo hạnh, và ra đi từ nó với hy vọng tốt, không bị chê trách và hài lòng.
ADEIMANTUS: Vâng, đó không phải là việc nhỏ ông ta đã tự hoàn thành được trước khi ra đi.
SOCRATES: Nhưng cũng không là một việc gì cho lớn lao, vì ông đã không có cơ may với một hiến pháp thích hợp. Dưới một hiến pháp thích hợp, sự tăng trưởng của ông sẽ được đầy đủ hơn, và ông sẽ cứu được cộng đồng, cũng như chính mình. Dù sao đi nữa, có vẻ như với tôi rằng chúng ta đã nói đủ về sự vu khống chống lại triết học và lý do tại sao nó là bất công - trừ khi, dĩ nhiên, bạn đã có một một gì đó để thêm vào.
ADEIMANTUS: Tôi không có gì hơn nữa để thêm vào vấn đề đó. Nhưng hiến pháp nào trong những hiến pháp hiện nay của chúng ta ông nghĩ là phù hợp với triết học?
SOCRATES: Không một nào trong số chúng. Nhưng đó là đúng thực là than phiền của tôi. Không có một thành phố nào ngày hôm nay với một hiến pháp xứng đáng về bản chất triết học. Đó là chính xác lý do tại sao nó là hư hỏng và bị thay đổi. Nó cũng giống như gieo hạt giống lấy từ nước ngoài trên một mảnh đất xa lạ: nó có khuynh hướng bị áp đảo và mờ nhạt dần lẫn đi vào những giống bản địa. Tương tự như vậy, những giống triết học không duy trì quyền lực riêng của mình trong hiện tại, nhưng suy yếu vào thành một cá tính khác biệt. Nhưng nếu như nó đã tìm được hiến pháp tốt nhất, sẽ rõ ràng rằng nó thực sự thần linh và rằng những bản chất khác và những theo đuổi khác chỉ đơn thuần là con người. Rõ ràng, bạn sẽ hỏi tiếp theo hiến pháp đó là gì.
ADEIMANTUS: Chỗ đó ông sai. Ông thấy đấy, tôi đã không định hỏi điều đó, nhưng hỏi liệu có phải đó là hiến pháp mà chúng ta đã mô tả khi chúng ta thành lập thành phố của chúng ta hay một hiến pháp khác.
SOCRATES: Trong tất cả những phương diện khác, nó là hiến pháp đó. Nhưng ngay cả lúc ấy chúng ta đã nói sau đó [30] rằng có phải luôn luôn có một số người trong thành phố, họ là người có mô tả hợp lý về hiến pháp, cùng một người là người hướng dẫn bạn, nhà lập pháp, khi bạn làm luật.
ADEIMANTUS: Có, chúng ta đã nói thế.
SOCRATES: Nhưng chúng ta đã không giải thích nó cho đủ sáng tỏ, vì sợ những gì chính chúng ta không thích đã làm cho rõ rệt: cụ thể là, rằng sự thuyết minh về nó sẽ dài và khó khăn. Thật vậy, ngay cả những gì còn lại không phải là dễ dàng nhất trong tất cả mọi điều để thảo luận.
ADEIMANTUS: Đó là gì?
SOCRATES: Làm thế nào một thành phố có thể làm triết học mà không bị phá hủy. Bạn thấy, tất cả những điều lớn lao là nghiêng sang xụp đổ rơi vỡ, và như tục ngữ, những sự vật đẹp là thực sự gay go khó khăn.
ADEIMANTUS: Dẫu thế đi nữa, thuyết minh sẽ không được hoàn tất cho đến khi điều này đã được làm sáng tỏ.
SOCRATES: Nếu có bất cứ một điều gì ngăn cản điều đó, sẽ không phải là thiếu sự sẵn lòng, nhưng thiếu khả năng. Dù với mức độ nào, bạn sẽ thấy tôi nồng nhiệt như thế nào. Bây giờ, trong thực tế, hãy xem xét tôi sẽ lập luận một cách nhiệt tình và bất cẩn như thế nào, rằng một thành phố nên thực hành triết học trong cách đối ngược với cách hiện tại.
ADEIMANTUS: Như thế nào?
SOCRATES: Hiện nay, những người tiếp tục nó đi nữa, làm thế như là những người trẻ, vừa mới ra khỏi tuổi thơ, những người vẫn chưa nhận lãnh chuyện quản lý gia đình và kiếm tiền. Sau đó, đúng khi họ đạt đến phần khó khăn nhất, họ buông bỏ nó và được phần đông xem họ là những triết gia được huấn luyện đầy đủ nhất. Khi nói phần khó khăn nhất, Tôi muốn nói cái phần bận tâm với những luận chứng [31]. Về sau trong đời, nếu có những người khác làm điều này, và họ được mời và chiếu cố lắng nghe những người này, họ nghĩ rằng họ đã làm rất nhiều, vì họ nghĩ rằng điều này chỉ nên là một việc bên lề. Và, trừ một vài trường hợp ngoại lệ, vào thời gian khi họ đạt đến tuổi già, họ tắt ngấm triệt để hơn mặt trời của Heraclitus, vì họ không bao giờ thắp lại ngọn lửa [32].
ADEIMANTUS: Thay vào đó, họ nên làm những gì?
SOCRATES: Ngược lại hoàn toàn. Khi còn trẻ tuổi và là trẻ em, họ nên bận rộn với một nền giáo dục và triết học phù hợp với giới trẻ. Những thân thể của họ nở rộ và lớn dậy vào tuổi trưởng thành ở thời gian này, và họ nên chăm sóc chúng cho rất cẩn thận, cũng thế về phần có được một người trợ giúp về triết học. Nhưng khi họ lớn tuổi hơn lên và linh hồn của họ bắt đầu đạt đến trưởng thành, họ nên thực tập chúng nghiêm ngặt hơn. Sau đó, khi sức lực của họ bắt đầu đi xuống, và họ đã về hưu, rút lui khỏi nghĩa vụ chính trị và quân sự, họ nên ngậm nhấm tự do trong những đồng cỏ triết học và không làm gì khác, trừ khi như chuyện phụ thuộc bên lề -Tôi muốn nói về những người này đây sẽ sống hạnh phúc, và lúc cuối khi cái chết đến, đội vòng hoa lên đời họ đã sống với một cẩn trọng dự phòng vừa vặn với chốn bên kia khác đó.
ADEIMANTUS: Ông xem dường biện luận với đam mê thực sự, Socrates. Nhưng tôi chắc chắn rằng hầu hết người nghe ông sẽ phản đối ông với đam mê còn lớn hơn, và ít nhất là sẽ không thuyết phục được – bắt đầu với Thrasymachus.
SOCRATES: Xin vui lòng đừng cố khơi lên một tranh cãi giữa tôi và Thrasymachus, như chúng tôi vừa đây đã thành bạn hữu – dẫu chẳng phải chúng tôi đã là hai kẻ nghịch trước đó. Bạn thấy đấy, chúng ta sẽ không để cố gắng của chúng ta được nghỉ ngơi thong thả, cho đến khi chúng ta thuyết phục ông ta và những người khác - hoặc ít nhất là làm một gì đó có thể có ích lợi cho họ trong một hóa thân ở đời sau, khi tái sinh [33], xảy ra chuyện họ gặp lại những lập luận loại này lần nữa [34]
ADEIMANTUS: Chà, ông đang nói về ngắn hạn, tôi hiểu!
SOCRATES: Nó chắc chắn là không gì nếu so với toàn bộ thời gian! Dù sao, chẳng lấy làm lạ tự hỏi rằng sao lập luận của chúng ta không thuyết phục được đám đông quần chúng. Tôi có ý là, vì họ chưa bao giờ thấy một con người giống in với chương trình của chúng ta - mặc dù họ có thường xuyên hơn nhiều nhìn thấy những từ ngữ chủ ý chọn lựa cho vần điệu với nhau, hơn là trong trường hợp hiện tại chỉ là ngẫu nhiên [35]. Nhưng một người, như càng gần càng tốt, giống in như và có vần điệu với đức hạnh trong lời nói và hành động, và nắm giữ quyền lực triều chính trong một thành phố của cùng loại – đó là một một gì đó họ chưa bao giờ nhìn thấy dù chỉ một lần. Hoặc bạn có nghĩ rằng họ đã có?
ADEIMANTUS: Không, chắc chắn không có.
SOCRATES: Cũng không phải, cầu cho bạn may mắn, họ đã dành đủ thời gian lắng nghe những luận chứng hay đẹp và tự do mà mạnh mẽ tìm kiếm chân lý trong mọi cách, như vậy về phần thu tập kiến ​​thức, và giữ khoảng cách của họ với tất cả những ngụy biện và cãi vã tủn mủn nhỏ nhặt - cho dù trong những xử án công cộng hay tụ tập tư nhân  - nỗ lực đến không gì khác ngoại trừ danh tiếng và tranh luận.
ADEIMANTUS: Không, họ đã không.
SOCRATES: Đó là vì những lý do này, và vì chúng ta đã thấy trước những khó khăn này, khiến chúng ta đã sợ. Dù thế đi nữa, chúng ta đã bị sự thật buộc phải nói rằng không có thành phố, không có hiến pháp, và không có cá nhân con người nào sẽ bao giờ trở thành toàn hảo cho đến khi một số biến cố cơ hội ngẫu nhiên buộc những triết gia vốn là những người không ác độc (là những người hiện nay bị gọi là vô dụng) ra chăm sóc lấy một thành phố, cho dù họ có sẵn sàng hay không, và buộc những thành phố tuân theo họ - hoặc cho đến khi có một đam mê chân thực với triết học đích thực được một nguồn cảm hứng linh thiêng nào rót chảy xuống những đứa con của những người đang nắm giữ quyền lực triều đại, hay chủ quyền, hoặc vào chính bản thân những người này. Bây giờ, nó không thể được duy trì hữu lý, theo quan điểm của tôi, rằng không một hoặc cả hai những điều này là có thể xảy ra. Nhưng nếu chúng có xảy ra, chúng ta sẽ đúng là bị chế nhạo một cách công bằng cho sự thả mình trong mơ tưởng. Không phải là như vậy sao?
