Thursday, November 27, 2008

Le Pont Mirabeau

Cầu Mirabeau

Le Pont Mirabeau
Guillaume Apollinaire







Cầu Mirabeau

Dưới cầu Mirabeau xuôi giòng Seine
Và tình chúng ta
Anh có phải hồi tưởng không?
Niềm vui bao giờ cũng đến sau sầu muộn

Đêm buông chuông điểm giờ tàn
Ngày cứ trôi đi riêng anh còn ở lại

Tay trong tay mắt đắm đuối mặt kề nhau
Dưới vòng ôm
Cầu đang nối đôi ta
Chảy bất tận những thoáng nhìn lặng lờ sóng mệt

Đêm buông chuông điểm giờ tàn
Ngày cứ trôi đi riêng anh còn ở lại

Tình yêu trôi đi như giòng này chảy cuộn
Tình yêu trôi đi
Ôi đời chậm biết chừng nào
Và Hy vọng phũ phàng biết bao nhiêu

Đêm buông chuông điểm giờ tàn
Ngày cứ trôi đi riêng anh còn ở lại

Ngày qua đi và những tuần qua theo
Quá khứ ấy
Với tình ta không về lại
Dưới cầu Mirabeau giòng Seine chảy mãi

Đêm buông chuông điểm giờ tàn
Ngày tháng trôi xa riêng ta còn ở lại

Guilliam Apollinaire
Lê Dn Bàn tm dch



(Sous le pont Mirabeau coule la Seine
Et nos amours
Faut-il qu’il m’en souvienne
La joie venait toujours après la peine

Vienne la nuit sonne l’heure
Les jours s’en vont je demeure

Les mains dans les mains restons face à face
Tandis que sous
Le pont de nos bras passe
Des éternels regards l’onde si lasse

Vienne la nuit sonne l’heure
Les jours s’en vont je demeure

L’amour s’en va comme cette eau courante
L’amour s’en va
Comme la vie est lente
Et comme l’Espérance est violente

Vienne la nuit sonne l’heure
Les jours s’en vont je demeure

Passent les jours et passent les semaines
Ni temps passé
Ni les amours reviennent
Sous le pont Mirabeau coule la Seine

Vienne la nuit sonne l’heure
Les jours s’en vont je demeure)


Guilliam Apollinaire (1880-1918)
Alcools (1913) © 1920 Éditions Gallimard




1.
Chép bài này để vợ tôi đọc, nàng thích thơ Tây không “thèm” đọc thơ TàuNgày tháng nào đã ra đi riêng ta còn ngồi lại...”, nàng nói – “câu hát của TrịnhCôngSơn có thể lấy ý từ Apollinaire”. Có thể lắm, có điều, TrịnhCôngSơn có nhiều người tình, nhìn theo quá khứ, mỗi người là một giòng sông, đã qua đời, nay đã“ra khơi”; để “ta còn mãi nơi đây”.


TrịnhCôngSơn “thả” những tình cũ trôi theo sông, như hoa đăng thả trên giòng Hương đêm cúng vong hồn thuở kinh thành Thuận Hóa thất thủ, nến lung linh trên sóng đen nước chập chờn, từ Phú Văn Lâu trôi về Đập Đá, rồi ra biểnThuận An [1].

Trịnh có “những” người tình, mỗi người như một giòng sông, có lẽ ông muốn nói mỗi người là một nhánh đời, hay một ngả sông, và đã có những trôi xa, đã ra đến biển, đã không về nữa! Còn những gì từ người tình của tôi – đâu đó vẫn không mất trong tôi, dẫu bên ngoài, cùng thời gian từ đó vẫn trôi đi; và như Apollinaire, trước ngày sắp tắt, không thể không nhớ một người, và tự hỏi: “tình chúng ta ... có phải hồi tưởng không?”; ký ức bao giờ cũng ngược thời gian, quá khứ tự nhiên trôi trở lại; và người tình thất lạc, sau tan vỡ, hay lìa xa, đã ngăn cách sau những sầu muộn cuộc đời, nhưng dẫu xa xăm ấy, vẫn đem cho ngọt ngào, ấm áp, “niềm vui” – xúc động năm nào bên hoa đang tươi nở, sẽ vẫn khắc đọng mãi đâu đó trong não thức, trọn vẹn cùng sắc màu kiều diễm! – dẫu nay người đã thất lạc, những bình xưa đã vỡ, tất cả người và hoa, có thể đã không biết về đâu, nhưng một lần của khoảnh khắc là quà tặng mãi mãi vẫn có đó với đời này; tia mắt, nụ cười, tiếng hát năm xưa vẫn mang lại mỉm cười, dù ít nhiều héo hắt, chiều nay, một mình tôi:

Niềm vui bao giờ cũng đến sau sầu muộn

2.
Apollinaire để vần nối những dòng thơ, nhưng không chấm câu, phó mặc người đọc. Có thể đọc dòng 1 + 2 thành một câu: Dưới cầu, trôi đi giòng sông và tình chúng ta (cũng trôi đi) – cả hai cùng trôi – tình lẫn sông. Hay có thể đọc: dòng 1, rồi dòng 2 + 3 thành: Dưới cầu, trôi đi giòng sông. Còn tình chúng ta, anh có phải nhớ chúng không? buồn đấy, nhưng vẫn có vui về từ quá khứ những ngày hạnh phúc bên nhau (dòng 4).

Các động từ chỉ có presentsubjonctif, như mãi mãi của bây giờ và của những ước muốn chưa thành. Giòng Seine và thời gian – vẫn cùng đời trôi, chỉ còn cầu Mirabeau và tác giả thủy chung đứng lại.

Đứng lại (Tác giả, Cầu Mirabeau)   v/s   Trôi chảy (thời gian,Sông Seine)
Không thay đổi (tác giả, cầu sắt)     v/s   Thay đổi (nước sông, cuộc đời)
Tĩnh, bất biến (cầu sắt đá)               v/s   Sống động, luân lưu(sông nước)

Thấp thoáng chủ đề cá thể giữa thời gian (self and time) – dĩ nhiên tất cả là ảo ảnh, ngay tình yêu của tác giả (với Marie Laurencin) [2] cũng không vượt qua được thử thách của thời gian. Cầu là chỗ gặp của hai bờ, Mirabeau cũng là chỗ hẹn của hai người. Cầu của đời cũng là cầu của cuộc tình. Chúng ta mỗi người đều có lúc tưởng mình bất động trên cầu thời gian này nhìn giòng đời trôi dưới kia. Cầu Mirabeau, hẳn là điểm hẹn xưa, chân theo quen, về chỗ cũ, người như lại đợi người. Người đứng mãi, soi tìm trong sóng nước, những nhân chứng duy nhất, một thuở in những hình bóng nay thành thiên thu, rồi chiều cứ tàn, ngày cứ đi, đêm cứ đến, chuông cứ điểm, có rộn rã cũng không đưa người về hiện tại, giờ đây, người nấn ná trên cầu với quá khứ, chiêm nghiệm những-không còn, là quãng đời đã mất, có cuộc tình đã qua, tất cả đều đã trôi xa khôn cưỡng. Có gì đó của cam chịu, không thở than, cũng có gì đó của chấp nhận, không trách móc. Chúng ta nào có thể làm gì khác được trước đổi thay của đời này. Sau những phũ phàng dập tàn hy vọng của đợi chờ, là đông cứng, là bất động như cái chết đã thấp thoáng; sự thật vẫn muốn tránh đó, đem cho chút vị đắng cay, thấm thía đời sao quá chậm, quá dài đến thừa thãi. [3]

Câu chuyện của giòng sông thường có thể là một câu chuyện triết lý, ở đây chỉ là một câu chuyện tình. Người không đến, nhưng người vẫn đợi. Sông trôi, thời gian đi; còn người nấn ná vẫn đứng? Đó chỉ có trong ngây thơ của nhà thơ, hay khờ dại của những kẻ si mê thôi – “cái tôi phút trước sang tôi phút này” đã khác rồi – Ai đứng lại được với giòng sông thời gian, với cuộc đời trôi chảy. Và thời gian? thời gian là gì, “thật” có một thời gian – dù là vật lý – không? đã có lời đáp rõ rệt đâu. Nhưng thôi, không phải mượn Plato để chê thi sĩ mù lòa, lên án thi ca làm hỏng, lừa dối con người, đẩy nó xa chân lý. Nhân có Apollinaire, nhắc lại một cái nhìn triết lý về thơ ca của phương Tây, quả thật thơ là tiếng lòng yếu đuối, người thơ ôm lấy những hiện tượng giả để làm thật, sống với cảm quan, không với lý trí (sáng suốt). Nhân sinh là bọn sống trong hầm tối, chỉ thấy được bóng hình trên vách đá, mà lại làm thơ, phóng mơ, xây tưởng, dựng mộng trên những bóng hình! Chao ơi, không sai lầm sao được! Bọn ấy ngu muội lắm! thương thay!

