Một Chuyên Luận Về Bản Chất Con Người
(A Treatise of Human Nature)
David Hume
QUYỂN 1
PHẦN 4
MỤC VII.
Kết Luận Của Quyển Sách.
T 1.4.7.1, SBN 263–264
Nhưng trước khi dấn bước vào những vực sâu mênh mông của
triết học [1]
đang mở ra trước mắt, tôi cảm thấy mình muốn dừng lại một lát ở vị trí hiện tại
và suy ngẫm về chuyến hải hành mà tôi đã bắt đầu, một chuyến hải hành chắc chắn
đòi hỏi tài nghệ và sự cần mẫn cao độ [2] mới
có thể đưa đến một kết cục tốt đẹp.
Tôi thấy mình chẳng khác nào một người, sau khi đã va phải
nhiều bãi cạn và suýt nữa đắm tàu khi vượt qua một eo biển hẹp, vẫn cả gan ra
khơi trên chính con tàu cũ kỹ, dột nát và dãi dầu sóng gió ấy; thậm chí, tham vọng
của người đó còn đi xa đến mức nghĩ rằng mình có thể đi vòng quanh thế giới
trong những hoàn cảnh bất lợi như vậy.
Ký ức về những sai lầm và những điều rối rắm trong quá khứ
khiến tôi không còn tin tưởng vào khả năng thành công trong tương lai. Tình trạng
khốn khổ, sự yếu kém và sự rối loạn của những năng lực mà tôi phải sử dụng
trong những cuộc khảo cứu càng làm tăng nỗi lo ngại của tôi. Còn việc không thể
cải thiện hay sửa chữa những năng lực ấy gần như đẩy tôi đến tuyệt vọng, khiến
tôi quyết định thà chết trên tảng đá cằn cỗi nơi tôi đang đứng còn hơn liều
mình lao ra đại dương vô biên, trải rộng đến tận cùng vô hạn.
Cái nhìn bất chợt về mối nguy hiểm đang đe dọa mình khiến
tôi chìm trong u sầu; và vì tình cảm ấy, hơn tất cả những tình cảm khác, thường
có khuynh hướng tự nuông chiều chính nó, nên tôi không thể ngăn mình tiếp tục
nuôi dưỡng sự tuyệt vọng bằng tất cả những suy tưởng bi quan mà đề tài trước mắt
cung cấp cho tôi một cách dồi dào đến thế.
T 1.4.7.2, SBN 264–265
Trước hết, tôi kinh hãi và bối rối trước cảnh cô độc
hoang vắng mà triết học đã đặt tôi vào; tôi tưởng tượng mình là một quái vật kỳ
dị, xa lạ, không thể hòa nhập và gắn bó với xã hội, vì thế đã bị đuổi khỏi mọi
sự giao tiếp với con người, bị bỏ mặc hoàn toàn, không nơi nương tựa và không
ai chia sẻ.
Tôi rất muốn chạy vào giữa đám đông để tìm nơi trú ẩn và
hơi ấm; nhưng tôi không thể khiến mình hòa vào một đám đông dị dạng như thế.
Tôi kêu gọi những người khác đến cùng mình để chúng tôi lập thành một nhóm
riêng; nhưng không ai chịu nghe tôi. Ai nấy đều giữ khoảng cách và khiếp sợ cơn
bão đang trút xuống tôi từ mọi phía.
Tôi đã tự chuốc lấy sự thù địch của tất cả những nhà siêu
hình học, những nhà lôgích học, những nhà toán học, thậm chí cả những nhà gót học;
vậy tôi có thể lấy làm lạ trước những lời lăng mạ mà mình phải chịu hay không?Tôi
đã công khai bày tỏ sự không tán thành đối với những hệ thống của họ; vậy tôi
có thể ngạc nhiên nếu họ tỏ ra căm ghét hệ thống của tôi và chính bản thân tôi
hay không?
Khi nhìn ra bên ngoài, tôi thấy trước mắt mình, ở khắp mọi
phía, chỉ có tranh cãi, chống đối, giận dữ, vu khống và gièm pha. Khi quay mắt
nhìn vào bên trong, tôi chẳng tìm thấy gì ngoài sự nghi ngờ và sự không hiểu biết.