ADEIMANTUS: Là vậy.
SOCRATES: Sau đó, nếu, trong quá khứ vô hạn, một số cần thiết đã buộc những người lỗi lạc nhất trong triết học ra nhận lấy đảm trách một thành phố, hoặc là bây giờ đương làm như vậy trong một vài chốn ngoại quốc man rợ nào đó vượt xa tầm hiểu biết của chúng ta, hoặc sẽ làm như vậy trong tương lai, đây là một điều gì đó chúng ta đang chuẩn bị để tranh đấu với - lập luận của chúng ta rằng hiến pháp chúng ta đã mô tả đã từng hiện hữu, quả thực hiện hữu, và sẽ hiện hữu, ở bất kỳ mức độ nào, bất cứ khi nào nó là, là khi nàng thơ – cây đàn hứng khởi - của triết học chiếm được quyền làm chủ một thành phố. Nó không phải là điều này không thể nào xảy ra, vì vậy chúng ta không nói về những điều không thể nào có được - rằng nó là khó khăn, chúng ta tự đồng ý với nhau thế.
ADEIMANTUS: Tôi chắc chắn nghĩ như vậy.
SOCRATES: Nhưng đám đông dân chúng thì không – có phải đó là bạn sắp nói?
ADEIMANTUS: Có lẽ họ không.
SOCRATES: Chúc lành cho bạn, bạn không nên vơ đũa cả nắm như thế khi buộc tội quần chúng! Họ chắc chắn sẽ đi đến duy trì một tin tưởng khác biệt, thay vì muốn giành một chiến thắng trên tổn phí của họ, nếu bạn xoa dịu họ, và cố gắng loại bỏ định kiến ​​vu khống của họ chống lại lòng yêu sự học tập. Bạn phải cho họ thấy những gì bạn hàm nghĩa là những triết gia, và xác định bản chất và sự theo đuổi của họ theo cách chúng ta đã vừa làm mới vừa bây giờ. Sau đó, họ sẽ nhận ra bạn không có ý nói về cũng những người giống như họ. Và nếu họ đã một khi nhìn thấy nó theo cách đó, thậm chí bạn sẽ nói rằng họ sẽ có một dư luận ​​khác biệt với dư luận bạn vùa mới gán cho họ, và sẽ trả lời khác biệt đi. Hay bạn nghĩ rằng bất cứ ai là người hòa nhã và không có ác ý, lại khắc nghiệt với một người không cáu kỉnh, hay lại khắc nghiệt với người không độc hại? Tôi sẽ đoán bạn, và nói tôi nghĩ rằng có một vài người có thể có một nhân tính khắc nghiệt như thế, nhưng không phải đa số.
ADEIMANTUS: Và tôi đồng ý, Dĩ nhiên.
SOCRATES: Sau đó, không phải bạn cũng đồng ý rằng sự khắc nghiệt của quần chúng đối với triết học được gây ra bởi những người đứng ngoài, những người không thuộc loại, và những người đã xông vào giống như một đám người vào hội đình đám, lạm dụng lẫn nhau, chiều theo yêu thích cãi cọ của họ, và luôn luôn tranh luận về giống người - một gì đó là ít thích đáng nhất trong triết học?
ADEIMANTUS: Tôi đồng ý, thực vậy.
SOCRATES: Vì chắc chắn, Adeimantus, một ai là người có não thức thực sự hướng về những điều mà không phải là chuyện rảnh rỗi để nhìn xuống những công việc nhân sự, và bị ngập đầy với ác ý và ghét giận như một kết quả của việc tham gia vào những tranh chấp của họ. Thay vào đó, ông xem xét và chiêm ngưỡng những sự vật có trật tự và luôn luôn là một giống nhau, cũng không bất công với nhau cũng chẳng làm đau khổ lẫn nhau, là tất cả trong một trật tự hợp lý, ông bắt chước chúng và cố gắng để trở thành giống như chúng đến như ông ta có thể. Hoặc bạn có nghĩ rằng có bất kỳ một cách nào để ngăn một người nào đó tránh liên kết với một một gì đó ông ta ngưỡng mộ mà không bắt chước nó?
ADEIMANTUS: Không thể nào, ông ta không thể.
SOCRATES: Sau đó, triết gia, qua cách kết hợp với những gì có trật tự và siêu phàm, trở nên cũng siêu phàm và trật tự như một con người có thể trở nên [36]. Mặc dù, bạn đừng quên, luôn có rất nhiều những vu khống xung quanh.
ADEIMANTUS: Tuyệt đối.
SOCRATES: Và nếu như ông có đi đến bị buộc phải làm một thực hành – với từng cá nhân và trong cả công chúng – trong việc dập khuôn theo những gì ông nhìn thấy ở đó vào trong những cá tính của dân chúng, thay vì chỉ thể hiện cụ thể cho riêng ông, bạn có nghĩ rằng ông sẽ là một thợ thủ công vụng về, thiếu kém điều độ, công lý, và toàn bộ những đức hạnh phổ thông?
ADEIMANTUS: Ít nhất là không phải.
SOCRATES: Và khi công chúng nhận ra rằng những gì chúng ta đang nói về ông ấy là đúng, họ có sẽ khắt khe với những triết gia, hoặc không tin tưởng chúng ta khi chúng ta nói rằng không bao giờ một thành phố có có thể tìm thấy hạnh phúc, trừ khi chương trình của nó được vẽ bởi những người vẽ là người sử dụng mô hình siêu phàm thần thánh?
ADEIMANTUS: Họ sẽ không khắt khe, nếu họ nhận ra điều này. Nhưng ông định nói bản vẽ thuộc về loại nào?
SOCRATES: Họ sẽ lấy thành phố và những cá tính trong đám dân chúng như phiến đá vẽ phác của họ, nhưng đầu tiên họ sẽ chùi sạch nó – vốn không phải là một điều dễ làm gì cho tất cả. Và bạn nên nhận thức rằng đây là một sự khác biệt ngay lập tức giữa họ và những người khác, rằng họ từ chối không nhận lấy, hoặc là một cá nhân riêng tư, một thành phố, để giải quyết hoặc soạn thảo pháp luật, trừ khi họ nhận được một phiến đá sạch, hoặc được cho phép họ tự làm sạch nó.
ADEIMANTUS: Và đúng như vậy.
SOCRATES: Và sau đó, bạn không nghĩ rằng họ sẽ vẽ những nét đại cương cho hiến pháp?
ADEIMANTUS: Dĩ nhiên.
SOCRATES: Và tôi giả định rằng, khi họ làm việc, họ sẽ thường xuyên xem xét về mỗi hướng: một mặt, hướng về những gì có trong bản chất của nó, là công chính, đẹp, tiết độ điều hòa [37], và tất cả những gì còn lại, và mặt khác, hướng về những gì họ đang cố gắng để đưa vào con người, trộn lẫn và pha chế những theo đuổi – những lối sống trong thành phố - để tạo ra một hình ảnh con người, dựa trên một hình ảnh mà Homer cũng đã gọi là thần linh và có tính thần thánh khi nó hiện ra giữa con người [38]
ADEIMANTUS: Đúng.
SOCRATES: Họ sẽ xóa một điều, tôi giả sử, và vẽ một điều khác, cho đến khi họ đã thực hiện được những nhân cách con người vốn được những vị gót càng yêu càng nhiều chứng nào càng tốt.
ADEIMANTUS: Dù với mức nào, bản vẽ sẽ là đẹp nhất theo cách đó.
SOCRATES: Chúng ta không phải tất cả là thuyết phục những người bạn cho biết là đổ xô đi tấn công chúng ta, sau đó, rằng triết gia chúng ta đã ca ngợi đối với họ thực sự là họa sĩ thuộc loại này của hiến pháp? Họ tức giận vì chúng ta đã uỷ thác thành phố với ông ta; không phải họ sẽ có bất kỳ bình tĩnh nào hơn khi nghe nó giờ đây?
ADEIMANTUS: Họ sẽ bình tĩnh hơn nhiều, nếu họ có bất kỳ ý thức nào.
SOCRATES: Dù sao đi nữa, làm thế nào họ có thể tranh chấp về nó? Có phải họ sẽ phủ nhận rằng những triết gia là những người yêu của cả hai - về sự-là-gì và sự thật?
ADEIMANTUS: Đó sẽ là ngớ ngẩn.
SOCRATES: Hoặc là bản chất của họ, như chúng ta đã mô tả nó, giống như có họ hàng với sự tốt nhất?
ADEIMANTUS: Họ cũng không thể phủ nhận điều ấy.
SOCRATES: Hoặc có bản chất thuộc loại như vậy, khi nó xảy đến để tìm những mục đích thích hợp, sẽ không được là hoàn toàn tốt và triết lý như ai bất kỳ nào khác? Hay họ sẽ tuyên bố rằng người vốn chúng ta đã loại trừ lại được nhiều hơn vậy?
ADEIMANTUS: Chắc chắn không.
SOCRATES: Họ sẽ vẫn tức giận hay không, sau đó, khi chúng ta nói rằng cho đến khi tầng lớp triết gia nhận được quyền kiểm soát của một thành phố, sẽ không có nghỉ ngơi khỏi những tệ nạn cho một trong hai hoặc thành phố, hoặc công dân, và hiến pháp chúng ta đã mô tả trong thảo luận của chúng ta sẽ không bao giờ được hoàn tất trong thực hành?
ADEIMANTUS: Có lẽ họ sẽ bớt tức giận.
SOCRATES: Nếu tất cả đó là đồng ý với bạn, sau đó, chúng ta hãy cùng không nói rằng họ chỉ đơn giản là sẽ bớt giận dữ, nhưng họ sẽ trở thành hoàn toàn dịu dàng và bị thuyết phục, như thế họ sẽ xấu hổ đi đến đồng ý với chúng ta, nếu không gì khác.
ADEIMANTUS: Đồng ý.

