Thursday, November 21, 2019

Hume – Những Đàm Thoại Về Tôn Giáo Tự Nhiên (02)


Những Đàm thoại về Tôn giáo Tự nhiên
Dialogues on Natural Religion
David Hume









PHẦN I.

Trò chuyện giữa Demea, Cleanthes và Philo bắt đầu với một câu hỏi về giáo dục: khi nào thì tốt nhất để bắt đầu dạy gót học cho những sinh viên? Demea lập luận rằng gót học chỉ nên được dạy cho một trí tuệ trưởng thành: một sinh viên trước tiên nên học logic, đạo đức và vật lý, và chỉ sau đó họ mới nên quay sang gót học. Ông có hai lý do để chuộng thứ tự này. Thứ nhất, bằng nghiên cứu những môn học khác trước, não thức được chín chắn và sẵn sàng với môn học khó nhất trong tất cả, gót học. Thứ hai, và hơn nữa, theo quan điểm của Đàm thoại, ông muốn những sinh viên của ông đầu tiên được thấy triết học thực sự rất giới hạn như thế nào. Ông muốn họ biết, chẳng hạn, những người học thức hiếm khi có thể đưa ra những kết luận chắc chắn giữa chính họ và rằng người khôn ngoan nhất thường đưa ra những giả thuyết phi lý nhất. Bằng cách cho những sinh viên của mình thấy sự hạn hẹp của triết học, Demea tin ông có thể chắc chắn rằng họ sẽ không quá kiêu căng khi nghĩ rằng họ có thể dùng lý trí để lật đổ những tin tưởng tôn giáo.


Động lực thứ hai của Demea nghe nhiều phần giống như một lập trường của người theo thuyết tán dương lòng tin tôn giáo. Philo chọn lấy dòng suy nghĩ này của thuyết tán dương lòng tin tôn giáo và khai triển nó. Ông nhấn mạnh rằng lý trí con người thì thực sự là yếu đuối và hạn chế như thế nào, và cũng như sự quan trọng của nhận thức này (tức là giới hạn của lý trí) đối với lòng kính tín tôn giáo. Nhận biết rằng lý trí của con người thì yếu đuối như thế, thật không nên gắng thử áp dụng nó vào những vấn đề khó khăn và quan trọng như gót học.

Tất nhiên, Cleanthes rất kinh hoàng khi hai người bạn của ông đều đề nghị đặt tin tưởng tôn giáo trên sự hoài nghi triết học hơn là trên lý trí. Ông dành phần còn lại của chương để cố gắng vạch trần sự hoài nghi của Philo là không thành thật. Philo đáp lại bằng cách liên tục sửa đổi lập trường hoài nghi của mình thành những hình thức ngày càng tinh tế hơn. Ban đầu, có vẻ như Philo đang tuyên bố rằng chúng ta không thể thực sự tin bất cứ gì. Sau đó, Cleanthes hỏi, liệu ông sẽ ra về bằng cửa hay cửa sổ khi họ chấm dứt cuộc thảo luận của họ: nghĩa là có phải ông có đủ hoài nghi về những luật về lực hấp dẫn khiến ông sẽ nhảy xuống nhiều tấng nhà hay không?

Philo nói với Cleanthes rằng ông đã nhầm lẫn lập trường hoài nghi của mình: Philo tin những gì lý trí của ông bảo ông tin, nhưng ông tỷ lệ tin tưởng của mình vào bằng chứng. Trong những lĩnh vực mà chúng ta có nhiều kinh nghiệm và nhiều bằng chứng dựa trên đó để đưa ra kết luận của chúng ta (những lĩnh vực như cuộc sống hàng ngày, đạo đức, chính trị, thương mại, hay ngay cả nhảy qua cửa sổ), Philo giải thích, chúng ta có thể tin tưởng mạnh mẽ vào kết luận của mình . Nhưng khi nói đến những chủ đề mà chúng ta không có kinh nghiệm trực tiếp, chẳng hạn như sự hình thành thế giới, hoặc bản chất của Gót, chúng ta không có cơ sở nào để biện minh một cách hợp lý bất kỳ kết luận nào của chúng ta. Thay vì tuyên bố cực đoan rằng chúng ta không thể tin bất cứ gì, Philo thực sự đưa ra tuyên bố khiêm tốn hơn nhiều, rằng chúng ta chỉ nên tin vào những gì chúng ta có bằng chứng tốt để tin, và chúng ta chỉ có bằng chứng tốt trong những lĩnh vực kiến ​​thức mà chúng ta có kinh nghiệm trực tiếp.

