Thursday, May 21, 2020

Mark Siderits – Đạo Phật như Triết học (08)


Đạo Phật như Triết học
Một Dẫn nhập
Mark Siderits








CHƯƠNG SÁU

Abhidharma: Siêu hình học về những cá thể trống rỗng

Đề tài của chương này là một vận động trong triết học đạo Phật vốn đã lớn dậy từ những gắng sức để diễn giải thành hệ thống những bài giảng của đức Phật. Chúng ta gọi vận động là ‘Abhidharma’ vì đó là tên của bộ sưu tập những bản văn trình bày những kết quả của những gắng sức đó. Abhidharma là thứ ba trong ba nhóm những bản văn trong tàng kinh điển đạo Phật. Đầu tiên là Sūtta, sưu tập chung tất cả những bài giảng của đức Phật. Thứ hai là Vinaya, trong đó trình bày những điều lệ của kỷ luật tu viện. Những bản văn trong tập hợp đầu tiên và thứ hai được soạn thảo, ít nhất một phần, khoảng gần thời đức Phật. Những bản văn Abhidharma đến sau. Chúng phản ảnh những khó khăn vốn những người thực hành đạo Phật đã gặp phải trong khi xếp loại tất cả những đối thể [1] vốn đức Phật đã bàn luận trong những giảng dạy của ngài. Qua thời gian, những khác biệt tế vi đã nổi lên trong những giải pháp đã được đề ra. Những khác biệt này trong sự diễn dịch dẫn đến sự thành hình của nhiều trường phái khác nhau. Nhưng tựu trung, tất cả đều có một tiếp cận chung để diễn dịch những giảng dạy của đức Phật, và đều có một lập trường chung trong quan điểm triết học. Trong chương này, chúng ta sẽ xem xét lập trường triết học chung đó. Chúng ta sẽ cũng xem xét một ít của những bất đồng triết học quan trọng giữa những trường phái của Abhidharma.

Như tựa đề phụ của chương này chỉ định, quan tâm chính yếu của chúng ta sẽ là trong siêu hình học của Abhidharma. Trong chương trước, chúng ta thấy Nyāya thách thức cơ sở siêu hình học của học thuyết Vô Ngã của đạo Phật. Abhidharma đáp ứng bằng đưa ra một cái nhìn sáng tạo về những gì cuối cùng là thực. Chúng ta sẽ xem xét lý thuyết về những dharmas, những nền tảng của nó và một số tranh luận trên vấn đề – có những dharmā nào. Chúng ta cũng sẽ xem xét một tranh luận tri thức học quan trọng về bản chất của tri giác. Nhưng chúng ta bắt đầu với một mảnh quan trọng của công việc còn dở dang từ Chương 3: chứng minh rằng những toàn bộ là không thực và chỉ những thực thể không-phần là thực. Quan điểm của đạo Phật về con người như cá thể dựa trên thuyết thu giảm nhìn theo quan hệ lôgich của toàn bộ và những phần; quan điểm cho rằng những toàn bộ có thể được thu giảm về những phần của chúng. Đây là những gì đằng sau ý tưởng rằng con người, như một toàn bộ tạo bởi những phần, chỉ đơn thuần là một khái niệm giả tạo, tưởng tượng. Nhưng tuyên bố này về những toàn bộ đã không biện luận trong đạo Phật ban đầu. Siêu hình học Abhidharma bắt đầu với một luận chứng như thế.

6.1

Siêu hình học Abhidharma dựa trên phát biểu rằng những thực thể không-phần – những sự vật việc không có những phần – đều là thực  cuối cùng [2]. Cho nên có một luận chứng cho tuyên bố này là việc rất quan trọng với Abhidharma. Để xem điều việc diễn ra thế nào, chúng ta sẽ kéo về với nhau những ý tưởng từ nhiều những nguồn khác nhau. Đối với những tác giả Abhidharma, phần quan trọng nhất của luận chứng là phần cho thấy rằng một toàn bộ thực có thể là không đồng nhất với, cũng không khác biệt với những phần thực. Và chúng ta sẽ xem một bản văn vốn đưa ra một thành phần quan trọng của phần này của luận chứng. Nhưng trước tiên, chúng ta cần phải đứng lùi lại và nhìn vào khung bao trùm khuôn khổ vốn luận chứng dùng. [3]