(Giáo dục cho những triết gia)

SOCRATES: Vậy chúng ta hãy cùng giả định rằng họ đã được thuyết phục về điều này. Sẽ có bất kỳ một ai hay không, sau đó tranh cãi rằng sẽ không có cơ hội nào mà những con cái của những vị vua, hay của những người nắm quyền lực, có thể được tự nhiên sinh ra là những triết gia?
ADEIMANTUS: Không ai có thể.
SOCRATES: Có bất kỳ một ai có thể tuyên bố rằng nếu con cái loại như vậy được sinh ra, chúng chắc chắn không thể tránh khỏi bị hư hỏng? Chúng ta đồng ý với nhau rằng đó là khó khăn cho họ để được cứu khỏi sự hư hỏng. Nhưng rằng trong toàn thời gian không có được một ại trong số họ đã có thể được cứu thoát, có ai tranh cãi điều đó?
ADEIMANTUS: Dĩ nhiên là không.
SOCRATES: Nhưng chắc chắn sự xuất hiện của một cá nhân như vậy là đủ, miễn là thành phố của ông tuân theo ông, đem đến sự hoàn thành tất cả những sự việc mà bây giờ xem có vẻ hết sức không thể nào tin được.
ADEIMANTUS: Đúng, một là đủ.
SOCRATES: Vì tôi giả sử rằng nếu một người cai trị đã thiết lập những luật pháp và những thực hành mà chúng ta đã mô tả, chắc chắn không phải là không thể có được rằng những công dân sẽ sẵn sàng đem chúng ra thực hiện.
ADEIMANTUS: Chắc chắn không.
SOCRATES: Và nó có thể hoặc đáng kinh ngạc, hoặc không thể có được, sau đó, rằng có những người khác sẽ nghĩ như chúng ta?
ADEIMANTUS: Tôi giả định là không thế.
SOCRATES: Nhưng tôi nghĩ rằng thảo luận trước đó của chúng ta là đủ để cho thấy rằng những xếp đặt này là tốt nhất, miễn là nếu chúng có thể.
ADEIMANTUS: Thật vậy, nó đã.
SOCRATES: Có vẻ như, sau đó, rằng kết luận chúng ta giờ đây đã đạt đến về lập pháp là cái chúng ta đang mô tả là tốt nhất, miễn là nó có thể, và trong khi là khó khăn để đi đến nó, chắc chắn nó không phải là không thể.
ADEIMANTUS: Vâng, đó là kết luận chúng ta đã đạt đến.
SOCRATES: Giờ đây, với nhiều cố gắng, đã đi đến kết luận này, tiếp theo chúng ta phải giải quyết với những vấn đề còn lại - bằng cách nào, bằng những phương tiện của những môn học nào và những theo đuổi nào, những nhà cứu tinh của hiến pháp của chúng ta sẽ đi đến hiện hữu, và ở lứa tuổi nào họ sẽ bắt đầu mỗi môn học trong số chúng.
ADEIMANTUS: Đúng, chúng ta phải đối phó với điều đó.
SOCRATES: Tôi đã chẳng thông minh cho lắm vì trong thảo luận trước đó của chúng ta đã bỏ ra ngoài chủ đề rắc rối về sự thu nhận những phụ nữ, sinh sản trẻ em, và thiết lập những nhà cai trị, vì tôi đã biết toàn bộ sự thật sẽ gây nên oán giận và sẽ là khó khăn để làm cho xảy ra. Nay quay ra, sự cần thiết phải thảo luận về chúng dù thế nào đi nữa cũng dựng lên. Bây giờ, chủ đề về phụ nữ và trẻ em đã được thảo luận. Tuy nhiên, về những nhà cai trị phải được tiếp tục lại từ đầu. Chúng ta đã nói, nếu bạn nhớ rằng họ phải tự cho thấy họ là những người yêu của thành phố, khi bị thử nghiệm qua những lạc thú và những đau đớn, bằng cách không từ bỏ xác quyết này qua lao động, sợ hãi, và tất cả những nghịch cảnh khác. Bất cứ ai không có khả năng làm như vậy là bị gạt bỏ, trong khi bất cứ ai là người đi qua nhưng tinh khiết - giống như vàng thử trong lửa – là được chọn làm người cai trị và nhận những quà tặng và những giải thưởng, cả trong khi ông sống và sau khi ông chết. Đây là những loại sự việc chúng ta đã nói trong khi biện luận của chúng ta che giấu khuôn mặt của nó và trượt qua, vì sợ khuấy động chính vấn đề rất mà bây giờ đối diện với chúng ta.
ADEIMANTUS: Đó là hoàn toàn đúng. Tôi nhớ.
SOCRATES: Tôi đã miễn cưỡng, người bạn của tôi, để nói những sự việc mà chúng ta giờ đây đã dám nói, dù sao đi nữa. Nhưng bây giờ, chúng ta hãy cùng dám nói rằng chúng ta phải thiết lập những triết gia như là những giám hộ theo nghĩa chính xác nhất.
ADEIMANTUS: Hãy cùng làm như vậy.
SOCRATES: Hãy ghi nhớ, sau đó, rằng có lẽ sẽ có chỉ một ít trong số họ. Bạn thấy đấy, họ phải có bản chất như chúng ta đã mô tả, và những phần của nó hiếm khi đồng ý cùng phát triển trong một con người, đúng hơn những phần của nó phát triển tách rời ra khỏi lẫn nhau.
ADEIMANTUS: Ông nói có nghĩa sao?
SOCRATES: Dễ dàng học hỏi, có trí nhớ tốt, sắc sảo, và sự thông minh, như bạn biết, và tất cả những điều khác mà đi cùng với chúng, chẳng hạn như niềm đam mê trẻ trung và não thức cao rộng, là hiếm khi sẵn sàng cùng nhau phát triển đồng thời với một khuynh hướng sống một đời sống trật tự, yên tĩnh, và hoàn toàn ổn định. Ngược lại, những người có những nét đặc điểm trước được trí thông minh nhanh chóng của họ cuốn mang đi đến bất cứ nơi nào chúng có cơ hội dẫn đến, và không có sự ổn định nào tất cả.
ADEIMANTUS: Đó là sự thật.
SOCRATES: Những người với những nhân cách ổn định, mặt khác, những người vốn không thay đổi dễ dàng, với người ấy người ta sẽ sử dụng vì mức độ đáng tin cậy lớn hơn của họ, và những người trong trận chiến không dễ dàng bị những sợ hãi di chuyển, họ hành động theo cùng một cách khi đi đến những cứu học hỏi của họ. Với họ có cam go để đi tới, và học tập khó khăn, họ như thể bị gây mê, và liên tục rơi vào giấc ngủ và ngáp dài, bất cứ khi nào họ phải làm việc chăm chỉ vào những thứ loại như vậy.
ADEIMANTUS: Họ là thế.
SOCRATES: Tuy nhiên, chúng ta nói rằng ai đó phải có phần chia tốt và cao quí của cả hai nhân cách, nếu không ông ta sẽ không nhận được nền giáo dục chân chính nhất, hay vinh dự, hoặc được cho phép để cai trị.
ADEIMANTUS: Đúng vậy.
SOCRATES: Sau đó, bạn không nghĩ rằng điều này sẽ hiếm khi xảy ra?
ADEIMANTUS: Dĩ nhiên.
SOCRATES: Ông ta phải được thử nghiệm, sau đó, trong những lao động, những sợ hãi, và những thú vui, chúng ta đã đề cập trước. Ông ta cũng phải thực hành trong nhiều những môn học khác, tuy nhiên, vốn chúng ta đã không đề cập đến nhưng giờ đây đang thêm vào, để xem liệu bản chất của ông có thể chịu đựng những môn học quan trọng nhất, hay sẽ co rúm thu nhỏ lại giống như người hèn nhát thu nhỏ lịa  từ những xét nghiệm khác.
ADEIMANTUS: Đó chắc chắn là quan trọng để tìm ra điều ấy. Nhưng ông nói những môn học quan trọng nhất có nghĩa là gì?
SOCRATES: Bạn có nhớ khi chúng ta phân biệt ba loại của sự vật trong linh hồn ngõ hầu giúp đỡ sự thực hiện công lý, sự tiết độ, lòng dũng cảm, và sự khôn ngoan, mỗi chúng là gì?
ADEIMANTUS: Nếu tôi không nhớ, tôi sẽ không xứng đáng để nghe phần còn lại.
SOCRATES: Bạn có còn nhớ những gì trước nó?
ADEIMANTUS: Không, những gì?
SOCRATES: Chúng ta nói, tôi tin rằng, để có được cái nhìn tốt nhất về những vấn đề này, chúng ta sẽ cần đi theo một con đường dài hơn, vốn sẽ làm cho những vấn đề này là giản dị với bất cứ ai đi theo nó, nhưng rằng nó có thể đem cho những thuyết minh mà có thể lên đến tiêu chuẩn của những thảo luận trước đó. Tất cả những gì bạn đã nói đó là đủ. Kết quả đã là thảo luận tiếp theo của chúng ta, như nó xem ra với tôi, đã còn kém chính xác hơn. Nhưng liệu nó có làm hài lòng tất cả các bạn hay không, là để cho bạn nói.