3.
Hãy mặc Plato trẻ tuổi đốt thơ bi kịch của ông. Sau cùng, như Aristotle, học trò ông, đã phản biện – nhà thơ đâu có là thày dạy khôn ngoan, họ chỉ trải lòng qua ngôn từ, đưa tình vào lời, vẽ những cảnh huống đời – dù riêng tư – nhưng sống thực của mọi người chung. Cuối cùng, ở đây có một giòng sông và có một người trên cầu, tìm thiên thu giữa sóng nước, và thổn thức đã thành một bài thơ tình với điệp khúc không dứt như những giòng trôi chảy còn vương vấn mãi. Còn tình, còn lỡ làng, còn nhân sinh, còn hệ lụy, và còn người đọc bài thơ này. Những người đã biết tình đến rồi đi, chỉ còn giữ được những âu yếm quá khứ trong ký ức ấm áp, để được nhớ lại, để được sống thêm một lần hồi tưởng, để bồi hồi xúc động, và để có thể mỉm cười một mình. Tất cả đọng lại trong điệp khúc ám ảnh của bài này:

Vienne la nuit sonne l’heure
Les jours s’en vont je demeure

Bao nhiêu nước chảy qua cầu, sao em và những ngày ấy không về lại nhỉ?
tôi đứng, mãi mãi:

Đêm buông chuông điểm giờ tàn
Ngày tháng trôi xa riêng ta còn ở lại

Dịch vẫn không ổn – rồi sẽ dịch lại hai câu này cũng nên – (nghĩa là dịch lại cả bài thơ trầm lắng – bên ngoài mất hết, chỉ còn tiếng thời gian gửi trong thơ – từ người đứng trên cầu – theo tiếng sóng im lặng của hai câu mãi không dứt.


Và nếu có quên hết lời thơ, nhưng sẽ còn tiếng nước vỗ nhẹ, chậm rãi trôi lặng lẽ – và đương khi một ai đâu đó, lang thang giữa đời, chợt nhắc đến bài thơ này, cũng chính lúc ấy, trên cầu Mirabeau giữa Paris, ít nhất có một người, khi đêm về, vẫn đứng đợi –
Và khắp nơi ở những chốn nào khác, hẳn nhiều người vẫn về với những bờ sông quá khứ của mình, ở đó, thường khi không có được trọn một chiếc cầu, nhưng chỉ một vài nhịp gãy đổ, hoang tàn, thương tích, hay chỉ một bến đò, một bờ đất, chỉ một chỗ đủ để đứng, nhớ và nhìn trôi chảy
Như tôi,
lúc này bên bờ Mỹ thuận).


4.
Và tình yêu cùng thời gian? Có thể nào có tình yêu ngoài thời gian được không?
Phải chăng yêu nhau là chúng ta trong thời gian nhưng cùng thách đố miên viễn khôn cùng đó?
Và chiến thắng chỉ biết được ở cái chết tận cùng. (“Ôi đời chậm biết chừng nào”)

Có lẽ như thế, nên tình yêu và thời gian trộn lẫn với dòng Seine: (“tình yêu trôi đi như giòng này chảy cuộn”). Vì bản thế của cả hai đều là một – “trôi chảy”.
Tình yêu phải có thời gian – để những vàng son của những kẻ bội tình thành rỉ sắt, và những tro than của những tấm lòng thủy chung thành kim cương tỏa sáng.

Anh mãi cùng em
Và quanh chúng ta vẫn chảy một dòng Heraclitus  
Dưới cầu nước trôi, trời chiều chuông báo giờ rộn rã, nhắc ngày đi, nhưng:

Đêm buông chuông điểm giờ tàn
Ngày cứ trôi đi riêng anh còn ở lại


Lê Dọn Bàn tạm dịch
(Nov/2008)




[1] Nghe chính Apollinaire đọc bài thơ này:
(Le Pont Mirabeau do Apollinaire đọc, thu âm năm 1913, lưu trữ trong Archives de Parole, Collection Phonothèque Nationale – Bibliothèque Nationale, Paris.)