Câu hỏi căn bản chúng ta đang đối diện là một câu hỏi bản thể học: nó là gì vốn về nền tảng nó là thực? Trong trường hợp này, câu hỏi thì thu hẹp xuống thành một câu hỏi liên quan đến thực tại của những toàn bộ và những phần. Điều này có nghĩa là có đúng bốn trả lời có thể có:

1.      Những toàn bộ và những phần, cả hai đều là thực
2.      Những toàn bộ là thực, những phần là không thực.
3.      Cả những toàn bộ lẫn những phần đều là không thực.
4.      Những toàn bộ là không thực, chỉ những phần là thực.

Phương sách sẽ là để cho thấy rằng (4) thì đúng, bằng việc cho thấy rằng không một nào trong số (1) – (3) có thể là đúng. Luận chứng là một chứng minh bằng loại trừ [4]. Để phương sách này hoạt động, nó phải là trường hợp rằng đây là những lựa chọn thay thế có thể có duy nhất. Nhưng điều này thì dễ dàng để cho thấy. Chúng ta có hai thể loại: những toàn bộ và những phần. Và mỗi chúng có thể là thực hay không thực. Vì thế chỉ có đúng bốn kết hợp có thể có: cả hai đều là thực (1), cả hai đều không thực (3) và hai cách nhìn hỗn hợp ((2) và (4)). Vì đây là những cách nhìn duy nhất có thể có, một trong số chúng phải là đúng. Giả thuyết (1) quay ra là quan trọng nhất của những đối lập với (4). Nhưng chúng ta hãy tạm đặt nó sang một bên lúc này và bắt đầu với (2).

Giả thuyết (2) nói rằng những sự vật việc thực duy nhất là những những toàn bộ vốn được những phần làm nên. Những phần vốn tạo nên chúng đều bản thân chúng không thực sự là thực. Cỗ xe ngựa thì thực, nhưng những phần của nó thì không thực, cây thì thực, nhưng rễ, cành và lá thì không thực. Nếu chúng ta có hỏi một ai đó là người tin vào điều này, - tại sao với chúng ta vẫn có vẻ là cành và lá thì thực, - họ có thể nói rằng một tiến trình trừu tượng tâm lý đã đánh lừa chúng ta. Chúng ta đã phân chia cây vào thành những khúc cây có kích thước tiện lợi để dùng, và sau đó quên rằng một gì có thể là một cành cây chỉ bởi từng là phần của một cây. Nhưng có một khó khăn lớn giả thuyết này đối mặt. Theo lôgích của nó, thực sự có đúng chỉ một sự vật việc: cái Một Lớn. Điều này là thế, vì hầu hết những sự vật việc vốn chúng ta nghĩ đến như những toàn bộ đều thực sự là những phần của những toàn bộ lớn hơn. Phòng bạn đang ở là một toàn bộ làm bằng những phần: sàn, tường, trần nhà, bàn ghế, v.v..., … Nhưng phòng là một phần của một tòa nhà. Tòa nhà là một phần của thành phố hay thị trấn. Thành phố hay thị trấn là một phần của một gì đó lớn hơn, v.v... …. Cái nhìn kết quả là những gì gọi là thuyết Nhất Nguyên Tuyệt Đối [5]. Nó chủ trương rằng thực tại cuối cùng là một và không thể phân chia được. Đã từng có những triết gia là những người theo thuyết Nhất Nguyên Tuyệt Đối: ở India, Śaṅkara, người sáng lập trường phái Advaita Vedānta [6] ; ở phương Tây, Parrnenides, một triết gia thời trước-Socrates [7]. Nhưng họ phải đối diện với một khó khăn rõ ràng đã rất khó giải quyết. Tại sao ngay cả với chúng ta có vẻ rằng có một số nhiều của những sự vật việc trên thế giới? Tại sao hành động dựa trên giả định đó sẽ quay ra là hữu dụng? Nếu tất cả mọi sự vật việc thì thực sự chỉ một, khi đó thì thí dụ, sẽ không có khác biệt nếu tôi uống bia hay uống thuốc tẩy. Sự phân biệt giữa hai thì chỉ một sự áp đặt tâm lý vô cùng lớn lao trên Cái Một Lớn đó là, trong tự thân nó, thì không phân biệt. Có lẽ chúng ta có thể đồng ý rằng có một sự vật việc lớn lao – hệ thống vũ trụ, vũ trụ như một toàn bộ. Nhưng để giải thích những sự kiện về kinh nghiệm của chúng ta với những sự vật việc như bia và thuốc tẩy, chúng ta cần giả định rằng vũ trụ có thể thực sự được phân chia nhỏ vào thành những phần – một số phần của nó thì độc hại hơn những số phần khác. Vì vậy, (2) xem dường thì sai.