(Sự Tốt lành)

ADEIMANTUS:  Tôi, dù ở mức nào, nghĩ là ông đã cho chúng tôi đo lường tốt. Và như vậy, rõ ràng, với những người khác cũng thế.
SOCRATES: Không, người bạn của tôi ơi, bất kỳ một đo lường nào về những sự vật như vậy mà thiếu hụt trong bất kỳ cách nào về sự-là-gì, thì không phải là đo lường tốt gì tất cả, vì không có gì không-đầy-đủ mà là một đo lường cho bất cứ điều gì. Một số người, tuy nhiên, đôi khi có ý kiến rằng vấn đề này dã giải quyết thỏa đáng, và rằng không có cần thiết phải tìm tòi thêm.
ADEIMANTUS: Có, rất nhiều người cảm thấy như thế. Lười biếng là nguyên nhân gây ra.
SOCRATES: Vâng, đó là một cảm giác vốn một người giám hộ của một thành phố và của luật pháp của nó khó mà cần tới.
ADEIMANTUS: Không nghi ngờ gì.
SOCRATES: Vậy sau đó, ông ta sẽ phải đi theo con đường dài hơn, bạn đồng chí ơi, và đặt không kém nỗ lực vào việc học tập hơn vào huấn luyện thể dục. Nếu không, như chúng ta vừa mới nói, rằng ông ta sẽ không bao giờ theo đuổi môn học quan trọng nhất và thích đáng nhất cho đến cùng.
ADEIMANTUS: Tại sao vậy, không phải những đức tính này là những điều quan trọng nhất? có phải có một gì đó tuy thế còn quan trọng hơn công lý và những đức hạnh khác mà chúng ta đã thảo luận?
SOCRATES: Không chỉ là nó quan trọng hơn, nhưng ngay cả trong trường hợp của chính bản thân những đức hạnh, nó không phải là đủ để xem xét chỉ đơn thuần một phác thảo như chúng ta đang làm bây giờ, trong khi lơ là với bức chân dung hoàn tất nhất. Tôi muốn nói là, nó là vô lý, có phải vậy không, căng tất cả những dây thần kinh để đạt được sự chính xác tối đa và rõ ràng về những sự vật khác có ít giá trị, trong khi không đối xử với những sự vật quan trọng nhất vốn công lao xứng đáng với sự chính xác nhất?
ADEIMANTUS: Chắc chắn là thế. Nhưng có phải ông nghĩ rằng sẽ có bất kỳ ai buông ông ra mà không hỏi ý ông định nói vấn đề quan trọng nhất này là gì, và nó có liên quan với những gì?
SOCRATES: Không, tôi không nghĩ thế. Và bạn cũng có thể hỏi nó nữa. Bạn chắc chắn đã thường nghe trả lời, nhưng bây giờ hoặc là bạn không suy nghĩ, hay bạn có ý định gây rắc rối cho tôi một lần nữa bằng cách chen vào ngắt lời. Và tôi đoán là điều thứ hai nhiều hơn. Bạn thấy, bạn đã thường nghe nói rằng thể dạng của sự tốt lành là điều quan trọng nhất để tìm hiểu, và rằng đó là bởi quan hệ của chúng với nó mà những điều công chính và những điều khác trở nên hữu ích và mang lại lợi ích. Và bây giờ bạn phải khá chắc chắn rằng đó là những gì tôi sẽ nói, và thêm nữa, chúng ta không có kiến ​​thức đầy đủ về nó. Và nếu chúng ta không biết nó, bạn biết mà ngay cả những kiến ​​thức đầy đủ nhất có thể có được về những điều khác là không có lợi ích cho chúng ta, dù bất cứ nào hơn nếu như chúng ta có được bất kỳ sở hữu nào mà không có sự tốt lành. Hay có phải bạn nghĩ rằng có bất kỳ lợi ích nào trong việc sở hữu tất cả mọi thứ nhưng trừ sự tốt lành? Hoặc biết tất cả mọi thứ mà không biết sự tốt lành, do đó không biết gì cao đẹp hoặc tốt lành?
ADEIMANTUS: Không, có Zeus chứng giám, tôi không.
SOCRATES: Hơn nữa, bạn cũng biết rằng quần chúng tin rằng niềm vui là tốt, trong khi người học thức thanh tao hơn tin rằng nó là kiến ​​thức.
ADEIMANTUS: Dĩ nhiên.
SOCRATES: Và, bạn của tôi, những người tin điều này không thể chỉ cho chúng ta thấy nó là loại kiến thức gì, nhưng cuối cùng buộc phải nói rằng đó là kiến thức về cái tốt lành.
ADEIMANTUS: Đó là hoàn toàn vô lý.
SOCRATES: Làm thế nào nó không thể là thế, khi họ đổ lỗi cho chúng ta không biết cái tốt, và sau đó quay lại và nói với chúng ta như thể chúng ta đã biết điều đó? Tôi muốn nói là, họ nói rằng nó là kiến ​​thức về cái tốt – như thể nếu chúng ta đã hiểu họ có ý nghĩa gì khi họ bật miệng lên từ “tốt”.
ADEIMANTUS: Đó là hoàn toàn đúng.
SOCRATES: Thế còn những người định nghĩa cái tốt như lạc thú thì sao? Có phải họ ít lẫn lộn hơn những người khác? Hoặc thậm chí không phải là họ bị buộc phải thừa nhận rằng có những lạc thú xấu?
ADEIMANTUS: Nhất định.
SOCRATES: Tôi giả định nó dẫn đến như sau, có phải không, rằng họ phải thừa nhận rằng cùng những điều là vừa cả tốt và xấu?
ADEIMANTUS: Chắc chắn là vậy.
SOCRATES: Không phải là nó rõ ràng, sau đó, rằng có rất nhiều những bất đồng nghiêm trọng về cái tốt?
ADEIMANTUS: Dĩ nhiên.
SOCRATES: Tốt, không phải là nó cũng rõ ràng rằng nhiều người sẽ lựa chọn những điều được tin là công chính hay đẹp, ngay cả khi chúng không phải là thế, và sẽ hành động, thu nhận mọi thứ, và hình thành những tin tưởng tương ứng? Tuy nhiên, không ai hài lòng để thu nhận được những điều mà được tin là tốt. Ngược lại, tất cả mọi người tìm kiếm những điều vốn tốt. Trong lĩnh vực này, chỉ là danh tiếng không thôi bị tất cả mọi người khinh miệt.
ADEIMANTUS: Đúng.
SOCRATES: Sau đó, đó là những gì mỗi linh hồn theo đuổi, và vì lợi ích của nó, làm tất cả mọi thứ. Linh hồn có một linh cảm rằng cái tốt là một gì đó, nhưng nó bị bối rối và không thể nắm bắt đầy đủ những gì nó là, hoặc thu nhận loại tin tưởng ổn định về nó mà nó có về những thứ khác, và như thế, nó bỏ hụt lợi ích, nếu có bất cứ gì, mà ngay cả những thứ khác có thể đem cho. Có phải chúng ta sẽ chấp nhận rằng ngay cả những người tốt nhất trong thành phố, mà chúng ta phó thác cho họ tất cả mọi thứ, phải tiếp tục giữ như vậy trong bóng tối về một điều gì đó thuộc loại này và quan trọng?
ADEIMANTUS: Đó là điều cuối cùng chúng ta sẽ làm.
SOCRATES: Dù sao đi nữa, tôi tưởng tượng rằng công chính và những điều hay đẹp sẽ không thâm nhập nhiều vào với một người giám hộ, trong một người nào đó thậm chí không biết tại sao chúng là tốt. Và tôi có một linh cảm rằng sẽ không có ai có kiến ​​thức đầy đủ về chúng cho đến khi ông ta biết điều này.
ADEIMANTUS: Đó là một linh cảm tốt.
SOCRATES: Nhưng không phải là hiến pháp của chúng ta sẽ được hoàn toàn trật tự, nếu một người giám hộ loại như vậy, một trong những người hiểu biết những điều này, giám sát nó?
ADEIMANTUS: Nó là buộc để là. Nhưng bản thân ông, Socrates, có phải ông nói cái tốt là kiến ​​thức hay niềm vui, hoặc là nó cái gì khác hoàn toàn?
SOCRATES: Thật là một người đáo để! Bạn đã làm cho là tốt và rõ ràng từ lâu trước đó rằng ý kiến ​​của người khác về những vấn đề này sẽ không thỏa mãn được bạn.
ADEIMANTUS: Socrates, nó xem ra không đúng với tôi để ông là sẵn sàng phát biểu những xác tín của người khác, nhưng không phải của riêng chính ông, khi ông đã dành rất nhiều thời gian như thế, bận rộn với những vấn đề này.
SOCRATES: Gì đây? Bạn có nghĩ rằng là đúng để nói về những điều bạn không biết, làm như nếu bạn thực biết chúng?
ADEIMANTUS: Không phải như là nếu ông biết chúng, nhưng ông phải sẵn sàng phát biểu những gì ông tin tưởng như những gì ông tin tưởng.
SOCRATES: Gì đây? Không phải bạn đã nhận thấy rằng những tin tưởng mà không có kiến ​​thức là những điều tất cả đáng xấu hổ và xấu xí, bởi vì cái tốt nhất trong đám chúng là mù lòa? Bạn có nghĩ rằng rằng những người có một tin tưởng đúng thực, mà không hiểu biết, là có bất kỳ khác nhau nào so với những người mù xảy ra là những người lại đi đúng đường?
ADEIMANTUS: Họ không khác nhau.
SOCRATES: Bạn có muốn xem xét những điều đáng xấu hổ, mù lòa, và cong vẹo, sau đó, khi bạn có thể nghe những điều chiếu sáng, hay đẹp, từ những người khác?