Cả thế gian dường như hợp sức chống lại và bác bỏ tôi; mặc
dù tôi yếu đuối đến mức cảm thấy tất cả những ý kiến của mình đều tự chúng rời
rạc và sụp đổ khi không có sự tán thành của người khác nâng đỡ. Mỗi bước tôi đi
đều đầy do dự, và mỗi suy ngẫm mới lại khiến tôi lo sợ rằng trong suy luận của
mình có sai lầm và điều phi lý.[3]
T 1.4.7.3, SBN 265
Vì ngoài vô số những yếu kém riêng của bản thân, tôi còn
nhận thấy biết bao yếu kém khác thuộc chung về bản tính con người, vậy làm sao
tôi có thể tự tin dấn thân vào những công cuộc táo bạo như thế? Tôi có thể chắc
chắn rằng, khi từ bỏ tất cả những ý kiến đã được xác lập, tôi đang đi theo chân
lý hay không? Và bằng tiêu chuẩn nào tôi có thể nhận ra chân lý, ngay cả nếu cuối
cùng may mắn dẫn tôi đi theo dấu chân của nó?
Ngay cả sau khi đã thực hiện những suy luận chính xác và
chặt chẽ nhất, tôi cũng không thể đưa ra lý do nào giải thích vì sao mình phải
chấp nhận những suy luận ấy; tôi chỉ cảm thấy một khuynh hướng mạnh mẽ muốn
nhìn nhận những đối tượng một cách mạnh mẽ, [4] theo
đúng cách mà chúng hiện ra trước tôi. [5]
Kinh nghiệm là một nguyên lý chỉ cho tôi biết những cách thức kết hợp khác nhau
giữa những đối tượng trong quá khứ. Thói quen là một nguyên lý khác, khiến tôi
trông đợi những sự kết hợp tương tự trong tương lai. Hai nguyên lý ấy cùng tác
động lên trí tưởng tượng, khiến tôi hình thành một số ý niệm với mức độ mãnh liệt
và sinh động cao hơn [6] những
ý niệm khác, vốn không có được những lợi thế tương tự.
Nếu không có phẩm chất này — nhờ đó não thức làm cho một
số ý niệm trở nên sống động hơn những ý niệm khác, một phẩm chất dường như rất
tầm thường và hầu như không có cơ sở trong lý trí — chúng ta sẽ không bao giờ
có thể chấp nhận bất kỳ lập luận nào, cũng không thể mở rộng sự xem xét của
mình vượt ra ngoài một số ít đối tượng đang hiện diện trước những giác quan. Thậm
chí, đối với chính những đối tượng ấy, chúng ta cũng không thể gán cho chúng bất
kỳ sự hiện hữu nào ngoài sự hiện hữu phụ thuộc vào giác quan; và chúng ta buộc
phải xem chúng hoàn toàn nằm trong chuỗi những tri giác cấu thành bản thân hay
con người của chúng ta.
Hơn nữa, ngay cả khi xét đến chính chuỗi tri giác ấy,
chúng ta cũng chỉ có thể chấp nhận những tri giác đang trực tiếp hiện diện
trong ý thức; còn những hình ảnh sống động mà trí nhớ đưa đến cho chúng ta cũng
không bao giờ có thể được xem là những hình ảnh trung thực của những tri giác
trong quá khứ. Vì vậy, trí nhớ, những giác quan và khả năng nhận thức đều dựa
trên trí tưởng tượng, hay nói cách khác, dựa trên sức sống của những ý niệm của
chúng ta. [7]
T 1.4.7.4, SBN 265–266
Không có gì đáng ngạc nhiên khi một nguyên lý bất nhất và
dễ dẫn chúng ta đến sai lầm [8]
như thế lại đưa chúng ta vào những sai lầm, nếu chúng ta cứ mù quáng làm theo
nó trong tất cả những biến đổi của nó, như chúng ta buộc phải làm. Chính nguyên
lý này khiến chúng ta suy luận từ nguyên nhân và kết quả; và cũng chính nguyên
lý ấy làm chúng ta tin tưởng vào sự hiện hữu liên tục của những đối tượng bên
ngoài khi chúng không còn hiện diện trước những giác quan.
Nhưng mặc dù hai hoạt động này đều tự nhiên và cần thiết
như nhau đối với não thức con người, trong một số hoàn cảnh, chúng lại trực tiếp
đối nghịch nhau [51]. Chúng ta không thể vừa suy luận một cách đúng đắn và nhất
quán từ nguyên nhân và kết quả, vừa tin tưởng vào sự hiện hữu liên tục của vật
chất.
