Thursday, June 11, 2020
Bhikkhu Bodhi – Tìm một nơi để từ đó bắt đầu
Sunday, May 24, 2020
Bhikkhu Bodhi – Tái sinh có ý nghĩa hay không?

Monday, April 27, 2020
Mark Siderits – Đạo Phật như Triết học (05)
Nyāya: một tạm nghỉ chen giữa
Trong
chương này, chúng ta sẽ khảo sát trường phái Nyāya của triết học India chính
thống. Nyāya đồng ý với đạo Phật rằng cuộc đời như thông thường sống thì đau
khổ, và rằng nguyên nhân sau cùng của đau khổ là sự hiểu biết không sáng suốt của
chúng ta về bản sắc định tính của chúng ta. Nhưng như một trường phái
chính thống (‘truyền thống tín ngưỡng Brahma’), Nyāya chấp nhận sự tồn tại của
một cái tôi. Nó cũng đã chủ trương rằng có những sự vật việc vốn tồn tại
vĩnh cửu. Như vậy, nó bất đồng với hai trong ba tuyên bố của đạo Phật về
những đặc tính của sự tồn tại. Hơn nữa, văn học nền tảng của trường phái
này đã được soạn thảo có lẽ cũng muộn, vào khoảng 5 thế kỷ sau khi đức Phật qua
đời, trong thế kỷ thứ hai CN. Ngay cả nếu văn học này phản ảnh một truyền thống
truyền miệng cổ hơn, bản thân đức Phật có lẽ không biết gì đến Nyāya. Như
vậy, tại sao chúng ta nên nghiên cứu Nyāya? Có hai lý do. Thứ nhất,
tranh luận giữa đạo Phật và Nyāya về sự tồn tại của cái-tôi có ảnh hưởng sâu xa
đến sự phát triển của triết học đạo Phật từ thế kỷ thứ hai CN trở đi. Thứ
hai, một số dụng cụ và khái niệm then chốt của triết học India bắt nguồn từ
Nyāya. Vì vậy, một khảo sát ngắn gọn về hệ thống Nyāya sẽ giúp chúng ta
hiểu rõ hơn tranh luận đó. Và khi chúng ta càng hiểu biết tranh luận này
tốt hơn bao nhiêu, chúng ta sẽ ở vị trí càng tốt hơn bấy nhiêu, để quyết định
bên nào đã là đúng về cái tôi và về bản chất của thế giới.
Wednesday, April 22, 2020
Mark Siderits – Đạo Phật như Triết học (04)
CHƯƠNG BỐN
Đạo đức học đạo Phật
Quan điểm
về con người chúng ta đã thảo luận trong chương trước là một hình thức của thuyết thu giảm. [1] Một người theo thuyết thu giảm về một loại nào đó
của những sự vật việc thì chủ trương rằng những sự vật việc thuộc loại đó không
tồn tại trong nghĩa hẹp chính xác rằng – sự
tồn tại của chúng chỉ gồm trong sự tồn tại của những loại khác của những sự vật
việc. Thí dụ, quan điểm của đạo Phật về không có cái-tôi, nói rằng sự
tồn tại của một con người chỉ gồm trong sự diễn ra của một chuỗi nhân quả phức
tạp của những skandhas nhất
thời, tồn tại chỉ khoảnh khắc và không gán vào một gì như chủ thể. Nhưng những
người đạo Phật không phải là những người duy nhất giữ một quan điểm thu giảm về
con người. Trong một số những diễn giải, Locke và Hume đều đã chủ trương
một quan điểm như vậy. Gần đây hơn, Derek Parfit đã cho quan điểm thu
giảm về con người một biện hộ uyên bác và phức tạp, trong đó ông giải thích
nhân vì sự phủ nhận rằng sự tiếp tục tồn tại của một con người bao gồm bất kỳ
‘sự kiện xa
hơn’ ở ngoài
và vượt trên những sự kiện về một chuỗi nhân quả gồm những yếu tố tâm sinh
lý. Đây là những gì ông nói về những tác dụng của việc đi đến để tin tưởng
rằng quan điểm thu giảm thì đúng với bản thân: [2]
Sunday, April 19, 2020
Mark Siderits – Đạo Phật như Triết học (03)
Không
Có cái-Tôi: Những Cá Thể
Trống Rỗng
Đức Phật chủ trương rằng chúng ta gánh
chịu kinh nghiệm đau khổ của saṃsāra
vì sự hiểu biết không sáng suốt của chúng ta về ba tính chất đặc biệt: không gì
tồn tại mãi mãi, Khổ và Không Có cái-Tôi vĩnh viễn không đổi [1].
Trong ba đặc tính này, đặc tính Không Có
cái-Tôi đóng vai trung tâm trong việc ‘chuẩn bệnh’ của ngài. Theo đạo Phật
ban đầu, cái-tôi, thì không thực có, và những cá thể thì rốt ráo đến cùng đều
không là thực. Điều này, phần nào cô
đọng khó hiểu, có thể được nói như: chúng ta là những con người với cá thể trống
rỗng [2],
những cá nhân là những con người trống rỗng cái-tôi [3].
Trong chương này, chúng ta sẽ khảo sát tuyên bố này. Chúng ta sẽ xem xét một số
những lập luận thấy trong những bản văn đạo Phật ban đầu với tuyên bố rằng
Không Có cái-Tôi. Và chúng ta sẽ cố gắng để xác định xem khi nói rằng những cá
thể thì cuối cùng không là-thực có
nghĩa gì. Nhưng trước khi chúng ta có thể làm một trong những điều này, chúng
ta cần phải xác định ý nghĩa của việc nói rằng có một cái-tôi (hay cái tôi). Từ
‘cái tôi’ được dùng theo nhiều cách khác nhau, chỉ một trong số đó thì liên
quan với câu hỏi triết học vốn đức Phật đang cố gắng trả lời. Chúng ta có thể
tránh được nhiều nhầm lẫn về những gì người đạo Phật có ý muốn nói với học thuyết
của họ về không-có-cái-tôi, nếu chúng ta bắt đầu bằng hiểu rõ về những gì họ có
ý muốn nói, khi họ nói về một ‘cái tôi’.