Mặc dù vậy, Cleanthes không hài lòng với tuyên bố hoài nghi khiêm tốn này. Ông chỉ ra rằng Philo và những đồng nghiệp hoài nghi của mình dường như không gặp khó khăn gì khi đưa ra kết luận khi nói đến khoa học đầu cơ. Chẳng hạn, họ dường như tin tưởng vào những kết luận do Newton, Copernicus và Galileo rút ra mặc dù những chủ đề liên quan này rất xa với kinh nghiệm hàng ngày của chúng ta. Đó là định kiến ​​thuần túy, ông tuyên bố, ngăn cản họ cho phép cùng một phương pháp lý luận trong gót học. Nếu lý trí của con người đủ tốt để biện minh cho những lý thuyết khoa học lý thuyết, nói cách khác, nó đủ tốt để biện minh cho những lý thuyết gót học. Ông kết luận bằng cách khẳng định rằng thực sự không có khác biệt giữa người hoài nghi và người không-tin-có-gót.

Philo biện hộ cho mình chống lại luận điệu của tư tưởng không-tin-có-gót, sau khi xác định tin tưởng mạnh mẽ của ông vào sự là có của Gót. Tuy nhiên, ông chỉ ra rằng những tổ chức tôn giáo (những hội nhà thờ) thực sự có vẻ như đong đưa quan điểm của họ về thuyết hoài nghi: họ chấp nhận thuyết hoài nghi bất cứ khi nào lý trí dường như đe dọa quyền lực của họ, và họ bám lấy lý trí khi nó trở thành cách duy nhất để giữ ảnh hưởng của họ.

Phân tích
Dấu hiệu của Philo về chủ nghĩa hoài nghi triết học thì quen thuộc ngay lập tức với những người đọc những tác phẩm khác của Hume, đặc biệt là người đọc Treatise on Human Nature and the Enquiry Concerning Human Understanding. Hume liên tục quan tâm đến việc cho thấy rằng chúng ta không hợp lý trong tin tưởng tin vào một gì đó mà chúng ta nghĩ rằng chúng ta đã có lý tin tưởng vào nó; và ông thường cho thấy rằng những tin tưởng của chúng ta đều không hợp lý bằng cách cho thấy rằng chúng ta không có kinh nghiệm về loại liên hệ.

Ngay cả nếu chúng ta chưa đọc những tác phẩm khác của Hume, nhưng nếu quen thuộc với những luận chứng hoài nghi khác của ông, điều đó sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn lập trường của ông trong Đàm thoại này. Nổi tiếng nhất trong những luận chứng hoài nghi của ông là lập luận về quan hệ nhân quả. Trong Treatise on Human Nature and the Enquiry, ông biện luận rằng chúng ta không thể biện minh một cách hợp lý những suy luận quy nạp mà chúng ta đưa ra từ những sự kiện đã quan sát đến những sự kiện không quan sát được – đó là, bất kể dù bao nhiêu lần đi nữa, chúng ta đã thấycA xảy ra theo sau B đã xảy ra, bằng chứng này sẽ không bao giờ là đủ để cho chúng ta thấy rằng B sẽ tiếp tục xảy ra sau A trong tương lai. Để nhắc lại một trong những thí dụ nổi tiếng hơn của ông, bất kể bao nhiêu lần chúng ta thấy mặt trời mọc mỗi buổi sáng (giả định là rất nhiều lần) nhưng chúng ta không bao giờ đi đến được sự biện minh hợp lý cho sự tin tưởng rằng nó sẽ mọc vào sáng hôm sau. Điều này không có nghĩa là chúng ta không nên tin rằng mặt trời sẽ mọc. Chúng ta nên tin như vậy, và trong thực tế, nếu chúng ta không tin điều này thì chúng ta không khôn ngoan. Vấn đề chỉ là chúng ta không biện minh được là hợp lý trí trong tin tưởng vào điều đó.

Tại sao chúng ta không hợp lý khi tin rằng ngày mai mặt trời sẽ mọc? Chúng ta sẽ phải được biện minh hoặc bằng lý luận lý trí hoặc bằng viện dẫn kinh nghiệm (vì đây là những khả năng có sẵn duy nhất cho chúng ta để biết mọi sự vật việc). Lý trí không chứng minh rằng mặt trời sẽ tiếp tục mọc vào ngày mai, vì theo Hume, lý trí chỉ có thể chứng minh một gì đó bằng cách cho thấy rằng phủ nhận nó tất dẫn đến mâu thuẫn (và do đó, lý trí không thể được dùng để chứng minh bất kỳ vấn đề thực tế nào), và có không có mâu thuẫn lôgich trong phát biểu, “mặt trời sẽ không mọc vào ngày mai.” Kinh nghiệm cũng không thể biện minh cho tin tưởng này, vì tất cả những gì chúng ta từng có kinh nghiệm là những gì đã xảy ra trong quá khứ. Để suy luận bất cứ gì về tương lai từ những gì chúng ta đã quan sát về quá khứ, chúng ta sẽ phải biết rằng có một số định luật vĩnh cửu nào đó rằng tương lai có khuynh hướng để giống như quá khứ. Nhưng chúng ta không thể biết được rằng điều này có đúng hay không, vì chúng ta chỉ có thể biện minh sự tin tưởng vào luật này hoặc qua kinh nghiệm hoặc qua lý trí. Chúng ta không thể biết điều đó qua lý trí vì, một lần nữa, không có mâu thuẫn trong tuyên bố, “tương lai sẽ không giống với quá khứ.” Chúng ta không thể biết điều đó qua kinh nghiệm, vì để có được luật này từ kinh nghiệm, chúng ta sẽ phải cần đến chính luật này và nếu tiếp tục lập luận như thế, sẽ thành chạy vòng qunh, không bao giờ ngã ngũ.