Vậy chúng ta phải điều hòa hai nguyên lý ấy với nhau như
thế nào? Chúng ta nên ưu tiên nguyên lý nào? Hay nếu không ưu tiên nguyên lý
nào, mà lần lượt chấp nhận cả hai, như những triết gia vẫn thường làm, thì sau
đó chúng ta còn có thể tự tin đến mức nào khi tự nhận lấy danh hiệu cao quý ấy,
trong khi biết rõ rằng mình đang chấp nhận một mâu thuẫn hiển nhiên? [9]
Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ hai
(Jun/2026)
(Còn tiếp... →)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1] “immense depths of philosophy”= “những vực sâu mênh mông
của triết học”. Hình ảnh này vừa diễn tả chiều sâu và phạm vi rộng lớn của những
vấn đề triết học đang chờ Hume khảo sát, vừa gợi lên một cuộc hải hành đầy bất
trắc mà ông không biết liệu những năng lực nhận thức của mình có đủ sức đưa đến
đích hay không.
Cụm từ “những vực sâu mênh mông của triết học” mang một ý nghĩa đặc biệt trong toàn bộ mạch lập luận của
Hume. Đây không chỉ là một hình ảnh tu từ nói về sự sâu rộng của triết học, mà
còn gợi lên tình thế của chính tác giả khi đứng trước những vấn đề triết học mà
ông dự định tiếp tục khảo sát.
Hume
viết phần lớn A Treatise of Human Nature trong khoảng 1734–1737, khi ông
còn rất trẻ, khoảng 23–26 tuổi. Trong thời gian sống tại Pháp, đặc biệt ở La
Flèche, nơi Descartes từng theo học tại trường dòng Tên, Hume tập trung xây dựng
một công trình triết học nhằm khảo sát toàn bộ bản tính con người, từ hoạt động
nhận thức, tình cảm, đam mê cho đến những nguyên tắc chi phối đời sống đạo đức.
Ông dự định dùng phương pháp thực nghiệm để nghiên cứu con người, tương tự như
cách Newton đã khảo sát thế giới tự nhiên.
Khi viết đến cuối phần IV của quyển I, Hume vừa hoàn tất
cuộc khảo sát về khả năng nhận thức của con người. Những phân tích trước đó đã
đưa ông đến những kết luận gây bất an sâu sắc: lý trí không thể tự mình bảo đảm
tính vững chắc của những suy luận; những điều chúng ta tin tưởng về thế giới
bên ngoài, quan hệ nhân quả và sự hiện hữu liên tục của những đối tượng đều chịu
ảnh hưởng của trí tưởng tượng, thói quen và kinh nghiệm. Khi đem chính những
năng lực nhận thức ấy ra xem xét, chúng ta lại nhận thấy chúng yếu kém, bất ổn
và không thể tự sửa chữa những giới hạn của mình.
Bởi vậy, hình ảnh immense depths of philosophy còn gắn với
tình thế đặc biệt của Hume: ông đã đi đến một điểm mà những kết quả của cuộc khảo
cứu vừa qua khiến ông nghi ngờ chính những năng lực mà ông cần tiếp tục sử dụng
để nghiên cứu con người. Phía trước vẫn còn những lĩnh vực rộng lớn của triết học
mà ông dự định khảo sát, nhưng ông không còn chắc chắn liệu mình có đủ khả năng
tiếp tục hay không.
Chú ý rằng, theo cấu trúc của tác phẩm, những vực sâu triết
học mà Hume nói đến ở đây còn hướng đến hai quyển tiếp theo: quyển II, Of
the Passions (Về những đam mê), và quyển III, Of Morals (Về đạo đức).
Như vậy, ông không chỉ đứng trước những vấn đề trừu tượng của nhận thức luận,
mà còn đứng trước phần còn lại của toàn bộ dự án nghiên cứu bản tính con người.