Còn nhạc? chúng ta có thể đọc bài thơ với tiếng nhạc Chopin gần gũi – như trong Chopin Valse Op 64. No 2. Waltz in C sharp minor #7; có một điệp khúc vương vấn tha thiết, nhẹ nhàng xa vắng, rồi dồn dập tung trào như quá khứ, khôn cưỡng, oà vỡ vọng về  – Nhưng cũng có có thể liên hệ với bài “Les chemins de l'amour”của F. Poulenc – Nghe Jazz pianist Jacky Terrasson trong album A Paris – nghe đi nghe lại lúc viết bài này – Một ngày nắng đẹp – đông người – mới thấm thía nỗi nhớ, tiếng piano trầm tưởng bay miên man trên tiếng trống nghiêng ngả cùng tiếng contre-bass lặng lờ.

[2] Apollinaire (1880-1918) – nhà thơ viết tiếng Pháp nổi tiếng, nhưng không thực là dân gốc Pháp, tên thật Guillaume Apollinaire (Guglielmo Alberto Wladimiro Alessandro Apollinare de Kostrowitzky) sinh tại Rome, 1880. Thân thế mơ hồ, chỉ biết mẹ là Angelica Kostrowitzky, một người Poland sống ở Vatican. Nhưng ông lớn lên trong những sòng bài ở những thành phố Monaco, Paris, và vùng French Riviera. Picasso nói đùa, bảo ông có lẽ là con rơi của vị vua chiên Vatican. Khi còn đi học, ông tự xưng và sống như trong vai một hoàng tử gốc Nga!

Những năm tuổi 20, ông làm thư ký ngân hàng ở Paris, nhưng giao du thân mật với giới nghệ sĩ giang hồ bôhêmiên ở đây. Có tài nói và viết, ông thành một trong những khuôn mặt đáng chú ý, xem như thủ lĩnh, phát ngôn của họ. Trong thời gian này, Apollinaire cũng xuất bản một số sách có nội dung khiêu dâm, và còn tuyên bố rằng những sách của Marquis de Sade sẽ chiếm địa vị quan trọng trong thế kỷ mới. Giữa những người bạn ông giao du, có thể kể những người sau thành nổi danh: Picasso, Braques, Chagall, Max Jacob, Eric Satie, Marcel Duchamp, và Marie Laurencin.
Riêng Marie Laurencin, là một trường hợp đặc biệt, bà là một họa sĩ có tiếng, và chính là người tình ông nhắc trong bài thơ này, được xem như “nàng thơ” của ông, vì sau 5 năm sóng gió, đến 1912, hai người đã tan vỡ, tháng Sáu năm đó, Apollinaire viết bài Le Pont Mirabeau. Trong một lá thư cho Madeleine Pagès (1915), ông nói về bài thơ, khi bảo người hôn thê (về sau bỏ, không cưới), bài thơ như “một khúc hát buồn từ cuộc tình dài đã vỡ này” (a chanson triste de cette longue liaison brisée).

Apollinaire góp phần quan trọng trong nhiều phong trào tiên phong, hô hào đổi mới nghệ thuật và văn chương ở nước Pháp đầu thế kỷ 20. Tác phẩm của ông có một sự pha trộn giữa mới và cũ, thường có những kỹ thuật của cả hai, xen lẫn nhau. Ông có những bài sonnet rất đúng mực, nhưng như trong bài Pont Mirabeau này, trong đó, ông không chấm câu, không in thơ ngay hàng, có những câu giữ đúng lề, có những câu không, có những câu thơ tự do, có những câu đầy vần điệu. Có những nhà phê bình đã trưng dẫn ảnh thưởng của thi ca bình dân cổ điển, từ những khúc hát thêu dệt (chanson de toile) đầu thế kỷ XIII, trên thơ Apollinaire, đặc biệt, trong một bài có tên Gayette et Oriour, cho thấy một điệp khúc cũng hai câu với nhịp, vần, điệu cấu trúc tương tự như chính điệp khúc bất hủ của bài thơ chúng ta đang đọc:
Vente l’ore et li rain crollent

Qui s’entraiment soef dorment”.
Le vent souffle et les rameaux tremblotent.
Que ceux qui s'entr'aiment s'endorment doucement!”
Và cả những bài khác trong tập Alcools cũng cho thấy dấu vết cấu trúc từ những chanson de toile.