Lập luận của Hume rằng chúng ta không thể suy luận từ phép qui nạp cho thấy rất nhiều về lập trường của Philo. Trước hết, nó cho chúng ta thấy rằng Philo không ngại đưa ánh mắt hoài nghi của mình vào ngay cả những kết luận thấy hàng ngày thông thường nhất. Thứ hai, nó cho chúng ta thấy lập trường đang làm việc đằng sau óc hoài nghi triết học của Philo. Philo tin rằng chỉ có hai cách để có được sự biện minh hợp lý cho một tin tưởng: a priori (tiên nghiệm - qua việc sử dụng lý trí thuần túy, không được bất kỳ kinh nghiệm cụ thể nào trợ giúp) và a posteriori (hậu nghiệm - qua điều tra về thế giới và lý luận từ những hiện tượng quan sát được đến những hiện tượng không quan sát được) . Ông tin rằng một lý luận tiên nghiệm không thể mang lại bất kỳ kiến ​​thức nào liên quan đến những vấn đề thực tế vì một lý luận tiên nghiệm chỉ tiết lộ những sự thật khái niệm vốn đối lập của chúng bao gồm một mâu thuẫn. Do đó Philo tin rằng chỉ có một lý do hậu nghiệm mới có thể biện minh cho bất kỳ vấn đề thực tế nào, chẳng hạn như sự thật trong khoa học, hoặc đạo đức, hoặc gót học. Bất cứ khi nào ông hoài nghi, thì đó sẽ là vì ông không nghĩ rằng kinh nghiệm có thể mang lại đủ bằng chứng cho chúng ta. Đây là lý do ông nói với Cleanthes rằng một người nên giữ ít hoài nghi nhất khi nói đến những lĩnh vực mà người này có kinh nghiệm trực tiếp nhất (đạo đức, chính trị, thương mại) và hoài nghi nhiều nhất khi nói đến những lĩnh vực mà người này không có kinh nghiệm trực tiếp (như gót học).

Cleanthes phản ứng với khẳng định này bằng cách chỉ ra rằng Philo tin vào những kết luận của khoa học lý thuyết. Philo không trực tiếp trả lời phản đối này. Với kiến ​​thức nền tảng liên quan đến lập luận hoài nghi khác của Hume, thật thú vị khi cố gắng tìm hiểu phản ứng của Philo đối với sự phản đối này có thể là thế nào. Ông có thể chỉ đơn giản nói rằng có rất nhiều bằng chứng kinh nghiệm khi nói đến những phán đoán của khoa học lý thuyết, hơn là khi nói đến những phán đoán của gót học. Sau hết, những nhà khoa học như Newton, Galileo và Copernicus không đơn giản nghĩ ra lý thuyết của họ từ khoảng không; họ dựa những giả thuyết của họ trên sự quan sát cẩn thận và cố gắng xác nhận những giả thuyết của họ với những thí nghiệm và dự đoán chính xác. Sức mạnh của một lý thuyết khoa học, trong thực tế, được xác định bởi mức độ phù hợp chính xác đến đâu giữa lý thuyết với bằng chứng liên quan vốn chúng ta thấy được qua kinh nghiệm.