Hume tiếp tục phát triển hình ảnh này bằng một ẩn dụ hàng
hải xuyên suốt đoạn văn. Ông ví mình như người thủy thủ đã nhiều lần va phải
bãi cạn, suýt đắm tàu khi vượt qua một eo biển hẹp, nhưng vẫn muốn tiếp tục ra
khơi trên chính con tàu cũ kỹ, dột nát và dãi dầu sóng gió ấy. Thậm chí, người
thủy thủ đó còn nuôi tham vọng đi vòng quanh thế giới. Con tàu ở đây có thể hiểu
là những năng lực nhận thức mà Hume buộc phải sử dụng trong công trình của
mình; còn chuyến hải hành tượng trưng cho toàn bộ cuộc khảo cứu triết học. Những
bãi cạn, cơn bão và nguy cơ đắm tàu gợi lên những khó khăn, mâu thuẫn và giới hạn
mà cuộc khảo cứu đã bộc lộ.
Hình ảnh này cũng cho thấy Hume ý thức được khoảng cách
giữa tham vọng của công trình và khả năng thực hiện nó. Ông muốn xây dựng một
khoa học về bản tính con người, nhưng chính việc khảo sát những nguyên lý của
nhận thức lại khiến ông nghi ngờ độ tin cậy của những năng lực cần thiết để
hoàn thành công trình ấy.
Đáng chú ý, đây là một trong những đoạn thể hiện rõ nhất
cuộc khủng hoảng hoài nghi trong triết học Hume. Tuy nhiên, ông không dừng lại ở
sự tuyệt vọng này. Trong phần còn lại của mục 7, Hume kể lại cách những sinh hoạt
thông thường, những cuộc trò chuyện, bữa ăn và trò chơi đưa ông trở về với đời
sống, khiến những suy luận triết học dẫn đến hoài nghi hoàn toàn tạm thời mất
đi sức chi phối. Qua đó, ông đi đến nhận định rằng bản tính tự nhiên của con
người mạnh hơn những kết luận hoài nghi mà lý trí có thể đưa ra.
Về lịch sử xuất bản, quyển I và quyển II của A
Treatise of Human Nature được xuất bản ẩn danh năm 1739; quyển III xuất bản
năm 1740. Công trình không được công chúng đón nhận như Hume mong đợi. Về sau,
ông phàn nàn rằng tác phẩm đã không tạo được tiếng vang như ông kỳ vọng. Tuy vậy,
những lập luận hoài nghi trong tác phẩm đã góp phần định hình danh tiếng triết
học của ông trong những năm tiếp theo.
[2] the utmost art and industry
[3] Hume và sự đối đầu với những quan niệm
triết học đương thời – Nỗi cô độc của người hoài nghi: Trong đoạn văn này (T 1.4.7.2, SBN 264–265),
Hume diễn tả tình thế cô độc của mình sau khi khảo sát những nguyên lý chi phối
hoạt động nhận thức của con người. Những kết luận ông đi đến không chỉ khiến
ông nghi ngờ những quan niệm triết học vốn được xem là chắc chắn, mà còn đặt
ông vào thế đối lập với nhiều khuynh hướng tư tưởng đương thời. Bởi vậy, khi nhắc
đến những nhà siêu hình học, những nhà lôgích học, những nhà toán học và cả những
nhà gót học, Hume muốn cho thấy phạm vi rộng lớn của những quan niệm mà những lập
luận của ông đã thách thức.
Đối với những nhà siêu hình học, Hume chất vấn những khái
niệm vốn giữ vị trí nền tảng trong triết học truyền thống, chẳng hạn như thực
thể, hồn người, bản ngã và sự hiện hữu của những đối tượng bên ngoài. Ông cho rằng
muốn biết một ý niệm có cơ sở hay không, trước hết chúng ta phải tìm được ấn tượng
làm nảy sinh ý niệm ấy. Nếu không thể chỉ ra ấn tượng tương ứng, chúng ta phải
nghi ngờ liệu ý niệm đó có thực sự mang một nội dung mà con người có thể nhận
thức hay không. Cách khảo sát này khiến nhiều khái niệm siêu hình học không còn
được mặc nhiên chấp nhận chỉ vì chúng đã được những triết gia sử dụng từ lâu.
Đối với những nhà lôgích học, vấn đề nằm ở giới hạn của
lý trí và khả năng suy luận. Hume không phủ nhận giá trị của lôgích học, nhưng
ông cho rằng lý trí không thể chỉ dựa vào chính nó để chứng minh mọi điều chúng
ta tin tưởng về thế giới. Đặc biệt, khi khảo sát quan hệ nhân quả, ông chỉ ra rằng
chúng ta không thể dùng suy luận thuần túy để chứng minh một nguyên nhân nhất định
tất yếu phải dẫn đến một kết quả nhất định. Chúng ta chỉ nhận thấy những sự kiện
thường xuyên nối tiếp nhau qua kinh nghiệm; từ sự lặp lại ấy, trí tưởng tượng
hình thành thói quen chờ đợi một kết quả khi gặp lại nguyên nhân quen thuộc.