Và Glaucon nói:

Có Zeus chứng giám, Socrates, đừng ngừng lại bây giờ, với kết thúc trong tầm nhìn, để nói như thế! Chúng tôi sẽ hài lòng nếu ông thảo luận về sự tốt lành theo cách mà ông thảo luận về công lý, sự tiết độ, và những gì còn lại.
SOCRATES: Điều đó, bạn đồng chí ơi, sẽ cũng rất hài lòng với tôi nữa, nhưng tôi sợ rằng tôi sẽ không đủ khả năng đến mức ấy với nó, và tôi sẽ tự làm hổ thẹn mình và nhìn thành lố bịch buồn cười, nếu cứ cố thử. Thôi, chúc lành cho bạn, giờ đây tạm thời chúng ta hãy để qua một bên tự thân sự tốt lành [39] là gì. Bạn thấy đấy, thậm chí để đi đến những tin tưởng hiện nay của tôi về nó đã dường như vượt ra ngoài phạm vi của thảo luận hiện giờ của chúng ta. Nhưng tôi sẵn sàng kể cho bạn biết về những gì có vẻ là một đứa con đẻ ra từ sự tốt lành và hầu hết giống nó, nếu đó là đồng ý với bạn; hoặc nếu không, hãy buông bỏ vấn đề đi.


(Dụ ngôn Mặt trời)

GLAUCON: Thế vậy, hãy kể cho chúng tôi nghe đi. Còn câu chuyện về người cha vẫn giữ nợ đấy, một khi khác ông sẽ trả.
SOCRATES: Tôi ước tôi có thể trả nó, và bạn thu lại được món nợ, thay vì chỉ phần lãi. Như thế sau đó, đây là đứa con và kết quả của sự tốt lành tự thân. Nhưng cẩn thận, trong cách nào đi nữa tôi không lừa dối bạn một cách vô tình bằng cách đem cho bạn một giải thích bất hợp pháp về đứa trẻ [40].
GLAUCON: Chúng ta sẽ rất cẩn thận nhiều đến mức có thể được. Như vậy, xin nói tiếp.
SOCRATES: Tôi sẽ nói một khi tôi đi đến một thỏa thuận với bạn và nhắc bạn nhớ những điều chúng ta đã nói ở đây cũng như nhiều những dịp khác.
GLAUCON: Những điều gì?
SOCRATES: Chúng ta nói rằng có nhiều cái đẹp, nhiều cái tốt, và nhiều những thứ khác giống như vậy, do đó phân biệt chúng bằng từ ngữ [41].
GLAUCON: Chúng ta có nói.
SOCRATES: Chúng ta cũng nói có một cái đẹp tự thân và một cái tốt tự thân. Và như vậy, trong trường hợp của tất cả những sự vật mà chúng ta đã thừa nhận như có nhiều, chúng ta đảo ngược chúng ta lại, và thừa nhận một thể dạng độc nhất thuộc về với mỗi một, vì chúng ta giả định có một cái duy nhất, và gọi nó là những gì mỗi một là.
GLAUCON: Đó là sự thật.
SOCRATES: Và chúng ta nói rằng một lớp [42] của những sự vật thì có thể nhìn thấy nhưng không hiểu được, trong khi những thể dạng thì có thể hiểu được nhưng không nhìn thấy được.
GLAUCON: Chắc chắn.
SOCRATES: Với những gì của chúng ta để chúng ta thấy những sự vật có thể nhìn thấy?
GLAUCON: Với thị giác của chúng ta.
SOCRATES: Và không phải là chúng ta nghe những sự vật có thể nghe được với thính giác, và cảm nhận được tất cả những sự vật có thể cảm nhận khác với những giác quan khác của chúng ta?
GLAUCON: Tất nhiên.
SOCRATES: Có bao giờ bạn nghĩ về sự phức tạp công phu của những thợ kỹ thuật chuyên nghiệp của những giác quan của chúng ta đã là trong sự làm nên sức mạnh để nhìn thấy và được nhìn thấy?
GLAUCON: Không, không thực sự.
SOCRATES: Tốt, nghĩ về nó theo cách này. Có phải thính giác và âm thanh cần một loại của sự vật ngõ hầu cái trước nghe được và cái sau được nghe - một sự vật thứ ba mà nếu nó vắng mặt, một cái sẽ không nghe được, hoặc một cái kia không được nghe?
GLAUCON: Không
SOCRATES: Và tôi nghĩ rằng không thể là có nhiều - không nói là không có bất kỳ nào - những sự vật khác cần một điều loại như vậy. Hoặc bạn có thể nghĩ ra một được không?
GLAUCON: Không, tôi không thể.
SOCRATES: Không phải là bạn biết rằng thị giác và những lĩnh vực có thể nhìn thấy có một nhu cầu loại như vậy?
GLAUCON: Trong cách nào?
SOCRATES: Chắc chắn thị giác có thể có mặt trong con mắt và người có nó có thể cố gắng sử dụng nó, và màu sắc có thể là hiện diện trong những sự vật, nhưng trừ khi một loại thứ ba của sự vật hiện diện, vốn nó tự nhiên được thích ứng cho chính mục đích đặc biệt này, bạn biết rằng thị giác sẽ không thấy gì, và màu sắc sẽ vẫn không nhìn thấy.
GLAUCON: Ông có ý muốn nói đến loại sự vật gì?
SOCRATES: Cái loại bạn gọi là ánh sáng.
GLAUCON: Ông đúng.
SOCRATES: Vì vậy, nó là thể dạng không phải vô nghĩa của ràng buộc, sau đó, nó ràng buộc cảm thức của thị giác và năng lực để được nhìn thấy. Trong thực tế, nó thì vinh dự đáng tôn trọng hơn bất cứ ràng buộc nào khác đã ràng buộc những nhóm. Dĩ nhiên, miễn là ánh sáng không phải là một một gì đó mà không có vinh dự.
GLAUCON: Và nó chắc chắn thì ngược lại mới thành nếu không có vinh dự.
SOCRATES: Bạn sẽ nói vị gót nào ở trên trời là vị điều khiển của sự việc này – vị mà ánh sáng của ông ta làm cho thị giác chúng ta thấy tốt nhất và những sự vật hữu hình có thể được nhìn thấy tốt nhất?
GLAUCON: Chính là vị mà ông và những người khác sẽ gọi tên. Ý tôi là, nó là rõ ràng là, những gì ông đang hỏi đến, là mặt trời [43].
SOCRATES: Và không phải thị giác là tự nhiên liên quan đến gót đó trong lối sau đây?
GLAUCON: Lối nào?
SOCRATES: Không phải tự thân thị giác, cũng không phải sự trong gì đó nó sẽ thành ra - nói cụ thể là, con mắt - là mặt trời.
GLAUCON: Không, nó không phải là.
SOCRATES: Nhưng nó là, tôi nghĩ rằng, cái giống-mặt-trời nhất trong những giác quan.
GLAUCON: Kể số lượng được là nhiều nhất.
SOCRATES: Và không phải nó nhận được sức mạnh nó có từ mặt trời, giống như một dòng chảy từ một kho bạc đầy tràn?
GLAUCON: Chắc chắn.
SOCRATES: Mặt cũng trời không phải là thị giác, thế nhưng như là nguyên nhân của nó, không phải là nó nhìn thấy bằng thị giác của chính nó?
GLAUCON: Nó là.
SOCRATES: Chúng ta hãy nói, sau đó, rằng đây là những gì tôi gọi là con cái của sự tốt lành, vốn sự tốt lành sinh ra như tương tự của nó. Cái nói sau là trong lĩnh vực hiểu được trong quan hệ với hiểu biết và những sự vật có thể nhận thức, cái nói trước là trong những lĩnh vực có thể nhìn thấy trong quan hệ đến thị giác và những sự vật có thể nhìn thấy.
GLAUCON: Như thế nào? Xin nói thêm nữa cho tôi hiểu.
SOCRATES: Bạn biết rằng khi những con mắt của chúng ta thôi không còn quay về với những sự vật có màu sắc được chiếu sáng bởi ánh sáng ban ngày, nhưng bởi ánh sáng của ban đêm, chúng mờ đi và có vẻ gần như mù, như thể thị giác nhìn thấy rõ ràng không còn trong chúng.
GLAUCON: Dĩ nhiên.
SOCRATES: Tuy nhiên, tôi giả sử rằng bất cứ khi nào chúng quay sang những những sự vật được mặt trời chiếu sáng, chúng nhìn thấy rõ ràng và thị giác được biểu thị trong chính những con mắt đó?
GLAUCON: Đúng vậy.
SOCRATES: Tốt, nghĩ về linh hồn trong cùng một lối. Khi nó tập trung vào một một gì đó được chiếu sáng cả bằng sự thật và bằng sự-vật-là-gì [44], nó hiểu, là biết, và rõ ràng biểu thị sở hữu sự hiểu biết. Nhưng khi nó tập trung vào những gì bị pha trộn với tối tăm, về những gì sẽ đến thành, và qua đi mất, nó tin tưởng và bị u tối đi, thay đổi những tin tưởng của nó theo lối này và điều nọ, và dường như bị lấy đi thiếu mất sự hiểu biết.
GLAUCON: Đúng, có vẻ như thế.
SOCRATES: Bạn phải nói, sau đó, rằng những gì đem cho sự thật với những sự vật biết được, và năng lực để biết với người biết là thể dạng của cái tốt. Và như là nguyên nhân của kiến ​​thức và sự thật, bạn phải nghĩ về nó như một đối tượng của kiến ​​thức. Cả hai, kiến ​​thức và sự thật là những sự vật đẹp đẽ. Nhưng nếu rồi bạn có suy nghĩ một cách chính xác, bạn phải nghĩ về sự tốt như khác hơn, và đẹp hơn chúng. Trong lĩnh vực có thể nhìn thấy, ánh sáng và thị giác được nghĩ đúng là giống-như-mặt-trời, nhưng là sai nếu nghĩ chúng là mặt trời; Như thế, ở đây là đúng để nghĩ kiến thức và sự thật cũng giống-như-mặt-trời, nhưng không một nào trong chúng là cái tốt – vì trạng thái của cái tốt thì lại còn vinh dự hơn nhiều.
GLAUCON: Đây là một điều đẹp đẽ kinh ngạc khó tin đến không ngờ mà ông đang bàn về, nếu như nó cung cấp cả kiến ​​thức và chân lý, nhưng tự bản thân nó là vượt cao trên chúng trong vẻ đẹp. Ý tôi là, ông chắc chắn không nghĩ rằng có thể là niềm vui.
SOCRATES: Không những về điềm xấu, xin làm ơn! Thay vào đó, xem xét ẩn dụ của chúng ta chi tiết hơn.
GLAUCON: Như thế nào?
SOCRATES: Mặt trời, tôi nghĩ rằng bạn sẽ nói, không chỉ cho những sự vật hữu hình năng lực có thể được nhìn thấy, mà cũng còn cung cấp cho sự trở thành sắp tới của chúng, sự tăng trưởng, và thức ăn nuôi sống -  mặc dù nó thì không phải là trở thành sắp tới của chính nó.
GLAUCON: Tôi sẽ.
SOCRATES: Do đó, bạn cũng nên nói rằng không phải chỉ đúng những đối tượng của kiến thức nợ sự tồn tại của chúng với cái tốt, nhưng sự hiện hữu và tồn tại của chúng cũng do từ nó mà có; mặc dù cái tốt không phải là tồn tại, nhưng một gì đó tuy nhiên lại còn vượt quá tồn tại, vượt cao trên nó cả về cấp hạng và năng lực.