Philo đưa ra sự so sánh này giữa những bằng chứng kinh nghiệm tương đối trong trường hợp của khoa học và gót học sau này trong quyển sách, nhưng ông không nêu nó lên ở đây, và chúng ta chỉ có thể tự hỏi tại sao. Có lẽ Hume không thực sự nghĩ rằng những lý thuyết khoa học này là biện minh hợp lý được, nếu phải nói cho thật đúng. Sau hết, chúng tất cả đều dựa trên một hình thức lý luận mà ông đã nghi ngờ (tức là suy diễn những hiện tượng không quan sát được từ những hiện tượng quan sát được). Tuy nhiên, nếu đưa ra thuyết hoài nghi tinh tế của ông trước những lý thuyết khoa học này, sẽ chỉ làm phức tạp thêm vấn đề và làm mất sự chú ý cần thiết với chủ đề hiện có, đó là câu hỏi liệu tin tưởng tôn giáo có thể được biện minh một cách hợp lý hay không. Đây có thể là lý do Hume đã chọn để Philo không trả lời gì cả về câu hỏi này: nếu trả lời mà không đưa ra ý kiến ​​đầy đủ của mình sẽ thành không trung thực trí thức; nếu trả lời và đưa ra ý kiến ​​đầy đủ sẽ đưa chúng ta đi xa khỏi điểm chính của đàm thoại này.




Phần I.

D 1.1, KS 130
Sau khi tôi đã nhập vào nhóm đông, những người mà tôi đã thấy đang ngồi trong phòng sách của Cleanthes, Demea đã trao cho Cleanthes một vài khen ngợi, về sự chăm sóc chu đáo, vốn ông đã nhận trong việc giáo dục cho tôi, và về sự bền chí và kiên định không mệt mỏi của ông trong tất cả những tình bạn của ông. Cha của Pamphilus, ông nói, là người bạn thân thiết của bạn: Đứa con trai là học trò của bạn, và quả thực có thể xem như con nuôi của bạn; chúng tôi đã phán đoán bởi những nhọc nhằn vốn bạn dành cho trong việc truyền đạt cho Pamphilus mọi ngành hữu ích của văn học và khoa học. Bạn thì không thiếu xót, tôi được thuyết phục, trong sự thận trọng còn hơn trong sự cần mẫn nhiệt tình. Do đó, tôi sẽ nói với bạn một châm ngôn vốn tôi đã tuân theo về phần những con cái của riêng tôi, khiến tôi có thể biết nó hợp ý được đến đâu so với thực hành của bạn. Phương pháp tôi đi theo trong việc giáo dục của chúng đã thành lập trên câu nói của một người xưa, “rằng những sinh viên của triết học đầu tiên phải học Logic, sau đó là Đạo đức, Vật lý thì tiếp theo, sau cùng tất cả là Bản chất của những gót[1]. Khoa học về Gót học Tự nhiên này [2] , theo người nói này, là thâm sâu và trừu tượng nhất của bất kỳ ngành học nào, đòi hỏi sự phán xét chín chắn nhất trong những sinh viên của nó; và không gì ngoài một não thức, đã được làm giàu với tất cả những khoa học khác, có thể an toàn để ủy thác với nó.

D 1,2, KS 130-1
Có phải bạn quá muộn không, Philo nói, trong việc dạy cho con cái bạn những nguyên lý của tôn giáo? Có phải không có nguy cơ của việc chúng sao nhãng hay gạt bỏ cả thảy những ý kiến ​​đó, vốn chúng đã nghe quá ít về chúng, trong toàn bộ quá trình giáo dục của chúng? Nó thì chỉ như một ngành khoa học, Demea trả lời, chịu là đối tượng cho lý luận và tranh luận của con người, khiến tôi tạm hoãn sự học hỏi về Gót học Tự nhiên. Để làm dày dạn sớm não thức của chúng với lòng kính tín là quan tâm chính của tôi; và bằng liên tục giáo huấn và chỉ dẫn, và tôi cũng hy vọng, bằng làm gương thí dụ, tôi in sâu vào não thức mềm mại  của chúng đến thành thói quen một sự tôn kính với tất cả những nguyên tắc của tôn giáo. Trong khi chúng trải qua mọi ngành học khác, tôi vẫn nhận xét sự không chắc chắn của mỗi ngành, những tranh cãi muôn thuở của con người, sự mơ hồ của mọi triết lý, và những kết luận kỳ lạ, lố bịch, vốn một số những thiên tài lớn lao nhất đã rút ra từ những nguyên lý của chỉ đơn thuần lý trí con người. Sau khi đã thuần hóa não thức của chúng với một sự khuất phục và khiêm tốn-về chính mình, tôi thội không còn bất kỳ khó khăn nào để mở ra cho chúng những bí ẩn lớn nhất của tôn giáo, cũng không e sợ bất kỳ nguy hiểm nào từ việc cho rằng sự kiêu ngạo hợm hĩnh của triết học, có thể dẫn chúng đến phủ nhận những học thuyết và ý kiến đã thành tựu lâu bền nhất.


Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ nhất
(Nov/2019)










[1] [Chrysippus apud Plut. de repug. Stoicorum.]
[2] Natural Theology: Gót học Tự nhiên (Thần học Tự nhiên): học về Gót (thần học) nhưng dựa trên quan sát và kinh nghiệm.