Như vậy, sự tin tưởng vào quan hệ nhân quả không xuất phát từ một phép chứng
minh của lý trí về tính tất yếu, mà hình thành từ kinh nghiệm và thói quen.
Đối với những nhà toán học, Hume cũng đặt lại vấn đề về
cơ sở của những ý niệm toán học, nhất là khi bàn về không gian, thời gian và
tính khả phân vô hạn. Trong phần khảo sát không gian và thời gian (T 1.2), ông
xem xét liệu chúng ta có thực sự hình dung được những đại lượng có thể chia nhỏ
vô hạn hay không, và liệu những điểm không thể chia nhỏ hơn nữa có phải là những
thành phần cần thiết của sự mở rộng trong không gian hay không. Những lập luận ấy
đưa ông đến chỗ chất vấn một số giả định mà toán học và triết học tự nhiên
đương thời thường sử dụng. Tuy nhiên, không nên hiểu rằng Hume phủ nhận toàn bộ
toán học. Điều ông quan tâm là giới hạn của những ý niệm và phép chứng minh
toán học khi chúng được dùng để nói về những đối tượng mà con người có thể hình
dung và kinh nghiệm.
Những nhà gót học cũng không nằm ngoài phạm vi chất vấn của
Hume. Vào thế kỷ XVIII, nhiều nhà tư tưởng cố gắng dùng lý trí để chứng minh sự
hiện hữu và những thuộc tính của Gót, chẳng hạn bằng cách suy luận từ trật tự của
thế giới tự nhiên đến sự hiện hữu của một nguyên nhân sáng tạo. Nhưng khi Hume
đặt vấn đề về cơ sở của suy luận nhân quả, ông đồng thời làm suy yếu một trong
những con đường thường được dùng để xây dựng những lập luận thuộc gót học tự
nhiên. Nếu chúng ta không thể chứng minh rằng một nguyên nhân nhất thiết phải dẫn
đến một kết quả, thì chúng ta cũng phải xem xét lại cơ sở của việc suy luận từ
những gì chúng ta quan sát được trong thế giới đến một nguyên nhân vượt ra
ngoài kinh nghiệm.
Những chất vấn ấy giải thích vì sao Hume có thể hình dung
mình đang đứng đối diện với nhiều giới học thuật cùng một lúc. Tuy nhiên, khi
ông nói rằng mình đã khiến tất cả những nhà siêu hình học, những nhà lôgích học,
những nhà toán học và những nhà gót học trở thành kẻ thù, chúng ta không nên hiểu
câu này như một bản tường thuật chính xác rằng tất cả những người thuộc những ngành
ấy đều thực sự chống đối ông. Đây là cách nói có phần cường điệu, diễn tả cảm
giác của một người nhận thấy những lập luận của mình đi ngược lại quá nhiều
quan niệm đã được thừa nhận. Cũng cần nhớ rằng A Treatise of Human Nature
được xuất bản ẩn danh năm 1739 và ban đầu không nhận được sự chú ý mà Hume mong
đợi. Những phản ứng phê phán nổi bật đối với triết học của ông chỉ xuất hiện rõ
hơn trong những năm sau đó.
Chẳng hạn, Thomas Reid (1710–1796), triết gia Scotland
thuộc thời Khai sáng, đã phê phán những hệ quả hoài nghi mà ông cho là phát
sinh từ triết học của Hume trong tác phẩm An Inquiry into the Human Mind on
the Principles of Common Sense (1764). Reid cho rằng con người phải dựa vào
những nguyên lý căn bản của nhận thức và phán đoán thực tiễn dựa trên kiến thức
thông thường; chúng ta không thể gạt bỏ những nguyên lý ấy chỉ vì những lập luận
triết học trừu tượng. James Beattie (1735–1803), một triết gia và nhà văn
Scotland khác, cũng công kích thuyết hoài nghi trong An Essay on the Nature
and Immutability of Truth (1770), đặc biệt là những lập luận của Hume. Những
phản ứng này cho thấy triết học của Hume đã thực sự trở thành đối tượng tranh
luận gay gắt trong đời sống tư tưởng Scotland và Anh vào nửa sau thế kỷ XVIII.