Và Glaucon khá nực cười trả lời:
Có Apollo chứng, thật quỉ thần cường điệu [45]!
SOCRATES: Đó là lỗi của riêng bạn, bạn buộc tôi phải nói những tin tưởng của tôi về nó.
GLAUCON: Và xin ông cũng đừng dừng lại - ít nhất, không phải cho đến khi ông đã thảo luận xong xuôi về sự tương tự giống nhau của sự tốt với mặt trời, nếu như ông còn có bỏ qua bất cứ điều gì.
SOCRATES: Tôi chắc chắn bỏ sót rất nhiều.
GLAUCON: Ồ không, ngay cả những chi tiết nhỏ nhất.
SOCRATES: Tôi nghĩ rằng tôi sẽ cần phải bỏ một số khá nhiều. Dù thế đi nữa, cho đến mức như là bây giờ có thể có, tôi sẽ không cố ý bỏ qua bất cứ điều gì.
GLAUCON: Xin vui lòng, đừng.


(Dụ ngôn Đường thẳng Phân Đoạn)

SOCRATES: Sau đó, bạn nên suy nghĩ, như chúng ta đã nói, rằng có hai điều, một trị vì của loại về hiểu biết và địa điểm, và một khác về hữu hình - Tôi không nói “trên trời”, như vậy là không có vẻ với bạn là đương chơi trò sophist với tên gọi [46]. Trong mọi trường hợp, bạn có hiểu hai loại này, nhìn thấy và hiểu được?
GLAUCON: Tôi hiểu.
SOCRATES: Tượng trưng cho chúng, sau đó, bằng một đường kẻ, chia thành hai đoạn không đều. Sau đó mỗi đoạn – đó là của loại có thể nhìn thấy, và loại có thể nhận thức – lại chia hai theo cùng tỉ lệ như của đường kẻ [47]. Bây giờ, trong những điều kiện về độ trong sáng tương đối và độ mờ đục tương đối, bạn sẽ có một đoạn nhỏ như là của những hình ảnh có thể nhìn thấy. Nói những hình ảnh tôi muốn nói là, đầu tiên, hình bóng, sau đó phản ảnh của những vật thể trong nước và trong tất cả những vật chất đóng gói chặt chẽ, trơn mịn, sáng bóng, và tất cả mọi thứ thuộc vào loại như thế. Bạn có hiểu không?
GLAUCON: Tôi hiểu.
SOCRATES: Sau đó, trong một đoạn nhỏ khác của nhìn thấy được, đặt những bản gốc của những hình ảnh này - có nghĩa là, những con vật xung quanh chúng ta, mọi cây cỏ, và toàn bộ lớp gồm những sư vật được chế tạo.
GLAUCON: Tôi sẽ.
SOCRATES: Bạn có sẽ cũng sẵn sàng nói, sau đó, rằng, về mặt là thật và không-thật, sự phân chia này là trong tỷ lệ này: vì những gì được tin tưởng với những gì được biết đến, do đó, sự đồng dạng là với điều nó thì giống như?
GLAUCON: Chắc chắn.
SOCRATES: Tiếp theo, xem xét đoạn của có thể nhận thức được chia như thế nào.
GLAUCON: Như thế nào?
SOCRATES: Như sau: trong một đoạn nhỏ, linh hồn, dùng những sự vật được bắt chước trước đây như những hình ảnh, thì bắt buộc phải căn cứ những thăm dò của nó trên những giả thuyết, tiến lên không đến một nguyên lý đầu tiên, nhưng đến một kết luận. Trong một đoạn nhỏ kia, bằng đối ngược lại, nó tạo lối của nó tới một nguyên lý đầu tiên không giả thuyết, tiến hành từ một giả thuyết, nhưng không có những hình ảnh được dùng trong đoạn nhỏ trước đó, nhưng dùng những thể dạng tự thân và làm những thăm dò của nó qua chúng.
GLAUCON: Tôi không hiểu hoàn toàn những gì ông đang nói.
SOCRATES: Hãy cố lần nữa. Bạn thấy, bạn sẽ hiểu nó dễ dàng hơn sau giải thích này. Tôi nghĩ rằng bạn biết những sinh viên khoa hình học, môn tính toán và giống loại như thế, tạo giả thuyết về số lẻ, số chẵn, những hình khác nhau, ba loại góc, và những thứ khác giống tương tự như những điều này, trong mỗi thăm dò của họ, xem chúng như đã được biết. Những điều này, họ xử như những giả thuyết và không nghĩ rằng cần thiết phải cho bất kỳ luận chứng nào với chúng, không với chính họ, cũng chẳng với những người khác, như chúng đã là hiển nhiên với tất cả mọi người. Và khi đi từ những nguyên lý đầu tiên qua những bước còn lại, họ tiến đến trong thỏa thuận trọn vẹn tại điểm họ đặt ra để đạt tới trong điều tra của họ.
GLAUCON: Tôi chắc chắn biết được nhiều ngần ấy.
SOCRATES: Sau đó, không phải bạn cũng biết rằng họ sử dụng những thể dạng có thể nhìn thấy và tạo những lập luận của họ về chúng, mặc dù họ không suy nghĩ về chúng, nhưng về những sự vật khác giống như chúng? Họ tạo những lập luận của họ với một hình vuông tự thân và đường chéo tự thân, chứ không phải đường chéo được vẽ, và tương tự như thế với những đối tượng khác. Còn chính những đối tượng họ làm ra và vẽ nên, thuộc trong những có hình bóng và phản xạ trong nước là những hình ảnh, bây giờ đến phiên họ lại lần lượt sử dụng như những hình ảnh trong việc tìm kiếm để thấy những đối tượng khác mà người ta không thể nhìn thấy ngoại trừ bằng những phương tiện của suy tưởng.
GLAUCON: Đó là sự thật.
SOCRATES: Điều này, sau đó, là loại của điều mà tôi nói là có thể hiểu biết được. Linh hồn thì buộc phải dùng những giả thuyết trong sự điều tra của nó, không đi du hành lên đến một nguyên lý đầu tiên, vì nó không thể thoát ra khỏi, hoặc lên trên được giả thuyết của nó, nhưng bằng cách dùng như những hình ảnh, của ngay chính tất cả những sự vật vốn những hình ảnh của đã được thực hiện bởi những sự vật dưới chúng, và chúng, bằng cách so sánh với những hình ảnh của chúng, được nghĩ là đã rõ ràng và được vinh danh như vậy.
GLAUCON: Tôi hiểu rằng ông hàm nghĩa những gì được xử lý trong hình học và những kỹ thuật liên quan.
SOCRATES: Sau đó cũng hiểu rằng, về đoạn ngắn kia của hiểu biết, tôi muốn nói là những gì lý trí tự thân [48] nắm lấy được bằng sức mạnh của thảo luận biện chứng, đối xử với những giả thuyết của nó, không phải như những nguyên lý đầu tiên, nhưng như những giả thuyết nguyên gốc (có nghĩa là, những bàn đạp và những móc nối trong một chuỗi), ngõ hầu đi đến những gì là không-giả thuyết và nguyên lý đầu tiên của tất cả mọi thứ. Khi nắm bắt được nguyên lý này, nó đảo ngược chính nó và cứ giữ chặt lấy những gì theo đến sau từ nó, đi xuống đến một kết luận, không sử dụng bất cứ điều gì có thể nhìn thấy hết tất cả, nhưng chỉ của những thể dạng tự thân, di chuyển tiếp tục những thể dạng qua những thể dạng, và kết thúc trong những thể dạng.
GLAUCON: Tôi hiểu, mặc dù không đầy đủ - ông thấy đấy, theo ý kiến ​​của tôi, ông đang nói về một công việc rất to tát. Ông muốn phân biệt - nhận định sự khác nhau - phần của những gì , và phần của những gì hiểu được, phần được xem xét bởi khoa học của thảo luận biện chứng, như rõ ràng hơn phần được xem xét bởi cái gọi là khoa học – những thứ đó với chúng, những giả thuyết là những nguyên lý đầu tiên. Và mặc dù những người xem xét phần thứ hai là buộc phải làm như vậy đúng hơn bằng những phương tiện của tư tưởng chứ không phải là của tri thức giác quan, thế nhưng vẫn, vì họ không quay trở lại một nguyên lý đầu tiên nguyên thủy trong sự xem xét nó, nhưng tiến hành từ giả thuyết, ông không nghĩ rằng họ có sự hiểu biết thực sự về chúng, nhưng mặc dù – đem cho một nguyên lý đầu tiên như thế  - chúng là có thể hiều được. Và có vẻ với tôi, ông gọi đến trạng thái não thức của những nhà hình học - và những người khác thuộc loại như thế  - suy tưởng nhưng không hiểu biết; suy tưởng là trung gian giữa tin tưởng và sự hiểu biết.
SOCRATES: Bạn đã nắm được đầy đủ nhất ý nghĩa của tôi. Tham gia cùng tôi, sau đó, khi nói về bốn điều kiện này trong linh hồn tương ứng với bốn đoạn nhỏ của đường thẳng: hiểu biết đối ứng với đoạn cao nhất, tư tưởng với đoạn thứ hai; đặt tin tưởng vào đoạn thứ ba, và tưởng tượng vào đoạn cuối cùng. Sắp xếp chúng theo một tỷ lệ tương ứng, và xem rằng mỗi đoạn chia phần với sự rõ ràng đến mức độ mà đoạn nhỏ nó đối ứng với thì chia phần về sự thật.
GLAUCON: Tôi hiểu, đồng ý, và sắp xếp chúng như ông nói.