Thơ Apollinaire thấy những hình ảnh tân kỳ ngổn ngang trong những hình thức cổ điển.Thơ ông là những thí nghiệm bạo dạn, có khi dùng những kỹ thuật trắng trợn thái quá (Calligrame – xếp chữ theo hàng ngang, dọc, rời, và thành những hình vẽ,...). Ông có những cố gắng nhằm tạo mới lạ, bất ngờ; bằng cách kết hợp bất thường giữa chữ in để xem đọc, và chữ in như trang trí để xem ngắm. Về thơ, ông được coi là sứ giả báo hiệu phong trào thơ Siêu Thực Surrealism. Tập thơ nổi tiếng và có lẽ thành “để-đời” của ông là tập Alcools, ra đời sau khi Marie bỏ ông khoảng một năm (1913) – Những bài nổi tiếng là bài này, thứ hai trong tập – Le pont Mirabeau, và nhiều bài thường được nhắc nhở khác – Zone, La Chanson du Mal-Aimé, Automne malade, và bài L'Adieu ngắn ngủi (“J'ai cueilli ce brin de bruyère – L'automne est morte souviens t'en . . .”). Tập nổi tiếng thứ hai, kỹ thuật tân kỳ, là Calligrammes: Poèmes de la paix et de la guerre 1913- 1916 (1918). Đối với Apollinaire, cũng như Mallarmé đi trước đó không lâu, ngôn ngữ là một gì đó để thử nghiệm, với hình dạng của nó; không chỉ để đọc lên, và chỉ để nghe; nhưng “hình dạng của thơ” khi xắp xếp có thể diễn tả, chuyển gửi một ý nghĩa nào đó, hay tạo ấn tượng, cũng như nội dung của nó. Ông như nhấn mạnh vào tính chất “vật chất” của ngôn ngữ, nghĩa là sự hiện hữu của nó trên trang giấy như những dấu hiệu, thay vì chỉ là những ký tự cho lời nói. Trong Calligrammes, như nhắc ở trên, Apollinaire đã kết hợp, hay xáo trộn những chữ rời, những câu thơ thành những hình ảnh để xem ngắm ... Những bài thơ in thành hình vẽ như mưa rơi, hoa, hình cravate, .. Trang giấy trắng thành tấm màn, hay phông vẽ để thử nghiệm. Cách đọc trên xuống dưới, trái qua phải bị thay thế, thơ ông được xắp xếp để đọc nhiều cách, dọc ngang hay xiên xéo theo nhiều trục khác nhau. Ngoài ra ông còn là người tiên phong trong kịch nghệ – Kịch Phi Lý (theatre of the Absurd) và – dĩ nhiên, cả trong hội họa, với trường phái Lập thể (Cubism).
Ông chết khi mới 38 tuổi, trong trận dịch cúm xảy ra năm 1918. 

[3] Antiphon the Sophist, thế kỷ 5 TCN, Hylạp, trong một mảnh văn còn giữ được, On Truth, chủ trương rằng: “Thời gian không phai là một thực tại (hypostasis), nhưng là một khái niệm (noêma) hay một đo lường (metron)”. Parmenides đi xa hơn, chủ trương rằng thời gian, chuyển động, và thay đổi đều là những ảo tưởng, và đã đưa đến những paradoxes nổi tiếng của Zeno. Thời gian là một ảo tưởng cũng là một chủ đề quen thuộc trong tư tưởng Phật học, và những triết gia hiện đại, điển hình như J. M. E. McTaggart trong The Unreality of Time (1908), cũng biện luận rằng thời gian thì không thực.
Chúng ta không thấy được thời gian, nhưng cảm nhận được qua những thay đổi quanh chúng ta. Vấn đề không còn là thời gian có thực hay không nhưng là thay đổi có thực hay không – đến đây, quan niệm phổ quát của Heraclitus qua phát biểu nổi tiếng – về một giòng sông – được đa số chúng ta thừa nhận - “Không có người nào từng bao giờ bước xuống cùng một dòng sông hai lần, vì nó không là cùng một dòng sông và người ấy cũng không vẫn là cùng một người”. Có khi ông nói vắn tắt hơn, nhưng rõ ràng hơn “Chỉ có một điều bất biến là sự biến đổi”.