Sau khi nói đến sự chống đối mà mình dự liệu từ bên
ngoài, Hume quay sang mô tả tình trạng của chính mình: “Khi nhìn ra bên ngoài,
tôi thấy trước mắt mình, ở khắp mọi phía, chỉ có tranh cãi, chống đối, giận dữ,
vu khống và gièm pha. Khi quay mắt nhìn vào bên trong, tôi chẳng tìm thấy gì
ngoài sự nghi ngờ và sự không hiểu biết.”
Hai hướng nhìn này diễn tả hai mặt của cùng một tình thế.
Khi nhìn ra bên ngoài, Hume thấy mình không có được sự đồng tình của những người
đang bảo vệ những hệ thống triết học mà ông đã công khai bác bỏ. Ông dự liệu những
cuộc tranh cãi, sự chống đối và cả những lời công kích nhằm vào cá nhân mình.
Nhưng khi quay vào bên trong, ông cũng không tìm được một nền tảng chắc chắn để
tự bảo đảm cho những kết luận của mình. Chính cuộc khảo sát triết học đã khiến
ông nhận ra rằng những năng lực nhận thức mà con người vẫn dựa vào không thể tự
chứng minh tính đáng tin cậy của chúng. Ông không thể hoàn toàn tin cậy vào lý
trí, nhưng cũng không thể từ bỏ lý trí mà vẫn tiếp tục công việc triết học.
Vì thế, sự cô độc mà Hume nói đến không chỉ là cảm giác bị
người khác xa lánh. Đó còn là tình trạng một người không tìm được chỗ dựa ở bên
ngoài, trong khi chính mình cũng không có đủ cơ sở để hoàn toàn tin tưởng vào
những suy nghĩ của bản thân. Ông không chỉ lo ngại người khác sẽ phản đối mình;
ông còn lo rằng những ý kiến của chính mình sẽ không thể đứng vững nếu thiếu sự
tán thành của họ.
Điều này thể hiện rõ trong câu: “Cả thế gian dường như hợp
sức chống lại và bác bỏ tôi; mặc dù tôi yếu đuối đến mức cảm thấy tất cả những
ý kiến của mình đều tự chúng rời rạc và sụp đổ khi không có sự tán thành của
người khác nâng đỡ.”
Câu văn cho thấy một nghịch cảnh đáng chú ý. Hume biết rằng
sự đồng tình của người khác không thể tự nó chứng minh một ý kiến là đúng. Tuy
nhiên, ông cũng nhận thấy bản thân không hoàn toàn thoát khỏi ảnh hưởng của sự
đồng tình ấy. Khi không có người khác nâng đỡ, những ý kiến của ông dường như mất
đi sức đứng vững và tự tan rã. Như vậy, ngay cả người đang chất vấn những cơ sở
của sự tin tưởng cũng không thể dễ dàng thoát khỏi nhu cầu được người khác thừa
nhận.
Đoạn văn này vì thế không chỉ diễn tả nỗi bất an cá nhân
của Hume, mà còn cho thấy một mâu thuẫn nằm ngay trong cuộc khảo cứu triết học
của ông. Hume muốn dùng những năng lực nhận thức của con người để tìm hiểu những
nguyên lý chi phối chính những năng lực ấy. Nhưng càng khảo sát sâu, ông càng
nhận thấy chúng không thể tự bảo đảm cho tính chắc chắn của những kết luận mà
chúng đưa ra. Nếu tiếp tục tin theo lý trí, ông phải đối diện với những kết luận
hoài nghi do chính lý trí dẫn đến; nhưng nếu bác bỏ những kết luận ấy, ông lại
không có một cơ sở vững chắc để giải thích vì sao mình có thể tin vào những suy
luận khác.
Đây cũng là điểm dẫn sang phần tiếp theo của mục 7. Hume
sẽ tìm cách thoát khỏi tình trạng hoài nghi ấy không phải bằng cách đưa ra một
phép chứng minh mới của lý trí, mà bằng cách trở lại với những hoạt động tự
nhiên của đời sống con người. Những sinh hoạt thường ngày, những cuộc trò chuyện
và những mối quan tâm thông thường dần kéo ông ra khỏi những suy tưởng triết học
trừu tượng. Qua đó, Hume nhận thấy rằng con người không thể sống chỉ bằng những
kết luận của lý trí: bản tính tự nhiên, kinh nghiệm và thói quen vẫn tiếp tục
chi phối cách chúng ta suy nghĩ và hành động, ngay cả khi những lập luận triết
học khiến chúng ta nghi ngờ chính những điều ấy.