(Hết quyển 6)


Lê Dọn Bàn tạm dịch - bản nháp thứ nhất
(Nov/2011)




[1] Thing that is: sự vật vốn là, như nó là.
[2] Xem 539e2-540c2, 581c10-583a11
[3] Xem 474b3-c3
[4] being – ousia – là danh từ trừu tượng có gốc từ einai (to be – là) –Thí dụ tồn tại của công lý là những gì công lý thực là. – thường dịch là hữu thể. Như ở đây chỉ có ý là – tồn tại – hay tự thể, vật tự thân - để đi với thể dạng (form) của Plato.
[5] 474d3 – 475b2.
[6] Temperate
[7] illiberality: hẹp hòi, đầu óc không phóng khoáng rộng rãi, cởi mở.
[8] petty-mindedness
[9] cho dù thần thánh, hay trần tục.
[10] Nguyên văn là “soul” – linh hồn, nhưng ở đây chỉ có nghĩa là tâm lý theo như chúng ta hiểu ngày nay. Đây là một tron những nghĩa của Plato khi dùng từ “soul”.
[11] “what is” : sự là-gì.
[12] Momus: Gót của Phê bình, Châm biếm, Kiểm duyệt và Khiển trách.
[13] eikos: cũng có nghĩa là sự tương tự, giống như.
[14] goat-stag: loài thú kể trong thần thoại -  nửa dê núi, nửa hươu – có sừng. Plato đã dùng ý tưởng về một con vật hoang đường có sừng-nửa-dê-nửa-hươu để diễn tả khái niệm triết học về một sự vật có thể “biết được” mặc dù nghĩ rằng nó không thực hiện hữu (the philosophical concept of something that is knowable even though it does not really exist.)
[15] Captain:
[16] mandragora: một thức uống làm mê.
[17] Aristotle trong Rhetoric 1391a7 -12, kể lại -  khi hỏi Simonides – không biết tốt hơn nên giàu có hay nên không ngoan, cái nào hơn? – ông trả lời: “Giàu có, vì kẻ khôn ngoan dành nhiều thời giờ của mình ở những cửa của giới giàu có”.
[18] what is
[19] Autou ho estin hekastou tes phuseôs: nghĩa đen, “những gì nó là tính chất của từng điều tự thân. “what it is” (ho estin). Nếu chúng ta hỏi – công lý là gì? – trả lời đúng với ý hướng này nhất sẽ là - xác định những gì nó là – Chúng ta có thể nói là nói về yếu tính của công lý.
[20] Tiến trình đi tìm kiến thức, giống như tiến trình sinh nở - người đi tìm cũng như một phụ nữ ăn nằm với thực tại, thai nghén một thời gian và “sinh ra” được – cho ra đời sự hiểu biết, sự thật. Như ở trên Socrates nói chỉ lúc “sinh” được kiến thức, mới hết “đau đớn”. Nếu có một Socrates thực, và nếu mẹ ông là một bà mụ đỡ đẻ như đã kể, Socrates đưa ra hình ảnh trên không có gì đáng ngạc nhiên. Chúng ta nay đã quen thuộc với ẩn dụ và những thuật nhữ đi kèm - thai nghén với tư tưởng, với nghệ thuật, và tác phẩm ra đới, chúng là những đứa con của tác giả, những người này đã mang nặng đẻ đau.
[21] Xem Homer, Iliad 24. 367.
[22] Craft: tài khéo, kỹ năng - tức là những đối thủ trong kỹ năng giảng dạy đạo đức. Xem Apology 24c-25c, Protagoras 317e-328d.
[23] Chronou tribê: Về sự khác biệt giữa một kỹ năng (technê) và một kinh nghiệm dựa trên sở trường khéo tay (tribê:, empeiria), xem Gorgias 462b-465a
[24] information – hiểu biết thô, còn chưa duyệt xét, phê phán - không phải kiến thức
[25] Một bắt buộc không thể tránh được. Nguồn gốc của cụm từ này không được rõ.
[26] Plato dường như có ý chỉ Alcibiades ở đây và những gì sau đó. Xem Alcibiades 104a-c, 105b-c, Symposium 215d-216d. Sự nghiệp phi thường của Alcibiades được Thucydides mô tả, Quyển 6-8.
[27] Vụ án nổi tiếng tại Athens - xử tử hình Socrates năm 399 TCN - rõ ràng là trường hợp nhắc nhở ở điểm này.
[28] Theages là một đàm thoại được xem là của Plato, trong đó có ba nhân vật: Demodocus, Socrates và Theages là con của Demodocus.
[29] Xem Plato, Apology 31c-32a, trong đó Socrates đã giải thích rằng daimonion của ông đã giữ ông khỏi chính trị
[30] Xem đoạn 412a-b, đưa ra một gợi ý của nhu cầu này.
[31] Đó là, phép lý luận biện chứng.
[32] Mặt trời, theo Heraclitus – mỗi ngày, đến đêm thì tắt, nhưng đến sáng hôm sau đốt cháy trở lại.
Theo Aristotles (Meteoroogica 355a 15) cho biết Heraclitus như tin tưởng rằng “mặt trời là mới mỗi ngày” – Như thế có nghĩa là mặt trời không chỉ lặn, hay cháy tàn, đi ngủ; nhưng thực sự chết. Mặt trời sáng ngày hôm sau là hoàn toàn mới, không phải và hoàn toàn khác với mặt trời hôm qua.
[33] Incarnation, reborn: hóa thân, tái sinh – Socrates cũng như những người Hylạp thời ông – tin vào kiếp sau, có hóa thân, có tái sinh – (nhưng không theo nghĩa – samsara – chu kỳ sinh, tử, nghĩa là luân hồi và động cơ nghiệp - như trong đạo Phật).
Thêm nữa, luân hồi: hay khái niệm tái sinh mở rộng: khái niệm reincarnation - luân hồi xem ra đem cho chúng ta những giải thích đáng chú ý nhất về nguồn gốc và định mệnh con người. Lý thuyết này không phải chỉ được những tín đồ của các tôn giáo phương Đông mặc nhiên chấp nhận đã từng bao nghìn năm, hay rất phổ thông ở phương Tây, trong thế kỷ qua với những phong trào tâm linh mới gọi là “New Age”; nhưng với đông đảo những người không tôn giáo, không mấy quan tâm hay nghiêng về những tin tưởng thần bí. Biết được rằng mình đã sống nhiều kiếp, trước kiếp này, và sẽ còn nhiều kiếp sau nữa, là một quan điểm rất thu hút, từ quan điểm này có thể làm thay đổi sâu xa cách chúng ta phán xét về ý nghĩa của cuộc sống.
Mặt khác, luân hồi là một nguồn an ủi lớn lao, đặc biệt là đối với những người tìm kiếm sự giải thoát chỉ hoàn toàn trên cơ sở các nguồn lực nội tại của họ. Nó đem lại một bảo đảm rằng một người sẽ tiếp tục còn hiện hữu trong nhiều những đời sau nữa, và như thế làm mới cơ may có thể đạt được giải thoát. Mặt khác, luân hồi cho thấy, nếu như con người cần một cơ sở đạo đức có tính chất tôn giáo cho đám đông, những lý thuyết của các tôn giáo độc thần Abraham về sự phán xét cuối cùng của một gót thần linh, với kết quả có thể bị trừng phạt, chịu đọa đày mãi mãi trong hỏa ngục, là ác độc, hay quá đáng, hay ít nhất là thừa thãi và không cần thiết.