Giả thuyết (3) nói với tác dụng rằng - không-gì, dù là gì đi nữa, tồn tại. Mọi sự vật việc tồn tại phải hoặc làm bằng những phần (một toàn bộ) hoặc không làm bằng những phần (một phần cuối cùng). (3) nói không loại nào tồn tại, như thế, nó nói rằng không gì tồn tại. Đây là quan điểm gọi là thuyết hư vô siêu hình [8] Và là điều khá rõ ràng rằng nó phải là sai. Nếu nó đã là đúng, khi đó ý tưởng rằng nó có thể là đúng không thể xảy ra. Vì một ý tưởng có thể xảy ra chỉ và nếu chỉ tự thân nó là một sự vật việc tồn tại (thuộc một số loại này hay khác) hay diễn ra trong một một sự vật việc hiện đang tồn tại. Chúng ta đúng bây giờ hiện đang xem xét thuyết hư vô siêu hình, vì vậy ý ​​tưởng rằng nó có thể là đúng thì đang xảy ra. Thế nên quan điểm hư vô siêu hình phải là sai. (3) có thể an toàn để đặt sang một bên.


Giả thuyết (1) nói rằng những toàn bộ đều là thực, và những phần chúng được tạo thành cũng đều là thực. Cái xe đạp thì thực, và cũng thế là yên ngồi, ghi-đông, pêđan, dây xích, v.v...... .vốn làm thành nó. Bạn có thể trỏ cho thấy rằng một cái yên xe đạp tự nó là một toàn bộ làm bằng những phần: những lò xo, khung, đệm yên, áo bọc yên , v.v... …  Điều này đúng. Nhưng hãy làm ngơ điều đó, cho khoảnh khắc này, và giả vờ rằng những thứ như yên ngồi và những nan hoa là những phần cuối cùng của xe đạp. Chúng ta thăm dò giả thuyết rằng chúng và cái xe đạp vốn chúng hợp thành đều là thực. Nhưng đây là một câu hỏi thêm nữa. Nếu xe đạp và những phần đều là thực như nhau, thì chúng phải hoặc là giống hệt nhau hay khác biệt. Như thế, có phải cái xe đạp giống hệt với những phần của nó hay khác biệt với chúng? Dĩ nhiên sẽ không có cái xe đạp nếu những phần đã không liên quan với nhau trong một cách nhất định: yên xe gắn liền với khung, nan hoa gắn liền với vành, v.v... … Vì vậy, những gì chúng ta thực sự hỏi - liệu cái xe đạp có giống hệt hay khác với những phần không - khi những phần được gắn với nhau theo một cách ‘lắp ráp xe đạp’. chúng ta sẽ gọi những phần lắp ráp là ‘những phần trong quan hệ ‘. Giả thuyết (1) sau đó có thể được chia thành hai lựa chọn thay thế:

1a    Toàn bộ và những phần đều là thực và toàn bộ thì giống hệt như nhau với những phần trong quan hệ.
1b   Toàn bộ và những phần đều là thực và toàn bộ thì khác biệt với những phần trong quan hệ.