[4] Trong câu văn này, Hume cố ý dùng hai từ cùng gốc nhưng giữ chúng ở hai
vị trí ngữ pháp khác nhau: a strong propensity và to consider objects
strongly. Cụm thứ nhất chỉ một khuynh hướng mạnh mẽ mà ông cảm thấy trong
chính mình; cụm thứ hai nói đến cách ông nhìn nhận những đối tượng với một mức
độ mạnh mẽ nhất định, theo phương diện mà chúng hiện ra trước ông. Vì vậy, cả
hai từ đều cần được giữ lại trong bản dịch, nhưng người đọc không nên hiểu
chúng như hai cách diễn đạt hoàn toàn đồng nghĩa.
Điểm Hume muốn nhấn mạnh không phải là ông nhìn những đối
tượng kỹ lưỡng hơn, hay có khả năng nhận biết chúng sâu sắc hơn. Ông đang nói đến
sức mạnh của khuynh hướng khiến mình chấp nhận một cách nhìn nhận nhất định, dù
không thể đưa ra lý do để chứng minh rằng mình phải chấp nhận nó. Khuynh hướng ấy
gắn liền với sức sống mà trí tưởng tượng đem lại cho những ý niệm: một số ý niệm
hiện lên trong não thức sinh động và có sức thuyết phục hơn những ý niệm khác,
khiến chúng ta tự nhiên nghiêng về phía chúng và tin tưởng vào chúng. Như vậy,
strong nhấn mạnh sức mạnh của khuynh hướng, còn strongly nhấn mạnh cường độ của
cách nhìn nhận mà khuynh hướng ấy thúc đẩy. Cách dùng lặp lại hai từ cùng gốc
giúp Hume làm nổi bật mối liên hệ giữa khuynh hướng tự nhiên của con người và sức
sống của những ý niệm, đồng thời cho thấy rằng sự chấp nhận của chúng ta không
phải lúc nào cũng bắt nguồn từ những lý do vững chắc của lý trí.
[5] Cụm này có nghĩa là theo phương diện hay cách nhìn mà những đối tượng
hiện ra trước tôi. Hume không nói rằng ông có thể xác định chắc chắn những đối
tượng thực sự là gì. Trái lại, ông đang thú nhận rằng, sau tất cả những suy
luận của mình, ông vẫn không tìm được một lý do nào đủ sức giải thích vì sao
mình phải chấp nhận chúng. Điều còn lại chỉ là khuynh hướng tự nhiên khiến ông
nhìn nhận những đối tượng theo một cách nhất định. Ở đây, that view và under
which không chỉ hai cách nhìn khác nhau. That view chỉ cách nhìn hay phương
diện nhận thức; còn under which they appear to me giải thích cách nhìn
ấy: đó chính là phương diện mà những đối tượng hiện ra trước Hume. Chú ý rằng
Hume không khẳng định những đối tượng thực sự tồn tại đúng như cách chúng hiện
ra. Ông chỉ nói rằng mình có một khuynh hướng mạnh mẽ muốn nhìn nhận chúng theo
cách chúng xuất hiện trước mình. Chính sự khác biệt giữa cách đối tượng hiện ra
và lý do để tin rằng cách hiện ra ấy là đúng nằm ở trung tâm đoạn văn này.
[6] Ở đây, intense và lively cùng mô tả cách trí tưởng tượng
làm cho một số ý niệm nổi bật hơn những ý niệm khác. Có thể dịch là “với mức độ
mãnh liệt và sinh động cao hơn”. Cần phân biệt phẩm chất này với chính nội dung
của ý niệm: hai ý niệm có thể khác nhau về mức độ sinh động, mặc dù không nhất
thiết khác nhau về nội dung mà chúng trình bày.
Đây là điểm quan trọng
trong lý thuyết về sự tin tưởng của Hume. Một ý niệm không trở thành đáng tin
chỉ vì chúng ta suy luận được rằng nó đúng; nó còn phải có một sức sống đặc
biệt trong não thức. Kinh nghiệm và thói quen cùng tác động lên trí tưởng
tượng, làm cho một số ý niệm có sức sống lớn hơn những ý niệm khác.