Nhưng một lý do chính khiến rất nhiều người, xưa lẫn nay, chấp nhận lý thuyết tái sinh vì nó xem dường như là một giải thích thỏa đáng nhất và có thể chấp nhận được nhất về hai câu hỏi – đâu là công lý trong vũ trụ và tại sao có khổ đau trong kiếp người, cả hai câu hỏi thực sự liên hệ với băn khoăn cơ bản về sự khác biệt tự nhiên đủ mọi hình thức và nội dung thấy giữa loài người, khắp nơi, mỗi thời. Chúng ta luôn luôn nhìn quanh và so sánh, băn khoăn. Tại sao có những người bẩm sinh là lành mạnh, đẹp đẽ, thông minh nhưng đông đảo số khác - xem dường vô tội như trẻ em chẳng hạn - bị tật bệnh thể chất, hay trí lực thấp kém hành hạ suốt đời. Một số giàu có, một số khác luôn trên bờ vực của đói kém, và dù tốt hay xấu, già hay trẻ, những thiên tai luôn luôn như chờ dịp giáng xuống con người. Người Hylạp đã khéo léo tóm thu vào hình ảnh ba vị nữ thần định mệnh, họ cho mỗi chúng ta một số phận. Nhưng định mệnh, số phận có thể phần nào trả lời câu hỏi về những chênh lệch, khác biệt, nhưng không trả lời được câu hỏi về công lý. Một số người thành công mà không thực theo đạo đức, hay tôn giáo nào cả, một số khác thất bại liên tục, bất chấp đời sống đạo hạnh hay sùng mộ tôn giáo của họ. Các tôn giáo phương Đông đã giải thích những khác biệt này như là kết quả trong đời này của những đời trước, đã tốt hay xấu, con người hiện tại nhận hoa trái họ đã ươm trồng trong quá khứ, những đời trước, qua tác động của nghiệpkarma. Gió đã gieo ở kiếp trước, kiếp này nghiệp đưa bão đến. Khái niệm karma đi kèm với luân hồi  - nghiệp báo ứng qua các kiếp sống; luân hồi – Có đời sau, có tái sinh, có luân chuyển trở lại những dạng của sự sống – vì có nghiệp; Vì vậy, sự tái sinh luân hồi dường như là một cách thưởng phạt hoàn hảo và tự nhiên nhất - công lý tự thể hiện, không gạt bỏ câu hỏi về trách nhiệm đạo đức cá nhân - đến từng những việc làm của mỗi người, mà không cần phải kêu gọi đến những tác năng siêu nhiên, nghĩa là không phải đặt định ra một, hay nhiều vị gót tối cao, và những lý thuyết đi kèm - vốn dễ dàng bị chính con người thao túng - về sự tuân phục vị gót cá nhân đó - xem như thực tại tối hậu nào đó.
[34] Xem quyển 10 - 614b ff.
[35] Trong bản tiếng Anh – “man” vần với “plan”; người / kế hoạch - Plato chế diễu những nhà tu từ học, những người thích nói năng với vần điệu du dương (những rỗng ý). Lời của ông “ou gar pôpote eidon genomenon to nun legomenon” – “họ đã không bao giờ nhìn thấy bất cứ điều gì đi đến thành hiện hữu mà giống in như với giải thích của chúng ta”, trình bày hiện tượng ông đương chế nhạo.
[36] cũng có thể hiểu - kết hợp với những gì có thần thánh và siêu phàm, trở nên cũng thần thánh và trật tự như một con người có thể trở nên – Trong tư tưởng cổ Hylạp , một ai có những hành vi hay kỳ công siêu phàm, người ta thường nói là thần thánh, hay gót đã “nhập” vào họ, khiến họ mới làm được như thế, họ không là con người thường nữa; khái niệm đó đưa đến khái niệm ngày nay còn phổ thông – khi chúng ta nói một nhà thơ làm thơ, khi ông sáng tác là ông đã được nàng thơ, - những muses – những vị gót  - ban cho nguồn hứng khởi, hay một cách nào đó “nhập” vào nhà thơ, viết nên những giòng trác tuyệt. Ở đây cũng vậy, khi Socrates nói về thế giới của những tuyệt đối phổ quát mà ông gọi là những thể dạng, thế giới siêu phàm, thánh thần, những triết gia có thể thấm nhiễm, nắm bắt được những phổ quát vĩnh cửu, bất biến đó qua những hiện tượng cụ thể nhất thời thay đổi. Như vậy những triết gia cũng mang được tính chất siêu phàm, thánh thần, linh thiêng. Giữa con người và thánh thần, hay tính chất của thánh thần không có ngăn cách, phân biệt tuyệt đối, con người cũng có thể làm được, có được những tính chất thần linh (và thần linh cũng nhiều khi hành xử như con người). Chỉ mãi về sau, khi những tôn giáo Abraham từ Trung Đông thắng thế, sự phân biệt và ngăn cách giữa con người và thần linh mới thành tuyệt đối, sau khi tóm thu tất cả những biểu hiện hay tính chất siêu phàm từ nhiều gót thành một Gót – khi ấy gót/người là hai trạng thái không thể chuyển hóa qua lại. Hoàn toàn biến mất khái niệm con người có thể cũng có những tính chất như gót – như ở đây; trật tự, hài hòa và siêu phàm trong nhận thức về bản thể của sự vật.
[37] nghĩa là hướng về những thể dạng của công chính, đẹp, tiết độ điều hòa
[38] xem, thí dụ Iliad 1.131.
[39] The good: sự Thiện, Thiện hảo ; tôi tạm dùng “sự tốt lành” – cũng cùng một ý, nhưng từ thuần Việt; ngược lại của “sự tốt lành” là “sự xấu ác”.
[40] Trước sau, Socrates chơi chữ trên từ tokos, có nghĩa là hoặc là một đứa trẻ hay tiền lãi trên tiền vốn của món nợ.
[41] word.
[42] Class
[43] helios – mặt trời – đã được xem như một vị gót.
[44] What is.
[45]  Tuyên bố củaSocrates kết thúc với những từ “dunamei huperechontas” (“cao cấp về... năng lực” ), Glaucon đáp lại với lời đùa “huperbolês daimonias”. Do đó là lời nói đùa.
[46] Trò chơi có vẻ là về sự giống nhau của âm thanh giữa  “orano” (“thiên đường”) và “orato” (“nhìn thấy”).
[47] Một đường thẳng, đúng hơn là lấy một đoạn thẳng hình học AB, chia thành hai đoạn AC và CB – nhưng không đều; sau đó lại chia mỗi đoạn thành 2 đoạn nhỏ - AC thành AD và DC; chia CB thành CE và EB - cũng không đều và cùng theo tỉ lệ (6/3) trước (2/1); như thế cuối cùng có 4 đoạn như sau:

|--------|----------------|----------------|--------------------------------|
A (1)   D  (2)            C   (2)           E           (4)                          B
                AC = hữu hình, nhìn thấy được
                CB = có thể hiểu được, nhận thức được
Sau cùng, Plato cũng nói rằng với mỗi đoạn nhỏ của đường thẳng là một trạng thái của não thức, chiều dài mỗi đoạn nhỏ có thể xem tương ứng với mức độ tri thức, càng dài càng sáng tỏ hơn và đến gần sự thực hơn:
EB = kiến thức, hiểu biết [noêsis]  - đối tượng là những thể dạng
CE = suy tưởng [dianoia]
DC = tin tưởng [pistis]
AD = phỏng đoán, tưởng tượng [eikasia] – đối tượng là những hình bóng, hình ảnh phản chiếu.
[48] Autos ho logos