Chúng ta cần lần lượt khảo sát mỗi chúng:

Giả thuyết (1a) sẽ xem có vẻ lôi cuốn chỉ nếu chúng ta nhầm lẫn nó với một giả thuyết rất khác biệt. Chúng ta có thể nghĩ rằng nó có nghĩa là, thí dụ, thực sự thì có một cái xe đạp, nhưng nó thực sự chỉ là những phần trong sự liên quan. Khi chúng ta nói một loại sự vật việc như ‘thực sự chỉ là’ một vài những sự vật việc khác, tuy nhiên, những gì chúng ta đang nói là một sự vật việc có thể được thu giảm xuống một sự vật việc khác – rằng nói chặt chẽ không có gì hơn với thực tại hơn cái sau. Để nói điều này về cái xe đạp sau đó sẽ là để khẳng định (4), không phải (1a). Nó sẽ là nói rằng cái xe đạp là một khái niệm giả tạo, rằng nó thực sự chỉ là những phần là thực. Những gì (1a) nói là rằng cái xe đạp thì chỉ cũng thực như những phần, nhưng rằng nó thì giống hệt với những phần.

Và điều này không thể là đúng. Để xem tại sao không, hãy xem xét nguyên tắc của tính không thể phân biệt của những giống hệt nhau: [9]

Plnld:     Nếu x và y là có số lượng giống hệt nhau, sau đó x và y đều có cùng những thuộc tính.[10]

Để nói rằng x và y đồng nhất về số lượng, là để nói rằng ‘x’ và ‘y’ đều thực sự chỉ là hai tên gọi cho một và cùng một sự vật việc. Và nếu điều này là như vậy, thì mọi sự vật việc vốn là đúng với x cũng phải là là đúng với y. Vì như thế nào có thể một sự vật việc duy nhất lại vừa là và không là một cách nhất định nào đó? [11] Khi chúng ta áp dụng điều này với (1a), chúng ta nhận được kết quả rằng mọi sự việc đúng với xe đạp cũng phải đúng với những phần liên quan. Xe đạp, mặc dù, có thuộc tính với tư cách là một sự vật, trong khi những phần liên quan thì không. Chúng có những thuộc tính rất khác biệt với tư cách là nhiều sự vật. Làm thế nào một sự vật việc có thể giống hệt, đồng nhất với nhiều những sự vật việc?

Điều này làm cho (1b) xem dường hợp lý hơn. Nó nói rằng cái xe đạp là một sự vật tồn tại riêng biệt. Khi những phần được lắp ráp với nhau, một sự vật mới đi vào tồn tại, một cái xe đạp. Những phần vẫn còn tồn tại, nhưng cái xe đạp tồn tại qua và trùm trên chúng. Như chúng ta đã thấy trong chương trước, đây là quan điểm vốn Nyāya chủ trương. Và những lập trường của Nyāya đều tổng quát là khá hợp lý và phán đoán thực tiễn với kiến thức thông thường. Vì vậy, (1b) xem dường khá lôi cuốn. Tuy nhiên, có một số thách thức phải được khắc phục. Quan tâm đầu tiên, câu hỏi về bằng chứng cho sự tồn tại của sự vật mới này, cái xe đạp. Có bằng chứng nào ở đó vốn không là bằng chứng ngang bằng cho sự tồn tại của những phần trong quan hệ? Tất cả những kinh nghiệm của chúng ta đối với cái xe đạp có thể được giải thích trong những điều kiện của sự kiện về những phần trong liên quan. Thí dụ, khi chúng ta thấy một cái xe đạp, những gì chúng ta thấy thì chắc chắn thuộc những phần trong liên quan. Khi chúng ta đi xe đạp, những gì vận chuyển chúng ta đều là những phần trong liên quan. Chúng ta đồng ý rằng những phần tồn tại. Trừ khi chúng ta có bằng chứng cho sự tồn tại của toàn bộ không thể giải thích được trong những điều kiện của sự kiện về những phần trong liên quan, Nguyên tắc của Cái Nhẹ chỉ định rằng chúng ta phủ nhận (1b) để chọn ủng hộ (4).


Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ nhất
(Aug/2018)






[1] entities
[2] real: là-có, thực sự xảy ra, không tưởng tượng
[3] Vài chi tiết về Abhidharma
1.
Abhidharma (Pali, Abhidhamma – Phiên âm Tàu A tì đạt ma ): Thuật ngữ Sanskrit abhidharma dường như có gốc từ: ‘liên quan đến (abhi) + những giảng dạy (Skt., Dharma, Pali, dhamma)’. Tuy nhiên, đối với giảng dạy đạo Phật truyền thống, thuật ngữ này có nghĩa gần như là sự giảng dạy cao hơn’ hay ‘vượt xa hơn. Những học giả nói chung đã phân chia giữa hai cách giải thích khác nhau của thuật ngữ abhidharma, cả hai đều xoay quanh nghĩa của abhi. Đầu tiên, abhi hiểu như ‘có liên quan đến’, abhidharma, được hiểu là một môn học có chủ đề của nó là Dharma, những giảng dạy của đức Phật. Thứ hai, dùng abhi theo nghĩa ưu tiên và phân biệt, abhidharma cũng được coi là một giảng dạy giáo lý cao hơn, khác biệt; Yếu tính của những lời dạy của dức Phật, hay vượt xa những gì được đưa ra trong những bài giảng của đức Phật, theo một nghĩa nào đó gợi nhớ đến thuật ngữ ‘siêu hình học’ ((meta+physics) của Aristotle). Truyền thống Phật giáo phân biệt giữa những phương pháp Sūtrānta và Abhidharma trong việc hướng dẫn những giảng dạy bằng cách đối lập với ‘cách đặt những sự vật việc’ của Sūtrānta trong những thuật ngữ một phần, nghĩa bóng, chúng đòi hỏi phải làm rõ thêm hơn, so với diễn dịch và những chuỗi hỏi và đáp Abhidharma vốn. khai triển giải thích với hệ thống và chi tiết trong những thuật ngữ chính xác, cụ thể, không tượng hình. Điều này trùng hợp với sự phân biệt sau này truyền thống tạo ra giữa những văn bản có ý nghĩa ngầm (Neyārtha/neyyattha) với những văn bản có ý nghĩa rõ ràng (Nītārtha,/nītattha) được thể hiện bằng những thuật ngữ thông thường, tục đế (Ssaṃvṛti/sammuti) so với những văn bản khác được thể hiện bằng thuật ngữ của chân lý cuối cùng, chân đế (paramārtha/ paramattha).Từ quan điểm của Abhidharma, những sūtras được truyền đạt theo thuật ngữ thông thường mà ý nghĩa sau cùng của nó đòi hỏi phải giải thích thêm.
2.
Thường ghi nhận rằng nhiều trường phái đạo Phật India thời cổ đều đã có những hệ thống Abhidhamma riêng của họ. Nhưng sau sự hủy diệt đao Phật, cuối cùng ở thể kỷ 12, chỉ còn hai bộ sưu tập kinh điển hoàn chỉnh còn được truyền giữ đến ngày nay: (a) Bộ sưu tập của Sarvāstivāda và (b) Bộ sưu tập của Theravāda. Những trường phái khác chỉ có rời rạc một vài bản văn sống sót, như Shariputra Abhidharma Sastra (Xá Lợi Phất A Tì Đàm Luận 舍利弗阿毘曇論), có lẽ của trường phái Dharmaguptaka (theo Bhikkhu Bodhi).