[7] Câu kết đoạn 3 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Hume không chỉ nói rằng
trí tưởng tượng ảnh hưởng đến trí nhớ, giác quan và khả năng nhận thức. Ông đưa
ra một khẳng định mạnh hơn: cả ba đều dựa trên trí tưởng tượng, hiểu theo nghĩa
rộng là sức sống của những ý niệm. Điều này không có nghĩa trí tưởng tượng tự
do bịa đặt ra mọi tri giác hay mọi ký ức. Hume đang nói đến vai trò của sức sống
trong việc khiến chúng ta chấp nhận những ý niệm như những hình ảnh đáng tin cậy
về những đối tượng hoặc những tri giác trong quá khứ. Nếu không có sức sống ấy,
chúng ta không thể đi từ những gì đang hiện diện trước giác quan đến những gì
đã xảy ra trong quá khứ, cũng không thể suy luận về những gì không còn hiện diện
trước giác quan.
[8] A principle so inconstant and fallacious: Inconstant
ở đây là không ổn định, thay đổi thất thường; fallacious là có khả năng dẫn đến
sai lầm hoặc đánh lừa chúng ta. Vì thế, “một nguyên lý bất nhất và dễ dẫn chúng
ta đến sai lầm”:Hume đang nói đến trí tưởng tượng và sức sống của những ý niệm.
Nguyên lý này cần
thiết cho hoạt động nhận thức, nhưng nó không phải một nền tảng vững chắc mà
chúng ta có thể tin cậy trong mọi trường hợp. Nó có thể dẫn chúng ta đến những
kết luận khác nhau, thậm chí trái ngược nhau.
[9] Mâu
thuẫn giữa suy luận nhân quả và niềm tin vào sự hiện hữu liên tục của những đối
tượng bên ngoài: Đoạn này đưa ra một khó khăn quan trọng hơn: cùng một
nguyên lý khiến chúng ta suy luận từ nguyên nhân và kết quả cũng khiến chúng ta
tin rằng những đối tượng bên ngoài vẫn tiếp tục hiện hữu khi chúng không còn được
tri giác.
Hume cho rằng hai hoạt động này có thể xung đột trong một
số hoàn cảnh. Khi suy luận theo quan hệ nhân quả, chúng ta không có cơ sở để khẳng
định rằng những đối tượng vẫn tiếp tục hiện hữu trong khoảng thời gian chúng ta
không tri giác chúng. Nhưng trí tưởng tượng lại khiến chúng ta tin vào chính sự
hiện hữu liên tục ấy. Vì vậy, nếu muốn giữ cho suy luận nhân quả được đúng đắn
và nhất quán, chúng ta không thể đồng thời duy trì một cách không phê phán niềm
tin vào sự hiện hữu liên tục của vật chất.
Câu cuối cùng có giọng điệu tự vấn và châm biếm. Hume đặt
câu hỏi về tư cách của những triết gia: nếu họ biết rõ rằng mình đang lần lượt
chấp nhận hai nguyên lý dẫn đến những kết luận đối nghịch, thì họ còn có thể tự
tin nhận lấy danh hiệu cao quý của nhà triết học hay không? Cụm usurp that
glorious title không đơn thuần có nghĩa là “chiếm lấy danh hiệu”; usurp còn
hàm ý tự tiện nhận lấy một danh hiệu mà mình không thực sự có quyền nhận. Vì thế,
cách dịch “tự nhận lấy danh hiệu cao quý ấy” giữ được phần nào sắc thái mỉa
mai, dù chưa diễn đạt hết hàm ý của động từ usurp.
Một lưu ý về lập luận: Hume không kết luận ở đây rằng
chúng ta có thể đơn giản từ bỏ một trong hai nguyên lý. Cả hai đều tự nhiên và
cần thiết đối với đời sống nhận thức. Chính vì không thể dễ dàng loại bỏ nguyên
lý nào, ông mới đặt ra khó khăn: làm sao chúng ta có thể tự nhận mình là những
nhà triết học có suy luận nhất quán, nếu chính hoạt động nhận thức của chúng ta
buộc chúng ta chấp nhận những kết luận mâu thuẫn nhau?