Sarvāstivāda, nổi lên như một trường phái độc lập trong Sthaviras (Thượng tọa Bộ) vào khoảng thế kỷ thứ hai hoặc thứ nhất TCN, có ưu thế ở phía bắc, đặc biệt là tây bắc India, và lan sang Trung Asia; Abhidharma-piṭaka của trường phái Sarvāstivāda gồm:
-        Saṅgītiparyāya (Nghị luận về bài tụng tập thể - Tập dị môn túc luận)
-        Dharmaskandha (Toát yếu về những dharmas - Pháp uẩn túc luận,),
-        Prajñaptiśāstra (Cẩm nang về những khái niệm - Thi thiết túc luận)
-        Vijñānakāya (Toát yếu về ý thức - Thức thân túc luận),
-        Dhātukāya (Toát yếu về những yếu tố - Giới thân túc luận),
-        Prakaraṇapāda (Khai triển văn học - Phẩm loại túc luận)
-        Jñānaprasthāna (Nền tảng của kiến ​​thức - Phát trí luận).
Những văn bản này chỉ còn lại đầy đủ trong những bản dịch cổ chữ Tàu (từ Sankrit). Đây là truyền thống Abhidharma tu tập trong đạo Phật Mahāyāna và Tibet.
Theravāda Abhidhamma-piṭaka trong tiếng Pali, tồn tại nhờ đã đem sang Sri Lamka từ trước. Theravāda Abhidhamma-piṭaka cũng gồm 7 chuyên luận, nhưng nội dung khác biệt với của Sarvāstivāda:
-        Dhammasaṅgaṇi (liệt kê những Dhammas)
-        Vibhaṅga (Phân tích)
-        Dhātukathā (Nghị luận về những yếu tố)
-        Puggalapaññatti (sự chỉ định cá thể con người)
-        Kathāvatthu (Những điểm của thảo luận),
-        Yamaka (Từng Cặp)
-        Paṭṭhāna (Những Điều kiện nhân quả).
Những thế hệ sau này đã soạn thảo những bình luận về kinh điển Abhidharma và giới thiệu những hướng dẫn thực hành nhiều loại để giải thích những căn bản trọng yếu của những hệ thống kinh điển. Những văn bản sau kinh điển này là công trình của chỉ một tác giả (luận sư) và trưng bày những lập trường tranh luận đã khai triển đầy đủ và thế giới quan của trường phái tương ứng của họ. Phần lớn hệ thống Theravāda Abhidhamma gồm trong Visuddhimagga (Thanh Tịnh Đạo Luận 清淨道論, thế kỷ V) của Buddhaghosa. Những hướng dẫn giới thiệu khác là Abhidhammāvatāra (Nhập A Bì Đạt Ma Luận 入阿毘達磨論) của Buddhaadatta (thế kỷ V) và Abhidhammatthasaṅgaha (Thắng Pháp Tập Yếu Luận 勝法集要論) của Anuruddha (thế kỷ XII). Trong truyền thống Sarvāstivāda, những bản dịch tiếng Tàu, một bình luận Abhidharma được biết đến nhiều nhất là Mahāvibhāṣā. Tuy nhiên, hướng dẫn Sarvāstivāda có ảnh hưởng lớn với đạo Phật Mahāyāna và Tibet sau này là Abhidharmako śa (A Tì Đạt Ma Câu Xá Luận 阿毗達磨俱舍論 thế kỷ V) của Vasubandhu. Sau là Nyāyānusāra (A Tì Đạt Ma Thuận Chánh Lí Luận 阿毘達磨順正理論) của Saṅghabhadra, cùng thời với Vasubandhu. tái lập quan điểm Sarvāstivāda chính thống, một trong những tác phẩm cuối cùng còn sống sót của trường phái Sarvāstivāda.

Như vậy, Abhidharma thường dùng để chỉ cả hai: (a) những nghiên cứu học thuyết của phong trào kinh viện mới và (b) tập hợp những văn bản, như kể trên, được đưa ra qua sự khai triển và thể hiện hệ thống tư tưởng đạo Phật của phong trào này. Tập hợp này gồm phần thứ ba trong số ba giỏ kinh điển (Skt., Tripiṭaka, Pali, tipiṭaka) của đạo Phật, Đó là Abhidharma-piṭaka (Pali, Abhidhamma-piṭaka), những bài bình luận và giảng luận về sau của nó.
3.
Abhidharma như (a) một thể loại văn học độc lập và (b) một nhánh của tư tưởng và nghiên cứu, Abhidharma thì phân biệt với Sūtrānta, hệ thống những bài giảng của đức Phật (Skt., Sūtras, Pali, suttas). Không giống tính cách của những bài giảng ghi chép trong đạo Phật trước đây, thường là dung dị thông tục (do tùy ứng với trình độ người nghe trong những trường hợp khác biệt) phương pháp Abhidharma trình bày những giảng dạy của đức Phật trong những thuật ngữ kỹ thuật, được định nghĩa cẩn thận để bảo đảm sự phân tích chính xác trong tư tưởng. Về nội dung, Abhidharma đặc biệt có cố gắng đem lại một lý thuyết tương ứng với thực hành quán tưởng trong đạo Phật, và rộng hơn là một giải thích có hệ thống về những sự kiện tinh thần (qualia). Nó làm như vậy bằng phân tích những kinh nghiệm ý thức, và trong ý nghĩa này, – thế giới (kinh nghiệm) của một người – vào trong những dharmas / dhammas – những ‘xảy ra’ (biến cố, hay sự kiện, hay ‘pháp’) về tinh thần và vật chất.
Việc điều tra bao quát gồm sự phân tích những dharmas vào thành nhiều thể loại và sự tổng hợp chúng vào thành một cấu trúc thống nhất bằng những phương tiện của những quan hệ nhiều mặt của chúng trong quan hệ tương khởi nhân quả của chúng gọi là ‘học thuyết về dharma. Những nghiên cứu toàn diện và tường tận vào trong bản chất và tác động tương ứng giữa những dharmas đã mở rộng sang những lĩnh vực của siêu hình học, nhận thức học, và bản thể học, và đã gây nên những tranh luận lý thuyết giữa những trường phái đạo Phật khác nhau. Những phân tích và những phương pháp lý luận Abhidharma về những tranh luận này đã cung cấp khuôn khổ dẫn nhắc, và xác định chương trình làm việc cho những trường phái Madhyamaka và Yogācāra của Mahāyāna. Như một phong trào học thuật riêng biệt, Abhidharma đã có một tác động lớn được ghi nhận với tư tưởng về sau, và đã phát khởi một hệ thống triết học và diễn giải bản kinh học trong đạo Phật (theo Ronkin, Noa, "Abhidharma", The Stanford Encyclopedia of Philosophy).
[4] proof by elimination
[5] Absolute Monism.
[6] Triết học Advaita, theo nghĩa đen là ‘không-nhị nguyên’, trường phái Vedanta hàng đầu và lâu đời nhất còn lại của triết học India. Śaṅkara hay Shankara, cũng là Shankaracharya (700-750 ???)
[8] metaphysical nihilism
[9] the principle of the indiscernibility of identicals: nguyên tắc của tính không thể phân biệt của những giống hệt nhau: (Luật của Leibniz), khẳng định rằng nếu x thì giống hệt như (đồng nhất) y, khi đó, mọi thuộc tính của x là thuộc tính của y, và vice versa.
[10] [Nguyên tắc này là để được phân biệt với những nguyên tắc của bản sắc định tính của những không thể phân biệt đươc, trong đó phát biểu rằng bất kỳ hai sự vật việc có tất cả những thuộc tính giống nhau đều giống nhau về số lượng, vi thế khiến nếu không có cách nào bảo hai sự vật việc khác xa nhau, khi đó chúng thực sự là chỉ một sự vật việc. Nguyên tắc này thì còn tranh luận. Đó là của vô ích về sự giống nhau của tôi. nguyên tắc của tính không thể phân biệt của những giống hệt nhau, hay những đồng nhất cũng được gọi là Luật của Leibniz, đặt tên theo tên của triết gia người Germany thế kỷ 18 Gottfried Leibniz.]
[11] [Nếu bạn tin rằng có những thực thể bền vững trải qua sự thay đổi về tính chất, bạn có thể nghĩ đây là một nguồn của những thí dụ phản lại Plnld. Giả sử x là lá cây vào tháng 6 và y là lá cây giống hệt như nó vào tháng 10. Không phải hay sao khi đó đúng là x có thuộc tính vốn y không có, thuộc tính của màu xanh lá cây? Không, không phải nếu chúng ta hiểu những thuộc tính như nhũng chỉ mục tạm thời, như những sự vật việc vốn thực thể đã có ở một thời điểm. Khi đó cả x và y đều có thuộc tính có màu xanh trong tháng 6. Tương tự như vậy cả hai đều có thuộc tính của màu đỏ trong tháng 10.]